trang Blog

Yên SơnTham gia: 12/03/2009
  • NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN THIẾT CỦA NHÀ QUẢN LÝ
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN THIẾT CỦA NHÀ QUẢN LÝ

    NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN THIẾT CỦA NHÀ QUẢN LÝ

    1. Phẩm chất

    1.1. Chính trực

    Chính trực là sự hội tụ, liên kết giữa các yếu tố: lời nói đi đôi với việc làm và kết hợp với những phẩm giá bên trong. Nó là sự gắn kết giữa các giá trị vững chắc, không gì có thể thay đổi.

    Một lãnh đạo chính trực có thể giành được lòng tin của mọi người và sẽ được ngưỡng mộ vì sự đồng nhất của những giá trị cốt lõi bên trong. Những phẩm chất này có thể coi như một hình mẫu tiêu biểu để mọi người noi theo, cũng như giúp cho toàn bộ tổ chức, doanh nghiệp xây dựng những giá trị văn hoá hữu hiệu và có sức mạnh lớn lao.

    -         Tính nhất quán

    -         Lòng tin tưởng vào con người

    1.2. Cống hiến

    Cống hiến là dành mọi thời gian, nguồn lực tập trung vào một nhiệm vụ đặt ra cần được hoàn thành, chứ không đơn thuần là chỉ dành thời gian bạn có cho công việc ấy.

    Nhiệm vụ của hầu hết những ai giữ cương vị lãnh đạo không đơn thuần dừng lại: sẽ thực hiện công việc nếu có thời gian. Hay nói cách khác, họ phải cống hiến toàn bộ những gì mình có đối với nhiệm vụ được giao, cống hiến bản thân để thành công, để dẫn dắt người khác.

    -         Ham thích công việc, say sưa và hết long với công viêc

    -         Có trách nhiệm cao, có tinh thần vượt khó

    -         Sâu sát, tỉ mỉ

    -         Kiên trì theo đuổi mục đích

    1.3. Khoan dung

    Một người khoan dung, cao thượng sẽ luôn toả sáng và tạo dựng được lòng tin, sự tín nhiệm cho dù ở nơi đâu, trong hoàn cảnh nào. Đó là độ lượng trước thất bại của người khác và cho phép những người thất bại vẫn bảo toàn được nhân cách, phẩm giá của họ.

    Lãnh đạo khoan dung phải là người biết ghi nhận thành công của nhân viên và chiụ trách nhiệm cá nhân đối với những thất bại.

    -         Không thành kiến

    -         Có long tin tưởng vào cấp dưới

    -         Tin tưởng vào tập thể và người dưới quyền

    -         Tôn trọng và yêu cầu cao với người dưới quyền

    1.4. Khiêm tốn

    Khiêm tốn tức là đối lập với tự cao tự đại, luôn cho bản thân mình là nhất. Cần nhận ra rằng bạn vốn đã không phải là người có cấp bậc, địa vị cao hơn người khác và hiển nhiên rằng họ cũng không phải là cấp dưới của bạn. Khiêm tốn không đồng nghĩa với việc bạn phải "thu nhỏ" hay quá tự đề cao bản thân mình.

    Những lãnh đạo khiêm tốn sẽ không hạ thấp bản thân mình, và càng không tự đánh giá quá thấp bản thân. Đơn giản, họ chỉ công nhận giá trị của người khác một cách khách quan, công bằng và nhận thức rõ địa vị họ đang nắm giữ không phải là quyền lực tối cao.

    -         Có niềm tin vào sự nghiệp của mình

    -         Tự tin vào khả năng đích thực của bản thân

    1.5. Cởi mở

    Cởi mở là khả năng lắng nghe ý kiến của người khác, là biết cân nhắc, để dành những đánh giá cho đến thời điểm thích hợp.

    Một lãnh đạo cởi mở là phải biết lắng nghe mà không cắt lời người nói quá sớm, hay ít nhất cũng phải tỏ rõ sự quan tâm hay thiện chí xây dựng lòng tin ở họ. Cởi mở còn nằm ở việc xử lý những ý kiến khác theo khả năng tốt hơn mà không áp đặt ý kiến chủ quan riêng mình.

    -         Quan tâm chân thành đến người khác

    -         Đối xử công bằng

    -         Lịch thiệp, tế nhi, lịch thiệp với mọi người

    -         Biết nói, biết nge, biết im lặng đúng lúc

    -         Có óc hài hước

    1.6. Sáng tạo

    Sáng tạo là tư duy theo các cách khác nhau, là khả năng thoát khỏi khuôn mẫu và đưa ra quan điểm khác, mới hơn về sự việc.

    Đối với lãnh đạo có khả năng nhìn thấy tương lai mới thì họ sẽ dẫn dắt những người theo sau hướng tới tương lai đó, sự sáng tạo trong tình huống này chính là khả năng tư duy khác biệt và nhìn nhận ra những điều mà người khác không thể. Hơn nữa, người lãnh đạo này còn đưa ra những lý do thuyết phục để người theo sau phải đi theo.

    - Tính không cầu toàn

    - Tôn trọng ý tưởng của cấp dưới

    - Tính quyết đoán

    - Tính đổi mới

    2. Năng lực

    2.1. Kiến thức cần có ở nhà quản lí

    2.1.1. Kiến thức chuyên môn/nghề nghiệp

    2.1.2. Kiến thức về cuộc sống sâu, rộng và đa dạng

    Là kiến thức tổng quát về doanh nghiệp, ngành, các hoạt động liên quan, kiến thức về môi trường kinh doanh, pháp lý, chính trị, kinh tế và xã hội, các kiến thức về môi trường kinh doanh quốc tế và các xu hướng phát triển chủ đạo. Cần lưu ý kiến thức là khái niệm động, nó luôn thay đổi, do đó nhà quản lý phải liên tục cập nhật và chủ động trong tích lũy kiến thức.

    2.1.3. Kiến thức về khoa học quản lý

    2.2. Kỹ năng cần có ở nhà quản lí

    2.2.1. Kỹ năng quản lý

    Kỹ năng này bao gồm các kỹ năng về hoạch định, tổ chức và điều hành doanh nghiệp, và tổ chức công việc cá nhân. Hoạch định là quá trình thiết lập các mục tiêu, xây dựng các chiến lược và kế hoạch để thực hiện các mục tiêu. Trong quá trình này, nhà quản lý phải dự kiến được các khó khăn, trở ngại, những biến động của môi trường kinh doanh và có những kế hoạch dự phòng. Hoạch định có xa và gần. Xa là tầm nhìn về con đường phát triển của doanh nghiệp trong dài hạn với câu hỏi chính: “Doanh nghiệp trong 5, 10 và 20 năm tới sẽ như thế nào?”.

    2.2.2. Kỹ năng tạo động lực làm việc

    Một tổ chức thành công được hoàn toàn nhờ sự đóng góp của các thành viên trong tổ chức. Khi các thành viên phát huy được 100% hay hơn 100% sức lực của mình thì tổ chức đó sẽ đạt Hoài Bão của Tổ chức

    Để đạt được điều đó đòi hỏi nhà Lãnh Đạo phải khuyến khích nhân viên muốn làm việc chứ không phải là"phải" làm việc.

    Muốn khích lệ hay động viên nhân viên thì Nhà lãnh đạo phải biết được nhân viên mình muốn gì(về cả mặt vật chất và tinh thần)? Abraham Maslow đã giúp các Nhà lãnh đạo có thể xác định được mong đợi của nhân viên của mình dựa trên Học thuyết nhu cầu;

    Bậc thang nhu cầu của MASLOW:

    Nhu cầu về thể chất và sinh lý, Nhu cầu về an toàn và an ninh, Nhu cầu về quyền sở hữu và tình cảm (được yêu thương), Nhu cầu về sựkính mến và lòng tự trọng, Nhu cầu về sựtự hoàn thiện.

    Khi xác định được mong đợi của người nhân viên trong tổ chức, Nhà lãnh đạo phải gắn kết được mục tiêu của cá nhân người nhân viên chỉ đạt được khi họ đạt được mục tiêu trong công việc. Nghĩa là phải gắn kết được mục tiêu cá nhân với mục tiêu lớn của tổ chức.

    Hơn thế nữa, theo Frederick Herzberg, Nhà lãnh đạo phải phân định rõ được trong những yếu tố mà người nhân viên mong đợi có được, yếu tố nào là yếu tố thuộc nhóm "yếu tố duy trì", yếu tố nào thuộc nhóm "yếu tố tạo động lực".

    Nhóm "yếu tố duy trì" bao gồm lương bổng, sự quản lý, giám sát và điều kiện làm việc;  chỉ có tác dụng duy trì trạng thái tốt, ngăn ngừa các "chứng bệnh"; tuy nhiên chúng không làm cho con người làm việc tốt hơn. Nhóm "yếu tố tạo động lực" bao gồm sự thành đạt, những thách thức, trách nhiệm, sự thăng tiến và sự phát triển; là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, giúp người nhân viên muốn làm việc. Khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, người nhân viên sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần.

    Muốn động viên nhân viên làm việc, Nhà lãnh đạo phải:

    -         Công nhận thành tích: như khen trước công chúng, trao bằng khen, khen trực tiếp, hoặc thư khen và quan tâm đặc biệt.

    -         Tạo cơ hội phát triển cá nhân: như cho đi đào tạo phát triển kỹ năng, tham dự vào công việc quản lý, giao thêm việc, giao quyền..

    -         Khen thưởng: Bằng khen, huy hiệu hay cúp; tặng quà; tên và hình ảnh của nhân viên được đặt tại nơi trang trọng của công ty; thăng chức.

    2.2.3. Kỹ năng ứng xử và giao tiếp; thiết lập quan hệ với mọi người.

    Kỹ năng này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt và kiến thức cũng như kinh nghiệm xã hội của nhà quản lý. Mục tiêu của kỹ năng này là nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở nhận diện và công nhận các giá trị và nhu cầu của các đối tượng giao tiếp. Công nhận và chia sẻ các giá trị và thành tựu của người khác hoàn toàn không phải là việc đơn giản dù giá trị đó là của cấp dưới hay đồng nghiệp, hoặc cấp trên.

    2.2.4.  Kỹ năng truyền thông

    Gửi và nhận thông tin rõ ràng, chính xác, đầy đủ và hiệu quả là yêu cầu của kỹ năng này. Kỹ năng này bao gồm các kỹ năng về thông báo, nói, nghe và viết. Nhà quản lý phải có khả năng thông báo cho các cộng sự các sự kiện, quyết định, thay đổi một cách hiệu quả. Kỹ năng nói, thuyết phục và trình bày hiện nay được coi là kỹ năng truyền thông quan trọng bậc nhất của một nhà quản lý. Có ý tưởng nhưng không thuyết phục được người khác tin và làm theo thì chắc chắn sẽ thất bại. Mô hình các nhà quản lý “lẳng lặng mà làm” không còn chỗ đứng trong kinh doanh quốc tế. Cần ghi nhớ “im lặng là vàng nhưng lời nói đúng lúc là kim cương”.

    Hiện nay vai trò của tiếng Anh là không thể phủ nhận. Các nhà quản lý quốc tế phải là người sử dụng thành thạo tiếng Anh trong giao tiếp truyền thông. Một điểm yếu mà nhiều nhà quản lý hay mắc phải là không biết lắng nghe. Nghe và chấp nhận sự khác biệt là yếu tố quan trọng của phát triển. Nói khó, nghe khó, nhưng viết còn khó hơn nữa. Viết cho đúng, thể hiện rõ ý tưởng và thuyết phục được người đọc là kỹ năng cần luyện tập thường xuyên. Bên cạnh việc truyền thông trong nội bộ doanh nghiệp, các nhà quản lý còn cần luyện tập các kỹ năng truyền thông công cộng như diễn thuyết, trả lời phỏng vấn, viết báo.

    2.2.5. Kỹ năng hợp tác thống nhất trong tập thể

    2.2.6. Kỹ năng thích nghi nhanh với các thay đổi, nhạy cảm với cái mới

    Môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội, và tự nhiên thay đổi hết sức nhanh chóng đòi hỏi nhà quản lý phải nhanh chóng thay đổi và thích nghi để tồn tại và phát triển. Để không bị động trước những thay đổi nhà quản lý cần có khả năng dự báo trước những thay đổi để có kế hoạch thích nghi cho mình và doanh nghiệp. Xử lý căng thẳng (stress), xây dựng lòng tự tin và tự chấp nhận, năng lực làm việc độc lập trong những môi trường đa dạng và nhiều thử thách, và tính linh hoạt là những yêu cầu cơ bản của nội dung này. Chơi thường xuyên một môn thể thao là một phương pháp rất tốt để giảm căng thẳng, tăng tiếp xúc xã hội, và bảo vệ sức khoẻ. Một ý chí mạnh mẽ, linh hoạt phải đi kèm với một cơ thể mạnh khỏe. Bên cạnh đó một một kế hoạch quản lý thời gian và công việc hiệu quả cũng như một gia đình hạnh phúc là những cơ sở quan trọng để tăng cường năng lực thích nghi, tăng tự tin và giảm căng thẳng.

    2.2.7. Kỹ năng xử lý thông tin và năng lực tư duy

    Tiếp nhận và xử lý thông tin một cách hiệu quả để có thể đưa ra những quyết định chính xác. Có bốn thành phần chính. Đầu tiên là kỹ năng phân tích vấn đề và ra quyết định. Nó bao gồm nhận dạng vấn đề, triệu chứng, nguyên nhân và xử lý các thông tin để đưa ra giải pháp chính xác trong thời gian ngắn nhất.

    Thứ hai là kỹ năng phân tích tài chính và định lượng. Các nhà quản lý phải có thể làm việc với các con số tài chính và có khả năng phân tích các con số này để phục vụ quá trình quản lý.

    Thứ ba là nhà quản lý phải có khả năng phát triển và sáng tạo các phương pháp giải quyết vấn đề mới cho chính mình và doanh nghiệp. Sáng tạo là phẩm chất quan trọng, nhưng nó không tự nhiên đến mà là kết quả của một quá trình học hỏi, quan sát và tư duy liên tục.

    Thứ tư là khả năng xử lý các chi tiết. Thông tin rất nhiều và đa dạng, để xử lý hiệu quả nhà quản lý phải biết chọn lọc các thông tin quan trọng, giữ được các khuynh hướng chính nhưng không mất đi các chi tiết cần thiết, cân đối giữa toàn cục và thành tố.

    2.2.8. Kỹ năng tự động viên

    Tự động viên là một kỹ năng rất cần thiết để luôn có tinh thần lạc quan và có cái nhìn tích cực đối với công việc của mình. Đừng chờ sự công nhận và động viên từ người khác, chính chúng ta phải là người đầu tiên nhìn thấy những điểm mạnh, những đóng góp, thành công của mình dù đó là những thành công nhỏ nhất và quyết tâm theo đuổi chúng, nhưng nếu chưa đạt được thì cũng không bi quan.

    NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CẦN THIẾT CỦA NHÀ QUẢN LÝ