Đăng nhập

Bài thuyết minh Tiền Giang

Bài Thuyết minh tuyến điểm tp.HCM-> Tiền Giang

Địa phận Tp.HCM:
Diện tích: 2.095km2
Dân số (2001): 5.378.100 người
Các quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, quận Tân Bình (nay là quận Tân Phú và Quận Bình Tân, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, quận Gò Vấp.
Các huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, và huyện Bình Chánh
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Chăm, Khmer
Thổ nhưỡng: Đất của thành phố chủ yếu là phù sa cũ và phù sa mới tạo lập nên.
Sông ngòi: Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có hàng trăm sông ngòi, kênh rạch nhưng sông lớn không nhiều, lớn nhất là sông Sài Gòn mà đoạn chảy qua thành phố dài 106km. Hệ thống đường sông từ thành phố Hồ Chí Minh lên miền Đông và xuống cc tỉnh miền Tây, sang Campuchia đều thuận lợi.
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông của cả miền Nam bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hng không. Từ thành phố đi Hà Nội có quốc lộ 1, đường sắt thống nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông Dương. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách trung tâm thành phố 7km, là sân bay lớn nhất nước với hàng chục đường bay quốc tế.
Khí hậu: hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm1.979mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,550C, không có mùa đông. Hoạt động du lịch thuận lợi suốt 12 tháng.
Khu vực hành chính toàn thành phố có 23 quận, huyện. Nội thành có các quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, quận Bình Tân, quận Tân Phú, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Thủ Đức và quận Gò Vấp. Ngoại thành có các huyện Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và huyện Bình Chánh. Toàn thành phố có 303 phường, xã, thị trấn.
Lịch Sử
Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất mới. Tính từ khi địa danh Sài Gòn được ghi vào sổ sách năm 1698 thì đến nay thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập được 300 năm. Vào đầu năm Mậu Dần (1698), Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh Chúa Nguyễn vào kinh lý vùng đất phía Nam. Ông đã thành lập phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (sau này trở thành một đô thị lớn của Việt Nam). Vùng đất Nam bộ lúc đó còn ít người, dinh Phiên Trấn chỉ có huyện Tân Bình, còn dinh Trấn Biên chỉ có huyện Phước Long. Năm 1772, lũy thành Bán Bích được xây dựng. Năm 1790, thành Bát Quái ra đời. Đó là một thành lũy vào loại lớn nhất ở phía Nam. Năm 1859, thực dân pháp đánh chiếm Nam bộ, thành Gia Định thất thủ. Từ năm 1862 một phương án quy hoạch thành phố với 500 ngàn dân được phê duyệt. Thống đốc quân sự người Pháp là Bonard chia tỉnh Gia Định thành 3 phủ, mỗi phủ có 3 huyện, dưới huyện có tổng, dưới tổng có xã. Sài Gòn lúc bấy giờ vừa là tỉnh lỵ của Gia Định, vừa là phủ lỵ của phủ Tân Bình, vừa là huyện lỵ của huyện Bình Dương; còn chợ Lớn là huyện lỵ của huyện Tân Long, cùng phủ Tân Bình. Năm 1864, Chợ Lớn được tách ra khỏi Sài Gòn (về phương diện địa bn) vì là thành phố của người Hoa đang trên đà thịnh vượng.

Từ đây dáng dấp một đô thị theo kiểu phương Tây thế kỷ 19 đã dần hình thành theo hai trục Bắc – Nam và Đông – Tây. Thành phố đã hình thành những trục đường lớn có ngã tư, ngã năm, ngã bảy. Nhà nhiều tầng bằng gạch, xi măng cốt thép, quảng trường, bến cảng, công viên… lần lượt ra đời.
Do vị trí địa lý và những yếu tố đất đai, khí hậu thuận lợi, vùng đất này sớm trở thành nơi hội tụ của các thương nhân bốn biển, năm châu. Cảng Sài Gòn được thành lập từ năm 1862. Các tàu buôn của người phương Tây và các nước lân cận đã tấp nập cập cảng Sài Gòn và họ cũng rất quen thuộc các địa danh: chợ cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Kho, chợ Rẫy, chợ Bến Thành, chợ Sài Gòn. Từ lâu, Sài Gòn đã được ca ngợi là “Hòn ngọc của Viễn Đông”.
Cuối thế kỷ 19 (ngày 15-3-1874) Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn. Sài Gòn thực sự trở thành một đô thị với hàng loạt công trình lớn được xây dựng theo kiểu phương Tây với những công sở, trung tâm thương mại, công nghệ dịch vụ, giao thông. Đầu thế kỷ 20, Chợ Lớn sát nhập vào Sài Gòn, thành phố trở thành đô thị lớn nhất Đông Dương.
Thành phố Hồ Chí Minh là một địa danh lịch sử, nơi mở đầu cho cuộc kháng chiến anh dũng chống quân xâm lược Pháp và là nơi kết thúc thắng lợi quá trình giành độc lập của dân tộc Việt Nam với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30-4-1975.
Kỳ họp thứ nhất ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa VI nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh.
Tiềm Năng Du Lịch
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất nước, thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Sở dĩ như vậy vì ngoài cơ sở hạ tầng khá tốt, giao thông tương đối thuận tiện, thành phố là một nơi có tài nguyên du lịch phong phú. Nơi đây là một vùng đất gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc kể từ khi thực dân Pháp đặt chân lên Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (1911). Gắn liền với sự kiện đó, cảng Nhà Rồng và Bảo Tàng Hồ Chí Minh là một di tích quan trọng, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Các di tích cách mạng khác như địa đạo củ chi. Hệ thống các bảo tàng, nhà hát, nhà văn hóa, các công trình kiến trúc thời Pháp là những điểm du lịch hấp dẫn. Gần đây thành phố đã đầu tư nhiều khu du lịch như Thanh Đa, Bình Quới, nhiều khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Kỳ Hòa, công viên Nước, suối Tiên,… đã thu hút và hấp dẫn du khách. Hiện nay, thành phố đang tiến hành tôn tạo các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc cổ, đầu tư cho hệ thống bảo tàng, khôi phục nền văn hóa truyền thống kết hợp với tổ chức các lễ hội, khôi phục văn hóa miệt vườn, làng hoa để phát triển một cách vững chắc ngành du lịch của thành phố.
Văn Hóa – Lễ Hội
Với gần 300 năm hình thành và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên…), hệ thống các nhà thờ tổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức…). Nhìn chung, một trong những đặc trưng văn hóa của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn – Gia Định, nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là “cơ cấu kiến trúc” Việt – Hoa - châu Âu. Một nền văn hóa kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc của người Việt với những nét đặc sắc của văn hóa phương Bắc và phương Tây.
Có thể nói Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hóa của Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố này là nơi phổ biến báo quốc ngữ đầu tiên, là nơi ra báo quốc ngữ đầu tiên của cả nước. Sự ra đời và phát triển phong phú của sách, báo, trường học, của đội ngũ trí thức và văn nghệ sĩ, của các hoạt động và giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật… đã tạo cho Sài Gòn từ lâu là một thành phố có ảnh hưởng lớn về văn hóa đối với cả nước.
Những lễ hội lớn ở thành phố Hồ Chí Minh là lễ hội tưởng niệm, ghi công các anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…. Hàng năm được tổ chức trọng thể vào mùa xuân.
Đặc biệt vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch) cả thành phố tưng bừng dự lễ hội giỗ tổ Hùng Vương, dâng hương bái vọng về đền Hùng (tỉnh Phú Thọ).

Ngã Tư Bảy Hiền:
Ngày xưa vào thời chúa Nguyễn có mot người cũng từ Quảng Nam vào khai phá tại nay và mở một quán nằm trên đường Quang Lộ để khách qua đường ghé qua, quán phục vụ ăn uống và rất nổi tiếng. Tên của quán là bảy hiền. Như vậy, tại ngả tư bảy hiền có tên từ đó đến nay. Nay là vùng đi đầu trong việc phát triển vấn đề nhà ở cho dân cư rất nổi tiếng.
Tuy nhiên, do sự phân chia gần nay thành 2 quận: Tân Bình Và Tân Phú. Tân Bình trước khi chia ra là nơi có dân số đông nhất trong tất cả các quận trong thành phố và cả nước nói chung. Và đặc biệt là dân số nhập cư vào tân bình là rất lớn nên chia làm 2 quận
Đầm Sen:
Là 1 trong 2 khu du lịch nổi tiếng ở trong nước. Đầm sen xưa vốn nằm trong khu vực chiến trường giữa pháp và việt nam (1859) và những năm sau đó. Trong Đầm Sen có dựng bia để kỷ niệm; nay là nơi chiến đấu giữa 2 lực lượng Pháp-Việt trong lần đầu tấn công vào thành Gia Định (1859) và sau đó mở rộng ra thì lực lượng ta đã kịp ứnmg cứu và chiến đấu tại nay. Ơ đây, ngày xưa có nhiều sen mọc và hoang vu nên người ta khai thác thành khu du lịch rất nổi tiếng. Thành phố Hồ Chí Minh có 2 khu du lịch nổi tiếng là: Đầm Sen Và Suối Tiên bởi vì có thể nói mảnh đất Sài Gòn là nơi hội tụ củ cư dân về nay sinh sống và điều kiện kinh tế cũng rất dễ dàng nên từ đó nhu cầu vui chơi giải trí rất lớn.
•Đường Hùng Vương
Ngày 18-04-1997 Thủ Tướng Chính Phủ đã thông qua dự án nâng cao mở rộng đường Hùng Vương, đoạn từ nút giao thông Phú Lâm đến ngã ba An Lạc.
Với chiều dài 5.500m và kinh phí xây dựng 266 tỷ đồng (trong đó phải đền bù giải tỏa hết 161 tỷ đồng). Đoạn nút giao thông Phú Lâm đến mũi tàu Phú Lâm là 1.600m, lộ giới xây dựng 40m, mặt cắt ngang với 8 làn xe chạy. Đoạn từ mũi tàu Phú Lâm đến ngã ba An Lạc dài 3.900m, lộ giới xây dựng 48m, gồm 8 làn xe chạy.
Ngày 14-04-1997 UBND thành phố đã chấp nhận cho Công Ty dịch vụ Thành Phố Hồ Chí Minh Invero thuộc lực lượng Thanh niên xung phong, phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức, khảo sát định mức nhà cửa, kiến trúc hai bên đường. Con đường này với tổng chiều dài là 6.845m.
Công viên Phú Lâm:
Nằm ngay mũi tàu Phú Lâm, được xây dựng năm 1988 với nhiều khu vui chơi giải trí, nhà hàng. Trước đây là bãi đổ gỗ xúc, đổ rác, việc cải tạo thành công viên làm sạch và xanh thêm cho thành phố.
Vòng xoay Phú Lâm:
Đây là cửa ngõ nối các tỉnh miền Tây với Tp.HCM. Chính vì vậy mật độ lưu thông xe cộ rất cao nên thường diễn ra tình trạng kẹt xe. Để giải quyết vấn đề này, UBND thành phố đã quyết định xây dựng nút giao thông này vào ngày 10/12/1994 và hoàn thành vào ngày 27/12/1995. Tổng kinh phí xây dựng là 67 tỉ, do công ty TNHH Lê Phan và công ty thương mại xây dựng Gia Định thi công. Nếu đi thẳng về miền Tây còn rẽ phải đi Lê Minh Xuân (Phật Cô Đơn ).
Tượng đứng trên ngay vòng xoay Phú Lâm đó là tượng Lê Lợi, người có công đặt nền tảng đầu tiên và các vua Lê sau đó đã tiếp tục củng cố. Người đã có công đánh đuổi giặc Minh xâm lược và cũng trong thời kỳ này Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết bài “Bình Ngô Đại Cáo” trịnh trọng tuyên cáo nền độc lập của nước nhà, “Bình Ngô Đại Cáo” là án thiên cổ hùng văn có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập lần hai.
Chợ An Lạc:
Đây là chợ đầu mối chuyên về các loại ngũ cốc nhất là gạo và các loại nông sản. Chợ được xây dựng vào năm 1978, lúc đầu có 2 điểm: một ở khu phố 2 thị trấn với 5000m2 và hai ở khu phố 3 với 2000m2.
Năm 1980 chợ được dời về khu phố 6 thuộc thị trấn An Lạc. Năm 1991-1992 chợ được nâng lên 10.000m2.
Chợ An Lạc cũng là nơi cung cấp cho thành phố hàng ngày từ 70-80 tấn thịt các loại và từ 30-40 tấn gạo.
Tháng 11/1997 công ty xây dựng Bình Chánh và tập đoàn BOURBON (Pháp) đã kí hợp đồng xây dựng công ty TNHH Thương mại dịch vụ siêu thị An Lạc với diện tích 10 ha.
Bến xe miền Tây:
Nằm trên trục đường 1A đi các tỉnh miền Tây, đây là một trong ba bến xe lớn nhất của thành phố. Từ đây, chúng ta có thể đi đến bất cứ tỉnh nào của đồng bằng sông Cửu Long. Bến xe hoạt động 24h/24h phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.
Ngày 3 tháng 2 năm 1992 UBND Thành Phố Hồ Chí Minh quyết định chuyển Bến Xe Miền Tây thành đơn vị hoạt động theo Doanh Nghiệp nhà nước, bình quân có từ 500 đến 600 đầu xe phục vụ cho 14.000 đến 15.000 lượt khách hàng ngày. Năm 1997 nhân kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ Bến Xe Miền Tây đã xây dựng và bàn giao 3 căn nhà tình nghĩa với tổng số tiền trên 60 tỉ đồng do cán bộ CNV đóng góp, đồng thời phụng dưỡng thường xuyên các bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Huyện Bình Chánh:
Là xã thuộc Tổng Long Hưng tỉnh Chợ thời Pháp thuộc sau thuộc Quận Bình Chánh do Mỹ Nguỵ lập ở Tỉnh Gia Định, nay là Huyện Thuộc Thành Phố Hồ Chính Minh. Cách trung tâm Thành Phố 22 Km.
Ngày 26 tháng 2 năm 1966 Quân Giải Phóng chặn đánh một tiểu đoàn lính Mỹ càn quét xã Bình Chánh, diệt gọn một đại đội lính Mỹ, tiêu hao nặng một đại đội lính Mỹ khác, giết và làm bị thương 200 tên, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng.

Là một trong những huyện ngoại thành của Thành Phố, nằm trên trục đường chính đi từ Thành Phố ra các Tỉnh Miền Tây, nhân dân ở đây sống bằng nghề nông và chăn nuôi heo, gà, vịt.
Nhà nước khuyến khích nông dân ứng dụng qui trình VAC để tăng thu nhập. Vườn ao chuồn có nghĩa là trên miếng đất thổ cư người nông dân đào ao nuôi cá như cá trê, cá chép, cá chấm cỏ…họ xây dựng các chuồng heo gần ao cá ngoài ra họ còn trồng rau muống, rau lang cho heo ăn, khi dọn dẹp vệ sinh chuồng heo, thức ăn rơi vãi của heo cùng phân sẽ là thức ăn cho cá đồng thời là nguồn phân bón cho rau xanh, cây ăn trái sau mỗi lứa heo, mỗi đợt bán cá là lợi tức bù đắp công sức lao động.[/size][/size]

Xa lộ Đại Hàn:
Sau tổng tấn công và nổi dậy vào tết Mậu Thân năm 1986, Mỹ hoảng sợ và đã cho xây dựng đường vành đai để bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Sài Gòn, để ngăn cách Sài Gòn và quân dân Cách Mạng ở Hóc Môn – Củ Chi.
Xa lộ đại Hàn được xây dựng từ năm 1969-1970, do công ty của Mỹ thiết kế và do công binh của Đại Hàn xây dựng. Từ đó có tên là Xa Lộ Đại Hàn.
Xa lộ Đại Hàn dài khoảng 40km, rộng 16km bắt đầu từ ngã ba trạm hai đến ngã ba An Lạc. Hiện nay từ ngã ba trạm hai đến ngã tư Bình Phước gọi là đường Trường Sơn, từ trạm hai đến ngã ba An Lạc nay gọi là QL 1A.
QUỐC LỘ 1A
Quốc lộ 1A còn là con đường huyết mạch xuyên suốt từ Bắc tới Nam và là con đường chính của nước ta dưới triều Nguyễn. Nhà Nguyễn dùng con đường này để liên lạc ba xứ Bắc – Trung – Nam.
Con đường này lúc bấy giờ được chia ra làm nhiều trạm, mỗi trạm có nhiều nhà trạm và phu trạm lo việc công văn, đồ đạc của quan lại. Để phục vụ cho việc liên lạc nhanh chóng, Vua cấp cho mỗi trạm vài con ngựa, công văn chuyển đi được niêm phong rất kỹ. Chính nhờ con đường này mà sự lãnh đạo của triều đình Huế đã đến mọi miền đất nước kịp thời góp phần tạo sự bền vững cho nhà Nguyễn trong suốt 150 năm.
Quốc lộ 1A hệ thống giao thông hết sức quan trọng của cả nước, nối liền từ Bắc vào Nam, là cầu nối hai khu vực kinh tế: Vùng ĐBSCL và vùng Đông Nam Bộ và những địa phương khác trong cả nước. Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 3.000km đi qua các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Nhà máy sản xuất phân bón Bình Điền:
Là nơi nghiên cứu và sản xuất các loại phân bón cung cấp cho các đồng ruộng của các Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Cầu Bình Điền:
Đây là con rạch quan trọng ăn thông với rạch Bến Lức ra sông Vàm Cỏ Đông, từ rạch này có thể theo kênh Tàu Hủ đi qua cầu Bình Điền chúng ta sẽ gặp sông chợ đệm vì phía dưới ngày xưa chuyên môn bán Đệm, là trung tâm thương mại trên tuyến sông vì ngày xưa du lịch bằng đường sông là chủ yếu, tải hàng từ Sài Gòn-Chợ Lớn xuống miền Tây hay miền Tây đi lên đều ghé qua chợ Đệm nên nó là trung tâm thương mại vào TK XVIII-XIX; Thế nhưng cuối TK XIX khi Pháp chiếm nước ta thì khu vực chơ Đệm này mất vai trò.

Chợ Đệm cũng là một di tích CM nổi tiếng vì tại chợ Đệm này lực lượng khởi nghĩa năm 1945 đã họp để quyết định làm cuộc CMT8 tại Sài Gòn ngày 25-8-1945 thành công. Người chủ trì CMT8 là ông Trần Văn Giàu nguyên là bí thư Xứ Ủy Nam Bộ (để ghi nhớ những đóng góp của ông cho dân tộc nên đã có giải thưởng nghiên cứu mang tên Trần Văn Giàu; ông là người đầu tiên còn sống được nhận vinh dự này).
Bến Cầu này là cơ sở bán cát xây dựng lấy từ sông chợ Đệm, nhà máy phân bón Bình Điền.
Cầu này bị sập lúc 22h 30 ngày 31/3/1998 do một xà lan chở cát va đập vào chân cầu, gây chấn động lớn.
Chợ Đệm:
Nằm cách cầu Bình Điền 500m. Trước đây giao thông đường bộ chưa phát triển, từ các tỉnh Miền Tây lên Sài Gòn chủ yếu bằng đường thủy. Chợ Đệm là cửa ngõ thành phố nơi ghe thuyền từ các nơi đổ về chờ con nước lớn thuận tiện để đi vào Gia Định. Từ thế kỷ 19 chợ Đệm là khu phố khá phát triển.
Năm 1883-1885 thực dân Pháp cho lập tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho và đặc biệt đầu thế kỷ XX tuyến đường bộ về Miền Tây được xây dựng (tuyến đường sắt ngưng hoạt động vào năm 1958) nên chợ Đệm chỉ giữ vai trò chủ yếu trở thành một chợ nhỏ, nằm ở ngã ba sông đầu cầu đúc đường đi xã Tân Kiên.
Chợ Đệm là nơi xứ ủy Nam Kỳ tổ chức ba hội nghị liên tiếp ngày 14 đến ngày 24-08-1945 để quyết định những vấn đề quan trọng cho cách Mạng Tháng Tám giải phóng Sài Gòn.
Năm 1989 sinh hoạt ở chợ Đệm trở nên tấp nập hơn nhờ sự hiện diện của nhà máy xay sát của công ty lương thực Thành Phố với công suất 600 tấn lúa/ngày. Đây là nhà máy hiện đại phục vụ cho việc sản xuất lúa gạo, hiện nay nhà máy ngưng hoạt động do lượng gạo ở Miền Tây không chuyển lên.
Chợ Đệm hiện nay là trung tâm của huyện Bình Chánh; khi đất nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo thì chợ Đệm này cũng nổi tiếng vì tại đây có 1 người phụ nữ anh hùng lao động của chúng ta, chị Nguyễn Thị Ráo tức chị Ba Thi đã mở nhà máy khai thác gạo xuất khẩu các mặt hàng đan lát và đặc biệt là đệm phục vụ cho nông nghiệp tiêu dùng nhân dân.
Tại sao gọi là chợ Đệm? Trước đây khu vực này chuyên sản xuất các mặt hàng đan lát, đặt biệt là phục vụ cho nông nghiệp tiêu dùng của nhân dân. Hiện nay mặc dù là chợ nhỏ nhưng dân ở đây vẫn còn sản xuất những mặt hàng đan lát, ở gần chợ Đệm có cơ sở đan lát rất lớn.
Đại Lộ Nam Sài Gòn:
Qua khỏi dốc Cầu Bình Điền khoảng 1,5km phía trái là ngã ba (Đại Lộ Nam Sài Gòn) mới được thành lập.
Đại Lộ Nam Sài Gòn: Bắc Nhà Bè - Nam Bình Chánh hay còn gọi là đường Bình Thuận được xây dựng tháng 6/1997. Đại lộ này chính thức thông xe vào cuối 1/1998 và cũng bắt đầu thu lệ phí cầu đường. Xa lộ Bình Thuận dài 17,8km bắt đầu từ khu chế xuất Tân Thuận đến đụng QL1. Dự kiến đường rộng 120m với 18 làn xe chạy. Đây là một dự án do liên doanh giữa tập đoàn công ty xây dựng Đài Loan và công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng với công ty phát triển công nghiệp Tân Thuận, thầu xây dựng Trung Quốc.

Tỉnh Long An

Tỉnh Long An có diện tích là: 4.338 km2,
Dân số theo tài liệu khảo sát vào ngày 01/04/1999 là: 1.306.202 người .
Tỉnh lỵ của Long An là: Thị xã Tân An. Long An gồm có các huyện: Bến Lức, cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thanh Hoá, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng. Ơ đây có hai dân tộc sinh sống chính là: Việt (Kinh) và Khmer.
Cách Thành Phố Hồ Chí Minh 47km, Long An là cửa ngõ của Đồng Bằng Sông Cửu Long, phía Bắc giáp Tây Ninh và nước Campuchia, phía Đông Giáp Thành Phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp Tiền Giang và phía Tây giáp Đồng Tháp. Là một tỉnh nông nghiệp, đất Long An màu mỡ trải ra hai triền sông của hai con sông lớn: sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây. Ở phía Bắc tỉnh có một số gò, đồi thấp, còn lại thì bằng phẳng. Phần đất phía Tây thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười.
Long An có một mạng lưới sông, ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Thực ra Long An chưa phải là Đồng Bằng Sông Cửu Long mà chỉ là đồng bằng sông Vàm Cỏ giữa hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long.
Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 27,4oC, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 1.620 mm/năm.
Long An đông dân, chủ yếu là người Việt (kinh) và đồng bào gốc Khmer ở phía Tây. Long An có 4 tôn giáo đông người theo là đạo Phật, Kitô giáo, đạo Cao Đài, đạo Tin Lành.
Long An hấp dẫn du khách chủ yếu do giá trị nhân văn của nền văn hoá Óc Eo, một nền văn hoá đã hình thành và phát triển trên châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 6 sau công nguyên do tiếp nhận tinh hoa văn hoá An Độ. Gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hoá Oc Eo đã được phát hiện với 12.000 hiện vật đã thu thập. Ngoài ra Long An có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, công trình kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng như: cụm di tích Bình Tả (Đức Hoà), di tích lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức (thị xã Long An), di tích đồn Rạch Cát, ngôi nhà trăm cột...
Những năm hạn hán nhân dân tại các vùng sản xuất nông nghiệp của Long An thường tổ chức cầu mưa, tế lễ trời đất, mong thần linh ban cho mưa xuống. Lễ cầu mưa có hai phần: phần lễ theo nghi thức lễ truyền thống và phần hội là các cuộc đua ghe trên sông rạch, cũng có nơi làm lễ rước rồng.
Sau khi đua ghe, dân chúng kéo về đình làng làm lễ cúng thần linh và tổ chức ăn uống vui chơi.
Gò Đen
Gò Đen thuộc xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Thị tứ đầu tiên của huyện Bến Lức, nơi nổi tiếng rượu đế. Ở hai bên đường của khu vực này có bày bán rất nhiều dựng trong những can nhựa. Có hai giả thuyết nói đến Gò Đen.
Giả thiết thứ nhất: Vùng này trước kia người ta nuôi vịt nhiều tối lại họ thường đốt đèn trên Gò để coi vịt, thế thì người đi qua lại trên đường thấy có ánh sáng lấp lánh gọi đó là Gò Đêm hay còn gọi là Gò Đen.
Giả thiết thứ hai: Nơi đây vốn nổi tiếng là rượu đế. Trước đây vào thời thuộc Pháp cấm nấu rượu đế, không cho sản xuất ra loại rượu nếp nhưng nhân dân ta trốn lén lên Gò cao, nơi có những lùm cây rậm rạp, tối tăm để mà nấu cho ra loại rượu rất ngon. Từ đó có tên rượu Gò Đen.
Cách nấu rượu đế Gò Đen* :
Rượu ở đây có nồng độ rất cao từ 450 – 550, có mùi thơm, cay và nồng… người dân ở đây nấu rượu bằng nếp lứt có thể bằng gạo hay củ mì…
Trước hết đem khoảng 8kg gạo nấu thành cơm rồi để 2 giờ cho cơm nguội đi, sau đó đem ủ men vào những khạp tương, để khoảng 4 – 5 ngày rồi đem chưng cất lên, qua một hệ thống đường ống cho ra sản phẩm rượu nguyên chất, với số lượng gạo như trên thì có thể cho ra từ 5 – 7 lít rượu ngon. Rượu có thể dùng để ngâm thuốc uống…
Cầu Bến Lức:
Cầu dài 429m bắt qua sông Vàm Cỏ Đông.
Nhìn về phía bên trái còn cây cầu cũ là cầu của đường xe lửa ngày xưa, hiện nay dùng làm đường địa phương là một trong những chiếc cầu quan trọng của sông Vàm Cỏ Đông. Bến Lức là một huyện đầu tiên của Tỉnh Long An cách Thành Phố Hồ Chí Minh 40Km. Người dân khai thác cát dưới dòng sông để làm vật liệu xây dựng.
Đi dọc bờ sông khoảng 10 Km dẫn đến Vàm Nhật Tảo một phụ lưu ở hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông là nơi Nguyễn Trung Trực chỉ huy đoàn quân nghĩa dũng đốt chiếc tiểu hạm “Hy vọng" của Pháp vào ngày 10/12/1861. Cầu Bến Lức bắt ngang qua Sông Vàm Cỏ Đông.
Sông Vàm Cỏ Đông:
Bắt nguồn từ Campuchia, sông Vàm Cỏ Đông chảy qua nước ta qua tỉnh Tây Ninh, rồi vào Long An làm thành biên giới thiên nhiên của hai huyện Đức Hoà, Đức Huệ, qua các huyện Bến Lức, gặp sông Vàm Cỏ Tây ở huyện Cần Đước, rồi đổ ra cửa Xoài Rạp. Sông dài 270Km, riêng đoạn chảy qua đất Long An dài 140 Km, độ rộng trung bình 170m, nơi hẹp nhất 20m, nơi rộng nhất từ Bến Lức ra biển là 120m. Đoạn cuối lòng sông rộng trên 1km.
Vàm Nhật Tảo:
Nơi đây ngày 10/12/1861 người anh hùng xuất thân từ nghề chài lưới Nguyễn Trung Trực đã chỉ huy nghĩa quân đốt cháy chiến hạm Lorcha thuộc đoàn tàu Espérauce gây chấn động lớn vì đầu tiên nghĩa quân Việt Nam đánh đắm tàu Pháp với trang thiết bị hiện đại.
Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch (1838-1868) ở làng Bình Nhật-tỉnh Gia Định (nay là xã Bình Đức -huyện Bến Lức - Long An ). Năm 1861 ông tham gia lực lượng kháng chiến chống Pháp, sau khi đồn Chí Hòa thất thủ ông về Long An dưới sự lãnh đạo của Trương Định cùng nghĩa quân chống Pháp. Khi 3 tỉnh miền Đông mất ông ra Bình Định nhận chức lãnh binh, đến năm 1867 ông về Hà Tiên giữ chức thành thủ úy. Đêm 16/6/1868 ông chỉ huy đánh đồn Rạch Giá và làm chủ trận thế trong 5 ngày sau đó rút ra Phú Quốc. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, nghĩa quân bị thiếu lương thực, ốm đau nên ông đã tự ra nộp mình và bị giải về Sài Gòn, giặc nhiều lần dụ hàng nhưng ông khẳng khái nói “Khi nào nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh Tây”.
Ngày 27/10/1868 Pháp đã hành hình ông tại Rạch Giá. Nho sĩ Huỳnh Mẫn Đạt đã có bài thơ điếu:

“ Hỏa hồng Nhật Tảo kinh thiên địa
Kiếm lạt Kiên Giang khắp quỷ thần ”

Lăng Mộ Nguyễn Huỳnh Đức – Di tích kiến trúc nghệ thuật
Tên thật là Huỳnh Tường Đức (1748-1819), ông là một danh tướng của Nguyễn Ánh, ông có công giúp Nguyễn Ánh nên đã được nhà vua ban Quốc Tín đổi theo họ vua là Nguyễn Huỳnh Đức. Ông là người Long An, làm quan ở triều đình nhà Nguyễn ba đời Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Khi ông trăm tuổi già thể theo yêu cầu và nguyện vọng của Ông là mang hài cốt chôn ở quê nhà thị xã Tân An - tỉnh Long An.
• Đặc điểm bên đường đi:
- Qua cầu Tân An khoảng 150m, bên trái là bưu điện tỉnh Long An, trước đây là công viên, kế có đường đi vào thị xã Tân An.
- Phải có thánh thất Cao Đài.
- Tới ngã tư ngay góc đường bến xe Long An, rẽ trái đi vào sân vận động Long An rẽ phải đi vào Mộc Hóa (75km).
- Phía trước bên phải là nhà Thờ, tới nữa là Bào Tàng Long An nơi trưng bày rất nhiều di vật quý, trong đó còn có thẻ bài của nhà Vua ra lệnh rút 500 ngàn quân và những di tích cổ của nền văn hóa Óc Eo được khai thác ở Bình Tả (Đức Hòa) Tân Thạnh, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa.
Ngôi nhà 120 cột:
Thuộc xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước cách thị xã Tân An 150km.
Ngôi nhà làm bằng gỗ quý như cẩm lai, gỗ đỏ. Được xây dựng trên 100 năm với vẻ cổ kính, kiến trúc độc đáo, chạm khắc tinh vi trong trang trí nội thất. Đây là tác phẩm của 15 người thợ tài hoa miền Bắc .
Đồn Rạch Cốc:
Là một trong những đồn to nhất Việt Nam, được xây dựng năm 1903.
Chiều dài 300m, ngang 100m, có 5 tầng (3 tầng chìm, 2 tầng nổi), tường dày 60-100mm làm cho các gian hầm luôn luôn mát lạnh. Đứng trên nắp hầm, bên những khẩu pháo 105mm ta có thể ngắm nhìn cảnh đẹp của vùng sông nước Gò Công.
Vườn hoa kiểng Thanh Tâm:
Nằm tại trung tâm thị xã Tân An. Là vườn hoa kiểng phong phú về chủng loại như hoa kiểng, bonsai…. Có loại trên 100 tuổi và nhiều cây đã đoạt huy chương vàng hội hoa xuân.
Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười:
Ngược sông Vàm Cỏ Tây, thuyền du lịch sẽ đưa chúng ta đến trung tâm Đồng Tháp Mười. Đây là vùng du lịch sinh thái đặc trưng của vùng trũng Nam Bộ, cách Tân An 50km (thuộc huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Thạnh Hóa, Tân Thạnh). Nơi đây với những đầm sen rộng lớn, từng đàn ong mật bay lượn quanh những đóa sen, ngoài ra còn có các động vật qúy hiếm đang được bảo vệ như cò, sếu, rùa, rắn…. Quý khách có thể thưởng thức các món ăn như: canh chua bông điên điển, gỏi ngó sen, cá lóc nướng trui…
Vài nét về cây thanh long:
Cây thanh long thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc ở Mêhicô, Columbia. Đặc điểm của cây thanh long là thích hợp với khí hậu nóng, chịu hạn tốt, và trồng được ở nhiều loại đất. Cây thanh long có ở nhiều nơi nhưng có nhiều nhất là ở miền Tây và miền Trung.
Đầu năm 1980, cây thanh long bắt đầu được chú ý đến và đến năm 1990 nó được trồng nhiều ở miền Trung và miền Tây.

Cây thanh long ở miền Trung có giá trị xuất khẩu cao. Cây thanh long được trồng theo trụ gỗ, người ta cột nhánh thanh long vào trụ gỗ cho nó bám vào. Người ta chặt khoảng từ 3 đến 4 nhánh cắm chung vào 1 trụ gỗ, khoảng một năm bắt đầu có trái bói (trái đầu tiên). Năm thứ ba trở lên cho năng suất cao. Đến năm thứ 6 thì năng suất giảm dần. Nếu chăm sóc kỹ có thể thu hoạch nó trên 10 năm, mùa có trái từ tháng 4 đến tháng 11.
Thanh long nghịch mùa:
Có một người nuôi vịt tình cờ mắc bóng đèn để đề phòng kẻ trộm hái thanh long, không ngờ các trụ thanh long có treo đèn lại cho trái sớm hơn các trụ khác. Và từ năm 1995 những người trồng thanh long đã áp dụng phương thức này để có kết quả tốt. Nhiều gia đình giàu lên nhờ áp dụng phương pháp này và cho ra những trái vụ, bán với giá cao. Tên xuất khẩu của thanh long là Red Dragon.
Nhà máy nước khoáng Lavie:
Thuộc xã Khánh Hậu – thị xã Tân An – tỉnh Long An
Đây là nhà máy đầu tiên kinh doanh về loại hình nước khoáng rất thành công, mặc dù có rất nhiều nhãn hiệu nhái nhưng nó vẫn đứng vững trên thị trường. Đây là nhà máy theo công nghệ của Pháp đầu tư tại Tân An.
Cầu Tân Hương:
Cầu là ranh giới của tỉnh Long An – Tiền Giang.
Rời khỏi Long An ta đặt chân đến một tỉnh mới đó là tỉnh Tiền Giang.[/size]

Thủ Khoa Huân ( vị anh hùng dân tộc):
Thủ Khoa Huân tên tộc là Nguyễn Hữu Huân, tại làng Tịnh Hà, phủ Kiến Hưng, tỉnh Định Tường cũ. Nay là xã Mỹ Tịnh An-huyện Chợ Gạo-tỉnh Tiền Giang.
Năm 1852, dưới thời vua Tự Đức, ông Đậu Thủ Khoa (đứng đầu cử nhân). Sau đó, ông được cử làm giáo thụ (một chức quan trọng coi việc học) ở phủ Kiến Hưng.
Năm 1861 ông cùng Thiên Hộ Dương phát động khởi nghĩa, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn, từ Tân An đến Mỹ Tho, gây tiếng vang lớn toàn Nam Kỳ. Đầu năm 1862, bị giặc đánh úp, Ông bị bắt giải về Sài Gòn. Ở đây, chúng dùng quyền tước, bổng lộc dụ dỗ, mua chuộc ông, nhưng ông kiên quyết từ chối, ít lâu sau ông trốn thoát trở về kháng chiến.
Đầu năm 1863, Thủ Khoa Huân lại cùng Thiên Hộ Dương chiêu mộ nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa lần thứ 2. Hai ông đã liên kết với Trương Định, hình thành mặt trận chống Pháp trải từ Gò Công, Bình Cách, Thuộc Nhiêu đến Đồng tháp Mười. Sau khi căn cứ ở Thuộc Nhiêu bị bao vây càn quét, Ông chuyển về hoạt động ở An Giang. Giặc Pháp vô cùng lo ngại, gửi tối hậu thư cho quan tỉnh An Giang buộc phải nộp Thủ Khoa Huân cho chúng. Giặc pháp đưa ông về giam tại Sài Gòn. Chúng hứa sẽ cho ông tồn quyền chọn 1 chức quan tại bộ máy của chúng, ông lại từ chối; chúng kết án ông 10 năm tù khổ sai và đày ra đảo Réunion thuộc Đông Nam Châu Phi.
Sau 7 năm tù ông được giặc Pháp ân xá cho ông về nước trước hạn tù 3 năm nhằm lung lạc ý chí kháng chiến của ông; nhưng giặc đã lầm.
Năm 1873, ông bí mật trở về An Giang khởi nghĩa lần thứ 3, trong lần khởi nghĩa này dân chúng theo ông rất đông. Địa bàn hoạt động trải dài từ Cai Lậy (Mỹ Tho) đến Mỹ Qùi (Sa Đéc).
Đầu năm 1875, sau thất bại ở trận Bình Cách-Nguyễn Hữu Huân sa vào tay giặc 15-5-1875 chúng đưa ông về giam ở ngục Mỹ Tho. Chúng lại mua chuộc; Ông thản nhiên bảo: “việc lớn không thành, đó là do trời định. Nay bị bắt, thà chịu tử hình, chứ không tham tước lộc”.
Biết không lay chuyển được ông, ngày 19-5-1875 ông bị chém đầu ở thôn Tịnh Hà.
Đền Thờ Thủ Khoa Huân Cách Xã Tân Lý Tây 3 Km
(Ngày 1-6 Là Ngày giỗ Của Ông)
Tỉnh Tiền Giang

ĐỊA LÝ TIỀN GIANG

Diện tích: 2.484,2 km2.
Dân số (2006):1.717.400 người.
Tỉnh lỵ: thành phố Mỹ Tho.
Thị xã: thị xã Gò Công.
Các huyện: huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Tây, huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phước.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Tày...

Tiền Giang là phần đất của hai tỉnh: tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công cũ, phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Đông giáp với cửa Soài Rạp và biển Đông, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre. Thành phố Mỹ Tho cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km.
Khí hậu Tiền Giang chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng năm là 27oC, lượng mưa trung bình 2.300 mm/năm. Các sông chính: sông Tiền, sông Gò Công, sông Bảo Định và một mạng lưới kênh đào thuận lợi cho giao thông đường thủy.
Từ Tiền Giang có thể đi thành phố Hồ Chí Minh hoặc sang Phnôm Pênh bằng đường sông. Đường bộ chính của Tiền Giang là Quốc lộ 1A, chạy xuyên qua các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Là tỉnh đồng bằng, địa hình Tiền Giang chia thành ba vùng rõ rệt: vùng cây trái ven sông Tiền, vùng Đồng Tháp Mười và vùng ven biển Gò Công. Tiền Giang có 31 km bờ biển, hàng năm đánh bắt rất nhiều cá và hải sản; đất đai phì nhiêu, là một trong những vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long. Tiền Giang là nơi hội tụ đủ loại sản vật và hoa trái nổi tiếng như mận hồng đào Trung Lương, vú sữa Vinh Kim, xoài cát, cam sành, ổi xá lỵ Cái Bè...
Tiền Giang có hệ thống khách sạn, nhà hàng đầy đủ tiện nghi, nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng của miệt vườn vùng sông nước Cửu Long.
Trước giải phóng vốn là 2 tỉnh: Định Tường và Gò Công, sau giải phóng ta sát nhập 2 tỉnh lại và đặt tên là Tiền Giang; Tân Hiệp là trung tâm của Tiền Giang ngày xưa thời chúa Nguyễn.
Trên mảnh đất này cũng có 2 vị đệ nhất phu nhân đó là vợ Ông Nguyễn Văn Thiệu và vợ Bác Tôn Đức Thắng; ngoài ra còn có bà Từ Dũ. Trên mảnh đất này cũng nổi tiếng về đờn ca tài tử để rồi từ đó chuyển qua cải lương và gánh hát ông Nguyễn Tấn Triệu đã được mời sang Pháp biểu diễn năm 1920. Đến năm 1920 cũnh tại Mỹ Tho - Tiền Giang đã nảy sinh ra loại hình ca kịch cải lương đầu tiên, đó là gánh thầy Năm Tứ. Ngoài ra ở đây cũng có những truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm rất nổi tiếng như: huyện Châu Thành có chiến thắng Rạch Rầm - Xoài Mút; trận đánh của Quang Trung đại phá quân Xiêm…
Huyện Châu Thành:
Châu tức châu thổ, là vùng đất. Thành là thành thị. Những vùng đất ở gần thành thị được gọi là Châu Thành. Nơi này được xem là cái nôi của vùng đất Vĩnh Kim, nơi ở của nhân vật rất giỏi hiện đang công tác giảng dạy tại Việt Nam đó là giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê. Ông là thế hệ thứ tư của người sáng lập ra đoàn hát có tên Đông Ngữ Ban, ca tài tử cải lương của đoàn hát Nam Bộ.
Thị Trấn Tân Hiệp:
Khu vực này có tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đi ngang qua (tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho bắt đầu hoạt động từ năm 1858, đến năm 1950 tuyến đường sắt này ngưng hoạt động do điều kiện kinh tế đất nước và chiến tranh nên người ta không sử dụng con đường này nữa, vả lại khi đó tuyến giao thông đường bộ khá phát triển).
Ngã Ba Trung Lương:
Sỡ dĩ có tên gọi như vậy bởi vì trước đây nơi này là Trung tâm di chuyển lương thực của đồng bằng sông cửu long lên Tp.Hồ Chí Minh và một số nơi khác.
Tại ngã ba Trung Lương: nếu đi thẳng là vào Thành Phố Mỹ Tho và rẽ phải đi theo quốc lộ 1A về hướng các tỉnh miền Tây.
Nhà hàng Trung Lương
Địa chỉ: ngã ba Trung Lương-Thành Phố Mỹ Tho-Tiền Giang.
ĐT: 073.855441-855754 Fax:856323.
Đây là nhà hàng thuộc công ty du lịch Tiền Giang có diện tích khoảng 1.200ha xây dựng năm 1987 trên khu vườn xoài bên bờ Bảo Định Giang, ngay ngã ba Trung Lương và trong một khuôn viên rộng lớn, ngoài 6-7 gian để phục vụ khách, mỗi gian có khoảng 100 khách (10 người/1bàn), còn có khung cảnh thiên nhiên thoáng mát với những hàng hoa kiểng đẹp mắt.

Bên cạnh, còn có một ao nuôi cá và vài con thú nhỏ rất ấn tượng làm ta cảm thấy gần thiên nhiên hơn nữa. Tại đây khách đến quanh năm như là: Nhật, Đài Loan, Hồng Kông…và khách vãng lai như Pháp, Mỹ, Đông Âu… nhà hàng còn có hệ thống thực đơn đa dạng khoảng 20 món, các món ăn là đặc sản Miền Tây như: cá tai tượng chiên xù, gà xôi chiên phồng, rắn, rùa… hợp khẩu vị với nhiều thực khách, thêm vào đó là cách trình bày đẹp mắt gây ấn tượng tốt với khách. Các món ăn tại nhà hang
Điểm tâm sáng: hủ tiếu + nước: 18.000đ/phần
Cơm phần: 6 món ( gà, xôi, cá, tôm, lẩu, một món mặn, tráng miệng): 70.000đ/phần
Tôm giá 200.000->350.000đ/kg với các món nướng hấp gỏi tôm
Cá tai tượng giá 80.000đ với các món chiên, xào,hấp, chưng
Lươn giá 150.000đ/kg với các món nướng, hầm xã, nấu cháo.[/size]

Tại sao vùng này có tên là đồng bằng sông Cửu Long?
Theo giả thuyết: sông này có tên là sông Cửu Long vì : Sông này bắt nguồn từ Tây Tạng (cao hơn 5000m so với mực nước biển); trải qua Trung Quốc, Lào, Campuchia và đổ vào Nam Bộ. Sông có tên khác là MêKông (dài 4220km) phiên âm từ tiếng Lào là Mè Khoỏng, nghĩa là “sông Mẹ”. Khi chảy qua lãnh thổ Việt Nam theo 9 cửa (9 đầu rồng): trong đó chảy vào sông Tiền là 6 cửa (cửa Tiểu; Cửa Đại; Cửa Ba Lai; Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên; Cửa Cung Hầu); sông Hậu 3 cửa (Cửa Định An, Tranh Đề Và Bát Xác). Nên gọi là Cửu Long
Đây là vùng đất hình thành do sự bồi đắp của Sông Mê Kông đây cũng là vùng châu thổ lớn nhất nước.
Đồng Bằng sông Cửu Long ngày nay thuộc vương quốc Phù Nam ngày xưa, vương quốc Phù Nam có một phần lãnh địa thuộc đồng bằng sông Cửu Long vào đầu công nguyên.
Phù Nam là vương quốc rất hùng mạnh và thời kỳ cường thịnh nhất của vương quốc này khỏang từ thế kỷ thứ III -> thế kỷ V bắt đầu triều đại Phạm Sự Nan khoảng từ năm 205 đến 255.
Vương quốc Phù Nam phát triển chính trên địa bàn vùng hạ lưu và châu thổ sông Cửu Long.
Phù Nam là tên gọi theo cách phát âm Founan của người Trung Hoa, vị vua đầu tiên của người Phù Nam được biết đến đầu tiên trong lịch sử là Hỗn Điền. Theo truyền thuyết vị vua nay rất tôn sùng các vị thần BaLaMôn. Một hôm ông nằm mơ thấy các vị thần BaLaMôn trao cho mình một cây cung và truyền lệnh xuất dương trên một thương thuyền lớn. Sáng hôm sau ngài vào đền thờ làm lễ và thấy cây cung ở dưới gốc cây, bèn dong bườm ra biển, gió thần đưa thuyền đến vùng đất tại đây có một nữ vương tên Liễu Diệp, trẻ, khỏe, không khác gì con trai nổi danh trong các cuộc chinh phục các quốc gia láng giềng. Vị nữ quân thấy thuyền lạ liền xua quân ra định đánh cướp nhưng bị Hỗn Điền bắn một phát tên thần xuyên thũng mạng thuyền đến tận chỗ Liểu Vương đứng, trúng một tên quân. Liễu Diệp hoảng sợ xin hàng phục. Sau đó họ lấy nhau rồi cai trị xứ sở nay lập nên vương quốc Phù Nam .
Trong thời kỳ hưng thịnh họ khống chế nền thương nghiệp hàng hóa cả miền Đông Nam A và tự xưng là “Phù Nam Đại Vương “. Sử liệu còn ghi lại mối quan hệ ngọai giao và thương mại giữa Phù Nam với Trung Hoa, Ấn Độ. Nhờ tài nguyên phong phú và nhờ vào vị trí trung gian trên con đường hàng hải Ấn –Trung mà Óc Eo được coi là thành phố cảng của Phù Nam đã sớm trở thành một thị trấn quốc tế .
Giai đọan cuối của lịch sử Phù Nam trùng hợp với sự phát triển của Chân lạp. Mâu thuẩn giữa hai thế lực này dẫn đến sự sụp đỗ của vương quốc Phù Nam vào thế kỷ thứ 6 (theo tài liệu cổ Trung Hoa, vương quốc Phù Nam bị Chân lạp xâm chiếm vào khoảng năm 550 nhưng vẫn còn chống giữ đến năm 627). Sau khi bị Chăm Pa xâm chiếm Phù Nam chia làm hai quốc gia Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp (một phần thuộc ĐBSCL). Thủy Chân Lạp nằm gần bờ biển, vùng ĐBSCL; Lục Chân Lạp thuộc vùng đất cao chính là Campuchia ngày nay .
Từ thế kỷ 7 đến TK10 vùng đất này bị nhấn chìm trong lũ lụt, chỉ còn vài gò đất nổi lên. Từ khoảng TK 10-17 người Việt, Khmer đến định cư vì thế nơi đây hình thành nên nhóm dân tộc chính là người Kinh, Khmer, Chăm, Hoa với nền văn hóa đa dạng. Đồng thời trong thời gian này các tôn giáo được truyền bá và phát triển như đạo phật, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa …
Năm 1808 vùng đồng bằng sông Cửu Long, được người Pháp chia như sau :
-Trấn Định Tường: gồm Phủ Kiến An, 3 huyện Kiến Đăng, Kiến Hưng và Kiến Hòa .
-Trấn Hà Tiên: gồm các địa danh còn lại trong vùng .
-Năm 1832, Pháp phân Nam Kỳ ra làm lục tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đến thời điểm này vùng ĐBSCL có 4 tỉnh là: Định Tường (Tiền giang) An Giang , Vĩnh Long và Hà Tiên (Cần Thơ , Hà Tiên , Cà Mau) .
-Năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam Bộ ( Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Tường )
-Năm 1867, Nam Kỳ Lục Tỉnh được chia làm 20 tỉnh. Trong đó ĐBSCL có 14 tỉnh: Bạc Liêu, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Trà Vinh, Bến Tre, Gò Công, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá, Tân An .
-Từ 1955 –>1975 ĐB sông MêKông chia làm 17 tỉnh: Kiên Giang, Sa Đéc, Ba Xuyên (Bạc Liêu ), Vĩnh Bình, Kiến Tường, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Châu Đốc, Định Tường, Bạc Liêu, Gò Công, An Giang, Long An, Long Xuyên, Kiến Phong .
-Năm 1975 đến 1990 ĐBSCL có 9 tỉnh, Hậu Giang, Tiền Giang, An Giang, Long An, Bến Tre, Kiên Giang, Cửu Long, Đồng Tháp, Minh Hải.
-Năm 1991 tỉnh Cửu Long tách thành Trà vinh và Vĩnh Long.
-Năm 1992 Hậu Giang tách thành Cần Thơ và SócTrăng.
-Nắm 1997 Minh Hải tách thành Cà Mau và Bạc Liêu.
-Hiện nay vùng ĐBSCL có 13 tỉnh thành: Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Tp Cần thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang.
-Diện tích ĐBSCL: 40.000km2 chiếm khoảng 1/8 cảnước
-Dân số 19.5 triệu dân (2003) chiếm khoảng 1/4 dân số cả nước
2-Vị trí địa lí-khí hậu-đất đai sông ngòi:
2.1-Vị trí địa lí:
• Đông nam giáp biển Đông.
• Đông bắc giáp đông nam bộ.
• Tây bắc giáp campuchia.
• Phía tây giáp Vịnh Thái Lan.
• Độcao trung bình thấp: từ 0 – 2m.
2.2-Khí hậu đất đai biển:
Khí hậu phù hợp cho sự phát triển của thực vật. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 260C . Có ngày cao khoảng 330C.
Đất phù sa, diện tích khoảng 1.800.000ha, đất phù sa là do sông Hậu và sông Tiền bồi đắp.
Ngoài ra còn có đất ven sông pha màu hơi đỏ, đất mặn đất phèn, đất than bùn.
Rừng nước mặn ven biển chiếm diện tích 30.000ha. Đứng thứ 3 trên thế giới với những cây nổi tiếng như : cây mằm đen, cây đước, cây vẹt, cây đà, sú, bàn…
2.3-Sông ngòi:
Đây là vùng có hệ thống sông ngòi khá chằng chịt. Đồng thời nó cũng là yếu tố giúp cho vùng phát triển kinh tế nông nghiệp. Hệ thống sông ngòi chính của ĐBSCL là sông Hậu và sông Tiền là hai nhánh của sông Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc).

Lịch Sử Hình Thành Nền Văn Minh Miệt Vườn ở Tiền Giang
Tiền Giang có những tiếp cận với nền văn hóa Ấn Độ, Khơ Me, Trung Quốc qua người Hoa, Hồi giáo qua người Chăm. Tất cả đều được liên kết một cách phong phú trong nền văn hóa Việt Nam.
Ngay từ thế kỉ 18, phố chợ Mỹ Tho đã là nơi buôn bán nổi tiếng, ghe thuyền ở các ngả sông, biển đến đậu đông đúc làm thành một đô hội rất phồn hoa huyên náo.
Mỹ Tho là tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang hình thành vào năm 1679. Ngày nay còn dấu vết một khu thương mại cổ nằm trên đường Nguyễn Huỳnh Đức, thuộc phường 2 và phường 8. Hồi ấy gọi là Mỹ Tho đại phố. Năm 1791, đại phố này được xây dựng lại.
Đây là khu phố do chính người Việt người Hoa Minh Hương, cánh Dương Ngạn Địch lập nên. Mỹ Tho Đại phố là một trong ba trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ vào giữa thế kỷ 17 và Mỹ Tho Đại Phố, Nông Nại Đại Phố (Cù Lao Phố ngày nay ở Biên Hòa) và Hà Tiên.
Vào 3 thế kỷ trước, Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh dẫn quân từ Nam Vinh (Phnôm Pênh ngày nay) ghé qua cù lao Cây Sao và sau đó, trên đường về đất Đồng Nai, khi qua Rạch Gầm (sách cũ gọi là Sầm Khê) thuộc huyện Kiến Đăng, đất Mỹ Tho xưa thì bị bạo bệnh, trút hơi thở cuối cùng. Tên Rạch Gầm là do xưa kia cọp rất nhiều cọp thường hay kêu gầm nên một thời được gọi là Rạch Cọp Gầm, về sau người ta bỏ tiếng cọp, còn gọi là Rạch Gầm. Đây là nơi nổi tiếng với những trận đánh ác liệt trong kháng chiến chống Pháp thời nhà Nguyễn và chiến thắng của Tây Sơn đập tan đoàn quân xâm lược Xiêm thời chúa Nguyễn.
Ba sông chính chảy qua Tiền Giang: sông Tiền, Gò Công, Bảo Định đã bồi đắp phù sa, biến đất đai vùng này trở nên phì nhiêu. Giữa sông Tiền lộng gió, nổi lên một hòn đảo nhỏ, có tên Cù Lao Thới Sơn, cây ăn trái xum xuê. Là miệt vườn nổi tiếng của xứ sở cây trái Nam Bộ và sản vật trà mật ong thanh nhiệt thật thơm ngon.
Nằm ở đoạn sông Tiền, giáp ranh giữa ba tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, chợ nổi Cái Bè sầm uất từ lâu là điểm mưu sinh quen thuộc của người dân vùng sông nước Cửu Long. Hàng ngày có khoảng 400 thuyền lớn chở đầy hàng hoá neo hai bên bờ chờ thương lái. Trên sông, hàng trăm thuyền nhỏ xuôi ngược như mắc cửi, buôn bán rộn ràng.
Vùng sông nước này củng là điểm du lịch hấp dẩn Du lịch Tiền Giang tham gia du lịch Du lịch miệt vườn, hay Du lịch vào mùa nước nổi. Tiền Giang còn có nhiều địa điểm lý thú như: Chùa Vĩnh Tràng, Trại rắn Đồng Tâm, và cả Khu du lịch sinh thái Thới Sơn.
Vùng đất của hai nhánh sông và gần biển này có nhiều món ngon mà hiếm nơi nào có được như: Sam biển Gò Công, Cá bống dừa, Bánh giá chợ Giồng, Hủ tiếu Mỹ Tho, Bún gỏi già Mỹ Tho, Chuối quét dừa , ...
Tiền Giang cũng có những lễ hội đặc trưng như: Hội Vàm Láng, Hội tứ kiệt.

Đôi nét về tỉnh tiền giang
Diện tích : 2367 Km2
Dân số : 1.649.300 người (2002)
Mật độ : 727 người/Km2
Tỉnh lỵ : Thành phố Mỹ Tho cách TP.Hồ Chí Minh 71 km theo quốc lộ 1A
Có một thị xã và 7 huyện
+Một thị xã : GÒ CÔNG
+Bảy huyện : Cái Bè , Cai Lậy , Châu Thành , Chợ Gạo , Gò Công Đông , Gò Công Tây , Tân Phước
Dân tộc : Kinh , Hoa….
_ Là phần đất của hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công cũ
_ Phía bắc giáp Long An
_ Phía tây giáp Đồng Tháp
_ Phía đông giáp với cửa Soài Rạp và biển Đông
_ Phía nam giáp Bến Tre
Khí hậu Tiền Giang có hai mùa rõ rệt , đó là mùa mưa và mùa khô . Nhiệt độ trung bình là 27 độ C , lượng mưa trung bình là 2300 mm/ năm
Các sông chính là sông Tiền , sông Gò Công , sông Bảo Định và một mang lưới kênh đào thuận lợi cho giao thông đường thủy . Từ Tiền Giang có thể đi TP. Hồ Chí Minh hoặc Phnôm Pênh bằng đường sông .Đường bộ chính là quốc lộ 1A chạy xuyên qua cac tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
Là tỉnh đồng bằng , địa hình Tiền Giang chia thành ba vung rõ rệt là vùng cây trái ven sông Tiền ,vùng Đồng Tháp Mười và vùng ven biển Gò Công . Tiền Giang có 32 km bờ biển , hàng năm đánh bắt rất nhiều cá và hải sản , đất đai phì nhiêu , là một trong những vựa lúa lớn của Đồng Bằng Sông Cửu Long . Là nơi hội tụ đủ loại sản vật và hoa trái nổi tiếng như : mận hồng đào Trung Lương , vú sữa Vĩnh Kim , xoài cát , cam sành , ổi xá lị Cái Bè…Có hệ thống khách sạn , nhà hàng đầy đủ tiện nghi và nhiều món ăn dặc sản của miệt vườn sông nước Cửu Long
Truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc Nam Bộ , là một trong những cái nôi của ca nhạc cải lương nổi tiếng , nơi diễn ra các sự kiện lịch sử Rạch Gầm – Xoài Mút , Ap Bắc… quê hương của các anh hùng Trương Định , Thủ Khoa Huân . Có nhiều tôn giáo như Nho giáo , Phật giáo , Công giáo …
Bên cạnh những di tích tôn giáo như đền chùa , đình miếu , nhà thờ , còn giữ được nhiều di tích lịch sử , đó là các di chỉ Oc Eo , chiến lũy ,pháo đài …Có nhiều danh lam thắng cảnh như Cù lao Thới Sơn , trại rắn Đồng Tâm tạo nên bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên , đời sống vật chất và văn hóa đặc trưng của Nam Bộ

Rạch Rầm – Xòai Mút

Khu di tích được khánh thành năm 2005 để kỉ niệm 220 năm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút 20.1.1785 – 20.1.2005
Khu di tích thuộc địa phận ấp Đông , xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, Tiền Giang ,rộng gần 2 ha, hơn một nửa diện tích để xây dựng các nhà trưng bày
Trận thủy chiến diễn ra trên sông Tiền ( sông Mỹ Tho ) nay thuộc địa phận bốn xã là Kim Sơn , Thới Sơn , Song Thuận , Bình Đức của huyện Châu Thành cách Thành phố Mỹ Tho 7km
Tại đây Nguyễn Huệ đã chỉ huy đội quân từ Quy Nhơn vào Mỹ Tho. Đêm 19 rạng 20.1.1785 đã nhấn chìm hàng trăm chiến thuyền của giặc , tiêu diệt hàng van quân Xiêm và hàng ngàn tàn quân của Nguyễn Anh.
Để kỉ niệm chiến thắng vang dội đó , tại khu di tích Rạch Gầm – Xoài Mút đã xay dựng tượng đài chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút . Tượng đài cao 8 m , nặng 20 tấn bằng đồng màu với ba nhân vật : ở giữa là vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ tay đang vuốt gươm , bên trái là hình ảnh người nông dân Định Tường chèo thuyền hỗ trợ chiến đấu còn bên phải là hình ảnh võ công Tây Sơn giương cung bắn vào kẻ thù
Dưới chân nhóm tượng đái này là một loại hình kiến trúc dạng đền . Bên ngoài đền co dải phù điêu bằng đồng màu nặng 6 tấn phác họa lên từ hình ảnh con người và chim lạc được cách điệu từ mặt trống đồng
Cổng và tường rào của khu di tích có hình ảnh những chiến thuyền gợi cho ta có cảm giác mình đang chứng kiến cảnh thủy chiến diễn ra nơi đây
Tiếp theo du khach sẽ được tham quan nhà trưng bày số 1. Ở đây trưng bày rất nhiều hiện vật như súng thần công là hiện vật phục chế còn các hiện vật khác là nguyên bản . Trong nhà trưng bày có dải tranh ghép gốm màu với 1440 viên gạch ghép lại với nhau được nung ở nhiệt độ 1100 độ C . Dải tranh ghép cao 1.8m , với diện tích 57 m2 .Nội dung gồm 4 chương nói về quá trình khẩn hoang , lập ấp , trận thủy chiến , khúc khải hoàn. Ngoài ra còn có mang phù điêu với diện tích 13 m2 phác hoa lên từ hình ảnh chim muông và cây trái của vùng quê sông nước Tiền Giang
Ngoài ra ở đây còn có ngôi nhà cỏ Nam Bộ cất theo kiểu ba gian và hai chái . Ngôi nhà có diện tích 225 m2 , có 48 cây cột trong đó có 24 cây cột tròn và 24 cây cột vuông biểu tượng cho mẹ tròn con vuông . Ở giữa nhà có bàn thờ tổ tiên , phía trước có bộ ghế trường kỉ làm cho ta liên tưởng đến phong tục ăn coi nồi ngồi coi hướng . Ngày xưa những người lớn tuổi có thể ngồi ở đây uống trà và trò chuyện ; đặc biệt con dâu và con gái không được lên nhà trên

Trại Rắn Đồng Tâm

Sau khi dùng điểm tâm sáng, anh Nguyễn Đình Lam ,hướng dẫn viên địa phương dã dẫn đoàn đến tham quan trại rắn Đồng Tâm . Nơi đây cách Thành phố Mỹ Tho 12 km . Trại rắn thuộc địa phận xã Bình Đức huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang khoảng 3 ha.
Đây là trung tâm nuôi rắn lớn lấy nọc xuất khẩu , kết hợp trồng nhiều loại cây dược liệu và nghiên cứu chữa bệnh rắn cắn cho nhân dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long . Bên cạnh đó , nơi đây còn là một khu vườn thật đẹp – tổ ấm cho đủ các loại chim và động vật quý hiếm tại Nam Bộ ,
Trước kia đây là căn cứ quân sự của Mĩ có tên là Đồng Tâm; ngày xưa người dân thường gọi nay là vành đay trắng. Nơi nay có địa thế hiểm trở thường diễn ra những trận đánh cá liệt giữa lực lượng cách mạng và Mỹ-Ngụy. Khu căn cứ rộng 15 hecta. sau năm 1975, được bàn giao về quân khu 9, một người có tên là Huỳnh Văn Diệp tức trung tá Huỳnh Văn Diệp đã thành lập ra nơi nuôi rắn lớn nhất mi ền Nam.
Trước đây khi “ ông Tư Được “ còn quản lý thì ông đã sưu tầm được rất nhiều loại rắn và trăn. Sau khi ông mất thì người khác lên thay ông số rắn đã giảm dần. Hiện nay ở đây có khoảng 6 loài rắn như : hổ mang , hổ chúa , mái rầm , lục đầu dồ , rắn nước , rắn bông súng.
Khi ta đi thấy rất nhiều loại rắn được nuôi ở nhiều môi trường khác nhau; chẳng hạn như tại một hốc cây người ta làm một long sắt để thả một con rắn vào doing trong môi trường thiên nhiên này để rắn đẻ và ấp trứng thành con; hoặc có những khu vực được tạo ra những giống sống hoang dã và trồng rất nhiều cây cối để mà thả rắn vào sống trong môi trường thiên nhiên.
Tới nay quý khách sẽ thấy được loài rắn độc nhất là rắn hổ chúa. Trước nay, rắn hổ chúa ở nay không nhiều nhưng bay giờ thì rắn hổ chúa đã được nhân giống ra rất nhiều. Nọc độc của rắn hổ chú khi chạm vào cơ thể chúng ta thì khoảng 2 phút sau cơ thể ta hoàn toàn bị tê liệt, rắn hổ chúa có rất nhiều biệt tài là bò dưới nước hoặc leo lên cây.
Ngoài rắn hổ chúa, còn có rắn hổ mang, hổ ngựa, hổ mèo, hổ đất. Để phân biệt rắn hổ chúa và hổ mang; hổ mang có thân hình nhỏ và ngắn hơn hổ chúa và khi ngóc đầu lean nó có hình trăng tròn; còn hổ mèo thì cũng ngóc đầu và phùng mang nhưng không có hình trăng tròn mà có 2 vòng tròn nên người ta thường gọi rắn mắt kính. Nọc độc rắn hổ mang thì không bằng rắn hổ chúa. Vì vậy khi nộc độc rắn hổ mang chạm vào cơ thể thì 10-15 phút thì nọc độc mới lam truyền làm tê liệt cơ thể. Ngoài ra khi bắt mồi không can tiếo xúc trực tiếp mà có thể phun nọc độc xa 2 m.
Ta thấy rắn đầu có hình tam giác và có khoan trắng và đen là bò cạp nia
Còn loại có khoan vàng và đen gọi là bò cạp nông.
Còn loại có màu xanh lục như lá cây đó là rắn lục. Có 2 Lọai chính là: rắn lục day khuôn và rắn lục vời.
Giá thịt rắn dao động từ 35 - 40 USD/ kg , thi trường tiêu thụ ở Châu Á chủ yếu là Đài Loan , Trung Quốc , Hàn Quốc Trại rắn Đồng Tâm chủ yếu nuôi rắn lấy nọc không phải để tham quan.
Với giá vé 10. 000 đối với khách Việt Nam và 20000 đối với khách nước ngoài , du khách sẽ được vào tham quan trại rắn với các khu như :
Khu nuôi rắn và trăn ở trong nhà gồm nhiều loài trăn và rắn khác nhau . Ở đây du khách co thể quấn trăn lên mình va chụp ảnh lưu niệm
Khu ngoài sân là khu nuôi rắn ở trong khoang bể nuôi bằng bê tông với rất nhiều loài rắn
Khu phía sau la khu nuôi thú gồm nhiều loài như : công , khỉ , cá sấu , đà điểu . Đi vao đây du khách có cảm giác như đi trong sở thú . Và đặc biệt hơn nữa tại đây còn co chu ba ba vang rất quý hiếm nặng khoảng 30 kg chỉ còn hai con ở Việt Nam
Khu nhà bảo tòan rắn là nơi trưng bày hầu như đầy đu các chủng loại rắn và được ngâm trong chất phoocmon nên nhìn chúng sống động như vẫn còn sống
Tại đây du khách nên mua sắm vài sản phẩm từ rắn để làm quà cho người thân bởi hàng tốt và giá cả hợp lý:

Rượu rắn : 40.000đ/chai
Cao trăn : 600.000đ/kg
Cao rắn : 500.000đ/kg
Cao khỉ : 300.000đ/kg
Cobratax : 20.000đ/kg
Rượu rắn lục : 100.000đ/chai
Mật ong : 50.000đ/chai
Mỡ trăn : 12.000đ/lọ
Viên điều trị rắn cắn : 20.000đ/tube
Bột rắn lục : 8000đ/lọ
Bột rắn hổ : 70.000đ/lọ
Bột cù lần : 80000đ/lo

Cù Lao Thới Sơn - Cồn Thới Sơn

Nằm ở hạ lưu sông Tiền, Thới Sơn có diện tích khoảng 1.200 ha. Toàn xã Thới Sơn là một vùng chuyên canh cây ăn trái, quanh năm được phù sa bồi đắp. Theo anh Huỳnh Văn Phương, Giám đốc Sở Thương mại - Du lịch Tiền Giang, từ những năm 90 của thế kỷ trước, Tiền Giang đã chủ trương phát triển du lịch theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có tại địa phư ơng. Công ty Du lịch Tiền Giang đầu tư năm tỷ đồng xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng ở các điểm du lịch chính. Các hộ dân trong khu vực đã đóng góp mặt bằng, nhà cửa và hơn 100 chiếc đò với tổng trị giá hơn 20 tỷ đồng. Cách tổ chức du lịch theo mô hình này đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách, đồng thời huy động được vốn và các tiềm lực khác trong dân. Phát triển du lịch ở cù lao Thới Sơn góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống. Hiện nay, số hộ giàu, khá ở Thới Sơn chiếm tỷ lệ 78%, chỉ còn 2,7% số hộ nghèo.
Sự hấp dẫn, quyến rũ của Thới Sơn ở chỗ, đến mảnh đất này, người ta sẽ quên sự ồn ào, bí bức của phố phường. Khách đến Thới Sơn, xuống đò chèo xuôi theo những con rạch ngoằn ngoèo giữa hai hàng dừa nước rậm rạp, giữa hàng thủy liễu ven sông luôn nghiêng mình ngả bóng đón chào. Nếu muốn tản bộ, sẽ theo những con đường đá uốn lượn, băng qua những vườn cây trái xum xuê. Khách có thể ngồi trong những nhà vườn nhấm nháp tách trà mật ong thơm ngọt và lắng nghe đàn ca tài tử. Đêm Thới Sơn thật huyền diệu với đầy trăng, gió, sóng nước mênh mang. Khách có thể đi thuyền trên sông, ngắm trăng lên, hoặc cùng bạn ngồi đối ẩm trong tiếng ca mượt mà, sâu lắng của thôn nữ.
Những ngôi nhà của 6.000 người dân Thới Sơn vẫn giữ được nét cổ kính, nguyên sơ. Ðiểm du lịch của nhà ông Tám Cho là một tiêu biểu về kiểu nhà xưa. Ngôi nhà của ông được xây dựng với hàng cột gỗ căm xe; mỗi mái nhà có chín cây đòn tay bố trí theo thuật phong thủy: Kiên - Trừ - Mãn - Bình - Định - Chấp - Phá - Nguy - Thành. Trong nhà, cách bài trí cũng theo phong cách cổ với chiếc tủ thờ cẩn xà cừ lóng lánh, tràng kỷ chạm trổ tinh vi, cùng với đôi liễn chạm câu đối sơn son thếp vàng... Chung quanh nhà là vườn hoa cảnh với nhiều cây bon-sai được trồng tỉa công phuD9ến Thới Sơn, khách được tham quan cách làm kẹo dừa bằng phương pháp thủ công, mua những đồ mỹ nghệ, đồ dùng sinh hoạt gia đình làm từ cây dừa. Bên cạnh chương trình du lịch sinh thái, người dân Thới Sơn còn giới thiệu với khách về văn hóa ẩm thực với các món ăn: cá nướng, lẩu cá kèo, cá lóc hấp bầu, cá tai tượng chiên xù...
Năm 1995, Thới Sơn đón hơn 40.000 lượt khách, năm 1996 đón khoảng 80.000 lượt khách, năm 1997 đón 120.000 lượt và năm 2001 đón khoảng 200.000 lượt khách trong đó 65% là khách nước ngoài. Cô Lê Trang, một người kinh doanh du lịch ở Thới Sơn cho biết, Thới Sơn thu hút được khách là nhờ chương trình, sản phẩm du lịch sinh thái ngày càng đa dạng, hoàn chỉnh và cách phục vụ chu đáo. Thới Sơn đang trở thành điểm thu hút khách đến Tiền Giang.
Theo kế hoạch, từ năm 2002 đến năm 2005, Công ty Du lịch Tiền Giang tiếp tục đầu tư năm tỷ đồng để xây dựng cù lao Thới Sơn thành làng du lịch. Khách sẽ có dịp tham quan những làng nghề truyền thống với các công cụ lao động, thô sơ, được phục chế. Bên cạnh, Thới Sơn mở rộng hơn nữa các điểm du lịch vệ tinh ở các hộ dân; trồng cây ăn trái nhiều chủng loại, đủ cung cấp quanh năm cho du khách. Ðồng thời, vận động nhân dân giữ lại các dụng cụ sinh hoạt bình dị, truyền thống như: bát sành, chén đá, đũa tre, đũa dừa, bình tích đựng nước trong vỏ dừa... Thới Sơn là làng du lịch xanh đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long với vườn cây, trời nước và tấm lòng hồn hậu, hiếu khách của người dân Nam Bộ.
Từ bến phà 30-4, chúng tôi lại xuống thuyền đi thăm cồn Lân và ăn trái cây. Thuyền cập vào một bến nhỏ, anh hướng dẫn viên đưa chúng tôi len lỏi qua những khu vườn mướt xanh với đủ loại cây: sapoche, nhãn, chuối, sầu riêng... quả treo lủng lẳng.
Khác với những ngôi nhà vườn nổi tiếng ở Huế, thường là nhà vườn văn hóa, vườn ở đây là vườn kinh tế. Người dân Nam Bộ gắn bó cả đời mình với sông nước, vườn cây cũng vậy, nước sông theo các con rạch nhỏ chảy vào từng khu vườn, từng gốc cây. Người ta trồng cây theo hàng như những ô trên bàn cờ, dưới các hàng cây là hệ thống mương rạch rộng độ 5m, lan tỏa khắp vườn. Lúc triều lên nước sông chảy vào vườn khiến du khách có cảm giác cá nhảy lên cả vườn cây. Lúc triều xuống, nước lại đổ ra sông, lòng mương chỉ còn xâm xấp nước và một màu phù sa đỏ quánh. Cũng nhờ lớp phù sa này mà cây trái nơi đây quanh năm cho trái ngọt.
Chúng tôi được mời đến một khu vườn do công ty du lịch Tiền Giang bỏ vốn đầu tư nâng cấp. Nhiều khách nước ngoài đang ngồi ăn trái cây ở đó. Mùa nào thức nấy nhưng thông thường chủ vườn sẽ mời khách ăn 6 loại trái cây: thơm, chuối, thanh long, sapôchê, chôm chôm, nhãn. Khách ăn không hết, chủ vườn bỏ vào trong túi, trao lại cho khách với lời cám ơn và câu chào: "see you again" rất ngọt ngào.
Chúng tôi được mời ăn trưa trên một cù lao khác cách cồn Lân khoảng 20 phút đi thuyền, cồn Thới Sơn. Nơi đây có một garden restaurant rất đẹp. Song cái hấp dẫn tôi nhất lại không ở kết cấu của cái nhà hàng "thập nhị giác" này mà ở món cá tai tượng chiên xù và những bộ đồ bà ba trắng, đen của các cô phục vụ. Tiếp viên của nhà hàng mặc đồng phục bà ba trắng, quần lụa đen nhẹ nhàng đi giữa các hàng ghế, lúc thêm chút mắm, khi gắp ngọn rau nhút đặc sản vào bát du khách, lúc lại lúng liếng cười duyên khiến thực khách chưa ăn đã thấy ngon.

CỒN PHỤNG – ĐẠO DỪA

Chúng tôi vào cù lao Phụng để thăm "Nam quốc Phật tự" của ông tổ Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam. So với cù lao Rồng, cồn Phụng nhỏ hơn, nhưng lại được biết đến nhiều hơn bởi nơi này có di tích của Đạo Dừa. Theo lời thuyết minh của anh hướng dẫn viên, đây là một tôn giáo quái chiêu do Nguyễn Thành Nam, một con cờ chính trị mắc chứng hoang tưởng tự cao - một dạng của bệnh tâm thần phân liệt, sáng lập năm 1963. Sinh thời, Nguyễn Thành Nam (sinh năm 1909) học hành không mấy giỏi giang nhưng được gia đình cho qua Pháp học theo lối mà ngôn ngữ hiện đại gọi là du học tự túc. Ông ta đã học tập ở nước Pháp không phải để thành nhân tài mà để thành một "vị thánh". Sau khi về nước, Nguyễn Thành Nam tu luyện 10 năm ở Thất Sơn (An Giang). Đến năm 1963 thì tới miệt Mỹ Tho, leo lên cồn Phụng, xây "Nam quốc Phật tự" và sáng lập ra Đạo Dừa.
Đạo Dừa chủ trương chuyên ăn cùi dừa và uống nước dừa để tồn tại và hành đạo. Đó là một sự kết hợp của Phật giáo, Thiên Chúa giáo, rồi Cao Đài... Lúc đông nhất có đến 3.600 tín đồ. Nguyễn Thành Nam còn dụng chữ Dừa theo biến âm của phương ngữ Nam Bộ nghĩa là Vừa (ví như: Cầu, Dừa, Đủ, Xoài - tức là Cầu vừa đủ xài) để cho rằng tôn giáo do ông ta sáng lập sẽ làm vừa lòng tất cả mọi người. Ông ta cho dựng trên cồn Phụng một ngôi chùa, kết hợp nhiều trường phái kiến trúc khác nhau. Trước chùa cho đúc Cửu đỉnh bằng ximăng gắn sành sứ (thực ra chỉ có một đỉnh mà thôi), rồi gắn ảnh của mình vào, tự nhận là người có công thống nhất đất nước, kế vận hưng nghiệp của vua Minh Mạng (1820 - 1841).
Nguyễn Thành Nam còn cho xây một sân chầu với những hàng cột vẽ rồng sặc sỡ. Cuối sân có một động nhỏ, nơi "Phật tổ" Nguyễn Thành Nam đến giảng kinh. Sau động là một tòa sen nằm trong lồng cầu và hai cột xi măng, ở bai bên tượng trưng cho Sài Gòn và Hà Nội. Hằng ngày, Nguyễn Thành Nam chui vào quả cầu, ngồi lên tòa sen rồi sai đệ tử kéo lên cao. 12 giờ trưa, ông ta "nhập thế", bằng cách ra khỏi lồng đi đến hai bao lơn đặt trên hai cột ximăng tượng trưng cho Sài Gòn và Hà Nội. Đi từ bên này sang bên kia, Nguyễn Thành Nam cho rằng ông ta đã thống nhất được tổ quốc.
Ông ta còn cho làm mô hình phi thuyền APOLLO bằng... tôn, trèo vào trong đó, biểu đệ tử kéo lên... vũ trụ để thỉnh thị thánh chỉ của Ngọc Hoàng. Lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ở vào thời kỳ ác liệt, Nguyễn Thành Nam tổ chức hoạt cảnh hòa bình để mị dân. Ông ta thuê người, chia làm hai phe mặc áo quần của quân giải phóng và quân đội Sài Gòn rỗi bắn nhau tá hỏa... bằng súng giả. Đang lúc cuộc chiến căng thẳng, thây người "chết" chất đầy một... sân chầu thì "Phật tổ" Nguyễn Thành Nam giáng thế bằng cách "hạ thổ" từ tòa sen, để đến cứu vớt những sinh linh.
Phía trong sân rồng có công trình cửu đỉnh, nếu nhìn từ trên xuống ta sẽ thấy cửu đỉnh được xây theo lối ngủ hành âm dương. Nếu nhìn kỷ sẽ thấy một con rồng đứng ở giữa có đuôi hình vuông ; hình vuông tượng trưng cho tứ tượng, những con rồng còn lại đứng trên bệ có hình tam giác. Hai cây cột phía sau tượng trưng cho lưỡng nghi đó là âm dương hợp lại. Điểm khác của con rồng trung tâm là đuôi có được thiết kế phía sau, còn những con xung quanh thiết kế phía trước. Đây là biểu tượng của rồng đực ; hiện thân của ông Đạo Dừa và những con rồng cái là những cô gái xung quanh ông đạo Dừa.
Xung quanh Cửu Đỉnh còn có một số hình ảnh như ; Long, Lân, Quy, Phụng, Mai, Lan, Cúa, Trúc và một số cảnh về Tiên Ong, Bát Tiên. Ngoài ra còn có hai cái quai nâng hai con rồnglên tượng trưng cho vua chúa. Cửu Đỉnh được đặt trên thần Kim Quy đang ngậm thanh kiếm thần hướng về Bến Tre. Ngụ ý là ông Đạo Dừa vừ kết nối với lịch sử với thời vua lê để thần Kim Quy mang thanh gương về Bến Tre để ông trị vì thiên hạ.
Vậy là chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Con người với những triệu chứng tâm thần đó đã được chế độ cũ bật đèn xanh để mị dân chúng. Lúc ông còn sống ông đạo dừ muốn khi qua đời thì hài cốt của ông sẽ được rãi trong Cửu Đỉnh nhưng khi ông qua đời thì những tín đồ đã mang hài cốt của ông ang táng tại phần mộ của gia đình. Đặc trưng của ngươì theo Đạo Dừa là mặc áo nâu sẫm và để một búi tóc cao quấn quanh đầu.
Đạo Dừa không cò kinh riêng. Mà là tất cả các kinh của đạo phật, thiên chúa giáo và cao đài. Một năm đạo có 3 ngày lễ vào 3 ngày rằm lớn, chứ không có ngày lễ nào đặc trưng của đạo giáo
Hiện nay có một số người tu đạo này nhưng tu lại gia chứ không lập chùa chiền để tu.
Ngoài ra tại đây còn được trưng bày nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ trái dừa . Du khách đến đây tham quan khu sản xuất bánh kẹo dừa và thưởng thức kẹo dừa .
Chúng ta có thể quan sát được quy trình làm keọ dừa như sau :
_ Thành phần lam kẹo dừa gồm : 50% dừa
25% đường
25% mạch nha
_ Và các thành phần phụ như ca cao , đậu phụng , lá dứa , sầu

Chùa Vĩnh Tràng

Du khách đến Mỹ Tho mà không thăm chùa Vĩnh Tràng là một điều thiếu sót. Đây là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến trc tiu biểu ở Nam Bộ. Cha tọa lạc trn mảnh vườn cây ăn trái rộng gần 2 hecta, thuộc làng Mỹ Hóa, nay là x Mỹ Phong, bn con rạch Bảo Định hiền hịa nước ngọt quanh năm.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, chùa vốn là một thảo am do ông Tri Huyện Bùi Công Đạt phát nguyện xây cất để di dưỡng tinh thần sau khi về hưu. Ông thỉnh Hịa thượng Từ Lâm ở cha Bửu Lm về trụ trì. Sau khi ơng Bi Cơng Đạt qua đời, Hịa thượng Huệ Đăng d vận động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự với tên Vĩnh Tràng, hoàn thành vào mùa hè năm Canh Tuất (1850).
Lúc đầu mang tên LÀ Vĩnh Trường (sư muốn ngôi chùa mãi mãi trường tồn và vĩnh cửu theo thời gian) nhưng do nhiều ngươì miền Nam đọc trại đi thành Vĩnh Tràng. Kế vị trụ trì là hoà thượng Thích Thiện Đề. Khi ngài viên tịch thì ngôi chùa hương khói lạnh tanh. Năm 1890, bổn đạo đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu thỉnh hòa thượng Quảng An-Chánh Hậu về trụ trì. Năm 1895, ngài đã tồ chức xây lại ngôi chùa. Chùa hư hỏng nặng vì trận bão năm 1905. từ năm 1907->1911, này đã khuyến giáo tín đồ đóng góp công của đại trùng tu ngôi chùa và mời điêu khắc gia Tài Công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc các tượng trong chùa. Hòa thượng Chánh Hậu gốc người Minh Hương, sinh năm 1852 tại làng Điều Hòa tỉnh Định Tường cũ. Năm 1897, ngài quy y thọ giới với hòa thượng Thích Minh Phước tại chùa Bửu Lâm. Ngài được cử làm thủ thượng tọa chùa sắc tứ linh thou từ năm 1880, trụ trì chùa vĩnh tràng từ năm 1890 và đã thường xuyên mở các lớp gia giáo để đào tạo tăng tài. Ngài viên tịch năm 1923. hòa thượng Tâm Liễu –An Lạc(tức Minh Đàng, thế danh Lê Ngọc Xuyên) kế tục, cho xây cổng Tam Quan, mặt tiền chánh điện và nhà tổ.

Chùa trải qua bốn lần trùng tu: lần trùng tu thou 1 vào năm 1907, hòa thượng Chánh Hậu đã trùng tu và tôn tạo lại mặt chùa. Mặt tiền chánh hậu được xây doing theo lối kiến trúc á, âu; lần trùng tu thứ 2 vào năm 1930; lần trùng tu thứ 3 là 1990; lần trùng tu thứ tư là 2004. hiện nay đang được trùng tu lần nữa.
Trước cửa chùa có cổng tam quan rất tráng lệ do tốp người Huế thực hiện năm 1933 với sự tài trợ về kinh phí của 2 ông Hùynh Trí Phú và Lý Văn Quang. Cổng giữa làm bằng sắt theo kiểu Pháp; 2 cổng bên làm bằng xi măng vươn cao như 2 tòa lâu đài cổ, được ghép tòa những mảnh sành sứ tạo nên những bức tranh với màu sắc hài hòa, minh họa sự tích nhà phật, truyện tích nhân gian và các đề tài Tứ Quý, Tứ Linh, hoa lá…tầng lầu thượng của cổng Tam Quan có vòm cửa rộng, bên phải đặc tượng hòa thượng chánh hậu, bên trái đặt tượng hòa thượng Minh Đàng. Cả 2 tượng này đều đắp bằng xi măng giống như tượng thật, do điêu khắc gia Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.
Mặt tiền chùa vĩnh tràng trang trí theo kiểu kết hợp đặc điểm kiến trúc cả Á, lẫn Âu. Ơ nay có những hoa văn theo thời phục hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt Ấn Độ, gạch men nhật bản…những câu ngữ Hán viết theo lối thể chữ truyện cổ kính xen với chữ quốc ngữ viết theo lối chữ Gô-Tích. Từ xa trông vào du khách có thể hình dung ngôi chùa như đền Ăngkor có năm tháp. Theo truyền tụng của nhân dân địa phương thì hòa thượng Minh đàn và ông quỳnh trí phú từng du học sang xứ chùa tháp nên tiếp thu được cái trong kiến thức ngôi chùa tên đó, kết hợp với kiến trúc phương tây.
Tượng có nhiều tay nhiều mắt gọi là chuan đề bồ taut, vị này là hiện thân của quan thế âm bồ taut có nhiều tay, nhiều mắt để cứu độ chúng sinh: nhiều mắt để thấy được nổi khổ của chúng sinh
Trong chùa có chuông đồng một tấn do vua Tự Đức cho kinh phí đúc, chuông được làm sau năm giáp dần


Ngày Giỗ Đình Vĩnh Tràng:
 18-1 Hòa Thượng Huệ Đăng™
 17-3 Hòa Thượng™Pháp Tràng
 1-5 Hòa Thượng Tú Long™
 21-6 Hòa Thượng Minh Đàn™
 30-7™Hòa Thượng Trà Chánh Hậu.
Ngòai ra, các ngày giỗ ra còn các ngày: thượng quân (15-1), trung quân(15-7), hạ quân(15->10). Đặc biệt ngày 15-4 Am Lịch còn có ngày lễáng sanh của Phật Thích Ca.
Ở chánh điện có các bao lam được chạm trổ công phu, trong đó có bộ phù điêu Bát Tiên cỡi thú do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào khoảng năm 1907 - 1908. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng Phật như A-di-đà, Thích-ca, La-hán và tượng các vị Bồ-tát. Hai bên bàn thờ là tượng chân dung Hịa thượng Chánh Hậu và người kế pháp là Hịa thượng Minh Đàn. Các Hịa thượng Huệ Đăng, Chánh Hậu, Minh Đàn đều thuộc Thiền phái Lâm Tế.
Bộ tượng cổ nhất ở chùa Vĩnh Tràng là bộ Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) bằng đồng. Tiếc rằng tượng Quan Âm đ bị thất lạc từ lu. Sau ny Hịa thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Tượng Ngọc Hoàng cũng bằng đồng, to gần bằng người thật, cùng phong cách với tượng Già Lam, Đạt-ma ở chùa Bửu Lâm. Khác với thông lệ xưa nay, Ngọc Hoàng ở đây không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên. Thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.
Hai bên tường chánh điện là bàn thờ Thập điện Minh Vương. Đặc biệt ở đây có bộ Thập bát La-hán là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân ở Nam Bộ đ tạc vào năm 1907 theo sự chỉ đạo của Hịa thượng Chánh Hậu. Bộ tượng này bằng danh mộc, mỗi tượng cao khoảng 0,80m, bề ngang 0,58m, được đặt hai bên điện Phật gọi là sáu căn : mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý; ở ba thời: qu khứ, hiện tại v vị lai. Cc tượng La-hán này được tạo hình cn đối, sinh động, cỡi trên các con thú như trâu, bị, ngựa, lạc đà, hà mã , tê giác v.v.
Trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng có nhiều chậu cây cảnh, hòn non bộ được chăm sóc thường xuyên. Dưới bóng cây, tháp Hòa thượng Chánh Hậu và gia đình được xây dựng bề thế có tường rào bao bọc.
Nhìn chung, vẻ đẹp của chùa Vĩnh Tràng tập trung ở nghệ thuật tạo hình. Có ý kiến cho rằng có thể xem chùa Vĩnh Tràng là một bản tổng kết lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.
Hiện chùa Vĩnh Tràng l2 nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật gio và trường Cơ bản Phật học tỉnh Tiền Giang. Chùa được trở thành điểm du lịch và hành hương của tỉnh, thu hút du khách và Phật tử hàng ngày. Tết Tân Dậu (1982) nhà thơ Xuân Thủy đ đến viếng chùa và viết tặng một bài thơ :
Đức Phật giàu tình thương
Nên chùa tên Vĩnh Tràng
Nhà sư vốn yên nước
Lòng như sông Tiền Giang

Đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho xưa

“Ngày xưa, người Pháp mở tuyến đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho với mục tiêu là nối liền tuyến xuyên Việt và ý định kéo dài sang tận PhnomPenh, Campuchia.” Bác Tân Văn Công, 80 tuổi, làm nghề dạy học tại Mỹ Tho từ năm 1943, nhớ lại. Lý do mở tuyến xe lửa nầy, theo bác, vì thời đó Mỹ Tho là đầu mối trung chuyển hàng hóa cho Sài Gòn và Nam Kỳ lục tỉnh, do các tỉnh miệt dưới như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng... đường bộ gặp trở ngại vì phải qua 2 con sông Hậu và sông Tiền. Có lẽ cũng vì trở ngại đó mà đường xe lửa chỉ tới Mỹ Tho và nhà ga chót dừng lại ở đầu đường Trưng Trắc, bên bờ sông Tiền, gần vườn hoa Lạc Hồng hiện giờ. Hồi đó, ga xe lửa nằm trong dãy nhà ngói xưa, cất theo kiểu Pháp (chỗ sau nầy là nhà sách) cùng với hệ thống phòng trọ và dịch vụ kéo dài đến chỗ Bưu điện Mỹ Tho ngày nay.
Nằm cạnh ga xe lửa còn có bến tàu với “3 cầu tàu lục tỉnh”. Toàn bộ hành khách và hàng hóa từ Sài Gòn đi xe lửa tới Mỹ Tho sẽ xuống tàu đi lục tỉnh và ngược lại, hành khách và sản vật, cây trái từ lục tỉnh đi bằng tàu tới Mỹ Tho cũng lên xe lửa rồi đi tiếp về Sài Gòn. Cũng vì vậy mà Mỹ Tho xưa được xem là “đầu mối trung chuyển.” Vào thời đó ga xe lửa Sài Gòn nằm ở đầu đường Lê Lai bây giờ, gần khách sạn Saigon New World. Từ Sài Gòn đi Mỹ Tho, ga thứ nhất gọi là Chợ Lớn Mới, nằm bên hông chợ An Đông. Kế đến là ga Chợ Lớn trên đường Hùng Vương, gần mấy bồn nước sơn màu đen hiện giờ vẫn còn. Các ga tiếp theo là Phú Lâm, Cây Mai, Bình Chánh, Gò Đen, Tân An, Tân Hương, Ông Táo, Tân Hiệp, Trung Lương và Mỹ Tho.
Cũng theo bác Tân Văn Công thì đầu tiên xe lửa chạy bằng hơi nước. Từ Sài Gòn về Mỹ Tho đường rầy xe lửa chủ yếu nằm phía trái, thỉnh thoảng có đoạn nằm bên phải của quốc lộ 1 bây giờ, xưa gọi là đường Cái Quan, lộ Đông Dương, sau đổi lại là quốc lộ 4. Hồi đó ở đoạn Bình Chánh có xảy ra vụ tai nạn lớn nhất thời bấy giờ, làm thiệt mạng gần 20 người, do chiếc xe đò Hữu Lợi chạy vào đường rầy khi xe lửa đang băng qua, dù ở 2 đầu đã có rào cản, khiến báo chí nói cả tháng trời. Đến khoảng thập niên 1930 thì xe lửa chuyển sang chạy bằng dầu diesel, còn gọi là Autorail. Sự khác biệt của Autorail là thiết kế đẹp hơn, tốc độ nhanh hơn, tiếng ồn nhiều hơn, toa khách có cửa sổ nhìn ra bên ngoài, tiếng còi kêu “hoét, hoét”, trong khi xe lửa chạy bằng hơi nước thì tiếng còi kêu “pin, pin”. Đầu tiên xe lửa chỉ có ghế ngồi bằng băng gỗ, xếp dọc theo 2 bên thành xe. Tuyến đường xa thì có hạng nhất, hạng nhì, có phòng riêng, bên trong có 2 tầng và giá vé cũng mắc tiền hơn. Riêng tuyến Sài Gòn-Mỹ Tho thì chỉ có một hạng thường, do đoạn đường ngắn.
Dù đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài chỉ 70 cây số nhưng ngày xưa đi bằng xe lửa cũng mất chừng 2 tiếng rưỡi. Vì chỉ có một đường rầy duy nhất nên tới ga chót Mỹ Tho, muốn trở đầu để chạy trở lại Sài Gòn thì xe lửa phải... thụt lùi chừng 2 cây số từ vườn hoa Lạc Hồng theo đường Lý Thường Kiệt bây giờ, ra ngoài đồng thì có đường vòng cung. Tại đây đầu xe lửa tách ra khỏi toa rồi chạy vào một đoạn đường rầy khác để nối vào đuôi toa xe lửa và lại chạy thụt lùi trở về nhà ga Mỹ Tho để đầu xe lửa quay về hướng Sài Gòn.
Bác Tân Văn Công kể :“Hồi nhỏ, vào những buổi chiều tôi hay nhảy theo xe lửa chạy ra ngoại ô để trở đầu. Giếng nước Mỹ Tho hiện giờ chia làm 2 cũng vì hồi đó có đường xe lửa chạy ở giữa.”
Chính xác đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho ngừng hoạt động vào năm nào thì bác Tân Văn Công nói mình không nhớ rõ lắm. Bác chỉ nhớ “vào thời ông Diệm, khoảng năm 1959 tôi vẫn còn đi xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho.” Bác Công kể tiếp :“Nhớ hồi học xong tiểu học và thi vào lớp đệ thất trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, thầy cho bài luận văn bằng tiếng Pháp và yêu cầu “Trò hãy tả người nhổ răng dạo trên toa xe lửa” mới thấy ảnh hưởng của xe lửa thời bấy giờ. Hồi đó Trường Nguyễn Đình Chiểu mỗi năm chỉ tuyển 200 học sinh cho cả vùng lục tỉnh, còn khó hơn thi đại học bây giờ. Lần đó tôi bị rớt nên phải lên Sài Gòn học ở trường tư thục Đồng Nai, đường Bùi Thị Xuân và ở nội trú trong trường. Lúc đó phát xít Nhật đã qua, ban đêm sợ đồng minh ném bom nên hầu hết trường học trong nội thành đều phải tản cư ra vùng Chợ Lớn. Thường buổi chiều không biết làm gì, bọn học trò nội trú lấy đá xanh để vào đường rầy cho xe lửa chạy ngang cán xẹt lửa coi chơi.”
Vì sao ga xe lửa Mỹ Tho xưa lại nổi tiếng trong thời Pháp thuộc? Theo bác Tân Văn Công, vì đây là ga chót nối với các tuyến thủy bộ xuống Nam Kỳ lục tỉnh và hồi đó, sau Sài Gòn thì Mỹ Tho là một trong 3 tỉnh lớn nhất vùng. Có 2 quyển sách viết bằng tiếng Pháp nói về ga xe lửa Mỹ Tho mà bác Công được đọc. Quyển thứ nhất là của một nhà văn Pháp, từng là lính hải quân, có qua Đông Dương và đi xe lửa tới Mỹ Tho để đi tàu xuống lục tỉnh, đã mô tả ga xe lửa Mỹ Tho mang dáng dấp giống như những ga xe lửa bên Pháp. Một quyển sách khác của tổng bí thư đảng cộng sản Pháp thời đó mà bác Tân Văn Công không nhớ rõ tên. Vị nầy sau khi sang VN về đã viết quyển Indochinois, chỉ trích chính sách kỳ thị dân tộc của thực dân Pháp thời bấy giờ. Theo mô tả thì tác giả đã đi cùng với nhà cách mạng Nguyễn An Ninh xuống ga Mỹ Tho, cùng Nguyễn An Ninh vào một bungalow (một dạng nhà trọ xưa) để ở nhưng bị từ chối vì nơi đó chỉ dành cho người Pháp và Âu châu. Chỉ một dân tộc Á châu được vào ở là Nhựt Bổn.

Nhà ga Mỹ Tho xưa kiến trúc theo kiểu Pháp, mái ngói, vách tường, cửa vòng nguyệt, có chỗ bán vé, chỗ khách ngồi chờ, có cân dùng để cân hành lý và ai chở nặng thì phải trả nhiều tiền. Ticket xe lửa hồi đó được làm bằng loại giấy rất dầy và cứng. Sau khi thu tiền, người bán vé đưa ticket vào máy đục lỗ và phát ra một tiếng kêu rất vui tai. Khi hành khách lên xe, người soát vé còn bấm ticket một lần nữa. Đường Sài Gòn-Mỹ Tho xưa mỗi ngày có 4-5 chuyến.
Chuyến đầu tiên đi Sài Gòn khởi hành khoảng 4 giờ sáng, phục vụ công chức nhà ở Mỹ Tho nhưng làm việc ở Sài Gòn. Bác Tân Văn Công kể có một người quen làm việc tại Mỹ Tho nhưng chiều nào cũng đi chuyến xe lửa chót lên ga Sài Gòn ở đường Lê Lai. Tại đây có một quán rượu và một người đẹp mà vị khách nầy thích nên cứ tới ngồi nhâm nhi cho tới sáng rồi đi chuyến xe lửa sớm nhất trở về Mỹ Tho. Mới hay, dù khoảng cách xa xôi, nhưng giao thông thuận tiện thì ngày xưa cũng không hề bị cách trở.

ANH HÙNG DÂN TỘC TRƯƠNG ĐỊNH

Trương Định nhân dân còn gọi là Trương Công Định để tỏ lòng tôn kính. Ông sinh năm 1820 tại xã Tư Cung, huyện Tịnh Sơn, tỉnh Quãng Ngãi là con quan Trương Cầm-Lãnh binh tỉnh Gia Định
Trương Định thuở nhỏ tướng mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư, võ nghệ. Đặc biệt là bắn rất tài. Thời Triệu Trị 1844, ông theo cha vào Nam lấy vợ là con gái một hào phú huyện Tân Hoà (nay là Gò Công). khi cha chết ông ở luôn bên quê vợ.
Năm 1854, Trương Định xuất tiền của chiêu mộ dân nghèo, lập đồn điền Gia Thuận. Ông được phong chức Quản Cơ.
Khi giặc Pháp đánh thành Gia Định 2/1859, Trương Định đưa cơ binh gia nhập đội quân của triều đình chống giặc, ông thường đi tiên phong lập được nhiều chiến công. Một trong những chiến công nổi tiếng là phục kích giết chết tên Đại úy Barbe, trừng trị nhiều tên tay sai của giặc Pháp, trong đó có Bá hộ Huy ở Đồng Sơn, tiến công các đồn giặc ở Gia Thạch, Rạch Gầm và nhiều lần đánh đồn Kỳ Hoà. Tháng 3/1862 quân Pháp rút chạy khỏi Gò Công.
Ngày 5/6/1862, triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh và đi nhận chức Lãnh Binh ở An Giang. Nhưng theo yêu cầu của nhân dân và các nghĩa sĩ Trương Định đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu " Bình Tây Đại Nguyên Soái " do dân phong, tiếp tục lãnh đạo các cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.
Ngày 20/08/1864 do sự phản bội chủ Huỳnh Văn Tấn căn cứ Trương Định bị bao vây chặt. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, Trương Định bị trọng thương. Không để rơi vào tay giặc, ông đã dùng gươm tự sát để bảo toàn thanh danh, khí tiết của người anh hùng - khi ấy ông 44 tuổi.
Trương Định là hình ảnh tiêu biểu của nhân dân Gò Công, của nhân dân Nam Bộ bất khuất kiên quyết chống giặc Pháp xâm lược nửa sau thế kỷ thứ 19.
Khu di tích gồm lăng mộ và tượng đài Anh hùng dân tộc Trương Định toạ lạc trong nội ô thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Ẩm Thực Tiền Giang

Nấu mẳnĐây là một trong những món ăn đặc trưng của văn hóa ẩm thực vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nó thể hiện rất rõ nét tính hoang dã và hào phóng của vùng đất mới. Không là kho, không là canh, nó nằm giữa hai món đó.

 Hủ tiếu Mỹ Tho - Tỉnh Tiền Giang
Hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế... ở chỗ không ăn với xà lách, giấm, rau ghém, mà dùng giá sống, chanh, ớt, nước tương. Ðiều làm nên hương vị riêng khiến cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên sáu mươi nhờ sự hoàn thiện từ khâu chọn hột gạo làm ra cọng bánh tới nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trứ danh đất Mỹ Tho như: Phánh Ký, Nam Sơn, Tuyền Ký... cùng các lớp thợ nấu sau này


Bún gỏi già Mỹ Tho - Tiền Giang
Không biết món ăn này xuất xứ từ đâu. Nhưng tôi chưa thấy trên thành phố này có một nơi nào bán món này cả, cả tên gọi cũng rất khác biệt. Bún gỏi già... Tôi không thể giải thích được vì sao nó lại có tên như thế. Mỗi lần về Mỹ Tho là tôi lại chạy ra quán ăn quen thuộc, gọi một món quen thuộc:” Bún gỏi già”. Chắc các bạn sẽ thắc mắc lắm vì không biết tại sao cái món bún có cái tên lạ tai lại làm tôi thích thú... Tôi ăn nhiều rồi, nhưng chưa lần nào thử nấu cả, không phải lười biếng đâu, vì không có bí quyết, tôi sợ mình sẽ làm hư món khoái khẩu của mình.


Cá bống dừa - Tiền Giang
Cũng như tôm tép có nhiều loại, cá bống cũng thế. Nào là: bống mú, bống vượng, bống cát, bống trứng, bống nhật, bống sao, bống bọt, bống xèo, bống nhảy... Trong các loại bống đó, tôi đặc biệt nhớ loài cá bống dừa. Có lẽ vì vùng quê tôi (thuộc huyện Gò Công Tây - Tiền Giang) chúng sinh sản nhiều, sống thích hợp với địa thế dừa nước (lá dùng lợp nhà) mọc đầy ven sông rạch. Bống dừa vảy nhuyễn, miệng rộng, lưng đen, lườn trắng; con to cỡ nửa cổ tay, hiếm khi lớn hơn.


Mắm còng xứ rẫy Gò Công
Ở Gò Công Tiền Giang, rẫy là tên gọi chung của những miền đất thấp, ven các kênh rạch, hằng năm thường bị nhiễm mặn trong một thời gian khá dài. Ðiển hình như các xã cặp theo sông Trà là Ðồng Thạnh, Ðồng Sơn, Bình Phú, Thành Công của huyện Gò Công Tây hay Bình Ðông, Bình Xuân cặp theo sông Soài Rạp, Phú Ðông, Phú Tân kẹp giữa hai vàm Cửa Tiểu và Cửa Ðại của huyện Gò Công Ðông. Miệt này, mỗi năm bà con chỉ có thể canh tác được có 1 vụ lúa mùa.


Sam biển Gò Công - Tiền Giang
Ngoài các loại cá tôm thiên nhiên ưu đãi, ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Ðông (Tiền Giang) có đặc sản khá hiếm: sam biển. Với hình thù lạ mắt: vỏ cứng như mai cua, mình tròn dẹt, đường kính độ gang tay, tám chân càng nhỏ dưới bụng, phần đầu là mũi nhọn ba cạnh rất linh hoạt dài cỡ 20 cm. Khoảng từ tháng 10 cho tới tháng 2 âm lịch, sam bắt cặp phối giống và sau đó sam cái mang bụng đầy trứng nhỏ như hạt tiêu đợi ngày sinh nở. Gió chướng thổi về, người dân ven biển chúng tôi sáng sớm đi dọc bờ thỉnh thoảng vẫn bắt được những cặp sam tấp mé.


Chuối quết dừa - Tiền Giang
Kể từ khi xuất hiện trên AT tháng 5.1992 với món ăn bình dân mà vô cùng hấp dẫn cho cả "mày râu" lẫn "kẹp tóc" là xòai tượng mắm đường đến nay, tôi cứ mãi bận rộn với những lo toan đời thường mà quên khuấy đi cái nghiêp... ăn uống vốn dĩ là một trong những "tứ khóai" của thiên hạ, thật là sai sót biết chừng nào! Hôm qua, nhân dịp về một làng nhỏ hiền hòa nằm bên bờ sông Tiền lộng gió, chúng tôi có dịp thưởng thức một món ăn hòan tòan "cây nhà lá vườn" và đậm đà hương vị đồng quê đến nỗi khi lên xe trở về, ai nấy cũng chắc lưỡi hít hà khen ngon quá xá. Đó là món ăn mà ngọai tôi gọi đơn giản là chuối quết dừa.

Những Thông Tin Cần Thiết Cho Quý Khách Khi Đi Du lịdh Tiền Giang

_ TP. HCM đi Mỹ Tho theo quốc lộ 1A , dài 71 km có thể đi về trong ngày bằng xe gắn máy dễ dàng
_ Khi tới ngã ba Trung Lương du khách nên ghé vào nhà hàng Trung Lương vì các quán khác tại khu vực này thường đắt hơn và không ngon bằng
_ Mã điện thoại vùng là 073
_ Đường Trưng Trắc là con đường đầy màu sắc nhất của Thành phố
_ Bến đò du lịch ở đọan đường 30-4 do công ty độc quyền tổ chức các
chuyến tham quan không có thuyền tư nhân . Vé tàu đi lẻ là 40000 đồng
_ Phà Rạch Miễu để qua sông Tiền vào tỉnh Bến Tre . Ngay bến phà tỉnh Bến tre cũng có trạm bán vé đi tham quan Cồn Phụng.

Những điều cần biết khi du lịch Miền Tây

Khi đến với du khách cần phải nắm bắt kỷ những thông tin và giá cả nơi đây nếu như khách đi riêng mà không đi theo Tour của công ty du lịch.
Khi tham gia vào Tour Tiền Giang này ngoài việc tham quan sông nước miệt vườn, tham quan vườn cây ăn trái, tham quan thắng cảnh đẹp…quý khách còn có thể mua sắm bất cứ thứ gì khách muốn; vì nơi đây đồ ăn, hàng hóa rất rẻ nhưng nếu như khách muốn mua “đúng cách” (không bị lầm giá) thì hãy tham khảo ý kiến các hướng dẫn viên.
Trên chuyến đi với một chiếc máy ảnh du khách có thể chụp laị những khung cảnh đẹp ở nơi đây, mua những đặc sản nơi đây về cho gia đình, bạn bè… đó cũng là những món quà đáng quý biết bao.
Chẳng những thế trước khi đến với miền tây du khách phải tìm hiểu trước các Nhà Hàng-Khách Sạn để du khách có thể nghĩ nghơi ở những nơi an toàn sạch sẽ không hại đến chính bản thân chúng ta.
Không nên đi dạo một mình vào buổi tối, tránh nơi đông ngươì để đảm bảo sự an toàn của bạn.

Đứng trên cầu Rạch Miễu, nghĩ về “Tứ linh”

Rất khó có cây cầu nào như cầu Rạch Miễu. Đứng trên cầu mà hướng về biển Đông sẽ bắt gặp bốn cù lao “chụm đầu” lại, hợp thành “Tứ linh” giữa sông nước mênh mông. Khen ai khéo đặt tên cồn để có được một bộ “Tứ linh”: Long, Lân, Quy, Phụng. Mỗi cù lao đều có nét đặc thù, mang sắc thái riêng tạo nên một quần thể sinh động.
Vừa hết đoạn dây văng, cầu Rạch Miễu đổ xuống cồn Lân, còn gọi là cù lao Thới Sơn. Nhìn lên bản đồ, cù lao Thới Sơn như thể “long chầu” trong cung đình Huế. Thới Sơn đang sở hữu bốn cái “nhất”: tuổi đời cao nhất, diện tích lớn nhất, cũng được coi là đẹp và hài hòa nhất trong “Tứ linh”. Lịch sử mở đất của Thới Sơn thật hào hùng. Có thể nói mỗi mảnh vườn, con rạch Thới Sơn đều ghi dấu chiến công của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ tiêu diệt 5 vạn quân Xiêm. Sang thế kỷ XX, nơi đây lại ghi đậm chiến công của các “dũng sĩ diệt Mỹ” trên vành đai Bình Đức nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cồn Lân
Đất Thới Sơn màu mỡ, con người Thới Sơn hiền hòa, cần cù, chân chất cùng với bàn tay khéo léo luôn tạo nên một diện mạo mới. Đến Thới Sơn không chỉ ngắm nhìn cảnh sắc miệt vườn, thưởng thức hương vị ngọt ngào của cây trái xứ cồn, mà còn chiêm ngưỡng những công trình mà người dân nơi đây gìn giữ từ thuở khai hoang, lập ấp. Dẫu trải qua bao tháng năm mưa bom, bão đạn, nhưng ngôi nhà chữ đinh theo phong cách cổ xưa, cùng với vật dụng trong nhà được khảm xà cừ tinh xảo, sắc màu lấp lánh, đôi liễn sơn son, thiếp vàng của Nguyễn Văn Vinh vẫn còn đó, thách thức thời gian.
Đến Thới Sơn còn là để được thưởng thức rượu mật ong, cùng tấm lòng đôn hậu của người phụ nữ với chiếc áo bà ba, khăn rằn quấn cổ, chèo xuồng trên sông rạch, đưa khách đến những làng nghề truyền thống như đan len, thêu thùa, cùng nhịp nhàng tát mương bắt cá với khách… một hoạt động thường nhật của người dân Nam bộ, luôn chân thành, quyến rũ. Đến đây còn có nhiều loại hình giải trí đậm nét chân quê, dân dã như nhảy dây, nhảy kẹng, đu quay,… rõ nét văn minh miệt vườn. Quả là thú vị.
Nằm kế cạnh cồn Lân là cồn Phụng, còn gọi là cù lao Tân Vinh, nơi có di tích đạo Dừa do Nguyễn Thành Nam lập nên từ những năm 60 thế kỷ XX. Tuy đạo Dừa có một triết lý mơ hồ, lạc lỏng và tự cho mình là “vua nhà Nguyễn tái sinh”, nhưng cũng để lại một số công trình như chiếc bình được cẩn những mảnh sành sứ, một cái sân rồng tượng trưng cho chín cửa sông Cửu Long, rồi những chiếc tháp cao, những mô hình núi non, hang động hợp thành một quần thể kiến trúc khá tinh xảo, khó quên. Bàn tay khéo léo của những người thợ năm xưa thật đáng khâm phục.
Trong “Tứ linh”, chỉ có cồn Thới Sơn và cồn Phụng là có đờn ca tài tử. Nếu như ở Thới Sơn du khách có thể tận hưởng những thanh âm mượt mà, sâu lắng từ tiếng đàn, lời ca qua dòng nhạc tài tử của gia đình ông Nguyễn Văn Du có đến 5 thế hệ nối tiếp nhau cứ “ngọt lịm” như hương vị cây trái của xứ cù lao, thì ở cồn Phụng, những câu hò, điệu lý như âm vang, mặn mà thêm từ ngón tay, giọng hát điêu luyện của các tài tử mang về từ nhiều miền quê khác nhau của Bến Tre, có cùng đam mê một loại hình nghệ thuật của cha ông và cách duy trì một nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc, được phát ra từ một hang đá nhân tạo mát lạnh bởi làn gió trong lành miền sông nước.
Ở cồn Phụng cũng có nhà hàng, nhà nghỉ. Khu giải trí với phong cảnh hài hòa, độc đáo. Cồn Phụng còn có bánh tráng Mỹ Lồng, đặc sản của Bến Tre. Khách sẽ trực tiếp chứng kiến, thậm chí tham gia từ khâu chọn gạo, nạo dừa, cùng với bàn tay khéo léo, không ít điệu nghệ của người xứ dừa tráng bánh, phơi bánh vừa mỏng vừa tròn, đẹp lại vừa ngon, ngọt.
Nếu như người Bến Tre tự hào về dừa, thì dân cồn Phụng chính là người đi tiên phong làm cho cây dừa tăng thêm giá trị. Xót xa thấy thân dừa ngã xuống vì bom đạn, họ đã “tận dụng” nó để làm đũa ăn, đũa bếp phục vụ con người. Từ khung cảnh thơ mộng trên cồn Phụng đã hình thành một “làng” nghề thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu dừa, nhanh chóng lan rộng khắp Bến Tre và không ngừng lớn mạnh. Cùng với bàn tay của hàng ngàn nghệ nhân xuất thân từ nông dân giàu sáng tạo, những sản phẩm xinh xắn có thể sử dụng trong nhà bếp cho đến trang trí phòng ngủ, phòng khách, từ nhà ở bình dân đến khách sạn sang trọng, từ trong nước ra nước ngoài. Đi đâu cũng thấy cây dừa phục vụ cho đời, với nét tinh xảo kết tinh từ tình người, tình đất Bến Tre, không ngừng tô đẹp thêm cho sắc diện quê hương.
Thiên nhiên lại khéo sắp đặt khi hai đầu cồn Thới Sơn và cồn Phụng hướng về cồn Rồng, phía xa bên kia của sông Tiền, người đời gọi là cù lao Tân Long. Cù lao Tân Long hình thành đã lâu, nhưng chỉ được khai thác chừng trăm năm nay. Để tránh bom đạn trong chiến tranh, người Bến Tre đã đến đây sinh sống, và ngày nay Tân Long trở thành đơn vị hành chánh của thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang. Ngoài vườn cây trái, Tân Long cũng nuôi cá bè như những cồn khác trong “Tứ linh”. Khác hẳn là ở bờ Bắc, có cảnh quan nhộn nhịp bởi đội tàu đánh cá trên vùng biển phía Nam, thay nhau neo đậu che kín cả một đoạn mặt sông. Tàu của người Tân Long thì ít, đa phần là tàu của bà con khắp nơi. Sở dĩ càng nhiều tàu cặp bến Tân Long là vì nơi đây lòng sông sâu và rộng, ít sóng gió và gần cảng cá Mỹ Tho. Nhưng trên tất cả vẫn là lòng người, cùng bàn tay khéo léo của người thợ Tân Long sửa chữa ghe tàu. Nếu như đàn ông bận rộn cho việc sửa máy, tu bổ thân tàu, thì người phụ nữ lại luôn tay vá lưới, kết phao trên những boong tàu. Lời qua tiếng lại líu lo như chim hót, cùng với tiếng búa cọc cọc, tiếng cưa rào rào,… cả ngày lẫn đêm, không khác gì một bản nhạc mang âm hưởng lâu ngày thành quen, không nghe thì khó mà ngủ được.
Image
Cồn Phụng
Tân Long còn có lợi thế về nghề nuôi thủy sản. Cù lao hiện có trên 500 bè cá, đủ các loại có giá trị như cá chép, điêu hồng, cá tra, rô phi. Chỉ cần 50 - 60 m2 bè, mỗi năm sẽ thu về gần 10 tấn cá. Một nguồn lợi lớn.
Người em út trong “Tứ linh” là cồn Quy, mới được khai phá từ những năm 60 của thế kỷ XX, vẫn còn dấu vết hoang sơ, nhưng không kém phần hấp dẫn đối với du khách. Đâu có mảnh đất nào mà không có nghĩa tình của những bàn tay lao động. Những cảnh sắc quyến rũ của quá trình mở mang khai phá mảnh đất này vẫn còn lưu giữ, cùng với con người cần cù, phóng khoáng và đất đai màu mỡ, đã làm từng mầm cây trở thành những khu vườn quả ngọt, trái say.
Cồn Quy nổi danh vì cây trái có hương thơm đặc biệt. Nhãn hồng, nhãn tiêu cơm dày ngọt lịm. Khi đến mùa nhãn trổ hoa, người cồn Quy thanh thản vui với đàn ong kêu chăm chỉ. Dù chỉ nuôi nghiệp dư, ong cồn Quy vẫn cần mẫn chắt lọc hương vị đậm đà của hoa, những gì tinh túy của nắng, của gió và phù sa tặng lại cho con người, một thùng cũng được vài lít mật mỗi mùa. Người cồn Quy gắn với vườn cây và con rạch. Họ sẵn lòng giới thiệu khách phương xa những món ăn đậm đà hương vị đồng quê. Ngoài uống nước dừa tại gốc, còn có nhãn, có mận, có cam, quít, bưởi quanh năm, là món tôm càng xanh nướng, luộc, làm gỏi tự thích cùng với tấm lòng đôn hậu của người dân nơi đây, sẽ níu khách lại bởi một tình cảm ấm cúng trong gia đình.
Đi sâu vào ba dãy cù lao, Bến Tre còn có những vườn cây trái ở Cái Mơn, Sơn Định, Vĩnh Bình (Chợ Lách) hay Tiên Long, Tiên Thủy, Tân Phú (Châu Thành) cứ như quấn lấy chân người. Vườn chim Vàm Hồ, khu rừng Liệt Địa ở Ba Tri, du khách thỏa thích tận hưởng những gì còn hoang dã. Và chỉ cần qua Cống đập Ba Lai, xuôi về Thừa Đức, tha hồ ngâm mình trong nước biển Đông. Bến Tre còn có các danh nhân như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu; tiến sĩ đầu tiên Nam kỳ lục tỉnh Phan Thanh Giản; nhà giáo Võ Trường Toản; chí sĩ Phan Văn Trị; nhà bác học Trương Vĩnh Ký; nữ tướng Nguyễn Thị Định, … Còn có khu lưu niệm Đồng Khởi và đầu cầu của chuyến tàu không số chở vũ khí từ Bắc vào Nam. Về những nơi này sẽ biết thêm tình người, tình đất Bến Tre thủy chung, sâu lắng và nồng thắm.
Ngày 19-1-2009, cầu Rạch Miễu sẽ chính thức được đưa vào sử dụng, sẽ xóa đi cảnh ngăn sông cách trở của Bến Tre, là điều kiện để cho tỉnh phát triển thuận lợi hơn. Nhưng khi đường cao tốc từ thành phố Hồ Chí Minh về miền Tây đưa vào vận hành và cùng vài thứ khác nữa, lúc ấy Bến Tre mới thật sự trở thành “lá phổi” lý tưởng cho thành phố và các khu công nghiệp trong những ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày tết.

Cháo khuya đồng bằng (Mỹ Tho. Tiền Giang)

Về miền Tây, nghỉ qua đêm trong trung tâm phố thị, nửa khuya bụng cồn cào, tỷ như ở Rạch Giá thì ngay bùng binh sắp tới tượng đài Nguyễn Trung Trực. Ở Long Xuyên thì sau đình Thành Hoàng. Cà Mau thì ngay góc chợ ở cầu Mới xuống quẹo trái...có món giữa khuya.
Hồi xưa, có khi chỉ có gánh cháo, xe cháo trắng ăn với phá lấu, hột vịt muối của mấy chú Tàu. Và để đa dạng hóa, các chú Tàu chế thêm món dưa mắm, người Việt thì làm cá cơm kho quắc, tép rang, khứa cá lóc, cá trê kho khô. Cháo trắng mà nấu với lá dứa thơm hay cháo đậu đen chan nước cốt dừa, nghe có vẻ tầm thường nhưng lại là các món "độc" giữa lúc đang đói lòng.
Ở Mỹ Tho cháo trắng ngon nhưng không bằng cháo "phá lấu". Xe cháo nằm trong căn nhà nhỏ, tủ treo lòng heo, phá lấu, bên trong nồi cháo trắng nghi ngút khói. Bước vào chủ quán biết khách cần gì, tay liên tục nhịp dao trên thớt. Một đĩa lòng, phá lấu đủ thứ cùng với cháo trắng nóng bưng ra. Dân sành ăn bao giờ cũng xem có đĩa dưa cải phá lấu, vùa mằn mặn, vừa chua ngọt rồi bắt đầu mới gắp từng thứ bỏ vào tô cháo nóng hổi, hết tô cháo mồ hôi vã ra, vị chua mặn, miếng phá lấu giòn giòn cứ như đọng lại trong miệng.
ở đồng bằng thả bộ xuống phố, xem dân địa phương sinh hoạt về đêm và thưởng thức món cháo phá lấu Mỹ Tho, một phần ăn chỉ khoảng năm ngàn đồng bạn sẽ cảm nhận sự thú vị của bữa cháo giữa khuya.
Lê Duy
Địa chỉ: Quán Cháo Phá Lấu, 3 Đinh Bộ Lĩnh,P3, Tp.Mỹ Tho, Tiền Giang

Xứ biển Gò Công

Nếu có dịp tới Tiền Giang, mời du khách ghé thăm 2 điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh, đó là: Lăng Hoàng Gia và Di tích khảo cổ Gò Thành.Lăng Hoàng Gia
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử thuộc triều Nguyễn, tọa lạc tại Giồng Sơn Quy (Gò Rùa), ngày nay thuộc ấp Hoàng Gia, xã Long Hư*ng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Ông Võ Thành Sơn, ngư*ời quản lý Khu Di tích lăng Hoàng Gia cho biết: Dòng họ Phạm đã sống lâu đời ở đất Gò Công. Ông Phạm Đăng Khoa là ngư*ời khai hoang lập nghiệp ở xứ này. Phạm Đăng Hưng là hậu duệ đời thứ tư*, ông làm quan dư*ới triều Minh Mạng. Nhân dân thường gọi là ông “Ba Bị" vì lúc làm Điền Tuấn Quan, đi đâu ông cũng mang theo ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho nông dân nghèo những khi thiên tai, hạn hán, bão lụt. Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy.
Năm 1825, Phạm Đăng H*ưng bị bệnh mất tại Huế, đ*ược Vua Minh Mạng thăng hàm Vinh lộc đai phu, Trụ quốc hiệp biên, Đại học sĩ, Thụy Trung Nhã và đưa về an táng tại Sơn Quy. Lăng mộ Phạm Đăng Hư*ng tọa lạc trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, diện tích hơn 800m². T*ương truyền thi thể Phạm Đăng H*ưng được chôn ngồi. Trước mộ có tấm bia đá Cự Thạch.
Năm 1849, Phạm Đăng Hưng được Vua Tự Đức gia phong, truy tặng Đặc tiến Kim Tử - Vinh Lộc Đại phu Thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sĩ, t*ước Đức quốc Công. Ông là ông ngoại vua Tự Đức, cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, tước Đức quốc công, nên nhà thờ ông đ*ược sửa sang theo kiến trúc và nghi thức cung đình, có đặt nhiều biển đại tự để thờ: Gian chính giữa thờ Đức quốc Công Phạm Đăng Hưng. Gian tả thờ ông Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hư*ng. Gian tả ngoài cùng thờ ông Phạm Đăng Tiên (cố). Gian hữu thờ ông Phạm Đăng Dinh (nội). Gian cuối bên hữu thờ ông Phạm Đăng Khoa (sơ).
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng H*ưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, mang đậm phong cách truyền thống dân tộc qua các mảng chạm khắc trên mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh tứ quý" theo quan niệm phong thuỷ của ng*ười Á Đông. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên mát mẻ, có khá nhiều cây sứ cổ thụ, hoa lá cảnh vật bao bọc theo kiểu không gian nhà vư*ờn xứ Huế.


Di tích khảo cổ Gò Thành
Cổng Khu Di tích Gò Thành có kiến trúc theo phong cách Hindu khá ấn t*ượng. Năm 1941, L. Malleret, nhà Khảo cổ học ngư*ời Pháp đã phát hiện ra di chỉ Gò Thành và sau đó ông đã thu thập đ*ược một số hiện vật. Do nhiều nguyên nhân, mãi cho đến năm 1988 Khu Di tích này mới đ*ược khai quật.
Trong các năm 1988 đến 1990, Bảo tàng Tiền Giang kết hợp với Trung tâm Khảo cổ học (thuộc Viện KHXH Quốc gia tiến hành liên lục 3 lần khai quật, khảo sát di tích này. Sau các lần khai quật, các nhà khảo cổ đã gặp nhiều mảnh gốm cổ bị vỡ, nhiều vòi bình, nhiều di cốt trâu bò, heo và x*ương cá; nhiều dấu vết tro, than, vỏ trái cây, lá dừa n*ước, cùng với vài cọc gỗ có dấu vết đục đẽo. D*ưới độ sâu từ 1,5 đến 3 mét, ở khu vực gò cao, là dấu tích khá rõ ràng của những đền tháp bằng gạch đ*ược xây dựng cạnh nhau, hiện chỉ còn phần nền. Nền tháp đ*ược xây dựng kiên cố với những lớp gạch nung. Có những hố giếng hình vuông, ở giữa có ốc đảo với nhiều kích thư*ớc. Phía đáy hố, ngư*ời ta đôi lúc gặp các mảnh vàng hình vuông hoặc hình tròn cắt hình cánh sen, có khắc thú vật, thư*ờng là hình đầu mặt voi, một ít tro. Ng*ười ta cho đây có thể là những bệ thờ hoặc mộ táng của ngư*ời Phù Nam. Có 12 hố và mộ với dạng hình giếng nằm rải rác trong khu di tích đã khai quật. Theo các tài liệu khảo cổ học đã công bố, có đến hơn 100 hiện vật bằng vàng còn nguyên dạng, một số khác bị vỡ tìm thấy được ở Khu Di tích, trong đó, có vòng đeo tay, hạt chuỗi, hình bông mai, hình tứ giác, hình đầu mặt voi... Các hiện vật tr*ưng bày hầu nh*ư còn khá nguyên dạng. Các nhà khảo cổ đã phân tích một số mẫu vật qua phư*ơng pháp phóng xạ C14 (Cacbon 14), họ kết luận khu di tích khảo cổ Gò Thành có niên đại từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 8 sau Công Nguyên. Qua thư* tịch cổ và các di chỉ cho thấy Phù Nam thời ấy là một vư*ơng quốc thuộc vào loại hùng mạnh ở Đông Nam Á, có những thư*ơng cảng lớn, giao thư*ơng với nhiều quốc gia. Phù Nam có cơ cấu xã hội giống như* các nước Nam Á, lấy Thần quyền và V*ương quyền làm nền tảng. Ngư*ời Phù Nam theo Ấn Độ giáo và thờ rất nhiều thần. Đ*ược biết, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã công nhận Di tích Khảo cổ Gò Thành là Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia vào ngày 12/12/1994

Lũy pháo đài Trương Định

Thành đồn pháo đài là một kiến trúc kiên cổ, chân móng làm bằng đá ong, đá xanh cao 8 mét. Bốn phía có cổng, vọng gác, rào chắn. Phần giữa đồn là kho vũ khí, giếng nước và vọng lầu chỉ huy. Thành được đắp theo hình lục lăng. Đá hàn sông do các ghe, thuyền chở từ Biên Hòa về rồi đục thủng cho chìm xuống để không bị dòng nước cuốn đi và tồn tại đến ngày nay.
Di tích lịch sử lũy pháo đài thuộc xã Phú Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Thành lũy này do chính anh hùng Trương Định chỉ huy nhân dân xây dựng để tổ chức đánh Pháp, góp phần vào chiến thắng trong các trận cửa Khâu - Trại Cá vào những năm 1862 - 1863. Đồn lũy được xây dựng trên một địa hình đặc biệt: mặt Đông là biển cả, có bãi cát bồi lớn nên tàu lớn không tiến sát được, lại có rặng cây che khuất. Mặt Bắc là dòng sông Cửu Tiểu, có đập đá làm phòng ngự, trên bờ gắn liền với thành ngoài, là nơi đặt súng thần công. Mặt Tây có rạch đồn và sình lầy, rừng rậm. Mặt Nam một dãy trại dài nối liền lũy đất cát làm phòng tuyến dày đặc những chà là, sình lầy gai góc.
Riêng thành đồn pháo đài được kiến trúc rất kiên cố, chân móng là đá ong, đá xanh cao khoảng 8 mét, rộng từ 3,5 mét đến 4,5 mét. Mặt thành rộng từ 1,8 mét đến 2,5 mét. Bốn phía có các cổng, vọng gác, rào chắn. Phần giữa đồn có kho vũ khí, giếng nước và vọng lầu chỉ huy. Thành đắp theo hình lục lăng. Đá hàn sông do các ghe, thuyền chở từ Biên Hòa về rồi đục thủng cho chìm xuống, do vậy mới không bị dòng nước cuốn đi và tồn tại đến ngày nay. Lũy Pháo đài thể hiện sinh động khí phách kiên cường giữ nước, bảo vệ quê hương của nhân dân Nam Bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Đặc biệt ở mặt Bắc là sông Cửa Tiểu có đập đá phòng ngự - nơi đặt súng Thần công để trấn giữ một cửa biển quan trọng

Lăng Trương Định

Lăng Trương Định tọa lạc ở phường 1, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Khu di tích gồm lăng, đền thờ và tượng đài anh hùng dân tộc Trương Định. Mộ ông được xây bằng đá ong là dạng kiến trúc mộ táng tiêu biểu của người Việt ở Nam Bộ.
Trương Định sinh năm 1820 tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quãng Ngãi. Cha ông là Trương Tầm, giữ chức lãnh binh Gia Định. Từ nhỏ, Trương Định đã có tướng mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư, võ nghệ. Thời Thiệu Trị, ông theo cha vào Nam, lấy vợ người Tân An, tỉnh Định Tường (tỉnh Tiền Giang) rồi ở luôn ở quê vợ. Năm 1850, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của Nguyễn Tri Phương, ông đứng ra chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập ấp ở huyện Tân Hoà (Gò Công). Vì có công lớn, ông được triều đình Huế phong chức Quân Cơ, hàm lục phẩm.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Trương Định lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc, làm cho thực dân Pháp bao phen thất điên bát đảo. Ngày 26 tháng 2 năm 1863, Pháp huy động một lực lượng lớn mở cuộc tấn công vào căn cứ nghĩa quân. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Đến rạng sáng ngày 19 tháng 8 năm 1863 ông rơi vào vòng vây địch. Do có sự phản bội, Trương Định đã tử tiết ngày 20 tháng 8 năm 1864, nêu cao khí phách của một vị tướng anh hùng. Nhân dân đã chôn cất ông tại thị xã Gò Công.

Mộ Thủ Khoa Huân

Mộ Thủ Khoa Huân tọa lạc tại ấp Hoà Quới, xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Thủ Khoa Huân tên thật là Nguyễn Hữu Huân, sinh năm 1830 tại xã Mỹ Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, thuở bé rất thông minh và học giỏi. Ông đậu thủ khoa trong cuộc thi Hương năm 1852 dưới triều Tự Đức.
Khi thực dân Pháp lộ rõ âm mưu xâm lược nước ta, ông từ quan, liên kết các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc. Trong 15 năm hoạt động, ba lần bị giặc bắt, ông đã nêu tấm gương sáng về lòng yêu nước và khí phách anh hùng, chúng đày ông đến đảo Réunion - một hòn đảo Đông Nam châu Phi, nhưng ông vẫn không nhụt chí. Ra tù, ông cùng các sĩ phu yêu nước tổ chức lực lượng, đánh địch nhiều nơi. Khi bị bắt, giặc đem tước lộc ra mua chuộc, nhưng không lay chuyển được ông.
Cuối cùng, chúng xử trảm ông tại quê nhà. Trước lúc chết, ông vẫn ung dung đọc thơ, tỏ khí phách của một bậc hiền tài yêu nước. Mộ và đền thờ Thủ Khoa Huân đặt tại xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Tượng đài ông được dựng tại trung tâm yhành phố Mỹ Tho.

Lăng Hoàng Gia

Lăng Hoàng Gia tên gọi bao gồm mộ chí và nhà thờ dòng họ Phạm, là “Thích Lý” (họ ngoại của Tự Đức). Khu di tích này nằm tại Giồng Sơn Quy thuộc thị xã Gò Công. Nhân dân địa phương gọi di tích này là Lăng Hoàng Gia. Ấp có di tích này mang tên ấp Hoàng Gia, xã Sơn Quy, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Từ 1987, Lăng Hoàng Gia nằm trong ấp Hoàng Gia thuộc xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Nằm trọn trong xóm dân cư, Lăng Hoàng Gia ở địa thế thuận lợi cho đường ô tô đến di tích nên dễ quy hoạch thành nơi tham quan du lịch.
Dòng họ Phạm là dòng họ sống lâu đời ở Gò Công. Phạm Đăng Khoa là người khai cơ lập nghiệp của dòng họ ở đây. Mộ chí của ông còn tại Giồng Sơn Quy. Đến đời thứ tư của họ Phạm có Phạm Đăng Hưng, người làm quan dưới hai triều: triều Gia Long và triều Minh Mạng. Ông là người có lòng giúp đỡ dân nghèo trong lúc thất bát vì thiên tai địch họa. Nhân dân thường gọi ông là “Ba Bị” vì lúc làm Điền Tuấn Quan, đi đâu ông cũng mang ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo.
Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy, ông có tư chất thông minh, tướng mạo tuấn tú lớn lên ông cùng Ngô Tùng Châu theo học chữ Nho thầy Võ Trường Toản.
Năm 1784, Phạm Đăng Hưng đỗ Tam trường, đang chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên ông về quê làm ruộng. Nhưng do văn tài lỗi lạc và nổi tiếng là người hiền đức nên được bổ làm quan Lễ Sinh Nội Phủ của triều Nguyễn.
Qua nhiều lần thăng giáng chức vì bị gièm pha ông suýt mang trọng tội. Nhờ tận tụy, nhã nhặn, Phạm Đăng Hưng đã được bổ vào các chức:
- Chưởng Tưởng Dã Sự (trông coi đê điều).
- Quan Thâm Thiên Giám (trông coi thiên văn).
- Quốc Sử Quán Tổng Tài (đứng đầu cơ quan viết lịch sử).
Năm 1824, Phạn Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được vua Minh Mạng thăng hàm “Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc Hiệp Biên, Đại Học Sĩ, Thụy Trung Nhã” và đưa về an táng tại Sơn Quy. Năm 1849, Tự Đức gia tặng “Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu hái Bảo Cần Chánh Điện, Đại Học Sĩ, tước Đức Quốc Công”. Ông là cha của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, ông ngoại vua Tự Đức, nên triều đình còn cấp cho dòng họ Phạm nhiều ruộng đất bổng lộc. Toàn bộ di tích lăng Hoàng Gia nằm trên đất Giồng Sơn Quy (là nơi có gò đất cao như mu rùa nên dân gọi là gò Rùa). Tự Đức là Sơn Quy, lay ý nghĩa trong khoa địa lý “cao nhất xích vi sơn”, mang kỳ vọng cho họ ngoại của vua được lâu bền.
Khu di tích bao gồm nhà thờ họ Phạm với diện tích 199 m2, ngoài mộ Phạm Đăng Hưng và sáu ngôi mộ tổ họ Phạm còn có tám ngôi mộ quan trọng khác chôn tại Sơn quy.
Mộ dòng họ Phạm và Phạm Đăng Hưng chôn theo một trục dài đối xứng nhau, toàn bộ đều làm bằng hồ ô đước không chạm khắc. được bao bọc xung quanh lớp tường dày 80 cm, cao 90 cm. Nhìn tổng thể khu mộ ta thấy mộ Phạm Đăng Hưng đứng đầu, trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, gồm hai vòng biểu hiện cho tam tài, diện tích hơn 800 m2. Mộ không xây theo kiểu “Ngưu phanh, mã phục” (trâu nằm, ngựa quỳ) như mộ dành cho quan võ. Mộ xây theo dáng “Đỉnh trụ” (chóp đỉnh) như chiếc nón lá buông lỏng nhờ tám cánh tượng trưng như búp sen. Nhìn chung như cái đỉnh, dạng này ít thấy ở mộ cổ. Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Mộ chôn theo nội quan ngoại quách bao bọc. Trước mộ có tấm bia đá “Cưm Thạch” hai bên có gắn các mảnh sứ cổ Trung Quốc (nay đã vỡ nát). Nội dung khắc trong bia nói về chức tước được phong của Phạm Đăng Hưng, (ghi bằng chữ Hán đọc được nhưng chưa dịch).
Nhà thờ Phạm Đăng Hưng được xây năm 1826, trên khu vườn đất rộng 2.987 m2, bao gồm nhà thờ chính, nhà khách, nhà kho, cổng tam quan và các công trình phụ tự khác bao bọc chung quanh.
Năm 1849 Tự Đức gia phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc, đồng thời truy tặng ngữ đại họ mẹ Tự Đức. Do đó, nhà thờ được sửa sang theo quy mô nghi thức cung đình, được đặt nhiều biển đại tự để thờ:
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài cùng thờ Mư Khả Tự Phạm Đăng Tiên.
- Gian hữu thờ Bình Thạnh Bà Phạm Đăng Danh.
- Gian cuối bên hữu thờ Thiền sư Phạm Đăng Khoa.
Nhờ tiền của bà từ Dũ Thái Hậu trợ cấp để xây thêm nhà khách, nhà trà, tàu ngựa để tổ chức đại lễ đón sắc phong của vua từ Huế vào.
Năm 1889, sau khi Thành Thái lên ngôi, đang chuẩn bị vào thăm nên có tu sửa thêm nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng, lam năm tấm biển của Ngũ Tước, tường hồ và cổng bằng gạch theo phong cách phương Tây.
Nhìn chung nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, có lẫn lộn kiến trúc Pháp, nhưng vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống dân tộc qua các mảng trạm khắc trên Mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ “Tứ linh”, “Tứ quý” trong bát bửu cổ đồ mà chỉ có người Á Đông chúng ta quan niệm. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên cây trái, hoa lá cảnh bao bọc theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế, rõ nét Huế mà ta đang thấy ở nội thành Huế.
Hiện vật di tích Lăng Hoàng gia ngày nay không còn nhiều, đa phần là mất hết các di vật cổ có giá trị về mặt cổ vật và nghệ thuật. Chỉ còn lại những hiện vật mà kẻ gian không thể lấy được:
- Bia đá trong phần mộ Phạm Đăng Hưng có kích thước 160 cm x 120 cm x 15 cm bằng đá hoa cương.
- Bảy biển đại tự sơn son thiếp vàng, trên khung có chạm tứ quý được làm vào thời Thành Thái.
- Một khám thờ Phạm Đăng Hưng sơn son thiếp vàng chung quanh chạm “Tứ linh”, “Tứ quý”.
- Một long án chạm tứ linh trước bàn thờ Phạm Đăng Hưng, dài 1,2 mét rộng 1,2 mét chạm khắc rất tinh xảo nhưng đã bị dột nát hư hỏng phần dưới, còn lại bốn bàn thờ bằng cây mới được tạo lập sau này rất đơn giản.
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Nam Bộ nói chung và Gò Công nói riêng. Vì Phạm Đăng Hưng và dòng họ của ông là những người vào đây lập nghiệp từ đầu thế kỷ XVII, nên hiện nay còn một trong bốn đời của ông tại Sơn Quy.
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là công trình kiến trúc nghệ thuật hài hòa giữa Á và Âu, nhưng mang đậm nét truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các mảng chạm khắc trong nhà thờ và trên mộ.
Khu Lăng Hoàng Gia đã được tô màu đỏ trên bản đồ địa chính, được ghi là “toàn bộ khu di tích nằm trên thửa đất số 822 và số 821” (trích theo biên bản quy định khu vực bảo ve di tích ngày 18 tháng 9 năm 1992 tại văn phòng ủy ban nhân dân thị xã Gò Công).

Khu di tích lịch sử Ấp Bắc

Khu Di tích Lịch sử Quốc gia Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cách trung tâm huyện lỵ 10 km về hướng Đông. Tại đây, bia kỷ niệm có ghi:
“Chiến thắng Ấp Bắc ngày 2 tháng 1 năm 1963 đã đánh bại các chiến thuật: bủa lưới, phóng lao, trực thăng vận và thiết xa vận mà đế quốc Mĩ cho là tân kỳ. Chiến thắng Ấp Bắc nói lên đầy đủ ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam; sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân; là tiếng chuông báo hiệu sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm cùng chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mĩ.”.
Từ trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Tân Phú đến khu di tích chừng 500 mét. Chính tại nơi đây hơn 40 năm về trước, đã diễn ra trận đánh ác liệt, dồn dập, đi vào lịch sử như một Bạch Đằng, Đống Đa hay Chi Lăng. Khu di tích là một quần thể kiến trúc nằm trong khuôn viên chừng 2 hecta bao gồm: tượng đồng 3 chiến sĩ gang thép, xe bọc thép, máy bay lên thẳng những chiến lợi phẩm sau trận đánh, pháo 105 ly, mộ 3 chiến sĩ gang thép, nhà quản trang, xen kẻ trong khu vườn hoa lúc nào cũng khoe sắc và toả hương thơm ngát. Cạnh vườn hoa là những ao nhỏ, bên dưới trồng hoa súng đỏ. Từng đàn cá rô phi, điêu hồng vô tư lội tung tăng dưới làn nước trong vắt. Du khách có thể ngồi trên những chiếc băng đá phóng tầm mắt ngắm nhìn cảnh vật nơi đây.
Có lẽ ấn tượng nhất trong khuôn viên này là tượng đồng 3 chiến sĩ gang thép cao sừng sửng, nặng 18 tấn: người cầm súng, người cầm thủ pháo hiên ngang đứng trên xe tăng địch, làm cho ta phảng phất hình ảnh của những chiến sĩ cầm cờ Tổ quốc trên nóc hầm tướng De Castrie ở trận Điện Biên Phủ năm nào. Tác giả là nhà điêu khắc Nguyễn Hải, do cơ sở đúc đồng Phương Nam, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, khánh thành nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng Ấp Bắc. Hình ảnh uy nghi của các anh như đưa chúng tôi trở về cảnh súng nổ, bom rền hơn 40 năm về trước.
Từ khi khu di tích được khánh thành đến nay đã đón hàng ngàn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu. Đây cũng là nơi giáo dục cho học sinh trong tỉnh về truyền thống đấu tranh bất khuất của tổ tiên trong sự nghiệp giữ nước. Rời khu di tích, nhìn hai bên đường, chúng tôi không khỏi vui mừng trước những cánh đồng lúa trĩu hạt, những rẫy dưa chi chít quả căng tròn. Lác đác trên cánh đồng, nhiều mô hình bằng xi -măng xác máy bay, xe M113 bốc cháy. Tất cả như minh chứng cho một sức sống mới trên mảnh đất anh hùng.

Đình Long Hưng

Đình Long Hưng, còn có tên là Miễu Chánh, nằm bên bờ kênh Nguyễn Tấn Thành, thuộc ấp Long Thạnh, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Mỹ Tho 12 km về phía Tây, cách Quốc lộ 1A 2,5km về phía Nam.
Đình được xây dựng từ hơn 150 năm trước, là nơi thờ chính của làng nên nhân dân gọi là miếu Chánh.
Đình được xây dựng theo kiểu chữ “Công”, quay về hướng Đông. Trước đình là một bình phong cao 1,5 mét, hai bên có hai miếu thờ. Đình gồm đình chính và nhà cầu trên diện tích 9.200 m2.
Đình được làm bằng cột gỗ có đường kính 0,3 mét, đặt trên tảng kê hình cổ bồng cao 0,5 mét, mái lợp ngói âm dương, hai đầu bờ nóc gắn hai con rồng bằng sứ chầu mặt trời, các đầu đao đều được gắn cá hóa rồng. Nền đình cao 0,5 mét, lát gạch hoa, chung quanh không có vách, chỉ ở đình chánh có vách bằng gỗ.
Năm 1961, đình bị sập hoàn toàn. Năm 1987, đình được xây dưng lại trên diện tích 129,6 m2 theo dạng tứ trụ, mái lợp ngói âm dương, chung quanh có tường gạch bao bọc, gồm một nơi thờ cúng và một nhà võ ca. Song song với việc thờ cúng các vị thành hoàng, đình còn thờ tả quân Lê Văn Duyệt, một công thần triều Nguyễn, quê ở Long Hưng.
Đình Long Hưng còn là một di tích cách mạng, nơi chỉ huy sở của tỉnh ủy Vĩnh Long trong khởi nghĩa Nam Kỳ.

Chùa Thanh Trước

Chùa tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Chùa được dựng vào năm 1826 có tên là chua Phật Linh. Đến năm 1851, hòa thượng Chơn Hội đứng ra tổ chức xây chùa, đổi tên là chùa Thanh Trước. Chùa trải qua bảy đời trụ trì. Năm 1896, hòa thượng Hải Tràng cho trùng tu lần thứ nhất. Từ năm 1941, hòa thượng Hoằng Thông đã cho trùng tu vào các năm: năm 1946, năm 1958 và năm 1989.

Chùa Linh Thứu

Chùa thường được gọi là chùa Sắc tứ, tọa lạc gần chợ Xoài Hột, xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Chùa được dựng vào khoang thế kỷ XVIII. Năm 1811, vua Gia Long đổi tên chùa la Long Tuyền. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị đổi tên thành Linh Thứu. Chùa được trung tu nhiều lần dưới thời thiền sư Nguyệt Hiện (giữa thế kỷ XVIII), hòa thượng Chánh Hậu (cuối thế kỷ XIX) và các sư bà: sư bà Như Nghĩa, sư bà Thông Huệ và sư bà Như Chơn (từ năm 1945 đến nay). Chính điện chùa được bài trí trang nghiêm, chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ, đại hồng chung (năm 1745), các bao lam chạm trổ công phu và nhiều câu đối có ý nghĩa Phật pháp.

Chùa Hội Thọ

Chùa nằm ở ấp Mỹ Hưng, xã Thiện Chí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Nguyên trước đó là chùa Kim Chương ở tỉnh Nam Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, Hòa thượng Minh Giác cùng đệ tử đã về Cái Bè lập chùa rồi đổi tên là chùa Hội Thọ. Trong chiến tranh chùa bị hư hỏng hoàn toàn. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng vào năm 1982 và tu bổ thêm sau đó.
Trong chùa còn lưu giữ một số tượng thờ, bài vị, tự khí, pháp khí của chùa cổ Kim Chương như: tượng Tiêu Điên bằng gỗ cao 1,34 mét, tượng Thập Điện Minh Vương bằng gỗ cao 0,7 mét, tượng Phật A Di Đà bằng đất nung cao 0,55 mét. Trong khuôn viên chùa có tháp thờ hòa thượng Thiệu Long và hai ngôi tháp của hai vị hòa thượng khác.

Chùa Vĩnh Tràng

Năm 1849, hòa thượng Huệ Đăng đã vận động tín đồ góp công, góp của xây dựng chùa theo lối kiến trúc của chùa Giác Lâm ở Gia Định, nhưng to lớn hơn với 178 cây cột, hai sân thiên tỉnh, năm lớp nhà (chùa Giác Lâm có 98 cột, một sân thiên tỉnh, ba lớp nhà). Năm 1907, hòa thượng Trà Chánh Hậu cho sửa chữa phần chánh điện. Năm 1930, hòa thượng Minh Đằng cho trùng tu toàn diện để chùa có diện mạo như ngày hôm nay. Lúc đầu, chùa có tên là Vĩnh Trường, xuất phát từ hai câu đối do chính hòa thượng sáng tác:

"Vĩnh cửu đối sơn hà,
Trường tồn tề thiên địa."

Nhưng về sau, chùa được gọi là Vĩnh Tràng. Khác vối những ngôi chùa truyền thống, chùa Vĩnh Tràng không có cổng tam quan mà thay vào đó là hai cổng ra vào được xây dựng theo lối cổ lầu và được ốp bằng nhiều mảnh sành, sứ với những màu sắc khác nhau theo chủ đề long, lân, quy, phụng, ngư, tiền, canh, mục, hoa, điểu và các điển tích Phật giáo. Chùa được xây dựng theo dạng chữ "Quốc" của Hán tự, gồm có bốn gian là tiền đường, chánh điện, nhà tổ, nhà hậu, nối tiếp nhau. Riêng mặt trước của tiền đường thì được xây dựng theo lối kiến trúc dung hòa Âu - Á với những hàng cột thanh mảnh, vòm còng và hoa văn nhiều màu sắc. Trên nóc chùa có năm mái nhô cao, tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) theo quan niệm của phương Đông.
Tại gian chánh điện, chùa có 60 tượng quý, được tạo tác bằng đồng, gỗ, đất nung và tất cả đều được thếp vàng rực rỡ. Trong đó có giá trị nghệ thuật nhất là bộ tượng mười tám vị la hán được tạc từ gỗ mít vào năm 1909. Ngoài ra, chùa còn có bảy bộ bao lam tuyệt đẹp và chiếc đại hồng chung được đúc vào năm 1854. Xung quanh chùa là những vườn cây cảnh trồng nhiều loại hoa thơm cỏ lạ, những hồ nước thơm ngát hương sen và những cây cổ thụ che trùm bóng mát, tạo nên sự hài hòa tuyệt vời giữa khung cảnh thiên nhiên với không gian kiến trúc, khiến chùa thêm cổ kính, thâm nghiêm.
Không chỉ có ý nghĩa tôn giáo và giá trị kiến trúc - nghệ thuật, chùa còn là nơi che giấu nhiều nhà yêu nước và cung cấp hậu cần cho phong trào cách mạng. Vì thế, chùa được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia, chùa Vĩnh Tràng tọa lạc tại xã Mỹ Phong , cách trung tâm thành phố Mỹ Tho khoảng 3 km.

Khu di tích Rạch Gầm - Xoài Mút

Tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ tiến quân vào Gia Định, vị tướng trẻ 32 tuổi này chọn khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), cách cửa Tiểu khoảng 70 km làm trận địa quyết chiến. Rạch Gầm - Xoài Mút nằm giữa căn cứ Trà Tân của địch và căn cứ Mỹ Tho của quân ta. Tại đây, Nguyễn Huệ bố trí phục binh với hỏa lực rất mạnh trên bãi đất và giồng đất xã An Đức và trên cù lao Thới Sơn. Trong khi đó, ở căn cứ Mỹ Tho, Nguyễn Huệ bố trí bản doanh với quân lực mỏng và làm cho địch tin là ta rút chạy về Quy Nhơn.
Vì thế, đêm ngày mồng chín tháng chạp năm Giáp Thìn tức ngày 19 tháng một năm 1785, đại quân địch gồm 2 vạn quân Xiêm và hơn 1 vạn quân của Nguyễn Ánh ào ạt tiến thẳng Mỹ Tho hòng bắt sống Nguyễn Huệ đưa về Vọng Cát. Nguyễn Huệ cho quân cầm cự đánh trả dữ dội và rút lui từ từ nhử địch vào trận địa mai phục khiến chúng vừa ham đánh vừa chủ quan. Khi toàn bộ đại quân địch lọt vào khúc sông đã bố trí sẵn, vị tướng trẻ tài ba mới phát hiệu lệnh nổi phục binh đánh dữ dội. 300 thuyền chiến lớn và hàng ngàn thuyền câu nhỏ của địch như con rắn khổng lồ đã bị đứt ra từng khúc mà tiêu diệt.
Quân thủy của Nguyễn Huệ phục sẵn từ Rạch Gầm và Xoài Mút lao ra khoá đầu và khóa cuối không cho địch rút chạy. Pháo và hoả hổ từ trận địa phục kích trên bãi bần An Đức và bãi dừa Thới Sơn đốt cháy rừng rực cả đoàn thuyền chiến của hải quân Xiêm... Trận chiến trên sông xảy ra vào đêm ngày 19 tháng 1 năm 1785 rạng ngày 20 tháng 1 năm 1785.
Công trình xây dựng khu di tích Rạch Gầm - Xoài Mút có tổng vốn đầu tư hơn 11 tỉ đồng, được khánh thành đúng dịp kỷ niệm 220 năm chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (1785 - 2005).
Công trình gồm tượng đài biểu trưng chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, hai khu nhà trưng bày và khu nhà cổ Nam Bộ. Tượng đài anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng tuốt gươm, cùng một hậu vệ trong tư thế ngồi bắn cung và hỏa lực súng thần công và một người nông dân trên chiếc thuyền chiến, đại diện cho nhân dân địa phương tham gia trận đánh. Tượng đài làm bằng đồng đỏ, nặng 20 tấn, cao hơn 8 mét.
Khu nhà trưng bày nằm dưới chân tượng đài, có hệ thống phù điêu bằng đồng bao bọc, phía trong có bức tranh phù điêu hoành tráng giới thiệu về thời kỳ khẩn hoang, lập ấp tại Rạch Gầm - Xoài Mút và về chiến công của quân Tây Sơn trong trận thủy chiến chống quân xâm lược Xiêm. Nhà trưng bày nằm bên bờ Sông Tiền và khu nhà cổ Nam Bộ, giới thiệu khoảng 564 hiện vật liên quan tới chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, gồm phương tiện sử dụng và vũ khí gươm giáo của quân Tây Sơn và quân Xiêm.

Di tích khảo cổ Gò Thành

Di tích Gò Thành thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nằm trong khu dân cư, cách chợ Ông Văn, xã Đăng Hưng Phước 200 mét và cách Ủy ban Nhân dân huyện Chợ Gạo 6 km về phía Bắc.
Tên gọi Gò Thành xuất hiện khi những người Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất này; thấy trên gò có nhiều gạch, cho đó là vết tích của một thành xưa nên đặt tên là Gò Thành, với mục đích đánh dấu một vị trí trong khu vực quần cư. Đây không phải là một thành của người Miên hay nhà Nguyễn như người dân địa phương thường gọi.
Năm 1987, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã đến tham gia Hội nghị Thông báo Khảo cổ học tại tỉnh Tiền Giang và khẳng định Gò Thành là di tích thuộc nền văn hoá Óc Eo. Di tích đã được khai quật nhiều lần, phát hiện 12 hố thờ và mộ có dạng hình giếng nằm rải rác trên mặt gò và nhiều hiện vật bằng vàng, đồng, đá, đất nung đang được trưng bày tại nhà trưng bày trong khuôn viên di tích.
Hiện nay, Khu di tích Gò Thành đã được trùng tu, tôn tạo, có tường rào bao quanh, cổng chính được thiết kế theo những hoạ tiết, hoa văn thuộc nền văn hóa Óc Eo rất độc đáo, có một nhà bao che một số đền tháp quan trọng, một nhà trưng bày hiện vật của di tích và một đình thần trong khuôn viên rộng lớn, khang trang.
Đến tham quan Di tích Gò Thành, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những hố thờ từng bị chôn vùi dưới lòng đất hàng ngàn năm, gợi nhớ cho chúng ta nhận thức mới về xã hội người Phù Nam, về các quy luật phát triển lịch sử, xã hội trên vùng đất Nam Bộ, trên đất nước Việt Nam và cả Đông Nam Á.
Hàng năm, Di tích Gò Thành thường xuyên đón nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài đến tham quan, đặc biệt là các em sinh viên, học sinh đến tham khảo để phục vụ cho công việc học tập.
Di tích Gò Thành được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Cấp quốc gia năm 1994.

Chợ nổi Cái Bè

Chợ nổi Cái Bè xuất hiện trong sự hình thành một thị trấn nhỏ bên dòng sông Tiền lộng gió. Đến vàm Cái Bè, trên một khúc sông rộng, du khách sẽ được tận mắt nhìn thấy cảnh buôn bán tấp nập. Hàng ngày, có khoảng 400 thuyền đến 500 thuyền đầy ắp các loại trái cây neo dọc hai bên sông chờ thương lái đến cất hàng. Ghe xuồng như mắc cửi, tiếng nói cười rộn rã, huyên náo - cái huyên náo không dễ lẫn mà chỉ riêng miền sông nước Cửu Long mới có, mang một nét quyến rũ đặc biệt.
Nằm về phía hữu ngạn chợ nổi Cái Bè là cù lao Tân Phong, xưa là Cồn Cù, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, được hợp thành bởi sáu hòn đảo xinh xắn có tổng diện tích 2.430 hecta. Tân Phong như hòn ngọc xanh giữa dòng sông Tiền trĩu nặng phù sa, nổi tiếng với những vườn chôm chôm quả to và ngọt. Đây còn là hình ảnh thu nhỏ của miền Tây Nam Bộ hấp dẫn du khách đến với văn minh miệt vườn.

Cồn Lân (Cồn Thới Sơn)

Cồn Thới Sơn có chiều dài khoảng 11 km và chiều rộng khoảng 1 km. Đây là vùng trồng cây ăn quả nổi tiếng, dân số khoảng 6.000 người nằm giữa sông Tiền thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Cồn được phù sa sông Tiền bồi đắp, trông từ xa cồn như một pháo đài được khai phá cách đây 300 năm. Đây là điểm du lịch của Công ty Du lịch Tiền Giang nằm đối diện với thành phố Mỹ Tho, một hòn đảo giữa sông luôn cuốn hút du khách thập phương.
Từ bến thuyền sau 30 phút ngắm cảnh sông nước miền Tây mênh mông lộng gió, du khách sẽ cập bến Thới Sơn. Dân cư ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng cây ăn quả và đánh bắt thủy sản. Cồn Thới Sơn chằng chịt kênh rạch và các cây ăn trái đặc sản, đặc biệt là cây nhãn.
Năm 1990 toàn bộ cồn Thới Sơn như “bừng tỉnh” sau một giấc ngủ dài khi có điện thắp sáng. Hiện nay, toàn bộ cây được trông tên cồn chủ yếu là nhãn và Sapôchê. Tại đây du khách sẽ thoải mái vào ngắm các vườn cây, nằm trên võng hay ghế xích đu tận hưởng gió mát và thưởng thức các loại trái cây ngon ngọt. Cồn Lân lúc nào cũng đầy cây trái, mùa nào trái nấy. Hết nhãn tới chôm chôm rồi vú sữa, sầu riêng. Hơn thế, du khách còn có thể thưởng thức các món ăn cá, tôm tươi sống, đắc biệt là món Cá Tai Tượng chiên xù. Du khách sẽ có dịp làm quen với những chủ vườn vui vẻ, chân thật, mến khách.

Cồn Rồng (Cồn Tân Long)

Cù lao Rồng được bồi đắp từ khoảng năm 1872, sau đó thuộc quyền sở hữu của Đốc phủ Mầu, một địa chủ khét tiếng ở Mỹ Tho trước đây. Dưới chế độ cũ, người ta đã lập một “trại cùi” trên cù lao Rồng để cách ly bệnh nhân mắc bệnh phong.
Năm 1971, “trại cùi” được dời ra Quy Hòa (Quy Nhơn), cù lao Rồng bắt đầu đón những cư dân lành lặn đầu tiên đến sinh sống và đây trở thành một vùng đất trù phú, đầy hoa thơm trái ngọt, thuyền bè vào ra tấp nập. Đa số các gia đình sống trên cù lao này đều làm nghề đánh cá ngoài biển khơi.
Nơi đây cũng có nhiều cây ăn trái đặc biệt là cây nhãn, nhãn ở đây ngon không thua gì nhãn ở Cai Lậy.
Đường sá đi lại trên cù lao đều được tráng xi măng. Cù lao nằm giữa sông Tiền, ngay kế bên công viên Lạc Hồng của thành phố Mỹ Tho. Điện sáng suốt đêm, thuyền máy, ghe tam bản ngày đêm qua lại nối liền với thành phố Mỹ Tho. Giữa một vùng sông nước mênh mang, cù lao Rồng là một trong những hòn ngọc xanh nằm ngay hành lang thủy lộ của những chiếc phà nối liền hai tỉnh Tiền Giang - Bến Tre, đêm ngày xuôi ngược.

Trại rắn Đồng Tâm

Cách thành phố Mỹ Tho khoảng 9 km, Trung tâm Nuôi trồng Nghiên cứu Chế biến Dược liệu Quân khu 9, hay gọi là Trại rắn Đồng Tâm (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) từ lâu đã hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế. Đặc biệt, đây còn là nơi chữa trị rắn cắn cho bà con khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Tiền thân là Xí nghiệp 408 (trại rắn Đồng Tâm), đến năm 1988 được nâng cấp lên thành Trung tâm nuôi trồng, nghiên cứu, chế biến dược liệu Quân khu 9, có nhiệm vụ bảo tồn các nguồn dược liệu quý, sản xuất thuốc y học dân tộc, cấp cứu và điều trị rắn độc cắn cho quân và dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Gần 30 năm qua, hoạt động của Trung tâm đạt nhiều thành quả trong việc phục vụ cho nhân dân và quốc phòng.
Năm 2005, Trung tâm nuôi trồng, chế biến dược liệu Quân khu 9 được nhà nước và các bộ, ngành đầu tư hơn 10 tỷ đồng xây dựng khoa cấp cứu rắn độc, nhà xưởng và các trang thiết bị máy móc để phục vụ tốt hơn nhu cầu điều trị bệnh cho nhân dân. Từ tháng 3 năm 2006, các bệnh nhân đến đây được khám và nằm viện miễn phí với mỗi ca giảm khoảng 200.000 đồng.
Hiện nay, Trung tâm có thể cứu sống những người bị rắn độc cắn chỉ còn thoi thóp, nếu đem đến Trung tâm kịp thời. Nhiều trường hợp bệnh nhân bị rắn cắn đi nhờ các thầy lang điều trị, vừa không khỏi bệnh vừa tốn kém, đến khi đem đến Trung tâm thì những chỗ bị rắn cắn đã hoại tử, phải mất nhiều thời gian mới chữa khỏi. Từ thực trạng đó, Trung tâm đã kết hợp với các trạm y tế địa phương tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân kiến thức về cách phòng ngừa rắn độc, cũng như sơ cấp cứu ban đầu trước khi đem đến bệnh viện gần nhất.
Không những là nơi điều trị bệnh nhân bị rắn độc cắn mà trại rắn Đồng Tâm còn là điểm tham quan độc đáo, nằm trong tour du lịch Mỹ Tho - cù lao Thới Sơn - trại rắn Đồng Tâm. Tại đây, du khách tận mắt chiêm ngưỡng hàng trăm loại rắn khác nhau, từ những loài rắn hiền lành (rắn nước, rắn gáo...), đến các loài rắn độc (hổ ngựa, rắn hổ cạp nong, hổ mai gầm...), những loài động vật quí hiếm như trăn, cá sấu, ba ba, cáo, gấu...
Hiện mỗi năm có khoảng từ 30.000 du khách đến 40.000 du khách đến tham quan nơi đây. Để ngày càng thu hút khách du lịch, Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Tiền Giang đang phối hợp cùng Trại rắn Đồng Tâm đầu tư nâng cấp toàn khu trại rắn, trồng cây xanh, bổ sung nhiều con thú quí hiếm khác... Dự kiến, khi hoàn thành mỗi năm trại rắn sẽ đón khoảng 10.000 lượt du khách đến 15.000 lượt du khách đến tham quan.

Đi Tiền Giang cẩn thận...

Tiền Giang là một trong những điểm du lịch ngắn ngày về vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hút được rất nhiều sự quan tâm của du khách. Nhưng có một điều rất đáng lưu ý cho du khách khi đi du lịch Tiền Giang là nạn "cò du lịch".
Những "cò du lịch" này thường chào mời khách mua dịch vụ tham quan các khu du lịch như Cồn Phụng, cù lao Thới Sơn, hay các lò kẹo ở Bến Tre... với giá rẻ hơn giá niêm yết của những công ty du lịch địa phương. Nhưng chất lượng dịch vụ thì thua kém rất nhiều...
Đầu tiên là những con đò đưa khách qua bên Cồn chỉ là những con đò nhỏ với những chiếc ghế nhựa chênh vênh và không có phao cứu sinh, bất kể khi ra giữa dòng sông lúc nào cũng có gió to - sóng lớn, thuyền chòng chành chao nghiêng, rất nguy hiểm.
Qua được sông, đến những điểm tham quan đã được mua trước trong gói dịch vụ thì mới biết "thời gian" lúc này là cả một vấn đề. Đưa khách đến tham quan các điểm du lịch nhưng thời gian cho khách tham quan thì vô cùng eo hẹp. Để khách xuống điểm tham quan một lúc, các "cò" sẽ hối khách quay về, nếu khách không xuống đò qua lại bên kia sông thì khách sẽ phải tự đón đò về sau, có khi đi được vài điểm nhưng chưa hết lộ trình định sẵn nếu thích các "cò" sẽ tự ý ngang nhiên kết thúc chuyến tham quan.
Chuyện ăn uống với khách du lịch không may rơi vào tay "cò" cũng là một chuyện đáng nói. Không cần biết khách du lịch có đồng ý hay không, các "cò" cũng vẫn ung dung tấp đò vào các quán ăn đã được móc nối sẵn. Giá cả ở đây thì, khách du lịch dù chỉ ăn những món thật bình dân thì cũng phải mất từ vài trăm nghìn cho đến bạc triệu.
Thành phố Mỹ Tho là một trong những điểm du lịch của Tiền Giang hiện nay có nhiều "cò du lịch" hoạt động nhất. Từ những điểm du lịch như Ngã ba Trung Lương, chùa Vĩnh Tràng cho đến đoạn đường 30 tháng 4, Vườn Hoa Lạc Hồng, nơi nào cũng tấp nập các cò du lịch, vẫy tay mời gọi.
Đi du lịch là tìm lấy niềm vui và thư giãn sau những ngày làm việc mệt nhọc, nên đi như thế nào để chuyến đi của mình thật sự là một chuyến đi vui vẻ và đầy thú vị là một chuyện rất cần thiết, Khách du lịch khi du lịch qua những điểm tham quan trên cần lưu ý không nên nghe những lời mời gọi lôi kéo ngọt ngào với những dich vụ tham quan giá rẻ, hãy từ chối đúng lúc để chuyến du lịch không phải là một cực hình và cũng không phải vác vào người những bực bội vì bị lừa.

am thuc tien giang

Hủ Tiếu Mỹ Tho
Hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, Phở Bắc, bún bò Huế…ở chỗ không ăn với xà lách, rau ghém mà dùng giá sống, chanh ớt, nước tư ơng.
Điều làm nên hương vị riêng khiến cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên sáu mư ơi nhờ sự hoàn thiện từ khâu hạt gạo làm ra cọng bánh tới nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trừ danh đất Mỹ Tho như : Phánh Ký, Nam Sơn, Tuyền Ký, cùng các lớp thợ nấu sau này.
Nhiều người cho biết, hủ tiếu ngon nhất phải làm bằng loại gạo Gò Cát (đặc sản như Đào). Đây là vùng trồng lúa thơm địa phương của xã Mỹ Phong, ngoại thành Mỹ Tho. Cũng cần nói thêm, gạo Gò Cát làm bún, bánh tráng, bánh nghệ nức tiếng Mỹ Tho hơn 40 năm nay. Như ng hủ tiếu ngon phải là bánh khô, khi nấu trụng sơ nước sôi, lư ợm mỡ hành phi, cọng trong bóng, bắt mắt

Sam biển Gò Công

Ngoài các loại cá tôm thiên nhiên ưu đãi, ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Ðông (Tiền Giang) có đặc sản khá hiếm: sam biển. Với hình thù lạ mắt: vỏ cứng như mai cua, mình tròn dẹt, đường kính độ gang tay, tám chân càng nhỏ dưới bụng, phần đầu là mũi nhọn ba cạnh rất linh hoạt dài cỡ 20 cm.
Khoảng từ tháng 10 cho tới tháng 2 âm lịch, sam bắt cặp phối giống và sau đó sam cái mang bụng đầy trứng nhỏ như hạt tiêu đợi ngày sinh nở. Gió chướng thổi về, người dân ven biển chúng tôi sáng sớm đi dọc bờ thỉnh thoảng vẫn bắt được những cặp sam tấp mé.
Ăn sam trứng phổ biến nhất là món nướng. Ðốt bếp than gáo dừa, đặt ngửa sam rồi trở đều tới khi chín vàng, mùi thơm đặc biệt lan xa. Chuẩn bị sẵn bưởi chua tách múi, củ cải thái nhỏ ngâm giấm, rau thơm gồm húng cây, răm, đậu phộng rang đập giập, hành phi, nước mắm chanh, tỏi, ớt. Lật ngửa con sam nóng hổi, tách yếm bỏ ruột, dùng dao bén rạch bụng sẽ thấy trứng đầy ắp, vàng ươm bắt mắt. Phần thịt sống lưng và sát đuôi dai, ngọt. Người ta bảo thịt sam có tác dụng chữa hen suyễn. Dùng muỗng nhỏ múc trứng vào chén riêng, thêm gia vị tùy thích. Trứng sam béo, thơm, nhiều đạm, ngon miệng và rất bổ dưỡng. Nếu chưa muốn ăn ngay thì phơi sam vài buổi nắng cho khô nước rồi treo giàn bếp để dành, lúc cần nướng lên ăn vẫn thơm ngon. Người ta còn đốt cháy vỏ sam, giã nhuyễn trộn với dầu dừa, dùng thoa ngoài da trị dị ứng (ngứa, nổi mày đay...). Có người luộc chín sam, gỡ trứng phi mỡ hành trộn gỏi, giữ nguyên vỏ sam và sơn dầu bóng dùng trang trí nhà chơi. Sam chặt miếng to nấu canh chua với bạc hà, rau nhút hoặc đậu rồng, rau om lai rai lít rượu nếp là đúng điệu.
Có dịp về Gò Công để thưởng thức món sam trứng, bạn sẽ có một ấn tượng

khó quên!

The end


Diện tích: 2.095km2
Dân số (2001): 5.378.100 người
Các quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, quận Tân Bình (nay là quận Tân Phú và Quận Bình Tân, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, quận Gò Vấp.
Các huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, và huyện Bình Chánh
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Chăm, Khmer
Thổ nhưỡng: Đất của thành phố chủ yếu là phù sa cũ và phù sa mới tạo lập nên.
Sông ngòi: Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có hàng trăm sông ngòi, kênh rạch nhưng sông lớn không nhiều, lớn nhất là sông Sài Gòn mà đoạn chảy qua thành phố dài 106km. Hệ thống đường sông từ thành phố Hồ Chí Minh lên miền Đông và xuống cc tỉnh miền Tây, sang Campuchia đều thuận lợi.
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông của cả miền Nam bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hng không. Từ thành phố đi Hà Nội có quốc lộ 1, đường sắt thống nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông Dương. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách trung tâm thành phố 7km, là sân bay lớn nhất nước với hàng chục đường bay quốc tế.
Khí hậu: hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm1.979mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,550C, không có mùa đông. Hoạt động du lịch thuận lợi suốt 12 tháng.
Khu vực hành chính toàn thành phố có 23 quận, huyện. Nội thành có các quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, quận Bình Tân, quận Tân Phú, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Thủ Đức và quận Gò Vấp. Ngoại thành có các huyện Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và huyện Bình Chánh. Toàn thành phố có 303 phường, xã, thị trấn.
Lịch Sử
Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất mới. Tính từ khi địa danh Sài Gòn được ghi vào sổ sách năm 1698 thì đến nay thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập được 300 năm. Vào đầu năm Mậu Dần (1698), Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh Chúa Nguyễn vào kinh lý vùng đất phía Nam. Ông đã thành lập phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (sau này trở thành một đô thị lớn của Việt Nam). Vùng đất Nam bộ lúc đó còn ít người, dinh Phiên Trấn chỉ có huyện Tân Bình, còn dinh Trấn Biên chỉ có huyện Phước Long. Năm 1772, lũy thành Bán Bích được xây dựng. Năm 1790, thành Bát Quái ra đời. Đó là một thành lũy vào loại lớn nhất ở phía Nam. Năm 1859, thực dân pháp đánh chiếm Nam bộ, thành Gia Định thất thủ. Từ năm 1862 một phương án quy hoạch thành phố với 500 ngàn dân được phê duyệt. Thống đốc quân sự người Pháp là Bonard chia tỉnh Gia Định thành 3 phủ, mỗi phủ có 3 huyện, dưới huyện có tổng, dưới tổng có xã. Sài Gòn lúc bấy giờ vừa là tỉnh lỵ của Gia Định, vừa là phủ lỵ của phủ Tân Bình, vừa là huyện lỵ của huyện Bình Dương; còn chợ Lớn là huyện lỵ của huyện Tân Long, cùng phủ Tân Bình. Năm 1864, Chợ Lớn được tách ra khỏi Sài Gòn (về phương diện địa bn) vì là thành phố của người Hoa đang trên đà thịnh vượng.

Từ đây dáng dấp một đô thị theo kiểu phương Tây thế kỷ 19 đã dần hình thành theo hai trục Bắc – Nam và Đông – Tây. Thành phố đã hình thành những trục đường lớn có ngã tư, ngã năm, ngã bảy. Nhà nhiều tầng bằng gạch, xi măng cốt thép, quảng trường, bến cảng, công viên… lần lượt ra đời.
Do vị trí địa lý và những yếu tố đất đai, khí hậu thuận lợi, vùng đất này sớm trở thành nơi hội tụ của các thương nhân bốn biển, năm châu. Cảng Sài Gòn được thành lập từ năm 1862. Các tàu buôn của người phương Tây và các nước lân cận đã tấp nập cập cảng Sài Gòn và họ cũng rất quen thuộc các địa danh: chợ cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Kho, chợ Rẫy, chợ Bến Thành, chợ Sài Gòn. Từ lâu, Sài Gòn đã được ca ngợi là “Hòn ngọc của Viễn Đông”.
Cuối thế kỷ 19 (ngày 15-3-1874) Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn. Sài Gòn thực sự trở thành một đô thị với hàng loạt công trình lớn được xây dựng theo kiểu phương Tây với những công sở, trung tâm thương mại, công nghệ dịch vụ, giao thông. Đầu thế kỷ 20, Chợ Lớn sát nhập vào Sài Gòn, thành phố trở thành đô thị lớn nhất Đông Dương.
Thành phố Hồ Chí Minh là một địa danh lịch sử, nơi mở đầu cho cuộc kháng chiến anh dũng chống quân xâm lược Pháp và là nơi kết thúc thắng lợi quá trình giành độc lập của dân tộc Việt Nam với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30-4-1975.
Kỳ họp thứ nhất ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa VI nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh.
Tiềm Năng Du Lịch
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất nước, thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Sở dĩ như vậy vì ngoài cơ sở hạ tầng khá tốt, giao thông tương đối thuận tiện, thành phố là một nơi có tài nguyên du lịch phong phú. Nơi đây là một vùng đất gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc kể từ khi thực dân Pháp đặt chân lên Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (1911). Gắn liền với sự kiện đó, cảng Nhà Rồng và Bảo Tàng Hồ Chí Minh là một di tích quan trọng, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Các di tích cách mạng khác như địa đạo củ chi. Hệ thống các bảo tàng, nhà hát, nhà văn hóa, các công trình kiến trúc thời Pháp là những điểm du lịch hấp dẫn. Gần đây thành phố đã đầu tư nhiều khu du lịch như Thanh Đa, Bình Quới, nhiều khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Kỳ Hòa, công viên Nước, suối Tiên,… đã thu hút và hấp dẫn du khách. Hiện nay, thành phố đang tiến hành tôn tạo các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc cổ, đầu tư cho hệ thống bảo tàng, khôi phục nền văn hóa truyền thống kết hợp với tổ chức các lễ hội, khôi phục văn hóa miệt vườn, làng hoa để phát triển một cách vững chắc ngành du lịch của thành phố.
Văn Hóa – Lễ Hội
Với gần 300 năm hình thành và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên…), hệ thống các nhà thờ tổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức…). Nhìn chung, một trong những đặc trưng văn hóa của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn – Gia Định, nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là “cơ cấu kiến trúc” Việt – Hoa - châu Âu. Một nền văn hóa kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc của người Việt với những nét đặc sắc của văn hóa phương Bắc và phương Tây.
Có thể nói Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hóa của Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố này là nơi phổ biến báo quốc ngữ đầu tiên, là nơi ra báo quốc ngữ đầu tiên của cả nước. Sự ra đời và phát triển phong phú của sách, báo, trường học, của đội ngũ trí thức và văn nghệ sĩ, của các hoạt động và giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật… đã tạo cho Sài Gòn từ lâu là một thành phố có ảnh hưởng lớn về văn hóa đối với cả nước.
Những lễ hội lớn ở thành phố Hồ Chí Minh là lễ hội tưởng niệm, ghi công các anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…. Hàng năm được tổ chức trọng thể vào mùa xuân.
Đặc biệt vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch) cả thành phố tưng bừng dự lễ hội giỗ tổ Hùng Vương, dâng hương bái vọng về đền Hùng (tỉnh Phú Thọ).

Ngã Tư Bảy Hiền:
Ngày xưa vào thời chúa Nguyễn có mot người cũng từ Quảng Nam vào khai phá tại nay và mở một quán nằm trên đường Quang Lộ để khách qua đường ghé qua, quán phục vụ ăn uống và rất nổi tiếng. Tên của quán là bảy hiền. Như vậy, tại ngả tư bảy hiền có tên từ đó đến nay. Nay là vùng đi đầu trong việc phát triển vấn đề nhà ở cho dân cư rất nổi tiếng.
Tuy nhiên, do sự phân chia gần nay thành 2 quận: Tân Bình Và Tân Phú. Tân Bình trước khi chia ra là nơi có dân số đông nhất trong tất cả các quận trong thành phố và cả nước nói chung. Và đặc biệt là dân số nhập cư vào tân bình là rất lớn nên chia làm 2 quận
Đầm Sen:
Là 1 trong 2 khu du lịch nổi tiếng ở trong nước. Đầm sen xưa vốn nằm trong khu vực chiến trường giữa pháp và việt nam (1859) và những năm sau đó. Trong Đầm Sen có dựng bia để kỷ niệm; nay là nơi chiến đấu giữa 2 lực lượng Pháp-Việt trong lần đầu tấn công vào thành Gia Định (1859) và sau đó mở rộng ra thì lực lượng ta đã kịp ứnmg cứu và chiến đấu tại nay. Ơ đây, ngày xưa có nhiều sen mọc và hoang vu nên người ta khai thác thành khu du lịch rất nổi tiếng. Thành phố Hồ Chí Minh có 2 khu du lịch nổi tiếng là: Đầm Sen Và Suối Tiên bởi vì có thể nói mảnh đất Sài Gòn là nơi hội tụ củ cư dân về nay sinh sống và điều kiện kinh tế cũng rất dễ dàng nên từ đó nhu cầu vui chơi giải trí rất lớn.
•Đường Hùng Vương
Ngày 18-04-1997 Thủ Tướng Chính Phủ đã thông qua dự án nâng cao mở rộng đường Hùng Vương, đoạn từ nút giao thông Phú Lâm đến ngã ba An Lạc.
Với chiều dài 5.500m và kinh phí xây dựng 266 tỷ đồng (trong đó phải đền bù giải tỏa hết 161 tỷ đồng). Đoạn nút giao thông Phú Lâm đến mũi tàu Phú Lâm là 1.600m, lộ giới xây dựng 40m, mặt cắt ngang với 8 làn xe chạy. Đoạn từ mũi tàu Phú Lâm đến ngã ba An Lạc dài 3.900m, lộ giới xây dựng 48m, gồm 8 làn xe chạy.
Ngày 14-04-1997 UBND thành phố đã chấp nhận cho Công Ty dịch vụ Thành Phố Hồ Chí Minh Invero thuộc lực lượng Thanh niên xung phong, phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức, khảo sát định mức nhà cửa, kiến trúc hai bên đường. Con đường này với tổng chiều dài là 6.845m.
Công viên Phú Lâm:
Nằm ngay mũi tàu Phú Lâm, được xây dựng năm 1988 với nhiều khu vui chơi giải trí, nhà hàng. Trước đây là bãi đổ gỗ xúc, đổ rác, việc cải tạo thành công viên làm sạch và xanh thêm cho thành phố.
Vòng xoay Phú Lâm:
Đây là cửa ngõ nối các tỉnh miền Tây với Tp.HCM. Chính vì vậy mật độ lưu thông xe cộ rất cao nên thường diễn ra tình trạng kẹt xe. Để giải quyết vấn đề này, UBND thành phố đã quyết định xây dựng nút giao thông này vào ngày 10/12/1994 và hoàn thành vào ngày 27/12/1995. Tổng kinh phí xây dựng là 67 tỉ, do công ty TNHH Lê Phan và công ty thương mại xây dựng Gia Định thi công. Nếu đi thẳng về miền Tây còn rẽ phải đi Lê Minh Xuân (Phật Cô Đơn ).
Tượng đứng trên ngay vòng xoay Phú Lâm đó là tượng Lê Lợi, người có công đặt nền tảng đầu tiên và các vua Lê sau đó đã tiếp tục củng cố. Người đã có công đánh đuổi giặc Minh xâm lược và cũng trong thời kỳ này Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết bài “Bình Ngô Đại Cáo” trịnh trọng tuyên cáo nền độc lập của nước nhà, “Bình Ngô Đại Cáo” là án thiên cổ hùng văn có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập lần hai.
Chợ An Lạc:
Đây là chợ đầu mối chuyên về các loại ngũ cốc nhất là gạo và các loại nông sản. Chợ được xây dựng vào năm 1978, lúc đầu có 2 điểm: một ở khu phố 2 thị trấn với 5000m2 và hai ở khu phố 3 với 2000m2.
Năm 1980 chợ được dời về khu phố 6 thuộc thị trấn An Lạc. Năm 1991-1992 chợ được nâng lên 10.000m2.
Chợ An Lạc cũng là nơi cung cấp cho thành phố hàng ngày từ 70-80 tấn thịt các loại và từ 30-40 tấn gạo.
Tháng 11/1997 công ty xây dựng Bình Chánh và tập đoàn BOURBON (Pháp) đã kí hợp đồng xây dựng công ty TNHH Thương mại dịch vụ siêu thị An Lạc với diện tích 10 ha.
Bến xe miền Tây:
Nằm trên trục đường 1A đi các tỉnh miền Tây, đây là một trong ba bến xe lớn nhất của thành phố. Từ đây, chúng ta có thể đi đến bất cứ tỉnh nào của đồng bằng sông Cửu Long. Bến xe hoạt động 24h/24h phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.
Ngày 3 tháng 2 năm 1992 UBND Thành Phố Hồ Chí Minh quyết định chuyển Bến Xe Miền Tây thành đơn vị hoạt động theo Doanh Nghiệp nhà nước, bình quân có từ 500 đến 600 đầu xe phục vụ cho 14.000 đến 15.000 lượt khách hàng ngày. Năm 1997 nhân kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ Bến Xe Miền Tây đã xây dựng và bàn giao 3 căn nhà tình nghĩa với tổng số tiền trên 60 tỉ đồng do cán bộ CNV đóng góp, đồng thời phụng dưỡng thường xuyên các bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Huyện Bình Chánh:
Là xã thuộc Tổng Long Hưng tỉnh Chợ thời Pháp thuộc sau thuộc Quận Bình Chánh do Mỹ Nguỵ lập ở Tỉnh Gia Định, nay là Huyện Thuộc Thành Phố Hồ Chính Minh. Cách trung tâm Thành Phố 22 Km.
Ngày 26 tháng 2 năm 1966 Quân Giải Phóng chặn đánh một tiểu đoàn lính Mỹ càn quét xã Bình Chánh, diệt gọn một đại đội lính Mỹ, tiêu hao nặng một đại đội lính Mỹ khác, giết và làm bị thương 200 tên, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng.

Là một trong những huyện ngoại thành của Thành Phố, nằm trên trục đường chính đi từ Thành Phố ra các Tỉnh Miền Tây, nhân dân ở đây sống bằng nghề nông và chăn nuôi heo, gà, vịt.
Nhà nước khuyến khích nông dân ứng dụng qui trình VAC để tăng thu nhập. Vườn ao chuồn có nghĩa là trên miếng đất thổ cư người nông dân đào ao nuôi cá như cá trê, cá chép, cá chấm cỏ…họ xây dựng các chuồng heo gần ao cá ngoài ra họ còn trồng rau muống, rau lang cho heo ăn, khi dọn dẹp vệ sinh chuồng heo, thức ăn rơi vãi của heo cùng phân sẽ là thức ăn cho cá đồng thời là nguồn phân bón cho rau xanh, cây ăn trái sau mỗi lứa heo, mỗi đợt bán cá là lợi tức bù đắp công sức lao động.[/size][/size]

Xa lộ Đại Hàn:
Sau tổng tấn công và nổi dậy vào tết Mậu Thân năm 1986, Mỹ hoảng sợ và đã cho xây dựng đường vành đai để bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Sài Gòn, để ngăn cách Sài Gòn và quân dân Cách Mạng ở Hóc Môn – Củ Chi.
Xa lộ đại Hàn được xây dựng từ năm 1969-1970, do công ty của Mỹ thiết kế và do công binh của Đại Hàn xây dựng. Từ đó có tên là Xa Lộ Đại Hàn.
Xa lộ Đại Hàn dài khoảng 40km, rộng 16km bắt đầu từ ngã ba trạm hai đến ngã ba An Lạc. Hiện nay từ ngã ba trạm hai đến ngã tư Bình Phước gọi là đường Trường Sơn, từ trạm hai đến ngã ba An Lạc nay gọi là QL 1A.
QUỐC LỘ 1A
Quốc lộ 1A còn là con đường huyết mạch xuyên suốt từ Bắc tới Nam và là con đường chính của nước ta dưới triều Nguyễn. Nhà Nguyễn dùng con đường này để liên lạc ba xứ Bắc – Trung – Nam.
Con đường này lúc bấy giờ được chia ra làm nhiều trạm, mỗi trạm có nhiều nhà trạm và phu trạm lo việc công văn, đồ đạc của quan lại. Để phục vụ cho việc liên lạc nhanh chóng, Vua cấp cho mỗi trạm vài con ngựa, công văn chuyển đi được niêm phong rất kỹ. Chính nhờ con đường này mà sự lãnh đạo của triều đình Huế đã đến mọi miền đất nước kịp thời góp phần tạo sự bền vững cho nhà Nguyễn trong suốt 150 năm.
Quốc lộ 1A hệ thống giao thông hết sức quan trọng của cả nước, nối liền từ Bắc vào Nam, là cầu nối hai khu vực kinh tế: Vùng ĐBSCL và vùng Đông Nam Bộ và những địa phương khác trong cả nước. Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 3.000km đi qua các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Nhà máy sản xuất phân bón Bình Điền:
Là nơi nghiên cứu và sản xuất các loại phân bón cung cấp cho các đồng ruộng của các Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Cầu Bình Điền:
Đây là con rạch quan trọng ăn thông với rạch Bến Lức ra sông Vàm Cỏ Đông, từ rạch này có thể theo kênh Tàu Hủ đi qua cầu Bình Điền chúng ta sẽ gặp sông chợ đệm vì phía dưới ngày xưa chuyên môn bán Đệm, là trung tâm thương mại trên tuyến sông vì ngày xưa du lịch bằng đường sông là chủ yếu, tải hàng từ Sài Gòn-Chợ Lớn xuống miền Tây hay miền Tây đi lên đều ghé qua chợ Đệm nên nó là trung tâm thương mại vào TK XVIII-XIX; Thế nhưng cuối TK XIX khi Pháp chiếm nước ta thì khu vực chơ Đệm này mất vai trò.

Chợ Đệm cũng là một di tích CM nổi tiếng vì tại chợ Đệm này lực lượng khởi nghĩa năm 1945 đã họp để quyết định làm cuộc CMT8 tại Sài Gòn ngày 25-8-1945 thành công. Người chủ trì CMT8 là ông Trần Văn Giàu nguyên là bí thư Xứ Ủy Nam Bộ (để ghi nhớ những đóng góp của ông cho dân tộc nên đã có giải thưởng nghiên cứu mang tên Trần Văn Giàu; ông là người đầu tiên còn sống được nhận vinh dự này).
Bến Cầu này là cơ sở bán cát xây dựng lấy từ sông chợ Đệm, nhà máy phân bón Bình Điền.
Cầu này bị sập lúc 22h 30 ngày 31/3/1998 do một xà lan chở cát va đập vào chân cầu, gây chấn động lớn.
Chợ Đệm:
Nằm cách cầu Bình Điền 500m. Trước đây giao thông đường bộ chưa phát triển, từ các tỉnh Miền Tây lên Sài Gòn chủ yếu bằng đường thủy. Chợ Đệm là cửa ngõ thành phố nơi ghe thuyền từ các nơi đổ về chờ con nước lớn thuận tiện để đi vào Gia Định. Từ thế kỷ 19 chợ Đệm là khu phố khá phát triển.
Năm 1883-1885 thực dân Pháp cho lập tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho và đặc biệt đầu thế kỷ XX tuyến đường bộ về Miền Tây được xây dựng (tuyến đường sắt ngưng hoạt động vào năm 1958) nên chợ Đệm chỉ giữ vai trò chủ yếu trở thành một chợ nhỏ, nằm ở ngã ba sông đầu cầu đúc đường đi xã Tân Kiên.
Chợ Đệm là nơi xứ ủy Nam Kỳ tổ chức ba hội nghị liên tiếp ngày 14 đến ngày 24-08-1945 để quyết định những vấn đề quan trọng cho cách Mạng Tháng Tám giải phóng Sài Gòn.
Năm 1989 sinh hoạt ở chợ Đệm trở nên tấp nập hơn nhờ sự hiện diện của nhà máy xay sát của công ty lương thực Thành Phố với công suất 600 tấn lúa/ngày. Đây là nhà máy hiện đại phục vụ cho việc sản xuất lúa gạo, hiện nay nhà máy ngưng hoạt động do lượng gạo ở Miền Tây không chuyển lên.
Chợ Đệm hiện nay là trung tâm của huyện Bình Chánh; khi đất nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo thì chợ Đệm này cũng nổi tiếng vì tại đây có 1 người phụ nữ anh hùng lao động của chúng ta, chị Nguyễn Thị Ráo tức chị Ba Thi đã mở nhà máy khai thác gạo xuất khẩu các mặt hàng đan lát và đặc biệt là đệm phục vụ cho nông nghiệp tiêu dùng nhân dân.
Tại sao gọi là chợ Đệm? Trước đây khu vực này chuyên sản xuất các mặt hàng đan lát, đặt biệt là phục vụ cho nông nghiệp tiêu dùng của nhân dân. Hiện nay mặc dù là chợ nhỏ nhưng dân ở đây vẫn còn sản xuất những mặt hàng đan lát, ở gần chợ Đệm có cơ sở đan lát rất lớn.
Đại Lộ Nam Sài Gòn:
Qua khỏi dốc Cầu Bình Điền khoảng 1,5km phía trái là ngã ba (Đại Lộ Nam Sài Gòn) mới được thành lập.
Đại Lộ Nam Sài Gòn: Bắc Nhà Bè - Nam Bình Chánh hay còn gọi là đường Bình Thuận được xây dựng tháng 6/1997. Đại lộ này chính thức thông xe vào cuối 1/1998 và cũng bắt đầu thu lệ phí cầu đường. Xa lộ Bình Thuận dài 17,8km bắt đầu từ khu chế xuất Tân Thuận đến đụng QL1. Dự kiến đường rộng 120m với 18 làn xe chạy. Đây là một dự án do liên doanh giữa tập đoàn công ty xây dựng Đài Loan và công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng với công ty phát triển công nghiệp Tân Thuận, thầu xây dựng Trung Quốc.

Tỉnh Long An

Tỉnh Long An có diện tích là: 4.338 km2,
Dân số theo tài liệu khảo sát vào ngày 01/04/1999 là: 1.306.202 người .
Tỉnh lỵ của Long An là: Thị xã Tân An. Long An gồm có các huyện: Bến Lức, cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thanh Hoá, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng. Ơ đây có hai dân tộc sinh sống chính là: Việt (Kinh) và Khmer.
Cách Thành Phố Hồ Chí Minh 47km, Long An là cửa ngõ của Đồng Bằng Sông Cửu Long, phía Bắc giáp Tây Ninh và nước Campuchia, phía Đông Giáp Thành Phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp Tiền Giang và phía Tây giáp Đồng Tháp. Là một tỉnh nông nghiệp, đất Long An màu mỡ trải ra hai triền sông của hai con sông lớn: sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây. Ở phía Bắc tỉnh có một số gò, đồi thấp, còn lại thì bằng phẳng. Phần đất phía Tây thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười.
Long An có một mạng lưới sông, ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Thực ra Long An chưa phải là Đồng Bằng Sông Cửu Long mà chỉ là đồng bằng sông Vàm Cỏ giữa hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long.
Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 27,4oC, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 1.620 mm/năm.
Long An đông dân, chủ yếu là người Việt (kinh) và đồng bào gốc Khmer ở phía Tây. Long An có 4 tôn giáo đông người theo là đạo Phật, Kitô giáo, đạo Cao Đài, đạo Tin Lành.
Long An hấp dẫn du khách chủ yếu do giá trị nhân văn của nền văn hoá Óc Eo, một nền văn hoá đã hình thành và phát triển trên châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 6 sau công nguyên do tiếp nhận tinh hoa văn hoá An Độ. Gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hoá Oc Eo đã được phát hiện với 12.000 hiện vật đã thu thập. Ngoài ra Long An có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, công trình kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng như: cụm di tích Bình Tả (Đức Hoà), di tích lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức (thị xã Long An), di tích đồn Rạch Cát, ngôi nhà trăm cột...
Những năm hạn hán nhân dân tại các vùng sản xuất nông nghiệp của Long An thường tổ chức cầu mưa, tế lễ trời đất, mong thần linh ban cho mưa xuống. Lễ cầu mưa có hai phần: phần lễ theo nghi thức lễ truyền thống và phần hội là các cuộc đua ghe trên sông rạch, cũng có nơi làm lễ rước rồng.
Sau khi đua ghe, dân chúng kéo về đình làng làm lễ cúng thần linh và tổ chức ăn uống vui chơi.
Gò Đen
Gò Đen thuộc xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Thị tứ đầu tiên của huyện Bến Lức, nơi nổi tiếng rượu đế. Ở hai bên đường của khu vực này có bày bán rất nhiều dựng trong những can nhựa. Có hai giả thuyết nói đến Gò Đen.
Giả thiết thứ nhất: Vùng này trước kia người ta nuôi vịt nhiều tối lại họ thường đốt đèn trên Gò để coi vịt, thế thì người đi qua lại trên đường thấy có ánh sáng lấp lánh gọi đó là Gò Đêm hay còn gọi là Gò Đen.
Giả thiết thứ hai: Nơi đây vốn nổi tiếng là rượu đế. Trước đây vào thời thuộc Pháp cấm nấu rượu đế, không cho sản xuất ra loại rượu nếp nhưng nhân dân ta trốn lén lên Gò cao, nơi có những lùm cây rậm rạp, tối tăm để mà nấu cho ra loại rượu rất ngon. Từ đó có tên rượu Gò Đen.
Cách nấu rượu đế Gò Đen* :
Rượu ở đây có nồng độ rất cao từ 450 – 550, có mùi thơm, cay và nồng… người dân ở đây nấu rượu bằng nếp lứt có thể bằng gạo hay củ mì…
Trước hết đem khoảng 8kg gạo nấu thành cơm rồi để 2 giờ cho cơm nguội đi, sau đó đem ủ men vào những khạp tương, để khoảng 4 – 5 ngày rồi đem chưng cất lên, qua một hệ thống đường ống cho ra sản phẩm rượu nguyên chất, với số lượng gạo như trên thì có thể cho ra từ 5 – 7 lít rượu ngon. Rượu có thể dùng để ngâm thuốc uống…
Cầu Bến Lức:
Cầu dài 429m bắt qua sông Vàm Cỏ Đông.
Nhìn về phía bên trái còn cây cầu cũ là cầu của đường xe lửa ngày xưa, hiện nay dùng làm đường địa phương là một trong những chiếc cầu quan trọng của sông Vàm Cỏ Đông. Bến Lức là một huyện đầu tiên của Tỉnh Long An cách Thành Phố Hồ Chí Minh 40Km. Người dân khai thác cát dưới dòng sông để làm vật liệu xây dựng.
Đi dọc bờ sông khoảng 10 Km dẫn đến Vàm Nhật Tảo một phụ lưu ở hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông là nơi Nguyễn Trung Trực chỉ huy đoàn quân nghĩa dũng đốt chiếc tiểu hạm “Hy vọng" của Pháp vào ngày 10/12/1861. Cầu Bến Lức bắt ngang qua Sông Vàm Cỏ Đông.
Sông Vàm Cỏ Đông:
Bắt nguồn từ Campuchia, sông Vàm Cỏ Đông chảy qua nước ta qua tỉnh Tây Ninh, rồi vào Long An làm thành biên giới thiên nhiên của hai huyện Đức Hoà, Đức Huệ, qua các huyện Bến Lức, gặp sông Vàm Cỏ Tây ở huyện Cần Đước, rồi đổ ra cửa Xoài Rạp. Sông dài 270Km, riêng đoạn chảy qua đất Long An dài 140 Km, độ rộng trung bình 170m, nơi hẹp nhất 20m, nơi rộng nhất từ Bến Lức ra biển là 120m. Đoạn cuối lòng sông rộng trên 1km.
Vàm Nhật Tảo:
Nơi đây ngày 10/12/1861 người anh hùng xuất thân từ nghề chài lưới Nguyễn Trung Trực đã chỉ huy nghĩa quân đốt cháy chiến hạm Lorcha thuộc đoàn tàu Espérauce gây chấn động lớn vì đầu tiên nghĩa quân Việt Nam đánh đắm tàu Pháp với trang thiết bị hiện đại.
Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch (1838-1868) ở làng Bình Nhật-tỉnh Gia Định (nay là xã Bình Đức -huyện Bến Lức - Long An ). Năm 1861 ông tham gia lực lượng kháng chiến chống Pháp, sau khi đồn Chí Hòa thất thủ ông về Long An dưới sự lãnh đạo của Trương Định cùng nghĩa quân chống Pháp. Khi 3 tỉnh miền Đông mất ông ra Bình Định nhận chức lãnh binh, đến năm 1867 ông về Hà Tiên giữ chức thành thủ úy. Đêm 16/6/1868 ông chỉ huy đánh đồn Rạch Giá và làm chủ trận thế trong 5 ngày sau đó rút ra Phú Quốc. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, nghĩa quân bị thiếu lương thực, ốm đau nên ông đã tự ra nộp mình và bị giải về Sài Gòn, giặc nhiều lần dụ hàng nhưng ông khẳng khái nói “Khi nào nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh Tây”.
Ngày 27/10/1868 Pháp đã hành hình ông tại Rạch Giá. Nho sĩ Huỳnh Mẫn Đạt đã có bài thơ điếu:

“ Hỏa hồng Nhật Tảo kinh thiên địa
Kiếm lạt Kiên Giang khắp quỷ thần ”

Lăng Mộ Nguyễn Huỳnh Đức – Di tích kiến trúc nghệ thuật
Tên thật là Huỳnh Tường Đức (1748-1819), ông là một danh tướng của Nguyễn Ánh, ông có công giúp Nguyễn Ánh nên đã được nhà vua ban Quốc Tín đổi theo họ vua là Nguyễn Huỳnh Đức. Ông là người Long An, làm quan ở triều đình nhà Nguyễn ba đời Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Khi ông trăm tuổi già thể theo yêu cầu và nguyện vọng của Ông là mang hài cốt chôn ở quê nhà thị xã Tân An - tỉnh Long An.
• Đặc điểm bên đường đi:
- Qua cầu Tân An khoảng 150m, bên trái là bưu điện tỉnh Long An, trước đây là công viên, kế có đường đi vào thị xã Tân An.
- Phải có thánh thất Cao Đài.
- Tới ngã tư ngay góc đường bến xe Long An, rẽ trái đi vào sân vận động Long An rẽ phải đi vào Mộc Hóa (75km).
- Phía trước bên phải là nhà Thờ, tới nữa là Bào Tàng Long An nơi trưng bày rất nhiều di vật quý, trong đó còn có thẻ bài của nhà Vua ra lệnh rút 500 ngàn quân và những di tích cổ của nền văn hóa Óc Eo được khai thác ở Bình Tả (Đức Hòa) Tân Thạnh, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa.
Ngôi nhà 120 cột:
Thuộc xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước cách thị xã Tân An 150km.
Ngôi nhà làm bằng gỗ quý như cẩm lai, gỗ đỏ. Được xây dựng trên 100 năm với vẻ cổ kính, kiến trúc độc đáo, chạm khắc tinh vi trong trang trí nội thất. Đây là tác phẩm của 15 người thợ tài hoa miền Bắc .
Đồn Rạch Cốc:
Là một trong những đồn to nhất Việt Nam, được xây dựng năm 1903.
Chiều dài 300m, ngang 100m, có 5 tầng (3 tầng chìm, 2 tầng nổi), tường dày 60-100mm làm cho các gian hầm luôn luôn mát lạnh. Đứng trên nắp hầm, bên những khẩu pháo 105mm ta có thể ngắm nhìn cảnh đẹp của vùng sông nước Gò Công.
Vườn hoa kiểng Thanh Tâm:
Nằm tại trung tâm thị xã Tân An. Là vườn hoa kiểng phong phú về chủng loại như hoa kiểng, bonsai…. Có loại trên 100 tuổi và nhiều cây đã đoạt huy chương vàng hội hoa xuân.
Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười:
Ngược sông Vàm Cỏ Tây, thuyền du lịch sẽ đưa chúng ta đến trung tâm Đồng Tháp Mười. Đây là vùng du lịch sinh thái đặc trưng của vùng trũng Nam Bộ, cách Tân An 50km (thuộc huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Thạnh Hóa, Tân Thạnh). Nơi đây với những đầm sen rộng lớn, từng đàn ong mật bay lượn quanh những đóa sen, ngoài ra còn có các động vật qúy hiếm đang được bảo vệ như cò, sếu, rùa, rắn…. Quý khách có thể thưởng thức các món ăn như: canh chua bông điên điển, gỏi ngó sen, cá lóc nướng trui…
Vài nét về cây thanh long:
Cây thanh long thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc ở Mêhicô, Columbia. Đặc điểm của cây thanh long là thích hợp với khí hậu nóng, chịu hạn tốt, và trồng được ở nhiều loại đất. Cây thanh long có ở nhiều nơi nhưng có nhiều nhất là ở miền Tây và miền Trung.
Đầu năm 1980, cây thanh long bắt đầu được chú ý đến và đến năm 1990 nó được trồng nhiều ở miền Trung và miền Tây.

Cây thanh long ở miền Trung có giá trị xuất khẩu cao. Cây thanh long được trồng theo trụ gỗ, người ta cột nhánh thanh long vào trụ gỗ cho nó bám vào. Người ta chặt khoảng từ 3 đến 4 nhánh cắm chung vào 1 trụ gỗ, khoảng một năm bắt đầu có trái bói (trái đầu tiên). Năm thứ ba trở lên cho năng suất cao. Đến năm thứ 6 thì năng suất giảm dần. Nếu chăm sóc kỹ có thể thu hoạch nó trên 10 năm, mùa có trái từ tháng 4 đến tháng 11.
Thanh long nghịch mùa:
Có một người nuôi vịt tình cờ mắc bóng đèn để đề phòng kẻ trộm hái thanh long, không ngờ các trụ thanh long có treo đèn lại cho trái sớm hơn các trụ khác. Và từ năm 1995 những người trồng thanh long đã áp dụng phương thức này để có kết quả tốt. Nhiều gia đình giàu lên nhờ áp dụng phương pháp này và cho ra những trái vụ, bán với giá cao. Tên xuất khẩu của thanh long là Red Dragon.
Nhà máy nước khoáng Lavie:
Thuộc xã Khánh Hậu – thị xã Tân An – tỉnh Long An
Đây là nhà máy đầu tiên kinh doanh về loại hình nước khoáng rất thành công, mặc dù có rất nhiều nhãn hiệu nhái nhưng nó vẫn đứng vững trên thị trường. Đây là nhà máy theo công nghệ của Pháp đầu tư tại Tân An.
Cầu Tân Hương:
Cầu là ranh giới của tỉnh Long An – Tiền Giang.
Rời khỏi Long An ta đặt chân đến một tỉnh mới đó là tỉnh Tiền Giang.[/size]

Thủ Khoa Huân ( vị anh hùng dân tộc):
Thủ Khoa Huân tên tộc là Nguyễn Hữu Huân, tại làng Tịnh Hà, phủ Kiến Hưng, tỉnh Định Tường cũ. Nay là xã Mỹ Tịnh An-huyện Chợ Gạo-tỉnh Tiền Giang.
Năm 1852, dưới thời vua Tự Đức, ông Đậu Thủ Khoa (đứng đầu cử nhân). Sau đó, ông được cử làm giáo thụ (một chức quan trọng coi việc học) ở phủ Kiến Hưng.
Năm 1861 ông cùng Thiên Hộ Dương phát động khởi nghĩa, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn, từ Tân An đến Mỹ Tho, gây tiếng vang lớn toàn Nam Kỳ. Đầu năm 1862, bị giặc đánh úp, Ông bị bắt giải về Sài Gòn. Ở đây, chúng dùng quyền tước, bổng lộc dụ dỗ, mua chuộc ông, nhưng ông kiên quyết từ chối, ít lâu sau ông trốn thoát trở về kháng chiến.
Đầu năm 1863, Thủ Khoa Huân lại cùng Thiên Hộ Dương chiêu mộ nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa lần thứ 2. Hai ông đã liên kết với Trương Định, hình thành mặt trận chống Pháp trải từ Gò Công, Bình Cách, Thuộc Nhiêu đến Đồng tháp Mười. Sau khi căn cứ ở Thuộc Nhiêu bị bao vây càn quét, Ông chuyển về hoạt động ở An Giang. Giặc Pháp vô cùng lo ngại, gửi tối hậu thư cho quan tỉnh An Giang buộc phải nộp Thủ Khoa Huân cho chúng. Giặc pháp đưa ông về giam tại Sài Gòn. Chúng hứa sẽ cho ông tồn quyền chọn 1 chức quan tại bộ máy của chúng, ông lại từ chối; chúng kết án ông 10 năm tù khổ sai và đày ra đảo Réunion thuộc Đông Nam Châu Phi.
Sau 7 năm tù ông được giặc Pháp ân xá cho ông về nước trước hạn tù 3 năm nhằm lung lạc ý chí kháng chiến của ông; nhưng giặc đã lầm.
Năm 1873, ông bí mật trở về An Giang khởi nghĩa lần thứ 3, trong lần khởi nghĩa này dân chúng theo ông rất đông. Địa bàn hoạt động trải dài từ Cai Lậy (Mỹ Tho) đến Mỹ Qùi (Sa Đéc).
Đầu năm 1875, sau thất bại ở trận Bình Cách-Nguyễn Hữu Huân sa vào tay giặc 15-5-1875 chúng đưa ông về giam ở ngục Mỹ Tho. Chúng lại mua chuộc; Ông thản nhiên bảo: “việc lớn không thành, đó là do trời định. Nay bị bắt, thà chịu tử hình, chứ không tham tước lộc”.
Biết không lay chuyển được ông, ngày 19-5-1875 ông bị chém đầu ở thôn Tịnh Hà.
Đền Thờ Thủ Khoa Huân Cách Xã Tân Lý Tây 3 Km
(Ngày 1-6 Là Ngày giỗ Của Ông)
Tỉnh Tiền Giang

ĐỊA LÝ TIỀN GIANG

Diện tích: 2.484,2 km2.
Dân số (2006):1.717.400 người.
Tỉnh lỵ: thành phố Mỹ Tho.
Thị xã: thị xã Gò Công.
Các huyện: huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Tây, huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phước.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Tày...

Tiền Giang là phần đất của hai tỉnh: tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công cũ, phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Đông giáp với cửa Soài Rạp và biển Đông, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre. Thành phố Mỹ Tho cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km.
Khí hậu Tiền Giang chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng năm là 27oC, lượng mưa trung bình 2.300 mm/năm. Các sông chính: sông Tiền, sông Gò Công, sông Bảo Định và một mạng lưới kênh đào thuận lợi cho giao thông đường thủy.
Từ Tiền Giang có thể đi thành phố Hồ Chí Minh hoặc sang Phnôm Pênh bằng đường sông. Đường bộ chính của Tiền Giang là Quốc lộ 1A, chạy xuyên qua các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Là tỉnh đồng bằng, địa hình Tiền Giang chia thành ba vùng rõ rệt: vùng cây trái ven sông Tiền, vùng Đồng Tháp Mười và vùng ven biển Gò Công. Tiền Giang có 31 km bờ biển, hàng năm đánh bắt rất nhiều cá và hải sản; đất đai phì nhiêu, là một trong những vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long. Tiền Giang là nơi hội tụ đủ loại sản vật và hoa trái nổi tiếng như mận hồng đào Trung Lương, vú sữa Vinh Kim, xoài cát, cam sành, ổi xá lỵ Cái Bè...
Tiền Giang có hệ thống khách sạn, nhà hàng đầy đủ tiện nghi, nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng của miệt vườn vùng sông nước Cửu Long.
Trước giải phóng vốn là 2 tỉnh: Định Tường và Gò Công, sau giải phóng ta sát nhập 2 tỉnh lại và đặt tên là Tiền Giang; Tân Hiệp là trung tâm của Tiền Giang ngày xưa thời chúa Nguyễn.
Trên mảnh đất này cũng có 2 vị đệ nhất phu nhân đó là vợ Ông Nguyễn Văn Thiệu và vợ Bác Tôn Đức Thắng; ngoài ra còn có bà Từ Dũ. Trên mảnh đất này cũng nổi tiếng về đờn ca tài tử để rồi từ đó chuyển qua cải lương và gánh hát ông Nguyễn Tấn Triệu đã được mời sang Pháp biểu diễn năm 1920. Đến năm 1920 cũnh tại Mỹ Tho - Tiền Giang đã nảy sinh ra loại hình ca kịch cải lương đầu tiên, đó là gánh thầy Năm Tứ. Ngoài ra ở đây cũng có những truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm rất nổi tiếng như: huyện Châu Thành có chiến thắng Rạch Rầm - Xoài Mút; trận đánh của Quang Trung đại phá quân Xiêm…
Huyện Châu Thành:
Châu tức châu thổ, là vùng đất. Thành là thành thị. Những vùng đất ở gần thành thị được gọi là Châu Thành. Nơi này được xem là cái nôi của vùng đất Vĩnh Kim, nơi ở của nhân vật rất giỏi hiện đang công tác giảng dạy tại Việt Nam đó là giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê. Ông là thế hệ thứ tư của người sáng lập ra đoàn hát có tên Đông Ngữ Ban, ca tài tử cải lương của đoàn hát Nam Bộ.
Thị Trấn Tân Hiệp:
Khu vực này có tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đi ngang qua (tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho bắt đầu hoạt động từ năm 1858, đến năm 1950 tuyến đường sắt này ngưng hoạt động do điều kiện kinh tế đất nước và chiến tranh nên người ta không sử dụng con đường này nữa, vả lại khi đó tuyến giao thông đường bộ khá phát triển).
Ngã Ba Trung Lương:
Sỡ dĩ có tên gọi như vậy bởi vì trước đây nơi này là Trung tâm di chuyển lương thực của đồng bằng sông cửu long lên Tp.Hồ Chí Minh và một số nơi khác.
Tại ngã ba Trung Lương: nếu đi thẳng là vào Thành Phố Mỹ Tho và rẽ phải đi theo quốc lộ 1A về hướng các tỉnh miền Tây.
Nhà hàng Trung Lương
Địa chỉ: ngã ba Trung Lương-Thành Phố Mỹ Tho-Tiền Giang.
ĐT: 073.855441-855754 Fax:856323.
Đây là nhà hàng thuộc công ty du lịch Tiền Giang có diện tích khoảng 1.200ha xây dựng năm 1987 trên khu vườn xoài bên bờ Bảo Định Giang, ngay ngã ba Trung Lương và trong một khuôn viên rộng lớn, ngoài 6-7 gian để phục vụ khách, mỗi gian có khoảng 100 khách (10 người/1bàn), còn có khung cảnh thiên nhiên thoáng mát với những hàng hoa kiểng đẹp mắt.

Bên cạnh, còn có một ao nuôi cá và vài con thú nhỏ rất ấn tượng làm ta cảm thấy gần thiên nhiên hơn nữa. Tại đây khách đến quanh năm như là: Nhật, Đài Loan, Hồng Kông…và khách vãng lai như Pháp, Mỹ, Đông Âu… nhà hàng còn có hệ thống thực đơn đa dạng khoảng 20 món, các món ăn là đặc sản Miền Tây như: cá tai tượng chiên xù, gà xôi chiên phồng, rắn, rùa… hợp khẩu vị với nhiều thực khách, thêm vào đó là cách trình bày đẹp mắt gây ấn tượng tốt với khách. Các món ăn tại nhà hang
Điểm tâm sáng: hủ tiếu + nước: 18.000đ/phần
Cơm phần: 6 món ( gà, xôi, cá, tôm, lẩu, một món mặn, tráng miệng): 70.000đ/phần
Tôm giá 200.000->350.000đ/kg với các món nướng hấp gỏi tôm
Cá tai tượng giá 80.000đ với các món chiên, xào,hấp, chưng
Lươn giá 150.000đ/kg với các món nướng, hầm xã, nấu cháo.[/size]

Tại sao vùng này có tên là đồng bằng sông Cửu Long?
Theo giả thuyết: sông này có tên là sông Cửu Long vì : Sông này bắt nguồn từ Tây Tạng (cao hơn 5000m so với mực nước biển); trải qua Trung Quốc, Lào, Campuchia và đổ vào Nam Bộ. Sông có tên khác là MêKông (dài 4220km) phiên âm từ tiếng Lào là Mè Khoỏng, nghĩa là “sông Mẹ”. Khi chảy qua lãnh thổ Việt Nam theo 9 cửa (9 đầu rồng): trong đó chảy vào sông Tiền là 6 cửa (cửa Tiểu; Cửa Đại; Cửa Ba Lai; Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên; Cửa Cung Hầu); sông Hậu 3 cửa (Cửa Định An, Tranh Đề Và Bát Xác). Nên gọi là Cửu Long
Đây là vùng đất hình thành do sự bồi đắp của Sông Mê Kông đây cũng là vùng châu thổ lớn nhất nước.
Đồng Bằng sông Cửu Long ngày nay thuộc vương quốc Phù Nam ngày xưa, vương quốc Phù Nam có một phần lãnh địa thuộc đồng bằng sông Cửu Long vào đầu công nguyên.
Phù Nam là vương quốc rất hùng mạnh và thời kỳ cường thịnh nhất của vương quốc này khỏang từ thế kỷ thứ III -> thế kỷ V bắt đầu triều đại Phạm Sự Nan khoảng từ năm 205 đến 255.
Vương quốc Phù Nam phát triển chính trên địa bàn vùng hạ lưu và châu thổ sông Cửu Long.
Phù Nam là tên gọi theo cách phát âm Founan của người Trung Hoa, vị vua đầu tiên của người Phù Nam được biết đến đầu tiên trong lịch sử là Hỗn Điền. Theo truyền thuyết vị vua nay rất tôn sùng các vị thần BaLaMôn. Một hôm ông nằm mơ thấy các vị thần BaLaMôn trao cho mình một cây cung và truyền lệnh xuất dương trên một thương thuyền lớn. Sáng hôm sau ngài vào đền thờ làm lễ và thấy cây cung ở dưới gốc cây, bèn dong bườm ra biển, gió thần đưa thuyền đến vùng đất tại đây có một nữ vương tên Liễu Diệp, trẻ, khỏe, không khác gì con trai nổi danh trong các cuộc chinh phục các quốc gia láng giềng. Vị nữ quân thấy thuyền lạ liền xua quân ra định đánh cướp nhưng bị Hỗn Điền bắn một phát tên thần xuyên thũng mạng thuyền đến tận chỗ Liểu Vương đứng, trúng một tên quân. Liễu Diệp hoảng sợ xin hàng phục. Sau đó họ lấy nhau rồi cai trị xứ sở nay lập nên vương quốc Phù Nam .
Trong thời kỳ hưng thịnh họ khống chế nền thương nghiệp hàng hóa cả miền Đông Nam A và tự xưng là “Phù Nam Đại Vương “. Sử liệu còn ghi lại mối quan hệ ngọai giao và thương mại giữa Phù Nam với Trung Hoa, Ấn Độ. Nhờ tài nguyên phong phú và nhờ vào vị trí trung gian trên con đường hàng hải Ấn –Trung mà Óc Eo được coi là thành phố cảng của Phù Nam đã sớm trở thành một thị trấn quốc tế .
Giai đọan cuối của lịch sử Phù Nam trùng hợp với sự phát triển của Chân lạp. Mâu thuẩn giữa hai thế lực này dẫn đến sự sụp đỗ của vương quốc Phù Nam vào thế kỷ thứ 6 (theo tài liệu cổ Trung Hoa, vương quốc Phù Nam bị Chân lạp xâm chiếm vào khoảng năm 550 nhưng vẫn còn chống giữ đến năm 627). Sau khi bị Chăm Pa xâm chiếm Phù Nam chia làm hai quốc gia Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp (một phần thuộc ĐBSCL). Thủy Chân Lạp nằm gần bờ biển, vùng ĐBSCL; Lục Chân Lạp thuộc vùng đất cao chính là Campuchia ngày nay .
Từ thế kỷ 7 đến TK10 vùng đất này bị nhấn chìm trong lũ lụt, chỉ còn vài gò đất nổi lên. Từ khoảng TK 10-17 người Việt, Khmer đến định cư vì thế nơi đây hình thành nên nhóm dân tộc chính là người Kinh, Khmer, Chăm, Hoa với nền văn hóa đa dạng. Đồng thời trong thời gian này các tôn giáo được truyền bá và phát triển như đạo phật, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa …
Năm 1808 vùng đồng bằng sông Cửu Long, được người Pháp chia như sau :
-Trấn Định Tường: gồm Phủ Kiến An, 3 huyện Kiến Đăng, Kiến Hưng và Kiến Hòa .
-Trấn Hà Tiên: gồm các địa danh còn lại trong vùng .
-Năm 1832, Pháp phân Nam Kỳ ra làm lục tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đến thời điểm này vùng ĐBSCL có 4 tỉnh là: Định Tường (Tiền giang) An Giang , Vĩnh Long và Hà Tiên (Cần Thơ , Hà Tiên , Cà Mau) .
-Năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam Bộ ( Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Tường )
-Năm 1867, Nam Kỳ Lục Tỉnh được chia làm 20 tỉnh. Trong đó ĐBSCL có 14 tỉnh: Bạc Liêu, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Trà Vinh, Bến Tre, Gò Công, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá, Tân An .
-Từ 1955 –>1975 ĐB sông MêKông chia làm 17 tỉnh: Kiên Giang, Sa Đéc, Ba Xuyên (Bạc Liêu ), Vĩnh Bình, Kiến Tường, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Châu Đốc, Định Tường, Bạc Liêu, Gò Công, An Giang, Long An, Long Xuyên, Kiến Phong .
-Năm 1975 đến 1990 ĐBSCL có 9 tỉnh, Hậu Giang, Tiền Giang, An Giang, Long An, Bến Tre, Kiên Giang, Cửu Long, Đồng Tháp, Minh Hải.
-Năm 1991 tỉnh Cửu Long tách thành Trà vinh và Vĩnh Long.
-Năm 1992 Hậu Giang tách thành Cần Thơ và SócTrăng.
-Nắm 1997 Minh Hải tách thành Cà Mau và Bạc Liêu.
-Hiện nay vùng ĐBSCL có 13 tỉnh thành: Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Tp Cần thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang.
-Diện tích ĐBSCL: 40.000km2 chiếm khoảng 1/8 cảnước
-Dân số 19.5 triệu dân (2003) chiếm khoảng 1/4 dân số cả nước
2-Vị trí địa lí-khí hậu-đất đai sông ngòi:
2.1-Vị trí địa lí:
• Đông nam giáp biển Đông.
• Đông bắc giáp đông nam bộ.
• Tây bắc giáp campuchia.
• Phía tây giáp Vịnh Thái Lan.
• Độcao trung bình thấp: từ 0 – 2m.
2.2-Khí hậu đất đai biển:
Khí hậu phù hợp cho sự phát triển của thực vật. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 260C . Có ngày cao khoảng 330C.
Đất phù sa, diện tích khoảng 1.800.000ha, đất phù sa là do sông Hậu và sông Tiền bồi đắp.
Ngoài ra còn có đất ven sông pha màu hơi đỏ, đất mặn đất phèn, đất than bùn.
Rừng nước mặn ven biển chiếm diện tích 30.000ha. Đứng thứ 3 trên thế giới với những cây nổi tiếng như : cây mằm đen, cây đước, cây vẹt, cây đà, sú, bàn…
2.3-Sông ngòi:
Đây là vùng có hệ thống sông ngòi khá chằng chịt. Đồng thời nó cũng là yếu tố giúp cho vùng phát triển kinh tế nông nghiệp. Hệ thống sông ngòi chính của ĐBSCL là sông Hậu và sông Tiền là hai nhánh của sông Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc).

Lịch Sử Hình Thành Nền Văn Minh Miệt Vườn ở Tiền Giang
Tiền Giang có những tiếp cận với nền văn hóa Ấn Độ, Khơ Me, Trung Quốc qua người Hoa, Hồi giáo qua người Chăm. Tất cả đều được liên kết một cách phong phú trong nền văn hóa Việt Nam.
Ngay từ thế kỉ 18, phố chợ Mỹ Tho đã là nơi buôn bán nổi tiếng, ghe thuyền ở các ngả sông, biển đến đậu đông đúc làm thành một đô hội rất phồn hoa huyên náo.
Mỹ Tho là tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang hình thành vào năm 1679. Ngày nay còn dấu vết một khu thương mại cổ nằm trên đường Nguyễn Huỳnh Đức, thuộc phường 2 và phường 8. Hồi ấy gọi là Mỹ Tho đại phố. Năm 1791, đại phố này được xây dựng lại.
Đây là khu phố do chính người Việt người Hoa Minh Hương, cánh Dương Ngạn Địch lập nên. Mỹ Tho Đại phố là một trong ba trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ vào giữa thế kỷ 17 và Mỹ Tho Đại Phố, Nông Nại Đại Phố (Cù Lao Phố ngày nay ở Biên Hòa) và Hà Tiên.
Vào 3 thế kỷ trước, Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh dẫn quân từ Nam Vinh (Phnôm Pênh ngày nay) ghé qua cù lao Cây Sao và sau đó, trên đường về đất Đồng Nai, khi qua Rạch Gầm (sách cũ gọi là Sầm Khê) thuộc huyện Kiến Đăng, đất Mỹ Tho xưa thì bị bạo bệnh, trút hơi thở cuối cùng. Tên Rạch Gầm là do xưa kia cọp rất nhiều cọp thường hay kêu gầm nên một thời được gọi là Rạch Cọp Gầm, về sau người ta bỏ tiếng cọp, còn gọi là Rạch Gầm. Đây là nơi nổi tiếng với những trận đánh ác liệt trong kháng chiến chống Pháp thời nhà Nguyễn và chiến thắng của Tây Sơn đập tan đoàn quân xâm lược Xiêm thời chúa Nguyễn.
Ba sông chính chảy qua Tiền Giang: sông Tiền, Gò Công, Bảo Định đã bồi đắp phù sa, biến đất đai vùng này trở nên phì nhiêu. Giữa sông Tiền lộng gió, nổi lên một hòn đảo nhỏ, có tên Cù Lao Thới Sơn, cây ăn trái xum xuê. Là miệt vườn nổi tiếng của xứ sở cây trái Nam Bộ và sản vật trà mật ong thanh nhiệt thật thơm ngon.
Nằm ở đoạn sông Tiền, giáp ranh giữa ba tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, chợ nổi Cái Bè sầm uất từ lâu là điểm mưu sinh quen thuộc của người dân vùng sông nước Cửu Long. Hàng ngày có khoảng 400 thuyền lớn chở đầy hàng hoá neo hai bên bờ chờ thương lái. Trên sông, hàng trăm thuyền nhỏ xuôi ngược như mắc cửi, buôn bán rộn ràng.
Vùng sông nước này củng là điểm du lịch hấp dẩn Du lịch Tiền Giang tham gia du lịch Du lịch miệt vườn, hay Du lịch vào mùa nước nổi. Tiền Giang còn có nhiều địa điểm lý thú như: Chùa Vĩnh Tràng, Trại rắn Đồng Tâm, và cả Khu du lịch sinh thái Thới Sơn.
Vùng đất của hai nhánh sông và gần biển này có nhiều món ngon mà hiếm nơi nào có được như: Sam biển Gò Công, Cá bống dừa, Bánh giá chợ Giồng, Hủ tiếu Mỹ Tho, Bún gỏi già Mỹ Tho, Chuối quét dừa , ...
Tiền Giang cũng có những lễ hội đặc trưng như: Hội Vàm Láng, Hội tứ kiệt.

Đôi nét về tỉnh tiền giang
Diện tích : 2367 Km2
Dân số : 1.649.300 người (2002)
Mật độ : 727 người/Km2
Tỉnh lỵ : Thành phố Mỹ Tho cách TP.Hồ Chí Minh 71 km theo quốc lộ 1A
Có một thị xã và 7 huyện
+Một thị xã : GÒ CÔNG
+Bảy huyện : Cái Bè , Cai Lậy , Châu Thành , Chợ Gạo , Gò Công Đông , Gò Công Tây , Tân Phước
Dân tộc : Kinh , Hoa….
_ Là phần đất của hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công cũ
_ Phía bắc giáp Long An
_ Phía tây giáp Đồng Tháp
_ Phía đông giáp với cửa Soài Rạp và biển Đông
_ Phía nam giáp Bến Tre
Khí hậu Tiền Giang có hai mùa rõ rệt , đó là mùa mưa và mùa khô . Nhiệt độ trung bình là 27 độ C , lượng mưa trung bình là 2300 mm/ năm
Các sông chính là sông Tiền , sông Gò Công , sông Bảo Định và một mang lưới kênh đào thuận lợi cho giao thông đường thủy . Từ Tiền Giang có thể đi TP. Hồ Chí Minh hoặc Phnôm Pênh bằng đường sông .Đường bộ chính là quốc lộ 1A chạy xuyên qua cac tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
Là tỉnh đồng bằng , địa hình Tiền Giang chia thành ba vung rõ rệt là vùng cây trái ven sông Tiền ,vùng Đồng Tháp Mười và vùng ven biển Gò Công . Tiền Giang có 32 km bờ biển , hàng năm đánh bắt rất nhiều cá và hải sản , đất đai phì nhiêu , là một trong những vựa lúa lớn của Đồng Bằng Sông Cửu Long . Là nơi hội tụ đủ loại sản vật và hoa trái nổi tiếng như : mận hồng đào Trung Lương , vú sữa Vĩnh Kim , xoài cát , cam sành , ổi xá lị Cái Bè…Có hệ thống khách sạn , nhà hàng đầy đủ tiện nghi và nhiều món ăn dặc sản của miệt vườn sông nước Cửu Long
Truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc Nam Bộ , là một trong những cái nôi của ca nhạc cải lương nổi tiếng , nơi diễn ra các sự kiện lịch sử Rạch Gầm – Xoài Mút , Ap Bắc… quê hương của các anh hùng Trương Định , Thủ Khoa Huân . Có nhiều tôn giáo như Nho giáo , Phật giáo , Công giáo …
Bên cạnh những di tích tôn giáo như đền chùa , đình miếu , nhà thờ , còn giữ được nhiều di tích lịch sử , đó là các di chỉ Oc Eo , chiến lũy ,pháo đài …Có nhiều danh lam thắng cảnh như Cù lao Thới Sơn , trại rắn Đồng Tâm tạo nên bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên , đời sống vật chất và văn hóa đặc trưng của Nam Bộ

Rạch Rầm – Xòai Mút

Khu di tích được khánh thành năm 2005 để kỉ niệm 220 năm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút 20.1.1785 – 20.1.2005
Khu di tích thuộc địa phận ấp Đông , xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, Tiền Giang ,rộng gần 2 ha, hơn một nửa diện tích để xây dựng các nhà trưng bày
Trận thủy chiến diễn ra trên sông Tiền ( sông Mỹ Tho ) nay thuộc địa phận bốn xã là Kim Sơn , Thới Sơn , Song Thuận , Bình Đức của huyện Châu Thành cách Thành phố Mỹ Tho 7km
Tại đây Nguyễn Huệ đã chỉ huy đội quân từ Quy Nhơn vào Mỹ Tho. Đêm 19 rạng 20.1.1785 đã nhấn chìm hàng trăm chiến thuyền của giặc , tiêu diệt hàng van quân Xiêm và hàng ngàn tàn quân của Nguyễn Anh.
Để kỉ niệm chiến thắng vang dội đó , tại khu di tích Rạch Gầm – Xoài Mút đã xay dựng tượng đài chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút . Tượng đài cao 8 m , nặng 20 tấn bằng đồng màu với ba nhân vật : ở giữa là vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ tay đang vuốt gươm , bên trái là hình ảnh người nông dân Định Tường chèo thuyền hỗ trợ chiến đấu còn bên phải là hình ảnh võ công Tây Sơn giương cung bắn vào kẻ thù
Dưới chân nhóm tượng đái này là một loại hình kiến trúc dạng đền . Bên ngoài đền co dải phù điêu bằng đồng màu nặng 6 tấn phác họa lên từ hình ảnh con người và chim lạc được cách điệu từ mặt trống đồng
Cổng và tường rào của khu di tích có hình ảnh những chiến thuyền gợi cho ta có cảm giác mình đang chứng kiến cảnh thủy chiến diễn ra nơi đây
Tiếp theo du khach sẽ được tham quan nhà trưng bày số 1. Ở đây trưng bày rất nhiều hiện vật như súng thần công là hiện vật phục chế còn các hiện vật khác là nguyên bản . Trong nhà trưng bày có dải tranh ghép gốm màu với 1440 viên gạch ghép lại với nhau được nung ở nhiệt độ 1100 độ C . Dải tranh ghép cao 1.8m , với diện tích 57 m2 .Nội dung gồm 4 chương nói về quá trình khẩn hoang , lập ấp , trận thủy chiến , khúc khải hoàn. Ngoài ra còn có mang phù điêu với diện tích 13 m2 phác hoa lên từ hình ảnh chim muông và cây trái của vùng quê sông nước Tiền Giang
Ngoài ra ở đây còn có ngôi nhà cỏ Nam Bộ cất theo kiểu ba gian và hai chái . Ngôi nhà có diện tích 225 m2 , có 48 cây cột trong đó có 24 cây cột tròn và 24 cây cột vuông biểu tượng cho mẹ tròn con vuông . Ở giữa nhà có bàn thờ tổ tiên , phía trước có bộ ghế trường kỉ làm cho ta liên tưởng đến phong tục ăn coi nồi ngồi coi hướng . Ngày xưa những người lớn tuổi có thể ngồi ở đây uống trà và trò chuyện ; đặc biệt con dâu và con gái không được lên nhà trên

Trại Rắn Đồng Tâm

Sau khi dùng điểm tâm sáng, anh Nguyễn Đình Lam ,hướng dẫn viên địa phương dã dẫn đoàn đến tham quan trại rắn Đồng Tâm . Nơi đây cách Thành phố Mỹ Tho 12 km . Trại rắn thuộc địa phận xã Bình Đức huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang khoảng 3 ha.
Đây là trung tâm nuôi rắn lớn lấy nọc xuất khẩu , kết hợp trồng nhiều loại cây dược liệu và nghiên cứu chữa bệnh rắn cắn cho nhân dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long . Bên cạnh đó , nơi đây còn là một khu vườn thật đẹp – tổ ấm cho đủ các loại chim và động vật quý hiếm tại Nam Bộ ,
Trước kia đây là căn cứ quân sự của Mĩ có tên là Đồng Tâm; ngày xưa người dân thường gọi nay là vành đay trắng. Nơi nay có địa thế hiểm trở thường diễn ra những trận đánh cá liệt giữa lực lượng cách mạng và Mỹ-Ngụy. Khu căn cứ rộng 15 hecta. sau năm 1975, được bàn giao về quân khu 9, một người có tên là Huỳnh Văn Diệp tức trung tá Huỳnh Văn Diệp đã thành lập ra nơi nuôi rắn lớn nhất mi ền Nam.
Trước đây khi “ ông Tư Được “ còn quản lý thì ông đã sưu tầm được rất nhiều loại rắn và trăn. Sau khi ông mất thì người khác lên thay ông số rắn đã giảm dần. Hiện nay ở đây có khoảng 6 loài rắn như : hổ mang , hổ chúa , mái rầm , lục đầu dồ , rắn nước , rắn bông súng.
Khi ta đi thấy rất nhiều loại rắn được nuôi ở nhiều môi trường khác nhau; chẳng hạn như tại một hốc cây người ta làm một long sắt để thả một con rắn vào doing trong môi trường thiên nhiên này để rắn đẻ và ấp trứng thành con; hoặc có những khu vực được tạo ra những giống sống hoang dã và trồng rất nhiều cây cối để mà thả rắn vào sống trong môi trường thiên nhiên.
Tới nay quý khách sẽ thấy được loài rắn độc nhất là rắn hổ chúa. Trước nay, rắn hổ chúa ở nay không nhiều nhưng bay giờ thì rắn hổ chúa đã được nhân giống ra rất nhiều. Nọc độc của rắn hổ chú khi chạm vào cơ thể chúng ta thì khoảng 2 phút sau cơ thể ta hoàn toàn bị tê liệt, rắn hổ chúa có rất nhiều biệt tài là bò dưới nước hoặc leo lên cây.
Ngoài rắn hổ chúa, còn có rắn hổ mang, hổ ngựa, hổ mèo, hổ đất. Để phân biệt rắn hổ chúa và hổ mang; hổ mang có thân hình nhỏ và ngắn hơn hổ chúa và khi ngóc đầu lean nó có hình trăng tròn; còn hổ mèo thì cũng ngóc đầu và phùng mang nhưng không có hình trăng tròn mà có 2 vòng tròn nên người ta thường gọi rắn mắt kính. Nọc độc rắn hổ mang thì không bằng rắn hổ chúa. Vì vậy khi nộc độc rắn hổ mang chạm vào cơ thể thì 10-15 phút thì nọc độc mới lam truyền làm tê liệt cơ thể. Ngoài ra khi bắt mồi không can tiếo xúc trực tiếp mà có thể phun nọc độc xa 2 m.
Ta thấy rắn đầu có hình tam giác và có khoan trắng và đen là bò cạp nia
Còn loại có khoan vàng và đen gọi là bò cạp nông.
Còn loại có màu xanh lục như lá cây đó là rắn lục. Có 2 Lọai chính là: rắn lục day khuôn và rắn lục vời.
Giá thịt rắn dao động từ 35 - 40 USD/ kg , thi trường tiêu thụ ở Châu Á chủ yếu là Đài Loan , Trung Quốc , Hàn Quốc Trại rắn Đồng Tâm chủ yếu nuôi rắn lấy nọc không phải để tham quan.
Với giá vé 10. 000 đối với khách Việt Nam và 20000 đối với khách nước ngoài , du khách sẽ được vào tham quan trại rắn với các khu như :
Khu nuôi rắn và trăn ở trong nhà gồm nhiều loài trăn và rắn khác nhau . Ở đây du khách co thể quấn trăn lên mình va chụp ảnh lưu niệm
Khu ngoài sân là khu nuôi rắn ở trong khoang bể nuôi bằng bê tông với rất nhiều loài rắn
Khu phía sau la khu nuôi thú gồm nhiều loài như : công , khỉ , cá sấu , đà điểu . Đi vao đây du khách có cảm giác như đi trong sở thú . Và đặc biệt hơn nữa tại đây còn co chu ba ba vang rất quý hiếm nặng khoảng 30 kg chỉ còn hai con ở Việt Nam
Khu nhà bảo tòan rắn là nơi trưng bày hầu như đầy đu các chủng loại rắn và được ngâm trong chất phoocmon nên nhìn chúng sống động như vẫn còn sống
Tại đây du khách nên mua sắm vài sản phẩm từ rắn để làm quà cho người thân bởi hàng tốt và giá cả hợp lý:

Rượu rắn : 40.000đ/chai
Cao trăn : 600.000đ/kg
Cao rắn : 500.000đ/kg
Cao khỉ : 300.000đ/kg
Cobratax : 20.000đ/kg
Rượu rắn lục : 100.000đ/chai
Mật ong : 50.000đ/chai
Mỡ trăn : 12.000đ/lọ
Viên điều trị rắn cắn : 20.000đ/tube
Bột rắn lục : 8000đ/lọ
Bột rắn hổ : 70.000đ/lọ
Bột cù lần : 80000đ/lo

Cù Lao Thới Sơn - Cồn Thới Sơn

Nằm ở hạ lưu sông Tiền, Thới Sơn có diện tích khoảng 1.200 ha. Toàn xã Thới Sơn là một vùng chuyên canh cây ăn trái, quanh năm được phù sa bồi đắp. Theo anh Huỳnh Văn Phương, Giám đốc Sở Thương mại - Du lịch Tiền Giang, từ những năm 90 của thế kỷ trước, Tiền Giang đã chủ trương phát triển du lịch theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có tại địa phư ơng. Công ty Du lịch Tiền Giang đầu tư năm tỷ đồng xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng ở các điểm du lịch chính. Các hộ dân trong khu vực đã đóng góp mặt bằng, nhà cửa và hơn 100 chiếc đò với tổng trị giá hơn 20 tỷ đồng. Cách tổ chức du lịch theo mô hình này đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách, đồng thời huy động được vốn và các tiềm lực khác trong dân. Phát triển du lịch ở cù lao Thới Sơn góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống. Hiện nay, số hộ giàu, khá ở Thới Sơn chiếm tỷ lệ 78%, chỉ còn 2,7% số hộ nghèo.
Sự hấp dẫn, quyến rũ của Thới Sơn ở chỗ, đến mảnh đất này, người ta sẽ quên sự ồn ào, bí bức của phố phường. Khách đến Thới Sơn, xuống đò chèo xuôi theo những con rạch ngoằn ngoèo giữa hai hàng dừa nước rậm rạp, giữa hàng thủy liễu ven sông luôn nghiêng mình ngả bóng đón chào. Nếu muốn tản bộ, sẽ theo những con đường đá uốn lượn, băng qua những vườn cây trái xum xuê. Khách có thể ngồi trong những nhà vườn nhấm nháp tách trà mật ong thơm ngọt và lắng nghe đàn ca tài tử. Đêm Thới Sơn thật huyền diệu với đầy trăng, gió, sóng nước mênh mang. Khách có thể đi thuyền trên sông, ngắm trăng lên, hoặc cùng bạn ngồi đối ẩm trong tiếng ca mượt mà, sâu lắng của thôn nữ.
Những ngôi nhà của 6.000 người dân Thới Sơn vẫn giữ được nét cổ kính, nguyên sơ. Ðiểm du lịch của nhà ông Tám Cho là một tiêu biểu về kiểu nhà xưa. Ngôi nhà của ông được xây dựng với hàng cột gỗ căm xe; mỗi mái nhà có chín cây đòn tay bố trí theo thuật phong thủy: Kiên - Trừ - Mãn - Bình - Định - Chấp - Phá - Nguy - Thành. Trong nhà, cách bài trí cũng theo phong cách cổ với chiếc tủ thờ cẩn xà cừ lóng lánh, tràng kỷ chạm trổ tinh vi, cùng với đôi liễn chạm câu đối sơn son thếp vàng... Chung quanh nhà là vườn hoa cảnh với nhiều cây bon-sai được trồng tỉa công phuD9ến Thới Sơn, khách được tham quan cách làm kẹo dừa bằng phương pháp thủ công, mua những đồ mỹ nghệ, đồ dùng sinh hoạt gia đình làm từ cây dừa. Bên cạnh chương trình du lịch sinh thái, người dân Thới Sơn còn giới thiệu với khách về văn hóa ẩm thực với các món ăn: cá nướng, lẩu cá kèo, cá lóc hấp bầu, cá tai tượng chiên xù...
Năm 1995, Thới Sơn đón hơn 40.000 lượt khách, năm 1996 đón khoảng 80.000 lượt khách, năm 1997 đón 120.000 lượt và năm 2001 đón khoảng 200.000 lượt khách trong đó 65% là khách nước ngoài. Cô Lê Trang, một người kinh doanh du lịch ở Thới Sơn cho biết, Thới Sơn thu hút được khách là nhờ chương trình, sản phẩm du lịch sinh thái ngày càng đa dạng, hoàn chỉnh và cách phục vụ chu đáo. Thới Sơn đang trở thành điểm thu hút khách đến Tiền Giang.
Theo kế hoạch, từ năm 2002 đến năm 2005, Công ty Du lịch Tiền Giang tiếp tục đầu tư năm tỷ đồng để xây dựng cù lao Thới Sơn thành làng du lịch. Khách sẽ có dịp tham quan những làng nghề truyền thống với các công cụ lao động, thô sơ, được phục chế. Bên cạnh, Thới Sơn mở rộng hơn nữa các điểm du lịch vệ tinh ở các hộ dân; trồng cây ăn trái nhiều chủng loại, đủ cung cấp quanh năm cho du khách. Ðồng thời, vận động nhân dân giữ lại các dụng cụ sinh hoạt bình dị, truyền thống như: bát sành, chén đá, đũa tre, đũa dừa, bình tích đựng nước trong vỏ dừa... Thới Sơn là làng du lịch xanh đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long với vườn cây, trời nước và tấm lòng hồn hậu, hiếu khách của người dân Nam Bộ.
Từ bến phà 30-4, chúng tôi lại xuống thuyền đi thăm cồn Lân và ăn trái cây. Thuyền cập vào một bến nhỏ, anh hướng dẫn viên đưa chúng tôi len lỏi qua những khu vườn mướt xanh với đủ loại cây: sapoche, nhãn, chuối, sầu riêng... quả treo lủng lẳng.
Khác với những ngôi nhà vườn nổi tiếng ở Huế, thường là nhà vườn văn hóa, vườn ở đây là vườn kinh tế. Người dân Nam Bộ gắn bó cả đời mình với sông nước, vườn cây cũng vậy, nước sông theo các con rạch nhỏ chảy vào từng khu vườn, từng gốc cây. Người ta trồng cây theo hàng như những ô trên bàn cờ, dưới các hàng cây là hệ thống mương rạch rộng độ 5m, lan tỏa khắp vườn. Lúc triều lên nước sông chảy vào vườn khiến du khách có cảm giác cá nhảy lên cả vườn cây. Lúc triều xuống, nước lại đổ ra sông, lòng mương chỉ còn xâm xấp nước và một màu phù sa đỏ quánh. Cũng nhờ lớp phù sa này mà cây trái nơi đây quanh năm cho trái ngọt.
Chúng tôi được mời đến một khu vườn do công ty du lịch Tiền Giang bỏ vốn đầu tư nâng cấp. Nhiều khách nước ngoài đang ngồi ăn trái cây ở đó. Mùa nào thức nấy nhưng thông thường chủ vườn sẽ mời khách ăn 6 loại trái cây: thơm, chuối, thanh long, sapôchê, chôm chôm, nhãn. Khách ăn không hết, chủ vườn bỏ vào trong túi, trao lại cho khách với lời cám ơn và câu chào: "see you again" rất ngọt ngào.
Chúng tôi được mời ăn trưa trên một cù lao khác cách cồn Lân khoảng 20 phút đi thuyền, cồn Thới Sơn. Nơi đây có một garden restaurant rất đẹp. Song cái hấp dẫn tôi nhất lại không ở kết cấu của cái nhà hàng "thập nhị giác" này mà ở món cá tai tượng chiên xù và những bộ đồ bà ba trắng, đen của các cô phục vụ. Tiếp viên của nhà hàng mặc đồng phục bà ba trắng, quần lụa đen nhẹ nhàng đi giữa các hàng ghế, lúc thêm chút mắm, khi gắp ngọn rau nhút đặc sản vào bát du khách, lúc lại lúng liếng cười duyên khiến thực khách chưa ăn đã thấy ngon.

CỒN PHỤNG – ĐẠO DỪA

Chúng tôi vào cù lao Phụng để thăm "Nam quốc Phật tự" của ông tổ Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam. So với cù lao Rồng, cồn Phụng nhỏ hơn, nhưng lại được biết đến nhiều hơn bởi nơi này có di tích của Đạo Dừa. Theo lời thuyết minh của anh hướng dẫn viên, đây là một tôn giáo quái chiêu do Nguyễn Thành Nam, một con cờ chính trị mắc chứng hoang tưởng tự cao - một dạng của bệnh tâm thần phân liệt, sáng lập năm 1963. Sinh thời, Nguyễn Thành Nam (sinh năm 1909) học hành không mấy giỏi giang nhưng được gia đình cho qua Pháp học theo lối mà ngôn ngữ hiện đại gọi là du học tự túc. Ông ta đã học tập ở nước Pháp không phải để thành nhân tài mà để thành một "vị thánh". Sau khi về nước, Nguyễn Thành Nam tu luyện 10 năm ở Thất Sơn (An Giang). Đến năm 1963 thì tới miệt Mỹ Tho, leo lên cồn Phụng, xây "Nam quốc Phật tự" và sáng lập ra Đạo Dừa.
Đạo Dừa chủ trương chuyên ăn cùi dừa và uống nước dừa để tồn tại và hành đạo. Đó là một sự kết hợp của Phật giáo, Thiên Chúa giáo, rồi Cao Đài... Lúc đông nhất có đến 3.600 tín đồ. Nguyễn Thành Nam còn dụng chữ Dừa theo biến âm của phương ngữ Nam Bộ nghĩa là Vừa (ví như: Cầu, Dừa, Đủ, Xoài - tức là Cầu vừa đủ xài) để cho rằng tôn giáo do ông ta sáng lập sẽ làm vừa lòng tất cả mọi người. Ông ta cho dựng trên cồn Phụng một ngôi chùa, kết hợp nhiều trường phái kiến trúc khác nhau. Trước chùa cho đúc Cửu đỉnh bằng ximăng gắn sành sứ (thực ra chỉ có một đỉnh mà thôi), rồi gắn ảnh của mình vào, tự nhận là người có công thống nhất đất nước, kế vận hưng nghiệp của vua Minh Mạng (1820 - 1841).
Nguyễn Thành Nam còn cho xây một sân chầu với những hàng cột vẽ rồng sặc sỡ. Cuối sân có một động nhỏ, nơi "Phật tổ" Nguyễn Thành Nam đến giảng kinh. Sau động là một tòa sen nằm trong lồng cầu và hai cột xi măng, ở bai bên tượng trưng cho Sài Gòn và Hà Nội. Hằng ngày, Nguyễn Thành Nam chui vào quả cầu, ngồi lên tòa sen rồi sai đệ tử kéo lên cao. 12 giờ trưa, ông ta "nhập thế", bằng cách ra khỏi lồng đi đến hai bao lơn đặt trên hai cột ximăng tượng trưng cho Sài Gòn và Hà Nội. Đi từ bên này sang bên kia, Nguyễn Thành Nam cho rằng ông ta đã thống nhất được tổ quốc.
Ông ta còn cho làm mô hình phi thuyền APOLLO bằng... tôn, trèo vào trong đó, biểu đệ tử kéo lên... vũ trụ để thỉnh thị thánh chỉ của Ngọc Hoàng. Lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ở vào thời kỳ ác liệt, Nguyễn Thành Nam tổ chức hoạt cảnh hòa bình để mị dân. Ông ta thuê người, chia làm hai phe mặc áo quần của quân giải phóng và quân đội Sài Gòn rỗi bắn nhau tá hỏa... bằng súng giả. Đang lúc cuộc chiến căng thẳng, thây người "chết" chất đầy một... sân chầu thì "Phật tổ" Nguyễn Thành Nam giáng thế bằng cách "hạ thổ" từ tòa sen, để đến cứu vớt những sinh linh.
Phía trong sân rồng có công trình cửu đỉnh, nếu nhìn từ trên xuống ta sẽ thấy cửu đỉnh được xây theo lối ngủ hành âm dương. Nếu nhìn kỷ sẽ thấy một con rồng đứng ở giữa có đuôi hình vuông ; hình vuông tượng trưng cho tứ tượng, những con rồng còn lại đứng trên bệ có hình tam giác. Hai cây cột phía sau tượng trưng cho lưỡng nghi đó là âm dương hợp lại. Điểm khác của con rồng trung tâm là đuôi có được thiết kế phía sau, còn những con xung quanh thiết kế phía trước. Đây là biểu tượng của rồng đực ; hiện thân của ông Đạo Dừa và những con rồng cái là những cô gái xung quanh ông đạo Dừa.
Xung quanh Cửu Đỉnh còn có một số hình ảnh như ; Long, Lân, Quy, Phụng, Mai, Lan, Cúa, Trúc và một số cảnh về Tiên Ong, Bát Tiên. Ngoài ra còn có hai cái quai nâng hai con rồnglên tượng trưng cho vua chúa. Cửu Đỉnh được đặt trên thần Kim Quy đang ngậm thanh kiếm thần hướng về Bến Tre. Ngụ ý là ông Đạo Dừa vừ kết nối với lịch sử với thời vua lê để thần Kim Quy mang thanh gương về Bến Tre để ông trị vì thiên hạ.
Vậy là chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Con người với những triệu chứng tâm thần đó đã được chế độ cũ bật đèn xanh để mị dân chúng. Lúc ông còn sống ông đạo dừ muốn khi qua đời thì hài cốt của ông sẽ được rãi trong Cửu Đỉnh nhưng khi ông qua đời thì những tín đồ đã mang hài cốt của ông ang táng tại phần mộ của gia đình. Đặc trưng của ngươì theo Đạo Dừa là mặc áo nâu sẫm và để một búi tóc cao quấn quanh đầu.
Đạo Dừa không cò kinh riêng. Mà là tất cả các kinh của đạo phật, thiên chúa giáo và cao đài. Một năm đạo có 3 ngày lễ vào 3 ngày rằm lớn, chứ không có ngày lễ nào đặc trưng của đạo giáo
Hiện nay có một số người tu đạo này nhưng tu lại gia chứ không lập chùa chiền để tu.
Ngoài ra tại đây còn được trưng bày nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ trái dừa . Du khách đến đây tham quan khu sản xuất bánh kẹo dừa và thưởng thức kẹo dừa .
Chúng ta có thể quan sát được quy trình làm keọ dừa như sau :
_ Thành phần lam kẹo dừa gồm : 50% dừa
25% đường
25% mạch nha
_ Và các thành phần phụ như ca cao , đậu phụng , lá dứa , sầu

Chùa Vĩnh Tràng

Du khách đến Mỹ Tho mà không thăm chùa Vĩnh Tràng là một điều thiếu sót. Đây là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến trc tiu biểu ở Nam Bộ. Cha tọa lạc trn mảnh vườn cây ăn trái rộng gần 2 hecta, thuộc làng Mỹ Hóa, nay là x Mỹ Phong, bn con rạch Bảo Định hiền hịa nước ngọt quanh năm.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, chùa vốn là một thảo am do ông Tri Huyện Bùi Công Đạt phát nguyện xây cất để di dưỡng tinh thần sau khi về hưu. Ông thỉnh Hịa thượng Từ Lâm ở cha Bửu Lm về trụ trì. Sau khi ơng Bi Cơng Đạt qua đời, Hịa thượng Huệ Đăng d vận động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự với tên Vĩnh Tràng, hoàn thành vào mùa hè năm Canh Tuất (1850).
Lúc đầu mang tên LÀ Vĩnh Trường (sư muốn ngôi chùa mãi mãi trường tồn và vĩnh cửu theo thời gian) nhưng do nhiều ngươì miền Nam đọc trại đi thành Vĩnh Tràng. Kế vị trụ trì là hoà thượng Thích Thiện Đề. Khi ngài viên tịch thì ngôi chùa hương khói lạnh tanh. Năm 1890, bổn đạo đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu thỉnh hòa thượng Quảng An-Chánh Hậu về trụ trì. Năm 1895, ngài đã tồ chức xây lại ngôi chùa. Chùa hư hỏng nặng vì trận bão năm 1905. từ năm 1907->1911, này đã khuyến giáo tín đồ đóng góp công của đại trùng tu ngôi chùa và mời điêu khắc gia Tài Công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc các tượng trong chùa. Hòa thượng Chánh Hậu gốc người Minh Hương, sinh năm 1852 tại làng Điều Hòa tỉnh Định Tường cũ. Năm 1897, ngài quy y thọ giới với hòa thượng Thích Minh Phước tại chùa Bửu Lâm. Ngài được cử làm thủ thượng tọa chùa sắc tứ linh thou từ năm 1880, trụ trì chùa vĩnh tràng từ năm 1890 và đã thường xuyên mở các lớp gia giáo để đào tạo tăng tài. Ngài viên tịch năm 1923. hòa thượng Tâm Liễu –An Lạc(tức Minh Đàng, thế danh Lê Ngọc Xuyên) kế tục, cho xây cổng Tam Quan, mặt tiền chánh điện và nhà tổ.

Chùa trải qua bốn lần trùng tu: lần trùng tu thou 1 vào năm 1907, hòa thượng Chánh Hậu đã trùng tu và tôn tạo lại mặt chùa. Mặt tiền chánh hậu được xây doing theo lối kiến trúc á, âu; lần trùng tu thứ 2 vào năm 1930; lần trùng tu thứ 3 là 1990; lần trùng tu thứ tư là 2004. hiện nay đang được trùng tu lần nữa.
Trước cửa chùa có cổng tam quan rất tráng lệ do tốp người Huế thực hiện năm 1933 với sự tài trợ về kinh phí của 2 ông Hùynh Trí Phú và Lý Văn Quang. Cổng giữa làm bằng sắt theo kiểu Pháp; 2 cổng bên làm bằng xi măng vươn cao như 2 tòa lâu đài cổ, được ghép tòa những mảnh sành sứ tạo nên những bức tranh với màu sắc hài hòa, minh họa sự tích nhà phật, truyện tích nhân gian và các đề tài Tứ Quý, Tứ Linh, hoa lá…tầng lầu thượng của cổng Tam Quan có vòm cửa rộng, bên phải đặc tượng hòa thượng chánh hậu, bên trái đặt tượng hòa thượng Minh Đàng. Cả 2 tượng này đều đắp bằng xi măng giống như tượng thật, do điêu khắc gia Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.
Mặt tiền chùa vĩnh tràng trang trí theo kiểu kết hợp đặc điểm kiến trúc cả Á, lẫn Âu. Ơ nay có những hoa văn theo thời phục hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt Ấn Độ, gạch men nhật bản…những câu ngữ Hán viết theo lối thể chữ truyện cổ kính xen với chữ quốc ngữ viết theo lối chữ Gô-Tích. Từ xa trông vào du khách có thể hình dung ngôi chùa như đền Ăngkor có năm tháp. Theo truyền tụng của nhân dân địa phương thì hòa thượng Minh đàn và ông quỳnh trí phú từng du học sang xứ chùa tháp nên tiếp thu được cái trong kiến thức ngôi chùa tên đó, kết hợp với kiến trúc phương tây.
Tượng có nhiều tay nhiều mắt gọi là chuan đề bồ taut, vị này là hiện thân của quan thế âm bồ taut có nhiều tay, nhiều mắt để cứu độ chúng sinh: nhiều mắt để thấy được nổi khổ của chúng sinh
Trong chùa có chuông đồng một tấn do vua Tự Đức cho kinh phí đúc, chuông được làm sau năm giáp dần


Ngày Giỗ Đình Vĩnh Tràng:
 18-1 Hòa Thượng Huệ Đăng™
 17-3 Hòa Thượng™Pháp Tràng
 1-5 Hòa Thượng Tú Long™
 21-6 Hòa Thượng Minh Đàn™
 30-7™Hòa Thượng Trà Chánh Hậu.
Ngòai ra, các ngày giỗ ra còn các ngày: thượng quân (15-1), trung quân(15-7), hạ quân(15->10). Đặc biệt ngày 15-4 Am Lịch còn có ngày lễáng sanh của Phật Thích Ca.
Ở chánh điện có các bao lam được chạm trổ công phu, trong đó có bộ phù điêu Bát Tiên cỡi thú do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào khoảng năm 1907 - 1908. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng Phật như A-di-đà, Thích-ca, La-hán và tượng các vị Bồ-tát. Hai bên bàn thờ là tượng chân dung Hịa thượng Chánh Hậu và người kế pháp là Hịa thượng Minh Đàn. Các Hịa thượng Huệ Đăng, Chánh Hậu, Minh Đàn đều thuộc Thiền phái Lâm Tế.
Bộ tượng cổ nhất ở chùa Vĩnh Tràng là bộ Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) bằng đồng. Tiếc rằng tượng Quan Âm đ bị thất lạc từ lu. Sau ny Hịa thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Tượng Ngọc Hoàng cũng bằng đồng, to gần bằng người thật, cùng phong cách với tượng Già Lam, Đạt-ma ở chùa Bửu Lâm. Khác với thông lệ xưa nay, Ngọc Hoàng ở đây không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên. Thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.
Hai bên tường chánh điện là bàn thờ Thập điện Minh Vương. Đặc biệt ở đây có bộ Thập bát La-hán là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân ở Nam Bộ đ tạc vào năm 1907 theo sự chỉ đạo của Hịa thượng Chánh Hậu. Bộ tượng này bằng danh mộc, mỗi tượng cao khoảng 0,80m, bề ngang 0,58m, được đặt hai bên điện Phật gọi là sáu căn : mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý; ở ba thời: qu khứ, hiện tại v vị lai. Cc tượng La-hán này được tạo hình cn đối, sinh động, cỡi trên các con thú như trâu, bị, ngựa, lạc đà, hà mã , tê giác v.v.
Trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng có nhiều chậu cây cảnh, hòn non bộ được chăm sóc thường xuyên. Dưới bóng cây, tháp Hòa thượng Chánh Hậu và gia đình được xây dựng bề thế có tường rào bao bọc.
Nhìn chung, vẻ đẹp của chùa Vĩnh Tràng tập trung ở nghệ thuật tạo hình. Có ý kiến cho rằng có thể xem chùa Vĩnh Tràng là một bản tổng kết lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.
Hiện chùa Vĩnh Tràng l2 nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật gio và trường Cơ bản Phật học tỉnh Tiền Giang. Chùa được trở thành điểm du lịch và hành hương của tỉnh, thu hút du khách và Phật tử hàng ngày. Tết Tân Dậu (1982) nhà thơ Xuân Thủy đ đến viếng chùa và viết tặng một bài thơ :
Đức Phật giàu tình thương
Nên chùa tên Vĩnh Tràng
Nhà sư vốn yên nước
Lòng như sông Tiền Giang

Đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho xưa

“Ngày xưa, người Pháp mở tuyến đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho với mục tiêu là nối liền tuyến xuyên Việt và ý định kéo dài sang tận PhnomPenh, Campuchia.” Bác Tân Văn Công, 80 tuổi, làm nghề dạy học tại Mỹ Tho từ năm 1943, nhớ lại. Lý do mở tuyến xe lửa nầy, theo bác, vì thời đó Mỹ Tho là đầu mối trung chuyển hàng hóa cho Sài Gòn và Nam Kỳ lục tỉnh, do các tỉnh miệt dưới như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng... đường bộ gặp trở ngại vì phải qua 2 con sông Hậu và sông Tiền. Có lẽ cũng vì trở ngại đó mà đường xe lửa chỉ tới Mỹ Tho và nhà ga chót dừng lại ở đầu đường Trưng Trắc, bên bờ sông Tiền, gần vườn hoa Lạc Hồng hiện giờ. Hồi đó, ga xe lửa nằm trong dãy nhà ngói xưa, cất theo kiểu Pháp (chỗ sau nầy là nhà sách) cùng với hệ thống phòng trọ và dịch vụ kéo dài đến chỗ Bưu điện Mỹ Tho ngày nay.
Nằm cạnh ga xe lửa còn có bến tàu với “3 cầu tàu lục tỉnh”. Toàn bộ hành khách và hàng hóa từ Sài Gòn đi xe lửa tới Mỹ Tho sẽ xuống tàu đi lục tỉnh và ngược lại, hành khách và sản vật, cây trái từ lục tỉnh đi bằng tàu tới Mỹ Tho cũng lên xe lửa rồi đi tiếp về Sài Gòn. Cũng vì vậy mà Mỹ Tho xưa được xem là “đầu mối trung chuyển.” Vào thời đó ga xe lửa Sài Gòn nằm ở đầu đường Lê Lai bây giờ, gần khách sạn Saigon New World. Từ Sài Gòn đi Mỹ Tho, ga thứ nhất gọi là Chợ Lớn Mới, nằm bên hông chợ An Đông. Kế đến là ga Chợ Lớn trên đường Hùng Vương, gần mấy bồn nước sơn màu đen hiện giờ vẫn còn. Các ga tiếp theo là Phú Lâm, Cây Mai, Bình Chánh, Gò Đen, Tân An, Tân Hương, Ông Táo, Tân Hiệp, Trung Lương và Mỹ Tho.
Cũng theo bác Tân Văn Công thì đầu tiên xe lửa chạy bằng hơi nước. Từ Sài Gòn về Mỹ Tho đường rầy xe lửa chủ yếu nằm phía trái, thỉnh thoảng có đoạn nằm bên phải của quốc lộ 1 bây giờ, xưa gọi là đường Cái Quan, lộ Đông Dương, sau đổi lại là quốc lộ 4. Hồi đó ở đoạn Bình Chánh có xảy ra vụ tai nạn lớn nhất thời bấy giờ, làm thiệt mạng gần 20 người, do chiếc xe đò Hữu Lợi chạy vào đường rầy khi xe lửa đang băng qua, dù ở 2 đầu đã có rào cản, khiến báo chí nói cả tháng trời. Đến khoảng thập niên 1930 thì xe lửa chuyển sang chạy bằng dầu diesel, còn gọi là Autorail. Sự khác biệt của Autorail là thiết kế đẹp hơn, tốc độ nhanh hơn, tiếng ồn nhiều hơn, toa khách có cửa sổ nhìn ra bên ngoài, tiếng còi kêu “hoét, hoét”, trong khi xe lửa chạy bằng hơi nước thì tiếng còi kêu “pin, pin”. Đầu tiên xe lửa chỉ có ghế ngồi bằng băng gỗ, xếp dọc theo 2 bên thành xe. Tuyến đường xa thì có hạng nhất, hạng nhì, có phòng riêng, bên trong có 2 tầng và giá vé cũng mắc tiền hơn. Riêng tuyến Sài Gòn-Mỹ Tho thì chỉ có một hạng thường, do đoạn đường ngắn.
Dù đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài chỉ 70 cây số nhưng ngày xưa đi bằng xe lửa cũng mất chừng 2 tiếng rưỡi. Vì chỉ có một đường rầy duy nhất nên tới ga chót Mỹ Tho, muốn trở đầu để chạy trở lại Sài Gòn thì xe lửa phải... thụt lùi chừng 2 cây số từ vườn hoa Lạc Hồng theo đường Lý Thường Kiệt bây giờ, ra ngoài đồng thì có đường vòng cung. Tại đây đầu xe lửa tách ra khỏi toa rồi chạy vào một đoạn đường rầy khác để nối vào đuôi toa xe lửa và lại chạy thụt lùi trở về nhà ga Mỹ Tho để đầu xe lửa quay về hướng Sài Gòn.
Bác Tân Văn Công kể :“Hồi nhỏ, vào những buổi chiều tôi hay nhảy theo xe lửa chạy ra ngoại ô để trở đầu. Giếng nước Mỹ Tho hiện giờ chia làm 2 cũng vì hồi đó có đường xe lửa chạy ở giữa.”
Chính xác đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho ngừng hoạt động vào năm nào thì bác Tân Văn Công nói mình không nhớ rõ lắm. Bác chỉ nhớ “vào thời ông Diệm, khoảng năm 1959 tôi vẫn còn đi xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho.” Bác Công kể tiếp :“Nhớ hồi học xong tiểu học và thi vào lớp đệ thất trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, thầy cho bài luận văn bằng tiếng Pháp và yêu cầu “Trò hãy tả người nhổ răng dạo trên toa xe lửa” mới thấy ảnh hưởng của xe lửa thời bấy giờ. Hồi đó Trường Nguyễn Đình Chiểu mỗi năm chỉ tuyển 200 học sinh cho cả vùng lục tỉnh, còn khó hơn thi đại học bây giờ. Lần đó tôi bị rớt nên phải lên Sài Gòn học ở trường tư thục Đồng Nai, đường Bùi Thị Xuân và ở nội trú trong trường. Lúc đó phát xít Nhật đã qua, ban đêm sợ đồng minh ném bom nên hầu hết trường học trong nội thành đều phải tản cư ra vùng Chợ Lớn. Thường buổi chiều không biết làm gì, bọn học trò nội trú lấy đá xanh để vào đường rầy cho xe lửa chạy ngang cán xẹt lửa coi chơi.”
Vì sao ga xe lửa Mỹ Tho xưa lại nổi tiếng trong thời Pháp thuộc? Theo bác Tân Văn Công, vì đây là ga chót nối với các tuyến thủy bộ xuống Nam Kỳ lục tỉnh và hồi đó, sau Sài Gòn thì Mỹ Tho là một trong 3 tỉnh lớn nhất vùng. Có 2 quyển sách viết bằng tiếng Pháp nói về ga xe lửa Mỹ Tho mà bác Công được đọc. Quyển thứ nhất là của một nhà văn Pháp, từng là lính hải quân, có qua Đông Dương và đi xe lửa tới Mỹ Tho để đi tàu xuống lục tỉnh, đã mô tả ga xe lửa Mỹ Tho mang dáng dấp giống như những ga xe lửa bên Pháp. Một quyển sách khác của tổng bí thư đảng cộng sản Pháp thời đó mà bác Tân Văn Công không nhớ rõ tên. Vị nầy sau khi sang VN về đã viết quyển Indochinois, chỉ trích chính sách kỳ thị dân tộc của thực dân Pháp thời bấy giờ. Theo mô tả thì tác giả đã đi cùng với nhà cách mạng Nguyễn An Ninh xuống ga Mỹ Tho, cùng Nguyễn An Ninh vào một bungalow (một dạng nhà trọ xưa) để ở nhưng bị từ chối vì nơi đó chỉ dành cho người Pháp và Âu châu. Chỉ một dân tộc Á châu được vào ở là Nhựt Bổn.

Nhà ga Mỹ Tho xưa kiến trúc theo kiểu Pháp, mái ngói, vách tường, cửa vòng nguyệt, có chỗ bán vé, chỗ khách ngồi chờ, có cân dùng để cân hành lý và ai chở nặng thì phải trả nhiều tiền. Ticket xe lửa hồi đó được làm bằng loại giấy rất dầy và cứng. Sau khi thu tiền, người bán vé đưa ticket vào máy đục lỗ và phát ra một tiếng kêu rất vui tai. Khi hành khách lên xe, người soát vé còn bấm ticket một lần nữa. Đường Sài Gòn-Mỹ Tho xưa mỗi ngày có 4-5 chuyến.
Chuyến đầu tiên đi Sài Gòn khởi hành khoảng 4 giờ sáng, phục vụ công chức nhà ở Mỹ Tho nhưng làm việc ở Sài Gòn. Bác Tân Văn Công kể có một người quen làm việc tại Mỹ Tho nhưng chiều nào cũng đi chuyến xe lửa chót lên ga Sài Gòn ở đường Lê Lai. Tại đây có một quán rượu và một người đẹp mà vị khách nầy thích nên cứ tới ngồi nhâm nhi cho tới sáng rồi đi chuyến xe lửa sớm nhất trở về Mỹ Tho. Mới hay, dù khoảng cách xa xôi, nhưng giao thông thuận tiện thì ngày xưa cũng không hề bị cách trở.

ANH HÙNG DÂN TỘC TRƯƠNG ĐỊNH

Trương Định nhân dân còn gọi là Trương Công Định để tỏ lòng tôn kính. Ông sinh năm 1820 tại xã Tư Cung, huyện Tịnh Sơn, tỉnh Quãng Ngãi là con quan Trương Cầm-Lãnh binh tỉnh Gia Định
Trương Định thuở nhỏ tướng mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư, võ nghệ. Đặc biệt là bắn rất tài. Thời Triệu Trị 1844, ông theo cha vào Nam lấy vợ là con gái một hào phú huyện Tân Hoà (nay là Gò Công). khi cha chết ông ở luôn bên quê vợ.
Năm 1854, Trương Định xuất tiền của chiêu mộ dân nghèo, lập đồn điền Gia Thuận. Ông được phong chức Quản Cơ.
Khi giặc Pháp đánh thành Gia Định 2/1859, Trương Định đưa cơ binh gia nhập đội quân của triều đình chống giặc, ông thường đi tiên phong lập được nhiều chiến công. Một trong những chiến công nổi tiếng là phục kích giết chết tên Đại úy Barbe, trừng trị nhiều tên tay sai của giặc Pháp, trong đó có Bá hộ Huy ở Đồng Sơn, tiến công các đồn giặc ở Gia Thạch, Rạch Gầm và nhiều lần đánh đồn Kỳ Hoà. Tháng 3/1862 quân Pháp rút chạy khỏi Gò Công.
Ngày 5/6/1862, triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh và đi nhận chức Lãnh Binh ở An Giang. Nhưng theo yêu cầu của nhân dân và các nghĩa sĩ Trương Định đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu " Bình Tây Đại Nguyên Soái " do dân phong, tiếp tục lãnh đạo các cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.
Ngày 20/08/1864 do sự phản bội chủ Huỳnh Văn Tấn căn cứ Trương Định bị bao vây chặt. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, Trương Định bị trọng thương. Không để rơi vào tay giặc, ông đã dùng gươm tự sát để bảo toàn thanh danh, khí tiết của người anh hùng - khi ấy ông 44 tuổi.
Trương Định là hình ảnh tiêu biểu của nhân dân Gò Công, của nhân dân Nam Bộ bất khuất kiên quyết chống giặc Pháp xâm lược nửa sau thế kỷ thứ 19.
Khu di tích gồm lăng mộ và tượng đài Anh hùng dân tộc Trương Định toạ lạc trong nội ô thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Ẩm Thực Tiền Giang

Nấu mẳnĐây là một trong những món ăn đặc trưng của văn hóa ẩm thực vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nó thể hiện rất rõ nét tính hoang dã và hào phóng của vùng đất mới. Không là kho, không là canh, nó nằm giữa hai món đó.

 Hủ tiếu Mỹ Tho - Tỉnh Tiền Giang
Hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế... ở chỗ không ăn với xà lách, giấm, rau ghém, mà dùng giá sống, chanh, ớt, nước tương. Ðiều làm nên hương vị riêng khiến cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên sáu mươi nhờ sự hoàn thiện từ khâu chọn hột gạo làm ra cọng bánh tới nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trứ danh đất Mỹ Tho như: Phánh Ký, Nam Sơn, Tuyền Ký... cùng các lớp thợ nấu sau này


Bún gỏi già Mỹ Tho - Tiền Giang
Không biết món ăn này xuất xứ từ đâu. Nhưng tôi chưa thấy trên thành phố này có một nơi nào bán món này cả, cả tên gọi cũng rất khác biệt. Bún gỏi già... Tôi không thể giải thích được vì sao nó lại có tên như thế. Mỗi lần về Mỹ Tho là tôi lại chạy ra quán ăn quen thuộc, gọi một món quen thuộc:” Bún gỏi già”. Chắc các bạn sẽ thắc mắc lắm vì không biết tại sao cái món bún có cái tên lạ tai lại làm tôi thích thú... Tôi ăn nhiều rồi, nhưng chưa lần nào thử nấu cả, không phải lười biếng đâu, vì không có bí quyết, tôi sợ mình sẽ làm hư món khoái khẩu của mình.


Cá bống dừa - Tiền Giang
Cũng như tôm tép có nhiều loại, cá bống cũng thế. Nào là: bống mú, bống vượng, bống cát, bống trứng, bống nhật, bống sao, bống bọt, bống xèo, bống nhảy... Trong các loại bống đó, tôi đặc biệt nhớ loài cá bống dừa. Có lẽ vì vùng quê tôi (thuộc huyện Gò Công Tây - Tiền Giang) chúng sinh sản nhiều, sống thích hợp với địa thế dừa nước (lá dùng lợp nhà) mọc đầy ven sông rạch. Bống dừa vảy nhuyễn, miệng rộng, lưng đen, lườn trắng; con to cỡ nửa cổ tay, hiếm khi lớn hơn.


Mắm còng xứ rẫy Gò Công
Ở Gò Công Tiền Giang, rẫy là tên gọi chung của những miền đất thấp, ven các kênh rạch, hằng năm thường bị nhiễm mặn trong một thời gian khá dài. Ðiển hình như các xã cặp theo sông Trà là Ðồng Thạnh, Ðồng Sơn, Bình Phú, Thành Công của huyện Gò Công Tây hay Bình Ðông, Bình Xuân cặp theo sông Soài Rạp, Phú Ðông, Phú Tân kẹp giữa hai vàm Cửa Tiểu và Cửa Ðại của huyện Gò Công Ðông. Miệt này, mỗi năm bà con chỉ có thể canh tác được có 1 vụ lúa mùa.


Sam biển Gò Công - Tiền Giang
Ngoài các loại cá tôm thiên nhiên ưu đãi, ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Ðông (Tiền Giang) có đặc sản khá hiếm: sam biển. Với hình thù lạ mắt: vỏ cứng như mai cua, mình tròn dẹt, đường kính độ gang tay, tám chân càng nhỏ dưới bụng, phần đầu là mũi nhọn ba cạnh rất linh hoạt dài cỡ 20 cm. Khoảng từ tháng 10 cho tới tháng 2 âm lịch, sam bắt cặp phối giống và sau đó sam cái mang bụng đầy trứng nhỏ như hạt tiêu đợi ngày sinh nở. Gió chướng thổi về, người dân ven biển chúng tôi sáng sớm đi dọc bờ thỉnh thoảng vẫn bắt được những cặp sam tấp mé.


Chuối quết dừa - Tiền Giang
Kể từ khi xuất hiện trên AT tháng 5.1992 với món ăn bình dân mà vô cùng hấp dẫn cho cả "mày râu" lẫn "kẹp tóc" là xòai tượng mắm đường đến nay, tôi cứ mãi bận rộn với những lo toan đời thường mà quên khuấy đi cái nghiêp... ăn uống vốn dĩ là một trong những "tứ khóai" của thiên hạ, thật là sai sót biết chừng nào! Hôm qua, nhân dịp về một làng nhỏ hiền hòa nằm bên bờ sông Tiền lộng gió, chúng tôi có dịp thưởng thức một món ăn hòan tòan "cây nhà lá vườn" và đậm đà hương vị đồng quê đến nỗi khi lên xe trở về, ai nấy cũng chắc lưỡi hít hà khen ngon quá xá. Đó là món ăn mà ngọai tôi gọi đơn giản là chuối quết dừa.

Những Thông Tin Cần Thiết Cho Quý Khách Khi Đi Du lịdh Tiền Giang

_ TP. HCM đi Mỹ Tho theo quốc lộ 1A , dài 71 km có thể đi về trong ngày bằng xe gắn máy dễ dàng
_ Khi tới ngã ba Trung Lương du khách nên ghé vào nhà hàng Trung Lương vì các quán khác tại khu vực này thường đắt hơn và không ngon bằng
_ Mã điện thoại vùng là 073
_ Đường Trưng Trắc là con đường đầy màu sắc nhất của Thành phố
_ Bến đò du lịch ở đọan đường 30-4 do công ty độc quyền tổ chức các
chuyến tham quan không có thuyền tư nhân . Vé tàu đi lẻ là 40000 đồng
_ Phà Rạch Miễu để qua sông Tiền vào tỉnh Bến Tre . Ngay bến phà tỉnh Bến tre cũng có trạm bán vé đi tham quan Cồn Phụng.

Những điều cần biết khi du lịch Miền Tây

Khi đến với du khách cần phải nắm bắt kỷ những thông tin và giá cả nơi đây nếu như khách đi riêng mà không đi theo Tour của công ty du lịch.
Khi tham gia vào Tour Tiền Giang này ngoài việc tham quan sông nước miệt vườn, tham quan vườn cây ăn trái, tham quan thắng cảnh đẹp…quý khách còn có thể mua sắm bất cứ thứ gì khách muốn; vì nơi đây đồ ăn, hàng hóa rất rẻ nhưng nếu như khách muốn mua “đúng cách” (không bị lầm giá) thì hãy tham khảo ý kiến các hướng dẫn viên.
Trên chuyến đi với một chiếc máy ảnh du khách có thể chụp laị những khung cảnh đẹp ở nơi đây, mua những đặc sản nơi đây về cho gia đình, bạn bè… đó cũng là những món quà đáng quý biết bao.
Chẳng những thế trước khi đến với miền tây du khách phải tìm hiểu trước các Nhà Hàng-Khách Sạn để du khách có thể nghĩ nghơi ở những nơi an toàn sạch sẽ không hại đến chính bản thân chúng ta.
Không nên đi dạo một mình vào buổi tối, tránh nơi đông ngươì để đảm bảo sự an toàn của bạn.

Đứng trên cầu Rạch Miễu, nghĩ về “Tứ linh”

Rất khó có cây cầu nào như cầu Rạch Miễu. Đứng trên cầu mà hướng về biển Đông sẽ bắt gặp bốn cù lao “chụm đầu” lại, hợp thành “Tứ linh” giữa sông nước mênh mông. Khen ai khéo đặt tên cồn để có được một bộ “Tứ linh”: Long, Lân, Quy, Phụng. Mỗi cù lao đều có nét đặc thù, mang sắc thái riêng tạo nên một quần thể sinh động.
Vừa hết đoạn dây văng, cầu Rạch Miễu đổ xuống cồn Lân, còn gọi là cù lao Thới Sơn. Nhìn lên bản đồ, cù lao Thới Sơn như thể “long chầu” trong cung đình Huế. Thới Sơn đang sở hữu bốn cái “nhất”: tuổi đời cao nhất, diện tích lớn nhất, cũng được coi là đẹp và hài hòa nhất trong “Tứ linh”. Lịch sử mở đất của Thới Sơn thật hào hùng. Có thể nói mỗi mảnh vườn, con rạch Thới Sơn đều ghi dấu chiến công của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ tiêu diệt 5 vạn quân Xiêm. Sang thế kỷ XX, nơi đây lại ghi đậm chiến công của các “dũng sĩ diệt Mỹ” trên vành đai Bình Đức nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cồn Lân
Đất Thới Sơn màu mỡ, con người Thới Sơn hiền hòa, cần cù, chân chất cùng với bàn tay khéo léo luôn tạo nên một diện mạo mới. Đến Thới Sơn không chỉ ngắm nhìn cảnh sắc miệt vườn, thưởng thức hương vị ngọt ngào của cây trái xứ cồn, mà còn chiêm ngưỡng những công trình mà người dân nơi đây gìn giữ từ thuở khai hoang, lập ấp. Dẫu trải qua bao tháng năm mưa bom, bão đạn, nhưng ngôi nhà chữ đinh theo phong cách cổ xưa, cùng với vật dụng trong nhà được khảm xà cừ tinh xảo, sắc màu lấp lánh, đôi liễn sơn son, thiếp vàng của Nguyễn Văn Vinh vẫn còn đó, thách thức thời gian.
Đến Thới Sơn còn là để được thưởng thức rượu mật ong, cùng tấm lòng đôn hậu của người phụ nữ với chiếc áo bà ba, khăn rằn quấn cổ, chèo xuồng trên sông rạch, đưa khách đến những làng nghề truyền thống như đan len, thêu thùa, cùng nhịp nhàng tát mương bắt cá với khách… một hoạt động thường nhật của người dân Nam bộ, luôn chân thành, quyến rũ. Đến đây còn có nhiều loại hình giải trí đậm nét chân quê, dân dã như nhảy dây, nhảy kẹng, đu quay,… rõ nét văn minh miệt vườn. Quả là thú vị.
Nằm kế cạnh cồn Lân là cồn Phụng, còn gọi là cù lao Tân Vinh, nơi có di tích đạo Dừa do Nguyễn Thành Nam lập nên từ những năm 60 thế kỷ XX. Tuy đạo Dừa có một triết lý mơ hồ, lạc lỏng và tự cho mình là “vua nhà Nguyễn tái sinh”, nhưng cũng để lại một số công trình như chiếc bình được cẩn những mảnh sành sứ, một cái sân rồng tượng trưng cho chín cửa sông Cửu Long, rồi những chiếc tháp cao, những mô hình núi non, hang động hợp thành một quần thể kiến trúc khá tinh xảo, khó quên. Bàn tay khéo léo của những người thợ năm xưa thật đáng khâm phục.
Trong “Tứ linh”, chỉ có cồn Thới Sơn và cồn Phụng là có đờn ca tài tử. Nếu như ở Thới Sơn du khách có thể tận hưởng những thanh âm mượt mà, sâu lắng từ tiếng đàn, lời ca qua dòng nhạc tài tử của gia đình ông Nguyễn Văn Du có đến 5 thế hệ nối tiếp nhau cứ “ngọt lịm” như hương vị cây trái của xứ cù lao, thì ở cồn Phụng, những câu hò, điệu lý như âm vang, mặn mà thêm từ ngón tay, giọng hát điêu luyện của các tài tử mang về từ nhiều miền quê khác nhau của Bến Tre, có cùng đam mê một loại hình nghệ thuật của cha ông và cách duy trì một nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc, được phát ra từ một hang đá nhân tạo mát lạnh bởi làn gió trong lành miền sông nước.
Ở cồn Phụng cũng có nhà hàng, nhà nghỉ. Khu giải trí với phong cảnh hài hòa, độc đáo. Cồn Phụng còn có bánh tráng Mỹ Lồng, đặc sản của Bến Tre. Khách sẽ trực tiếp chứng kiến, thậm chí tham gia từ khâu chọn gạo, nạo dừa, cùng với bàn tay khéo léo, không ít điệu nghệ của người xứ dừa tráng bánh, phơi bánh vừa mỏng vừa tròn, đẹp lại vừa ngon, ngọt.
Nếu như người Bến Tre tự hào về dừa, thì dân cồn Phụng chính là người đi tiên phong làm cho cây dừa tăng thêm giá trị. Xót xa thấy thân dừa ngã xuống vì bom đạn, họ đã “tận dụng” nó để làm đũa ăn, đũa bếp phục vụ con người. Từ khung cảnh thơ mộng trên cồn Phụng đã hình thành một “làng” nghề thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu dừa, nhanh chóng lan rộng khắp Bến Tre và không ngừng lớn mạnh. Cùng với bàn tay của hàng ngàn nghệ nhân xuất thân từ nông dân giàu sáng tạo, những sản phẩm xinh xắn có thể sử dụng trong nhà bếp cho đến trang trí phòng ngủ, phòng khách, từ nhà ở bình dân đến khách sạn sang trọng, từ trong nước ra nước ngoài. Đi đâu cũng thấy cây dừa phục vụ cho đời, với nét tinh xảo kết tinh từ tình người, tình đất Bến Tre, không ngừng tô đẹp thêm cho sắc diện quê hương.
Thiên nhiên lại khéo sắp đặt khi hai đầu cồn Thới Sơn và cồn Phụng hướng về cồn Rồng, phía xa bên kia của sông Tiền, người đời gọi là cù lao Tân Long. Cù lao Tân Long hình thành đã lâu, nhưng chỉ được khai thác chừng trăm năm nay. Để tránh bom đạn trong chiến tranh, người Bến Tre đã đến đây sinh sống, và ngày nay Tân Long trở thành đơn vị hành chánh của thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang. Ngoài vườn cây trái, Tân Long cũng nuôi cá bè như những cồn khác trong “Tứ linh”. Khác hẳn là ở bờ Bắc, có cảnh quan nhộn nhịp bởi đội tàu đánh cá trên vùng biển phía Nam, thay nhau neo đậu che kín cả một đoạn mặt sông. Tàu của người Tân Long thì ít, đa phần là tàu của bà con khắp nơi. Sở dĩ càng nhiều tàu cặp bến Tân Long là vì nơi đây lòng sông sâu và rộng, ít sóng gió và gần cảng cá Mỹ Tho. Nhưng trên tất cả vẫn là lòng người, cùng bàn tay khéo léo của người thợ Tân Long sửa chữa ghe tàu. Nếu như đàn ông bận rộn cho việc sửa máy, tu bổ thân tàu, thì người phụ nữ lại luôn tay vá lưới, kết phao trên những boong tàu. Lời qua tiếng lại líu lo như chim hót, cùng với tiếng búa cọc cọc, tiếng cưa rào rào,… cả ngày lẫn đêm, không khác gì một bản nhạc mang âm hưởng lâu ngày thành quen, không nghe thì khó mà ngủ được.
Image
Cồn Phụng
Tân Long còn có lợi thế về nghề nuôi thủy sản. Cù lao hiện có trên 500 bè cá, đủ các loại có giá trị như cá chép, điêu hồng, cá tra, rô phi. Chỉ cần 50 - 60 m2 bè, mỗi năm sẽ thu về gần 10 tấn cá. Một nguồn lợi lớn.
Người em út trong “Tứ linh” là cồn Quy, mới được khai phá từ những năm 60 của thế kỷ XX, vẫn còn dấu vết hoang sơ, nhưng không kém phần hấp dẫn đối với du khách. Đâu có mảnh đất nào mà không có nghĩa tình của những bàn tay lao động. Những cảnh sắc quyến rũ của quá trình mở mang khai phá mảnh đất này vẫn còn lưu giữ, cùng với con người cần cù, phóng khoáng và đất đai màu mỡ, đã làm từng mầm cây trở thành những khu vườn quả ngọt, trái say.
Cồn Quy nổi danh vì cây trái có hương thơm đặc biệt. Nhãn hồng, nhãn tiêu cơm dày ngọt lịm. Khi đến mùa nhãn trổ hoa, người cồn Quy thanh thản vui với đàn ong kêu chăm chỉ. Dù chỉ nuôi nghiệp dư, ong cồn Quy vẫn cần mẫn chắt lọc hương vị đậm đà của hoa, những gì tinh túy của nắng, của gió và phù sa tặng lại cho con người, một thùng cũng được vài lít mật mỗi mùa. Người cồn Quy gắn với vườn cây và con rạch. Họ sẵn lòng giới thiệu khách phương xa những món ăn đậm đà hương vị đồng quê. Ngoài uống nước dừa tại gốc, còn có nhãn, có mận, có cam, quít, bưởi quanh năm, là món tôm càng xanh nướng, luộc, làm gỏi tự thích cùng với tấm lòng đôn hậu của người dân nơi đây, sẽ níu khách lại bởi một tình cảm ấm cúng trong gia đình.
Đi sâu vào ba dãy cù lao, Bến Tre còn có những vườn cây trái ở Cái Mơn, Sơn Định, Vĩnh Bình (Chợ Lách) hay Tiên Long, Tiên Thủy, Tân Phú (Châu Thành) cứ như quấn lấy chân người. Vườn chim Vàm Hồ, khu rừng Liệt Địa ở Ba Tri, du khách thỏa thích tận hưởng những gì còn hoang dã. Và chỉ cần qua Cống đập Ba Lai, xuôi về Thừa Đức, tha hồ ngâm mình trong nước biển Đông. Bến Tre còn có các danh nhân như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu; tiến sĩ đầu tiên Nam kỳ lục tỉnh Phan Thanh Giản; nhà giáo Võ Trường Toản; chí sĩ Phan Văn Trị; nhà bác học Trương Vĩnh Ký; nữ tướng Nguyễn Thị Định, … Còn có khu lưu niệm Đồng Khởi và đầu cầu của chuyến tàu không số chở vũ khí từ Bắc vào Nam. Về những nơi này sẽ biết thêm tình người, tình đất Bến Tre thủy chung, sâu lắng và nồng thắm.
Ngày 19-1-2009, cầu Rạch Miễu sẽ chính thức được đưa vào sử dụng, sẽ xóa đi cảnh ngăn sông cách trở của Bến Tre, là điều kiện để cho tỉnh phát triển thuận lợi hơn. Nhưng khi đường cao tốc từ thành phố Hồ Chí Minh về miền Tây đưa vào vận hành và cùng vài thứ khác nữa, lúc ấy Bến Tre mới thật sự trở thành “lá phổi” lý tưởng cho thành phố và các khu công nghiệp trong những ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày tết.

Cháo khuya đồng bằng (Mỹ Tho. Tiền Giang)

Về miền Tây, nghỉ qua đêm trong trung tâm phố thị, nửa khuya bụng cồn cào, tỷ như ở Rạch Giá thì ngay bùng binh sắp tới tượng đài Nguyễn Trung Trực. Ở Long Xuyên thì sau đình Thành Hoàng. Cà Mau thì ngay góc chợ ở cầu Mới xuống quẹo trái...có món giữa khuya.
Hồi xưa, có khi chỉ có gánh cháo, xe cháo trắng ăn với phá lấu, hột vịt muối của mấy chú Tàu. Và để đa dạng hóa, các chú Tàu chế thêm món dưa mắm, người Việt thì làm cá cơm kho quắc, tép rang, khứa cá lóc, cá trê kho khô. Cháo trắng mà nấu với lá dứa thơm hay cháo đậu đen chan nước cốt dừa, nghe có vẻ tầm thường nhưng lại là các món "độc" giữa lúc đang đói lòng.
Ở Mỹ Tho cháo trắng ngon nhưng không bằng cháo "phá lấu". Xe cháo nằm trong căn nhà nhỏ, tủ treo lòng heo, phá lấu, bên trong nồi cháo trắng nghi ngút khói. Bước vào chủ quán biết khách cần gì, tay liên tục nhịp dao trên thớt. Một đĩa lòng, phá lấu đủ thứ cùng với cháo trắng nóng bưng ra. Dân sành ăn bao giờ cũng xem có đĩa dưa cải phá lấu, vùa mằn mặn, vừa chua ngọt rồi bắt đầu mới gắp từng thứ bỏ vào tô cháo nóng hổi, hết tô cháo mồ hôi vã ra, vị chua mặn, miếng phá lấu giòn giòn cứ như đọng lại trong miệng.
ở đồng bằng thả bộ xuống phố, xem dân địa phương sinh hoạt về đêm và thưởng thức món cháo phá lấu Mỹ Tho, một phần ăn chỉ khoảng năm ngàn đồng bạn sẽ cảm nhận sự thú vị của bữa cháo giữa khuya.
Lê Duy
Địa chỉ: Quán Cháo Phá Lấu, 3 Đinh Bộ Lĩnh,P3, Tp.Mỹ Tho, Tiền Giang

Xứ biển Gò Công

Nếu có dịp tới Tiền Giang, mời du khách ghé thăm 2 điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh, đó là: Lăng Hoàng Gia và Di tích khảo cổ Gò Thành.Lăng Hoàng Gia
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử thuộc triều Nguyễn, tọa lạc tại Giồng Sơn Quy (Gò Rùa), ngày nay thuộc ấp Hoàng Gia, xã Long Hư*ng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Ông Võ Thành Sơn, ngư*ời quản lý Khu Di tích lăng Hoàng Gia cho biết: Dòng họ Phạm đã sống lâu đời ở đất Gò Công. Ông Phạm Đăng Khoa là ngư*ời khai hoang lập nghiệp ở xứ này. Phạm Đăng Hưng là hậu duệ đời thứ tư*, ông làm quan dư*ới triều Minh Mạng. Nhân dân thường gọi là ông “Ba Bị" vì lúc làm Điền Tuấn Quan, đi đâu ông cũng mang theo ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho nông dân nghèo những khi thiên tai, hạn hán, bão lụt. Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy.
Năm 1825, Phạm Đăng H*ưng bị bệnh mất tại Huế, đ*ược Vua Minh Mạng thăng hàm Vinh lộc đai phu, Trụ quốc hiệp biên, Đại học sĩ, Thụy Trung Nhã và đưa về an táng tại Sơn Quy. Lăng mộ Phạm Đăng Hư*ng tọa lạc trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, diện tích hơn 800m². T*ương truyền thi thể Phạm Đăng H*ưng được chôn ngồi. Trước mộ có tấm bia đá Cự Thạch.
Năm 1849, Phạm Đăng Hưng được Vua Tự Đức gia phong, truy tặng Đặc tiến Kim Tử - Vinh Lộc Đại phu Thái bảo Cần Chánh Điện, Đại học sĩ, t*ước Đức quốc Công. Ông là ông ngoại vua Tự Đức, cha của Hoàng thái Hậu Từ Dũ, tước Đức quốc công, nên nhà thờ ông đ*ược sửa sang theo kiến trúc và nghi thức cung đình, có đặt nhiều biển đại tự để thờ: Gian chính giữa thờ Đức quốc Công Phạm Đăng Hưng. Gian tả thờ ông Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hư*ng. Gian tả ngoài cùng thờ ông Phạm Đăng Tiên (cố). Gian hữu thờ ông Phạm Đăng Dinh (nội). Gian cuối bên hữu thờ ông Phạm Đăng Khoa (sơ).
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng H*ưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, mang đậm phong cách truyền thống dân tộc qua các mảng chạm khắc trên mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ "tứ linh tứ quý" theo quan niệm phong thuỷ của ng*ười Á Đông. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên mát mẻ, có khá nhiều cây sứ cổ thụ, hoa lá cảnh vật bao bọc theo kiểu không gian nhà vư*ờn xứ Huế.


Di tích khảo cổ Gò Thành
Cổng Khu Di tích Gò Thành có kiến trúc theo phong cách Hindu khá ấn t*ượng. Năm 1941, L. Malleret, nhà Khảo cổ học ngư*ời Pháp đã phát hiện ra di chỉ Gò Thành và sau đó ông đã thu thập đ*ược một số hiện vật. Do nhiều nguyên nhân, mãi cho đến năm 1988 Khu Di tích này mới đ*ược khai quật.
Trong các năm 1988 đến 1990, Bảo tàng Tiền Giang kết hợp với Trung tâm Khảo cổ học (thuộc Viện KHXH Quốc gia tiến hành liên lục 3 lần khai quật, khảo sát di tích này. Sau các lần khai quật, các nhà khảo cổ đã gặp nhiều mảnh gốm cổ bị vỡ, nhiều vòi bình, nhiều di cốt trâu bò, heo và x*ương cá; nhiều dấu vết tro, than, vỏ trái cây, lá dừa n*ước, cùng với vài cọc gỗ có dấu vết đục đẽo. D*ưới độ sâu từ 1,5 đến 3 mét, ở khu vực gò cao, là dấu tích khá rõ ràng của những đền tháp bằng gạch đ*ược xây dựng cạnh nhau, hiện chỉ còn phần nền. Nền tháp đ*ược xây dựng kiên cố với những lớp gạch nung. Có những hố giếng hình vuông, ở giữa có ốc đảo với nhiều kích thư*ớc. Phía đáy hố, ngư*ời ta đôi lúc gặp các mảnh vàng hình vuông hoặc hình tròn cắt hình cánh sen, có khắc thú vật, thư*ờng là hình đầu mặt voi, một ít tro. Ng*ười ta cho đây có thể là những bệ thờ hoặc mộ táng của ngư*ời Phù Nam. Có 12 hố và mộ với dạng hình giếng nằm rải rác trong khu di tích đã khai quật. Theo các tài liệu khảo cổ học đã công bố, có đến hơn 100 hiện vật bằng vàng còn nguyên dạng, một số khác bị vỡ tìm thấy được ở Khu Di tích, trong đó, có vòng đeo tay, hạt chuỗi, hình bông mai, hình tứ giác, hình đầu mặt voi... Các hiện vật tr*ưng bày hầu nh*ư còn khá nguyên dạng. Các nhà khảo cổ đã phân tích một số mẫu vật qua phư*ơng pháp phóng xạ C14 (Cacbon 14), họ kết luận khu di tích khảo cổ Gò Thành có niên đại từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 8 sau Công Nguyên. Qua thư* tịch cổ và các di chỉ cho thấy Phù Nam thời ấy là một vư*ơng quốc thuộc vào loại hùng mạnh ở Đông Nam Á, có những thư*ơng cảng lớn, giao thư*ơng với nhiều quốc gia. Phù Nam có cơ cấu xã hội giống như* các nước Nam Á, lấy Thần quyền và V*ương quyền làm nền tảng. Ngư*ời Phù Nam theo Ấn Độ giáo và thờ rất nhiều thần. Đ*ược biết, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã công nhận Di tích Khảo cổ Gò Thành là Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia vào ngày 12/12/1994

Lũy pháo đài Trương Định

Thành đồn pháo đài là một kiến trúc kiên cổ, chân móng làm bằng đá ong, đá xanh cao 8 mét. Bốn phía có cổng, vọng gác, rào chắn. Phần giữa đồn là kho vũ khí, giếng nước và vọng lầu chỉ huy. Thành được đắp theo hình lục lăng. Đá hàn sông do các ghe, thuyền chở từ Biên Hòa về rồi đục thủng cho chìm xuống để không bị dòng nước cuốn đi và tồn tại đến ngày nay.
Di tích lịch sử lũy pháo đài thuộc xã Phú Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Thành lũy này do chính anh hùng Trương Định chỉ huy nhân dân xây dựng để tổ chức đánh Pháp, góp phần vào chiến thắng trong các trận cửa Khâu - Trại Cá vào những năm 1862 - 1863. Đồn lũy được xây dựng trên một địa hình đặc biệt: mặt Đông là biển cả, có bãi cát bồi lớn nên tàu lớn không tiến sát được, lại có rặng cây che khuất. Mặt Bắc là dòng sông Cửu Tiểu, có đập đá làm phòng ngự, trên bờ gắn liền với thành ngoài, là nơi đặt súng thần công. Mặt Tây có rạch đồn và sình lầy, rừng rậm. Mặt Nam một dãy trại dài nối liền lũy đất cát làm phòng tuyến dày đặc những chà là, sình lầy gai góc.
Riêng thành đồn pháo đài được kiến trúc rất kiên cố, chân móng là đá ong, đá xanh cao khoảng 8 mét, rộng từ 3,5 mét đến 4,5 mét. Mặt thành rộng từ 1,8 mét đến 2,5 mét. Bốn phía có các cổng, vọng gác, rào chắn. Phần giữa đồn có kho vũ khí, giếng nước và vọng lầu chỉ huy. Thành đắp theo hình lục lăng. Đá hàn sông do các ghe, thuyền chở từ Biên Hòa về rồi đục thủng cho chìm xuống, do vậy mới không bị dòng nước cuốn đi và tồn tại đến ngày nay. Lũy Pháo đài thể hiện sinh động khí phách kiên cường giữ nước, bảo vệ quê hương của nhân dân Nam Bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Đặc biệt ở mặt Bắc là sông Cửa Tiểu có đập đá phòng ngự - nơi đặt súng Thần công để trấn giữ một cửa biển quan trọng

Lăng Trương Định

Lăng Trương Định tọa lạc ở phường 1, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Khu di tích gồm lăng, đền thờ và tượng đài anh hùng dân tộc Trương Định. Mộ ông được xây bằng đá ong là dạng kiến trúc mộ táng tiêu biểu của người Việt ở Nam Bộ.
Trương Định sinh năm 1820 tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quãng Ngãi. Cha ông là Trương Tầm, giữ chức lãnh binh Gia Định. Từ nhỏ, Trương Định đã có tướng mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư, võ nghệ. Thời Thiệu Trị, ông theo cha vào Nam, lấy vợ người Tân An, tỉnh Định Tường (tỉnh Tiền Giang) rồi ở luôn ở quê vợ. Năm 1850, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của Nguyễn Tri Phương, ông đứng ra chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập ấp ở huyện Tân Hoà (Gò Công). Vì có công lớn, ông được triều đình Huế phong chức Quân Cơ, hàm lục phẩm.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Trương Định lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc, làm cho thực dân Pháp bao phen thất điên bát đảo. Ngày 26 tháng 2 năm 1863, Pháp huy động một lực lượng lớn mở cuộc tấn công vào căn cứ nghĩa quân. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Đến rạng sáng ngày 19 tháng 8 năm 1863 ông rơi vào vòng vây địch. Do có sự phản bội, Trương Định đã tử tiết ngày 20 tháng 8 năm 1864, nêu cao khí phách của một vị tướng anh hùng. Nhân dân đã chôn cất ông tại thị xã Gò Công.

Mộ Thủ Khoa Huân

Mộ Thủ Khoa Huân tọa lạc tại ấp Hoà Quới, xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Thủ Khoa Huân tên thật là Nguyễn Hữu Huân, sinh năm 1830 tại xã Mỹ Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, thuở bé rất thông minh và học giỏi. Ông đậu thủ khoa trong cuộc thi Hương năm 1852 dưới triều Tự Đức.
Khi thực dân Pháp lộ rõ âm mưu xâm lược nước ta, ông từ quan, liên kết các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc. Trong 15 năm hoạt động, ba lần bị giặc bắt, ông đã nêu tấm gương sáng về lòng yêu nước và khí phách anh hùng, chúng đày ông đến đảo Réunion - một hòn đảo Đông Nam châu Phi, nhưng ông vẫn không nhụt chí. Ra tù, ông cùng các sĩ phu yêu nước tổ chức lực lượng, đánh địch nhiều nơi. Khi bị bắt, giặc đem tước lộc ra mua chuộc, nhưng không lay chuyển được ông.
Cuối cùng, chúng xử trảm ông tại quê nhà. Trước lúc chết, ông vẫn ung dung đọc thơ, tỏ khí phách của một bậc hiền tài yêu nước. Mộ và đền thờ Thủ Khoa Huân đặt tại xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Tượng đài ông được dựng tại trung tâm yhành phố Mỹ Tho.

Lăng Hoàng Gia

Lăng Hoàng Gia tên gọi bao gồm mộ chí và nhà thờ dòng họ Phạm, là “Thích Lý” (họ ngoại của Tự Đức). Khu di tích này nằm tại Giồng Sơn Quy thuộc thị xã Gò Công. Nhân dân địa phương gọi di tích này là Lăng Hoàng Gia. Ấp có di tích này mang tên ấp Hoàng Gia, xã Sơn Quy, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Từ 1987, Lăng Hoàng Gia nằm trong ấp Hoàng Gia thuộc xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Nằm trọn trong xóm dân cư, Lăng Hoàng Gia ở địa thế thuận lợi cho đường ô tô đến di tích nên dễ quy hoạch thành nơi tham quan du lịch.
Dòng họ Phạm là dòng họ sống lâu đời ở Gò Công. Phạm Đăng Khoa là người khai cơ lập nghiệp của dòng họ ở đây. Mộ chí của ông còn tại Giồng Sơn Quy. Đến đời thứ tư của họ Phạm có Phạm Đăng Hưng, người làm quan dưới hai triều: triều Gia Long và triều Minh Mạng. Ông là người có lòng giúp đỡ dân nghèo trong lúc thất bát vì thiên tai địch họa. Nhân dân thường gọi ông là “Ba Bị” vì lúc làm Điền Tuấn Quan, đi đâu ông cũng mang ba bị hạt ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo.
Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy, ông có tư chất thông minh, tướng mạo tuấn tú lớn lên ông cùng Ngô Tùng Châu theo học chữ Nho thầy Võ Trường Toản.
Năm 1784, Phạm Đăng Hưng đỗ Tam trường, đang chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên ông về quê làm ruộng. Nhưng do văn tài lỗi lạc và nổi tiếng là người hiền đức nên được bổ làm quan Lễ Sinh Nội Phủ của triều Nguyễn.
Qua nhiều lần thăng giáng chức vì bị gièm pha ông suýt mang trọng tội. Nhờ tận tụy, nhã nhặn, Phạm Đăng Hưng đã được bổ vào các chức:
- Chưởng Tưởng Dã Sự (trông coi đê điều).
- Quan Thâm Thiên Giám (trông coi thiên văn).
- Quốc Sử Quán Tổng Tài (đứng đầu cơ quan viết lịch sử).
Năm 1824, Phạn Đăng Hưng bị bệnh mất tại Huế, được vua Minh Mạng thăng hàm “Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc Hiệp Biên, Đại Học Sĩ, Thụy Trung Nhã” và đưa về an táng tại Sơn Quy. Năm 1849, Tự Đức gia tặng “Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu hái Bảo Cần Chánh Điện, Đại Học Sĩ, tước Đức Quốc Công”. Ông là cha của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, ông ngoại vua Tự Đức, nên triều đình còn cấp cho dòng họ Phạm nhiều ruộng đất bổng lộc. Toàn bộ di tích lăng Hoàng Gia nằm trên đất Giồng Sơn Quy (là nơi có gò đất cao như mu rùa nên dân gọi là gò Rùa). Tự Đức là Sơn Quy, lay ý nghĩa trong khoa địa lý “cao nhất xích vi sơn”, mang kỳ vọng cho họ ngoại của vua được lâu bền.
Khu di tích bao gồm nhà thờ họ Phạm với diện tích 199 m2, ngoài mộ Phạm Đăng Hưng và sáu ngôi mộ tổ họ Phạm còn có tám ngôi mộ quan trọng khác chôn tại Sơn quy.
Mộ dòng họ Phạm và Phạm Đăng Hưng chôn theo một trục dài đối xứng nhau, toàn bộ đều làm bằng hồ ô đước không chạm khắc. được bao bọc xung quanh lớp tường dày 80 cm, cao 90 cm. Nhìn tổng thể khu mộ ta thấy mộ Phạm Đăng Hưng đứng đầu, trên một gò cao có dáng mu rùa, mộ xây theo tam cấp, tứ trụ, gồm hai vòng biểu hiện cho tam tài, diện tích hơn 800 m2. Mộ không xây theo kiểu “Ngưu phanh, mã phục” (trâu nằm, ngựa quỳ) như mộ dành cho quan võ. Mộ xây theo dáng “Đỉnh trụ” (chóp đỉnh) như chiếc nón lá buông lỏng nhờ tám cánh tượng trưng như búp sen. Nhìn chung như cái đỉnh, dạng này ít thấy ở mộ cổ. Tương truyền thi thể Phạm Đăng Hưng được chôn ngồi. Mộ chôn theo nội quan ngoại quách bao bọc. Trước mộ có tấm bia đá “Cưm Thạch” hai bên có gắn các mảnh sứ cổ Trung Quốc (nay đã vỡ nát). Nội dung khắc trong bia nói về chức tước được phong của Phạm Đăng Hưng, (ghi bằng chữ Hán đọc được nhưng chưa dịch).
Nhà thờ Phạm Đăng Hưng được xây năm 1826, trên khu vườn đất rộng 2.987 m2, bao gồm nhà thờ chính, nhà khách, nhà kho, cổng tam quan và các công trình phụ tự khác bao bọc chung quanh.
Năm 1849 Tự Đức gia phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc, đồng thời truy tặng ngữ đại họ mẹ Tự Đức. Do đó, nhà thờ được sửa sang theo quy mô nghi thức cung đình, được đặt nhiều biển đại tự để thờ:
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài cùng thờ Mư Khả Tự Phạm Đăng Tiên.
- Gian hữu thờ Bình Thạnh Bà Phạm Đăng Danh.
- Gian cuối bên hữu thờ Thiền sư Phạm Đăng Khoa.
Nhờ tiền của bà từ Dũ Thái Hậu trợ cấp để xây thêm nhà khách, nhà trà, tàu ngựa để tổ chức đại lễ đón sắc phong của vua từ Huế vào.
Năm 1889, sau khi Thành Thái lên ngôi, đang chuẩn bị vào thăm nên có tu sửa thêm nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng, lam năm tấm biển của Ngũ Tước, tường hồ và cổng bằng gạch theo phong cách phương Tây.
Nhìn chung nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, có lẫn lộn kiến trúc Pháp, nhưng vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống dân tộc qua các mảng trạm khắc trên Mộ và trang trí bên trong nhà thờ bằng những điển tích rút ra từ “Tứ linh”, “Tứ quý” trong bát bửu cổ đồ mà chỉ có người Á Đông chúng ta quan niệm. Toàn bộ nhà thờ nằm trọn trong khuôn viên cây trái, hoa lá cảnh bao bọc theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế, rõ nét Huế mà ta đang thấy ở nội thành Huế.
Hiện vật di tích Lăng Hoàng gia ngày nay không còn nhiều, đa phần là mất hết các di vật cổ có giá trị về mặt cổ vật và nghệ thuật. Chỉ còn lại những hiện vật mà kẻ gian không thể lấy được:
- Bia đá trong phần mộ Phạm Đăng Hưng có kích thước 160 cm x 120 cm x 15 cm bằng đá hoa cương.
- Bảy biển đại tự sơn son thiếp vàng, trên khung có chạm tứ quý được làm vào thời Thành Thái.
- Một khám thờ Phạm Đăng Hưng sơn son thiếp vàng chung quanh chạm “Tứ linh”, “Tứ quý”.
- Một long án chạm tứ linh trước bàn thờ Phạm Đăng Hưng, dài 1,2 mét rộng 1,2 mét chạm khắc rất tinh xảo nhưng đã bị dột nát hư hỏng phần dưới, còn lại bốn bàn thờ bằng cây mới được tạo lập sau này rất đơn giản.
Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Nam Bộ nói chung và Gò Công nói riêng. Vì Phạm Đăng Hưng và dòng họ của ông là những người vào đây lập nghiệp từ đầu thế kỷ XVII, nên hiện nay còn một trong bốn đời của ông tại Sơn Quy.
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là công trình kiến trúc nghệ thuật hài hòa giữa Á và Âu, nhưng mang đậm nét truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các mảng chạm khắc trong nhà thờ và trên mộ.
Khu Lăng Hoàng Gia đã được tô màu đỏ trên bản đồ địa chính, được ghi là “toàn bộ khu di tích nằm trên thửa đất số 822 và số 821” (trích theo biên bản quy định khu vực bảo ve di tích ngày 18 tháng 9 năm 1992 tại văn phòng ủy ban nhân dân thị xã Gò Công).

Khu di tích lịch sử Ấp Bắc

Khu Di tích Lịch sử Quốc gia Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cách trung tâm huyện lỵ 10 km về hướng Đông. Tại đây, bia kỷ niệm có ghi:
“Chiến thắng Ấp Bắc ngày 2 tháng 1 năm 1963 đã đánh bại các chiến thuật: bủa lưới, phóng lao, trực thăng vận và thiết xa vận mà đế quốc Mĩ cho là tân kỳ. Chiến thắng Ấp Bắc nói lên đầy đủ ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam; sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân; là tiếng chuông báo hiệu sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm cùng chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mĩ.”.
Từ trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Tân Phú đến khu di tích chừng 500 mét. Chính tại nơi đây hơn 40 năm về trước, đã diễn ra trận đánh ác liệt, dồn dập, đi vào lịch sử như một Bạch Đằng, Đống Đa hay Chi Lăng. Khu di tích là một quần thể kiến trúc nằm trong khuôn viên chừng 2 hecta bao gồm: tượng đồng 3 chiến sĩ gang thép, xe bọc thép, máy bay lên thẳng những chiến lợi phẩm sau trận đánh, pháo 105 ly, mộ 3 chiến sĩ gang thép, nhà quản trang, xen kẻ trong khu vườn hoa lúc nào cũng khoe sắc và toả hương thơm ngát. Cạnh vườn hoa là những ao nhỏ, bên dưới trồng hoa súng đỏ. Từng đàn cá rô phi, điêu hồng vô tư lội tung tăng dưới làn nước trong vắt. Du khách có thể ngồi trên những chiếc băng đá phóng tầm mắt ngắm nhìn cảnh vật nơi đây.
Có lẽ ấn tượng nhất trong khuôn viên này là tượng đồng 3 chiến sĩ gang thép cao sừng sửng, nặng 18 tấn: người cầm súng, người cầm thủ pháo hiên ngang đứng trên xe tăng địch, làm cho ta phảng phất hình ảnh của những chiến sĩ cầm cờ Tổ quốc trên nóc hầm tướng De Castrie ở trận Điện Biên Phủ năm nào. Tác giả là nhà điêu khắc Nguyễn Hải, do cơ sở đúc đồng Phương Nam, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, khánh thành nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng Ấp Bắc. Hình ảnh uy nghi của các anh như đưa chúng tôi trở về cảnh súng nổ, bom rền hơn 40 năm về trước.
Từ khi khu di tích được khánh thành đến nay đã đón hàng ngàn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu. Đây cũng là nơi giáo dục cho học sinh trong tỉnh về truyền thống đấu tranh bất khuất của tổ tiên trong sự nghiệp giữ nước. Rời khu di tích, nhìn hai bên đường, chúng tôi không khỏi vui mừng trước những cánh đồng lúa trĩu hạt, những rẫy dưa chi chít quả căng tròn. Lác đác trên cánh đồng, nhiều mô hình bằng xi -măng xác máy bay, xe M113 bốc cháy. Tất cả như minh chứng cho một sức sống mới trên mảnh đất anh hùng.

Đình Long Hưng

Đình Long Hưng, còn có tên là Miễu Chánh, nằm bên bờ kênh Nguyễn Tấn Thành, thuộc ấp Long Thạnh, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Mỹ Tho 12 km về phía Tây, cách Quốc lộ 1A 2,5km về phía Nam.
Đình được xây dựng từ hơn 150 năm trước, là nơi thờ chính của làng nên nhân dân gọi là miếu Chánh.
Đình được xây dựng theo kiểu chữ “Công”, quay về hướng Đông. Trước đình là một bình phong cao 1,5 mét, hai bên có hai miếu thờ. Đình gồm đình chính và nhà cầu trên diện tích 9.200 m2.
Đình được làm bằng cột gỗ có đường kính 0,3 mét, đặt trên tảng kê hình cổ bồng cao 0,5 mét, mái lợp ngói âm dương, hai đầu bờ nóc gắn hai con rồng bằng sứ chầu mặt trời, các đầu đao đều được gắn cá hóa rồng. Nền đình cao 0,5 mét, lát gạch hoa, chung quanh không có vách, chỉ ở đình chánh có vách bằng gỗ.
Năm 1961, đình bị sập hoàn toàn. Năm 1987, đình được xây dưng lại trên diện tích 129,6 m2 theo dạng tứ trụ, mái lợp ngói âm dương, chung quanh có tường gạch bao bọc, gồm một nơi thờ cúng và một nhà võ ca. Song song với việc thờ cúng các vị thành hoàng, đình còn thờ tả quân Lê Văn Duyệt, một công thần triều Nguyễn, quê ở Long Hưng.
Đình Long Hưng còn là một di tích cách mạng, nơi chỉ huy sở của tỉnh ủy Vĩnh Long trong khởi nghĩa Nam Kỳ.

Chùa Thanh Trước

Chùa tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Chùa được dựng vào năm 1826 có tên là chua Phật Linh. Đến năm 1851, hòa thượng Chơn Hội đứng ra tổ chức xây chùa, đổi tên là chùa Thanh Trước. Chùa trải qua bảy đời trụ trì. Năm 1896, hòa thượng Hải Tràng cho trùng tu lần thứ nhất. Từ năm 1941, hòa thượng Hoằng Thông đã cho trùng tu vào các năm: năm 1946, năm 1958 và năm 1989.

Chùa Linh Thứu

Chùa thường được gọi là chùa Sắc tứ, tọa lạc gần chợ Xoài Hột, xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Chùa được dựng vào khoang thế kỷ XVIII. Năm 1811, vua Gia Long đổi tên chùa la Long Tuyền. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị đổi tên thành Linh Thứu. Chùa được trung tu nhiều lần dưới thời thiền sư Nguyệt Hiện (giữa thế kỷ XVIII), hòa thượng Chánh Hậu (cuối thế kỷ XIX) và các sư bà: sư bà Như Nghĩa, sư bà Thông Huệ và sư bà Như Chơn (từ năm 1945 đến nay). Chính điện chùa được bài trí trang nghiêm, chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ, đại hồng chung (năm 1745), các bao lam chạm trổ công phu và nhiều câu đối có ý nghĩa Phật pháp.

Chùa Hội Thọ

Chùa nằm ở ấp Mỹ Hưng, xã Thiện Chí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Nguyên trước đó là chùa Kim Chương ở tỉnh Nam Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, Hòa thượng Minh Giác cùng đệ tử đã về Cái Bè lập chùa rồi đổi tên là chùa Hội Thọ. Trong chiến tranh chùa bị hư hỏng hoàn toàn. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng vào năm 1982 và tu bổ thêm sau đó.
Trong chùa còn lưu giữ một số tượng thờ, bài vị, tự khí, pháp khí của chùa cổ Kim Chương như: tượng Tiêu Điên bằng gỗ cao 1,34 mét, tượng Thập Điện Minh Vương bằng gỗ cao 0,7 mét, tượng Phật A Di Đà bằng đất nung cao 0,55 mét. Trong khuôn viên chùa có tháp thờ hòa thượng Thiệu Long và hai ngôi tháp của hai vị hòa thượng khác.

Chùa Vĩnh Tràng

Năm 1849, hòa thượng Huệ Đăng đã vận động tín đồ góp công, góp của xây dựng chùa theo lối kiến trúc của chùa Giác Lâm ở Gia Định, nhưng to lớn hơn với 178 cây cột, hai sân thiên tỉnh, năm lớp nhà (chùa Giác Lâm có 98 cột, một sân thiên tỉnh, ba lớp nhà). Năm 1907, hòa thượng Trà Chánh Hậu cho sửa chữa phần chánh điện. Năm 1930, hòa thượng Minh Đằng cho trùng tu toàn diện để chùa có diện mạo như ngày hôm nay. Lúc đầu, chùa có tên là Vĩnh Trường, xuất phát từ hai câu đối do chính hòa thượng sáng tác:

"Vĩnh cửu đối sơn hà,
Trường tồn tề thiên địa."

Nhưng về sau, chùa được gọi là Vĩnh Tràng. Khác vối những ngôi chùa truyền thống, chùa Vĩnh Tràng không có cổng tam quan mà thay vào đó là hai cổng ra vào được xây dựng theo lối cổ lầu và được ốp bằng nhiều mảnh sành, sứ với những màu sắc khác nhau theo chủ đề long, lân, quy, phụng, ngư, tiền, canh, mục, hoa, điểu và các điển tích Phật giáo. Chùa được xây dựng theo dạng chữ "Quốc" của Hán tự, gồm có bốn gian là tiền đường, chánh điện, nhà tổ, nhà hậu, nối tiếp nhau. Riêng mặt trước của tiền đường thì được xây dựng theo lối kiến trúc dung hòa Âu - Á với những hàng cột thanh mảnh, vòm còng và hoa văn nhiều màu sắc. Trên nóc chùa có năm mái nhô cao, tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) theo quan niệm của phương Đông.
Tại gian chánh điện, chùa có 60 tượng quý, được tạo tác bằng đồng, gỗ, đất nung và tất cả đều được thếp vàng rực rỡ. Trong đó có giá trị nghệ thuật nhất là bộ tượng mười tám vị la hán được tạc từ gỗ mít vào năm 1909. Ngoài ra, chùa còn có bảy bộ bao lam tuyệt đẹp và chiếc đại hồng chung được đúc vào năm 1854. Xung quanh chùa là những vườn cây cảnh trồng nhiều loại hoa thơm cỏ lạ, những hồ nước thơm ngát hương sen và những cây cổ thụ che trùm bóng mát, tạo nên sự hài hòa tuyệt vời giữa khung cảnh thiên nhiên với không gian kiến trúc, khiến chùa thêm cổ kính, thâm nghiêm.
Không chỉ có ý nghĩa tôn giáo và giá trị kiến trúc - nghệ thuật, chùa còn là nơi che giấu nhiều nhà yêu nước và cung cấp hậu cần cho phong trào cách mạng. Vì thế, chùa được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia, chùa Vĩnh Tràng tọa lạc tại xã Mỹ Phong , cách trung tâm thành phố Mỹ Tho khoảng 3 km.

Khu di tích Rạch Gầm - Xoài Mút

Tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ tiến quân vào Gia Định, vị tướng trẻ 32 tuổi này chọn khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), cách cửa Tiểu khoảng 70 km làm trận địa quyết chiến. Rạch Gầm - Xoài Mút nằm giữa căn cứ Trà Tân của địch và căn cứ Mỹ Tho của quân ta. Tại đây, Nguyễn Huệ bố trí phục binh với hỏa lực rất mạnh trên bãi đất và giồng đất xã An Đức và trên cù lao Thới Sơn. Trong khi đó, ở căn cứ Mỹ Tho, Nguyễn Huệ bố trí bản doanh với quân lực mỏng và làm cho địch tin là ta rút chạy về Quy Nhơn.
Vì thế, đêm ngày mồng chín tháng chạp năm Giáp Thìn tức ngày 19 tháng một năm 1785, đại quân địch gồm 2 vạn quân Xiêm và hơn 1 vạn quân của Nguyễn Ánh ào ạt tiến thẳng Mỹ Tho hòng bắt sống Nguyễn Huệ đưa về Vọng Cát. Nguyễn Huệ cho quân cầm cự đánh trả dữ dội và rút lui từ từ nhử địch vào trận địa mai phục khiến chúng vừa ham đánh vừa chủ quan. Khi toàn bộ đại quân địch lọt vào khúc sông đã bố trí sẵn, vị tướng trẻ tài ba mới phát hiệu lệnh nổi phục binh đánh dữ dội. 300 thuyền chiến lớn và hàng ngàn thuyền câu nhỏ của địch như con rắn khổng lồ đã bị đứt ra từng khúc mà tiêu diệt.
Quân thủy của Nguyễn Huệ phục sẵn từ Rạch Gầm và Xoài Mút lao ra khoá đầu và khóa cuối không cho địch rút chạy. Pháo và hoả hổ từ trận địa phục kích trên bãi bần An Đức và bãi dừa Thới Sơn đốt cháy rừng rực cả đoàn thuyền chiến của hải quân Xiêm... Trận chiến trên sông xảy ra vào đêm ngày 19 tháng 1 năm 1785 rạng ngày 20 tháng 1 năm 1785.
Công trình xây dựng khu di tích Rạch Gầm - Xoài Mút có tổng vốn đầu tư hơn 11 tỉ đồng, được khánh thành đúng dịp kỷ niệm 220 năm chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (1785 - 2005).
Công trình gồm tượng đài biểu trưng chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, hai khu nhà trưng bày và khu nhà cổ Nam Bộ. Tượng đài anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng tuốt gươm, cùng một hậu vệ trong tư thế ngồi bắn cung và hỏa lực súng thần công và một người nông dân trên chiếc thuyền chiến, đại diện cho nhân dân địa phương tham gia trận đánh. Tượng đài làm bằng đồng đỏ, nặng 20 tấn, cao hơn 8 mét.
Khu nhà trưng bày nằm dưới chân tượng đài, có hệ thống phù điêu bằng đồng bao bọc, phía trong có bức tranh phù điêu hoành tráng giới thiệu về thời kỳ khẩn hoang, lập ấp tại Rạch Gầm - Xoài Mút và về chiến công của quân Tây Sơn trong trận thủy chiến chống quân xâm lược Xiêm. Nhà trưng bày nằm bên bờ Sông Tiền và khu nhà cổ Nam Bộ, giới thiệu khoảng 564 hiện vật liên quan tới chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, gồm phương tiện sử dụng và vũ khí gươm giáo của quân Tây Sơn và quân Xiêm.

Di tích khảo cổ Gò Thành

Di tích Gò Thành thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nằm trong khu dân cư, cách chợ Ông Văn, xã Đăng Hưng Phước 200 mét và cách Ủy ban Nhân dân huyện Chợ Gạo 6 km về phía Bắc.
Tên gọi Gò Thành xuất hiện khi những người Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất này; thấy trên gò có nhiều gạch, cho đó là vết tích của một thành xưa nên đặt tên là Gò Thành, với mục đích đánh dấu một vị trí trong khu vực quần cư. Đây không phải là một thành của người Miên hay nhà Nguyễn như người dân địa phương thường gọi.
Năm 1987, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã đến tham gia Hội nghị Thông báo Khảo cổ học tại tỉnh Tiền Giang và khẳng định Gò Thành là di tích thuộc nền văn hoá Óc Eo. Di tích đã được khai quật nhiều lần, phát hiện 12 hố thờ và mộ có dạng hình giếng nằm rải rác trên mặt gò và nhiều hiện vật bằng vàng, đồng, đá, đất nung đang được trưng bày tại nhà trưng bày trong khuôn viên di tích.
Hiện nay, Khu di tích Gò Thành đã được trùng tu, tôn tạo, có tường rào bao quanh, cổng chính được thiết kế theo những hoạ tiết, hoa văn thuộc nền văn hóa Óc Eo rất độc đáo, có một nhà bao che một số đền tháp quan trọng, một nhà trưng bày hiện vật của di tích và một đình thần trong khuôn viên rộng lớn, khang trang.
Đến tham quan Di tích Gò Thành, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những hố thờ từng bị chôn vùi dưới lòng đất hàng ngàn năm, gợi nhớ cho chúng ta nhận thức mới về xã hội người Phù Nam, về các quy luật phát triển lịch sử, xã hội trên vùng đất Nam Bộ, trên đất nước Việt Nam và cả Đông Nam Á.
Hàng năm, Di tích Gò Thành thường xuyên đón nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài đến tham quan, đặc biệt là các em sinh viên, học sinh đến tham khảo để phục vụ cho công việc học tập.
Di tích Gò Thành được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Cấp quốc gia năm 1994.

Chợ nổi Cái Bè

Chợ nổi Cái Bè xuất hiện trong sự hình thành một thị trấn nhỏ bên dòng sông Tiền lộng gió. Đến vàm Cái Bè, trên một khúc sông rộng, du khách sẽ được tận mắt nhìn thấy cảnh buôn bán tấp nập. Hàng ngày, có khoảng 400 thuyền đến 500 thuyền đầy ắp các loại trái cây neo dọc hai bên sông chờ thương lái đến cất hàng. Ghe xuồng như mắc cửi, tiếng nói cười rộn rã, huyên náo - cái huyên náo không dễ lẫn mà chỉ riêng miền sông nước Cửu Long mới có, mang một nét quyến rũ đặc biệt.
Nằm về phía hữu ngạn chợ nổi Cái Bè là cù lao Tân Phong, xưa là Cồn Cù, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, được hợp thành bởi sáu hòn đảo xinh xắn có tổng diện tích 2.430 hecta. Tân Phong như hòn ngọc xanh giữa dòng sông Tiền trĩu nặng phù sa, nổi tiếng với những vườn chôm chôm quả to và ngọt. Đây còn là hình ảnh thu nhỏ của miền Tây Nam Bộ hấp dẫn du khách đến với văn minh miệt vườn.

Cồn Lân (Cồn Thới Sơn)

Cồn Thới Sơn có chiều dài khoảng 11 km và chiều rộng khoảng 1 km. Đây là vùng trồng cây ăn quả nổi tiếng, dân số khoảng 6.000 người nằm giữa sông Tiền thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Cồn được phù sa sông Tiền bồi đắp, trông từ xa cồn như một pháo đài được khai phá cách đây 300 năm. Đây là điểm du lịch của Công ty Du lịch Tiền Giang nằm đối diện với thành phố Mỹ Tho, một hòn đảo giữa sông luôn cuốn hút du khách thập phương.
Từ bến thuyền sau 30 phút ngắm cảnh sông nước miền Tây mênh mông lộng gió, du khách sẽ cập bến Thới Sơn. Dân cư ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng cây ăn quả và đánh bắt thủy sản. Cồn Thới Sơn chằng chịt kênh rạch và các cây ăn trái đặc sản, đặc biệt là cây nhãn.
Năm 1990 toàn bộ cồn Thới Sơn như “bừng tỉnh” sau một giấc ngủ dài khi có điện thắp sáng. Hiện nay, toàn bộ cây được trông tên cồn chủ yếu là nhãn và Sapôchê. Tại đây du khách sẽ thoải mái vào ngắm các vườn cây, nằm trên võng hay ghế xích đu tận hưởng gió mát và thưởng thức các loại trái cây ngon ngọt. Cồn Lân lúc nào cũng đầy cây trái, mùa nào trái nấy. Hết nhãn tới chôm chôm rồi vú sữa, sầu riêng. Hơn thế, du khách còn có thể thưởng thức các món ăn cá, tôm tươi sống, đắc biệt là món Cá Tai Tượng chiên xù. Du khách sẽ có dịp làm quen với những chủ vườn vui vẻ, chân thật, mến khách.

Cồn Rồng (Cồn Tân Long)

Cù lao Rồng được bồi đắp từ khoảng năm 1872, sau đó thuộc quyền sở hữu của Đốc phủ Mầu, một địa chủ khét tiếng ở Mỹ Tho trước đây. Dưới chế độ cũ, người ta đã lập một “trại cùi” trên cù lao Rồng để cách ly bệnh nhân mắc bệnh phong.
Năm 1971, “trại cùi” được dời ra Quy Hòa (Quy Nhơn), cù lao Rồng bắt đầu đón những cư dân lành lặn đầu tiên đến sinh sống và đây trở thành một vùng đất trù phú, đầy hoa thơm trái ngọt, thuyền bè vào ra tấp nập. Đa số các gia đình sống trên cù lao này đều làm nghề đánh cá ngoài biển khơi.
Nơi đây cũng có nhiều cây ăn trái đặc biệt là cây nhãn, nhãn ở đây ngon không thua gì nhãn ở Cai Lậy.
Đường sá đi lại trên cù lao đều được tráng xi măng. Cù lao nằm giữa sông Tiền, ngay kế bên công viên Lạc Hồng của thành phố Mỹ Tho. Điện sáng suốt đêm, thuyền máy, ghe tam bản ngày đêm qua lại nối liền với thành phố Mỹ Tho. Giữa một vùng sông nước mênh mang, cù lao Rồng là một trong những hòn ngọc xanh nằm ngay hành lang thủy lộ của những chiếc phà nối liền hai tỉnh Tiền Giang - Bến Tre, đêm ngày xuôi ngược.

Trại rắn Đồng Tâm

Cách thành phố Mỹ Tho khoảng 9 km, Trung tâm Nuôi trồng Nghiên cứu Chế biến Dược liệu Quân khu 9, hay gọi là Trại rắn Đồng Tâm (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) từ lâu đã hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế. Đặc biệt, đây còn là nơi chữa trị rắn cắn cho bà con khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Tiền thân là Xí nghiệp 408 (trại rắn Đồng Tâm), đến năm 1988 được nâng cấp lên thành Trung tâm nuôi trồng, nghiên cứu, chế biến dược liệu Quân khu 9, có nhiệm vụ bảo tồn các nguồn dược liệu quý, sản xuất thuốc y học dân tộc, cấp cứu và điều trị rắn độc cắn cho quân và dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Gần 30 năm qua, hoạt động của Trung tâm đạt nhiều thành quả trong việc phục vụ cho nhân dân và quốc phòng.
Năm 2005, Trung tâm nuôi trồng, chế biến dược liệu Quân khu 9 được nhà nước và các bộ, ngành đầu tư hơn 10 tỷ đồng xây dựng khoa cấp cứu rắn độc, nhà xưởng và các trang thiết bị máy móc để phục vụ tốt hơn nhu cầu điều trị bệnh cho nhân dân. Từ tháng 3 năm 2006, các bệnh nhân đến đây được khám và nằm viện miễn phí với mỗi ca giảm khoảng 200.000 đồng.
Hiện nay, Trung tâm có thể cứu sống những người bị rắn độc cắn chỉ còn thoi thóp, nếu đem đến Trung tâm kịp thời. Nhiều trường hợp bệnh nhân bị rắn cắn đi nhờ các thầy lang điều trị, vừa không khỏi bệnh vừa tốn kém, đến khi đem đến Trung tâm thì những chỗ bị rắn cắn đã hoại tử, phải mất nhiều thời gian mới chữa khỏi. Từ thực trạng đó, Trung tâm đã kết hợp với các trạm y tế địa phương tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân kiến thức về cách phòng ngừa rắn độc, cũng như sơ cấp cứu ban đầu trước khi đem đến bệnh viện gần nhất.
Không những là nơi điều trị bệnh nhân bị rắn độc cắn mà trại rắn Đồng Tâm còn là điểm tham quan độc đáo, nằm trong tour du lịch Mỹ Tho - cù lao Thới Sơn - trại rắn Đồng Tâm. Tại đây, du khách tận mắt chiêm ngưỡng hàng trăm loại rắn khác nhau, từ những loài rắn hiền lành (rắn nước, rắn gáo...), đến các loài rắn độc (hổ ngựa, rắn hổ cạp nong, hổ mai gầm...), những loài động vật quí hiếm như trăn, cá sấu, ba ba, cáo, gấu...
Hiện mỗi năm có khoảng từ 30.000 du khách đến 40.000 du khách đến tham quan nơi đây. Để ngày càng thu hút khách du lịch, Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Tiền Giang đang phối hợp cùng Trại rắn Đồng Tâm đầu tư nâng cấp toàn khu trại rắn, trồng cây xanh, bổ sung nhiều con thú quí hiếm khác... Dự kiến, khi hoàn thành mỗi năm trại rắn sẽ đón khoảng 10.000 lượt du khách đến 15.000 lượt du khách đến tham quan.

Đi Tiền Giang cẩn thận...

Tiền Giang là một trong những điểm du lịch ngắn ngày về vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hút được rất nhiều sự quan tâm của du khách. Nhưng có một điều rất đáng lưu ý cho du khách khi đi du lịch Tiền Giang là nạn "cò du lịch".
Những "cò du lịch" này thường chào mời khách mua dịch vụ tham quan các khu du lịch như Cồn Phụng, cù lao Thới Sơn, hay các lò kẹo ở Bến Tre... với giá rẻ hơn giá niêm yết của những công ty du lịch địa phương. Nhưng chất lượng dịch vụ thì thua kém rất nhiều...
Đầu tiên là những con đò đưa khách qua bên Cồn chỉ là những con đò nhỏ với những chiếc ghế nhựa chênh vênh và không có phao cứu sinh, bất kể khi ra giữa dòng sông lúc nào cũng có gió to - sóng lớn, thuyền chòng chành chao nghiêng, rất nguy hiểm.
Qua được sông, đến những điểm tham quan đã được mua trước trong gói dịch vụ thì mới biết "thời gian" lúc này là cả một vấn đề. Đưa khách đến tham quan các điểm du lịch nhưng thời gian cho khách tham quan thì vô cùng eo hẹp. Để khách xuống điểm tham quan một lúc, các "cò" sẽ hối khách quay về, nếu khách không xuống đò qua lại bên kia sông thì khách sẽ phải tự đón đò về sau, có khi đi được vài điểm nhưng chưa hết lộ trình định sẵn nếu thích các "cò" sẽ tự ý ngang nhiên kết thúc chuyến tham quan.
Chuyện ăn uống với khách du lịch không may rơi vào tay "cò" cũng là một chuyện đáng nói. Không cần biết khách du lịch có đồng ý hay không, các "cò" cũng vẫn ung dung tấp đò vào các quán ăn đã được móc nối sẵn. Giá cả ở đây thì, khách du lịch dù chỉ ăn những món thật bình dân thì cũng phải mất từ vài trăm nghìn cho đến bạc triệu.
Thành phố Mỹ Tho là một trong những điểm du lịch của Tiền Giang hiện nay có nhiều "cò du lịch" hoạt động nhất. Từ những điểm du lịch như Ngã ba Trung Lương, chùa Vĩnh Tràng cho đến đoạn đường 30 tháng 4, Vườn Hoa Lạc Hồng, nơi nào cũng tấp nập các cò du lịch, vẫy tay mời gọi.
Đi du lịch là tìm lấy niềm vui và thư giãn sau những ngày làm việc mệt nhọc, nên đi như thế nào để chuyến đi của mình thật sự là một chuyến đi vui vẻ và đầy thú vị là một chuyện rất cần thiết, Khách du lịch khi du lịch qua những điểm tham quan trên cần lưu ý không nên nghe những lời mời gọi lôi kéo ngọt ngào với những dich vụ tham quan giá rẻ, hãy từ chối đúng lúc để chuyến du lịch không phải là một cực hình và cũng không phải vác vào người những bực bội vì bị lừa.

am thuc tien giang

Hủ Tiếu Mỹ Tho
Hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, Phở Bắc, bún bò Huế…ở chỗ không ăn với xà lách, rau ghém mà dùng giá sống, chanh ớt, nước tư ơng.
Điều làm nên hương vị riêng khiến cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên sáu mư ơi nhờ sự hoàn thiện từ khâu hạt gạo làm ra cọng bánh tới nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trừ danh đất Mỹ Tho như : Phánh Ký, Nam Sơn, Tuyền Ký, cùng các lớp thợ nấu sau này.
Nhiều người cho biết, hủ tiếu ngon nhất phải làm bằng loại gạo Gò Cát (đặc sản như Đào). Đây là vùng trồng lúa thơm địa phương của xã Mỹ Phong, ngoại thành Mỹ Tho. Cũng cần nói thêm, gạo Gò Cát làm bún, bánh tráng, bánh nghệ nức tiếng Mỹ Tho hơn 40 năm nay. Như ng hủ tiếu ngon phải là bánh khô, khi nấu trụng sơ nước sôi, lư ợm mỡ hành phi, cọng trong bóng, bắt mắt

Sam biển Gò Công

Ngoài các loại cá tôm thiên nhiên ưu đãi, ở vùng biển xã Vàm Láng, Tân Thành, huyện Gò Công Ðông (Tiền Giang) có đặc sản khá hiếm: sam biển. Với hình thù lạ mắt: vỏ cứng như mai cua, mình tròn dẹt, đường kính độ gang tay, tám chân càng nhỏ dưới bụng, phần đầu là mũi nhọn ba cạnh rất linh hoạt dài cỡ 20 cm.
Khoảng từ tháng 10 cho tới tháng 2 âm lịch, sam bắt cặp phối giống và sau đó sam cái mang bụng đầy trứng nhỏ như hạt tiêu đợi ngày sinh nở. Gió chướng thổi về, người dân ven biển chúng tôi sáng sớm đi dọc bờ thỉnh thoảng vẫn bắt được những cặp sam tấp mé.
Ăn sam trứng phổ biến nhất là món nướng. Ðốt bếp than gáo dừa, đặt ngửa sam rồi trở đều tới khi chín vàng, mùi thơm đặc biệt lan xa. Chuẩn bị sẵn bưởi chua tách múi, củ cải thái nhỏ ngâm giấm, rau thơm gồm húng cây, răm, đậu phộng rang đập giập, hành phi, nước mắm chanh, tỏi, ớt. Lật ngửa con sam nóng hổi, tách yếm bỏ ruột, dùng dao bén rạch bụng sẽ thấy trứng đầy ắp, vàng ươm bắt mắt. Phần thịt sống lưng và sát đuôi dai, ngọt. Người ta bảo thịt sam có tác dụng chữa hen suyễn. Dùng muỗng nhỏ múc trứng vào chén riêng, thêm gia vị tùy thích. Trứng sam béo, thơm, nhiều đạm, ngon miệng và rất bổ dưỡng. Nếu chưa muốn ăn ngay thì phơi sam vài buổi nắng cho khô nước rồi treo giàn bếp để dành, lúc cần nướng lên ăn vẫn thơm ngon. Người ta còn đốt cháy vỏ sam, giã nhuyễn trộn với dầu dừa, dùng thoa ngoài da trị dị ứng (ngứa, nổi mày đay...). Có người luộc chín sam, gỡ trứng phi mỡ hành trộn gỏi, giữ nguyên vỏ sam và sơn dầu bóng dùng trang trí nhà chơi. Sam chặt miếng to nấu canh chua với bạc hà, rau nhút hoặc đậu rồng, rau om lai rai lít rượu nếp là đúng điệu.
Có dịp về Gò Công để thưởng thức món sam trứng, bạn sẽ có một ấn tượng 
khó quên!

 Dzoãn Tiến Đạt - Chủ Nhiệm CLB HDV Đồng Hành Việt

M: 0903 97 68 33 - 0906 97 68 33

YM:tiendatguid

E:tiendatguide@yahoo.com

Facebook:tiendatguide

W:www.tourgidegroupdonghanhviet.blogspot.com

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận