Âm nhạc Việt Nam có một truyền thống khá lâu đời.
Ngay từ thời cổ cư dân ở Việt Nam đã rất say mê âm nhạc. Đối với họ âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu. Bởi vậy trong quá trình phát triển lịch sử cư dân ở đây đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động, trong chiến đấu, để giáo dục cho con cháu truyền thống của ông cha, đạo lý làm người, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng và để bay lên với những ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai...
Trải qua bao biến thiên, ngày nay tại Việt Nam còn lưu giữ một kho nhạc khí đủ loại từ những dạng đơn sơ nhất cho tới những dạng có sự phát triển khá cao với những kỹ thuật diễn tấu tinh tế.
Tại đây ta có thể nghe những điệu hát ru, những bài đồng dao của trẻ nhỏ, những thể loại ca nhạc trong các nghi thức cúng lễ hoặc dùng trong việc giao tiếp giữa các thành viên cộng đồng, trong lao động, trong vui chơi giải trí với những thể hát đố, hát đối đáp thi tài của trai gái, những điệu hát khi chơi bài hoặc khi kể những áng trường ca, những câu ca tiếng đàn của những người hát rong, của các ban "tài tử" cùng những thể loại ca kịch truyền thống...
Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú bởi sự tích đọng những thể loại thuộc nhiều thời đại khác nhau và bởi cả tính đa sắc tộc. Cùng một thể loại ca nhạc song ở mỗi sắc tộc lại có phương thức biểu hiện, diễn tấu và âm điệu riêng. Điệu hát ru Việt khác ru Mường, ru Thái, ru Tây Nguyên... Có tộc dùng lời ca tiếng hát để đưa trẻ vào giấc ngủ. Có tộc lại ru con bằng tiếng đàn, tiếng sáo êm ái.
Xưa kia âm nhạc cổ truyền đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Ngày nay nó vẫn giữ một vị trí đáng kể trong xã hội. Một số thể loại ca nhạc vẫn tồn tại trong cuộc sống dân dã. Một số khác đã bước lên sân khấu, tiếp tục làm đẹp cho đời và phát huy tác dụng trong cuộc sống mới
1. Đàn bầu- Nhạc cụ độc đáo của dân tộc
Trong kho tàng văn hoá âm nhạc dân tộc Việt Nam, đàn bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp dẫn nhất. Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai đã nghe một lần thì thật khó quên. Chẳng thế mà các cụ ngày xưa đã kín đáo nhắn nhủ: "Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu"
"Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha. Ngân nga em hát, tích tịch tình tang"
Dường như âm thanh mộc mạc, chân quê nhưng sâu lắng đến vô cùng của cây đàn bầu, hoà quện với tấm lòng của tác giả đã tạo nên những vần điệu chất chứa trong bài hát ru ấy. Điều gì đã kiến cho cây đàn bầu có sức quyến rũ độc đáo đến như vậy?
Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự xuất hiện của cây đàn bầu trong kho tàng văn hoá dân gian. Chỉ từ trò chơi trống đất của trẻ em đồng bằng Bắc bộ là đào hố và căng dây qua lỗ đất, khi đập nghe tiếng bung bung mà các cụ ngày xưa đã cho ra đời nhạc cụ mang tên đàn Bầu, được làm từ ống tre và quả bầu khô. Từ thời nhà Lý, đàn Bầu đã xuất hiện, nhưng thời ấy nhạc cụ này chỉ được dùng để đệm cho những người hát xẩm. Thời gian qua đi cây đàn dần được cải tiến, đàn được làm từ những chất liệu tốt hơn như gỗ, sừng. Ông Đỗ Văn Thước, một nghệ nhân làm đàn Bầu nói "cuộc sống và mọi sinh hoạt của nông dân Việt Nam đều bắt nguông từ cây tre: ống nước, ống cơm, rổ rá, đòn gánh, Bởi vậy, để bảo vệ bụi tre họ lấy dây rừng buộc quanh gốc tre, thấy âm thanh phát ra từ đó như những cuộc giao lưu tình cảm khiến người nông dân xưa nghĩ đến việc hạ tre thành cọc căng dây tơ cho âm thanh hay hơn, rồi sử dụng vỏ quả bầu dài làm hộp cộng hưởng". Song có lẽ tất cả cũng chỉ là những giả thuyết. Còn thực tế thì cây đàn bầu đã gắn bó với làng quê con người Việt Nam từ bao đời nay còn chưa ai biết.
Cái độc đáo ở đây là cây đàn cấu trúc rất đơn giản. Chỉ với một dây nhưng nó diễn tả được mọi cung bậc của âm thanh và tình cảm. Âm thanh cũng mang sức quyến rũ lạ kỳ, gần với âm điệu tiếng nói của người Việt, bởi vậy mà đàn Bầu trở thành nhạc cụ được mọi người ưa thích.
Để có được cây đàn như ý, người làm đàn phải rất công phu trong việc chọn lựa chất liệu. Cây đàn phải hội đủ hai yếu tố "Mặt ngô thành trắc", có nghĩa là mặt đàn phải làm bằng gỗ cây ngô đồng sao cho vừa xốp vừa nhẹ, thớ gỗ óng ả, thẳng thì mới có độ vang. Khung và thành đàn làm bằng gỗ trắc hoặc gụ, vừa đẹp lại vừa bền. Cần rung, còn gọi là vòi đàn được làm từ sừng trâu. Bầu đàn được lấy từ quả bầu khô hoặc tiện bằng gỗ. Từ những chất liệu hết sức giản dị ấy gia đình nghệ nhân Đỗ Văn Thước đã cho ra đời bao đứa con tinh thần này. Sinh trưởng trong gia đình ba đời đều làm nhạc cụ dân tộc, năm 1953 bác Thước đượ ông ngoại và cậu truyền cho nghề này. Đến nay khi đã nghỉ hưu, bác lại cùng vợ con chế tạo nên những chiếc đàn cao cấp chỉ dành riêng cho những nghệ sĩ chơi đàn trong các đoàn nghệ thuật. Cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong vấn đề cấu tạo cây đàn. Người thì cho rằng nên kéo dài đàn ra để có được tiếng trầm hơn hoặc đổi đàn bầu thành hai dây (một cao, một thấp), hai cần và mở to thùng đàn ra, nhưng cuối cùng tất cả đều không phù hợp. Việc dùng vòi đàn để căng dây lên hoặc hạ chùng dây xuống đã tạo ra nhiều âm thanh và cao độ khác nhau. Cần đàn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sắc độ âm thanh khác nhau và làm cho tiếng đàn tròn, mượt. Mặt đàn với thới gỗ óng ả, khi kết hợp với hộp cộng hưởng sẽ tạo nên những âm thanh vang, trong. Đàn còn được trang trí nhiều hoa văn hoặc khảm trai với các hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt phong phú của người dân Việt Nam. Ngày nay người ta thường có xu hướng thay thế đàn gỗ bằng đàn điện, kéo dài và làm mỏng thân đàn để tạo âm trường và tiếng vang hơn.
Đàn Bầu thể hiện một cách thành công những làn điệu dân ca khác nhau của từng vùng, từng miền của dân tộc. nó còn có thể diễn tấu rất hay những giai điệu của nước ngoài, từ nhạc dân gian đến nhạc nhẹ. Nghệ sĩ đàn Bầu Kim Thành cho biết, hiện anh còn giữ chiếc đàn bầu có tuổi thọ 70 năm của nghệ sĩ Bá Sách để lại. Chơi đàn dân tốc không phải là một nghề đem lại sự giàu có, nhưng với anh đó là niềm đam mê từ khi còn là đứa trẻ. Đến nay đã 32 năm trong nghề, bằng lối chơi đầy sáng tạo qua mỗi lần biểu diễ, anh đã khiến người nghe say mê. Anh cho biết "năm 1994, tôi được mời đến nước Anh biểu diễn cho nữ hoàng Elizabeth tại nhà hát Hoàng Gia. Buổi biểu diễn rất thành công. Sau đó tôi được mời ở lại định cư tại đất nước này. Nhưng tôi không thể rời bỏ được tổ quốc và gia đình ruột thịt của mình. Đến năm 1995 một lần nữa nữ hoàng Anh lại mời tôi sang biểu diễn. Đây thật là một vinh dự lớn trong cuộc đời làm nghệ thuật của tôi. Không chỉ mình tôi, đến nay chúng ta đã có rất nhiều tài năng trẻ chơ đàn Bầu đang được cả nước và thế giới biết đến như Hoàng Tú, Huỳnh Tú..."
Phải chăng vì sự độc đáo có một không hai của cây đàn Bầu mà mỗi khi nhắc đến Việt Nam, nhiều khác nước ngoài đã cây đàn bầu như một biểu tượng của Việt Nam "Đất nước đàn Bầu". "Quê hương đàn Bầu". Nhà thơ nữ người Pháp MeRay đã thốt lên: "Cây đàn Bầu thật giống với con người Việt Nam. Nghèo của cải mà giàu lòng nhân ái, giản dị mà thanh tao, đơn sơ mà phong phú".
2. Đàn Nhị / Đàn cò
Cây đờn cò (nhị) đã có mặt trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ lâu đời, đã trở nên thân quen và gần gũi với mọi người dân Việt Nam, nó được trân trọng quí báu như cổ vật gia bảo. Đờn cò đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng và đắc lực không thể thiếu trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay.
Người Sài Gòn gọi là "đàn cò" vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò- Cần đờn như cổ cò - thân đờn như con cò - tiến đờn nghe lảnh lót như tiếng cò. Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhặc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca... đều có đờn cò.
3. Đàn Nguyệt / Đàn kìm
Đàn nguyệt được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc dân gian cũng như cung đình bác học cổ truyền của người Việt. Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho tới nay nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt và là nhạc cụ chủ yếu dành cho nam giới.
Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại.
Tiếng đàn trong, vang, khả năng biểu hiện phong phú- khi thì sôi nổi ròn rã, lúc lại nỉ non sâu lắng, do đó đàn nguyệt có mặt cả trong những cuộc hoà tấu nhạc lễ trang nghiêm, những cuộc hát văn lôi cuốn, những lễ tang bùi ngùi xúc động cũng như những cuộc hoà tấu thính phòng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau: đệm cho hát, hoà tấu và độc tấu.
4. Đàn Tranh
Được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ XI đến thế kỷ thứ XIV. Thời Lý - Trần đờn tranh chỉ có độ 15 dây, nên bấy giờ gọi là "Thập ngũ huyền cầm" và được dùng trong ban "Đồng văn, nhã nhạc" (Đời Lê Thánh Tôn thế kỷ thứ XV). Sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Thời Nguyễn (thế kỷ thứ XIX) được dùng trong ban "nhạc Huyền" hay "Huyền nhạc". Lúc bấy giờ được xử dụng với 16 dây nên được gọi là "Thập lục huyền cầm".
Hình dáng đờn dài, có 16 dây bằng kim loại. Mặt đờn nhô lên hình vòng cung. Từ trục đờn đến chỗ gắn dây đờn, khoảng giữa của mỗi dây đều có một con nhạn gọi là "Nhạn đờn" để tăng âm, lên dây đờn từ nửa cung đến một cung, khi đờn cần chuyền đổi dây, về sau này đờn tranh rất thông dụng được đứng thứ ba trong bộ tam tuyệt của dàn nhạc tài tử.
Vì đờn tranh được thiết kế theo hình thức nhiều dây, nên khi tấu nhạc, đờn tranh phát ra âm thanh đanh tiếng, sắt tiếng hơn khi tấu chữ, đờn thường là "song thanh", ví dụ khi hết một câu hay hết một đoạn nhạc, hoặc một láy đờn nào đó thường lặp lại một nốt, một chữ nhạc của láy đờn (hò - líu, xàng - xang, xề - xê...).
5. Đàn Tỳ Bà
Tỳ Bà tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người Việt. Nhiều tài liệu đã cho biết, Tỳ Bà xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở Nhật Bản với tên gọi BiWa.
Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngô Đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong có chạm khắc rất cầu kỳ, khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi. Nơi đầu đàn gắn bốn trục gỗ để lên dây.
Toàn bộ chiều dài của thân đàn có số đo từ 94 - 100 cm. Phần cần đàn có gắn 4 miếng ngà voi cong vòm lên gọi là Tứ Thiên Vương. Tám phím chính làm bằng tre hoặc gỗ gắn ở phần mặt đàn cho các cao độ khác nhau. Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm rồi đem vuốt sáp ong cho mịn, ngày nay người ta thay dây tơ bằng dây nilon. Đàn có 4 dây lên theo 2 quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ - Fa - Sol - Đô1 hoặc Sol -Đô1 - Rê1 - Sol1. Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồi mồi hoặc miếng nhựa.
Ở Việt Nam đàn Tỳ Bà có mặt trong các dàn nhạc: Nhã nhạc, Thi nhạc của cung đình, Thiền nhạc của phật giáo, ban Nhạc tài tử, Phường bát âm, Dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
Mặc dù đàn Tỳ Bà có xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc (Nghe bài viết về đàn Tỳ Bà)
6. Đàn T'rưng
Với người Tây Nguyên lời ca tiêng đàn luôn luôn là nguồn cổ vũ trong đời sống. Đêm đêm quan ngọn lửa hồng dưới mái nhà rông người ta kể Khan, kể H''''mon và hát lên những làn điệu dân ca Jôn-jơ, đợi chờ, giã gạo...
Nói tới âm nhạc Tây Nguyên không thể không nhắc tới kho tàng nhạc khí hết sức phong phú với nhiều loại, nhóm và chất liệu khác nhau. Hầu hết các nhạc khí cổ thường dùng chất liệu sẵn có trong thiên nhiên như sáo, tiêu, goong rel, tù và, k''''lông pút và T''''rưng.
Đàn T''''rưng là một loại nhạc khí "thô" được chế tác từ những khúc gỗ bóc vỏ phơi khô hoặc những ống nứa vót một đầu, chặt theo những độ dài khác nhau để tạo nên những âm vực ưng ý đem treo lên một cái giá đủ trở thành một cây đàn gõ "phím" cho một hoặc hai người diễn tấu bằng cách cầm những dùi tre gõ vào phím này.
Đàn T''''rưng thường được diễn tấu bên trong nhà rông hoặc ngoài trời vào các dịp lễ hội truyền thống hay trong sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc người Banah, Jarai, Êđê...
T''''rưng có khả năng diễn tấu phong phú và đa dạng. Với nguồn âm thanh bất tận khi êm nhẹ theo giai điệu trữ tình của một khục hát giao duyên, khi hoà cùng dàn nhạc tấu lên bản hợp tấu của núi rừng hùng vĩ... Trong giao lưu văn hoá T''''rưng cũng xuất hiện trên các sân khấu ca nhạc hiện đại phụ hoạ theo tiếng hát rực lửa của những người con Tây Nguyên, nâng cánh cho những giọng ca vàng vang đến mọi nơi chốn xa xôi.
Là một loại nhạc cụ đặc sắc trong kho tàng nhạc khí Tây Nguyên, âm thanh độc đáo của T''''rưng không chỉ lôi cuốn làm say đắm tâm hồn các dân tộc anh em trên đất Việt, mà còn ra khỏi biên giới ngân vang đến tận những vùng đất xa xôi và được các bạn bè khắp năm châu, bốn bể nhiệt tình đón nhận.
Trải qua quá trình sàng lọc với bao biến thiên của lịch sử, đàn T''''rưng đã và sẽ tồn tại mãi mãi cùng với các dân tộc Tây Nguyên và cộng đồng dân tộc Việt.
7. Đàn Tam thập lục
Là nhạc khí dây, chi gõ của dân tộc Việt. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục.
Đàn Tam thập lục hình thang cân, mặt đàn hơi phồng lên ở giữa, làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Cầu đàn, thành đàn làm bằng gỗ cứng, trên mặt đàn đặt so le hai hàng ngựa, mỗi hàng 18 ngựa. Cần đàn bên trái có 36 móc để mắc dây, bên phải có 36 trục để lên dây. Dây đàn làm bằng kim khí. Que đàn được làm bằng hai thanh tre mỏng, dẻo, ở đầu được quấn dạ để tiếng đàn được êm. Âm thanh đàn Tam thập lục trong sáng, thánh thót, rộn rã.
Âm vực đàn Tam thập lục tương đối rộng. Từ âm trầm nhất đến âm cao nhất trên hai quãng 8, được mắc theo gam nguyên.
Khoảng âm dưới: Tiếng đàn ấm áp, khá vang.
Khoảng âm giữa: Tiếng đàn đầy đặn, trong.
Khoảng âm cao nhất: Tiếng đàn sắc, gọn.
Khi biểu diễn nhạc công dùng 2 que gõ vào mặt đàn tạo ra các ngón như: Ngón rung, ngón vê, ngón bịt, ngón á, đánh cồng âm, hợp âm...
Đàn Tam thập lục giữ vai trò quan trọng trong các dàn nhạc sân khấu chèo, cải lương. Đàn đệm cho hát, độc tấu, tham gia dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
7. Đàn Sến
Là nhạc khí dây gẩy của dân tộc Việt. Được dùng phổ biến ở Miền Nam. Hộp đàn hình hoa đào sáu cánh hoặc hình lục giác, đường kính 28 cm. Mặt đàn và đáy đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Thành đàn dày 6 cm, làm bằng gỗ cứng. Cần đàn dài 70 cm, trên mặt đàn có 17 phím bấm. Phím đàn được gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều. Đàn có 3 trục gỗ nhưng chỉ dùng 2 trục để lên dây còn 1 để trang trí. Hai dây đàn bằng tơ se, được lên cách nhau một quãng 4 hoặc quãng 5: Fa - Do1 hoặc Sol - Do1. Khi diễn tấu nhạc công gẩy đàn bằng miếng gẩy nhựa tạo ra âm sắc trong trẻo, tươi sáng.
Đàn sến thường dùng trong các dàn nhạc sân khấu tuồng, cải lương.
8. Klông pút
Một trong số không nhiều nhạc khí dành cho nữ giới. Tên gọi tiếng Xê-đăng này đã trở nên phổ thông để chỉ loại nhạc khí hơi của một số tộc trên Tây Nguyên như Xê - đăng, Bâhnar, Gia - rai, Hrê...
Klông pút là một dàn gồm 2 - 3 cho tới 5 - 12 ống nứa, lồ ô hoặc tre cỡ tương đối lớn. Đường kính các ống khoảng 5 - 8 cm, chiều dài 60 - 120 cm, có khi 20 - 200 cm. Có loại klông pút kín một đầu và có loại rỗng hai đầu. Khi diễn tấu các ống được đặt nằm ngang vừa tầm tay người vỗ trong tư thế đứng lom khom hoặc quỳ. Dùng hai bàn tay khum vỗ vào nhau trước miệng ống, các cô gái tạo nên luồng hơi lùa vào ống làm vang lên âm thanh.
Klon-Pút là nhạc cụ chỉ dành cho nữ giới. Tại sao vậy? lý do này có liên quan đến truyền thuyết mẹ lúa. Theo truyền thuyết thì mỗi một ống tre, hay nứa đều có linh hồn mẹ lúa trú ngụ. Nếu như đánh Klon-Pút vào mùa tra hạt thì mẹ lúa sẽ về ở đó và bảo trợ cho thóc gạo trong kho. Vì vậy nếu như nam giới mà vỗ đàn Klon-Pút thì mẹ lúa sẽ sợ hãi mà đi mất.
Tương tự như đàn Klon-Pút, người Xê đăng có Đinh - Pút, người Bahnar có Đing - Pol, nhưng Klon -Pút của dân tộc Xê - Đăng khác biệt hẳn với Klon -Pút của các dân tộc khác là đàn có thể giành cho nhiều người chơi cùng một lúc. Họ chơi theo kiểu bè tòng hoặc một bè nền kéo dài trong khi bè giai điệu chạy ở phía trên hoặc ngược lại.
Vào những đêm trăng sáng những ngày lễ hội, từ bàn tay tài hoa của những cô gái Xê - Đăng, tiếng Klon-Pút vang lên làm rộn vui buôn rẫy.
Ngày nay klông pút đã được đưa lên sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp để diễn tấu nhiều loại bài bản khác nhau.
9. Sáo trúc
Sáo trúc là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi hơi vòm của dân tộc Việt. Đặc biệt rất được phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.
Sáo được làm bằng một đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 - 55 cm, đường kính 1,5 - 2 cm. Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi. Trong lòng ngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điều chỉnh độ cao thấp khi cần thết. Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm, lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12 cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau (1 cm). Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1, Do2. Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗ định âm.
Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt lên lỗ thổi. Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót hơi yếu đường hơi đi từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi nhanh và mạnh). Sáo thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc.
Khoảng cuối thập kỷ 70 nghệ sĩ Đinh Thìn và Ngô Nam đã cải tiến cây sáo 6 lỗ thành sáo 10 lỗ để mở rộng âm vực, cho các nghệ sỹ chơi những tác phẩm tương đối dễ dàng hơn như "Tiếng gọi mùa xuân" của Đinh Thìn, "Tình quê" của Hoàng Đạm, "Tiếng sáo bản Mèo" của Ngọc Phan v,v...
9. Cooangtác- Ðàn Nước của dân tộc Xêđăng
Từ xa xưa, cooangtác đã sống với người Xêđăng. Người ta đặt nó cạnh các con suối dọc theo nương rẫy. Ban đầu, có thể nó chỉ là chùm những ống nứa, ống tre dựa sức chảy của dòng nước, đập vào nhau để đuổi chim muông, thú vật cắn phá hoa màu. Dần dần về sau, do nhu cầu về thưởng thức âm nhạc, người ta sáng tạo và gắn thêm chức năng của nhạc khí cho cái dụng cụ phục vụ sản xuất ấy.
Tại vùng đất Xêđăng, dàn đàn được làm bằng gỗ cây rồng. Vật liệu chế tác đàn là tre, nứa, lẹ, mây và các loại thân dây leo. Kích thích của đàn không cố định, tùy thuộc vào làn điệu dân tộc do nhạc phẩm của nghệ nhân mà nới dài hoặc thu ngắn (thêm âm thì phải thêm ống đàn). Một đàn hoàn chỉnh thể hiện nhiều làn điệu có thể đến 120 ống, dài 60 mét. Đàn phát âm nhờ những thanh gỗ hoặc thanh tre đặc ruột gõ vào những ống nứa với kích thước khác nhau được khoét gọt có độ cao thấp.
Lực để "đánh đàn" là từ một khung dao động; khung này gồm một sợi dây dài, đầu dây này được mắc vào một hòn đá lớn, đầu dây kia mắc vào một máng nước. Khi máng nước không có nước, nó nằm ngay vị trí mà thác nước đổ xuống (nhờ sức kéo của hòn đá). Lúc máng đầy nước, nó kéo chùng xuống làm dây chuyển động và vị trí của máng nước cũng chuyển dời khỏi thác nước. Theo thiết kế, máng nước sẽ bị nghiên, làm nước chảy hết ra ngoài. Máng nước đã hết nước, trọng lượng hòn đá ở đầu dây đằng kia lại kéo dây chùng xuống và làm sợi dây chuyển động kéo máng nước trở về vị trí cũ (ngay dòng thác). Chu kỳ dao động tiếp diễn mãi, nếu dòng thác không ngừng chảy.
Điều quan trọng là phải sắp đặt sao cho vị trí của máng nước và trọng lượng hòn đá thật hợp lý để dao động tiếp diễn tiếp tục. Dọc theo hai bên sợi dây đó, được cặp song song hai thanh tre dài để nó cùng chuyển động. Và, trên mỗi thành tre đó được treo nhiều thanh tre đặc ruột hoặc thanh gỗ đặt nằm ngang. Thanh này được treo bằng hai sợi dây, một sợi mắc vào màn tre cố định, một dây mắc vào thanh tre dài cùng dao động theo sợi dây dài. Xen vào đó là một dàn tre cố định có treo nhiều ống nứa đã được khoét gọt có độ cao thấp, theo phương thẳng đứng. Dây dao động làm cho thanh nằm ngang gõ vào những ống đàn, tạo hàng âm thanh.
Mỗi ống nứa là một âm, cả dàn đàn với nhiều cung bậc, sắp xếp phối hòa âm hợp lý, thuận tiện, cho phép nghệ nhân sáng tác và điều khiển đàn đạt đến sức thể hiện phong phú, nhiều mầu nhiều vẻ, chọn lọc, cắt gọt từng ống nứa, gõ chúng, lắng nghe âm phát ra, chỉnh âm dần dần, sắp xếp chúng vào dàn đàn - người thiết kế và làm cooangtác trút vào đấy niềm say mê, tâm hồn của nghệ sĩ núi rừng.
Hiện nay, cooangtác có mặt trong gian phòng giới thiệu văn hóa các dân tộc của Nhà bảo tàng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Nghệ nhân Piu, thuộc nhánh K''dong, dân tộc Xêđăng (huyện Trà My) thiết kế và làm cây đàn này. Dàn để mắc đàn làm bằng gỗ được chứ không phải với cây rừng sần sùi, thô nháp. cooangtác này dài 10,40 mét với 52 ống đàn.
Theo yêu cầu sáng tạo làn điệu, cách tạo âm, sự sắp xếp ống đàn thật tài hoa, khéo léo: - 2 ống treo dọc có que gõ ngang và tự đập vào nhau (hòa âm kéo dài), 2 ống buộc dằng vào nhau (hòa âm ngang, dọc, ngắn gọn) ống tự do đong đưa, không bị buộc dằng vào que gõ (âm vang rộng, dài), ống có quen đập rồi, dừng lại chỗ không đong đưa (hãm tiếng, giảm âm), ống có thanh gỗ giữ trên ngọn hoặc dưới gốc (âm nhắc, vang vừa phải). Để cho khung dao động, thay thế cho dòng nước, dòng thác từ con suối, người ta dùng máy bơm đưa dòng nước vào máng, để "đánh đàn".
Với một dòng nước nhỏ chảy đều đặn vào máng, âm thanh congtác điểm nhặt khoan thai, dài trải, như một bản nhạc với nhiều bè khi thì đối đáp nhau, khi thì đuổi theo nhau, khi là giai điệu và chồng âm nhiều dạng. Khi dòng nước đổ nhanh và mạnh hơn, dây được kéo nhanh hơn, âm thanh trở nên đồn dập, với những tiết tấu khẩn trương, cường độ hơn, cùng với những chồng âm, hợp âm màu sắc mới lạ.
Trên quê hương của người Xêđăng, buổi sáng, dòng âm thanh cooangtác thúc giục người ra rẫy, lên nương. Những khoảng khắc nghỉ ngơi, giai điệu của cooangtác mang đến niềm vui, cái đẹp. Chiều đến, người về buôn, sum họp dưới mái nhà thân thương, tâm hồn mềm mại, thiết tha với cuộc sống... trong bản hòa tấu trữ tình đằm thắm, thanh thản của âm thanh cooangtác. Người Sài Gòn, người Đà Nẵng, nghe tiếng cooangtác giữa thành phố khó có thể cảm nhận cái đẹp của thứ âm nhạc rừng núi thiên nhiên này.
10. Đàn đá: "Báu vật" không chỉ của Việt Nam
Theo Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Lộc thì hiện nay: “Ngoài Việt Nam ra, thế giới chưa có đàn đá đúng nghĩa”. Ở Trung Quốc, Triều Tiên và một vài bộ tộc châu Phi cũng đã xuất hiện những thanh đá phát ra âm thanh, nhưng đó chỉ là những chiếc “khánh” đá có âm vực đơn giản không đủ khả năng diễn tấu như các bộ đàn đá tìm thấy ở Việt Nam. Nếu như thế thì đàn đá là báu vật không chỉ của Việt Nam mà còn của cả thế giới!
Ở Việt Nam, lần đầu tiên một bộ đàn đá hoàn chỉnh được tìm thấy ở Khánh Sơn (Cam Ranh, Khánh Hòa) vào năm 1979. Sau đó lần lượt tìm thấy những bộ đàn đá khác nhau ở Bình Đa, Bác Ái... Gần đây nhất là đàn đá Tuy An (Phú Yên - 1992). Như vậy, Việt Nam đã tìm thấy trên dưới 10 bộ đàn đá, tập trung ở khu vực Nam Trung bộ. Các bộ đàn đá này đều giàu nhạc tính, có thể diễn tấu được những bản nhạc theo thang âm ngũ cung nhưng hầu hết đều mang âm hưởng nhạc dân gian Tây Nguyên, chỉ duy có bộ đàn đá Tuy An là mang âm hưởng đồng bằng (dân tộc Kinh) rất gần với điệu thức Oán của Nam bộ...
Thế nhưng, để công nhận một bộ đàn đá đúng là ... “đàn” (chứ không phải là “khánh”) phải có người biểu diễn, phải có tác phẩm dành riêng cho đàn đá và phải có Hội đồng nghiệm thu.
Khi tìm thấy bộ đàn đá ở Khánh Sơn (1979), cố GS Viện sĩ Lưu Hữu Phước - lúc đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam đã giao cho nhạc sĩ Đỗ Lộc nghiên cứu và ứng dụng sao cho hiệu quả. Khi nhạc sĩ Đỗ Lộc biểu diễn tác phẩm Gọi nhau lên nguồn của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ trên cây đàn đá trong lễ công bố Đàn đá Khánh Sơn thì bản nhạc này trở thành tác phẩm đầu tiên trên thế giới viết riêng cho đàn đá bằng phương pháp ký âm.
Vì là “báu vật” nên tìm được bộ đàn đá nào, sau khi thử nghiệm, công bố là... cất kỹ ở các nhà bảo tàng nên “dân trong nghề” ai cũng thèm muốn. Giới nghiên cứu âm nhạc thì muốn có để mày mò, tìm hiểu, các nhóm biểu diễn âm nhạc dân tộc thì muốn bổ sung thêm cho dàn nhạc của mình một nhạc cụ độc đáo chưa từng có trên thế giới. Không sở hữu được thì... photocopy! Người đầu tiên chế tác đàn đá là nhạc sĩ Thế Viên (Trung tâm Văn hóa TP.HCM). Ông đã cất công lặn lội tìm kiếm những “thanh đá kêu” ở Khánh Sơn, Tuy An... để “nhái” đúng âm thanh của bộ đàn đá mỗi vùng. Tính đến nay, nhạc sĩ Thế Viên đã “xuất xưởng” được 12 bộ đàn đá (8 Khánh Sơn, 4 Tuy An) cung cấp cho hầu hết các nhóm biểu diễn âm nhạc dân tộc trong cả nước.
Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Lộc cũng đã chế tác một bộ đàn đá rất hiện đại, ông dùng cưa máy xẻ những “thanh đá kêu” để có một dàn gồm những thanh đá mỏng bằng phẳng, trơn tru (không sần sùi, góc cạnh như những bộ đàn đá nguyên thủy). Bộ đàn đá này có âm vực rộng đến 3 octave, có thể diễn tấu bất cứ bản nhạc nào dù là nhạc dân tộc hay nhạc Tây phương. Nghệ sĩ Đỗ Lộc đã diễn báo cáo với Hội đồng nghiệm thu của Viện Nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam tại TP.HCM và được GS nhạc sĩ Tô Vũ, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ đánh giá cao. Trong vòng 3 năm (1994 - 1996), Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Lộc đã “mang đá đi đánh xứ người” qua 4 nước: Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Nhật Bản và dĩ nhiên đã gây được những “chấn động” tại các nước này. Việc “sản xuất” đàn đá rất khó khăn (có khi suốt cả đời người không tìm đủ “nguyên liệu”) nên các bộ đàn đá hiện đang lưu hành rất ít và hoàn toàn là “hàng nhái” nhưng chất lượng hơn nguyên mẫu bởi trình độ thẩm âm của các nhạc sĩ bây giờ hơn hẳn các nghệ sĩ - nông dân ngày xưa.
Tác phẩm viết cho đàn đá cũng là “của hiếm”. Nghệ sĩ ưu tú Mạnh Hùng (Trưởng đoàn nghệ thuật Âu Cơ) chỉ sáng tác được một bản Âm vang đất nước để truyền cho con trai là Hoàng Anh chơi. Ở nhóm nhạc Phù Đổng, hai anh em ruột Đức Dậu và Ánh Tuyết chỉ có một bài “tủ” Nhịp điệu nước non do nhạc sĩ Vũ Lân sáng tác. Nhóm Phù Đổng 2, các cháu Triệu Vũ, Thành Nam, Đức Chung, Phan Lâm cũng chỉ có một bản Dân ca cổ Tây Nguyên (Vũ Lân cải biên) để biểu diễn. Nhạc sĩ Thế Viên làm được 12 bộ đàn đá nhưng chỉ viết cho đàn đá có 2 bản: Âm vang đàn đá và Tây Nguyên mùa xuân. Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Lộc có khá hơn nhưng cũng chỉ được vài bản: Âm vang mùa thu, Chào mặt trời mọc, Suối đàn quê hương, Lửa cháy lên rồi...
Đàn đá là khí thiêng sông núi ngàn năm hun đúc, tích tụ. Lời của đá là hồn sông núi. Ai đã một lần nghe tiếng đàn đá lúc thánh thót, khi trầm đục hẳn sẽ thấy lòng mình bay bổng dạt dào xúc cảm thấm đẫm tình non nước.