Đại từ nhân xưng trong dịch thuật Anh-Việt P5

Cách chuyển dịch đại từ nhân xưng trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt

dịch thuậtCú pháp tiếng Anh đòi hỏi một câu, một mệnh đề phải có một chủ ngữ dù rằng đó là chủ ngữ ngữ pháp mà không có ý nghĩa từ vựng nào cả, do vậy số lượng đại từ sử dụng trong tiếng Anh nhiều hơn trong tiếng Việt. Trong khi đó hiện tượng tỉnh lược chủ ngữ trong tiếng Việt lại khá phổ biến. Vì thế khi chuyển dịch sang tiếng Việt, chủ ngữ ngữ pháp  trong tiếng Anh thường được lược bỏ.

Trong hệ thống đại từ tiếng Anh, tuy đại từ có số lượng ít nhưng nó mang đầy đủ ý nghĩa các phạm trù: ngôi, giống, số. Còn số lượng đại từ nhân xưng tiếng Việt nhiều hơn, ngoài đại từ nhân xưng thực thụ còn có những danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ. Bản thân các từ này cho ta thông tin về người tham gia đối thoại như tuổi tác, giới tính,địa vị xã hội…. Qua đó cũng thể hiện thái độ người nói đối với người đang được chỉ xuất hay quy chiếu. Chúng được dùng linh hoạt ở vai người nói, người nghe và thậm chí người được nói đến nên có thể đồng thời kiêm nhiệm nhiều ngôi mà không có sự phân biệt về hình thái. Vì vậy để xác định ý nghĩa của các từ này người ta phải dựa vào nghĩa của cả câu hay cả đoạn văn.

Theo tác giả Lê Biên (1998) thì đại từ nhân xưng tiếng Việt có thể chia làm hai lớp có phạm vi sử dụng khác nhau, đó là những từ dùng trong gia tộc và những từ dùng trong xã hội. Những từ dùng trong quan hệ gia đình (các từ dùng chỉ quan hệ thân tộc) được phân biệt theo nét nghĩa giới tính, tôn ti, quan hệ đối lập nội – ngoai…. Các từ này theo một tôn ti chặt chẽ, tương đối ổn định. Ví dụ: Ông/ bà – cháu/ con, cha/ mẹ – con, anh/ chị – em…. Còn những từ dùng cho các mối quan hệ xã hội (đại từ xưng hô gốc và các danh từ lâm thời làm đại từ xưng hô) được sử dụng theo nguyên tắc “xưng khiêm, hô tôn”. Người nói thường ý thức khiêm nhường trước người đối thoại với mình và đề cao người được gọi. Tồn tại dưới hình thức tương ứng chính xác như: ông/ bác/ cô – cháu, anh – em… và không tương ứng chính xác như: ông/ bác/ cô – con/ em, ông/ bác/ cô/ anh/ em – tôi….

Bản tiếng Anh có đại từ nhân xưng nhưng bản tiếng Việt không có

- Trong tiếng Việt, khi có một đại từ đi trước thì có thể bỏ bớt đại từ phía sau điều này gây chút khó khăn khi Dịch thuật

Ví dụ: Rob said nothing, but he looked very worried.

(Rob không nói gì nhưng có vẻ lo lắng)

- Trong tiếng Việt, có nhiều trường hợp câu vắng mặt chủ ngữ. Các câu thường được chấp nhận và được gọi là “câu đặc biệt” (ngữ trực thuộc – Trần Ngọc Thêm). Trong tiếng Anh cũng có ngữ trực thuộc nhưng do chú trọng tính ngữ pháp của câu, đòi hỏi câu phải có chủ ngữ. Nhiều trường hợp tiếng Anh có chủ ngữ lặp lại, câu tiếng Việt có thể bỏ bớt mà không thay đổi nghĩa.

- Việc vắng mặt đại từ trong bản dịch so với nguyên bản do ý nghĩa động từ trong câu dịch.

Một số có cách dùng ngoại chỉ (exophoric use), không có cách dịch tương ứng trong tiếng Việt. Ví dụ: It was as if he had it from heaven (Cứ như cậu ấy biết được điều đó từ trên trời)

Khi “ it” được dùng để thay toàn bộ ý hoặc câu đi trước thì cách thông thường nhất là bỏ qua không dịch hoặc thay bằng danh ngữ. Ví dụ: I know it, son, I know it (Mình biết, mình biết mà).

Đại từ nhân xưng được thay thế bằng các danh ngữ

- Trong bản tiếng Việt (nguyên bản và bản dịch thuật) có hiện tượng thay thế đại từ nhân xưng bằng các danh ngữ đã xuất hiện trong đoạn trước hoặc có khi được nhắc tới ở đoạn sau.

Ví dụ: As his mother read it ( the letter), her face hardened (Khi đọc lá thư đó, mặt bà đanh lại)

- Đại từ “ it” có thể được dùng để thay thế toàn bộ ý đã nhắc hay một câu đi trước. Trong tiếng Việt, đại từ nhân xưng “ nó” không có chức năng thay thế này mà dùng một danh ngữ gồm một danh từ khái quát đại từ này, nọ, thế, ấy….

Ví dụ: She managed it very easily (Cô ấy xoay sở chuyện đó rất dễ dàng)

Nhiều cách chuyển dịch cho cùng một đại từ nhân xưng

Tương ứng với một đại từ nhân xưng tiếng Anh, tiếng Việt dùng nhiều từ khác nhau.  Việc quyết định chọn đại từ nào tùy thuộc vào yếu tố ngữ nghĩa và ngữ dụng như thái độ trọng – khinh, quan hệ thân – sơ, tuổi tác, hoàn cảnh cụ thể. Đây là điểm khác biệt nổi bật giữa hai hệ thống từ xưng gọi của hai ngôn ngữ, dù trong tiếng Anh người ta vẫn sử dụng một số danh từ thân tộc để hô gọi, nhưng tần số xuất hiện rất thấp và không phổ biến so với tiếng Việt.

- Nguyên nhân: Đại từ nhân xưng có tính linh hoạt cao, một người có thể xưng gọi mình bằng nhiều cách khác nhau tùy theo quan hệ với người tham gia đối thoại, vì vậy có nhiều lựa chọn khi dịch một đại từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Ví dụ: Họ có thấy mình như mình thấy mình đâu ( They can’t see us as we see ourselves).

Ta xét từng cặp tương ứng trong tiếng Anh:

v I và YOU (số đơn và số phức)

- Trong tiếng Anh: I và You ở cương vị người nói và người nghe.

- Trong tiếng Việt: Nhiều đại từ xưng hô khác nhau: tôi, tớ, tao, ta, mình, bên ấy, đằng ấy… và các danh từ thân tộc đảm nhận chức năng đại từ: chú, bác, lão, cô, em…

Đại từ I chuyển dịch cụ thể: “Tôi”: nguồn gốc từ danh từ có nghĩa “tôi tớ” nhưng từ này đã mất đi nghĩa gốc và hiện nay được người nói dùng để tự xưng. “Tôi” trung hòa về sắc thái biểu cảm.

“Tao”, “tớ”: người nói tự xưng, biểu hiện thái độ thân mật, có ở dạng số nhiều: chúng tao, chúng tớ.

Tôi có sự khác biệt với tao, tớ ở một số điểm: “Tao” tương ứng với “mày” (you số đơn), “tớ” tương ứng với “cậu”, “tôi” tương ứng với hàng loạt các danh từ, gần như hầu hết các danh từ chỉ quan hệ thân tộc họ hàng, những từ chỉ quan hệ đẳng cấp hoặc những từ chỉ nghề nghiệp thuộc loại tương tự.

Đại từ You chuyển dịch cụ thể: “Mày”: người nói gọi người nghe với sắc thái thân mật hoặc khinh miệt.

“Bay” , “chúng bay”: ngôi 2, sắc thái như “chúng mày”, thể hiện thái độ khinh miệt rõ hơn.

Đại từ “mình”: dùng để quy chiếu người nói (ngôi 1) số đơn và số phức và cho cả người nghe (ngôi 2) với thái độ thân mật. “Mình” còn là đại từ phản thân dùng cho cả ba ngôi.

Đại từ “ta”: dùng để thể hiện mình đồng thời dùng để chỉ cả người nói và người nghe cũng được dùng ở dạng số phức như dạng tương ứng với đại từ “chúng ta”. Đại từ “ta’ tương ứng với “You”

Số phức trong tiếng Việt thường thêm lượng từ số phức “các” trước danh từ hoặc bằng các đại từ: chúng mày, tụi bay. Trong từ xưng hô giao tiếp tiếng Việt, ngôi 1 và ngôi 2 còn được thay thế bằng tên riêng.

Ví dụ: - But I bet you I’ll lam Sid for that. I’ll learn him. (Nhưng ta thề là ta sẽ dần cho thằng Sid một trận về việc này. Ta sẽ cho nó một bài học)

- Tom, don’t lie to me. I can’t bear it. ( Tom đừng dối dì. Dì không chịu được nói dối)

- Now, I know you’ll tell me, said the lady (Tôi biết bây giờ cháu sẽ nói với tôi, vị phu nhân bảo vậy)

ASEN – Dịch thuật chuyên nghiệp

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận