trang Blog

30aquangkheTham gia: 30/06/2010
  • BÁO CÁO TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NQ30A TẠI 2 TỈNH CAO BẰNG VÀ BẮC KẠN
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    BÁO CÁO TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NQ30A TẠI 2 TỈNH CAO BẰNG VÀ BẮC KẠN

    BỘ NÔNG NGHIỆP
    VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
    CỤC KINH TẾ HỢP TÁC
    VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    Số:   11   /BC-KTHT-KH
     
    Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2010

     
    BÁO CÁO
    Kết quả của đoàn công tác liên ngành tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện triển khai NQ 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo
    tại 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn
     


     

    Theo yêu cầu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tại công văn số 994/LĐTBXH-BTXH ngày 02/4/2010 về việc thành lập Đoàn công tác và kiểm tra hướng dẫn địa phương triển khai Nghị quyết 30a năm 2010; từ ngày 11 đến 16 tháng 4 năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ủy quyền cho Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (làm trưởng đoàn) thành lập đoàn công tác liên ngành gồm thành viên của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (gồm các đơn vị Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Tổng cục Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Cục Chăn nuôi), Uỷ ban Dân tộc, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tổ chức kiểm tra hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết 30a năm 2010 tại 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn, cụ thể:
     - Ngày 12/4/2010 Đoàn công tác làm việc thống nhất chương trình công tác với UBND tỉnh Cao Bằng;
    - Ngày 13/4/2010 làm việc với huyện Hà Quảng, trực tiếp kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện NQ 30a/2008/NQ-CP tại xã Trường Hà;
    - Ngày 14/4/2010 làm việc với UBND tỉnh Cao Bằng (lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các Sở, ngành);
    - Ngày 14/4/2010 (chiều) đoàn công tác làm việc thống nhất chương trình công tác với UBND tỉnh Bắc Kạn;
    - Ngày 15/4/2010 làm việc với huyện Pác Nặm, trực tiếp kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện NQ 30a/2008/NQ-CP tại xã Nhạn Môn và xã Bộc Bố;
    - Ngày 16/4/2010 làm việc với UBND tỉnh Bắc Kạn (Ban chỉ đạo Chương trình 30a của tỉnh, bao gồm: Lãnh đạo UBND tỉnh, Lãnh đạo các Sở, ngành và Chủ tịch UBND 2 huyện Ba Bể, Pác Nặm).
    Đoàn công tác liên ngành báo cáo kết quả đi kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP tại 02 tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn, cụ thể sau:
    I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
    1. Tỉnh Bắc Kạn
    1.1 Kết quả thực hiện
    1.1.1 Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập
    - Chăm sóc bảo vệ rừng: Huyện Pác Nặm đã nghiệm thu được 3.339,31 ha giao cho các hộ dân với tổng kinh phí là 390.342.600 đồng; Huyện Ba Bể đã nghiệm thu được 83,65 ha/ 92,32ha (đạt 90,6%) với tổng kinh phí 375.588.000đ;
    - Hỗ trợ gạo cho hộ nghèo trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng: Pác Nặm hỗ trợ cho hộ nghèo trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng với 85.235kg gạo (tương đương với số tiền 1.023 triệu đồng). Huyện Ba Bể hỗ trợ gạo cho 6.250 nhân khẩu trên tổng diện tích 1.603,3.
    - Hỗ trợ khai hoang phục hoá ruộng bậc thang: Huyện Pác Nặm giao 83,5ha cho các xã tổ chức triển khai thực hiện. Hiện nay, UBND huyện đã thẩm định xong chỉ tiêu khai hoang, phục hoá tại 3 xã Bộc Bố, An Thắng, Cao Tân của Huyện Pác Nặm với tổng số tiền 114.805.000 đồng.
    - Huyện Ba Bể hỗ trợ hộ nghèo làm chuồng trại: Theo kế hoạch dự kiến hỗ trợ 260 chuồng, số tiền 260.000.000 đ, đến nay đã thực hiện được 226 hộ = 226.000.000 số còn lại (34 chuồng) đang thực hiện tiếp.
    - Hỗ trợ hỗ trợ giống, phân bón, chuyển đổi giống, cây trồng, vật nuôi: Huyện Pác Nặm đã thực hiện hỗ trợ giống, phân bón, thuốc BVTV cho 11 ha lúa, ngô vụ xuân tại khu Phiêng Luông xã Công Bằng (Trong đó: Lúa xuân 6,5 ha; ngô xuân 4,4ha). Kinh phí thực hiện 120.262.161đ.; mua 160 con trâu bò hỗ trợ với tổng số tiền 1.280.000.000 đ;
    - Huyện Ba Bể đã xây dựng được 01 vườn ươm tại trung tâm huyện với tổng kinh phí là 200.000.000 đồng;
    - Hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm: Xây dựng mô hình trồng lúa lai, ngô lai và mô hình trồng rau vụ đông năm 2009 diện tích mô hình 3 ha với tổng kinh phí thực hiện là 133.141.400 đồng tại huyện Pác Nặm;
    - Công tác quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại: Hiện nay đang xây dựng kế hoạch xây dựng trang thông tin quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông lâm nghiệp của địa phương trên Báo Bắc Kạn và các phương tiện thông tin đại chúng khác;
    - Xuất khẩu lao động: Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại VINACONEX phối hợp với huyện tổ chức đưa lao động xuất khẩu sang LI BI và MA CAO cho 321 lao động (Pác Nặm 130, Ba Bể 171). Hiện nay đang học tập và định hướng ở Hà Nội 122 lao động; 08 lao động đã xuất cảnh.
     
    1.1.2. Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí:
    - Nguồn vốn sự nghiệp giáo dục, y tế: kế hoạch thực hiện 500 triệu đồng, trong đó:
    + Giáo dục: chưa xây dựng kế hoạch sử dụng vốn.
    + Y tế: hỗ trợ phụ cấp cho 113 nhân viên y tế thôn bản, kinh phí thực hiện 220,35 triệu đồng. Huyện Ba Bể xây dựng 02 công trình trạm y tế xã với vốn đầu tư 2.270 triệu đồng (trong đó 1 trạm đang trình hồ sơ đề xuất, 1 trạm đã có quyết định thi công)
    - Dạy nghề cho lao động nông thôn: Đã mở được 16 lớp với 657 học viên, trong đó huyện Pác Nặm đã mở được 07 lớp với 201 học viên tham gia (xã Bằng Thành 03 lớp với 90 học viên; xã Nghiên Loan 04 lớp với 111 học viên). Nghề đào tạo là chăn nuôi thú y, sửa chữa cơ khí máy nổ nông nghiệp, kỹ thuật sản xuất phân vi sinh…tổng kinh phí thực hiện là 313,56 triệu đồng.
    1.1.3. Chính sách cán bộ:
    Thực hiện Đề án tăng cường cán bộ cho các xã và khuyến khích, thu hút tri thức trẻ, cán bộ chuyên môn kỹ thuật về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc huyện Ba Bể và Pác Nặm (phê duyệt tại Quyết định số 3066/QĐ-UBND ngày 06/10/2009 của UBND tỉnh). Đến thời điểm hiện nay các huyện đã tăng cường cho cấp xã 25 cán bộ và đã tuyển dụng 98 trí thức trẻ tình nguyện công tác tại các xã của hai huyện.
    1.1.4. Chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng:
    a. Huyện Pác Nặm:
    - Nguồn đầu tư phát triển (25.000 triệu đồng): huyện tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng 34 công trình, trong đó có 03 công trình điện (giải ngân 5.499/5811,2 triệu đồng đạt 94,6% kế hoạch); 08 công trình giao thông (giải ngân 7161,7/8758,4 triệu đồng, đạt 81,8% kế hoạch), 13 công trình thuỷ lợi (5.036,1/9430,4 triệu đồng, đạt 53,4% kế hoạch); và dành 1.000 triệu đồng để sửa chữa, xây dựng nhỏ giao cho tất cả các xã trực tiếp triển khai (100 triệu đồng/xã). Tính đến nay, huyện đã giải ngân được 18,5 tỷ đồng, chiếm 77,1% tổng số vốn của kế hoạch 2009.
    b. Huyện Ba Bể:
    - Đầu tư cơ sở hạ tầng ở thôn, bản xã và huyện: 24.230 triệu đồng; trong đó:
    + Khởi công xây dựng mới 29 công trình, kinh phí 23.400.000.000 đ, hiện đang lập hồ sơ chỉ thầu thi công.
    + Chuẩn bị đầu tư: 17 công trình, đang chờ phân bổ nguồn vốn của UBND tỉnh, sẽ thực hiện trong năm 2010.
    1.1.5 Về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg:
    Đến nay, đã thực hiện hỗ trợ làm nhà và đưa vào sử dụng được 748/hộ/760 nhà (12 hộ trùng các chích sách hỗ trợ khác và chuyển đi không thực hiện); Về kết cấu, đa số các hộ làm nhà bằng cột gỗ, tường ván, lợp prôximăng, láng nền.
    2. Tỉnh Cao Bằng
    2.1 Kết quả thực hiện
    2.1.1. Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập
    - Chính sách hỗ trợ gạo cho hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất trong thời gian chưa tự túc được lương thực: UBND tỉnh đã ban hành quyết định số 1311/QĐ-UBND ngày 22 tháng 6 năm 2009 về Ban hành quy định thực hiện chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ tại các huyện nghèo tỉnh Cao Bằng; và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã có văn bản hướng dẫn rà soát, thống kê số hộ nghèo nhận khoán chăm sóc rừng và bảo vệ rừng trong thời gian chưa tự túc được lương thực nhưng các địa phương chưa xác định các hộ nghèo thuộc diện được thụ hưởng chính sách nêu trên. Năm 2009 chưa thực hiện được chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo nhận khoán bảo vệ rừng và trồng rừng.
    - Chính sách hỗ trợ sản xuất: hỗ trợ khai hoang tạo ruộng bậc thang 60 ha, hỗ trợ giống mía với diện tích trồng mới 472 ha, giống ngô 199 ha, giống lúa 36,45 ha, xây dựng được 03 mô hình (nuôi lợn đen, nuôi tằm, trồng cà chua); hỗ trợ giống ngô 8 tấn, hỗ trợ trợ phân bón cho 3.029 hộ, hỗ trợ giống gà siêu trứng cho 947 hộ = 33.000 con, hỗ trợ giống lợn nái móng cái cho 556 hộ = 556 con, giống cỏ trồng để chăn nuôi gia súc 200 ha, giống cây trồng 3.029 hộ tổng kinh phí thực hiện 12.199,8 triệu đồng; có 5.546 hộ vay lãi xuất bằng 0% (một lần) trong thời gian 02 năm để mua trâu, bò giống, tổng số tiền vay là 27.720 triệu đồng.
    - Hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư: đã thực hiện tập huấn cho cán bộ làm công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư số kinh phí thực hiện 58,13 triệu đồng; quảng bá giới thiệu sản phẩm về thịt lợn đen và khẩu si nà giàng, số kinh phí thực hiện 57,122 triệu đồng.
    - Hỗ trợ gạo đối các hộ nghèo tại các thôn, bản vùng giáp biên giới trong thời gian chưa tự túc được lương thực: Năm 2009, đã cấp 174,45 tấn gạo, với kinh phí 1.832 triệu đồng cho 1.011 hộ ( 4.944 khẩu).
    - Chính sách xuất khẩu lao động: đã tổ chức hội nghị triển khai Đề án xuất khẩu lao động theo Quyết định số 71 tại 02 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm đến nay đã có 18 lao động của huyện Bảo Lâm đăng ký đi xuất khẩu lao động tại Malaysia.
    2.1.2. Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí:
    Đã bố trí kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà “bán trú dân nuôi”, xây dựng trường Dân tộc nội trú cấp huyện, xây dựng Trung tâm giáo dục thường xuyên, mở các lớp tập huấn trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, hướng dẫn các huyện nghèo xây dựng Đề án thành lập cơ sở dạy nghề tổng hợp tại huyện đến nay đã thẩm định xong đề án của 04 huyện (Hà Quảng, Bảo Lạc, Bảo Lâm, Thông Nông), huyện Hạ Lang đang chỉnh sửa đề án. Bố trí tăng thêm 180 giáo viên cho các xã thuộc các huyện nghèo trên địa bàn; tổ chức đào tạo nghề cho 270 lao động nghèo để tạo việc làm tại chỗ, tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ cấp huyện, xã, xóm về Nghị quyết 30a và các văn bản hướng dẫn; xây dựng và quản lý chương trình, kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch.
    2.1.3 Chính sách cán bộ: Cho đến nay, tỉnh Cao Bằng vẫn chưa triển khai được chính sách luân chuyển, tăng cường cán bộ về các huyện nghèo cũng như chưa thực hiện chính sách thu hút trí thức trẻ vì chưa có Thông tư hướng dẫn và qui chế của Bộ Nội vụ.
    2.1.4. Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:
     Ngày 08/6/2009 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1180/QĐ-UBND về việc giao chỉ tiêu kế hoạch vốn thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (nguồn vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương), tổng số 5 huyện bằng 125 tỷ đồng hiện với tổng số 206 công trình được giao đến nay các huyện đã thực hiện hoàn thành 17 công trình, đang triển khai thực hiện 189 công trình; số kinh phí đã giải ngân 78,86 tỷ đồng đạt 63,09%/KH.
    2.1.5. Thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ
    Tổng số lượng nhà ở cần hỗ trợ trên địa bàn 5 huyện nghèo là: 3.364 nhà, với số kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ của các Tổng công ty, Quỹ vì người nghèo của tỉnh, đến tết Nguyên đán Canh Dần các huyện đã thực hiện hoàn thành 3.377 nhà đạt 100,4% KH (lý do thực hiện vượt kế hoạch huyện Bảo Lâm đã thực hiện hỗ trợ làm nhà cho các hộ nghèo ở Thị trấn).
    2.1.6. Kết quả các Tổng công ty hỗ trợ:
    - Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam hỗ trợ cho huyện Hà Quảng: 2.253 triệu đồng để hỗ trợ làm nhà ở cho hộ nghèo và hộ gia đình chính sách người có công; hỗ trợ kinh phí cho các hộ nghèo trồng thử nghiệm cây gấc tại các xã nghèo của huyện; hỗ trợ học bổng cho học sinh, sinh viên học Đại học, Cao đẳng hệ cử tuyển; hỗ trợ kinh phí xây Trung tâm giáo dục thường xuyên; mở 02 lớp dạy nghề trồng cây thuốc lá cho các hộ nông dân...
    - Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp Việt Nam hỗ trợ cho huyện Bảo Lạc 500 triệu đồng để làm nhà ở cho hộ nghèo;
    - Tổng Công ty khí Việt Nam hỗ trợ cho huyện Bảo Lâm 1.000 triệu đồng để làm nhà ở cho 110 hộ nghèo.
    -. Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam hỗ trợ cho huyện Hạ Lang 1.400 triệu đồng để xây dựng trạm y tế xã An Lạc.
    - Tập đoàn HUD hỗ trợ cho huyện Thông Nông 150 triệu đồng
    Như vậy, đến nay tất cả 5 huyện của tỉnh Cao Bằng đã nhận được hỗ trợ của các doanh nghiệp. Tổng kinh phí các Tổng Công ty hỗ trợ cho các huyện nghèo của tỉnh tính đến thời điểm 30/12/2009 là: 5.303 triệu đồng. Tuy nhiên, mức hỗ trợ cho mỗi huyện còn rất thấp so với nhu cầu cũng như mức hỗ trợ của doanh nghiệp ở các địa phương khác.
    Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các huyện nghèo đã tổ chức vận động đóng góp quỹ “vì người nghèo”, “quỹ hỗ trợ nông dân nghèo”, “tổ chức giao lưu cùng chung tay góp sức thực hiện Nghị quyết 30a”... trong năm đã thu được trên 5,888 tỷ đồng, đã hỗ trợ kinh phí làm nhà ở và hỗ trợ phát triển sản xuất cho các hộ nghèo tại 05 huyện nghèo.
    II. ĐÁNH GIÁ CHUNG CỦA ĐOÀN CÔNG TÁC
    Qua báo cáo của 2 tỉnh và kiểm tra nắm tình hình thực tế Đoàn công tác có một số nhận định
    1. Những mặt được:
    - Bước đầu 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn đã triển khai được một số nhóm chính sách cơ bản trong Chương trình 30a, nhất là trong việc triển khai nguồn vốn đầu tư phát triển cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tính đến nay Cao Bằng đã giải ngân 98,256 tỷ đồng, đạt 78,61% kế hoạch giao, Bắc Kạn giải ngân 39,01 tỷ đồng đạt 79% kế hoạch;
    - Hoàn thành thực hiện chính sách xóa nhà tạm theo Quyết định 167/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ theo đúng yêu cầu của Chính phủ;
    - Thường xuyên kiểm tra, giám sát, hướng dẫn và đôn đốc các huyện, xã triển khai quyết liệt Nghị quyết 30a của Chính phủ. Các huyện đã nhanh chóng chủ động triển khai các công việc chuẩn bị cho việc thực hiện các chính sách trong Chương trình 30a, đặc biệt huyện Pác Nặm của tỉnh Bắc Kạn đã có chủ trương ngày càng tăng cường phân cấp cho xã làm chủ đầu tư một số công trình nhỏ nằm gọn trên địa bàn xã (năm 2009 mỗi xã được bố trí 100 triệu để chủ động triển khai, dự kiến năm 2010 mỗi xã sẽ được bố trí 500 triệu đồng);
    - Trong việc xây dựng Đề án tổng thể cũng như triển khai kế hoạch năm, bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng, đã chú trọng, quan tâm đúng mức đến các chính sách hỗ trợ nâng cao đời sống người dân, giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, được nhân dân đồng tình ủng hộ;
    - Mặc dù Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững của các huyện mới chỉ được triển khai chưa đầy một năm kể từ khi được phê duyệt nhưng đã có tác động tích cực đến tập quán canh tác của người dân, động viên, khuyến khích người dân yên tâm phát triển sản xuất nhất là các chính sách liên quan đến chăm sóc, bảo vệ rừng trồng để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống; đồng thời góp phần quan trọng giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn các huyện (tỷ lệ hộ nghèo của huyện Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn giảm mạnh từ 48% xuống còn 34%).
     - Căn cứ Quyết định giao chỉ tiêu vốn và các văn bản hướng dẫn của UBND tỉnh các huyện đã xây dựng kế hoạch thực hiện năm 2010 và giao chỉ tiêu cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện;
    - Các huyện của 2 tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch các chính sách, dự án năm 2010 và hiện nay một số chính sách, dự án đã bước đầu được triển khai thực hiện. Công tác triển khai Nghị quyết 30a đang từng bước đi vào nề nếp và ngày càng hoàn thiện hơn.
    - Tỉnh Bắc Kạn ưu tiên đẩy mạnh công tác cán bộ, bao gồm luân chuyển cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản về các huyện, các xã cũng như tuyển dụng trí thức trẻ về các xã; coi đây là bước đột phá trong công tác giảm nghèo bền vững.
    2. Tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướng mắc
    - Việc triển khai cơ chế chính sách mới chủ yếu tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng và xóa nhà tạm, các cơ chế chính sách khác được triển khai rất chậm, thậm chí chưa triển khai (vì các lý do khách quan hoặc chủ quan);
    - Tính chủ động của một số huyện, nhất là ở cấp xã còn hạn chế. (Ví dụ như công tác rà soát các hộ nghèo được hưởng hỗ trợ lương thực ở biên giới, rà soát các hộ nhận giao khoán chăm sóc và bảo vệ rừng, xác định nhu cầu hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi/trồng trọt); trong vấn đề vận động các doanh nghiệp hỗ trợ cho huyện, xác định quỹ đất khai hoang, phục hóa...);
    - Nhận thức và trách nhiệm của cán bộ cấp huyện và nhất là cấp xã cũng như nhận thức của người dân còn rất hạn chế, tâm lý trông chờ ỷ lại còn nặng nề, điều này cho thấy công tác tổ chức tuyên truyền chưa được như mong muốn. Sự tham gia vào cuộc của các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng chưa thực sự rõ nét;
    - Bộ máy quản lý chương trình chưa được giao biên chế. Phòng Bảo trợ xã hội (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội); Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội các huyện vẫn phải thực hiện công tác kiêm nhiệm;
    - Kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban quản lý Chương trình từ tỉnh xuống đến huyện chưa được bố trí làm ảnh hưởng rất nhiều đến triển khai các nhiệm vụ, nhất là ở cấp huyện;
    - Hầu hết các địa phương đều gặp khó khăn trong việc triển khai hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo nhận khoán chăm sóc bảo vệ rừng vì để hỗ trợ được phải rà soát và lập dự án vì sử dụng vốn đầu tư phát triển (trong khi đó hỗ trợ gạo cho các đối tượng vùng giáp biên giới thì thuận lợi hơn nhiều vì chỉ cần lên danh sách cấp, phát và ký nhận vì sử dụng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế);
    - Bắc Kạn đã thực hiện kế hoạch luân chuyển cán bộ các Sở, tuyển dụng và thu hút tri thức trẻ về tăng cường cho các xã, tuy vậy do thiếu các điều kiện cơ sở vật chất và các chính sách đãi ngộ, nên nhiều tri thức trẻ đã tự ý bỏ việc hoặc chưa toàn tâm toàn ý ở lại để làm việc;
    - Hiện tại các xã thuộc các huyện 30a vẫn còn lúng túng trong công tác xây dựng quy hoạch; Đến nay mới có 01 xã Yên Thổ thuộc huyện Bảo Lâm được Chi cục Phát triển nông thôn Cao Bằng hướng dẫn và hỗ trợ đánh giá hiện trạng dựa trên các tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, do thiếu kinh phí, nguồn lực và cách thức, biện pháp để triển khai thực hiện.
    - Việc sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương trong một số chưa hoàn toàn tuân thủ theo các văn bản hướng dẫn hiện hành (ví dụng sử dụng vốn vay hỗ trợ sản xuất để làm nhà, sử dụng vốn đầu tư phát triển để xây dựng trụ sở xã, sử dụng vốn sự nghiệp để hỗ trợ khai hoang, phục hoá và hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo thiếu lương thực nhận khoán chăm sóc bảo vệ rừng).
    III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
    - Cần nhanh chóng xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn hướng dẫn các cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện xã về công tác quy hoạch theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới để thực hiện nhiệm vụ hoàn thành quy hoạch theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại Hội nghị sơ kết 1 năm triển khai Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP;
    - Tăng cường công tác tuyên truyền, xây dựng, biên soạn và ban hành các tài liệu, tờ rơi, sổ tay hướng dẫn cho người dân và cán bộ, nhất là cán bộ cấp xã hiểu biết và nắm vững các nội dung chính sách của Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và các chính sách (Thông tư, hướng dẫn) của các Bộ, ngành để tổ chức triển khai, thực hiện tại địa phương có hiệu quả;
    - Đề nghị các Bộ, ngành liên quan rà soát, ban hành hướng dẫn triển khai các chính sách theo nội dung Nghị quyết 30a đảm bảo đầy đủ và thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, cơ sở trong quá trình tổ chức thực hiện. Đặc biệt là Bộ Nội vụ cần khẩn trương ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Quyết định 70/2009/QĐ-TTg ngày 27/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách luân chuyển và tăng cường cán bộ cho các huyện nghèo cũng như phối hợp với Trung ương Đoàn thanh niên ban hành qui chế về thu hút trí thức trẻ. Trong đó, cần xem xét điều chỉnh bổ sung cơ chế chính sách tạo điều kiện đảm bảo địa điểm, điều kiện làm việc cũng như chỗ ở tạm trú cho trí thức trẻ tình nguyện và cán bộ được luân chuyển (có thể sử dụng một phần nguồn kinh phí sự nghiệp của 30a để mua sắm trang thiết bị gồm bàn làm việc, máy tính; đồng thời hỗ trợ kinh phí để các trí thức trẻ có nhà tạm trú như thực hiện hỗ trợ theo các nội dung chính sách của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg) để đảm bảo các cán bộ luân chuyển và các trí thức trẻ yên tâm công tác tại địa bàn lâu dài;
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công thương; Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch cần  ban hành Thông tư hướng dẫn về chính sách do ngành quản lý trên các địa bàn 63 huyện nghèo;
    - Đề nghị được sử dụng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế (thay thế nguồn vốn đầu tư phát triển) để thực hiện việc hỗ trợ lương thực cho đối tượng hộ nghèo nhận khoán, khoanh nuôi bảo vệ rừng được hưởng trợ lương thực;
    - Đề nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội khẩn trương xây dựng và tham mưu cho Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Chương trình từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có quy định về nhiệm vụ của cơ quan Thường trực, cơ chế phối hợp, cơ chế kiểm tra, giám sát, kinh phí quản lý...;
    - Đề nghị các doanh nghiệp đã được phân công hỗ trợ các huyện nghèo của tỉnh Cao Bằng khẩn trương xây dựng và triển khai kế hoạch hỗ trợ các huyện nghèo năm 2010;
    - Đề nghị Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ cho các hộ cận nghèo khi mới thoát nghèo để có điều kiện phát triển bền vững;
    - Cho phép kéo dài thời gian giải ngân nguồn vốn ĐTPT tạm ứng của năm 2009 sang năm 2010 vì đây là năm đầu tiên triển khai và đề án của các huyện mới chỉ được phê duyệt từ tháng 8/2009;
    Trên đây là báo cáo của đoàn công tác, đề nghị Quý Cơ quan tổng hợp./.
     

    Nơi nhận:
    - Cục Bảo trợ xã hôị (Bộ LĐTBXH);
    - Văn phòng Chính phủ (để b/c);
    - Bộ trưởng Cao Đức Phát (để b/c);
    - Thứ trưởng Nguyễn Minh Quang (để b/c);
    - Lưu VT, KTHT.
    P.KH-TC:
                              Phùng Đức Hiệp
     
     
    ((P Cục:
                                Tạ Hữu Nghĩa
     
     
    KT. CỤC TRƯỞNG
    PHÓ CỤC TRƯỞNG
     
    (Đã ký)
     
     
     
    Nguyễn Minh Tiến
     
    ( Theo Giamngheo.molisa.gov.vn)

     
    BÁO CÁO TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NQ30A TẠI 2 TỈNH CAO BẰNG VÀ BẮC KẠN