trang Blog

hoang93Tham gia: 10/08/2008
  • Huế thương
    Giải Trí
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Huế thương

    Huế thương
     

    Huyền Trân Công Chúa



    Công chúa Trần Huyền Trân ra lệnh dừng kiệu. Trên đỉnh đèo Hải Vân, gió mây lồng lộng. Nàng vén tấm màn gấm, nhẩn ra xa, mây trắng vẫn hồn nhiên bay ngang qua lưng đèo... Lệ Liễu , người hầu thân tín, đưa Huyền Trân ra khỏi kiệu hoạ Gót sen bước xuống, dáng mai lả lướt, vóc liễu thướt tha. Bóng chiều bảng lảng ánh tà. Não nùng tự hỏi quê nhà nơi đâu ? Công chúa dõi mắt nhẩn về phương Bắc, cõi lòng bồi hồi, con tim thổn thức. Hỡi ôi, có ai thấu được nỗi lòng nàng !

    Chiều chiều gió thổi Hải Vân,
    Chim kêu gành đá gẫm thân em buồn .

    Toàn cảnh đền thờ Huyền Trân Công Chúa tại Huế

    Điện thờ Huyền Trân Công Chúa

    Nước non ngàn dặm ra đi.

    Cái tình chi !
    Mượn màu son phấn,
    Đền nợ Ô Ly,
    Xót thay vì,
    Đương độ xuân thì,
    Độ xuân thì,
    Số long đong, hay là duyên nợ gì ?
    Má hồng da tuyết,




    Quyết liều như hoa tàn, trăng khuyết.
    Vàng lộn theo chì.
    Khúc ly ca,
    Sã còn mường tượng nghe gì ?
    Thấy chim hồng nhạn bay đi,
    Tình lai láng,
    Hướng dương hoa Quì.
    Dặn một lời Mân Quân :
    Như chuyện mà như nguyện,
    Đặng vài phân,
    Vì lợi cho dân,
    Tình đem lại mà cân,
    Đếng cay trăm phần...

    Huyền Trân (1289), công chúa đời Trần, là con gái của vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông. Năm1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) để đổi lấy hai châu Ô, Lý.

    Nguồn Internet

     

    Thuận Hoá

    Năm 1306, Chế Mân dâng hai Châu ô, Châu Lý làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Năm 1307 vua Trần Anh Tông tiếp thu vùng đất mới và đổi tên là châu Thuận và châu Hóa. Việc gom hai châu này làm một dưới cái tên phủ Thuận Hóa được thực hiện dưới thời nội thuộc Nhà Minh.

    Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari, nhưng gần một năm sau, tháng 5 năm1307 Chế Mân mất. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên dàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm (theo Đại Việt Sử ký toàn thư thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa)

    Nguồn Internet

     

    Đã hơn 700 năm qua đi kể từ mùa hè năm 1306 Huyền Trân Công Chúa vâng lệnh Vua cha là Trần Nhân Tông và anh là Trần Anh Tông về làm dâu chiêm quốc, khởi đầu cho hành trình nam tiến mở mang bờ cõi của cha ông ta. Công lao đóng góp to lớn ấy sẽ mãi mãi được ghi nhận trong lòng mỗi người dân Việt.

    Thời nhà Nguyễn (1802 - 1945) có lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi - phường Đúc để thờ các vị khai quốc công thần trong đó có Huyền Trân công chúa. Nhưng theo sự bào mòn của thời gian và bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, miếu thờ này không còn nữa. Hiện nay, một số tỉnh thành trong cả nước có đền thờ Huyền Trân công chúa như ở núi Ngũ Phong Huế, Yên tử - Hoàng Bồ tỉnh Quảng Ninh, Gia Viễn - Ninh Bình, Nam Định - thành phố Nam Định, Gio Linh - tỉnh Quảng Trị...Và đặt tên bà cho các đường phố ở Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị, TP HCM...

    Nguồn Internet

    Phú Xuân

    Với lời sấm truyền " Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một dải Hoành sơn, có thể yên thân muôn đời); năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở Ðàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân. Hơn ba thế kỷ từ khi trở về với Ðại Việt, Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị. Sự ra đời của thành Hóa Châu (khỏang cuối TK XV, đầu TK XVI) có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với tư cách là một tòa THÀNH PHÒNG THỦ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi cho đến năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Huế sau này. Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là PHÚ XUÂN, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Ðàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712 - 1738) phủ chúa dời ra BÁC VỌNG, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc Ðông Nam Kinh thành Huế hiện nay. Sự nguy nga bề thế của Ðô thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Ðôn mô tả trong PHỦ BIÊN TẠP LỤC năm 1776 và trong Ðại Nam Nhất Thống Chí, với tư cách là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà. Phú Xuân là thủ phủ của xứ Ðàng Trong ( 1687-1774); rồi trở thành Kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất dưới triều đại Quang Trung (1788 - 1801) và cuối cùng là Kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945). Phú Xuân-Huế, Thừa Thiên Huế đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa nghệ thuật quan trọng của đất nước từ những thời kỳ lịch sử ấy.

     

     

     

    Cửa Thượng Tứ

    Huế

    Hiện chưa có nguồn thông tin nào khẳng định địa danh "Huế" chính thức xuất hiện lúc nào, theo một số thông tin thì: Vua Lê Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên nói đến địa danh Huế trong bài văn nôm “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn”. Trong đó có câu: “Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vạy then".

    Làng Chuồn - Huế

    Hiểm Lâm Các

    Cửa Hoà Bình

    Trong hồi ký của Pierre Poivre, một thương nhân Pháp đến Phú Xuân vào năm1749, cái tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué.

    Nhà thờ Nguyệt Biều

    Ngày hôm nay Huế là một thành phố du lịch hiền hoà nằm bên bờ biển Thái Bình Dương thuộc miền trung Việt Nam là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên Huế. Là Kinh đô vang bóng một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc, ẩm thực và văn hoá khá khác biệt so với nhiều vùng miền khác ở Việt Nam.

    Lầu Ngũ Phụng

    Kinh thành Huế

    Một góc chùa Linh Mụ

    Biệt phủ Thảo Nhi

    Huế nổi tiếng bởi dòng Hương Giang hay ngày xưa người ta còn gọi là sông Lô Dung, Linh Giang hay sông Dinh.

     

    Chùa Linh Mụ

    Thuyền tam bản trên sông Hương

    Nếu ai đó đã ví mùi hoa sữa vào thu Hà Nội như là mùi hương của người con gái thì dòng Hương Giang chính là dòng sông mang trên mình một cái tên đầy nữ tính cùng với mùi hương tinh khiết.

     

    Nhìn từ đồi Vọng Cảnh

    Xuất phát từ hai ngọn nguồn nằm sâu thẳm trên rừng Trường Sơn nguồn Tả Trạch từ núi Trường Động chảy về hướng tây bắc lao mình qua 55 ngọn thác hùng vĩ rồi chầm chậm đi qua ngã ba Bằng Lảng ; nguồn Hữu Trạch ngắn hơn, sau khi vượt qua 14 ngọn thác hiểm trở và qua khỏi bền đò Tuần, cũng tới ngã ba sông hợp dòng với Tả Trạch, và thế là Hương giang vừa mới ra đời đã nhè nhẹ lặng lờ xuôi về Biển Đông. Từ Bằng Lảng đến Cửa Thuận, Hương chuyển dời thật chậm, uốn éo quanh co làm duyên làm dáng giữa núi rừng từ thác Thủ cuộn sóng về bến Tuần, làm cho nhà thơ Thu Bồn khi đến Huế đã tức cảnh thành thơ :

    “Con sông dùng dằng con sông không chảy

    Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”


    Vớt cát trên sông Hương

    Văn Thánh Huế

    Đến với Huế, bạn sẽ bị chinh phục bởi vẻ đẹp hiền hoà, đầy nữ tính của người con gái xứ Huế cũng như những nét đặc trưng của kiến trúc thành cổ, lăng tẩm, văn hoá, ẩm thực...

    Cột cờ Huế

    Chùa Linh Mụ

    Con người và thiên nhiên xứ Huế sẽ đưa bạn vào một thế giới khác mà ở đó âm thanh, hình ảnh, thời gian, góc độ ánh sáng ...tất cả dường như quá hoàn hảo bởi tạo hoá.







    Xuân Đinh Hợi

    ©Dulichvietnam360°