Đăng nhập

Địa Đạo Củ Chi - Đền Bến Dược - Địa Đạo Vĩnh Mốc và những điều chưa biết

Địa đạo Củ Chi

Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cáchThành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dươngvà Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là "đất thép", nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công Sài Gòn.

Cư dân khu vực đã đào các hầm, địa đạo riêng lẻ để tránh các cuộc bố ráp càn quét của quân đội Pháp và để cung cấp nơi trú ẩn cho quân Việt Minh. Mỗi làng xây một địa đạo riêng, sau đó do nhu cầu đi lại giữa địa đạo các làng xã, hệ thống địa đạo đã được nối liền nhau tạo thành một hệ thống địa đạo liên hoàn, phức tạp, về sau phát triển rộng ra nhiều nơi, nhất là 6 xã phía Bắc Củ Chi và cấu trúc các đoạn hầm, địa đạo được cải tiến trở thành nơi che giấu lực lượng, khi chiến đấu có thể liên lạc, hỗ trợ nhau.

Trong thời gian 1961–1965, các xã phía Bắc Củ Chi đã hoàn thành tuyến địa đạo trục gọi là "xương sống", sau đó các đoàn thể, cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với tuyến trục hình thành những địa đạo liên hoàn giữa các ấp, các xã và các vùng. Bên trên mặt đất, quân dân Củ Chi còn đào cả một vành đai giao thông hào chằng chịt nối kết với địa đạo, lúc này địa đạo chiến đấu cũng được đào chia thành nhiều tầng, nhiều ngõ ngách. Ngoài ra, bên trên địa đạo còn có rất nhiều ụ chiến đấu, bãi mìn, hố đinh, hầm chông... được bố trí thành các cụm liên hoàn tạo ra trận địa vững chắc trong thế trận chiến tranh du kích, gọi là xã chiến đấu.

Đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào. Về quy mô, hệ thống địa đạo có tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng 3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 6 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m. Lúc này, địa đạo không chỉ còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí...

Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần.

Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt và nóng bức và điều kiện vệ sinh kém nên hầu như đa số những người sống ở địa đạo đều bịký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương. Ngoài ra, việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất của cư dân địa đạo.

Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã liên tục tấn công vào hệ thống địa đạo bằng đủ phương tiện: bom, bơm nước vào địa đạo, hơi ngạt... nhưng do hệ thống địa đạo được thiết kế có thể cô lập từng phần nên bị hư hại không nhiều. Quân đội Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp để phát hiện các cửa vào (được ngụy trang) và phát hiện các cửa thông gió (thường được đặt giữa các bụi cây). Biện pháp hữu hiệu nhất là sử dụng chó nghiệp vụ. Ban đầu có một số cửa vào và lỗ thông gió bị chó nghiệp vụ phát hiện do chó ngửi được hơi người. Tuy nhiên, sau đó, những người ở dưới địa đạo đã dùng xà phòng của Mỹ đặt ở cửa hầm và cửa thông gió nên chó nghiệp vụ không thể phát hiện ra.

Hiện nay, Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh) trực tiếp quản lý cả hai di tích địa đạo Bến Dược và địa đạo Bến Đình. Khu di tích gồm có hệ thống địa đạo (Bến Dược, Bến Đình),đền Bến Dược, khu quản trị, khu dịch vụ, khu vực tái hiện vùng giải phóng và vành đai diệt quân Mỹ, khu du lịch sinh thái - giải trí ven sông Sài Gòn.

Địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng

Di tích địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng nằm phía Bắc Củ Chi là một hệ thống gồm hầm, địa đạo, giao thông hào, ụ chiến đấu, chủ yếu tập trung ở ấp Phú Hiệp thuộc xã Phú Mỹ Hưng với diện tích gần 100 mẫu: Tây Bắc giáp sông Sài Gòn, Đông Bắc giáp ấp Phú Lợi, Tây Nam giáp ấp Lộc Thuận, Lộc Hưng (Trảng Bàng) và Đông Nam giáp ấp Phú Hòa. Chọn Phú Hiệp lập hệ thống địa đạo là bởi vùng đất cao, lòng đất lẫn đá sỏi rắn chắc, có thể chịu sức ép bom 500kg và xe cơ giới của địch. Đây là khu rừng chồi, tre và cao su lẫn lộn rất thích hợp cho địa hình du kích chiến.

Năm 1961, địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng chỉ là những đường hầm ngầm sâu trong lòng đất, kéo dài vài chục thước, đôi khi giao nhau, chồng chéo... cốt tránh địch hơn là đối phó. Năm 1962, khi cuộc chiến chống đế quốc Mỹ bước sang giai đoạn quyết liệt, đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc này là bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ thị thành lập Ban chỉ đạo xây căn cứ có tên gọi là căn cứ Phú Hiệp do đồng chí Mười Phước - chỉ huy trưởng, các đồng chí: Tư Đạt, Năm Long, Ba Lùn, Tư Hùng - ủy viên và đồng chí Tám Trương - trưởng văn phòng cùng một số chiến sĩ thuộc tiểu đoàn Vinh Quang.

Công trình lấy ngày kỷ niệm thành lập Đảng (3 tháng 2) khởi công. Theo bản thiết kế, địa đạo được xây dựng dựa theo kinh nghiệm từ trước, bằng cách cứ khoảng 16m tạo một giếng, đường kính 0,6m, sâu 3m, khi giáp mí thì lấp miệng. Từ đáy giếng dùng cuốc chim khoét sâu tạo địa đạo có chiều ngang 50cm, cao 80cm. Địa đạo gồm các ngóc ngách theo thế vừa chiến đấu, vừa tiếp nối từ hầm này đến hầm khác thành một thế liên hoàn được tính toán hết sức khoa học. Bởi vậy có những đoạn cắt ngắn, có đoạn song song, đoạn giao nhau, đoạn trên đoạn dưới, vòng vèo, quanh co, kéo dài đến trên 100 cây số.

Những nơi giao nhau hoặc sắp vào miệng hầm, địa đạo hẹp dần, có khi phải trườn hoặc chui vào miệng hầm. Những giao điểm đặc biệt của địa đạo có chốt an toàn. Chốt là một khúc gỗ, đầu nhọn dài hoặc khối mủ cao su đường kính 40cm có dây dài. Để bịt kín địa đạo chỉ cần kéo mạnh dây, nút thắt cao su, hoặc khúc gỗ sẽ bịt kín đường hẹp địa đạo. Chốt an toàn nhằm ngừa địch sử dụng hơi cay hoặc bơm nước độc xuống địa đạo.

Miệng địa đạo là một trong những cấu trúc đặc biệt, rất tinh vi thường lẫn lộn trong bụi rậm, gò mối, kích thước vừa vặn một người chui vào 30cm x 40cm. Nắp hầm là mảnh gỗ dày 10cm, mặt khỏa cỏ tươi, chụp vừa miệng hầm. Những lỗ thông hơi được tạo theo đường xiên 45o, núp trong các bụi rậm khó phát hiện. Tại các miệng xuống địa đạo, thỉnh thoảng có bẫy chông, là mảnh ván bắc ngang, dưới đặt bàn chông. Kẻ lạ bước lên, lập tức rơi xuống bẫy.

Địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng chia làm 3 khu: Khu trung tâm dành cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp. Khu bên phải gồm hầm văn phòng và hầm hội họp. Khu bên trái nơi đóng quân của tiểu đoàn Vinh Quang (đội phòng vệ). Điểm nổi bật của khu địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng là các hầm âm trong lòng đất. Những căn hầm xây dựng cho văn phòng, y tế, hậu cần, cơ yếu, văn nghệ... cả bếp Hoàng Cầm (bếp ém khói) tập trung khu vực mạn Đông con suối Thai Thai gọi là vườn quít. Mỗi hầm cách nhau 50 đến 70m, có kích thước như một hình vuông từ 3m đến 3,5m. Địa đạo nối các hầm thường vòng vèo và qua một chốt bảo vệ.

Hầm tại khu trung tâm được mô tả như là một trong những kỳ công của khu địa đạo Phú Mỹ Hưng. Tại đây có hầm làm việc của Chính ủy, Tư lệnh và Phó tư lệnh, các khu ủy và hầm họp. Mỗi hầm cách nhau khoảng 400 đến 500m, thông nhau qua địa đạo. Tất cả những hầm này đều xây dựng trong khu vực đất rắn pha đá sỏi, nằm sát mí vườn nhà của hai ông: Hai Bao và Tám Cắt. Trước tiên hầm hình thành như một hố sâu, ngang 2m, rộng 3,5m, sâu 3,5m (kể cả nóc hầm cách mặt đất 1,8m).

Nóc hầm được làm bằng các đà bê tông thả ngang, sau đó lấp kín hoàn toàn bên trên. Trong hầm, hai bên vách có giàn cây chịu lực hình chữ A có thể mắc võng nằm. Một số hầm có trét xi-măng chống thấm. Miệng hầm nối địa đạo thường qua một chốt gác. Từ đây, địa đạo có ngã rẽ chia hai. Một địa đạo đặc biệt dẫn dài đến mé sông Sài Gòn và trổ lên trong bụi ô rô. Khi có mật hiệu, ghe bên kia sông sẽ sang rước khách đặc biệt vào căn cứ Thanh Tuyền (bên kia sông Sài Gòn thuộc Bình Dương).

Các hầm trong khu trung tâm đều có dạng cấu trúc tương tự và đều có địa đạo riêng thông với địa đạo đặc biệt nhằm đối phó khi có tình huống nguy hiểm. Trong thời gian tạm lánh tại địa đạo Phú Mỹ Hưng, các đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cao thường lên khỏi địa đạo đến thăm, đàm đạo với người dân trong ấp cũng như gia đình ông Hai Bao và Tám Cắt. Khu bên trái tức khu bố phòng của tiểu đoàn Vinh Quang với số lượng hầm ít hơn, cấu trúc thông thường như hầm hành chánh, kích thước 3m x 3,5m. Một chiến tuyến vững chắc hình thành một vòng cung bảo vệ khu trung tâm là một hệ thống giao thông hào xen kẽ ụ chiến đấu.

Giao thông hào sâu từ 1,2m đến 1,4m, ngang 0,5m, chạy vòng vèo theo địa hình và kỹ thuật chiến đấu, cắt quãng hoặc tiếp nối các ụ chiến đấu. Uụ chiến đấu sử dụng bắn máy bay gồm rãnh tròn đường kính 3m bao quanh mô đất cao quá đầu người, ở giữa. Xạ thủ dùng mô đất vừa đặt súng, vừa làm vật cản, chạy quanh mô đất núp bắn máy bay địch. Có ụ chiến đấu là hố sâu chứa từ 3 đến 5 người. Xạ thủ bố trí nhiều mặt chiến đấu. Trong khu địa đạo Củ Chi có một giao thông hào song song con lộ 6 bố trí nhiều ụ chiến đấu, trang bị hỏa lực mạnh nhằm lừa địch, nhử địch, chặn địch và tiêu diệt địch. Ngoài ra bốn mặt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng (căn cứ Phú Hiệp) còn có 4 trạm thông tin, báo động, trang bị máy móc hiện đại.

Những đồng chí lãnh đạo cấp cao thường đến làm việc và ở tại căn cứ Phú Hiệp đôi lần trong thời gian vài ngày đến vài tháng như:

  • Đ/c Nguyễn Văn Linh (bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ 1965 - 1975);

  • Đ/c Võ Văn Kiệt (bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ 1960 - 1965);

  • Đ/c Trần Bạch Đằng - Uủy viên thường vụ Khu ủy (1960 - 1965), bí thư Phân khu 6 (tháng 10 - 1967);

  • Đ/c Mai Chí Thọ - phụ trách An ninh (1965 - 1975);

  • Đ/c Uút Một - Khu ủy viên phụ trách Tuyên huấn;

  • Đ/c Nguyễn Văn Tứ - Khu ủy viên phụ trách Tổ chức công an;

  • Đ/c Năm Đang - Khu ủy viên phụ trách Tổ chức phụ nữ;

  • Đ/c Hai Mơ - Khu ủy viên phụ trách Quân sự;

  • Đ/c Tám Lê Thanh, Trần Hải Phụng...

Tháng 1/1966, Mỹ huy động hàng ngàn tăng, pháo binh, không quân, hải quân và trên 3.000 quân đổ xuống vùng tam giác sắt (bao trùm cả địa đạo Phú Mỹ Hưng). Đây là trận càn mang tên Crimp (cái bẫy) với đầy đủ vũ khí, kỹ thuật tối tân, cốt phá hệ thống địa đạo. Các du kích luồn trong địa đạo, lúc ẩn lúc hiện, đánh phủ đầu rồi lại biến mất. Cuộc hành quân tốn kém nhưng không thực hiện được ý đồ, nên một năm sau, ngày 8/1/1967, địch tiếp tục mở cuộc càn lớn mang tên Cedarfall với trên 12.000 quân lính đủ các binh chủng, được yểm trợ tối đa của phi cơ, pháo binh, thiết giáp đánh phá ác liệt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng và phụ cận.

Chúng đưa pháo đài bay B52 rải thảm bom, dội pháo từng đợt, sau đó đưa trực thăng đổ quân ào ạt. Một đại đội chuyên phá hầm và địa đạo, được huấn luyện tại Đồng Dù, sử dụng chó, súng phun lửa, hóa chất, xe ủi hạng nặng và hàng chục trực thăng chở nước bơm xuống địa đạo. Chúng dùng xe ủi đất 60 tấn, có móc thọc sâu xuống địa đạo đoạn đưa mìn vào đánh. Chúng chia mỗi tốp 4 tên, hai tên xuống địa đạo, trang bị mặt nạ, đặt mìn, chuyền dây phá địa đạo. Dùng bom xăng đặc, đốt cháy cả khu rừng, biến xóm làng thành bình địa. Nhiều đoạn địa đạo sụp, xóa mất các chốt, các miệng hầm. Mỹ thú nhận: "tìm thấy miệng địa đạo, nhưng thiếu kinh nghiệm, không thu được gì!".

Giữa tháng 3/1967, Mỹ lại tiếp tục mở trận càn Manhattan, sử dụng tăng kèm bộ binh từ Đồng Dù càn lên căn cứ Phú Hiệp (địa đạo Phú Mỹ Hưng). Du kích sử dụng B40 và B41. Trận chiến diễn ra ác liệt. Địch gọi B52 rải bom. Vài đoạn địa đạo bị sụp so với hàng chục cây số địa đạo. Lại thất bại trong mưu đồ "xóa sổ" khu địa đạo Phú Mỹ Hưng, địch sử dụng cỏ Mỹ (loại cỏ gặp mưa phát triển rất nhanh) cao từ 2 đến 3m, thân to và sắc, lấn át các thứ cỏ khác, gây khó khăn đi lại và rất dễ phát hiện dấu vết. Mùa khô chúng đốt cỏ nhằm phát hiện miệng địa đạo, rải máy đếm tiếng động của người để gọi pháo dập, hoặc gài mìn râu, mìn cóc và tiếp tục mở hàng trăm cuộc càn phá lẻ tẻ nhưng tất cả đều phá sản. Các chiến sĩ vẫn tiếp tục tập kích, lúc ẩn lúc hiện, chặn đầu, khóa đuôi, gây tổn thất nặng nề cho sư đoàn "Tia chớp nhiệt đới", "Anh cả đỏ" và sư đoàn 25 ngụy, làm cho địch bàng hoàng, sửng sốt.

Ngày nay, để tưởng nhớ công lao bao chiến sĩ anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và đất nước, một khu đền tưởng niệm được xây dựng hết sức trang trọng và uy nghi tại Bến Dược. Trên văn bia đặt trước đền có đoạn ghi "...Chiến thắng lớn đến từ hy sinh to lớn. Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường? Con của mẹ ra đi không bao giờ trở lại, mẹ khóc mỗi hoàng hôn... chim bay về núi tối rồi...". Địa đạo Phú Mỹ Hưng được Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích theo quyết định số 54/VHQĐ ký ngày 29/4/1979.

Bếp Hoàng Cầm

Là loại bếp dã chiến, mang tên đồng chí Hoàng Cầm (1916-1996), quê ở thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên là Tiểu đội trưởng nuôi quân thuộc Đội điều trị 8 Sư đoàn 308, sáng tạo ra từ chiến dịch Hoà Bình năm 1951. Bếp Hoàng Cầm được sử dụng từ năm 1951-1952, nhanh chóng phổ biến ở các đơn vị. Đặc biệt, bếp Hoàng Cầm được sử dụng rộng rãi tại các đơn vị tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, kể cả dân công hoả tuyến. Sau này bếp được cải tiến, hoàn thiện và sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ như ở địa đạo Vĩnh Linh, địa đạo Củ Chi....Cách làm bếp Hoàng Cầm như sau: Bếp được đào dưới đất thành một hầm chữ nhật, chiều dài 1,5 đến 1, 8 mét, chiều rộng 1, 2 đến 1,5 mét, sâu 0,70 đến 0,80 mét gồm: Hồ đun, trên đặt nồi (chảo), hố ngồi nấu ( dành cho người nấu), trên có mái che tránh mưa, nắng, bụi ( mái che là tán cây, hoặc gác cành cây trên lợp bằng cỏ tranh hay đóng cọc căng tăng che). Hố đun, hố ngồi nấu tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể như vị trí khu đặt bếp, kích thước nồi, chảo, chiều cao trung bình của người nấu mà đào hố cho vừa đủ chỗ đặt nồi, thao tác khi nấu và chứa củi. Từ hố đun, đào một hệ thống hai đường đường dẫn khói, tản khói. Cách một đoạn đào một hầm chứa khói. Từ hầm chứa khói làm hai đường rãnh vừa để tản khói vừa là rãnh thoát nước. Trên rãnh đặt những cành cây và phủ một lớp đất mỏng được tưới nước để giữ độ ẩm. Khi đun, khói từ trong lò bếp bốc lên qua các đường rãnh dân khói chỉ còn là một dải hơi nước tan nhanh khi rời khỏi mặt đất. Do đó có thể nấu bếp ban ngày, ngay cả khi máy bay trinh sát của đối phương bay trên đầu không bị lộ khói và lửa, kể cả khi đun củi còn ướt.

Đại tá, Giáo sư - Tiến sỹ Đặng Hiếu Trung, nguyên là chuyên viên đầu ngành của Khoa Tai mũi họng Bệnh viện Quân y 108 cho biết: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Đội trưởng Đội Điều trị 8, thuộc Đại đoàn 308. Đội điều trị 8 đóng cạnh suối Hồng Lếch, cách hầm Đờ Cát chỉ 4 km đường chim bay về phía tây. Đội Điều trị 8 có trên 100 người cộng với thương binh vì thế mặc dầu trong hoàn cảnh chiến trường, khó khăn, thiếu thốn, bom đạn của kẻ thù nhưng Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm cùng tổ nuôi quân vẫn đảm bảo cơm nóng, canh ngọt cho Đội và thương binh.

Trong hồi ức “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (NXB QĐND- 2001), có đoạn viết: “Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc ở đây một sáng kiến đã mang lại sự cải thiện rất quan trọng trong đời sống các chiến sỹ ngoài mặt trận. Khói lửa từ những bếp của anh nuôi đã nhiều lần làm lộ vị trí trú quân, dẫn đến những tổn thất xương máu.... Một chiến sỹ nuôi quân ở trạm quân y của Đại đoàn 308 có sáng kiến đào những đường rãnh thoát khói bên sườn núi, nối liền với lò bếp, bên trên rãnh đặt những cành cây và phủ một lớp đất mỏng được tưới nước để giữ độ ẩm. Khói từ trong lò bếp bốc lên qua một đường rãnh chỉ còn là một dải hơi nước tan nhanh khi rời khỏi mặt đất. Từ đó anh nuôi có thể thổi nấu ban ngày, ngay cả khi máy bay trinh sát địch bay trên đầu được ăn cơm nóng, uống nước nóng.

Đền tưởng niệm Bến Dược - Củ Chi

Đền Tưởng Niệm Liệt Sĩ Bến Dược

Trên vùng đất nổi tiếng của địa đạo Củ Chi năm xưa và ngay giữa lòng "tam giác sắt" một thời rền vang bom đạn. Vào ngày 19/5/1993, đảng bộ và nhân dân TP.Hồ Chí Minh đã tạo dựng nên công trình: ĐỀN TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ BẾN DƯỢC - CỦ CHI. Ðền được xây dựng để tưởng nhớ công ơn to lớn của đồng bào, chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh trên vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh; trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược chống Pháp và Mỹ. Là một công trình dành cho thế hệ mai sau nhớ mãi, tri ân và tự hào.

Đền được khởi công vào ngày 19/5/1993 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 103 của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, trên một vùng đất rộng 7 ha trong quần thể của khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi. Ngày 19/12/1995 đền khánh thành giai đoạn 1 và bắt đầu đón khách trong và ngoài nước đến tưởng niệm, dâng hương và nghĩ về một lẽ sống còn đã làm nên hồn thiêng dân tộc. Và Thành ủy, HĐND, MTTQ TP. Hồ Chí Minh cũng đã chọn ngày 19/12 hằng năm là ngày lễ hội tưởng niệm và tri ân các anh hùng liệt sĩ.

Đền tưởng niệm Bến Dược - Củ Chi là khu vực tưởng niệm những anh hùng của Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dươngvà Chiến tranh Việt Nam.

Cổng tam quan

Được thết kế theo phong cách cổ truyền của dân tộc với các hàng cột tròn, trên lợpngói âm dương. Cổng có hoa văn, họa tiết, mái cong của những cổng đình làng nhưng được cách tân bởi những vật liệu mới. Chính giữa cổng tam quan là biển đề: Đền Bến Dược và trên các thân cột là những câu đối của nhà thơ Bảo Định Giang:

Trải tấm lòng son vì đất nước,

Đem dòng máu đỏ giữ quê hương

Lòng biết công ơn nhang thơm một nén

Đời còn bóng dáng sao sáng ngàn năm

Nhà văn bia

Cổng Tam Quan và Nhà văn bia

Là một nhà vuông có hai mái, lợp ngói, ở giữa đặt một tấm bia đá cao 3m, ngang 1,7m, dày 0,25m, nặng 3,7 tấn. Tấm bia đá này được lấy từ khối đá nặng 18 tấn ở Ngũ Hành Sơn(Đà Nẵng) và được các nghệ nhân đẽo gọt, chạm khắc những hoa văn độc đáo của dân tộc.

Tấm bia đá khắc bài thơ của Viễn Phương , đây được xem là bảng hùng ca về đất và người Củ Chi vực dậy lòng tự hào dân tộc, tự hào về quá khứ hào hùng của cha anh. Bản hùng ca giáo dục thế hệ trẻ với ngôn từ giàu sức biểu cảm, hào hùng và là một trong những bài văn bia được rất nhiều du khách khi đến nơi đều ghi chép lại.

Nhà thơ Viễn Phương

Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Viễn Phương gắn liền với hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Nhiều tác phẩm xuất sắc của ông như Chiến thắng Hòa Bình, Anh hùng mìn gạt, Quê hương địa đạo... ra đời trong chiến trường Nam Bộ, nhà tù Mỹ - Diệm hay địa đạo Củ Chi. Truyện ngắn và ký của Viễn Phương cũng được đánh giá rất cao.

Viễn Phương, tên thật Phan Thanh Viễn (1 tháng 5 năm 1928 - 21 tháng 12 năm2005), là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và là nhà thơViệt Nam. Cuộc đời & sự nghiệpViễn Phương', quê gốc Tân Châu, An Giang. Thuở nhỏ ông đi học, đến khi Cách mạng Tháng Tám] bùng nổ (1945), ông đến đầu quân và được xếp vào Chi đội 23.

Chi đội này hoạt động trên một địa bàn rộng lớn thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Từ cảm xúc có thật trên mỗi chặn đường chiến đấu gian khổ, những bài thơ của ông đã lần lượt ra đời, và được đăng trên báo 'Tiếng Súng Kháng Ðịch', là tờ báo duy nhất của Khu 9 Nam Bộ lúc bấy giờ.

Năm 1952, Nam Bộ tổ chức giải thưởng tổng kết văn học nghệ thuật lấy tên Giải thưởng Cửu Long, thì trường ca 'Chiến thắng Hòa Bình' của ông được xếp giải nhì về thơ.

Không lâu sau, Chi hội Văn nghệ Nam Bộ tổ chức đại hội, ông được bầu vào Ban chấp hành. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông được phân công về Sài Gòn hoạt động.

Về Sài Gòn, ông đi dạy học, làm thuê kiếm sống nhưng công việc chủ yếu vẫn là sáng tác văn thơ. Với bút hiệu Viễn Phương, ông làm thơ và viết truyện đăng trên một số tờ báo ở Sài Gòn như Nhân loại, Hừng sáng, Công lý...

Do những bài viết có nội dung chống đối, năm 1960, ông bị nhà cầm quyền Sài Gòn bắt giam ở Chí Hòa. Trong tù, ông vẫn tiếp tục làm thơ.

Sau khi ra tù (1962), ông rời Sài Gòn vào chiến trường Củ Chi tiếp tục chiến đấu và làm thơ.

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ông liền được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và được bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.

Ngoài bút danh Viễn Phương, ông còn lấy bút danh 'Phương Viễn' và cũng sáng tác cả văn xuôi. Ông nổi tiếng với bài thơ 'Viếng lăng Bác' (Kim Son phổ nhạc) đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 1995.

Nhà thơ Viễn Phương mất ngày 21 tháng 12 năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Nội dung bài văn bia:

Vùng đất sáng ở Miền Nam Tổ quốc, nửa tiếp Trường Sơn, nửa nối đồng bằng. Chống xăm lăng từ Trương Định, Trương Quyền, máu dũng sĩ chảy tràn sông suối.Thuở đất nước đắm chìm trong tăm tối, Nguyễn Tất Thành tím ruột xót non sông, tìm hướng tương lai, khói phủ Bến Nhà Rồng.Tiếng máy chém đầu văng trong ánh thép, nhân dân quằn quại dưới xiềng gông, đạn bom rơi xác ngã chất chồng, người chết không yên, tan mồ nát mả. Giặt quyết đẩy dân ta lùi về thời đồ đá.

Tiếng Bác Hồ: "Dù đốt chảy dãy Trường Sơn..." Muôn triệu trái tim sôi sục căm hờn. Đôi tay yếu mẹ đẩy lùi máy chém, tấm thân gầy mẹ cản xích xe tăng. Nước mắt chảy vào tim mẹ tiễn con ra trận."Không có gì quý hơn độc lập tự do" lớp lớp lên đường.

Tuổi trẻ ! Tuổi anh hùng như đại bàng vỗ cánh "Đâu có giặc là ta cứ đi!" Thành phố Sài Gòn, vì sao lấp lánh: Thề chết đứng chẳng sống quỳ. Những đoàn quân đẹp tợ thiên thần, đạp đỉnh Trường Sơn, vượt sông Cửu Long tiến về Thành phố.Đêm lảnh lót tiếng ca quan họ, nghe ngọt ngào điệu hát cải lương, họ mái đẩy ngân nga dìu dặt, giọng bài chòi tha thiết nhớ thương. Mừng họp mặt bốn phương dũng sĩ, quê hương ta ra ngõ gặp anh hùng.Lính chủ lực về quê mình làm du kích. Cả nước vì Sài Gòn vì cả nước quyết hy sinh.Moi ruột đất ẩn sâu vào lòng đất, trái tim thành chiến hào, ánh mắt hóa vì sao, bàn tay thành lưỡi kiếm.Vũ khí thô sơ ngựa trời, mìn gạt, địa đạo dài theo thế trận lòng dân, du kích lập vành đai diệt Mỹ, bắn tỉa ngày đêm xuất quỷ nhập thần.Biệt động Thành đánh giữa Sài Gòn, tàu chiến sân bay, kho xăng bốc nổ - lòng dân lửa dậy, ngày xuống đường, đêm không ngủ, đạp rào gai, che họng súng, liều thân mình cho Tổ quốc tồn sinh.Lũ giặc nước kinh tâm, bom tấn, pháo bầy, thần sấm, con ma, B52 rãi thảm.

Thần, người căm giận.

Ầm, Ầm chiến dịch Hồ Chí Minh.

Như bão gầm, như thác lũ, dũng tướng, tinh binh, bạt núi, san đèo, tiến về Thành phố.

Rạp trời cờ đỏ

Trúc chẻ ngói tan

Quét sạch hung tàn

Quê hương giải phóng

Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn.

Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường?

Con của mẹ ra đi không bao giờ trở lại, mẹ khóc mỗi hoàng hôn...chim bay về núi tối rồi.

Máu hồng toả hương chính khí

Nhân kiệt làm nên địa linh.

Đất nước lớn vì nhân dân anh hùng,

Nhân dân lớn vì tấm lòng yêu nước.

Người đang sống nhớ thương người đã khuất,

Khắc đá làm bia dựng giữa đất trời.

Những anh liệt như ngàn sao tỏa sáng,

Đời đời sau chiếu mãi giữa tim người.

Đền chính

Kiến trúc mang dáng dấp đền đài cổ của Việt Nam. Điện thờ bố trí theo hình chữ U: trung tâm là bàn thờ tổ quốc trang nghiêm được bố trí theo kiểu đình Việt Nam. Chính giữa có tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía trên ghi: Vì nước quên mình.

Tổ quốc ghi công

Đời đời ghi nhớ.

Tả, hữu là hai hương án thờ các bậc tiền hiền tiên liệt và đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh, chưa tìm được tên. Hai bên là 2 bức tượng hạc đội rùa oai nghiêm và linh thiêng.

Dọc theo các bậc tường bên trái là tên liệt sĩ khối dân chính Đảng, các bậc tường bên phải là tên liệt sĩ lực lượng võ trang. Đây được xem là nơi chứa danh sách các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, hy sinh vì đất nước cùng tụ hội về đây. Có tất cả 44.379 bia anh hùng liệt sĩ được tạc tại gian chính điện cùng phối thờ.

Phía bên phải chính điện có để một cái trống to lớn.

Tháp

Tháp chính đền Bến Dược

Thể hiện cho sự vươn lên đỉnh cao trong tương lai. Tháp có 9 tầng cao 39m, trên vách tháp có nhiều hoa văn, phù điêu thể hiện cuộc sống và chiến đấu của nhân dân Củ Chi Đất thép thành đồng.

Hoa viên

Hoa viên rộng lớn là nơi sinh hoạt dã ngoại, và là không gian xanh của khu di tích.

Tượng đài sông Bến Dược

Tượng đài cao 16m, nặng 243 tấn, được làm bằng đá granit đặt giữa vườn hoa mặt hướng ra sông Sài Gòn. Biểu tượng được thể hiện qua hình tượng một giọt nước mắt, khái quát về sự đau thương mất mát của bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu hy sinh để giữ gìn đất nước.

Tầng hầm

Tầng hầm của đền có 9 không gian, với chủ đề Sài Gòn Chợ Lớn kiên cường bất khuất, thể hiện lại các sự kiện tiêu biểu trong giai đoạn chiến tranh của quân và dân trong vùng tam giác sắt nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc và bọn tay sai. Các sự kiện ấy được tái hiện sinh động bằng những bức tranh hoành tráng, tượng, sa bàn, hiện vật, mô hình sân khấu hóa, các loại hình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc . . .

Bức tranh gốm lớn nhất Việt Nam

Bức tranh gốm này gồm 3 tấm, ốp trên tường mặt ngoài của đền Bến Dược (Củ Chi) vào tháng 8/2001. Tác phẩm do các giảng viên - họa sĩ trường Đại học Mỹ Thuật TP.HCM thể hiện qua ba bức tranh tường hoành tráng, ca ngợi lịch sử khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất Sài Gòn - Gia Định từ xưa đến ngày đại thắng mùa xuân 1975.

Tranh được ghép bởi các viên gạch gốm kích thước 20 x 20cm và 10 x 10cm. Bức thứ nhất diễn tả nội dung “Dân khai hoang, Thần lập xứ”, thể hiện 5 chương: chương thứ nhất: đấu tranh với thiên nhiên trong quá trình chinh phục miền đất mới; chương thứ hai là khai hoang; chương thứ ba: ở giữa là người có công mở đấtLễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, bên phải mô tả sinh hoạt kinh tế: xây thànhlập chợ…, bên trái là sinh hoạt văn hóa như: đám rướcmúa lân; chương thứ tư là thành quả trong cuộc sống và chương thứ năm là đấu tranh chống xâm lược.

Bức này do 3 giảng viên của trường Đại học Mỹ Thuật sáng tác và thi công: Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Quang Cảnh. Bức thứ hai thể hiện nội dung “Sức tiếp sức chống xâm lăng”, tác phẩm này cũng thể hiện năm nội dung: đường Hồ Chí Minh trên biểnchi viện từ hậu phương lớnxẻ dọc Trường Sơn đi cứu nướclớp lớp thanh niên lên đườngchi viện tại chỗ: miền núi, Tây Nguyên, đồng bằngChi viện từ trong lòng địch và cuối cùng là hoạt động nội thành. Tác phẩm này do các họa sĩ: Lê Đàn, Phan Hoài Phi, Phan Phương Trực, Nguyễn Xuân Đông, Đỗ Mạnh Cường thể hiện. Bức cuối cùng thể hiện hai giai đoạn lịch sử. Phần một “Nhân dân ta bị đô hộ áp bức”, phần hai là “Đoàn kết, đấu tranh giành thắng lợi”. Tác phẩm này do ba giảng viên thực hiện đó là họa sĩ Hoàng Trầm, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Huy Khôi. Để hoàn thành bức tranh gốm lớn nhất này các hoạ sĩ đã làm việc liên tục bốn năm với hàng trăm phác thảo, thể hiện trên giấy theo tỷ lệ 1/1, rồi lại thể hiện lên gạch gốm sau đó tô màu, rồi phơi cho khô màu và đem bỏ lò nung thử nghiệm nhiều lần tại lò gốm của ông Nguyễn Hải Bằng, xã Phú Mỹ, tỉnh Bình Dương.

Khu du lịch sinh thái văn hoá dân tộc thiểu số Củ Chi

Chuyến hành hương về Củ Chi không phải để trở về địa đạo một thời anh hùng của người dân đất thép mà là để tìm về chốn yên bình với thiên nhiên, với những gì hoang sơ và độc đáo.

Khu du lịch sinh thái văn hóa dân tộc thiểu số Củ Chi

Chỉ cách trung tâm Tp.HCM 50km, nghĩa là khoảng hơn một giờ đi xe máy thôi, nhưng ở khu du lịch sinh thái văn hóa dân tộc thiểu số Củ Chi, hơi thở gấp gáp và cái dáng vẻ vội vã quay quắt của thành phố dường như không còn nữa. Người ta tạm quên mình còn công việc và cả những mối lo toan, để những nhân viên hướng dẫn đưa đi hết 20ha của khu sinh thái.

Những cỗ xe ngựa mộc mạc thay cho xe gắn máy lộc cộc gõ móng trên lối nhỏ sẽ đưa chúng ta dạo quanh khu du lịch. Hoa viên phượng vĩ vào mùa rực lửa, cháy khát khao nỗi niềm mùa hạ. Khu biểu diễn vịt độc đáo đến mức nhiều người nghĩ họ đang được đến vườn chim Jurong ở Singapore. Khác chăng chỉ là màn biểu diễn của gần 300 diễn viên vịt nhào lộn hết sức ngoạn mục thay cho tiếng chim hót. Bỏ lại sự ồn ào của những chú vịt, chúng tôi đến sân khấu ca múa nhạc dân tộc thiểu số. Những vũ điệu, lời ca của người dân Tây Nguyên như nhắc con người sống có tình hơn. Đến Mê Cung Trúc, không chỉ giới trẻ mà cả người có tuổi đều thích thú với sự bất ngờ của khu nhà 5 căn được làm từ hơn 2.000 cây trúc. Nơi đây, những lối đi ngắt khúc, quanh co và cả những lối đi ảo trong mỗi tầng nhà khiến người chơi trò mê cung khó tả hết cảm giác hồi hộp. Cơm lam, bánh tráng phơi sương, bánh kẹp đậu phộng hay rượu cần chỉ là vài món ăn dân dã mà người dân tộc ưu ái mời khách nếm qua, để thấy cái tình người nơi đây nó đậm đà, thơm thảo lắm. Trước khi về với hiện đại của thành phố, đừng quên mua vài món quà thủ công mỹ nghệ của các dân tộc thiểu số ở gian hàng bán quà lưu niệm, để nhớ mình đã có lần về với Củ Chi.

Ấp 4, xã Nhuận Đức, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh.

Điện thoại: (84-8) 792 8922

Làng nghề Một thoáng Việt Nam

Làng nghề truyền thống Một thoáng Việt Nam nằm ven sông Sài Gòn thuộc xã An Phú của vùng đất thép thành đồng Củ Chi, cách trung tâm TP.HCM khoảng 60 km. Được triển khai đầu tư xây dựng từ năm 1991 với mục tiêu không chỉ làm du lịch mà còn nhằm khôi phục, phát triển nghề truyền thống dân tộc, tạo việc làm cho người dân địa phương. Kinh phí đầu tư đến nay đã hơn 98 tỷ đồng.

Khu du lịch “Một Thoáng Việt Nam” là một quần thể làng nghề thủ công truyền thống, với diện tích 22,5 ha đất bưng biền, nằm cạnh rạch Bò Cạp, gần sông Sài Gòn. Khu du lịch bao gồm 30 hạng mục với: đền thờ đất nước, sa bàn nước Việt Nam, lầu vọng, ba khu tiêu biểu cho ba miền đất nước. Bên cạnh là khu văn hóa ẩm thực, đảo nuôi chim thú tự nhiên, khu chợ hàng tiểu thủ công nghiệp, chợ trên sông, vườn cây ăn trái…

Gọi là làng nghề vì Một thoáng Việt Nam tập hợp nhiều nghề đặc thù, nổi tiếng từ nhiều miền đất nước như nghề làm giấy dó, dệt tơ lụa, thổ cẩm, mộc, thêu, tranh ghép gỗ, gốm sứ, chế biến mía đường, đan lát mây tre, v.v…

Các nghệ nhân, thợ thủ công hay nông dân đều là “người thật việc thật”, không phải là kẻ sắm vai. Họ đang làm đúng công việc quen thuộc, đúng nghề cha truyền con nối của mình. Chỉ khác ở chỗ, họ được tập trung vào cùng một nơi và không phải lo đầu ra cho sản phẩm.

Ở đây, những người thợ thủ công, nông dân, nghệ nhân… thuộc nhiều dân tộc khác nhau, đến từ những miền quê khác nhau cùng lao động sản xuất bên nhau trong một số nghề truyền thống tiêu biểu như: đan lát mây tre, dệt tơ lụa và thổ cẩm, gốm sứ, chằm nón, thêu ren, làm giấy dó, in khắc tranh, điêu khắc đá, điêu khắc mộc, chế biến mía đường, canh tác lúa nước, nuôi trồng thủy sản, ươm trồng hoa lan, cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm…Du khách khi đến thăm khu du lịch “Một Thoáng Việt Nam” sẽ lưu lại những ấn tượng sâu sắc về đất nước Việt Nam.

Một thoáng Việt Nam cũng chính là một bảo tàng ngoài trời khi có nhiều khu trưng bày hàng trăm hiện vật cổ, từ trống đồng đến cọc gỗ Bạch Đằng thứ thiệt mà không phải bảo tàng nào cũng có được.

Đặc biệt khu tái hiện kiến trúc nhà ở của các vùng miền, các dân tộc khá ấn tượng. Từ ngôi nhà vườn Huế cây trái xum xuê, sang nhà Bình Định “thông minh” – mát mùa hè, ấm mùa đông, đến ngôi nhà rông Tây Nguyên vươn cao vững chãi, hay nhà người Mông thoang thoảng hương gỗ thông, đều do chính tay người bản địa và đồng bào dân tộc thi công, chăm chút.

Một thoáng Việt Nam còn là khu du lịch hấp dẫn, khi ở đây có đủ bài bản của một địa chỉ có khả năng bắt khách tham quan phải đưa tay vào ví. Những dịch vụ như khu vui chơi, nghỉ dưỡng sẽ đến, sau khi du khách bị hấp dẫn bởi những món đồ thủ công mỹ nghệ được sản xuất ngay trước mắt mình, hoặc mùi vị của những món đặc sản nhiều vùng miền xông thẳng vào khứu giác.

Nhiều khách tham quan không cưỡng được sự hiếu kỳ trước những động tác gọn gàng, điêu luyện của người thợ làm giấy dó, hay trố mắt ngạc nhiên khi lần đầu tiên trong đời thấy những hạt đường thành hình từ lò nấu đường thủ công… Nếu cho phép người xem trực tiếp tham gia, như thử vài đường thêu, nặn thử một lọ gốm, thì hiệu quả càng cao.

Địa chỉ: ấp Phú Bình, xã Củ Chi, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh

Email: langnghemtvn@gmail.com

Điện thoại:(84) (08) 22181465* Fax: (84) (08) 37980141

http://www.motthoangvietnam.vn

Địa đạo Vịnh Mốc

Trong những năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm không tôn trọng hiệp định Genève, 1954 và không tiến hành tổng tuyển cử như dự định. Cùng với việc tấn công vào các phong trào nổi dậy ở miền Nam, Mỹ đã ra sức khiêu khích, gây chiến với lực lượng Việt Nam dân chủ cộng hòa bảo vệ giới tuyến ở Vĩnh Linh. Năm1965, Mỹ đã tạo ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ để bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không lực, trong đó Vĩnh Linh là mục tiêu đánh phá hàng đầu.

Trong suốt những năm 1965 - 1972, Vĩnh Linh liên tục bị đánh phá với tổng cộng hơn nửa triệu tấn bomđạn các loại[1]. Tính bình quân, mỗi người dân Vĩnh Linh đã phải gánh chịu 7 tấn bomđạnMỹ. [1]

Địa đạo đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1947 tại vùng Phú Thọ Hòa (nay thuộcTân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh). Rồi sau đó, những năm 1961 - 1965, ở Củ Chi đã xuất hiện hệ thống địa đạo lan rộng khắp 5 xã. Vào cuối năm 1963, ông Trần Nam Trung từ Trung ương Cục Đảng cộng sản Việt Nam ở miền Nam Việt Nam trên đường raBắc đã ghé thăm khu vực chiến sự ở xãVĩnh Giang(Vĩnh Linh). Sau khi quan sát địa hình, địa chất ở nơi đây, ông gợi ý Vĩnh Linh nên đào địa đạo như ở Củ Chi. Với phương châm: "Một tấc không đi ,một li không rời.Mỗi làng,xã là một pháo đài" Thông qua chỉ thị của khu ủy VĩnhLinh. Đồn trưởng đồn công an vũ trang nhân dân 140 Lê Xuân Huy đã chỉ huy đơn vị và nhân dân địa phương nhanh chóng tiến hành đào địa đạo.Công trình được bắt đầu từ đầu năm 1965 và được hoàn thành vào ngày 18/02/1966 .Điều đặc biệt là vị chỉ huy công trình này(công trình Sư)lúc bấy giờ học vấn của ông chỉ vừa hết tiểu học.(Hiện nay ông là cựu trung tá đang tá túc ở thành phố Đông Hà và bị mù do ảnh hưởng bởi vết thương trong chiến tranh).Và, nếu nói cho công bằng thì công trình này phải có tên ông đi kèm mới phải..

Ðể bảo đảm cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta xây dựng rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho ba đến bốn người ở. Trong lòng địa đạo có ba giếng nước, một hội trường (với sức chứa 50 người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặt máy điện thoại[2]...

Hai bên trục đường chính cách nhau từ ba đến năm mét lại khoét lõm sâu vào thành một hầm nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình. Ðịa đạo được cấu tạo thành ba tầng. Tầng một sâu cách mặt đất từ 12 đến 15 m, là nơi sinh sống của nhân dân[2].

Tầng hai sâu 18 m là nơi đóng trụ sở của Ðảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự. Tầng ba sâu 22 m dùng làm kho chứa hậu cần cung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vịnh Mốc[2].

Cuộc sống trong địa đạo

Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt vào mùa đông, nóng bức vào mùa hạ, điều kiện vệ sinh không đảm bảo nên hầu như đa số cư dân địa đạo đều bị ký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương. Cuộc sống đưới lòng đất không phù hợp với con người, luôn thiếu ánh sáng. Vì vậy, hầu hết các lànghầm đều tiết kiệm các chất liệu thắp sáng như dầu hoả, mỡ, chỉ những lúc cần thiết như hội họp, cấp cứu bệnh nhân, chăm sóc trẻ sơ sinh... mới dùng đèn. Ngoài ra, việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm và cácnhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất đối với cư dân địa đạo.

Cuộc sống bình thường đã tồn tại suốt nhiều năm trong lòng đất với đầy đủ khái niệm của sự sống như học hành, vui chơi, giải trí, yêu thương, sinh con... trong một khoảng không gian 1,8 m của đường hầm.

Để duy trì nòi giống, để có người nối dõi, các gia đình, họ tộc, cư dân địa đạo Vịnh Mốc phải chia ra sống ở nhiều hầm khác nhau[4]. Trong thời gian sống trong địa đạo ở Vĩnh Linh nói chung, đã có 60 đứa trẻ được sinh ra, riêng địa đạo Vịnh Mốc đã có 17 đứa trẻ ra đời trong lòng địa đạo[5]. Ðịa đạo là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt, lúc đông nhất có khoảng 1.200 người sinh sống. Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại, trong lòng địa đạo không một người nào bị thương và đã có 17 em bé chào đời, đủ nói lên giá trị và ý nghĩa của địa đạo Vịnh Mốc, đồng thời là sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây[2]. Có nhiều căn hầm được tạo ra để làm phòng hộ sinh, nhà nuôi dạy trẻ. Mặc dù cuộc sống trong lòng địa đạo là gian khổ, nhưng nhiều thế hệ trẻ em vẫn tiếp tục đựơc sinh ra[5].

Thương vong

Rút kinh nghiệm trong thực tế chiến tranh ác liệt, hệ thống địa đạo Vịnh Mốc khó đáp ứng được yêu cầu trú, trực, chiến đấu một cách an toàn cho dân chúng vùng giới tuyến, thậm chí đã gây ra không ít tổn thất về nhân mạng. Điển hình là sự kiện vào ngày 26 tháng 2 năm 1967, địa đạo Đơn Duệ(Vĩnh Hoà) bị bomMỹ đánh sập, làm 4 người chết; ngày 20 tháng 6 năm 1967, địa đạo Tân Lý (ở Vĩnh Quang) bị sập, làm 61 người chết; ngày 27 tháng 7 năm 1967, địa đạo Xóm Bơợc (ở Vĩnh Thạch) bị sập đã có 22 người chết, địa đạo Bình Minh (ở Vĩnh Hiền) sập ngày 10 tháng 9 năm 1967 làm chết 39 người[6]...

Địa đạo Vịnh Mốc nằm trong hệ thống cái điểm du lịchkhu phi quân sự trước đây trongchiến tranh Việt Nam, đã được công nhận là di tích lịch sửViệt Nam. Khu bảo tàng địa đạo Vịnh Mốc chính thức mở cửa đón khách từ năm 1995, đến nay đã thu hút được một lượng du khách lớn.

Những ngôi làng bên dưới cuộc chiến

Cuộc chiến trong lòng đất (kỳ 1):

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hào hùng của cả dân tộc, chỉ riêng hai hệ thống địa đạo đã là một kỳ tích với nhiều huyền thoại bi hùng.

Chúng tôi muốn các bạn cùng trở lại hai hệ thống địa đạo lừng danh: Vịnh Mốc, Vĩnh Linh (Quảng Trị) và Củ Chi (TP.HCM) để nghe kể về những câu chuyện kỳ lạ của một cuộc chiến dưới lòng đất...

Năm trước, một người bạn của tôi ở nước ngoài về Quảng Trị đi thăm địa đạo Vịnh Mốc. Xuống những tầng sâu địa đạo tham quan xong, khi chui lên anh nói với tôi giọng lạc hẳn: “Tại sao đất đai của ông bà mình, sông núi của tổ tiên mình, xứ sở chôn nhau cắt rốn của mình mà người dân mình phải đào hang hốc, sống khổ sở thế này? Vô lý quá!”.

Tôi hiểu cái niềm căm phẫn của anh cũng như bao nhiêu người đã đến và đã chứng kiến cái thế giới bên dưới lòng đất Vịnh Mốc. Nhưng những ngày bom đạn ấy để giành lại cuộc sống bình yên không có cách nào hơn là phải chung sống với đạn bom (!). Và những địa đạo đã ra đời như thế...

Làng hầm nối tiếp làng hầm

Nhiều người nghĩ đất Vĩnh Linh (Quảng Trị) chỉ có một địa đạo - làng hầm Vịnh Mốc. Nhưng Vịnh Mốc thật ra là một địa đạo lớn trong số 114 địa đạo trên mảnh đất Vĩnh Linh địa đầu này với tổng chiều dài các địa đạo lên đến hơn 40km trong lòng đất, cộng với 2.100km giao thông hào, gần 4 triệu m3 đất đào đắp...

Đấy không phải là những con số cơ học như bây giờ người ta vẫn tính toán khối lượng công trình mà là những con số của máu và nước mắt. Sau những đường hào, địa đạo ấy là cuộc sống của 4 vạn người dân Vĩnh Linh bám trụ để sống và chiến đấu.

Là 30 địa đạo bị đánh sập và trở thành những ngôi mộ tập thể với 400 đồng bào Vĩnh Linh mãi mãi nằm im dưới lòng đất, là 60 đứa bé chào đời dưới địa đạo (trong đó riêng Vịnh Mốc có 17 em)... Năm tháng đi qua, vì cuộc sống mới, nhiều nỗi đau có thể phải nguôi quên nhưng không điều gì có thể lãng quên trong trí nhớ của đất.

Khởi thủy của địa đạo ở Vĩnh Linh là đòi hỏi sinh tử của cuộc kháng chiến. Bắt đầu từ cuối năm 1963, đồng chí Trần Nam Trung (sau này là bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN) trên đường công tác từ Trung ương Cục miền Nam ra Bắc đã ghé lại thăm làng chiến đấu ở xã Vĩnh Giang (Vĩnh Linh) - một xã nằm ngay biển cửa Tùng (Vĩnh Linh bấy giờ là đặc khu trực thuộc trung ương).

Quan sát địa hình, địa chất của Vĩnh Giang, đồng chí Trần Nam Trung đã gợi ý Vĩnh Linh nên đào địa đạo như Củ Chi để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới sẽ gian khổ gấp bội, nhất là khi Mỹ tiến hành ném bom đánh phá miền Bắc, từ Vĩnh Linh trở ra. Nhưng khi ấy chưa ai từng vào Củ Chi để “tham quan, học tập kinh nghiệm” như cách mà bây giờ mọi người vẫn làm khi biết đâu đó có một mô hình sáng tạo mới...

Hơn hai năm sau, đến năm 1966 khi giặc Mỹ quyết đưa miền Bắc trở lại “thời kỳ đồ đá”..., những hầm hào nhân dân sử dụng phòng tránh như lâu nay không chịu nổi cường độ đánh phá dữ dội chưa từng thấy của bom và pháo địch thì vấn đề đào địa đạo như gợi ý của đồng chí Trần Nam Trung đã được đảng ủy, bộ chỉ huy quân sự khu vực, công an vũ trang giới tuyến... bàn bạc và quyết định đào thí điểm.

Bấy giờ mọi người cũng chưa hình dung cụ thể, hình hài địa đạo chỉ là những nét vẽ trên giấy, cứ hình dung rằng như thể thợ mỏ đào hầm lò (tuy nhiên sau này khi bắt tay vào việc mới thấy mọi chuyện không dễ dàng). Thôn Tân Mỹ, xã Vĩnh Giang được chọn để đào địa đạo thí điểm. Có thể coi đây là địa đạo đầu tiên của Vĩnh Linh, dài chỉ hơn 80m, độ sâu cách mặt đất chừng 7-8m.

Dĩ nhiên với độ sâu và chiều dài như thế địa đạo Tân Mỹ chỉ tránh được phần nào bom đạn chứ chưa thể trở thành nơi cho nhân dân vào trú ẩn, sinh hoạt, bám trụ chiến đấu hằng ngày. Phải một thời gian sau này khi địa đạo Vịnh Mốc được đào sâu hàng chục mét dưới lòng đất, chia nhiều tầng, biến địa đạo thành ngôi làng trong lòng đất, khi ấy địa đạo này mới như một hình mẫu của cuộc sống người dân Vĩnh Linh trong cuộc kháng chiến trường kỳ.

Cũng xin nói thêm rằng địa đạo Tân Mỹ - địa đạo đầu tiên trong hệ thống làng hầm Vĩnh Linh - đã có một số phận bi tráng. Tháng 5-1967, trong một trận càn của địch ở bờ nam sông Bến Hải, bà con vùng Gio Linh đã vượt sông chạy sang bên bờ bắc, được bà con bên này che chở, đùm bọc. Trà trộn trong đoàn người lánh nạn có cả bọn gián điệp địch.

Chúng đã chỉ điểm tọa độ cho máy bay ném bom bắn phá sập địa đạo, làm chết 24 người dân cả hai bờ giới tuyến đang trú ẩn tại đây. Nhưng không vì thế mà người dân đất lửa thua cuộc. Những địa đạo được đào sâu hơn, kỹ hơn, kiên cố hơn để phục vụ cho cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt mà Vịnh Mốc là một địa đạo điển hình của hệ thống làng hầm Vĩnh Linh.

Trong hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, ngoài địa đạo Vịnh Mốc còn có các địa đạo điển hình như: địa đạo Nam Cường (xã Vĩnh Nam) có chiều dài 3.200m chạy ngầm trong một vùng đồi rộng hơn 10ha.

Lòng địa đạo rộng 2,2m, cao 1,8m, có độ sâu 18 - 20m, có tám cửa lên xuống và 20 giếng thông hơi. Địa đạo Mỹ Tú (xã Vĩnh Tú) dài 3.000m, sâu bình quân 14m, các cửa đều được gia cố bằng bêtông cốt thép hình xương sườn.

Có 60 giếng thông hơi, bảy cửa lên xuống. Địa đạo Thủy Trung (xã Vĩnh Trung) dài 2.100m, sâu 15 - 28m, sáu cửa lên xuống và 14 giếng thông hơi. Địa đạo công an vũ trang ở Vĩnh Hòa dài 1.100m, sâu 10-15m, cửa và vòm hầm gia cố bằng ximăng.

Ngoài những địa đạo này, tại Nam Hồ còn có một hệ thống hầm ngầm được xây dựng với sự giúp đỡ của bộ đội công binh Bộ Quốc phòng từ năm 1958 với hai hầm ở Vĩnh Tiến, bốn hầm ở Nam Hồ.

Hầm được đúc bằng bêtông cốt thép kiên cố, bề dày 1m, có các cửa ăn thông lên mặt đất hướng phía nam để thuận tiện cho việc cơ động chiến đấu.

Đây cũng là hệ thống phòng ngự có thể chặn đứng mọi cuộc xâm nhập nếu bộ binh địch vượt tuyến tràn ra Bắc

Đi vào lòng đất...

Ngày trước chiến tranh, làng Vịnh Mốc cũng như bao làng chài ven biển VN với những mái nhà tranh kiểu bánh ít đều tăm tắp trông ra biển rất hiền thương và thanh bình. Ngày 27-11-1964 tàu chiến Mỹ từ ngoài biển bắn đại bác vào thiêu hủy một lúc 72 nóc nhà. Đến tháng 6-1965 cả Vịnh Mốc bị máy bay ném bom đốt trụi...

Người Vịnh Mốc, vì sự tồn tại của mình, vì cuộc chiến đấu còn lâu dài, phải sống, họ đã đưa cả ngôi làng của mình lặn vào lòng đất.

Chúng tôi đã tìm gặp ông Lê Xuân Vy, đồn trưởng đồn công an vũ trang Vịnh Mốc - một trong những người đầu tiên đã góp công làm nên địa đạo huyền thoại này. Năm nay ông Vy đã ngoài 70 tuổi, những năm 1966-1967 ông là đồn trưởng đồn công an vũ trang 140 Vịnh Mốc, đôi mắt ông mấy năm nay đã bị mờ hẳn nhưng nhắc đến địa đạo Vịnh Mốc ông trở nên hào hứng và không dứt khỏi mạch ký ức tuôn trào.

Có lẽ Vịnh Mốc có được một địa đạo còn bền vững tới ngày hôm nay phải kể tới sự thuận lợi của quả đồi chạy lan ra sát mép biển, bề ngoài quả đồi tạo với bãi biển thành một cái dốc dựng đứng, chọn vị trí này vừa dễ thoát nước, vừa hạn chế tầm nhìn và sự oanh tạc của máy bay địch.

Từ mép bờ biển cách đỉnh đồi mười mấy mét cứ thế đào sâu vào. Với những khoảng cách nhau chừng 100m mọi người lại đào một miệng giếng sâu xuống, rồi từ những đáy giếng theo một độ sâu ấn định này đào thành những quãng địa đạo nối thông với nhau.

Khi bắt tay đào, anh em cứ đào một đoạn lại thấy... hình như đào lòng vòng, địa đạo không chạy thẳng như ý định. Hóa ra anh em đào đều thuận tay phải, cứ thế mà móc cuốc về bên trái thành ra chỉ thẳng được một đoạn rồi lại cong. Khi ấy ông Vy dùng ba cây đèn đặt thành một đường thẳng, cứ nhắm thẳng mà đào sâu vào.

Hồi trước khi đào địa đạo Tân Mỹ (Vĩnh Giang), Ty thương nghiệp Vĩnh Linh còn cung cấp đèn pin để có ánh sáng phục vụ việc đào địa đạo, nhưng khi khắp huyện cùng đào thì không làm sao đủ pin. Vào lòng địa đạo thắp đèn dầu thì ngột ngạt, muội đèn gây khó thở.

Hôm ngồi kể lại chuyện đào địa đạo, mấy bác ở thôn Vịnh Mốc còn nhắc chuyện hồi đấy có anh dân quân vừa đào địa đạo chui lên, ho một tiếng khạc ra cục đờm đen sì, hoảng quá anh em bỏ vào cáng khiêng lên bệnh viện, lên đến nơi bác sĩ nghe khai bệnh xong liền ôm bụng cười sặc sụa, hóa ra cái cục đờm đen sì khạc ra ấy là muội đèn!

Để Vịnh Mốc tồn tại như hôm nay, trở thành một biểu tượng của cuộc chiến đấu của người dân đất lửa, bao nhiêu máu xương, nước mắt, mồ hôi đã đổ xuống. Không chỉ vì sự sống còn của đất liền mà còn vì cuộc chiến giữ hòn đảo Cồn Cỏ ngoài khơi cửa Tùng. Những ngày tháng ấy người dân ở đây nằm lòng khẩu hiệu: Đất liền còn thì đảo còn! Hành trình chi viện cho Cồn Cỏ chỉ chưa đầy 30km đường biển nhưng...

Ông Hồ Triêm, người thôn Vịnh Mốc, nguyên là xã đội phó xã Vĩnh Thạch vào giai đoạn đào địa đạo Vịnh Mốc, cũng như ông Lê Xuân Vy đều đã nói với tôi rằng tên gọi Vịnh Mốc bây giờ đã quen nên để như vậy, chứ để có địa đạo này không riêng gì người dân Vịnh Mốc đào mà hệ thống địa đạo Vịnh Mốc hiện nay là sự nối kết liên hoàn từ ba địa đạo.

Căn cứ hậu cần chốn tiền đồn

Một địa đạo do cán bộ chiến sĩ đồn 140 đào, một của dân quân Vịnh Mốc đào, cái còn lại của dân quân thôn Sơn Hạ. Ban đầu đây là ba địa đạo riêng lẻ, nhưng sau đó do yêu cầu phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu nên cả ba địa đạo được nối thông với nhau thành một hệ thống liên hoàn dài hàng cây số, nhiều tầng sâu khác nhau và có 13 cửa, trong đó có bảy cửa thông ra biển và sáu cửa thông lên đồi. Chưa kể chạy quanh địa đạo là hệ thống hào giao thông dài 8.200m.

Điều đặc biệt trong hệ thống hơn 100 địa đạo - làng hầm ở Vĩnh Linh là các tầng ngầm với độ sâu khác nhau: tầng 1 dành làm nơi sinh sống của đồng bào; tầng 2 là nơi đóng trụ sở của đảng ủy - ủy ban và ban chỉ huy lực lượng vũ trang; tầng 3 chính là kho hậu cần, vị trí an toàn nhất cất giữ hàng ngàn tấn hàng hóa, vũ khí đạn dược đưa từ hậu phương miền Bắc vào cất giữ, rồi từ đây đêm đêm theo thuyền ra tiếp tế chi viện cho đảo Cồn Cỏ và cuộc chiến đấu của đồng bào ở bờ nam...

Để đưa hàng ngàn mét khối đất đỏ bazan đào lên đem đi đổ sao cho địch không phát hiện cũng đã là một chuyện gian nan. Trong lúc cánh đàn ông lo việc đào địa đạo thì phần việc đưa đất đi đổ được chị em gánh vác. Đêm đêm đất được đổ ra biển, qua một đêm sóng biển đánh tan vào lòng, đêm mai từ dưới những tầng sâu, từng rổ đất lại được chuyền lên mặt đất, lại mang ra biển, phải hàng triệu rổ đất như thế, cả Vĩnh Linh ước tính gần 4 triệu mét khối đất được đào lên.

Một sáng kiến của ông Lê Xuân Vy đến bây giờ vẫn được bà con nhắc là việc cất giữ gạo để nấu cơm cho nhân dân cũng như các lực lượng vũ trang, bán vũ trang tại địa đạo. Ban đầu gạo được cất dưới tầng sâu cho an toàn nhưng trong đất sâu độ ẩm cao, gạo rất dễ bị mốc. đã thế mỗi lần lấy gạo nấu cơm từ tầng này đến tầng khác đi lại rất mất thời gian.

Ông Vy đã nghĩ ra cách đào hầm chứa gạo gần trên mặt đất nhưng ngụy trang kỹ, không cho địch phát hiện. Gạo để trên cao không bị mốc, dễ chống ẩm, từ hầm gạo này đặt các ống cao su dẫn chảy về các bếp. Mỗi lần nấu cơm chỉ việc mở vòi ra cho gạo chảy vào nồi, lấy đủ nấu là gập vòi lại, một điều ngỡ rất giản dị nhưng những ngày tháng ấy là cả chuyện sống còn của hàng ngàn người dân Vịnh Mốc.

Rồi chuyện giếng nước, chuyện nhà vệ sinh dưới lòng đất, cả cách nấu ăn sao cho khói bếp không bay lên trên mặt đất mà lại không gây ngạt dưới lòng địa đạo đều phải tính.

Cái khó ló cái khôn, những ngày tháng ấy để lo cho cuộc chiến đấu ngay nơi mình đang ở đã là gian khó, vậy mà những người dân Vịnh Mốc còn phải lo cho cả hòn đảo nhỏ Cồn Cỏ ngoài khơi Vịnh Mốc. Đêm đêm những con thuyền nhỏ chạy bằng buồm và chèo tay âm thầm vượt mấy chục cây số chở hàng ra đảo. Những ngày địch điên cuồng đánh phá, chặn đường ra đảo, những ngư dân từ địa đạo Vịnh Mốc này đã lập thành đội cảm tử đi chi viện.

Hàng ngàn tấn vũ khí, kể cả pháo 75, cao xạ 37 li, lương thực vật dụng đã được những chiếc thuyền gỗ chạy buồm chèo tay đơn sơ chở từ đất liền ra, đủ cho các chiến sĩ ngoài đảo sống không đến nỗi thiếu thốn và chiến đấu liên tục hàng hai ba năm.

Nhưng cái giá của mỗi viên đạn, mỗi hạt gạo đều phải tính bằng máu. Hàng trăm gia đình ở các xã ven biển có người hi sinh hoặc bị địch bắt đi mất tích. Có một số đội sản xuất gần như tất cả mọi người trong đội quấn khăn tang.

Tôi biết đêm nay, cũng như chúng tôi, ngồi trên doi đất này có những ông bố bà mẹ, những người vợ, những đứa con cũng không ngủ. Lúc chập tối họ đã bốc hàng từ địa đạo lên thuyền cho người thân chở ra đảo.

Bây giờ họ ngồi trong hầm, hướng ra biển, lắng nghe, chờ đợi với tất cả nỗi lo lắng, hồi hộp...

(Trích Ký sự miền đất lửa)

Hành trình máu…

Thật ra quân Mỹ cũng không quá ngây thơ để không biết rằng hòn đảo Cồn Cỏ bé tí nằm ngay trước mũi chúng lại đủ đạn đủ gạo đánh trả kiên cường suốt ngày này tháng khác với hàng trăm máy bay tàu chiến thì chỉ có thể nhờ vào sự chi viện của đất liền. Và đấy phải là nơi gần nhất từ bờ ra đảo.

Vịnh Mốc ra Cồn Cỏ gần hơn từ Cửa Tùng ra Cồn Cỏ khoảng 2km (28km so với 30km). Hai kilômet bây giờ với thuyền máy công suất cao không là gì cả, nhưng những năm ấy chỉ với thuyền buồm mỏng mảnh, ngược gió phải chèo tay thì đấy là một khoảng cách đáng kể.

Và thế là máy bay ngày ngày quần nát vùng biển phía đông Vĩnh Linh, nhất là doi đất mũi Lài rất gần Cồn Cỏ kia. Bằng mọi giá chúng phải chặn đường tiếp tế.

Mùa hè năm 1965, khi đường tiếp tế giữa đất liền và đảo gần như bị phong tỏa, máy bay tàu chiến thay nhau suốt ngày chặn từ biển. Đảo đánh tín hiệu nguy ngập vào đất liền vì gạo hết, đạn thiếu, nước ngọt cũng cạn kiệt vì bể chứa nước ngọt dự trữ của đảo đã bị một quả bom rơi trúng ngay trong trận đánh phá đầu tiên.

Biết tình hình đảo như thế, địch vừa tăng cường đánh phá bằng máy bay vừa vây chặt bằng tàu chiến, và kèm theo đó là “hiểm độc kế”: mang 50 ngư dân của ta bị chúng bắt trước đó thả lên đảo. Bộ đội trên đảo đã đói, đã thiếu lại phải chia sẻ với đồng bào nên lương thực và nước uống càng cạn nhanh hơn. Những ngày đảo nhỏ nguy ngập ấy Đảng ủy Vĩnh Linh phát lời kêu gọi: Tất cả vì đảo!

Biết là cuộc ra đi tiếp tế cho đảo sẽ một mất một còn nhưng những ngư dân Vịnh Mốc không thể đành lòng, hàng ngàn ngư dân vùng biển Vĩnh Linh cũng thế, họ làm đơn tình nguyện đi tiếp tế cho đảo.

Trong cuốn Ký sự miền đất lửa của đồng tác giả Vũ Kỳ Lân và Nguyễn Sinh (ông Vũ Kỳ Lân thời điểm những năm ấy là chính ủy Bộ chỉ huy quân sự đặc khu Vĩnh Linh, còn ông Nguyễn Sinh là phóng viên thường trú Báo Nhân Dân tại đây) có viết về những nhân chứng của hành trình tiếp viện cho Cồn Cỏ: .

..Cụ Mò ở Vĩnh Thạch, cả nhà ba cha con cùng đi đảo... Tháng 6-1965 hai người con của cụ là anh Tỷ và anh Triêm cùng đi một chuyến. Gặp tàu địch anh Tỷ hi sinh. Thuyền anh Triêm bị bắn chìm nhưng anh bơi được vào bờ. Cụ Mò đau khổ vì mất con trai nhưng ngay sau đó cụ lên xã xin đi thay cho con…

Đúng 40 năm sau những ngày tháng ấy, chúng tôi về lại thôn Vịnh Mốc, ngồi trong ngôi nhà ông Hồ Triêm. Trên tường nhà ông treo tấm bằng Tổ quốc ghi công mang tên liệt sĩ Hồ Tỷ - anh trai của ông - đã hi sinh trong đợt tiếp viện cho Cồn Cỏ.

Ông Triêm nay cũng đã 70 tuổi, ngôi nhà ông ngay bên chân sóng Vịnh Mốc, xen qua mấy hàng dương là tiếng sóng biển ầm ào. Ngay bên mép sóng là mộ của anh trai ông. Trong những ngày máu lửa ấy, đội tiếp viện cảm tử của Vịnh Mốc đã hi sinh 11 người. Sau hòa bình thêm nhiều người ra đi vì tuổi tác, ông Triêm là một trong vài người còn lại.

Chi viện hàng hóa cho Cồn Cỏ là những chiếc thuyền gỗ mỏng mảnh với chừng 2 tấn hàng hóa, vũ khí, mỗi thuyền sáu người gồm ba chiến sĩ bộ đội và ba dân quân. Trời sập tối liền bốc hàng hóa lên thuyền, chừng 19g thì bắt đầu căng buồm nương gió mà đi.

Chuyến đầu đoàn tiếp tế gồm 11 thuyền với nước ngọt, vũ khí, lương thực đã ra đảo an toàn. Đi về trót lọt ai cũng mừng. Tuy thuyền buồm và chèo tay nhưng thuận gió thuận nước chừng hơn 22g là đã đến Cồn Cỏ. Nhưng cũng có những đêm đi mãi trong mù sương không vào được đảo.

Phương tiện hiện đại nhất mà anh em ngư dân cảm tử trên các thuyền chi viện có được là những chiếc bộ đàm và nhờ nó để liên lạc trực tiếp với khu ủy. Những lần lạc như thế, gọi vào đất liền thường là ngay sau đó bộ chỉ huy quân sự yêu cầu anh em trên đảo bắn pháo rồi hướng dẫn anh em ngư dân nghe theo tiếng pháo nổ mà xác định phương hướng.

Nhưng nguy hiểm nhất vẫn là chuyện đụng tàu địch. Tàu sắt vây quanh đảo, dàn hàng ngang chặn giữa đảo và bờ, cái đêm ông Hồ Tỷ - anh trai ông Triêm - hi sinh là một đêm như thế. Ký ức của ông Triêm sau 40 năm tròn dường như vẫn chưa nguôi cái đêm bốn chiếc thuyền gỗ nhỏ nhoi đánh nhau với tàu sắt của địch trên đường chi viện cho Cồn Cỏ. Không ai nghĩ đến chuyện sợ chết mà chỉ sợ số vũ khí chở ra cho đảo bị rơi vào tay giặc...

Từ đó cho đến hết năm 1968 không đếm hết bao nhiêu chuyến đi, bao nhiêu vũ khí, lương thực đã được đưa ra đảo. Cuộc chiến đấu được tăng thêm sức mạnh không chỉ vì Cồn Cỏ thân yêu, mà còn để trả thù cho những người dân vô tội đất Vĩnh Linh đã bị địch ném bom vùi lấp dưới lòng địa đạo quê hương

Huyền thoại về đặc công "Việt cộng"

Với cách đánh luồn sâu, đánh hiểm, đánh trúng yếu huyệt và cơ quan đầu não đối phương, hai tiếng "đặc công" nhuốm đầy màu sắc huyền thoại.

Giày lò xo

Chướng ngại đầu tiên người lính đặc công phải vượt qua là các loại rào kẽm gai nhiều tầng, nhiều lớp như : rào bùng nhùng, rào mái nhà, rào chống B40 và cả hàng rào điện tử. Giữ kỷ lục là căn cứ Cồn Tiên - Dốc Miếu (Quảng Trị) với hàng rào dày tới 23 lớp. Bên dưới lớp rào là bãi mìn dày đặc với các loại claymore, con cóc, mìn râu, mìn lá... nhiều tầm sát thương. Người lính phải biết vận dụng đủ giác quan, từ xúc giác của tay để sờ, khứu giác để ngửi, thính giác, thị giác để để quan sát, nghe ngóng, phán đoán và cả... giác quan thứ sáu để thoát hiểm. Đó là phương châm thuộc nằm lòng "tai nghe, mắt thấy, tay sờ, chân đến và đoán đúng". Những chuyến đi trinh sát điều nghiên như vậy tuyệt đối không được để lại dấu vết. Khi đêm xuống, một tổ đặc công trườn người sát đất, lặng lẽ móc từng móc rào lên, đánh dấu, vô hiệu hóa các loại mìn, chui sâu vào hang ổ kẻ thù, giữa hàng rào lính địch tuần tra, canh gác dày đặc. Lúc trở ra, họ phải tái lập hiện trường như cũ để không bị phát hiện. Bước vào trận tấn công, nếu toán thọc sâu bị lộ, lực lượng nằm vòng ngoài có thể dùng kỹ thuật cá nhân nhảy qua từng vòng rào vào sâu cứu viện. Các phương tiện tuyên truyền của địch thường lu loa rằng đặc công Việt cộng được trang bị loài giày "lò xo" đặc chủng của Liên Xô có thể phóng xa và cao cả chục mét. Kỳ thực, đây là kỹ thuật hoàn toàn do tập luyện đến độ thành tuyệt kỹ, mà đối phương, theo cách nghĩ thông thường, không thể nào hiểu nổi.

Trị thú dữ

Vòng trong các căn cứ đóng quân, căn cứ hậu cần, kho bom đạn, kho nhiên liệu, sân bay... luôn có đám quân khuyển berger được huấn luyện để lùng sục, đánh hơi và rất hung dữ. Đây cũng là một kẻ thù đáng gờm, và như các chiến sĩ đặc công từng nói, một con berger còn đáng sợ hơn một tiểu đội lính Mỹ. Để hạ bọn thú này, có nhiều bí quyết. Cách thông thường là trước khi đột nhập, lính đặc công mặc độc một chiếc quần lót nằm phơi sương mấy đêm liền, làm mất hết hơi người, hoặc bôi vào người một loại thuốc khử mùi. Nhiều khi đặc công đang ém mình ngụy trang, chó berger đến ngửi từ đầu đến chân rồi bỏ đi. Coi như cái mũi đánh hơi nhạy bén của lũ berger không còn tác dụng. Cũng có khi phải đụng đầu trực diện, như trong trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ, bên trong có đội quân khuyển hơn 100 con. Khi phát hiện ra trinh sát ta, một con berger to như con bê lao tới. Chỉ bằng một cú xoay người và lia ngang một đòn dao găm, cổ con berger bị cắt đứt gọn.

Nào chỉ có chó, ngay cả đàn ngỗng cũng được huấn luyện thành những tên lính cảnh giới đáng sợ. Ngỗng có khả năng đánh hơi và phát hiện tiếng động dù rất nhẹ. Phản ứng của chúng là kêu toáng lên báo động và kéo cả đàn cùng tấn công. Bị vây giữa đám giặc có mỏ và có cánh này kể như phiền phức to. Tuy nhiên ngỗng lại rất sợ rắn. Lính ta chỉ cần bứt những cọng môn (dọc mùng) hay những sợi dây dài giả làm rắn. Gặp phải thứ rắn giả này, ngỗng chỉ còn biết co cổ, nằm im.

Trong các đội quân chư hầu tham chiến tại chiến trường Việt Nam, quân một nước hay sử dụng nhiều cách phòng thủ "quái chiêu" nhất. Một trong những cách đó là sử dụng rắn độc làm "hàng rào"che chắn. Tại nơi đóng quân (Long Thành), ban đêm địch thả rắn ra chung quanh vòng rào, ban ngày dùng tiếng sáo gọi rắn về, giống như các thuật sĩ Ấn Độ chuyên điều khiển rắn vậy. Đây là loại rắn rất nhỏ nhưng lại cực độc, một cú mổ có thể làm chết người trong vài phút. Đối phó lại, lính đặc công có loại thuốc kỵ rắn. Mang thuốc này theo người, coi như rắn cũng... chịu phép.

Tàng hình

Nói về tài "tàng hình" của đặc công, có rất nhiều giai thoại. Một lính địch đang phiên gác, lén che nón sắt ngồi hút thuốc. Xong, hắn ném tàn thuốc xuống lùm cỏ trước mặt và... tè luôn lên đó. Hắn nào có hiểu đám cỏ nằm im kia lại biết di động: một chiến sĩ đặc công đã áp sát, và số phận tên lính được định đoạt trong giây lát. Hoặc một đồn địch được mật báo trước có đặc công vào đánh. Tên đồn trưởng đốc thúc đám lính thuộc quyền canh gác, tuần tra cẩn mật tưởng chừng con kiến không chui lọt. Vậy mà đúng nửa đêm, đặc công đã vào trong mà kẻ địch hoàn toàn không hay biết. Đại tá Lê Bá Ước giải thích: "Đây chỉ là kỹ thuật ngụy trang đến mức tài tình. Trong bóng tối, có thể cởi trần bôi màu cho tiệp với màu đất, màu cỏ. Hoặc biết lợi dụng địa hình, địa vật để che giấu. Khi địch rọi đèn pha, lợi dụng sự phản xạ của mắt đối với ánh sáng và bóng tối, hoặc lúc hai luồng quét giao nhau, mà lính đặc công có thể nằm im hay vận động xâm nhập".

 

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận