trang Blog

ChipTham gia: 24/11/2012
  • Chuyện kể một thời xa vắng (chương 1)
    Sáng Tác
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Chuyện kể một thời xa vắng (chương 1)

    GIỚI THIỆU

    Đây là một cuốn tự truyện, một cuốn tiểu thuyết hoặc hồi ký (tôi không biết) của cha tôi gởi cho tôi hồi tuần trước nhờ tôi đánh máy và in ra giúp ông. Tôi đã đọc, đánh máy, nhờ các chị thân quen đánh dùm, nay đã xong, tôi mạo muội đưa lên đây chia sẻ cùng mọi người. Tôi xin chân thành cảm ơn chị Khánh Duyên đã thức nhiều đêm liền đánh máy bản thảo này ra thành văn bản điện tử. Chị đã chăm chỉ gõ đúng từng chữ một, cả một cuốn sách dài nhưng hầu như không tìm thấy một lỗi nào ngoài chính cái lỗi của bản thảo. Bản thảo viết tay của cha tôi được viết lần một, lần hai, lần ba đều trên cùng một mặt giấy bởi thế nhiều chú thích và nhiều đoạn chồng lên nhau, lại nhiều phương ngữ, nhưng chị Khánh Duyên đã cố gắng đọc không bỏ rót một chữ nào, đã đưa hết vào văn bản điện tử. Lại, những chữ nào chị đọc không ra, chị đều cẩn thận đánh dấu vào văn bản gốc (bản photo) và lại chú thích thêm vào đó nữa. Nhận được bản thảo vi tính được trao lại từ chị, tôi đã đọc với tâm trạng xúc động bồi hồi. Xúc động vì cả hai việc. Xin được cảm ơn chị Khánh Duyên vô cùng. Cảm ơn những anh chị, bạn bè (khi có) đọc những ghi chép này của cha tôi. Tôi sẽ cố gắng đăng từng chương mỗi ngày, một, hai, hoặc ba chương tùy thuộc vào việc chỉnh sửa lâu mau của mình. 

    Lê Thanh Giang

    oo0oo

    CHUYỆN KỂ MỘT THỜI XA VẮNG

    LÊ PHƯƠNG

    I. HÒN ĐÁ QUÊ HƯƠNG

    Vào những ngày tháng cam go, loạn lạc và đói khổ nhất của năm một chín bốn lăm, thể kỷ hai mươi tôi được sinh ra đời. Đã trải qua gần hai phần ba thể kỷ từ buổi ấu thơ tới lúc trưởng thành, tôi cũng trải qua không ít những thăng trầm, giông bão của cuộc đời để mà tồn tại.

    Không hiểu cuộc đời của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn ra sao mà sau này ông lại viết lên một khúc ca khiến tôi nhớ mãi: “…Tuổi thơ ơi, tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người…”.

    Với ai thì tôi không biết, riêng tôi, đời người là một kiếp người.

    Tôi sinh ra trong một gia đình mà tài sản duy nhất của cha mẹ tôi là Trời.

    Ông bà ta ngày xưa thường nói: “Tôi chẳng có gì ngoài đầu đội trời, chân đạp đất”. Nói thì nói vậy nhưng người ta không nhiều thì ít họ cũng có đất để mà đạp. Cha mẹ tôi đầu đội trời, chân phải mượn đất mới có để mà đạp.

    Duy Hòa quê tôi nằm trên dòng sông Thu Bồn thơ mộng, dòng sông ấy hàng năm chở hàng ngàn ngàn tấn phù sa bồi đắp cho quê trở thành vùng đất phì nhiêu màu mỡ. Ác nỗi, đất ấy thuộc về tay các địa chủ như: Chánh Bảy, Cửu Thương, Cửu Đồng… Còn dân làng là những tá điền, phu điền. Cha mẹ tôi ngày ấy trong tay không có một tấc đất thì làm gì được cái danh “Anh tá điền” để mà kêu.

    Mẹ tôi kể rằng: Trước ngày sinh tôi, nội tôi cho cha mẹ tôi ra ở riêng. Họ làm cho một ngôi nhà nhỏ dưới gốc xoài cạnh Bàu Sâu. Trong nhà chỉ để vẻn vẹn một cái giường và ba ông táo. Sau khi sinh tôi được ba ngày, cha tôi đã vào rừng than, củi. Sáng bốn, năm giờ quảy giỏ ra đi. Tối bảy, tám giờ mới về tới nhà, giao lại cho mẹ tôi đứa con còn đỏ hỏn mà nhiều ngày không chút gì bỏ bụng.

    Mỗi lần kể chuyện mẹ tôi nói làu làu như đã học thuộc lòng. Có lẽ cái đói nghèo của thời thực dân phong kiến đã in đậm trong tâm trí bà, nên mỗi lần kể chuyện bà lại nhắc tới chuyện xưa, cái chuyện mà ai cũng biết, ai cũng hiểu. Riêng tôi, càng nghe tôi càng trọng ông bà, cha mẹ mình hơn. Vì trong mỗi hạt cơm cha mẹ kiếm được nuôi mình khôn lớn có giọt mồ hôi, giọt nước mắt.

    Nhìn vào ánh mắt mẹ lúc mẹ kể chuyện tôi biết, bao nhiêu hình ảnh hãi hùng và đói khổ của ngày xưa vẫn còn đang hiện rõ trong tâm trí bà. Bà tiếp:

    - Con biết không? Mỗi lần giặc Pháp đi lùng thì nhà cửa cháy rụi, dân chúng bỏ chạy tán loạn. Đàn bà và con nít chạy vào rừng, đàn ông chạy xuống nấp dưới khe suối. Có lần địch phát hiện số đàn ông nấp dưới khe nó bảo là Cộng sản, nên xả sung bắn tới tấp làm chết không biết bao nhiêu là người. Từ đó mới có câu:

    Súng trường giặc Pháp lăm le
    Xác người trôi nổi trên khe Ba Sào

    Về sau này mỗi khi giặc Pháp đi lùng dân chúng chạy tới tận chân Hòn quắp đá dừng kia lánh nạn.

    Nghe nói đến “Hòn quắp đá dừng”, tôi hỏi:

    - Tại răng họ gọi “Hòn quắp đá dừng” hả mẹ?

    - Lịch sử của nó ra răng thì mẹ không biết, chỉ nghe người ta nói rằng cái đỉnh của ngọn núi ấy không đứng thẳng mà nghiêng về một bên, nên gọi là quắp. Còn đá dừng là lưng chừng giữa quả núi có một tảng đá to, người ta cho rằng tảng đá đó từ trên đỉnh rơi xuống rồi dừng lại đó, nên gọi là dừng.

    Mỗi sớm mai khi mặt trời vừa ló, một khối mây trắng bồng bềnh che khuất cả khối đá chẳng khác nào tảng đá ấy nằm ở tận chân mây. Khi trời quang mây tạnh, mặt trời chiếu vào tảng đá khiến cho nó sáng rực lên, dù ở xa đến tới đâu đâu cũng nhìn thấy. Nhìn thấy nó là thấy quê hương, nhưng vì không có điều kiện về thăm nên thương nhớ:

    Ngó lên Hòn kẽm đá dừng
    Thương cha nhớ mẹ quá chừng ớ bạn bơi (ơi)

    Khi cha mẹ tôi còn sống, mỗi lần mẹ con ngồi lại bên nhau là kể chuyện. Từ ngày cha tôi mất mẹ tôi không còn nhanh nhẹn như trước nữa, ngày ngày bà cứ vào ra thơ thẩn, nói những chuyện tuổi thơ tôi sống trong gian khổ, thiếu thốn mà vẫn hồn nhiên chưa biết gì tới lo âu phiền muộn.

    Hôm nay bà nói:

    - Con còn nhớ không? Cái ngày mà…

    Nói đến đây tôi nghe giọng bà đơ đớ như có cái gì đó chặn ngang ở cổ. Tôi kêu lên:

    - Mẹ! Không một tiếng trả lời.

    - Mẹ! Mẹ! Bà khụy xuống, mặt tái xanh.

    Hốt hoảng tôi bồng xốc bà lên tìm xe đưa đi bệnh viện. Trên đường đi tiếng còi xe cứu thương cứ rít lên từng hồi, từng hồi như xé vào tim. Bà nằm đó, trên chiếc băng ca trắng không một tiếng động. Mọi chuyện xảy ra trên đời dù lành hay dữ bà không còn hay biết, chỉ còn lại hơi thở cứ đều đều như tiếng của một cái đồng hồ lặng lẽ đếm thời gian.

    *

    Cơn nhồi máu cơ tim quái ác ập tới lúc nào chẳng hay. Hôm nay ngồi trực bên mẹ, những hình ảnh thơ ấu của tôi cứ hiện lên mồn một như mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi nhớ mãi Cái ngày mà…” mẹ tôi kể còn dang dở.

    Ngày đó tôi khoảng chừng tám, chín tuổi, ngày ngày tôi thường đi chơi với chúng bạn trong làng. Khi chơi, tôi thấy bạn nào đó có cái gì đẹp, mới lạ, tôi thò tay vào chúng nó không cho và nói:

    - Ô! Mi đừng sờ tay dô hư của tau đó, cái này của cha tau đó, cái này nữa cũng của cha tau mới cho.

    Tôi nghĩ bụng: Sao đứa nào cũng có cha mà mình lại không có? Về nhà tôi hỏi mẹ:

    - Mẹ! Cha con đâu? Con muốn cha con cho con đồ chơi, con muốn cha ngủ với con.

    Mẹ nhìn tôi ậm ờ:

    - Ừ thì… Con muốn gặp cha tối nay con đừng ngủ sớm.

    Nghe lời mẹ đêm ấy tôi không ngủ sớm mà ngồi chờ. Chờ mãi, chờ mãi chẳng thấy cha đâu. Mẹ tôi cứ vào ra thấp thỏm. Bỗng bà chụp lấy tay tôi kéo ra sân:

    - Con lên đây với mẹ.

    Tôi chẳng biết chuyện gì. Hai mẹ con chạy lên đầu bờ Đắp ngồi. Đêm vắng lặng, tiếng côn trùng kêu khắp các bụi bờ. Mẹ tôi hết ngó bên này lại ngó bên kia, còn tôi hai tay dụi mắt.

    Từ xa, một bóng đen lọm khọm đi tới, giống như vừa đi vừa bò. Mẹ tôi chạy tới nhận ra cha tôi, bà la lên:

    - Trời ơi! Ông bị cái chi rứa?

    Tôi nghe giọng cha tôi yếu giống như hụt hơi:

    - Mệt quá! Tôi mệt quá!

    Nói rồi ông ngã khuỵu xuống. Mẹ tôi càng la to:

    - Cứu! Bà con ơi! Cứu!

    Nghe tiếng kêu mấy chú nhà gần đó chạy ra. Họ vừa sợ, vừa run, vừa thở hổn hển:

    - Cái chi rứa! Ai bị cái chi?

    Thấy cha tôi nằm sõng sượt dưới đất, mấy chú tới xốc cha tôi lên cõng về nhà. Người lấy nước, người tháo cái áo trong chân cha tôi ra. Tôi thấy máu trong chân cha tôi ứ lại thành cục dẻo quánh. Sợ quá tôi đứng ép sát vào tường khóc thút thít. Mấy chú lấy nước rửa vết thương, máu từ trong vết thương chảy ra đỏ cả một chậu. Rửa xong, họ lấy lá cây, thuốc lá giã nhuyễn đắp vào vết thương và xé cái áo rách bó lại. Làm xong mọi chuyện mấy chú hỏi:

    - Anh làm răng mà ra cái nông nỗi nầy?

    Bây giờ tôi mới nghe rõ giọng cha:

    - Rủi quá mấy chú ơi! Tôi chặt cây tre nứa dề định sửa lại nhà, cây tre vừa đứt, bất thần phóng ngược lại phía sau cắm vào giữa bàn chân tôi ghim luôn xuống đất. Ác thay, cái rựa lại văng ra xa quá tôi với không tới. Tôi cứ loay hoay cả buổi cũng chẳng được. Nghỉ một chút lấy lại sức, tôi dùng hai tay nâng cây tre lên, nhưng cây tre nặng quá nâng không nổi. Nó chỉ nhích lên được một chút nó lại tuột lại. Cứ miết rứa nên vết thương mỗi lúc một to, máu chảy ra nhiều đọng lại thành vũng như vũng bùn.

    Các chú thấy đó, cây tre nứa nó bén ngọt cỡ nào, khi nó cắm phặp vào giữa bàn chân tôi nghe trong người lạnh từ tim lạnh xuống đến tận mấy ngón tay chân.

    Mấy chú trợn mắt la lên:

    - Ôi thôi thôi anh đừng nói nữa! Nghe anh nói bọn tôi rợn cả tóc gáy. Tôi chỉ muốn biết làm răng anh lấy được cái chân ra thôi.

    Cha tôi liếm môi, đôi môi khô nứt nẻ. Tôi thấy trong người ông chẳng còn giọt máu nào. Ông nói:

    - May mà…

    Nói được hai tiếng, đôi mắt ông trắng bạch rồi ông lặng luôn.

    Mấy chú thổ đùi cái bẹt cười đau xót:

    - Trời ơi! Đã đến nước ni rồi mà còn may với rủi.

    Thấy cha tôi ngất đi ai cũng chắp miệng. Họ biết hoàn cảnh gia đình tôi, hằng ngày ba người chỉ dựa vào gánh củi cha tôi tìm được, nay cha tôi nằm đó thì ba người biết sống bằng cái gì.

    Mọi người ra về, ngôi nhà tôi trở nên vắng lạnh. Cái đêm khủng khiếp cứ kéo dài ra vô tận.

    Từ đó cha tôi nằm liệt giường, bệnh càng ngày càng nặng, người ông khô khốc tong teo, thỉnh thoảng ông rên lên một tiếng khủng khiếp, nặng nề. Tôi thương cha nhưng chẳng biết làm gì, cứ cầm cái quạt, quạt lấy quạt để vào vết thương:

    - Cha đau lắm hả?

    Cha tôi cười mà miệng như đang khóc. Ông đưa tay xoa đầu tôi:

    - Cha không đau lắm đâu hi… hi…

    Tôi biết ông đau nhưng không nói ra, nói ra sợ tôi buồn. Hơn nữa ông thương tôi bởi tôi là một đứa trẻ đang chịu rách rưới, đói khổ. Lúc này ông cũng chẳng biết dựa vào ai vì ai cũng chìm vào cảnh đói khát. Ai cũng lá rách biết lấy gì đùm lá rách hơn.

    Chiều lại chú tôi bưng tới cho cha tôi một chén cơm, cơm nấu với sắn lát khô thơm lừng. Chú tôi về, cha tôi đưa chén cơm tới trước mặt tôi bảo:

    - Ăn cơm đi con.

    Mùi cơm xông lên ngào ngạt, ruột tôi cứ cuộn lên từng hồi, tôi bưng lấy chén cơm ăn ngấu nghiến, nhoáng cái sạch nhẵn. Ăn xong tôi thấy trong lòng sung sướng. Tôi nghĩ: Đây là lần đầu tiên mình được ăn một bữa cơm ngon thế nầy. Khi mẹ tôi về, tôi kể lại chuyện, bà chụp lấy tôi dắt ra sau nhà, trừng mắt:

    - Răng con lại ăn cơm của cha? Để cơm cho cha ăn, cha khỏe, cha đi làm mới có cơm cho con ăn chớ.

    Tôi đứng lặng thinh chẳng nói gì. Chiều hôm sau lại một chén cơm nữa chú tôi bưng tới. Cũng giọng nói ấy khi chú tôi về, cha tôi đưa chén cơm tới cho tôi:

    - Ăn đi con.

    Lần này tôi không đón lấy mà đi lùi, mắt láo liên vì sợ mẹ nhìn thấy. Cha tôi hiểu ra mọi chuyện.

    - Răng con không ăn, ai la con à?

    - Mẹ la. Tôi trả lời cộc lốc.

    Cha tôi đặt chén cơm xuống giường, nằm quay mặt vào tường. Mấy giọt nước mắt rớt xuống chiếu. 

    Xem tiếp chương 2