trang Blog

Chế Hồng TiếnTham gia: 25/06/2008
  • Chuyên đề 2: Liên Xô và các nước Đông Âu từ giữa những năm 70 đến đầu những năm 90 của thế kỉ XX.
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Chuyên đề 2: Liên Xô và các nước Đông Âu từ giữa những năm 70 đến đầu những năm 90 của thế kỉ XX.

    Bài 2: ____________________________________________________

    LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ GIỮA NHỮNG NĂM 70 ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 90 CỦA THẾ KỈ XX.

    I/ SỰ KHỦNG HOẢNG VÀ TAN RÃ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT.

    1/ Bối cảnh lịch sử.

    - Bước vào thập niên 70, tình hình thế giới có nhiều biến động báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn cầu (không trừ một quốc gia nào), mở đầu là cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 đặt ra cho nhân loại những vấn đề bức thiêt cần phải giải quyết (bùng nỗ dân số, hiểm hoạ môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt,...).

    - Để thích nghi về kinh tế, chính trị, xã hội những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải cách điều chỉnh về cơ cấu, kinh tế, chính trị, xã hội cho phù hợp với tình hình mới.

    - Đây vừa là thời cơ vừa là thách thức vươn lên của các quốc gia. Nhưng những người lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô lại không thức đó chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất Chủ nghĩa xã hội không chịu tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn xã hội Chủ nghĩa xã hội , không chịu tác động của cuộc khủng hoảng toàn thế giới, chậm sửa đổi chậm thích ứng và đã bỏ lỡ thời cơ này.

    - Sau cuộc khủng hoảng thế giới (1973) các nước Tư bản tiến hành nhiều cải cách điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội. Cuộc Cách mạng Khoa học kĩ thuật lần hai trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu kỳ diệu.

    - Trong tình hình mới, mô hình và cơ chế của Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát triển kinh tế theo chiều dọc, hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy luật khách quan về kinh tế) đã cản trở phát triển mọi mặt của xã hội.

    - Sự bất mãn trong nhân dân ngày càng tăng trước những hiện tượng thiếu dân chủ chưa công bằng vi phạm pháp chế Chủ nghĩa xã hội , tệ nạn quan liêu, độc đoán,... trong bộ máy nhà nước làm cho đất nước lâm vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng toàn diện.

    - Chính những sai lầm trong việc không có những chủ trương, đường lối phù hợp đã khiến Liên Xô không vượt qua được khủng hoảng như các nước tư bản mà ngày càng lún sâu vào khủng hoảng, làm cho cuộc khủng hoảng toàn diện và trầm trọng hơn.

    2/ Công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985-1991)

    a/ Nội dung

    Năm 1985, Goóc-ba-chốp thực hiện công cuộc cải tổ nhằm đưa đất nước thoát khỏi khỏi khủng hoảng.

    +/ Về chính trị, xã hội: thiết lập chế độ tổng thống tập trung mọi quyền về tay tổng thống, thực hiện chế độ đa nguyên về chính trị, hạ thấp vai trò của Đảng cộng sản.thực hiện dân chủ và công khai vô nguyên tắc.

    +/ Về kinh tế: chuyển sang nền kinh tế thị trường nên quan hệ quan hệ kinh tế cũ bị phá vỡ trong khi quan hệ sản xuất mới chưa hình thành.

    +/ Cải tổ thất bại: kinh tế suy sụp dẫn đến khủng hoảng chính trị xã hội, xung đột dân tộc nội bộ Đảng Cộng Sản Liên Xô chia rẽ, các thế lực chống Chủ nghĩa xã hội phát triển mạnh mẽ. Đất nước rơi vào khủng hoảng toàn diện, công cuộc cải tổ vượt khỏi mục tiêu Chủ nghĩa xã hội .

    b/ Hậu quả

    - Công cuộc cải tổ ngày càng bế tắc, kinh tế sụp đổ dẫn đến khủng hoảng về chính trị, xã hội, xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc. Sự bất đồng trong nội bộ Đảng Cộng Sản Liên Xô ngày càng phát triển. Các thế lực chống Chủ nghĩa xã hội tích cực hoạt động.

    - 19/8/1991, một số nhà lãnh đạo Đảng và chính phủ Xô-Viết tổ chức đảo chính Goóc-ba-chốp nhưng bất thành. Sau cuộc đảo chính bất thành (1988-1991), Đảng cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động (9/1991) các nước Cộng hoà tuyên bố độc lập (chính quyền Xô-Viết bị giải thể).

    - 21/12/1991, 11 nước Cộng hoà thành lập “Cộng đồng các quốc gia độc lập” (SNG). 25/12/1991,chính phủ Liên bang bị giải thể, cờ búa liềm trên nóc điện Kremli bị hạ xuống.

    - Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ là tổn thất lớn nhất cuả hệ thống Chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới. Nhưng đây là sự sụp đổ cuả một mô hình Chủ nghĩa xã hội khuyết tật chứ không phải là sự sụp đổ cuả lý tưởng Chủ nghĩa xã hội . Sự khủng hoảng và sụp đổ đã để lại những bài học kinh ngiệm quý giá cho Chủ nghĩa xã hội .

    II/ CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ TAN RÃ CUẢ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU (CUỐI NĂM 1988-1991)

    1/ Nguyên nhân

    Thời điểm Liên Xô bước vào cải tổ (1985) đã là muộn nhưng các nước Đông Âu vẫn giữ nguyên cơ chế cũ.

    Các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước Đông Âu cho rằng chẳng có gì sai sót để để đổi mới. Ở các nước Đông Âu, một số nhà lãnh đạo tha hoá làm cho nhân dân bất bình.

    2/ Diễn biến chính (những nét chính)

    Cuộc khủng hoảng sớm nhất ở Ba Lan (1978) sau đó lan sang các nước Đông Âu khác. Các thế lực chống Chủ nghĩa xã hội với sự tiếp sức của chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, ra sức kích động công nhân bãi công, quần chúng biểu tình đòi cải cách kinh tế, chính trị, đa nguyên, đa đảng, tổng tuyển cử tự do ( tiêu biểu là nhân dân Rumani đấu tranh vũ trang,..).

    3/ Kết quả

    Các Đảng bị chia rẽ thành nhiều phe phái và mất chính quyền qua các cuộc tổng tuyển cử tự do. Hệ thống thế giới của Chủ nghĩa xã hội thực tế không còn tồn tại, các nước Đông Âu theo chế độ tư bản. Tháng 10/1990, Cộng hoà dân chủ Đức xác nhập vào Liên bang Đức.

    III/ ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THẾ GIỚI.

    - Sự sụp đổ của chế độ Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển chung của toàn thế giới.

    - Dẫn đến hậu quả là hệ thống thế giới cuả Chủ nghĩa xã hội thực tế không còn tồn tại nưã.

    - Một số nước kiên định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Cu Ba, CHDCND Triều Tiên, Lào...gặp nhiều khó khăn.

    - Trên thế giới mất đi những nước làm đối trọng với Mỹ, vì vậy Mỹ âm mưu thiết lập một trật tự thế giới mới, đơn cực, do Mỹ đứng đầu.

    IV/ NHẬN XÉT CHUNG VỀ NGUYÊN NHÂN ĐẾN KHỦNG HOẢNG RỒI SỤP ĐỔ CỦACHẾ ĐỘ CHỦ NGHĨA HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU.

    +/ Trong những năm 1989-1991 chế độ Chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đỗ ở hầu hết các nước Đông Âu và chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật là: tuyên bố từ bỏ Chủ nghiã Mác-Lênin và Chủ nghĩa xã hội , thực hiện đa nguyên về chính trị và chế độ đa đảng; chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường với nhiều hình thức sở hữu; hầu hết các Đảng cuả giai cấp công nhân ở các nước Đông Âu đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái, nhiều tổ chức với tên gọi khác nhau; tên nước quốc k, quốc huy và ngày quốc khánh đều thay đổi theo hướng gọi chung là các nuớc Cộng Hoà.

    +/ Nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ cuả chế độ Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu:

    - Mô hình Chủ nghĩa xã hội đã xây dựng có nhiều khuyết tật và thiếu sót (không phù hợp với quy luật khách quan trên nhiều mặt phát triển kinh tế xã hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ chế tập trung-quan liêu bao cấp, làm cho nền kinh tế đất nước thiếu tính năng động và thiếu mềm dẻo trong phát triển, do đó dẫn đến tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế Chủ nghĩa xã hội ...).

    - Bên cạnh đó các nước Đông Âu áp dụng mô hình cuả Liên Xô một cách máy móc, không phù hợp với đậc điểm dân tộc làm cho quần chúng phản ứng, tách rời với những tiến bộ văn minh thế giới nhất là khoa học- kĩ thuật.

    - Chậm thay đổi trước những biến động lớn cuả tình hình thế giới (Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ và các nhà lãnh đạo Đông Âu cho rằng Chủ nghĩa xã hội là ưu việt không có gì xai sót mà sưả chưã).Sau khi sưả chưả lại nguyên lí đúng đắn cuả chủ nghiã Mác- Lênin.

    - Những sai lầm cùng sự tha hoá về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng cuả một số người lãnh đạo đảng và nhà nước ở một số nước Chủ nghĩa xã hội .

    - Hoạt động chống phá cuả các thế lực chống Chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước liên tục phát triển...

    +/ Nhận xét:

    - Đây là một thất bại nặng nề cuả Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hậu quả là hệ thống thế giới cuả Chủ nghĩa xã hội thực tế không còn tồn tại nưã. Nhưng đây chỉ là mô hình Chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, một bước lùi tạm thời. Vì vậy cần phải xây dựng một chế độ Chủ nghĩa xã hội khoa họcđầy tính nhân văn phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống cuả mỗi quốc gia bằng cách vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa xã hội khoa học vào từng hoàn cảnh cụ thể ; luôn luôn cảnh giác với mọi âm mưu cuả các Đế quốc; phải luôn nâng cao vai trò lãnh đạo cuả Đảng Cộng Sản...

    - Nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra cho các nước Chủ nghĩa xã hội đang tiến hành công cuộc cải cách đổi mới, nhằm xây dựng chế độ một chế độ Chủ nghĩa xã hội đúng với bản chất nhân văn vì sự giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hoá cuả mỗi dân tộc.

    CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CỦNG CỐ

    Câu hỏi 1:

    Trình bày những nét chính về công cuộc cải tổ ở Liên Xô từ năm 1985-1991, cuộc đảo chính ngày 19/8/1991 và những hậu quả nghiêm trọng cuả nó đối với đất nước Xô-Viết.

    Câu hỏi 2:

    Cuộc khủng hoảng cuả Chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu đã diễn ra như thế nào trong những năm 1989-1991? Hậu quả cuả nó.

    Câu hỏi 3:

    Quá trình khủng hoảng rồi sụp đổ của chế độ Chủ nghĩa xã hội ở các nước Liên Xô và Đông Âu diễn ra như thế nào? Sự sụp đổ của chế độ Chủ nghĩa xã hội ở các nước Liên Xô và Đông Âu có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển chung của toàn thế giới?

    Câu hỏi 4.

    Trình bày những nguyên nhân khủng hoảng rồi sụp đổ cuả chế độ xã hội chủ nghiã ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Anh (chị) có nhận xét gì về sự sụp đổ đó.

    .................................................................................................................................