trang Blog

buicongthuanTham gia: 25/04/2009
  • VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI - Nguyễn Huy Tưởng
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI - Nguyễn Huy Tưởng

    VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG
    BÀI THAM KHẢO GIÚP BẠN ÔN THI ĐẠI HỌC KHỐI C&D

    VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI
    trích đoạn kịch VŨ NHƯ TÔ của Nguyễn Huy Tưởng
    ( SGK văn 11, nâng cao, tập 1, tr. 216)

    Bùi Công Thuấn

    ________________________________________________________

    NGUYỄN HUY TƯỞNG (1912-1960)



    Quê ở làng Dục Tù, huyện Đông Anh, hà nội, xuất than trong một gia đình nhà Nho.
    Ông sớm tham gia CM, ( Hội Văn Hoá Cứu Quốc)
    TP Kịch : Vũ Như Tô (1941), Bắc Sơn (1946), Những Người Ở lại (1948), Sống Mãi Với Thủ đô (1961); Ký : Ký Sự Cao lạng
    Được tặng Giải thưởng HCM 1996


    Kịch VŨ NHƯ TÔ

    Vũ Như Tô là vở kịch lịch sử 5 hồi viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng 1516-1517.

    Vua Lê Tương Dực khát khao xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi vui chơi với cung nữ. Người duy nhất có thể giúp y xây đài là Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài. Vũ Như Tô vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, kiên quyết từ chối ( Hồi I)

    Một cung nữ tên là Đan Thiềm khuyên ông chấp nhận yêu cầu cuả Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế, tiền bạc cuả y, xây dựng cho đất nước một công trình vĩ đại “ có thể tranh tinh xảo với hoá công “, đem lại vinh dự cho non song và niềm tự hào cho hậu thế.

    Theo lờ khuyên, VNT chấp nhận xây Cửu Trùng Đài. Ông ra sức xây dựng công trình sao cho thật hung vĩ , tráng lệ. Nhưng công trình càng đến gần thành công thì mâu thuẫn giưã VNT và những người thợ, người dân càng gay gắt ( Hồi II, II, IV)

    Lợi dụng tình thế rối ren ấy,Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe đối nghich trong triều, dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản, giết Tương Dực, Đan Thiềm, Vũ Như Tô, thiêu huỷ Cửu Trùng Đài (HồiV)


    ĐOẠN TRÍCH

    Lớp 1 :
    Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô (VNT) đi trốn vì Trịnh Duy sản làm phản kéo binh về, hơn nưã ai ai cũng cho VNT là thủ phạm, dân gian lầm than là vì VNT, họ dấy nghiã để giết VNT và phá Cửu Trùng Đài. VNT không đi trốn. “Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài”

    Lớp 2 :
    Nguyễn Vũ ( Đông các học sĩ, tay chân cuả Lê Tương Dực ) đi tìm nhà vua. Vũ lo cho nhà vua vì Sản là đưá tiểu nhân . Đan Thiềm lại khuyên VNT

    Lớp 3 :
    Lê Trung Mại ( viên Thái giám thân cận cuả hoàng hậu) báo tin Duy Sản làm phản trên đường trốn chạy, nhà vua đã bị giết chết. Cả Nguyễn Vũ và Lê Trung Mại đều khóc vua.. Nguyễn Vũ tự sát theo vua. Đan Thiềm than : biến đến thế là cùng

    Lớp 4 : Thêm bọn nội giám báo Duy sản giết vua, lập Quang Trí lên ngôi. Võ Tả Hầu Phùng mai mắng bọn phản nghịch bị Duy sản giết chết. Trong triều đang loạn thì An Hoà Hầu Nguyễn Hoằng Dụ được tin vua chết kéo quân về đốt phá kinh thành, phá Cửu Trùng Đài. VNT không tin Cửu Trùng Đài bị phá

    Lớp5: Đan Thiềm lại khuyên VNT đi trốn. Đợi thời là thượng sách, đừng để phí tài trời
    Lớp 6 : Kim Phượng, thứ phi được Lê Tương Dực sủng ái chạy tới. Đan Thiềm noí là đường
    cùng rồi, quân khởi loạn kéo vào
    Lớp 7 : VNT và Đan Thiềm bị quân khởi loạn kết tội gian phu dâm phụ. Đan Thiềm bị bắt đi, nhưng cam chịu chết mà năn nỉ xin tha cho VNT

    Lớp 8 : VNT bị bắt, ông trình bày hoài bão cuả mình, nhưng bị quân sĩ kết tội làm mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài.

    Lớp 9 : An Hoà sai đốt phá Cửu Trùng Đài, VNT không tin, “ đời ta không quý bằng CTĐ”. Khi biết chắc CTĐ đã bị đốt, VNT (chua chát) : Thôi thế là hết. Dẫn ta ra pháp trường.


    GIÁ TRỊ NỘI DUNG CUẢ CUẢ ĐOẠN TRÍCH

    1.Phản ánh tình hình chính trị loạn lạc thời Lê Tương Dực ,

    Nguyên nhân là do Vua ăn chơi vô độ làm mất lòng dân, hao tổn sức người sức cuả” mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng..”

    Trịnh Duy Sản sắm sưả thuyền bè khí giới, họp ở bến đó Thái Cực, nó reo là đi đánh Trần Cao, rồi đương đêm đem ba nghì quân Kim Ngô ( cận vệ ) vào cưả Bắc Thần đốt lưả cho sáng.. Hoàng thượng trông thấy lưả sáng hốt hoảng lên ngưạ lẻn ra cưả Bảo Khánh, qua cưả Thái Học, đến ao Chu Tước ở phường Bích Câu vưà gặp Duy sản. Duy Sản sai võ sĩ tên Hạch đâm vua ngã ngưạ chết. Hoàng hậu thương vua nhảy vào lưả chết. Nguyễn Vũ ăn lộc vua, tự sát theo vua..

    2.Miêu tả bi kịch cuả người nghệ sĩ Vũ Như Tô

    Nguyễn Huy Tưởng đã đặt một câu hỏi trong Đề Tựa vở kịch : “ Chẳng biết Vũ như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải ? (…) than ôi, Như Tô phải hay những kẽ giết Như Tô phải ? Ta chẳng biết.”Đó là bi kịch cuả Như Tô và cũng là bi kịch cuả người nghệ sĩ trong xã hội cũ.

    Như Tô là kiến trúc tài năng. Lúc đầu ông từ chối yêu cầu cuả Lê Tương Dực, không xây Cửu Trùng Đài (CTĐ). Đan Thiềm khuyên : “ Ông cứ xây một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi sẽ mất đi, nhưng sự nghiệp cuả ông còn thuộc về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…Hậu thế sẽ xét công và nhớ ơn ông mãi mãi “.VNT nghe lời Đan Thiềm, đã dốc hết tâm huyết, tài năng vào việc xây Cửu Trùng Đài. Thế nhưng việc xây CTĐ làm chết mấy nghìn người, hao tổn công quỹ , mà chỉ phục vụ cho mục đích ăn chơi cuả vua. Sự bất mãn cuả nhân dân và cuả những người thợ xây ngày càng tăng lên, sau cùng họ đã theo Trịnh Duy Sản nổi dậy, giết vua phá Trùng Đài, rồi giết cả Đan Thiềm và Vũ Như Tô. Những phút cuối đời, VNT vẫn không tin mình có tội với nhân dân, vẫn không tin Cửu Trùng Đài bị đốt phá, vì đó là một điều vô lý, ông không thể hiểu. Chỉ khi biết rõ CTĐ bị phá . VNT kếu lên ; “ Thôi thế là hết! dẫn ta đến pháp trường”

    Bi kịch cuả Vũ Như Tô là bi kịch cuả người nghệ sĩ trong sự chọn lưạ mục đích sáng tạo nghệ thuật là để đạt tới cái đẹp vĩnh cửu ( sự nghiệp còn lại muôn đời ) hay phục vụ chính trị ( phục vụ yêu cầu cuả Lê Tương Dực xây cung điện để ăn chơi). Chính vì thế, VNT trở nên ảo tưởng. Ông không nghĩ hành động cuả mình đang phục vụ nhà vua, gây bao đau khổ cho nhân dân, mà chỉ nghĩ đó là công trình cuả tâm huyết, tài năng, khát vọng và sống chết với công trình ấy.

    Bi kịch là ở chỗ ông không biết mình đúng hay sai, và nhân dân, những người theo Trịnh Duy sản đã giết ông là đúng hay sai. Ông đã chết trong ảo tưởng của mình.

    Còn tác giả Nguyễn Huy Tưởng đã trả lời vấn đề đó bằng hành động kịch. Nhiều lần các nhân vật đều khẳng định tội cuả VNT, tội gây ra mấy nghìn người chết, hao tốn bao nhiêu công quỹ, phục vụ cho hôn quân, và vì thế VNT phải ra pháp trường.

    Nguyễn Huy Tưởng đặt ra vấn đề : nghệ thuật phải đứng về phiá nhân dân mới tồn tại ( phục vụ hôn quân thì bị nhân dân đốt phá ) . Người nghệ sĩ phải đem tài năng phục vụ nhân dân mới có thể tồn tại và phát triển ( VNT phục vụ thế lực tàn bạo thì bị nhân dân tiêu diệt)

    3.Nhân vật Vũ Như Tô

    Một kiến trúc sư tài ba, có hoài bão lớn, có nghiã khí cuả kẻ sĩ, và sống chết với hoài bão cuả mình. Không sợ cường quyền, không sợ gian khổ hy sinh

    Nhưng sự phát triển tính cách và số phận cuả VNT lại không thuyết phục. Lúc đầu VNT nhất quyết từ chối yêu cầu cuả Lê Tương Dực, dù biết rằng có thể mất mạng. Vậy mà chỉ vì lời khuyên cuả Đan Thiềm, một cung nữ, mà VNT xây đài cho Lê Tương Dực. Ông đã coi lời cuả Đan Thiềm là chân lý, và quyết tâm thực hiện chân lý ấy, bất chấp tất cả những lời khuyên can, những tiếng kêu thương cuả nhân dân. Sau cùng, Đan Thiềm khuyên ông đi trốn, ông không đi, ông không nhận ra sai lầm cuả mình và chết trong mù quáng. Với một kẻ sĩ ( nhà Nho có lý tưởng trị quốc, bình thiên hạ ) thì không ai lại đem lý tưởng, hoài bão và cuộc đời giao vào tay một cung nữ, để chết thảm như vậy. Lê Tương Dực vì cung nữ mà đắc tội với nhân dân nên phải chết. Vũ Như Tô cũng vậy, vì cung nữ Đan Thiềm ( dù hai người có là tri kỷ cuả nhau) mà mang tội với nhân dân, bị dẫn ra pháp trường.

    Nói cho đúng, Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng một nhân vật kẻ sĩ phong kiến, mang ảo tưởng nghệ thuật vị nghệ thuật cuả người trí thức tiểu tư sản hiện đại. Vì thế hình tượng nhân vật không hiện lên như mong muốn cuả tác giả. Đỗ Đức Hiểu coi Vũ Như Tô là một anh hùng bi kịch (tạp chí Văn Học số 10, 1997) , tôi nghĩ điều ấy là một ngộ nhận, bởi vì chính tác giả Nguyễn Huy Tưởng cũng không xác định được lý tưởng cuả VNT là đúng hay sai, hành động, cuộc đời cuả VNT có vì mụch đích cao cả cuả nhân dân mà phục vụ hay không, thì sao VNT có thể là một nhân vật anh hùng. Trái lại, cuộc đời ấy bị điều khiển bởi một cung nữ Đan Thiềm, chạy theo những ảo tưởng, hơn nữa những ảo tưởng ấy lại chà đạp lên sinh mệnh nhân dân. VNT phải chết trong bi thảm , sao có thể gọi là một nhân vật anh hùng, dù là anh hùng bi kịch? Người anh hùng phải là người chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và là người chiến thắng. VNT thì ngược lại, sống và chết trong mù quáng.

    4.Hạn chế cuả vở kịch

    Nguyễn Huy Tưởng chỉ mượn Vũ Như Tô để thể hiện những trăn trở cuả người trí thức trước thời đại. Vở kịch được viết năm 1941, lúc đất nước đang trong ách Thực dân Phát xít. Người nghệ sĩ sẽ phục vụ ai? Sẽ sáng tác thế nào ? nghệ thuật vị nghệ thuật, hay nghệ thuật phục vụ cuộc đấu tranh CM của quần chúng. Nguyễn Huy Tưởng còn lung túng trong sự chọn lưạ. Ông để cho VNT phục vụ cái đẹp cao cả, vĩnh cửu, tách rời cuộc sống, đi ngược lại nguyện vọng cuả nhân dân, nhưng ông lại để nhân dân xử tội VNT.

    Hoàn cảnh hiện nay đã khác với những năm 1941, người nghệ sĩ hôm nay phục vụ chính trị là chính trị cuả nhân dân, nghệ thuật thuộc về nhân dân là nghệ thuật vĩnh cửu.Vở kịch Vũ Như Tô chưa đạt tới tầm tư tưởng như thế. Mọi giải thích khác đi, hoặc tụng ca quá đáng vở kịch đều làm khúc xạ đi giá trị thực cuả vở kịch.

    Hạn chế cơ bản cuả vở kịch là hạn chế tư tưởng cuả Nguyễn Huy Tưởng. Không phải vô tình mà vở kịch ra đời 1941 nhưng mãi 1995 mới được công diễn lần đầu, bởi vì đạo diễn sẽ rất khó giải quyết vấn đề tư tưởng còn lung túng cuả Nguyễn Huy Tưởng