trang Blog

_Prince_Tham gia: 18/09/2008
  • baj` tap lam van so 5 lop 10 de 2
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    baj` tap lam van so 5 lop 10 de 2

    Xuất dương lưu biệt không những là một bài thơ hay, mà còn là một mốc quan trọng đánh dấu cuộc
    đời hoạt động cứu nước sôi nổi cùng thơ văn cổ động lòng yêu nước và đấu tranh cách mạng đầy
    nhiệt huyết của nhà chiến sĩ Phan Bội Châu. Bài thơ được ứng khẩu trong hoàn cảnh tác giả tạm biệt
    bạn bè đồng chí để lên đường. Xuất dương lưu biệt là bài ca hào sảng và hùng tráng về chí nam nhi
    của nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng.
    Bài thơ Xuất dương lưu biệt là giờ phút con hổ được thả về rừng, con cá kình được ra biển khơi, con
    đại bàng tung cánh, dù phía trước có bao khó khăn và nguy hiểm, nhưng chúng có cái hạnh phúc
    được vẫy vùng. Sau một thời gian tham gia các phong trào yêu nước nhưng không đem lại hiệu quả,
    Phan Bội Châu đã trăn trở suy tư để tìm ra một con đường cứu nước mới để đưa nước Việt Nam
    hùng mạnh như các nước ở Đông Á ( Trung Quốc, Nhật Bản). Đến năm 1905 ông giã biệt bạn bè để
    sang Nhật cầu giúp đỡ. Xuất dương lưu biệt là những lời lẽ tỏ rõ quyết tâm của ông trước khi lên
    đường:
    Làm trai há phải lạ trên đời
    Há để càn khôn tự chuyển dời.
    Câu thơ thể hiện rõ quan niệm về chí nam nhi của Phan Bội Châu, làm trai trước hết phải được sự
    nghiệp anh hùng. Chúng ta bắt gặp ý thơ này trong bài Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão:
    Nam nhi vĩ liễu công danh trái
    Tu thỉnh nhân gian thuyết Vũ hầu
    Hay trong thơ của Nguyễn Công Trứ:
    Chí làm trai bắc đông tây
    Chỉ phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển.
    Quan niệm của cụ Phan giống với các nhà nho thủa xưa, đã là con người sống trong trời đất này,
    phải làm được một điều gì đấy. Đã sinh ra làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có điều lạ. Nhừn tới
    câu thơ thứ hai, ý thơ của Phan Bội Châu bắt đầu khác: Lẽ nào trời đất chuyển vần lấy sao. Nghĩa là
    Phan Bội Châu đã thoát ra khỏi tư tưởng thiên mệnh của người xưa. Xưa kia người anh hùng tiết
    tháo Đặng Dung chua chát nhận ra thời vận (tức ý trời) là nhân tố quyết định nên sự thành bại, chứ
    không phải do tài năng của bản thân:
    Thời lai đồ điều thành công dị
    Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
    (Gặp thời thì anh hùng thật, người câu cá cũng làm nên công trạng/ Vận đã hết thì anh hùng cũng chỉ
    nuốt hận mà thôi) .Với Phan Sào Nam thì ngược lại, ông đặt con người ngang tầm với càn khôn (đất
    trời). Càn khôn xoay vần cuộc đời thì cớ gì con người không xoay vần được càn khôn. Người xưa
    nói: Mưu sự tại nhân hành sự tại thiên ( Mưu việc do con người, nhưng thành công là bở ý trời).
    Phan Bội Châu không đề cập chuyện thành bại ở đây nhưng ý chí dám xoay lại càn khôn thì không
    chỉ là ngang tàng, bướng bỉnh mà có phần tự tin, lạc quan. Thoát khỏi tư tưởng thiên mệnh là bước
    đột khởi đầu tự tin, lạc quan. Thoát khỏi tư tưởng thiên mệnh là bước đột khởi để người chí sĩ cách
    mạng thực hiện chí nam nhi của mình. Sau khi so mình với càn khôn, tác giả lại so mình với đồng
    loại:
    Ư bách niên trung tri hữu ngã
    Khởi thiên tải hậ cánh vô thùy
    (Trong khoảng trăm năm cần có tớ
    Sau này muôn thủa há không ai?)
    Hào kiệt xưa kém thua càn khôn nhưng với đồng loại thì tự cho mình là xuất chúng, không bao giờ
    chịu ở trong đám đông tầm thường. Với Phan Bội Châu thì khác nhiều, ông vừa đánh giá cao cá
    nhân anh hùng, nhưng cũng không cho cá nhân ấy là duy nhất. Câu thơ thứ ba của bài rất gần với ý
    của Nguyễn Công Trứ.
    Đã mang tiếng ở trong trời đất
    Phải có danh gì với núi sông
    Nhưng ở câu thơ thứ tư thì lại rất khác. Tác giả đặt bai trò của cá nhân mình bình đẳng với các cá
    nhân khác, tuy rằng đó mới chỉ là một câu nghi vấn: Sau này muôn thuở, há không ai? Nhưng đã
    chứng tỏ Phan Bội Châu không coi mình là người duy nhất.
    Bản thân là một nhà nho, nhưng không vì thế mà Phan Bội Châu giữ lấy sự cố hữu của nhà nho, trái
    lại ông là người của thực tiễn, hăm hở với trào lưu đổi mới. Đầu tiên đó là sự đổi mới của tư tưởng
    nhận thức:
    Non sông đã chết sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
    Nhà thơ đặt số phận của đất nước bên cạnh số phận của mỗi người, điều này không phải đến Phan
    Bội Châu mới có. Những có lẽ ít ai nói được điều đó da diết thông thíết như cụ Phan. Nước đã mất
    đồng nghĩa với anh hùng chịu nhục. Nhục thì phải đứng lên rửa nhục, làm được điều đó thì xứng
    đáng là anh hùng. Việc học cũng phải quan niệm. Nếu như ở Nguyễn Khuyến hay Tú Xương:
    Sách vở ích gì cho buổi ấy
    Hay:
    Ông nghè ống cống cũng nằm co.
    Chỉ là niềm cảm khái cho đạo thánh hiền đến buổi lụi tàn, thì ở Phan Bội Châu là sự phê phán đến
    gay gắt. Sách vở thánh hiền vô dụng mà còn ngồi tong thì chỉ là hoài, là nghi mà thôi.
    Sau đổi mới về tư tưởng, nhận thức là sự đổi mới về hành động:
    Muốn vượt biển đông theo cánh gió
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
    (Nguyện trục trường phong đông hải khứ
    Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi)
    Sống gió ở đây không phải là sóng gió bình thường, mà là gió dài ( trường phong), sóng bạc (bạch
    lãng) tức sóng to gió lớn (phong ba bão táp). Người hào kiệt không những không sợ sóng gió mà còn
    coi sóng gió là bạn đường ( những khó khăn nguy hiểm trên đường hoạt động) là đối tượng để mình
    đua sức, đua tài.
    Hai câu thơ cuối thể hiện ý chí mạnh mẽ của Phan Bội Châu, mong muốn được ra đi bất chấp mọi
    khó khăn gian khổ. Câu thơ gợi một cảm giác bừng bừng tráng khí chứ không mang một chút lo âu,
    cũng chẳng hề nghĩ đến quan san muôn dặm hay lữ thứ tha hương. Nhiệt huyết cứu nước nòi đã lấn
    át đi tất cả. Câu thơ vượt Biển Đông cũng ngầm ý là sang Nhật Bản, đất nước nhờ biết duy tân mà
    trở nên hùng cường, đánh thắng cả nước Nga hùng mạnh, là tấm gương sáng cho các dân tộc noi
    theo.
    Vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của nhân vật trữ tình trong tác phẩm đã được thể hiện rõ nét trong chí
    làm trai của tác giả. Nó thể hiện khát vọng độc lập tự do của các bậc chí sĩ yêu nước thuở xưa.
    Trong bối cảnh đất nước Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu ( á - tế - a – ca), sự xuất hiện của Phan
    Bội Châu với sứ mệnh hai vai gánh vác cả sơn hà đã thổi vào lịch sử văn học một luồng sinh khí hào
    hùng chưa từng có. Qua vẻ đẹp lãng mạn mà hào hùng của thành gạch nối giữa lí tưởng cao đẹp
    của nhà nho chân chính với lí tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa của người cộng sản, mà tiêu biểu
    là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
     

     
    baj` tap lam van so 5 lop 10 de 2