trang Blog

ChavylChauTham gia: 23/03/2010
  • Hành trình tìm mộ em gái Giáo sư Trần Phương
    Đời Sống
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Hành trình tìm mộ em gái Giáo sư Trần Phương

    Hành trình tìm mộ em gái của Giáo sư Trần Phương và Bích Hằng
    (Phóng sự Hoàng Anh Sướng)
    Nguồn:  Đường về xứ Phật
    http://tuvanvayvon.com - Suốt hai ngày trời, dậy từ 4h sáng, mướt mải tìm kiếm, đào bới đến 11h đêm mới về nhà, cái tuổi 72 của GS đã cảm thấy đuối sức. Niềm tin cũng giảm sút. Sáng ngày thứ 3, GS uỷ nhiệm cho các con, cháu, người chị ruột và anh Tân Cương đi tiếp. Ông dặn: Không đào sâu thêm nữa, chỉ soát lại đống cát đen đào xới lên hôm qua, hoạ may nhặt được mẩu xương nào thì đem về. Nếu không thì “thu dọn chiến trường”.
    Mọi người thực hiện đúng lời dặn, hì hụi bới tìm gần hết buổi sáng chẳng thấy gì. Nhiều cụ già trong làng đến xem, xúm lại bài bác: “Đã bảo mà! Tìm ở ngoài đê, quanh cái vụng Quạ thì không, lại cứ cắm đầu tìm ở trong đê. Làm gì có xác nào trôi sông mà lại vượt qua được con đê để tận vào trong đồng”. Đúng lúc ấy, anh Thìn, hiệu trưởng trường trung học cơ sở La Tiến đến xem kể: Hồi trước, bố anh làm nghề đơm đó, đánh dậm, có vớt được 3 cái xác: 2 nam, 1 nữ trôi dạt vào vụng Quạ. Ông đã kéo qua đê rồi chôn ở cánh đồng này. Bố anh rất nghèo nhưng bạo gan. Trong làng, nhà ai có việc đào huyệt hay bốc mộ, đều đến nhờ cụ. Cả những cháu bé bị chết đuối, xác trương lên, cụ cũng sẵn sàng vác lên vai đi chôn giúp. Hồi kháng chiến chống Pháp, có nhiều xác chết nổi lên ở vụng Quạ, làng giao hết cho cụ vớt lên chôn cất. Sau này, cụ còn được chính phủ tặng bằng khen vì những thành tích trong kháng chiến chống Pháp. Chỉ tiếc, cụ đã mất 18 năm rồi.
    Lại loé lên những tia hy vọng. GS Phương vội điện cho anh Nhã. Từ Sài Gòn, anh bảo: “Biết gia đình tìm được đầy đủ các tín hiệu, tôi mừng lắm tuy cự ly có phần không đúng. Có điều, bây giờ phải lật cái bản đồ mà xem từ âm bản”. GS Phương ngạc nhiên hỏi: “Như vậy có nghĩa là phần mộ cô Khang sẽ nằm ở bên kia sông, tức là trên đất Thái Bình à?”. Anh Nhã gật đầu: “Đúng thế”. Rồi anh dặn: Phải tìm đến một cái vụng xoáy dọc bờ sông. ở đó có một xóm dân cư mới, ra lập nghiệp được khoảng 20 năm. Trong đó có cô Nhường, ông An. Mộ cô Khang nằm trên đất cô Nhường. Trên mộ vẫn đầy đủ những dấu hiệu như đã chỉ”.
    Ngày thứ tư tìm mộ: Vô vọng , nghi ngờ “cái trận đồ bát quái”
    Hầu hết các thành viên trong gia đình GS Phương, vốn đã không tin vào chuyện tâm linh thần bí, nay thấy sự việc đi vào bế tắc, đều không muốn đi nữa. Bản thân GS thì mệt mỏi rã rời. Chỉ có anh Tân Cương là vẫn vững lòng tin vì chính anh đã nhờ các nhà ngoại cảm mà tìm được mồ mả gia tiên. Ngày hôm sau, anh cùng anh Đạt vượt bến đò La Tiến sang đất Thái Bình. Anh cứ dọc bờ sông Luộc mà đi, những mong tìm được cái vụng xoáy. Đi mãi. Đi cho tới khi xế chiều, anh bắt gặp một cụ già râu tóc bạc phơ. Cụ bảo: “Phía Thái Bình không có cái vụng xoáy nào đâu. Vì con sông đến đoạn này thì quật sang đất Hưng Yên”. Nói rồi cụ chỉ sang vụng bà Khán Mỹ bên kia sông. (Gọi thế vì bà Khán Mỹ đã nhiều năm sinh sống trên vụng đó bằng thuyền đánh cá). Vậy là lại phải qua sông để trở về đất Hưng Yên. Cạnh vụng bà Khán Mỹ, trên đất bãi, có một xóm mới. ở đó, có một chị tên Nhường và một anh tên An. Có mấy ngôi mộ vô thừa nhận. Nhưng tìm kiếm mãi vẫn chẳng thấy tín hiệu nào trùng khớp với bản đồ của anh Nhã.
    Không nản, anh Tân Cương đi tiếp một ngày nữa. Từ vụng bà Khán Mỹ, anh đi ngược lên vụng Quạ. Nơi nào có mộ vô thừa nhận là anh đến. Nhưng càng đi tìm lại càng tuyệt vọng. Cuộc tìm kiếm theo đủ mọi hướng đến đây coi như lâm vào ngõ cụt. Cái tính hoài nghi khoa học vốn có trong con người GS Phương giờ “nổi loạn”. Ông nghĩ: Lão Nhã này, hắn đày ải, đánh đố mình đây. Hắn bày ra cả một “trận đồ bát quái”, nào là dấu hiệu, tín hiệu, tên người, tên đất… rồi bảo mình phải đi tìm cho đủ. Lục tìm cả cái đất nước này, chưa chắc đã có nơi nào khớp được. Nghĩ thế nhưng ông lại tự trách mình là vô lý. Đã chấp nhận đi theo thầy Nhã mà tỷ lệ trúng mộ chỉ đạt 60% thì hà cớ gì, trường hợp của mình lại không rơi vào 40% kia? Đã xác định tìm đến con đường thần bí như nguồn hy vọng mỏng manh cuối cùng thì lý gì lại đòi hỏi phải lý giải ngọn nguồn cái trận đồ bát quái ấy?
    Theo đuổi đến tận cùng hai nhà ngoại cảm nổi tiếng đã vẽ trúng hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ nhưng đến lượt mình thì không có “duyên”, GS Phương bèn bàn với anh Tân Cương chỉ còn cách là tìm đến những người có khả năng gọi hồn. Chị Tuyết Nga cũng ủng hộ cách làm ấy. Chị đưa cho GS địa chỉ, điện thoại của một nhà ngoại cảm nổi tiếng khác. Điều tra ra thì đó chính là điện thoại của Phan Thị Bích Hằng. Chị nhận lời giúp GS vào chiều ngày 9 tháng 8 năm 1999 tại nhà riêng của ông. Cuộc gọi hồn kéo dài gần hai tiếng đồng hồ với nhiều chi tiết vừa xác thực, vừa ly kỳ, xúc động cùng rất nhiều nước mắt đã hé ra một cách tìm mới về mộ cô Khang và điều đặc biệt nhất là xé toang nỗi nghi ngờ như làn sương bao phủ trong đầu vị GS “vô thần” Trần Phương.
    Trò chuyện với… linh hồn
    Cuộc trò chuyện với linh hồn cô Khang trong buổi chiều ngày 9 tháng 8 năm 1999 ấy, cho đến tận bây giờ, vẫn là nỗi ám ảnh lớn trong tâm trí của GS Phương. Bởi đó không chỉ là cuộc hội ngộ đầy nước mắt giữa những người thân sau mấy mươi năm sinh ly tử biệt mà đó thực sự là bước ngoặt lớn trong nhận thức của GS về thế giới tâm linh, thế giới của những linh hồn. GS vẫn còn nhớ rất rõ, trong lúc nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đang lúi cúi sắp đặt một cốc nước, một cốc gạo, nến, tiền vàng và bức ảnh của cô Khang lên bàn thì GS cố lục tìm trong trí nhớ những vụ việc rất bí mật mà chỉ GS và cô Khang biết để kiểm tra xem có đúng là linh hồn người em gái đang trò chuyện với ông không? Và điều quan trọng hơn, có thật là linh hồn còn tồn tại sau khi con người đã chết? Cảnh giác, GS còn dặn cả nhà tham dự buổi gọi hồn phải tỉnh táo, không được nói hớ, để lộ thông tin cho “thầy bói nói dựa”.
    Thắp hương và đốt nến xong, Bích Hằng thành kính chắp tay trước ngực, khấn mời cô Khang bằng một giọng nhỏ nhẹ rồi quay sang nói với GS Phương: “ở căn phòng này bác không thờ cúng bao giờ, có thể vong linh cô Khang sẽ khó về”. Nghe vậy, GS đâm hoang mang quá. Đúng là ở căn nhà này, GS chưa thờ cúng ai bao giờ, thậm chí, 10 năm nay, ông không ở đây vì đã bàn giao cho con. GS đảo mắt nhìn quanh, thấy bốn bề cửa kính đóng kín mít, máy điều hoà chạy mát lạnh. Mùi hương không lọt ra ngoài thì cô Khang làm sao nhận biết được? Cả tiếng khấn nhẹ như gió thoảng của Bích Hằng nữa? Cô có nghe thấy không? Mà có nghe thấy thì làm sao tìm được địa chỉ này giữa lòng thành phố ồn ào chin chít nhà cửa? Và lách qua kẽ hở nào mà vào?
    GS bỗng thấy ngột ngạt, căng thẳng quá. Bên cạnh, Bích Hằng vẫn chăm chắm nhìn tấm ảnh cô Khang. Một phút chờ đợi chậm chạp trôi. Hai phút… Rồi 3 phút. Chợt Bích Hằng reo khẽ: “Cháu chào cô ạ! Cháu là Phan Thị Bích Hằng. Bác Trần Phương có nhờ cháu mời cô về để hỏi xem hài cốt cô hiện ở đâu ạ?”. Nói đoạn, Bích Hằng vội quay sang G.S Phương, hạ giọng nói: “Cháu nhìn thấy một thanh niên đi cùng với cô Khang”. Tim GS Phương đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Ông cố đoán xem người đàn ông ấy là ai trong khi Bích Hằng vẫn chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại “Vâng! à thế ạ. Cô Ngân hay là cái gì ngân ạ?…” Một lúc sau, Bích Hằng quay sang GS Phương, nói: “Cô Khang bảo: Người thanh niên đi cùng em chính là anh Sơn đấy. Anh ấy vẫn thường xuyên đến thăm em”. G.S Phương giật mình. Ôi! Anh Sơn. Người anh ruột hơn G.S Phương 4 tuổi nhưng cũng là người bạn, người đồng chí thân thiết. Anh từng là uỷ viên thường vụ tỉnh Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Đông (cũ). Rồi khi thành lập Đại đoàn 320, anh được điều làm Trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn. Anh hy sinh trong chiến dịch Hà Nam Ninh tháng 6 năm 1951. G.S Phương muốn reo lên, gọi thật to tên anh. Nhưng sực nhớ Bích Hằng ngồi cạnh, ông cố kìm cảm xúc lại, chờ xem.
    Bích Hằng nói tiếp: “Anh không có duyên rồi. Đi tìm em, đối mặt với em rồi mà không đến được với em. Từ hôm anh đến, mấy chị em trong đội du kích Hoàng Ngân cứ bảo: sao lâu quá không thấy anh Phương trở lại. Chỗ em nằm chỉ cách chỗ anh đào 3 sải chân ra phía bờ ao thôi”. G.S Phương vội ngắt lời: “Vậy em nằm trên vườn hay dưới ao?”. Cô Khang bảo (qua Bích Hằng, từ đây gọi là cô Khang - PV): “Đến bờ ao cũng còn 3 bước chân nữa. Phía trên em chừng 2 m là chị Nguyễn Thị Bê, đội viên đội du kích Hoàng Ngân, quê ở ngay làng La Tiến. Cũng cách chừng 2m về phía Đông là một người đàn ông, bị bắt từ Hải Dương về, em không biết tên. Hai người bị giết cùng một ngày với em. Chúng cột tay chúng em lại rồi vất xác xuống sông vào nửa đêm. Dân phòng ta có đi tìm nhưng không thấy. Mãi mấy ngày sau, xác mới nổi lên. Dân vớt được, đưa về đây chôn nên 3 mộ gần sát nhau, gần như nằm trên một đường thẳng. Xa hơn, còn mấy người nữa. Chỗ này cả thảy 7 người cơ”. G.S Phương hỏi: “Chôn em có quan tài không?”. Cô Khang cười buồn: “Mấy người nổi lên trước thì dân còn cho được manh chiếu mà bó. Còn nổi lên sau thì đến manh chiếu cũng không có, nói gì đến quan tài”.
    Qua Bích Hằng, cô Khang chỉ dẫn tỉ mỉ chỗ cô nằm với các đặc điểm về cây cỏ xung quanh. G.S Phương nhận ra ngay vì đó là cây nhãn giáp với nhà bà Nhờ, bữa trước ông đã ngồi ở đó để theo dõi việc đào mộ. G.S Phương hỏi: “Em có biết chỗ em nằm thuộc về đất của ai không?”. Cô Khang đáp: “Em cũng không biết nữa. Địch đánh em gãy xương sườn, gãy xương cánh tay và xương đòn tay bên phải, gãy hai chiếc răng nanh ở hàm trên bên phải, dập gò má bên trái. Xương cốt hiện nay vẫn còn nhưng đã mủn vì chôn có quan tài đâu nên khi đào, anh phải cẩn thận, chỉ cần xúc một xẻng đất là nó vỡ ra ngay. Anh chú ý ở tay em vẫn còn cái còng bằng sắt. Địch khoá tay em vào tay người đàn ông bị bắt ở Hải Dương bằng cái còng ấy. Răng hàm dưới đã rụng ra nhưng rất may, hàm trên vẫn còn nguyên vẹn. ở đấy có mấy anh chị, nếu anh có đào nhầm sang mộ người khác thì vẫn có thể nhận ra ngay. Ngày xưa, mọi người hay trêu đùa em là có hàm răng đẹp nhất, trắng nhất, tươi tắn nhất đội du kích. Nhưng bây giờ răng em đã chuyển sang màu đen rồi, đen xỉn ấy do bùn đất lâu năm ngấm vào chứ không phải đen hạt na đâu”. Một niềm xót thương chợt trào dâng khiến nước mắt G.S Phương lưng tròng. Mặc dù chỉ nói một cách kín đáo nhưng ông nhận ra ngay vẻ đẹp mặn mòi rất đặc trưng của em Khang. Ôi! Người con gái đã lìa đời hơn 50 năm mà vẫn thầm tự hào về nhan sắc, về hàm răng trắng như ngà khiến biết bao chàng trai ngưỡng mộ.
    Cố kìm nén niềm xúc động, G.S Phương hỏi: “Nếu tìm được hài cốt em thì đưa về quê mình, cạnh mộ bố mẹ hay đưa em về nghĩa trang liệt sĩ của huyện, nơi anh Sơn đang nằm?”. Cô Khang đáp: “Mẹ bảo em: Con là phận gái chết trẻ, không chồng con gì. Về với bố mẹ để sau này cháu chắt còn thăm viếng, hương khói cho con. Nhưng anh Sơn thì bảo: Em là đội trưởng đội nữ du kích Hoàng Ngân. Em cứ về nghĩa trang liệt sĩ cho có anh có em. Tổ quốc ghi công mình cơ mà. Anh Sơn hôm nay cũng về cùng với em đấy”. Suốt nửa tiếng đồng hồ cố nén niềm xúc động, giờ, không kìm được nữa, G.S Phương khóc oà: “Trời ơi! Anh Sơn”. Ông lẳng lặng rút từ trong túi ra một bức ảnh, đưa cho Bích Hằng. Nhìn qua, Bích Hằng bảo: “Đúng đây là ảnh bác Sơn rồi. Nhưng trông bác già và gầy hơn trong ảnh”. G.S Phương gật đầu xác nhận. Bức ảnh chụp từ năm 1948, khi anh Sơn đang công tác ở Sơn Tây nên trông rất điển trai.
    Anh Sơn trách G.S Phương: “Chú đi tìm em Khang mà chẳng nói với anh một câu. Lần sau, chú báo trước cho anh, anh sẽ dẫn đường cho chú đến tận nơi. Ai khoanh cho chú chỗ ấy là họ hiểu biết đấy. Cũng may mà khúc sông ấy hơi cong lại, xác em mình mới dạt vào. Nếu không đã trôi tuột mất rồi. Mẹ khóc thương em Khang nhiều lắm. Cứ muốn đưa em về bên mẹ để mẹ ôm ấp. Nhưng anh lại khuyên em Khang về nghĩa trang liệt sĩ vì đấy là vinh dự của em mình, của cả gia đình mình cơ mà. Tổ quốc ghi công mình, đời đời nhân dân thắp hương cho mình chứ đâu chỉ có con cháu trong gia đình. Vả lại, đời anh chị em mình đã vậy chứ đến đời thằng An thì nó còn biết gì.”. G.S Phương lại giật mình. An là con đẻ của ông. 10 năm sau khi anh Sơn hy sinh, An mới ra đời.
    “Hôm chú đi tìm mộ em Khang, anh cũng có theo dõi. Chú đào xuyên đến cả lớp đất nguyên thuỷ. Em Khang đâu có nằm sâu thế. Chỉ hơn 1m là đến lớp cát đen rồi. Em mình chỉ nằm ở tầm ấy thôi. Lần này đào tiếp, chú để ý sẽ thấy một thanh củi mục. Thực ra, đấy là cái cán thuổng mà người đào huyệt đã đánh gãy vất lại đó, vô tình như đánh dấu cho mình”. G.S Phương hỏi: “Anh bảo sẽ dẫn đường cho em. Vậy làm cách nào mà em nhận biết được?”. Anh Sơn: “Anh không thể nắm tay chú mà dẫn đi như người trần được. Nhưng anh sẽ sai khiến một con vật nào đó như con ong, con bướm chẳng hạn, dẫn đường cho chú. Làm việc này đối với người âm là khó đấy nhưng anh sẽ cố. Khi thấy con vật, chú gọi nó lại rồi đi theo nó, đến chỗ nó đậu. Hôm nào đi, chú mua ít hoa quả thắp hương mời chị em. Người ta chết cùng nhau, mình chỉ hì hục đào tìm em mình thì người ta cũng tủi. Phía trên mộ em Khang là mộ một chị liên lạc, cấp dưỡng cho đội du kích, người địa phương, nên báo cho gia đình chị ấy biết mà đến tìm. Chú kiếm cho anh mấy bao Cáp-tăng để anh mời anh em. Bây giờ anh cũng chỉ huy cỡ trung đoàn đấy”.
    G.S Phương hỏi đôi điều về “đời sống” của anh Sơn và cô Khang. Cô Khang bảo: “Có lần, em về thăm chị Nghĩa mà không vào được, chỉ đứng ngoài nhìn vào”. (Chị Nghĩa là chị cả của gia đình GS Trần Phương - PV). Anh Sơn vội giải thích: “Em Khang bị chết trôi sông. Đã có ai bắc cầu đâu mà hễ nhớ chị nhớ em thì chỗ nào cũng vào được. Bây giờ, cuộc trò chuyện ở đây tạm kết thúc. Cô Khang đi với anh đến nhà Quỳnh chơi”. (Quỳnh là em út của GS Phương - PV). Nói rồi biến mất. Cuộn băng ghi âm 90 phút cũng vừa vặn hết.
    Sau này, GS Phương đã nghe đi nghe lại cuộn băng ghi âm nhiều lần. Qua những tên người trong gia đình được nhắc đến một cách ngẫu nhiên, qua cách xưng hô, sự hiểu biết tính cách từng người còn sống, cách xử sự và tâm tư tình cảm của người nói, GS Phương tin chắc rằng: đó là vong linh của anh Sơn và em Khang. Người khác, dù biết rõ gia đình GS đến mấy, cũng không thể sáng tác ra một kịch bản như thế, huống hồ Bích Hằng là người mà hoàn toàn xa lạ, lần đầu tiên được gặp GS. Song điều khiến GS băn khoăn là: “Nếu đúng là khi người ta chết đi, vẫn còn lại một cái gì đó mà người đời thường gọi là linh hồn thì linh hồn là gì? Nó phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó thì Bích Hằng mới có thể nhìn thấy và nhận diện qua ảnh. Phải phát ra tiếng nói qua một tần số nào đấy thì Bích Hằng mới có thể nghe thấy và nói lại cho tôi nghe. Đối với tôi, nó là vô hình nhưng đối với Bích Hằng, nó là hữu hình. Đối với tôi, nó là câm lặng nhưng đối với Bích Hằng, nó lại phát ra âm thanh với đầy đủ những sắc thái sống động của tình cảm, tư duy, hệt như tiếng nói của người đang sống. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Nếu linh hồn là một dạng vật chất có hình thù và khả năng phát ra âm thanh thì, theo cách nói của triết học, nó thuộc phạm trù tồn tại mang tính khách quan chứ không thuộc phạm trù ý thức mang tính chủ quan. Nhận biết được nó hay không là tuỳ khả năng của từng người. Đối với tất cả những gì ta chưa có khả năng nhận biết được mà đã vội vất vào cái sọt rác mê tín dị đoan thì khoa học còn việc gì để nghiên cứu? Lâu nay, tôi cứ đinh ninh cho mình là duy vật, hoá ra chính mình lại là duy tâm chủ quan: cái gì mình cho là nó tồn tại thì nó tồn tại. Cái gì ta cho là nó không tồn tại thì nó không tồn tại, nó chỉ là mê tín dị đoan”.
    Lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với linh hồn, GS Phương nhận ra như thế. Song những thông tin do linh hồn cung cấp đúng hay sai thì phải chờ vào kết quả cuộc đào bới. Điều kỳ thú là thông tin do Bích Hằng cung cấp về vị trí hài cốt lại trùng khớp với tấm sơ đồ do nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã vẽ trước đây nên GS Phương vô cùng háo hức, coi đây cũng là dịp để kiểm nghiệm lại “cái trận đồ bát quái” của anh. Hy vọng xen lẫn hoài nghi, ông nóng lòng chờ ngày hẹn Bích Hằng về La Tiến. Và cuối cùng, ngày hẹn được ấn định: 17 tháng 8 năm 1999.
    Chuẩn bị cho cuộc tìm mộ lần thứ 5
    Ngày 13 tháng 8 năm 1999, tức 4 ngày trước khi tiến hành cuộc đào bới, GS Phương đã cử người em ruột là chú Quỳnh cùng anh Tân Cương về La Tiến làm một số công việc chuẩn bị. Trên đường đi, anh Tân Cương gọi điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, thông báo toàn bộ sự việc. Biết tin Bích Hằng vào cuộc, anh Nhã rất mừng. Từ Sài Gòn, anh cho một tín hiệu: “Khoảng 10h sáng, sẽ có hai con bướm màu sắc sặc sỡ bay lượn quanh mộ rồi đậu lại. Hãy đánh dấu lấy chỗ đó”.
    Đến nhà ông Điển, đúng 10h, anh Tân Cương ra vườn ngồi chờ dưới gốc nhãn. Bỗng hai con bướm đen đốm hoa từ đâu bay tới lượn tung tăng. Anh Tân Cương nín thở dán mắt nhìn. Rồi một con bay đi, một con đậu lại trên cành nhãn. Anh Tân Cương vội chạy lại, chiếu thẳng từ cành nhãn xuống đất, cắm một cây que đánh dấu. Cây que cách chỗ đặt quả trứng bữa trước 2m ra phía bờ ao. Ông Điển đứng bên tường hoa theo dõi cứ tủm tỉm cười. Lúc vào nhà uống nước, ông mới kể: Sau lần đào bới thứ 4 không thấy, ông có mời thầy về cúng. Thầy chỉ mộ cô nằm đúng vào vị trí của cây que đó.
    Rời nhà ông Điển, anh Tân Cương đến thẳng Uỷ ban xã để điều tra xem trong danh sách liệt sĩ, có ai là Nguyễn Thị Bê không? Tìm đi tìm lại đống sổ sách, lần hỏi từng cụ già trong làng mà chẳng ai biết cái tên như thế. Điều đó lại khiến GS Phương hoang mang. Vậy là em Khang nói sai? Cả anh Sơn nữa. Anh còn nói cụ thể chị Bê là liên lạc, cấp dưỡng của đội du kích nữ Hoàng Ngân nữa cơ mà? Chẳng nhẽ người nói chuyện với mình bữa trước không phải là em Khang, anh Sơn?
    Cuối cùng, ngày 17 tháng 8 năm 1999 cũng đến. Đêm hôm trước, GS Phương không sao chợp mắt được. Lòng dạ cứ bồn chồn. Ruột nóng như có người hơ lửa. Nửa đêm, ông lụi cụi dậy thắp hương, báo cáo với anh Sơn việc tìm em Khang ngày mai. Ông vừa khấn vừa run. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong đời, vị GS tóc hoa râm mới tự mình làm cái việc tâm linh huyền bí đó.
    Em của anh đây rồi!
    Thực hiện đúng lời dặn của anh Sơn, ngày 17 tháng 8 năm 1999, gia đình GS Trần Phương chuẩn bị đầy đủ lễ vật gồm: hương hoa, tiền vàng, nải quả và mấy bao thuốc lá Cáp-tăng, thẳng đường xuống La Tiến. Vừa tới nhà ông Điển, bà chị của GS đã phăm phăm bước ra vườn, bày biện lễ vật lên chiếc mâm rồi đặt lên tường hoa để nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng khấn mời. Cả nhà thành tâm chắp tay cầu nguyện. Khấn khứa một hồi, Bích Hằng cầm bó hương nghi ngút khói đi thẳng ra gốc cây vải, gần cây nhãn sát bờ ao, ngắm ngắm nghía nghía rồi cắm bó hương xuống đất. Lấy đó làm tâm, chị vạch một hình chữ nhật rồi bảo với GS Phương: “Lúc cháu đang chắp tay khấn đã thấy bác Sơn và cô Khang đứng ở gốc cây vải vẫy cháu lại rồi chỉ cho cháu chỗ cắm hương này, cả đầu và chân ngôi mộ nữa”.
    Nhìn bó hương Bích Hằng cắm, GS thấy nó cách quả trứng bữa trước chừng 3m ra phía bờ ao và hình chữ nhật nằm ngoài hình tam giác đào lần trước, cạnh của nó là cạnh đáy của hình tam giác nối dài ra phía bờ ao. Trong khi tốp thợ thuê đào tay cuốc, tay xẻng chuẩn bị khai quật thì Bích Hằng khẽ khàng đặt bức ảnh cô Khang dưới gốc cây vải. Mắt nhìn vào tấm ảnh, chị chắp tay trước ngực nói bằng một giọng nhẹ như gió thoảng: “Thưa cô! Chỗ cô nằm, cháu đã vạch theo đúng như cô chỉ. Còn hài cốt thì như hiện trạng cháu nhìn thấy, còn rất ít, khi bốc lên có thể mủn ra. Vậy xin cô cho phép bốc lẫn cả đất mang về. Nếu không được đầy đủ mong cô thông cảm cho”. Cô Khang bảo: “Lần này nhìn thấy cậu Quỳnh là chị phấn khởi rồi. Cậu Quỳnh mà đi thì chắc là được (Quỳnh là em ruột cô Khang, vốn là người tin vào thần phật, lần trước không đi - PV). Còn anh Phương thì thần thánh anh ấy cũng chả sợ, có khi chỉ nhiễu quan trần, còn quan âm thì chẳng ai giúp. Anh Sơn cũng ở đây suốt từ sáng. Anh ấy trách cháu An. Nếu mà lần trước nó kiên trì, bình tĩnh thì đã đưa được em về rồi”. Bỗng Bích Hằng gọi: “Ai là Hậu? Cô Khang muốn gặp chị Hậu”. Bà Hậu, chị của GS Phương, đang ngồi uống nước trong nhà ông Điển nghe vậy vội lập cập chạy ra. Cô Khang nói tiếp: “Chị đã cất công xuống tận đây mà không ra với em, lại cứ ngồi lỳ trong đấy. Hài cốt của em không còn nguyên vẹn. Nhưng chị bốc cho em dù chỉ một nắm đất về quê mình là em cũng mừng rồi. ở đây tuy có nhiều chị em đồng đội nhưng không phải là ruột thịt, cả năm chả ai thắp cho một nén hương, em tủi lắm. Chả lẽ cứ ở đây quấy quả ông An mãi”. Bác Sơn nói chen vào: “Mọi người cứ bốc cho bằng hết. Dù ít dù nhiều cũng là máu thịt của em mình. Không bỏ vừa trong tiểu thì đắp lên mộ cho em”. Anh Tân Cương hỏi: “Cô có biết cháu không ạ?”. Cô Khang cười: “Nếu tôi không biết anh Tân Cương thì hoá ra tôi vô tình quá. Anh lặn lội vất vả với tôi quá nhiều”. Anh Tân Cương lại hỏi: “Cô có biết, ai mai táng cho cô không ạ? Nhiều người không tin là thi thể cô có thể trôi dạt vào đây. Cháu vừa nghe thấy cô nhắc đến ông An là ông An nào? ở đâu ạ?”. Cô Khang: “Nếu có cách gì làm cho cụ Đặng Đình Giám sống lại thì gia đình mình khỏi phải mất công tìm kiếm. Rất tiếc đã gặp cụ dưới âm phủ mất rồi. Lúc giết em xong, giặc ném xác em xuống sông. Mấy ngày sau xác nổi lên, gặp lúc triều cường, dạt vào một khúc quanh. Cụ Giám nhìn thấy, vớt lên, kéo qua một cái rãnh nước rồi dừng lại. Cụ bảo: Mấy vị chết ở đây, nếu đói khát, khi nào nhà ông An lên hương thì vào mà xin lộc”. Rồi cô Khang chỉ cho Bích Hằng ngôi mộ người đàn ông Hải Dương, ngay liền kề phía chân cái hố sắp đào. Bích Hằng bảo: Người đàn ông ấy đứng bên cạnh cô Khang, xưng tên mình và có nói mấy câu nhưng nói nhỏ quá, chị không nghe thấy. Phải đến lúc cô Khang nói, chị mới nghe được. Khi cô Khang chỉ ngôi mộ, chị nhìn thì thấy rõ một bộ hài cốt không đầu.
    Tốp thợ bắt tay đào. Đào hết lớp đất “vượt thổ” thì Bích Hằng bảo “dừng lại”. Chị nhảy xuống hố, lấy tay gạt nhẹ từng lớp cát đen. Sâu thêm chừng một gang tay thì vướng vào thanh củi mục. Nạy lên, thả vào nước. Mọi người chợt ồ lên khi nhận ra đó là một khúc tre già, thịt tre đã phân huỷ hết nhưng xơ và đốt tre vẫn còn nguyên. Khúc tre dài hơn một gang tay, to bằng cổ tay người lớn, không thể tra vừa bất cứ một loại xẻng hay cuốc nào, chỉ có thể tra vừa thuổng (Loại thuổng hình lưỡi mai, mặt phẳng, bề ngang nhỏ hơn lưỡi xẻng, có nơi gọi là mai). Mọi người vô cùng kinh ngạc khi thấy lời dặn của bác Sơn trong buổi gọi hồn chiều ngày 9 tháng 8: “Lần này đào tiếp, chú để ý sẽ thấy một thanh củi mục. Thực ra, đấy là cái cán thuổng mà người đào huyệt đã đánh gãy vất lại đó, vô tình như đánh dấu cho mình” đã linh ứng một cách kỳ lạ. Riêng GS Phương thì vui mừng khôn xiết. Vì đây là dấu hiệu đáng tin cậy nhất để chứng minh đó chính là mộ của em gái mình. Cái cán thuổng đã bị vùi sâu dưới lòng đất ngót 50 năm rồi, không ai có thể nguỵ tạo ra nó được. Dấu hiệu đó lại do chính linh hồn anh Sơn mách bảo cách đó 9 hôm, người đời bằng con mắt trần không ai nhìn thấy mà mách bảo được.
    Nhà ngoại cảm Bích Hằng
    Sau khi tìm thấy cán thuổng, Bích Hằng chỉ gạt vài lớp đất mỏng nữa thì bắt gặp hài cốt của cô Khang. Trùm lên sọ là một mảng tóc đen nhánh. Những đốt xương cổ hiện lồ lộ trên nền cát đen. Nhưng khi bàn tay Bích Hằng vừa chạm đến, mớ tóc vủn ra luôn còn những đốt xương thì gãy ra như chiếc bánh quy thấm nước. Qua hình dáng hài cốt, có thể mường tượng ra, khi chôn, người ta đã đặt cô Khang nằm nghiêng, người hơi cong, mặt hướng ra vụng Quạ, đầu hướng về Tây Bắc, chân về hướng Đông Nam. Bích Hằng khẽ khàng bốc tất cả số bùn đất theo hình nằm cong ấy cho vào tấm vải đỏ. Chị hỏi cô Khang: “Thưa cô! Răng cô ở đâu để cháu mang đi đãi ạ?”. Bốc vài nắm đất tìm bới, cuối cùng tìm được 5 chiếc. GS Phương cho lên lòng bàn tay nhìn kỹ thì thấy đúng là những chiếc răng trắng nhưng do ngâm quá lâu trong bùn đất nên đã ngả sang màu xám và đen xỉn. Thấy vậy, mấy người đứng trên bờ nhắc Bích Hằng tìm móng tay. Chị bèn hỏi cô Khang: “Thế còn móng tay cô ở chỗ nào, cô chỉ cho cháu?”. Bỗng thấy Bích Hằng khóc nấc lên. Một lát sau, chỉ nghẹn ngào kể lại với GS Phương: “Cô Khang giơ hai bàn tay toè toẹt máu ra trước mặt cháu, bảo: Chúng nó rót hết móng tay của cô rồi, còn đâu nữa mà tìm hả cháu”. GS Phương chết lặng. Một nỗi niềm chua xót, buốt lòng dâng lên khiến ông đứng lặng, không nói nên lời. Ông chợt nhớ lại. Ngày ấy, sau khi em Khang bị giặc giết, huyện uỷ Phù Cừ có gửi riêng cho ông bản báo cáo, kể rõ em Khang bị địch bắt, tra tấn dã man và bị giết đau đớn như thế nào. (Vì ngày ấy, ông là Phó bí thư tỉnh uỷ Hưng Yên, có nhiều gắn bó với huyện Phù Cừ). Chúng dùng kìm, rút từng chiếc móng tay của em Khang rồi cắm kim vào đó cho mưng mủ, lấy giày đinh giẫm lên mặc cho em Khang giãy giụa, quằn quại. Dã man hơn, chúng còn dí điện vào hai đầu vú, thọc gậy vào âm hộ, treo ngược lên cành cây như bị cát rồi thoả sức đấm, đá… Những chuyện buốt lòng ấy, GS Phương đã chôn kín trong lòng, không hé lộ cho bất kỳ ai trong gia đình. Ông sợ mọi người không chịu đựng được nỗi đau ấy. Nay, thấy Bích Hằng nói vậy, ông vô cùng xúc động. Và càng tin chắc chắn rằng, bộ hài cốt kia đích thị là người em gái xinh đẹp và kiên trung của mình.
    Bích Hằng vẫn lúi húi dưới hố tìm kiếm và chỉ đạo mấy người giúp việc. Chị tìm mãi chiếc còng sắt vẫn không thấy. Hỏi cô Khang, cô cũng không chỉ được. GS Phương bảo: “Có thể nó đã bị rỉ thành đất qua 50 năm ngâm trong bùn”. Thỉnh thoảng, Bích Hằng lại nhô đầu lên nói chuyện với gia đình GS Trần Phương. Bỗng chị bảo: “Có một cụ cứ ngồi nhìn rồi tủm tỉm cười. Không biết có phải cụ Giám không?”. Rồi chị cất giọng lễ phép hỏi: “Cháu chào cụ ạ! Cụ cho phép cháu được biết quý danh của cụ?”. Lắng nghe hồi lâu, Bích Hằng nói như reo lên: “Cụ An”. Nói đoạn, Bích Hằng tự giới thiệu mình cùng gia đình đi tìm hài cốt cô Khang và đề nghị cụ giúp đỡ. Cụ An bảo (qua Bích Hằng): “Tôi là hàng xóm, nhà tôi ở vệ đê. Lần nào các bác về đây tìm mà tôi chả biết. Tôi còn nhớ như in, đêm hôm ấy, vào lúc gà gáy canh hai, ông Giám qua nhà tôi hỏi mượn cái mai. Tôi hỏi để làm gì? Ông ấy giơ ngón tay lên miệng: “suỵt! Để chôn người chết trôi”. Tôi nhìn kỹ thì thấy một cái xác cụt đầu, biết ngay là cán bộ cách mạng. ở chỗ kia trước là cái rãnh nước. Ông Giám kéo mấy cái xác qua đó, đến đây là chân ruộng mạ. Ông Điển mới ở đây thôi chứ ngày xưa là ruộng mạ, thuộc chủ khác”. Bích Hằng bèn đưa ảnh cô Khang, hỏi: “Cụ có nhận ra ai đây không ạ?”. Cụ An bảo: “Bà này là thân nhân của một ông cán bộ tỉnh uỷ ở đây. Nhưng chôn cất như thế nào thì cả tôi, cả ông Yên, ông Trọng đều không biết gì đâu. Chỉ có mình ông Giám là biết thôi. Để tôi đi tìm ông Giám cho”.
    Chờ một lúc lâu, Bích Hằng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ đi cùng cụ An về. Cụ An cười bảo: “Tất cả những chuyện cô cần biết, chỉ có mình ông Giám này là giúp được thôi”. Bích Hằng nhỏ nhẻ giới thiệu và nêu ra đề nghị với cụ Giám: nhận diện người chết qua tấm ảnh và chỉ dùm cái còng sắt nằm ở chỗ nào? Cụ Giám nói: “Đêm ấy trời tối đen như mực nên tôi chỉ nhìn thấy loáng thoáng thôi. Xác ngâm dưới nước lâu ngày đã trương lên rồi, mặt mũi nhìn không rõ. Tóc thì không vấn như trong ảnh thế này đâu mà cắt ngang gáy như cô bây giờ. Nhưng xoã xượi dưới nước. Lần ấy, tôi đem về không phải một người mà những 3 người cơ. Tôi kéo người phụ nữ lên trước nhưng cứ thấy vương vướng. Nhìn kỹ hoá ra tay trái của cô ấy bị xích vào tay người đàn ông. Khi chôn, chẳng nhẽ lại chôn hai người một hố nên tôi phải tuột tay một người đàn ông ra khỏi cái vòng. Tôi chôn người phụ nữ ở đây còn người đàn ông ở chỗ kia. Sức tôi cũng chỉ kéo được có thế. Khi chôn, vì xác bị trói đã cứng lại, không nắn thẳng ra được nên tôi đành đặt nằm nghiêng, mặt hướng ra sông cho mát mẻ. Còn người phụ nữ nữa, tôi chôn ở góc kia, chỗ gốc cây nhãn ấy. Nhưng bây giờ thì đã tụt xuống ao mất rồi. Hình như lúc chết, bà ấy đang mang thai hay sao ấy”. Anh Tân Cương hỏi: “Một số người thắc mắc, không hiểu được tại sao xác chết trôi sông lại có thể dạt vào đây được?”. Cụ Giám gắt: “Cái con mẹ Tiến nó cứ mồm năm miệng mười chứ làm sao mà nó biết bằng tôi được. ở ngoài kia nước cả, không đem vào đây thì vùi ở đâu”. Ngừng một lát, cụ nói tiếp: “Điều này thì tôi chỉ nghe phong thanh thôi. Tụi lính dõng ở đồn nó bảo người phụ nữ bị giết đêm hôm ấy (cô Khang - PV) là bà bé của tay xếp bốt”. Cụ An cãi lại: “Ông thì chỉ được cái ăn no vác nặng, có biết gì đâu. Có lần ông chôn một anh bộ đội, ông lại bảo là thằng lính dõng. Tôi thì không được kéo xác như ông nhưng việc này thì tôi biết rõ. Có một người nữ du kích bị bắt (cô Khang - PV), thằng xếp Bách dụ làm vợ bé không được, nó đã giết đi. ở bốt này có một thằng quan Tư là quan thày người Pháp còn thằng Bách tuy là tay sai nhưng cũng được gọi là xếp. Thằng Bách lấy vợ người La Tiến làng mình, ai mà chẳng biết rõ về nó”.
    Trời đã xế chiều. Mọi người hối hả thu dọn. Bác Sơn bảo (qua Bích Hằng): “Còn cái chân của cô, moi sâu vào mà bốc. Được bà chị xuống với em, chẳng giúp được việc gì, chỉ ngồi khóc”. Anh Tân Cương tưởng bác Sơn nói đến cô Nam (chị gái của cô Khang) đa cảm, hay xúc động liền nói chêm vào: “Sáng nay, bà ấy cứ nhất định đòi đi”. Bích Hằng thấy vậy, liền cải chính: “Không phải thế đâu. Bác Sơn nói đến bà chị là bác Nghĩa (đã mất) cơ. Từ nãy, bác ấy cứ ngồi khóc một chỗ. Bác ấy bảo: Nhà có 6 chị em gái, ai nấy đều có phận. Riêng em tôi giỏi giang xinh xắn nhất nhà thì lại chịu cảnh thế này. Không tìm được xác em, lúc tôi chết cũng không nhắm được mắt. Bây giờ tìm được em thì mình đã thành người thiên cổ rồi”. GS Phương nghe thấy bác Nghĩa nhắc đến 6 chị em, vội giơ đốt ngón tay đếm. 6 hay 5 nhỉ? Đúng là 6 thật! Bác Sơn như hiểu ý của anh Tân Cương, nói: “Uí giời! Cho cái cô Nam nhà tôi xuống đây thì chỉ được cái bù lu bù loa chứ giúp được gì. Tính cái con ấy nó vậy”. Cô Khang nói: “Buồn cười quá! Sau lần gặp cô em, về đến nhà, ông anh Phương vội vàng bốc cát lập ngay… 7 bát hương. Mỗi người một bát. Đúng là một cuộc cách mạng. Em Khang cảm động ghi nhận tấm lòng của anh Phương, chị Thuỷ”. (Bà Thuỷ là vợ của GS Phương - PV). GS Phương giật mình. Quái lạ! Việc ông lập đến 7 bát hương, thờ phụng ở nhà, (một bát thờ tổ tiên, một bát thờ cụ nội, một bát thờ ông bà nội, một bát thờ bố mẹ, một bát thờ anh Sơn, một bát thờ cô Khang, một bát thờ người con giai chết trẻ - thế cô Khang mới buồn cười) chỉ có mình ông và vợ biết, có nói với ai đâu. Tại sao Bích Hằng lại nói đúng thế nhỉ?
    Cụ An bảo: “Cô Khanh là liệt sĩ, sao không làm lễ truy điệu rồi hãy mang về quê?”. Bác Sơn vội giải thích: “Hôm nay cập rập quá, gia đình chuẩn bị không kịp. Hôm tới đưa về nghĩa trang liệt sĩ của huyện sẽ làm lễ truy điệu sau”. Cô Khang bảo: “Cậu Quỳnh còn giữ những giấy tờ, bằng khen của chị không?”. Chú Quỳnh đáp: “Bằng khen và Huân chương của chị, em vẫn giữ”. Cô Khang: “Hôm này làm lễ truy điệu chị ở nghĩa trang liệt sĩ, cậu nhớ mang theo nhé”. Chao ôi! Người con gái đã hy sinh ngót 50 năm mà vẫn quan tâm đến những vinh dự của mình nơi trần thế - GS Phương ngậm ngùi nghĩ mà lòng thì rưng rưng xúc động.
    Nói đoạn, cô Khang quay lại nhìn cụ Giám, cười bảo: “Cụ Giám ạ! Vừa rồi cụ nói oan cho tôi quá. Tôi đã được làm vợ bé ngày nào đâu”. Bích Hằng thông dịch đến đây, mọi người trên bờ cười ồ cả lên. “Nhưng cụ nói đúng đấy. Ngày xưa ai cũng gọi tôi là cô Khang tóc dài. Nhưng khi bị bắt, giặc đã cắt cụt hết. Trong việc chôn cất các liệt sĩ ở đây, cụ là người có công lớn nhất. Chúng tôi vô cùng biết ơn cụ. Nay tôi về Mỹ Hào quê tôi, về với anh Sơn. Nằm lại đây còn một bộ hài cốt, gia đình người ta cũng sẽ đến bốc về. Chỉ còn chị Bê, hài cốt không còn gì. Nhờ bác Điển hương khói cho vong hồn chị. Chị ấy sẽ phù hộ cho bác. Hồi đi hoạt động cách mạng, chị lấy tên là Nguyễn Thị Bê nhưng tên thật của chị là Nguyễn Thị út. (Mấy người trong làng đứng xem chợt ồ lên: Ôi! Bà út. Thế mà con cháu cứ tìm kiếm mãi). Nhờ bác Điển đem mâm lễ phát lộc cho các cháu”.
    Mặt trời khuất hẳn sau luỹ tre ven sông thì công việc thu vét hài cốt cũng xong. Mọi người vây quanh gốc cây vải, nơi đặt bàn thờ tạm. Bích Hằng bảo: “Suốt ngày cô Khang và bác Sơn quanh quẩn ở đó. Buổi chiều, bác Nghĩa cũng ngồi ở đó ôm lấy tấm ảnh cô Khang mà khóc. Cụ An và cụ Giám thì ngồi ở phía tường hoa”. Trời nhọ mặt người, gia đình GS Trần Phương mới đưa hài cốt của cô Khang về nhà. Hai ngày sau, lễ truy điệu người nữ du kích anh hùng Trần Thị Khang đã diễn ra trọng thể tại nghĩa trang liệt sĩ của Huyện với sự có mặt của hơn 300 người gồm các Ban, ngành, chính quyền, đoàn thể cùng đông đủ họ hàng nội ngoại. Người xúc động nhất buổi hôm ấy, có lẽ là GS Trần Phương. Sau 24 ngày mò tìm trong bí ẩn, nhiều lúc tưởng chừng như tuyệt vọng, cuối cùng, hài cốt của người em gái thân yêu đã tìm thấy. Đó là một kết thúc có hậu. Đó cũng là hành trình đưa GS đến với thế giới tâm linh đầy huyền hoặc với những khám phá bất ngờ, thú vị và cả những day dứt, trăn trở…
    GS Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ, hiệu trưởng trường Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội: “Hài cốt em tôi đã tìm thấy nhưng cách thức tìm của các nhà ngoại cảm, với tôi, vẫn còn là bí ẩn. Khám phá ra bí ẩn này, như tôi biết, không phải là điều dễ dàng gì. ở đây, tôi chỉ xin đề xuất một số vấn đề để các nhà nghiên cứu xem xét:
    1. Tôi có căn cứ để tin rằng: Tôi đã gặp linh hồn em Khang, anh Sơn, thậm chí, cả linh hồn cụ Giám, cụ An, Bích Hằng đã nhận dạng được linh hồn qua tấm ảnh, đã nghe được tiếng nói của linh hồn. Như vậy, linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó thì mới có hình thù và khả năng phát ra tiếng nói như vậy. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hoá học, sinh học, y học… với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra. Vậy các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó?
    2. Tôi nhận thấy linh hồn người chết vẫn thể hiện những tình cảm vui buồn, ước muốn, vẫn kể lại rành rọt, chính xác những việc đã qua, kể cả những sự việc sau khi mình đã chết, vẫn theo dõi những việc mà người sống đang làm. Như vậy, linh hồn đâu phải là vật thể vô tri vô giác mà là những vật thể sống, có tư duy và tình cảm. Điều này, đặt ra một loạt câu hỏi: “Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới của chúng ta đang sống không? Nó hoạt động như thế nào, tác động gì đến thế giới của chúng ta? Linh hồn có mất đi hay tồn tại mãi?Người sống dâng cúng đồ lễ, tiền vàng là đúng hay nhảm nhí? Tìm lời giải cho những vấn đề này, nếu chỉ dựa vào suy luận thì sẽ dẫn đến những cuộc tranh cãi bất tận. Vấn đề mấu chốt là phải chứng minh.
    3. Hầu hết mọi người đều không nhìn thấy linh hồn, nghe thấy tiếng nói của linh hồn. Ngoại trừ một số hiếm hoi là các nhà ngoại cảm. Vậy khả năng đặc biệt ấy là do cấu tạo sinh lý?
    4. Để nghiên cứu lĩnh vực này, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã lập ra Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người (Bộ môn cận tâm lý). Song quyền hạn, phương tiện nghiên cứu, tài chính hoạt động còn hạn hẹp. Nên chăng, thành lập một viện nghiên cứu có sự hỗ trợ về kinh phí của nhà nước, có sự quyên góp tự nguyện của những người quan tâm? Nếu nghiên cứu thành công không những có ý nghĩa nhân văn mà còn giúp ích nhiều mặt, kể cả về mặt điều tra hình sự (nếu vong hồn người bị giết nói ra thì kẻ giết người tránh sao khỏi tội?).
    5. Trong khi chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, cần có những chính sách, chế độ ưu đãi cho các nhà ngoại cảm để họ có thể phát huy cao hơn nữa khả năng đặc biệt vào việc tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ, thoả lòng mong ước của hàng chục vạn gia đình. Tránh những lời bổ báng vội vã, tránh vơ đũa cả nắm giữa các nhà ngoại cảm có khả năng thực sự với những kẻ buôn thần bán thánh, lợi dụng mê tín dị đoạn để loè bịp, trục lợi.
    http://tuvanvayvon.com suu tam theo nguồn:  Đường về xứ Phật
    Hành trình tìm mộ em gái Giáo sư Trần Phương