Đèo Ngang thắng cảnh nổi tiếng của miền Trung

Hoàng Kim
(Sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn)

Đèo Ngang là tên một con đèo nằm ở ranh giới của hai tỉnh Quảng BìnhHà Tĩnh. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng của miền Trung Việt Nam. Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, trên dãy Hoành Sơn đoạn dãy Trường Sơn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 2.560 m, đỉnh cao khoảng 250 m, phần đất phía Quảng Bình thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, phần đất phía Hà Tĩnh thuộc xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh. Đèo Ngang cách thị trấn Ba Đồn 24 km, thị xã Đồng Hới 80 km về phía Nam, cách thị xã Hà Tĩnh 75 km về phía Bắc. Đây là ranh giới cũ giữa Đại Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập (939) và trước thời kỳ Nam Tiến của người Việt (1069).

Trên đỉnh đèo Ngang hiện còn “Cổng Trời” di tích của cửa ải
Hoành Sơn Quan bằng gạch đá được xây vào năm 1833 thời vua Minh Mạng để kiểm soát việc qua đèo. Đứng trên đỉnh Ngoạn Mục để ngắm biển thì tuyệt đẹp. Núi non kỳ vĩ, biển trời mênh mông. Gần đèo Ngang về phía Quảng Bình có đền thờ bà Liễu Hạnh di tích kiến trúc - nghệ thuật - tôn giáo, các bãi tắm Hòn La, Quảng Đông, Cảnh Dương với rừng dương xanh mướt, cát vàng óng ánh và các đảo ở ngoài khơi như Hòn La, Hòn Vụng Chùa, Hòn Cỏ, Hòn Gió, đảo Yến tạo thành những thắng cảnh tuyệt đẹp. Gần đèo Ngang về phía Hà Tĩnh có bãi tắm đèo Con sạch đẹp, thoải và kín gió, đền thờ bà Bích Châu hay còn gọi là đền thờ bà Hải gần núi Cao Vọng, núi Ô Tôn, núi Bàn Độ, vũng Áng, cụm danh thắng du lịch bắc đèo Ngang.

Ngày nay, khách qua đèo Ngang thường đi bằng đường hầm xuyên núi. Công trình này có chiều dài 2.849m gồm cả phần hầm và đoạn tuyến hai đầu do Tổng Công ty Sông Đà đầu tư, thi công và khánh thành thông xe ngày 21/8/2004.

Nguồn: Báo Thanh Niên 2004. Khánh thành hầm đường bộ qua đèo Ngang. http://www1.thanhnien.com.vn/; Báo Quảng Bình 2005. Một ngày trên đỉnh đèo Ngang. http://www.baobinhdinh.com.vn ; Tổng cục Du lịch 1999. Non nước Việt Nam. Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin Hà Nội, trang 405 – 421. Trần Thảo. 2005. Hoành Sơn kì vĩ – Hà Tĩnh. http://www.mangdulich.com; Từ điển Bách khoa mở Wikipedia (Tiếng Việt).




Bình luận

 Bình luận
5 Bình luận
bác Hoàng Kim có biết chân đèo ngang phía Hà Tĩnh có con sông tên gì không. Và ở đấy đã từng có cái chợ nào không.
9 Năm trước
Tôi hỏi vậy là để hiểu thêm về câu thơ "lác đác bên sông chợ mấy nhà "của Bà huyện Thanh Quan. Có người bảo không phải "chợ" mà là "rợ" . Theo bác thì chữ nào đúng.
9 Năm trước
Bạn Bulukhin quý mến!

Chữ "rợ" là đúng hơn chữ "chợ". Bạn có thể tham khảo tài liệu rất thyết phục trên "Thi Viện" của bạn Đào Trung Kiên:

1. CHỢ hay RỢ
Ở thời điểm sáng tác bài Qua đèo Ngang, từ CHỢ có thể dùng âm xuất phát TRỢ trong Hán Việt vì lúc này sự đối lập TR > < CH đã bị xoá nhãn, cùng với sự đối lập GI > < D > < R..., vì vậy chữ RỢ cũng có thể ghi bằng TRỢ.

Theo sự thống kê cách ghi âm đầu [R] trong tự điển chữ Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (sắp xuất bản), chúng tôi thấy:
Có:
329 trường hợp ghi bằng L
63 trường hợp ghi bằng TR, CH
60 trường hợp ghi bằng Đ
131 trường hợp ghi bằng GI, D
36 trường hợp ghi bằng T (1)

Theo Tự điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính (Nxb Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học), cách ghi âm đầu [R] chữ Nôm phân bố như sau:
Có:
539 trường hợp ghi bằng L
84 trường hợp ghi bằng TR, CH
110 trường hợp ghi bằng GI, D
27 trường hợp ghi bằng TH ...

Như vậy là trường hợp dùng TR, CH ghi R chiếm tần suất khá lớn. Ông Nguyễn Hùng Vĩ (Văn hoá Hà Tĩnh số 71, 6/2004) cho ta biết rằng có 12 tư liệu ghi bài thơ Qua đèo Ngang, trong đó có 5 bản chữ Nôm và 7 bản chữ Quốc ngữ. Các bản chữ Quốc ngữ không cho ta được thông tin gì. Trong 5 bản chữ Nôm có bản AB.620 chữ RỢ được ghi (theo ông là rất lưu loát) bằng bộ nhân đứng (亻) bên cạnh chữ TRỢ (助). Đây là điểm rất có giá trị với sự thống kê trên, nó cho ta thấy 톭 chắc chắn phải đọc là RỢ. Nếu là chữ CHỢ thì ở thời Bà huyện Thanh Quan đã có chữ 닭 (âm TRỢ đã được bỏ tính chất quặt lưỡi, đọc là CHỢ, và chữ thị (市) nghĩa là “cái chợ” biểu nghĩa). Nếu không có cứ liệu Nôm nào bác lại thì chắc chắn đọc là RỢ đúng hơn.

2. Chữ RỢ có ý khinh miệt không?
Ý khinh miệt là ngày nay chúng ta thêm vào, chữ thực tình RỢ chỉ là cách gọi xưa đối với các dân tộc ngoài Hoa Hạ của người Hán. Tiếng Hán có 東 戎, 西 夷, 南 蠻, 北狄 “đông Nhung, tây Di, nam Man, bắc Địch” (phía đông có người Nhung, phía tây có người Di, phía nam có người Man, phía bắc có người Địch). Chữ DI có âm Hán cổ là RỢ. Ta biết lúc đầu ở âm Hán Thượng cổ có âm đầu R, sau này phần lớn thành L và một số thành D, ví dụ:
Chữ Hán Thượng cổ / Hán Trung cổ
龍 Rồng → Long
簾 Rèm → Liêm
樑 Rường (cột) → Lương (đống)
歟 Ru → Dư
夷 RỢ → DI ...

Người ta sẽ hỏi tại sao nguyên âm [Ơ] trong RỢ lại chuyển thành nguyên âm [I] trong DI được? Theo Bernhard Karlgren trong Gramata serika (Bulletin N.12, Stockholm, 1940), trong tiếng Hán Thượng cổ có các âm [Ơ], [IƠ], [IƠI], sang Hán Trung cổ sẽ chuyển thành [I]. Có thể thấy dấu vết trong cách đọc tiếng Hán ở Việt Nam như sau:

Chữ Tiền Hán Việt Hán Việt / Chữ Tiền Hán Việt Hán Việt
旗 Cờ → Kì
碑 Bia → Bi
疑 Ngờ → Nghi
匙 Thìa → Thì
絲 Tơ → Ti
離 Lìa → Li
詩 Thơ → Thi
眉 Mày → Mi
夷 RỢ → DI
屍 Thây → Thi

Để cho rõ thêm ta cũng có thể chứng minh rằng từ MỌI lúc đầu vốn không có ý gì là khinh miệt cả. Nó bắt nguồn từ MAN như đã nói trên, MAN là dùng để phiên âm từ MON (trong nhóm MON - KHMER), vì trong tiếng Hán cổ không có âm [A] bẹt mà chỉ có âm [A] tròn môi [A], cho nên chữ MAN thời cổ được đọc là MAN, trỏ dân tộc Mon.
Có thể dẫn chứng thêm như từ PNAR Nam Á (cái ná) người Hán lúc này mới có âm [A] tròn môi nên mượn đọc thành NỖ, quay lại ta lại đọc thành NỎ. Còn MON sang MỌI là do âm cuối [-L] cổ có xu hướng chuyển thành [-N] và cuối cùng thành [-I]. Ví dụ:

Chăl (Mường) → Chạy (Việt)
Yơl ‘’ → Dậy ‘’
Pul ‘’ → Búi ‘’
Tơkel (Tha Vừng) → Gáy ‘’
Chốc cún (Phương ngữ Thanh Hoá) → Đầu gối ‘’
Tàu băn ‘’ → Tàu bay ‘’
Thún ‘’ → Thối ‘’
Cưởn ‘’ → Gửi ‘’

Tóm lại là MỌI hay RỢ chỉ là một cách đọc trong tiếng Việt, mà bản thân cách đọc thì không có tội tình gì mà ta phải phê phán nó. Và nếu Bà huyện Thanh Quan có dùng từ RỢ thì cũng chỉ để trỏ những người sống xa kinh đô, xa “Hoa Hạ” của Việt Nam mà thôi.

3. Về chữ NƯỚC
Đa số các nhà tranh luận đều hiểu NƯỚC là đất nước, là tổ quốc. Thực ra không phải thế. NƯỚC chỉ để trỏ một vùng đất. Trong bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (thế kỉ XV - XVI) ta gặp những câu sau: dõi người dỗ thốt trốn đi NƯỚC khác (tr. 19a) xương bạc tan tác trông quê NƯỚC người (tr.19a) xa nhà đi NƯỚC khác, hoặc là nhân buôn bán, hoặc là vì đi chác, lăn lóc luân hồi
(tr. 19b) hoặc ở lâu trong NƯỚC người chẳng hay ghín bó (tr. 19b)
hoặc đi cùng chồng trong NƯỚC xa quê khác, lìa rời áng nạ (tr. 22a)

Qua các dẫn chứng trên ta thấy NƯỚC là chỉ một vùng đất, chưa có nghĩa là đất nước như ngày nay. Đến thời Nguyễn Khuyến, NƯỚC vẫn còn mang nghĩa ấy. Hãy nghe câu thơ của ông:
“Một tiếng trên không ngỗng nước nào” (Thu vịnh).

Chữ QUỐC trong bài thơ như đã biết được viết là 蟈 hay 돐, là tên chim đỗ quyên hay chim cuốc. Ghi là QUỐC hay CUỐC là do người phiên, trong chữ Nôm thì ghi như nhau. Đây là cách chơi chữ của tác giả. GIA GIA là đa đa, giống gà nhỏ sống ở ven rừng (theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Giáo dục, H, 1992). Đa đa có thể biến âm thành DA DA, giống như các trường hợp sau:

Đình → Dừng
Đao → Dao
Đốc (tâm) → Dốc (lòng)
Đẩy → Dẩy ...

Giữ DA DA và GIA GIA không có gì khác nhau vì lúc này đã có sự xoá nhãn giữa đối lập D > < GI. Phiên là DA DA hay GIA GIA là do người phiên âm, và cũng để phô tài chơi chữ của tác giả. Có tiếng kêu của chim cuốc hay đa đa hay không là do người viết căn cứ vào hiện thực hoặc tâm tưởng. Giữa lúc mặt trời “xế tà” thì nỗi nhớ quê hương đã trở thành ước lệ trong thơ cổ. Các nhà tranh luận có bàn về cách đối, cho rằng người phải đối với người, vật phải đối với vật. Đấy là cách nghĩ của người ngày nay. Các nhà sáng tác xưa viết văn đối ngẫu theo cái học từ chương. Thêm nữa, ngành ngữ pháp của ta cùng với việc phân định từ loại cũng chỉ mới có từ lúc người Pháp sang, trong khi ngành âm vận và huấn hỗ của Trung Hoa thì ông cha ta đã thông thạo từ lâu. Về đối bằng - trắc thì không có gì phải bàn, ông cha ta đã nắm được nó từ khi tiếng Việt xuất hiện đầy đủ thanh điệu, tức là từ thế kỉ XII theo ý kiến của các nhà nghiên cứu về ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Còn để đối ý thì người xưa chia các từ ra làm 4 loại:
- Thực : gồm danh từ và đại từ nhân xưng
- Bán thực : gồm động từ và tính từ đơn tiết
- Bán hư : gồm tính từ đa tiết, từ láy và từ lặp
- Hư : gồm hư từ
(vế bên phải là do người ngày nay xác định ra)

Nếu đem tiêu chuẩn ấy mà so thì bài Qua đèo Ngang có cách đối rất chỉnh không chê vào đâu được, và CHỢ hay RỢ đều được cả, đều đúng với phép đối, nhưng RỢ thì đúng với ý nghĩa chung của bài hơn.

Thử bàn về vấn đề phiên Nôm, GS. TS. Nguyễn Ngọc San, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội
Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm 12,13-11-2004
Thư viện Quốc gia Việt Nam – Hà Nội

(1) Thực ra, [R] là cách đọc cũ của [T]. Ta so sánh: 鬚 Râu - Tu, 婿 Rể - Tế, 卒 Rốt - Tốt...

9 Năm trước
Vô cùng cám ơn bác về sự giải thích Chợ và rợ.
"Cuộc chiến" chợ và rợ hình như chưa đến hồi kết. Bài của bác hết sức bổ ích cho những ai quam tâm về vấn đề này. Đọc các comment trong blog bác tôi biết bác là nhà giáo nên có nhiều tài liệu chứng cứ cùng kiến thức để nói lên chính kiến của mình. Tôi chỉ là anh độc giả làm nghề lục lộ nhưng có quê nội cách đèo Ngang 20 cây số về phia nam. Cứ mối lần lên đỉnh đèo ngang lại một lần nghĩ đến bà huyện Thanh Quan và lướng vướng trong đầu hai chữ CHỢ , RỢ. Tôi còn đọc nhiều lần bài của bác may ra có thể hầu chuyện bác được.
9 Năm trước
Chào bác ! Blog của bác nhiều bài viết giàu tính văn hóa thật đó. Hi vong là em có thể đọc nhiều bài hơn nữa để hiều hơn về đất nước và con người Việt Nam từ cổ chí kim. Chúc bác sẽ đào tạo thêm nhiều kỹ sư nông nghiệp hơn nữa.
8 Năm trước