Đăng nhập

ĐÌNH - CHÙA MIỀN BẮC

ĐÌNH- CHÙA MIỀN BẮC

  1. Chùa hương - Động Hương Tích

NamThiên Ðệ Nhất Ðộng - Chùa Hương
Ðộng Hương Tích tiêu biểu cho cả một vùng thắng cảnh. Chả thế mà Hương Tích gần như trở thành đồng nghĩa với toàn bộ cảnh đẹp Hương Sơn. Nói "đi chùa Hương" tức là nói "vào thăm cảnh Hương Sơn" nói chung , chứ không riêng động Hương Tích. Nhưng ví thử có người nào lần đầu tiên vào thăm cảnh Hương Sơn mà không vào động Hương Tích thì coi như đi không đến nơi. Từ Thiên Trù vào Hương Tích, có hai nghìn lẻ bốn mươi mét. Thế mà đi cũng thấy xa xa. ấy là đường núi có nhiều chỗ quanh co và lên dốc xuống dốc. Ði vào càng gần động thì dốc càng cao, tưởng như ông thợ Tạo cố tình làm ra thế để thử thách bước chân của người mến cảnh và cũng để treo cao giá ngọc của một cái đẹp kỳ thú, làm phần thưởng cho những người không ngại khó. Ðúng như người xưa nói: "Núi không cao thì cảnh chẳng kỳ Ðường không dài thì lòng người khôn tỏ"
Cổng Ðộng nhìn xuống Thung Châu có một quả núi hình tròn xinh. Các cụ nói rằng: Quả núi này giống như viên Minh châu trước cửa miệng con rồng động Hương. Vì vậy phải gọi thung là Thung Châu mới đúng. Cổng chùa bằng đá làm từ năm Bính Dần (1914) đến năm Ðinh Mão (1918) mới xong, do thợ đá Kiện Khê đẽo tạc. Dân các giáp trong làng thay phiên nhau khuân về khá công phu . Qua cổng xuống một cái dốc bằng đá lát thành bậc. Ðếm được tất cả 120 bậc. Hai bên lối vào cửa động , cây rừng cao ngất sum sê.
Người ta nói động Hương là cái hàm của một con rồng mà đuôi Ở tận ái nàng - Hang Nước (xã An Phú). Quả núi có động Hương là núi cao nhất, nhì trong toàn hệ Hương Sơn cao thứ nhất là núi Bà Lồ ở phía trước núi chùa Hương. Trên NÚI BÀ LỒ cũng có một ngôi chùa cổ đã đổ NÁT. (Thời trước người ta lấy gạch hòm sớ ở chùa này sang xây bậc chùa Hương).
Lòng động Hương là cái hàm rồng, rộng thênh thang, sâu hun hút. Bên dưới, bên trên, bên phải, bên trái cân đối Hòn thạch nhũ, người ta quen gọi là đụn Gạo Ở khoảng giữa, ngay gần cửa vào, có người ví với lưỡi rồng . Phía sâu vào trong là cổ họng rồng . . . ở cửa động có một tấm bia vuông tạc vào cả một tảng đá Mặt ngoài bia, khắc một bài thơ chữ Hán viết theo lối cuồng thảo, trông khá đẹp. Chữ đã tốt, văn lại hay, tác giả bài vịnh Hương Sơn này là Bùi Dị, một đại thần đương triều, đã từng đi sứ trung Hoa. Còn mấy chữ lớn: "Nam thiên đệ nhất động", vào cửa trông lên phía trên thấy ngay; đó là chữ viết của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm khắc vào đá tháng ba năm Canh Dần ( 1779) . ở chỗ cửa động vào một chút, người xưa đặt ra lối lên Trời và lối xuống âm phủ. Lối lên Trời là một cái dốc, sườn đá dốc càng leo càng cao; lối xuống âm phủ là một cái khe đi xuống hang sâu dưới đất.
Xưa kia , trước "Ðụn gạo", còn có cầu bạch . Trong động, không những "sữa mẹ" rỏ xuống mà những nhũ đá khác ở trên trần động thỉnh thoảng cũng tí tách nhỏ giọt. Bài nhật trình của một nhà thơ tên là Nguyễn Thấu viết cách đây tám mươi năm, có hai câu tả cảm giác của ông khi ở ngoài thì thấy trời tạnh, vào trong động thì thấy "mưa".
Cửa chùa cách một bước chân .
Trong mưa ngoài tạnh như ngăn nửa trời.
Bên cạnh những "công trình điêu khắc" thiên nhiên là những nhũ đá (mà người xưa tưởng tượng đặt tên những nhũ đá đụn gạo, nong tằm, né kén, chuồng lợn, ao bèo, cây vàng, cây bạc, đầu cô, đầu cậu, cửu long tranh châu) trong động còn có những công trình điêu khắc nhân tạo Ðáng chú ý là chiếc án thờ bằng đá to, Ở bốn góc có chạm hình người cởi trần đóng khố, giơ tay như đỡ cả cái bệ lên. Bệ đá của hai người cung tần nhà Trịnh tiến cúng vào chùa. Một người tên là Vương Thị Ðãng, một người tên là Trần Thị Khoan. Giá trị nhất về mặt điêu khắc, không những trong động Hương Tích, kể cả toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn, là pho tượng Phật Bà Quan âm bằng đá xanh tạc vào thới Tây Sơn. Sức quật cường của dân tộc đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghệ thuật, kể cả hiện thực đậm đà hơi thở con người vào tới tòa sen u tịch. Người tạc tượng không nhắm mắt khuôn theo những ước lệ đã sẵn có về tượng Phật là mặt phải vuông, tai phải to, mà một phần dựa vào câu chuyện Nôm về Bà Chúa Ba, rút những nét đẹp về những con người thực tế để tạc tượng Phật bà Quan âm.
Pho tượng đá Quán âm tọa sơn là một trong 32 thị hiện của Bồ Tát Quán Thế âm (Avalo-kitesvara). Tượng có dáng người thon thả, mặt hơi trái xoan, cổ cao ba ngấn đầu đội mũ Tì Lư, nhưng lại có búi tóc và tóc mai , sau lưng cũng có hai món tóc buông xuống tà áo mềm mại. Chỗ ngồi là một tảng đá sù sì, lại cũng giống như một gốc cổ thụ. Chân trái để trần, đặt lên bông sen nở, chân phải co lên, hai chân co duỗi thật là thoải mái. Tay trái cầm một viên minh châu. Bên cạnh bông hoa sen dưới chân, lá sen tỏa ra mềm mại như có gió lay động.
Người thợ tài tình đã hoàn toàn làm chủ được chất liệu đá mà mình xử dụng. Theo giới nghiên cứu mỹ thuật PG thì đây là pho tượng có phong cách Việt thuần túy nhất tại Hà Tây. Cũng cần nói chút ít lịch sử xung quanh việc tạc tượng . Cứ theo tấm bia vuông trong động để lại thì pho tượng này do một viên quan võ tên là Nguyễn Huy nhật, tước Nhật Quan Hầu, và vợ là Nguyễn thị Huề mua đá thuê thợ tạc vào năm Quý Sửu (1793), Tây Sơn Cảnh Thịnh năm thứ hai. TỔ tiên của Nguyễn Huy Nhật trước kia đã đúc một pho tượng đồng to lắm, đặt trong động, nhưng đến năm Bính Ngọ (1786) "gặp cơn binh lửa, đồ đồng trong này mất sạch".
Sự việc Năm Binh Ngọ, Các cụ ở Hương Sơn bây giờ vẫn còn nhớ và nhắc lại là cống Chỉnh phá tượng đồng". Cống Chỉnh tức là Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân vật nổi tiếng quay quắt, sống vào thời Lê - Trịnh - Tây Sơn , trước theo Tây Sơn rồi sau phản bội Tây Sơn, rắp tâm học theo kiểu chúa Trịnh đoạt quyền nhà Lê để (không làm đế thì cũng làm vương). Sách Hoàng Lê nhất thống Chí cho biết: " Lúc ấy, tiền tệ khan hiếm, Chỉnh bèn xin với triều đình ra lệnh thu vét hết tượng đồng, chuông đồng ở các chùa miếu, đem về kinh sư, mở lò đúc tiền. Rồi chính Chỉnh thả cho thủ hạ đi về khắc nơi cướp bóc chuông tượng của các thôn ấp . . . Chỉ riêng có pho Tượng thần bằng đồng đen ở quán Trấn Vũ, phía bắc kinh thành , là chúng không dám lấy mà thôi".
Pho tượng do Cống Chỉnh phá, to đến mức độ chỉ một chân tượng còn sót lại người ta đã đúc được một bộ ngũ sự để thờ (lư, đỉnh) đèn, nến, lọ hoa). Thế là tượng đồng bị phá, năm 1793 mới có tượng đá thay thế. Ðộng Hương Tích là điểm chính của toàn bộ khu Di tích thắng cảnh chùa Hương. Sự kiến tạo tài tình của thiên nhiên cùng với bàn tay khéo léo của tiền nhân, nơi trác tích của Bồ Tát Quán Thế âm tu hành và thành chính quả mãi mãi còn lưu dấu thơm với non sông đất Việt.
"Dù cho sông cạn đá mòn
Quan âm Nam hải vẫn còn dấu thiêng".

  1. Đình Tây Đằng

Ngôi đình thờ Tản Viên, một trong bốn vị thánh bất tử của Đạo giáo Việt Nam, một trong những nhân vật hàng đầu của thần thoại Việt — Mường cổ.
Xứ Đoài có nhiều ngôi đình cổ, có giá trị về kiến trúc và điêu khắc như: đình Chu Quyến (xã Chu Minh, huyện Ba Vì), đình Đại Phùng (xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng), đình Tường Phiêu (xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ), đình So (xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai)… Và đình Tây Đằng ở huyện Ba Vì cũng thuộc loại kiến trúc nổi tiếng như vậy.
Ngôi đình thờ Tản Viên, một trong bốn vị thánh bất tử của Đạo giáo Việt Nam, một trong những nhân vật hàng đầu của thần thoại Việt — Mường cổ. Theo truyền thuyết, Tản Viên là thần núi Ba Vì — Sơn Tinh, được vua Hùng thứ 18 gả công chúa Ngọc Hoa, bị Thủy Tinh dâng nước, kéo thủy quái đánh trả mối hận không lấy được con gái vua Hùng. Tản Viên được coi là một trong 50 con của Âu Cơ — Lạc Long Quân theo mẹ lên núi, có công giúp vua Hùng thứ 18 bình Thục Phán. Tản Viên còn là hình tượng nói lên sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong quá trình trị thủy, tiến hành nghề trồng lúa nước để sinh tồn và phát triển.
Phía trước đình Tây Đằng là mảnh đất rộng làm nơi sinh hoạt cộng đồng trong ngày hội. Tiếp đó là hồ bán nguyệt ở ngay trước nghi môn trụ. Vẻ đẹp của đình Tây Đằng không phải ở khung cảnh thiên nhiên mỹ lệ, cũng không phải ở quy mô đồ sộ mà là ở nghệ thuật điêu khắc chạm trổ, trang trí còn lưu lại trên các cột, vì kèo, xà, đấu, ván long, lá gió… Ngôi đình không có tòa ngang dãy dọc. Ngoài hai ngôi nhà tả mạc, hữu mạc ở hai bên sân thì đình chỉ có mỗi một nếp nhà kiểu chữ “nhất”, không có hậu cung, cũng không có tiền tế. Nhưng chính ở ngôi đình này, chúng ta được chiêm ngưỡng tài năng tuyệt vời của những người thợ mộc đã đạt tới trình độ nghệ sĩ dân gian. Đến nay vẫn chưa biết chính xác đình được xây dựng năm nào, chỉ biết rằng so sánh với đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) thì phong cách và nội dung chạm trổ có nhiều nét giống nhau. Mà đình Lỗ Hạnh có ghi niên đại tuyệt đối là năm 1576. Như vậy, đình Tây Đằng có thể được xây dựng vào thế kỷ 16.
Đình có 5 gian, 4 mái. Các đầu đao đều uốn cong, có gắn long, li, quy, phượng bằng đất nung màu gan trâu. Bên trong đình dựng kiều chồng giường với 48 cột lớn nhỏ, chia thành 3 gian chính, 2 gian chái, có hàng hiên bao quanh. Các xà, đấu, kèo, cốn đều có chạm khắc. Các hình rồng, phượng và hoa lá chiếm phần lớn trong các đề tài trang trí. Rồng ở đây mang phong cách thời Trần, hầu hết hình vóc nhỏ, có mào, râu tóc thưa thớt, khúc uốn không cong mấy, có thêm cặp sừng và tai của giống thú bốn chân. Chim phượng ở tư thế múa cánh xòe cả hai bên như hình trăng lưỡi liềm, đầu to, cổ mập mạp, mỏ ngắn và đuôi cũng ngắn. Loại hình điêu khắc này là nét riêng biệt của đình Tây Đằng, rất ít thấy ở các đình, chùa khác. Hoa lá được chạm khắc khá nhiều, phổ biến nhất là những hình hoa cúc. Cúc ở đây gồm những cánh hoa nở xòe, ở giữa có những lớp cánh khác còn cụp lại. Bên cạnh có những lá cúc được cách điệu đôi chút. Có cả hoa phù dung với các cánh nở xòe, uốn sang hai bên khá cân đối bằng những đường cong thanh thoát. Song có lẽ đặc biệt nhất và độc đáo nhất trong nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đình này chính là những hình chạm trên các bức cốn, các ván long… phản ánh sinh động nhiều mặt đời sống, lao động, vui chơi giải trí của người dân nơi thôn dã ngày trước. Chỉ với vài ba nét đục giản dị mà người thợ mộc nghệ sĩ đã để lại trên gỗ bao cảnh đời khác nhau. Từ cảnh lam lũ của người tiều phu đốn củi, đến cảnh vất vả như người mẹ gánh con trong đôi thúng, hào hứng như người làm trò trồng cây chuối, mạnh mẽ như cảnh đấu hổ… Có một bức chạm tạm đặt tên là “Chèo thuyền chuốc rượu” có sóng làm thuyền chòng chành, có cả mây vấn vương bên thuyền, tất cả như đang lướt theo nhịp đung đưa, trong một bố cục không phụ thuộc vào luật phối cảnh xa gần của hội họa. Gợi cảm như cảnh Bà Banh (người đàn bà ngồi xổm gần như khỏa thân), cảnh ông già ngồi chải tóc cho người vợ trẻ… Điểm xuyết với linh vật và con người là các cây có thiêng, mây xoắn cuộn tròn được chạm trổ rất kỹ. Thông qua các cảnh đó, người xem thấy được ước vọng cầu nước, mong được mùa lúa bội thu của cư dân nông nghiệp.
Như một di sản văn hóa dân tộc, đình Tây Đằng là quà tặng của tổ tiên để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đình Tây Đằng ở không xa trung tâm Thủ đô Hà Nội, là điểm du lịch hấp dẫn, đang thu hút được nhiều du khách trong nước và quốc tế. Điều này xem ra rất “hợp ý, hợp cảnh” khi hiện nay huyện Ba Vì đang có kế hoạch phát triển du lịch văn hóa và du lịch sinh thái - thế mạnh của huyện.

  1. Đình và chùa Thái Cam

Ngôi đình và chùa ở thôn Tân Lập - Tân Khai thế kỉ XIX, nay ở số nhà 44 phố Hàng Vải, phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đình thờ thần Tô Lịch, thần Bạch Mã (còn gọi là thần Long Đỗ) và thần Thiết Lâm, là những vị thành hoàng bảo hộ thành Thăng Long xưa, từ khi Lý Thái Tổ dựng đô tại Thăng Long (1010). Theo truyền ngôn của dân địa phương, đình còn gọi là đình Rổ Rá vì trước đình xưa kia là nơi bày bán đồ đan. Theo tấm bia năm Minh Mạng 21 (1840) và tấm bia Bản tự chân chuyên bi kí khắc năm 1845 thì đình Thái Cam được xây dựng năm 1822, là năm thành lập thôn Tân Khai, trên khu đất hoang phía

Đông thành cũ thời Lê. Sau đó, đình Thái Cam được trùng tu, sửa chữa nhiều lần, lớn nhất là vào năm 1851. Nay đình chỉ còn hậu cung xây kiểu chữ Công, 2 tầng, 8 mái, đầu hồi bít đốc, quay về hướng Đông Nam. Trong đình hiện nay còn nhiều câu đối nói lên sự uy phong của các vị thần được thờ tự:
Ngự từ trên trời xuống, thành này đã mở ra từ trước thời Lý
Một tiếng dậy đất sơn hà, vững chãi như cũ mà cười Cao Biền
Hay: Từ trên vượng khí làm sáng rực núi Nùng núi Lĩnh như mặt trăng
Cùng phù trợ cuộc đời, tiếng linh thiêng dài như sông Nhị
Chùa Thái Cam có tên chữ là Tân Khai linh tự được xây dựng từ năm Nhâm Ngọ (1822) và cũng là năm thành lập thôn Tân Khai. Do vậy đình và chùa Thái Cam làm thành một quần thể di tích. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, ngay từ những ngày đầu, chùa đã bị giặc phá huỷ. Những gì còn lại ngày nay là do lần trùng tu vào năm 1951. Ngoài thờ Phật, chùa còn thờ Trần Hưng Đạo và thờ Mẫu. Cổng chính của chùa quay ra phố Hàng Vải, cổng xây kiểu nhà cầu 4 trụ mái bằng, trên đắp cuốn thư đề chữ Tân Khai linh tự. Chùa chính gồm tiền đường và hậu cung, trước mặt tiền đường là y môn chạm thủng kiểu chân quỳ dạ cá, trên cùng là rồng chầu mặt trời, dưới là đôi chim phượng hàm thư, long mã cùng đôi rùa nhỏ. Hai bên tường hồi tiền đường được gắn 13 bia hậu ghi lại công đức sửa chữa chùa. Điểm xuyết trong chùa là những phướn đại đặt trong bảo tán, là vật quý của nhà chùa. Chùa hiện còn 29 pho tượng và nhiều đồ tế tự có giá trị.
Đình và chùa đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử Nghệ thuật ngày 09/01/1990.

  1. Chùa Cầu Đông

Chùa Cầu Đông hiện toạ lạc ở số 38B phố Hàng Đường, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Trước thế kỉ XVIII, chùa có tên là Đông Hoa Môn nội tự. Đây là ngôi chùa duy nhất ở thành phố Hà Nội có thờ Thái sư Trần Thủ Độ.
Lịch sử
Chùa Cầu Đông là chùa của hai làng Đông Hoa Môn (khoảng phố Thuốc Bắc, dãy số lẻ) và Hậu Đông Hoa Môn (đầu phố Chả Cá). Trước đây, phố Hàng Đường thuộc địa phận của hai thôn Vĩnh Thái (đầu phố) và Đông Hoa Nội Tự (cuối phố), tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương. Đến giữa thế kỉ XIX, thôn Vĩnh Thái đổi tên thành Vĩnh Hanh, còn thôn Đông Hoa Nội Tự hợp nhất với thôn Đông Hoa Môn và Hậu Đông Hoa Môn thành thôn Đức Môn, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Dấu vết của các thôn xóm này hiện còn lưu lại đến ngày nay là các kiến trúc như đình Vĩnh Hanh, chùa Cầu Đông, đình Đức Môn. Từ khi mới dựng, chùa Cầu Đông đã qua nhiều bước thăng trầm cùng lịch sử và cũng đã được trùng tu nhiều lần.
Theo các nguồn thư tịch cổ, phố Hàng Đường được hình thành rất sớm và trong tiềm thức của mỗi người dân Hà Nội, phố Hàng Đường luôn gắn liền với địa danh chợ Cầu Đông, như câu ca dao:
Cầu Đông vẳng tiếng chuông chùa
Trăng soi giá nến, gió lùa khói hương
Mặt ngoài có phố Hàng Đường...
Hiện chùa còn lưu giữ bốn tấm bia đá có niên đại 1624, 1639, 1711, 1816. Đây là những năm chùa được trùng tu lớn. Bia dựng năm 1624 do nhà sư Nguyễn Văn Hiệp chủ trì tạo dựng có ghi việc chính như mua thêm đất, mở rộng khuôn viên và mở mang chùa. Văn bia còn ghi rõ vị trí ngôi chùa là "phía trên giáp cầu đá, dưới giáp đường Diên Hưng, trước mặt giáp đường cái". (Diên Hưng xưa, nay là khu vực từ phố Hàng Ngang đến phố Hàng Đường). Được biết, thời kì này chưa có tên phố Hàng Đường nhưng đã có tên đường Diên Hưng. Đây là một phường buôn sầm uất của vùng đất Thăng Long với sự giao thương, buôn bán rộng rãi của các thương nhân nước ngoài như Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Trung Quốc ... Thời bấy giờ, sông Tô Lịch còn nằm trong nội thành Thăng Long nên để đi qua sông Tô (tên gọi tắt của sông Tô Lịch), người dân thôn Đông Hoa Môn đã bắc một chiếc cầu đá, gọi là Cầu Đông (cầu của cửa Đông - một trong bốn cửa của kinh thành Thăng Long). Bên kia cầu, một bên là chợ Cầu Đông, một bên là chùa Cầu Đông. Tấm bia đá có tiêu đề Đông Môn tự kí (Bài kí về chùa Đông Môn), được dựng vào năm Vĩnh Tộ 6 (1624), cũng viết: “Chùa Đông Môn là nơi danh lam cổ tích, cảnh đẹp rõ ràng. Sông Nhị Hà chầu phía trước, muôn ngày dòng nhánh toả lượn mênh mông, thành Thăng Long nằm phục phía sau”. Tấm bia còn ghi rõ vị trí thửa ruộng mà vị sư trụ trì ngôi chùa lúc đó là Đạo Án dùng vào việc mở mang ngôi chùa như sau: “Bốn phía thửa ruộng ấy: trên giáp cầu đá, dưới giáp phường Diên Hưng, phía trước giáp đường cái, phía sau giáp Đông Ngục”.
Kiến trúc
Hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn không biết chính xác thời gian khởi dựng chùa Cầu Đông. Tuy nhiên, việc trùng tu, sửa chữa chùa, từ triều Lê đến triều Nguyễn đều được tư liệu của chùa ghi lại cụ thể, rõ ràng. Qua việc khảo cứu các tấm bia đá cổ còn tại chùa, chúng ta biết chùa có bốn lần được trùng tu, sửa chữa lớn như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, dấu ấn kiến trúc hiện nay là được trùng tu vào năm 1817.
Chùa Cầu Đông có bố cục hình chữ Công, gồm năm gian tiền đường và ba gian ống muống nối liền với ba gian nhà phía trong để hình thành nên không gian nhà tam bảo. Xung quanh chùa còn có các công trình kiến trúc phụ cận như phía trước chùa chính là tam quan nằm sát với hè phố Hàng Đường, phía sau là một sân nhỏ dẫn tới nhà Mẫu, nhà Tổ. Bên phải là nhà ngang, bên trái là đình Đức Môn.
Trang trí trong chùa thể hiện những đường nét chạm trổ đẹp, công phu, cầu kì, nét chạm thuần hoà, tinh xảo. Các trang trí tập trung chủ yếu trên hai chiếc đầu dư, hai bức cốn mê của bộ vì kèo tiếp giáp gian giữa toà tiền đường và toà ống muống với các chủ đề, hoạ tiết quen thuộc như hình đầu rồng, mặt hổ phù, tứ linh (long, li, qui, phụng) đan xen với các hình vân mây, cỏ cây, sóng nước. Điểm đặc biệt của các hoạ tiết trang trí này là những người nghệ nhân xưa đã kết hợp các phương pháp chạm nổi, chạm bong, chạm lộng (lối chạm xuyên qua gỗ) để tạo nên một khối ken dày những hoạ tiết trang trí.
So với những ngôi chùa cổ khác tại Hà Nội, chùa Cầu Đông được biết đến là ngôi chùa còn lưu giữ được nhiều tượng Phật cổ có giá trị với gần 60 pho tượng tròn. Cổ vật quan trọng nhất của chùa là ba pho tượng Tam Thế, thể hiện ở ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Cả ba pho đều được tạo tác vào nửa đầu thế kỷ XVIII, hình thức gần giống nhau. Đây là 3 pho tượng đẹp, quý hiếm, đạt giá trị nghệ thuật cao, được thể hiện các nét trang trí như vòng đeo cổ (anh lạc), khuôn mặt nữ, mang đầy đủ quy chuẩn của tượng phật thế kỷ XVII - XVIII ở nước ta. Trong thập điện còn có pho tượng Tuyết Sơn, nét điêu khắc đẹp, tinh tế, gần gũi với tượng Tuyết Sơn của chùa Tây Phương (Thạch Thất - Hà Tây cũ), chùa Bà Nành (Gia Lâm - Hà Nội). Đây là một tượng quý hiếm trong nghệ thuật tạo tác của người Việt. Ngoài ra, trong chùa còn có các pho tượng khác như tượng Di Lặc, Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn, các pho tượng Mẫu cũng như tượng thờ Thái sư Trần Thủ Độ và vợ là bà Trần Thị Dung.
Chùa Cầu Đông là một điểm tham quan thú vị thu hút nhiều du khách khi đến với phố cổ nói riêng và Hà Nội nói chung. Với những giá trị lịch sử, kiến trúc của mình, chùa Cầu Đông đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) quyết định xếp hạng di tích Lịch sử Văn hoá ngày 5/9/1989.

  1. Chùa Vĩnh Trù

Chùa Vĩnh Trù toạ lạc tại số 59 Hàng Lược, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng từ thế kỉ thứ XIX. Chùa vốn trước kia là đình, sau thờ Phật nên trở thành chùa như hiện nay.

Lịch sử - Kiến trúc
Vào thời Lê, chùa thuộc đất thôn Phủ Từ và thôn Vĩnh Trù, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên. Thời Nguyễn, chùa thuộc tổng Đồng Xuân, sau đổi thành phố Hàng Lược. Chùa thờ Phật và Tứ vị Hồng Nương. Theo truyền thuyết, Tứ vị Hồng Nương là cung phi của triều Tống (Trung Quốc). Gặp năm nhà Tống loạn lạc, vua tôi thua chạy. Bốn mẹ con chạy giặc về đến vùng biển, nhờ một nhà sư cứu thoát. Nhà sư thấy bà mẹ là Hoàng phi xinh đẹp nên trêu ghẹo. Bà cự tuyệt, nhà sư xấu hổ đâm đầu xuống biển tự vẫn. Bốn mẹ con biết không sống được và cảm ơn nhà sư cứu sống trước đây, cũng nhảy xuống biển chết theo. Xác bốn người trôi dạt tới cửa Càn Hải (Nghệ An). Dân làng vớt lên chôn cất, lập đền thờ gọi là “Đền Cờn Tứ vị”. Các bà hoá thánh âm phù cho dân. Dân miền sông biển thường đặt ban thờ “Tứ vị” trong khoang thuyền để cầu sóng yên gió lặng. Đời Trần, “Tứ vị” giúp các vua đánh tan giặc Nguyên Mông nên càng thiêng liêng. Hiện nay có nhiều nơi lập đền thờ “Tứ vị”, riêng ở Hà Nội, dọc sông Hồng và sông Tô Lịch có 10 đến nơi thờ “Tứ vị Hồng Nương”.
Ngoài Tứ vị Hồng Nương theo truyền thuyết kể trên, chùa thờ Tam Thế Phật và các tượng như tượng Bồ Tát, tượng Quan Âm Nam Hải kết ấn chuẩn đề, tượng Cửu Long.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu không xác định chính xác cụ thể về niên đại khởi dựng. Tuy nhiên, theo sách Đường phố Hà Nội, chùa Vĩnh Trù ra đời vào khoảng thế kỉ XIX. Ngoài ra, qua các tư liệu dân gian cũng như những tài liệu còn lưu tại chùa thì chùa trước kia là đình. Khi bắt đầu thờ Phật, đình được gọi là chùa. Năm 1950, vị sư trụ trì đầu tiên về chùa và trùng tu chùa, xây thêm nhà Tam bảo và nhà khách. Hiện nay, kiến trúc chùa bao gồm các công trình là cổng tam quan theo kiểu nghi môn, chùa chính với ba nếp nhà theo hình chữ Tam, mỗi nếp được làm thoáng, trên có máng che để thoát nước nên toàn bộ chùa tạo thành một không gian thống nhất. Các nếp nhà xây dựng theo kiểu đầu hồi bít đốc, có các bộ vì riêng, trốn toàn bộ cột trên xà đai nên nhà thoáng rộng. Nhà tiếp khách bên ngoài, ở giữa có ban thờ đặt hai ngai thờ bài vị quan giám sát, bên dưới còn một ban thờ các quan văn, võ. Chính giữa ban thờ có y môn rồng chầu hổ phục chạm thủng và bong kênh tạo nên nét sống động của hoa lá. Nếp giữa thờ Phật, được xây theo kiểu giá chiêng, có kẻ nối với toà bên, kẻ trang trí lá hoá rồng, bên trong là bệ thờ đặt tượng Phật. Nếp trong (hậu cung) với kết cấu kiểu vì giá chiêng chồng rường, được ngăn cách với phía ngoài bằng một cửa võng và 2 cửa ra vào. Toà này thờ “Tứ vị Hồng Nương”, “Tam toà Thánh Mẫu”, tượng Ngọc Hoàng, tượng cô cậu… Bức cửa võng ở đây được trang trí tứ linh, tứ quý và chạm thủng rất tinh tế. Hai bộ cửa được chạm khá kỹ, phần trên chạm thủng các hình mây, lá hoá rồng. Những nét chạm đều rất linh hoạt. Trong hậu cung của chùa còn có câu đối:
Ngàn năm hương hoả ơn nhờ Tống
Một mộng phong ba vẫn giúp Trần
Chùa còn giữ lại nhiều di vật như sắc phong, ngai thờ bài vị, tượng Phật, câu đối.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chùa được chọn làm cơ sở kháng chiến, là địa điểm cứu thương. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt.
Chùa Vĩnh Trù không lớn, quy mô kiến trúc cũng không nổi bật lắm so với các di tích chùa cổ trong khu vực phố cổ Hà Nội. Tuy nhiên, chùa lại mang dáng dấp rõ nhất của kiến trúc, cách thờ tự cổ truyền của các di tích lịch sử ở Hà Nội. Chùa đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hoá vào tháng 1/1994.
Hiện trạng
Chùa Vĩnh Trù là một ngôi chùa cổ, là di tích văn hoá của thành phố Hà Nội, toạ lạc ngay trong khu vực phố cổ. Thế nhưng, hiện nay, ngôi chùa đang bị chiếm dụng ngày càng trầm trọng. Theo đó, cổng chính của chùa luôn phải đóng, phật tử vào chùa phải len qua cổng phụ bên phải. Cổng phụ bên trái thì bị lấn chiếm làm nơi bán hàng ăn. Phía bên trong cổng phụ là nơi ở của 6 hộ dân, trong đó hộ có diện tích lớn nhất là 24m2. Ngoài ra, khuôn viên chùa cũng bị chiếm dụng làm bãi giữ xe. Khu vực cổng chùa bị các hộ dân xung quanh chiếm làm nơi bán thịt chó. Ban thờ ngay sát cổng chùa được một hộ dân tận dụng làm nơi ở và buôn bán. Thậm chí, bàn thờ ngoài trời của chùa cũng bị các hộ buôn bán biến thành nơi để bát đĩa và ống đũa phục vụ khách ăn uống. Theo trụ trì chùa cho biết, nhà chùa đã nhiều lần đề nghị chính quyền can thiệp nhưng sự việc không được giải quyết thoả đáng.
Chùa Vĩnh Trù là chùa cổ, lại là nơi có nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá, nghệ thuật. Tuy nhiên, với hiện trạng như trên thì việc tu bổ chùa gặp rất nhiều khó khăn. Điều này thể hiện qua việc ngôi chùa đang bị xuống cấp nghiêm trọng, nhiều hiện vật quý đang đứng trước nguy cơ bị biến mất hoàn toàn. Được biết, năm 2004, UBND quận Hoàn Kiếm đã có quyết định di chuyển các hộ dân trong chùa Vĩnh Trù để tôn tạo, tu bổ, sửa chữa di tích (kế hoạch từ năm 2005 - 2010) nhưng đã 4 năm qua kế hoạch này cũng chỉ nằm trên giấy

  1. Chùa Đồng Quang

Ngôi chùa nằm trên địa phận hai trại Nam Đồng và Thịnh Quang, huyện Hoàn Long, nay là phố Tây Sơn, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nơi đây xưa kia là chiến trường quân Quang Trung do Đô đốc Long chỉ huy tiêu diệt bộ phận quân Thanh đồn trú ở trại Khương Thượng do Sầm Nghi Đống chỉ huy. Đồn Khương Thượng bị phá huỷ, còn tướng giặc phải thắt cổ tự tử. Niên hiệu Thiệu Trị 7 (1847), Tổng đốc Hà Nội là Đặng Văn Hoá xin cấp 15 mẫu ruộng công ở hai trại này làm nơi quy táng hài cốt quân Thanh cùng các mồ mả hoang. Tháng ba năm Tự Đức 4 (1851), Tri huyện Thọ Xương Phan Huy Kiệm cho xây chùa để làm nơi cúng cô hồn, ghép hai tên trại là Nam Đồng và Thịnh Quang để đặt tên cho chùa là chùa Đồng Quang. Năm Đồng Khánh 2 (1887), Nhà nước lại cấp tiền cho chùa để chôn cất những mồ mả vô thừa nhận và trùng tu chùa. Năm 1915, vị sư trụ trì làm thêm nhà hữu vu và xây cổng. Chùa chính có kiến trúc chữ đinh gồm tiền đường và thượng điện. Nhà tiền đường 5 gian, bờ nóc đắp hổ phù đội toà sen, có rồng chầu hai bên. Kiến trúc vì mái kiểu chồng rường, giá chiêng, hạ kẻ, phần trên của hai vì hồi theo kiểu kẻ chuyển. Nền chùa lát gạch vuông. Thượng điện ba gian chạy dọc, vì kèo chồng rường giá chiêng, xây bệ cao dần để bài trí tượng Phật. Hiện chùa có 37 pho tượng, 14 pho tượng mẫu và bốn pho tượng ở gian thờ vua Quang Trung. Nghệ thuật trang trí thể hiện ở các cốn rường, kẻ, câu đầu theo các đề tài hổ phù, rồng lá, mây lá, vân mây, riềm mái có hoa giấy, mai lão, trúc lão. Hai cốn nách vì giữa chạm nổi rồng ẩn trong mây, thuộc nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỉ XX. Chùa có 14 bia đá và hai quả chuông.
Chùa đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử Nghệ thuật Kiến trúc ngày 27/12/1990.

  1. Chùa cổ Bối Khuê

Chùa được xây dựng ở vị trí ( tuyệt đẹp ngay giữa thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, cách thị xã Hà Ðông chừng 13km. Tổng diện tích đất chùa khoảng 5.000m2. Chùa Bối Khê không những là di tích lịch sử quý về niên đại mà còn có kiến trúc bằng gỗ rất đẹp. Chùa được xây dựng từ năm 1382, thời nhà Trần, đến nay đã hơn 600 năm. Chùa thờ Nguyễn Ðình An còn được gọi là Ðức Thánh Bối, là người địa phương đã có công đánh bại quân xâm lược phương Bắc.
Kiến trúc chùa Bối Khê có tiền đường, hành lang tả hữu, nhà tam bảo đều bằng gỗ dựng theo hình chữ quốc. Hậu đường được kết nối với điện thờ Thánh có hình chữ công. Toàn bộ kiến trúc được sắp xếp cân xứng hai bên theo một trục chính.
Từ đường cái nhìn vào, cách cổng chùa 50m phía tay trái là lăng Quận công Lê Tiến Quý, người thôn Bối Khê (thời Lê Trung Hưng), bên phải là đền thờ Ðức Ông. Trước cổng chùa là sân đất rộng rãi, có cây đề, cây đa cổ thụ, đường kính ba vòng tay người ôm không xuể.
Cổng chùa có 5 cửa, phía trên cửa chính có dòng chữ Ðại Bi Tự. Qua cổng chùa thấy ngay chiếc cầu gạch vắt qua hào nước hẹp, dấu tích của dòng sông Ðỗ Ðộng. Rẽ trái là con đường dẫn tới từ đường trạng nguyên Nguyễn Trực (1417-1474), cách chùa 30m. Ði qua cầu là tam quan cao hai tầng, tám mái. Tầng trên treo quả chuông lớn, đường kính 60cm, cao 1m.
Qua khỏi gác chuông là sân gạch rộng chừng 400m2, hai bên là hai hồ nước, một trồng sen và một làm giếng nước sinh hoạt cho dân làng trước đây, nay trở thành nơi biểu diễn văn nghệ trong dịp hội chùa.
Tòa tam bảo còn gọi là Thượng điện, thờ Phật, Pháp, Tăng, cấu tạo theo 4 hàng cột, mỗi hàng 4 chiếc, riêng thềm điện có 6 cột đỡ mái, chia thành 7 gian. Hai vì kèo giữa mang đậm phong cách nghệ thuật thời Trần. Các đầu bảy đỡ mái phía ngoài được chạm khắc hình rồng, đầu bảy góc trái phía ngoài chạm hình chim thần Garuda. Bên phải tam bảo là nhà bia dựng năm 1450 ghi sự tích Ðức Thánh Bối.
Chùa còn bảo lưu được nhiều nghi thức tôn giáo của phái Trúc Lâm, Ðạo giáo, Khổng giáo và có nhiều cổ vật quý 58 pho tượng lớn nhỏ 2 cây đèn gốm thời nhà Mạc và nhiều sắc phong. Trong số 58 pho tượng, đáng chú ý là tượng Quan âm 12 tay ngồi trên tòa sen đặt trên bệ đá chạm khắc hình rồng, chim thần, hoa lá có niên đại Xương Phù lục niên (1382), triều vua Trần Phế Ðế. Hai hành lang chạy dọc, mỗi bên 9 gian, 18 vị La Hán ngồi trên bệ đá, thể hiện đủ gương mặt, tư thế khác nhau.
Sau tam bảo là hậu cung thờ thánh Bối Khê Nguyễn Ðình An, hai tầng tám mái. Ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm là ngày hội chùa Bối. Cứ 5 năm một lần, 11 thôn trong xã rước kiệu về chùa lễ Thánh, thắp hương để tưởng nhớ người xưa đã có công dẹp giặc ngoại xâm. Chùa được Bộ Văn hóa-thông tin xếp hạng di tích lịch sử ngày 20.4.1979.

  1. Chùa Vọng Cung

Ngôi chùa lớn trên khuôn viên rộng gần 3.000 m2 thu hút rất đông khách du lịch gần xa, cùng bà con trong vùng đến ngoạn cảnh, thắp hương, như chùa Vọng Cung ở giữa phố Hà Huy Tập sầm uất, quả là hiếm quý ở thành phố Nam Định. Chùa lại có lai lịch cùng kiến trúc khác thường.
Các tòa nhà hai tầng ngang dọc đã được sửa sang, tô điểm, với kiến trúc mái chồng diêm, đầu đao cong vút vốn là hành cung được xây cất vào thời Gia Long (1802 - 1820). Xưa chùa là nơi đón tiếp nhà vua và các quan đi kinh lý. Năm 1950, nhà sư nổi tiếng Thích Tâm Tri, pháp danh Tuệ Lạng, từ chùa Quán Sứ (Hà Nội) về Nam Định mở lớp Phật học, xin được tu tạo hành cung xưa thành ngôi chùa. Từ năm 1983 - 1986, Hòa Thượng trụ trì Thích Thuận Đức đã tổ chức xây dựng lại ngôi chùa quy mô như ngày nay. Trải nhiều thế hệ sư tổ, nay trụ trì là Hòa thượng Thích Tâm Thông, đã ngoại tám mươi. Nơi cửa thiền này được chính quyền giúp đỡ và dân thành phố góp công, góp của tu tạo, dần dà trở thành ngôi chùa lớn và một trung tâm đào tạo sư sãi.
Khách thăm qua hai cổng tả, hữu, đã gặp khoảng sân rộng, rợp bóng cây to và cây cảnh bôn-sai. Tĩnh mịch và xanh mát làm dịu lòng khách giữa nơi phố xá ồn ào. Cầu thang rộng đặt dưới mái hiên dẫn khách lên gác hai là chùa chính năm gian rộng (chẳng gặp ở bất cứ chùa nào trên đất nước). Đại bái có thể chứa một lúc hàng trăm người thăm. Ban thờ Phật trang nghiêm, u tĩnh đặt ở hậu cung hương khói ngày đêm. Tượng thờ sơn son thếp vàng, mang dấu ấn thời Nguyễn, kỹ lưỡng, mềm mại. Đẹp nhất là những pho Tam thế Tây phương: Thích Ca, Phổ Hiền, Văn Thù, A Nan, Ca Diếp, Cửu Long... Tầng dưới chùa là nhà tổ, nhà trai, bên cạnh nhà giảng rộng, đủ chỗ cho hai trăm sư trẻ học kinh.
Nghệ thuật chạm, khắc gỗ điêu luyện thế kỷ 19 cũng để lại dấu ấn trên nhiều mảng kiến trúc và trang trí. Các tác phẩm điêu khắc không nhiều, nhưng lạ mắt. Đôi câu đối là hai tác phẩm độc đáo chạm lộng rồng nổi, thếp vàng trên toàn bề mặt, chữ thì đặt nổi trên hình. Hai bức cửa võng ở hậu cung, viền chạm trổ đôi rồng chầu mặt nguyệt; trong chạm "mai-điểu" với bố cục lạ mắt mà hài hòa. Trong số những hiện vật, đồ thờ bằng đồng, đặc sắc là quả chuông lớn, điểm chuông sớm tinh mơ thì tiếng ngân vang tới ngoại thành.

  1. chùa Bái Đính mới ở Ninh Bình

Chùa Bái Đính mới (Bái Đính tân tự) có diện tích rộng 700 ha, gồm các hạng mục: tam quan nội, tháp chuông, điện thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, chùa thờ Phật Pháp Chủ, điện Tam Thế, hành lang La Hán, giếng ngọc. Đến giai đoạn 2khu chùa Bái Đính sẽ mở rộng hết diện tích 700 ha, thêm các công trình: tháp Bồ Đề 9 tầng, khu thờ Mẫu, khu thờ Tổ, khu tháp mộ sư, khu nhà tăng thiền viện, khu nhà khách, khu bảo tàng Phật giáo Việt Nam, v.v.
Tam quan nội
Xây dựng toàn bằng gỗ tứ thiết cao tới đỉnh 16,5 m. Điều độc đáo là có 4 cột cái bằng gỗ tứ thiết, mỗi cột cao 13,85 m, đường kính 0,85 m, nặng khoảng 10 tấn. Tam quan có 3 tầng mái uốn cong ở bốn phía, lợp bằng ngói men ống Bát Tràng màu nâu sẫm. Đây là một tam quan lớn, đồ sộ, đều dựng bằng gỗ. Trong tam quan đặt 10 t*ượng Hộ Pháp bằng đồng, có hai tượng lớn, mỗi tượng cao 5,5 m, nặng 12 tấn.
Tháp chuông
Tháp chuông đ*ược xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ, kiến trúc theo kiểu tháp chuông cổ, hình bát giác, cao 22 m. Đ*ường kính trong tháp là 17 m, tính phủ bì đến chân đế đ*ường kính là 49 m. Tháp chuông cao 3 tầng, có 3 tầng mái cong, gồm 24 mái với 24 mái đao cong vút lên. Tháp chuông treo một quả chuông nặng 36 tấn đúc tại Huế. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Đại hồng chung lớn nhất Việt Nam (Phá kỷ lục Việt Nam)”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.
Điện Quan Thế Âm Bồ Tát
Xây dựng toàn bằng gỗ tứ thiết, 100% kiến trúc bằng gỗ. Điện cao 14,8 m, dài 41,8 m, rộng 17,4 m, gồm 7 gian. Gian giữa của điện, trên bệ cao, đặt tư*ợng Quan Thế Âm Bồ Tát, có gần 1.000 mắt và 1.000 tay, đúc bằng đồng tại Ý Yên, nặng 80 tấn, cao 9,57 m. Đây cũng là một pho t*ượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng lớn nhất ở Việt Nam.
Chùa Pháp Chủ
Xây dựng toàn bằng bê tông cốt thép giả gỗ rất đồ sộ, hoành tráng, cao 30 m, chiều dài 47,6 m, chiều rộng 43,3 m, gồm 2 tầng mái cong. Điện có 5 gian, gian giữa rất rộng dài đến 13,5 m, 4 gian hai bên, mỗi gian dài 8 m. Điều đặc biệt ở chùa Pháp chủ là ở gian giữa trên bệ cao, đặt một pho t*ượng lớn bằng đồng nguyên khối, cao 10 m, nặng 100 tấn. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam” ngày 4 tháng 5 năm 2006. Trong điện treo 3 bức hoành phi và 3 cửa võng. Đây là bức hoành phi và cửa võng lớn nhất Việt Nam, mới chỉ có ở chùa Bái Đính.
Điện Tam Thế
Tọa lạc ở trên đồi cao, so với mặt n*ước biển là 76 m. Đây là một toà rất cao, rộng, đồ sộ, hoành tráng nhất ở khu chùa Bái Đính. Tòa nằm trên đồi cao nhất vùng, cao tới 34 m, dài 59,1 m, rộng hơn 40 m, diện tích trong nhà khoảng 3.000 m2. Trong điện Tam Thế cũng treo 3 bức hoành phi và 3 cửa võng lớn và đặt 3 pho t*ượng Tam Thế bằng đồng nguyên khối, mỗi tượng cao 7,2 m, nặng 50 tấn. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Ngôi chùa có bộ tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.
Hành lang La Hán
Gồm 234 gian, ở hai phía Đông Tây, có chiều dài 1.052 m. Trong các gian nhà hành lang đó đặt 500 tư*ợng La Hán bằng đá nguyên khối to, mỗi tượng cao 2,4 m, nặng khoảng 4 tấn, do bàn tay các nghệ nhân làng nghề đá xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình chế tác. Ở Việt Nam ch*ưa có một ngôi chùa nào có nhiều tượng La Hán bằng đá như ở chùa Bái Đính.
Đó là giếng ngọc của chùa Bái Đính cũ được xây dựng lại nằm gần chân núi Bái Đính mà cách đây gần 1.000 năm Thiền sư Nguyễn Minh Không đã lấy n*ước để sắc thuốc chữa bệnh cho dân và chữa bệnh cho Thái tử Dương Hoán. Giếng xây lại hình mặt nguyệt, rất rộng, có đường kính 30 m, độ sâu của n*ước là 6 m, không bao giờ cạn n*ước. Miệng giếng xây lan can đá. Khu đất xung quanh giếng hình vuông, có diện tích 6.000 m², 4 góc là 4 lầu bát giác. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Ngôi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.

Chuông đồng lớn nhất Đông Nam Á
Sau hơn 10 tháng thi công, chiếc Đại hồng chung lớn nhất Đông Nam Á do nghệ nhân đúc đồng Nguyễn Văn Sính (thành phố Huế), đảm nhiệm cơ bản đã hoàn thành.
Hiện nay, khoảng 20 nghệ nhân và công nhân đang gấp rút hoàn thành những phần việc cuối cùng để cuối tháng 5 này sẽ được giao và đặt ở khu di tích văn hóa lịch sử Trường Yên, Ninh Bình nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội.
Kỹ sư đúc Nguyễn Trường Sơn, con trai thứ của nghệ nhân Nguyễn Văn Sính, cho biết chiếc chuông nặng 30 tấn; chiều cao 5,5m; đường kính 3,4m; thành dày 19 cm, được đúc bằng đồng nguyên chất với kinh phí hơn 6,5 tỉ đồng.
Trước đó, cơ sở đúc đồng này cũng đã bàn giao cho chùa Bái Đinh, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn (Ninh Bình) một chiếc chuông nặng 21 tấn (được coi là lớn nhất từ trước đến lúc bàn giao).
10. Đền vua Đinh và lễ hội Trường Yên

          Ai là con cháu Rồng Tiên,
Tháng Ba mở hội Trường Yên thì về.
Câu ca dao lưu truyền trong dân gian càng cho chúng ta thấy sự thống nhất trong tâm thức của người dân đất Việt về dòng giống con Lạc cháu Hồng và công lao to lớn của Đinh Bộ Lĩnh trong việc thống nhất đất nước, xây nền móng cho quốc gia Đại Việt độc lập, tự chủ, hùng mạnh. Ghi nhớ công lao của vua Đinh Tiên Hoàng, hàng năm, vào ngày mồng 10-3 âm lịch, nhân dân Trường Yên mở lễ hội long trọng thu hút khách muôn phương về đền vua Đinh và xã Trường Yên.
Theo truyền thuyết, khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhân dân đã xây dựng hai ngôi đền thờ vua Đinh, vua Lê. Trải bao cuộc binh đao, hai ngôi đền không còn nữa. Năm 1600, lễ quận công Bùi Thời Trung đứng ra xây lại hai ngôi đền như cũ. Năm 1676, dân Trường Yên trùng tu lớn cả hai đền; đến năm Thành Thái thứ 10 (1898), cụ Dương Đức Vĩnh và nhân dân Trường Yên sửa đền vua Đinh, nâng cao đền bằng tảng đá có bồng và vẫn giữ dược đến ngày nay.
Đền vua Đinh được kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc: ngoài cùng là Ngọ môn quan. Đi theo đường chính đạo, qua hai cột đồng trụ là sân rồng; ở giữa sân có long sàng bằng đá. Đây là một công trình nghệ thuật đặc sắc của thế kỷ XVII. Hai bên long sàng có đôi nghê và đôi rồng chầu bằng đá xanh nguyên khối. Trên mặt long sàng, con rồng được nghệ nhân tài hoa chạm trổ những đường nét tinh tế mềm mại, làm cho con rồng hết sức sống động, vừa tượng trưng cho uy quyền của nhà vua, vừa tượng trưng cho thần linh vũ trụ, ban phúc lành no ấm, mùa màng tốt tươi. Quanh diềm long sàng, các chú cua, cá, tôm bơi lội tung tăng thể hiện ý tưởng dân dã, phóng khoáng của nghệ sĩ dân gian.
Đền vua Đinh có ba toà: Bái đường, Thiên hương, Chính cung. Giữa bái đường là bức hoành phi với ba chữ lớn: “Chính thống thủy” (mở nền chính thống), hai bên có hai câu đối đề cao lòng tự hào tự tôn dân tộc:
Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hiệu Khai Bảo của nhà Tống

Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán .
Tòa Thiên hương thờ các vị công thần của nhà Đinh vẫn giữ được nhang án đẹp mang nét chạm trổ của thế kỷ XVII.
Chính cung thờ vua Đinh và các hoàng tử - bên trái vua là Đinh Liễn, bên phải là Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn. Hai bên bệ thờ vua có hai con rồng chầu bằng đá bán thân, nhưng nét đặc biệt là ở nơi thâm nghiêm này, nghệ nhân đã tạc con rồng bên phải có cá chép đang bú; con rồng bên trái có cá trắm đang đớp con tôm, hết sức sinh động. Hơi thở của cuộc sống đi vào chốn linh thiêng, hòa quyện với nhau, đã tạo nên tuyệt tác trong kiến trúc nghệ thuật của đền vua Đinh như cảnh các cô tiên đang cưỡi rồng, thắt lưng bay theo gió, một tay ôm cổ rồng, tay kia đang như múa được chạm gỗ trên diềm bên trái cửa đền; hay cảnh người đàn ông khỏe mạnh đang săn thú trên bức cốn bên trái nghi môn nội vô cùng sống động. Nghệ nhân như thăng hoa khi kết hợp chạm nổi và chạm lộng, tạo nên đàn rồng bơi trong mây trên ván bưng chạy dài suốt xà lòng hậu cung đền. Ngoài những tuyệt tác trên gỗ, chúng ta còn được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm khắc trên đá, thể hiện ở hình tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt… trên các tảng đá cổ bồng ở cả ngưỡng cửa. Đền vua Đinh là công trình nghệ thuật đặc sắc trong quần thể lịch sử - văn hóa của cố đô Hoa Lư với hàng nghìn cổ vật quý hiếm đang được bảo tồn, như gạch xây cung điện có khắc chữ Đại Việt quốc quân thành chuyên, cột kinh Phật khắc chữ Phạn, các bài bia ký…
Về thăm đền vua Đinh và dự lễ hội Trường Yên, chúng ta sẽ được đắm hồn vào không khí linh thiêng và đầy màu sắc huyền thoại.
Mở đầu lễ hội là lễ rước nước từ sông Hoàng Long về tế ở đền vua Đinh. Trong khi đó, một đoàn rước con rồng lớn từ bên kia sông bơi sang bên này sông tượng trưng cho rồng vàng chở Đinh Bộ Lĩnh sang sông. Bảy làng (Yên Thượng, Yên Trung, Yên Hạ, Yên Thành, Yên Trạch, Chi Phong, Lạc Hối) vào đền vua Đinh tế tiệc, tế nghi, tế cửu khúc ca ngợi vua Đinh mở nền thái bình thịnh trị cho nước Đại Cồ Việt. Đặc sắc nhất trong lễ hội là màn diễn trò Cờ lau tập trận của 60 em 13-15 tuổi. Em khôi ngô nhất được chọn đóng Đinh Bộ Lĩnh, đội mũ bình thiên bằng rơm, tay cầm bông lau có tán vàng làm bằng lá chuối, tán tía làm bằng vải đỏ. Quân Thung Lau, Thung Lá có chiêng, trống cái, thanh la, đứng hai bên múa hát đối đáp và diễn canh vua Đinh cầm cờ lau tập trận, thể hiện ý chí của Đinh Bộ Lĩnh và ba quân.
Màn diễn xếp chữ Thái bình để tưởng nhớ niên hiệu mà vua Đinh đặt khi lên ngôi cũng rất sinh động. 120 em mặc áo tứ thân màu xanh, tay cầm cờ, theo nhịp trống giục 3 tiếng một mà chạy kéo chữ. Hàng thứ nhất kéo chữ Thái, chạy vòng lên phía trước kéo xuống thành nét “thanh”, rồi lại vòng lên phía tay trái kéo xuống thành nét “mác”, cuối cùng chạy vòng lên phía tay phải kéo xuống tạo thành nét “chấm”. Vậy là thành chữ “Thái”. Trong khi đó, ở hàng thứ 2, các em chạy và kéo chữ “Bình”. Cả hai hàng hạ cờ làm nổi rõ hai chữ “Thái bình” rất đẹp.
Suốt ba ngày đêm, các thôn của Trường Yên và đền vua Đinh - vua Lê tưng bừng trong lễ hội với các trò chơi dân gian: thi vật, thi bơi chải, thi thổi cơm, múa võ, múa khiên, múa quyền, cờ người, cờ bỏi…
Ngoài khu di tích cố đô Hoa Lư và xã Trường Yên , Đinh Tiên Hoàng còn được thờ ở nhiều nơi của huyện Hoa Lư, Nho Quan, Gia Viễn; trong đó có đền Văn Bòng xã Gia Phương ghi dấu ấn quê hương; đình Mỹ Hạ xã Gia Thủy và động Hoa Lư xã Gia Hưng ghi dấu ấn tuổi thơ tập trận cờ lau nuôi chí giúp nước của ông.
Từ Hoa Lư đến Thăng Long là cả một hành trình tất yếu của đất nước đang trên bước đường hình thành và phát triển, khẳng định nội lực của quốc gia độc lập, tự chủ ở thế kỷ X. Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước và Lê Hoàn nối nghiệp xuất sắc sự nghiệp của vua Đinh để lại, đó là nền tảng vững chắc cho Lý Công Uẩn kế nghiệp tiền nhân ngay tại Hoa Lư rồi từ đó mưu tính việc lớn cho muôn đời con cháu, dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mùa thu năm Canh Tuất -1010.

11.                   Chùa Thượng Đồng

Đã từ lâu trong dân gian xứ Kinh Bắc truyền tụng nhau truyền thuyết về các “Bà Chúa”, “Vua Bà” vùng ven cửa sông Ngũ Huyện Khê. Vùng đất này gồm một vệt làng cổ thuộc địa bàn hai xã Vạn An, Hòa Long (thành phố Bắc Ninh); trong đó có làng Thượng Đồng nổi tiếng với truyền thuyết bà “Chúa Lẫm”.
Làng Thượng Đồng có tên nôm là làng Lẫm thuộc xã Vạn An vốn là một làng cổ nằm trên quả núi thấp cạnh cửa sông Ngũ Huyện Khê. Quanh làng còn những dộc nước, ao, hồ, đầm cổ, những xứ đồng với tên cổ như: đồng Thóc, đồng Gạo, đồng Quan, đồng Phát... càng làm tăng thêm vẻ huyền bí của truyền thuyết bà Chúa Lẫm.
Thượng Đồng có quần thể di tích đình, chùa cổ kính: Đình Thượng Đồng vốn được xây dựng từ lâu đời với quy mô lớn, chạm khắc đẹp nhưng bị phá trong tiêu thổ kháng chiến chống Pháp; những năm gần đây dân làng khôi phục lại theo kiểu thức truyền thống. Đó là tòa đại đình bốn mái đao cong duyên dáng và còn bảo lưu được nguyên thần tích, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối cho biết về người được thờ là “Cao Sơn đại vương” (Thần Núi) và “Đức Vua Bà” (dân gian gọi là bà Chúa Lẫm). Còn chùa Thượng Đồng có tên chữ là “Nguyên Thuyền tự” cũng vốn được xây dựng từ lâu đời, nhưng đến thời vua Bảo Đại năm thứ 4 (1929) được xây dựng lại với quy mô lớn theo kiểu “nội công ngoại quốc” để phía trước thờ Thần, phía sau thờ Phật và còn giữ nguyên được kiến trúc điêu khắc đến ngày nay.
Chùa Thượng Đồng không những thờ Phật mà còn thờ Thần. Tòa tiền đường chính là nơi đặt hương án, ngai, bài vị, siêu đao bát bửu thờ Thần; tại đây còn đôi câu đối cổ phản ánh về việc thờ Thần, Phật như sau:
“Phật tự viên cường linh mãn tọa
Thần từ y phả sắc hoà ban”.
Việc thờ Đức Vua Bà còn được thể hiện ở lễ hội truyền thống: hàng năm cứ đến ngày 10 tháng giêng, dân làng lại tổ chức giỗ Vua Bà và đến ngày mồng 10 tháng 8 thì mở hội đình làng. Xưa kia, để mở hội đình đám, ngay từ mồng 9 làng tổ chức rước sắc phong từ ban thờ sắc ở chùa về đình để tế lễ. Ngày mồng 10 chính hội, hai ông Quan đám và các giáp trong làng phải rước cỗ chay ra đình để tế thần. Cỗ chay là các loại bánh, hoa quả của địa phương như oản, chè kho, bánh mật, hồng, chuối... Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò dân gian vui chơi giải trí như tuồng, chèo, ảo đào, vật, chọi gà, cờ... và đặc biệt là tục hát Quan họ.
Giá trị nổi bật của đình, chùa Thượng Đồng là còn bảo lưu được hệ thống cổ vật như thần tích, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối. Các đạo sắc phong của các triều vua phong tặng người được thờ có các niên đại như sau: Cảnh Hưng thứ 4 (1743), Cảnh Hưng 44 (1783), Tự Đức 3 (1850), 2 đạo Thiệu Trị 4 (1844), Minh Mệnh 2 (1821), Đồng Khánh 2 (1886), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 6 (1911). Đặc biệt là tấm bia đá của đình Thượng Đồng có tên là “Thượng đẳng tối linh” được dựng khắc năm Tự Đức 3 (1850) cho biết lai lịch bà Chúa Lẫm và có thể tóm tắt như sau: Đức Vua Bà là người thôn Quả Cảm, sinh vào năm Thiên ứng Chính Bình thứ 4 (1235), dáng vẻ không trần tục, thái độ thật khác thường. Cha mẹ là người hiền lành nhân hậu, làm nghề nông và có thêm nghề buôn bán. Năm ông bà ngoài 30 tuổi mà chưa có con, nên đi cầu tự ở chùa và được mộng Quan Âm cho một đóa mây trắng, sau đó sinh ra Đức Bà. Từ nhỏ đến lớn, Đức Bà luôn là người hiền lành nhã nhặn và tài sắc hơn người. Vào đời vua Trần Anh Tông, một hôm theo mẹ đến Tràng An bán hàng. Giữa đường bỗng gặp xa giá của nhà vua đi qua. Hai mẹ con sợ hãi liền lấp vào một bụi cây ven đường. Bỗng viên quan hầu cận vua đến bên bụi cây nói rằng: “Nơi ấy hiện lên một đóa mây trắng, mắt trời đã soi báo, người nào trốn ở đây phải mau mau ra nhận lệnh”. Mẹ con bà vội sửa áo quần để ra mắt nhà vua. Nhà vua thấy trước mặt là một cô gái đẹp tuyệt trần, liền xin mẹ già cho nàng về kinh, xuống chiếu cho mẹ hiền về quê phụng dưỡng. Đức Bà được nhà vua vô cùng yêu mến, cha mẹ được ban ân nhiều. Hầu hạ vua được 5 năm thì Đức Bà có mang. Nhà vua ban sắc là Hoàng phi đệ tam cung, ban cho 72 trang ấp làm bổng lộc riêng. Đức Bà đang mang thai thì bỗng mang bệnh nặng rồi mất. Nhà vua vô cùng thương tiếc, đích thân làm lễ và truy tặng Hoàng hậu, lệnh cho 72 trang ấp của Đức Bà phải thờ làm Phúc thần và cho quan trong triều hộ tống thi hài về an táng xây lăng tại địa đầu núi Hoàng Nghênh thuộc làng Quả Cảm (hiện nay lăng mộ vẫn còn).
Căn cứ theo văn bia đình làng Thượng Đồng thì 72 trang, ấp (làng, xã) trong vùng cửa sông Ngũ Huyện Khê phải thờ Đức Vua Bà làm Phúc Thần, trong đó có thôn Thượng Đồng. Mặt khác, tại thôn Thượng Đồng còn có truyền thuyết kể rằng: Xưa kia bởi Thượng Đồng có núi và các dộc nước làm đường giao thông là nơi tập trung kho lương của Đức Vua Bà, các trang, ấp trong vùng là đất thực ấp phải tập trung lương thực về Thượng Đồng; cho nên núi được mang tên là “núi Lẫm”, làng mang tên là “làng Lẫm”, các cánh đồng xung quanh mang tên là đồng Thóc, đồng Gạo... Chính vì vậy, Thượng Đồng là nơi thờ phụng Đức Vua Bà được các triều vua ban sắc phong và được lập bia đá để ghi khắc lại sự tích người được thờ, còn dân gian truyền tụng nhau Thượng Đồng là nơi thờ Bà Chúa Lẫm.

12.                   Chùa Lý Quốc Sư

Chùa Lý Quốc Sư nằm ở số 50 phố Lý Quốc Sư, cạnh hồ Hoàn Kiếm, trước đây là đất thôn Tiên Thị, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương.
Di tích vốn được gọi là đền bởi nơi đây thờ thiền sư Nguyễn Minh Không - người đã chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông năm 1138, được phong làm quốc sư và được triều đình phong ấp ở làng Tiên Thị. Khi ông mất, dân làng lập đền thờ gọi là "Lý Quốc Sư Từ". Năm 1932, thiền sư Nguyễn Văn Định trụ trì đã bài trí thêm tượng Phật nên đền được gọi là chùa từ đó.
Chùa có qui hoạch tương đối gọn, gồm: Cổng tam quan, phương đình, hai dãy dải vũ và nhà thờ mẫu. Các kiến trúc này tuy mới được trùng tu vào năm 1954 nhưng vẫn giữ được tính cổ truyền trong phong cách kiến trúc và nghệ thuật.
Chùa hiện nay lưu giữ nhiều di vật có giá trị, nhưng nổi bật nhất là trụ đá "Long Nữ thiên tài" có niên đại thế kỷ XVIII mang tính lịch sử, nghệ thuật cao.
Chùa là một di tích có giá trị trong hệ thống các di tích quanh Hồ Hoàn Kiếm.

13.                   Chùa Keo

Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Chùa là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Việt Nam. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo.
Từ thành phố Nam Định, qua cầu Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng, đi khoảng 10km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng, chùa Keo với gác chuông như một hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn.
Theo sách Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục, chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được Không Lộ xây dựng từ năm 1067 tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng lên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng lên chùa Keo - Thái Bình. Việc dựng chùa mới được bắt đầu từ năm 1630, hoàn thành năm 1632, chùa được dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng, và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ 17, 18 và năm 1941.
Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m². Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16). Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Sau chùa Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ, người khai sơn ngôi chùa vào thời Lý.
Công trình kiến trúc nổi tiếng của chùa là gác chuông. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái, kết cầu bằng những con sơn chồng lên nhau. Tầng một có treo một khánh đá dài 1,20m, tầng hai có quả chuông đồng cao 1,30m đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông năm 1686, tầng ba và tầng thượng treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69m đúc năm 1796.
Đến thăm chùa, du khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.
Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Hội chùa
Hằng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng âm lịch, nhân dân làng Keo xã Duy Nhất lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa. Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng chín âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm ngày Thiền sư Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (Ngài qua đời ngày 3 tháng 6 âm lịch). Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trên con sông Trà Lĩnh ngang trước chùa chảy ra sông Hồng, người đi hội đổ về xem cuộc thi bơi trải, thi kèn trống, thi bơi thuyền và biểu diễn các điệu múa cổ. Trong chùa thì có cuộc thi diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.
Thánh tượng
Chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ.
Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền rằng từ khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng. Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.
Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải làm theo một nghi thức được quy định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.

14. Ðình Phù Liệt, một danh thắng lịch sử_Hưng Yên

Cách Thủ đô Hà Nội khoảng 40 km về hướng đông nam, bên bờ sông Hồng có một miền đất phì nhiêu màu mỡ nằm trên thế đất "long chầu" với làng mạc và dân cư đông đúc.
Nơi đây còn lưu giữ những di tích lịch sử, kiến trúc cổ xưa cùng những di vật có niên đại hàng nghìn năm tuổi gắn liền với truyền thuyết về Vua Ðinh Bộ Lĩnh - người anh hùng dẹp loạn 12 sứ quân, mang lại thái bình cho đất nước. Ðó là Ðình làng Phù Liệt ở xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Tương truyền, vào khoảng đầu năm 967, khi dẹp loạn 12 sứ quân, đoàn quân của Ðinh Bộ Lĩnh đi đến đầu làng Gềnh bến Phủ thì gặp nước chảy xiết, trời nắng rất to, đoàn thuyền phải xếp thành hàng để đợi lệnh vượt lên. Bỗng nhiên trên bầu trời có một vùng mây kéo đến bao phủ, kỳ lạ thay đám mây lại có năm mầu sắc rất sặc sỡ. Ðinh Bộ Lĩnh nhìn lên bầu trời thấy cùng lúc đó xuất hiện một lùm cây lớn, gồm có bốn gốc đại thụ, ở giữa có bát hương hình gốc cây bương bốc khói đang cuộn tỏa. Thấy điềm lành, Ðinh Bộ Lĩnh liền cho lập đàn tế lễ trời đất, xin phụ trợ dẹp loạn 12 sứ quân thu giang sơn về một mối. Ngài nguyện rằng, nếu chiến thắng được loạn, lập nghiệp đế vương, sẽ xin trở lại đây đền ơn, xây đền phụng thờ đời đời. Lời nguyện cầu đã thấu trời xanh, được phù trợ vào năm 968, khi đã dẹp xong loạn 12 sứ quân và lên ngôi Hoàng đế, Ðinh Bộ Lĩnh đã về lại đây xây đền thờ Ngũ vị đế vương. Biết ơn dân làng Gềnh đã tham gia giúp đỡ nghĩa quân và xả thân chiến đấu vì đất nước. Vua Ðinh Bộ Lĩnh đã cho đổi tên làng Gềnh thành làng Phù Liệt với ý nghĩa là làng phù quốc giúp vua và chiến đấu oanh liệt với kẻ thù.
Ðình làng Phù Liệt hiện diện một cách uy nghi gồm năm tòa với kiến trúc hình chữ "Công", quay mặt hướng Ðông Nam trên thế đất "long chầu". Ðình thờ ngũ vị đại vương là Trung vương Hoàng đế, Nam phương Xích Ðế, Ðông phương Thanh đế, Tây phương Bạch đế và Bắc phương Hắc đế đại diện cho Ngũ hành. Trải qua thời gian và biến cố của lịch sử, ngôi đình hiện nay đã có nhiều thay đổi, năm tòa trước kia nay chỉ còn lại ba tòa: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Ði từ ngoài vào là Nghi môn với hai cột trụ biểu, trên đỉnh đắp nổi bốn đuôi công chụm vào nhau, phía dưới có bốn ô vuông phía trong đắp nổi tứ linh, tứ quý.
Bước qua con đường lát gạch là vào đến sân đình và khu Ðại bái. Tại gian trung tâm đặt một nhang án thờ bằng gỗ từ thời Nguyễn được trạm trổ khá cầu kỳ: ba mặt nhang trạm đầu hổ phù, tứ quý, hoa dây, bao lên trạm hình rồng. Trên nhang án để đồ thờ tự như bát nhang, chân nến, hạc, phía trên treo bức đại tự bằng chữ Hán "Ngũ đế linh từ", hai bên đặt hai bàn thờ Hậu. Tòa trung có một gian kết cấu kiểu chồng diêm hai tầng đầu hồi bít đốc. Hậu cung gồm ba gian kiến trúc kiểu vì kèo trụ rốn, vì được làm kiểu cụm rường đấu kê, có ba lối đi, cửa đi là cửa chính ở giữa, hai bên là hai cửa phụ. Trên phía nóc hiện còn giữ lại nhiều kiểu kiến trúc trạm khắc tinh xảo theo dạng đòn bẩy hiện mai hóa rồng rất mềm mại, uyển chuyển. Gian trung tâm tòa hậu cung đặt một khám thờ sơn son thếp vàng, mặt ngoài trang trí tứ quý, cuốn thư, diềm trên trang trí lưỡng long chầu nhật. Trong khám đặt năm pho tượng đất thờ ngũ đế ở tư thế ngồi đầu đội mũ. Theo lời các cụ phụ lão trong làng thì đây là những pho tượng đất có niên đại trên một nghìn năm tuổi được luyện theo kiểu đặc biệt với kỹ thuật luyện tinh sảo mà ngày nay đã bị thất truyền.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi đình này từng là nơi hoạt động cách mạng của cán bộ Việt Minh và các bô lão trong làng bày binh bố trận đánh giặc Pháp đi càn bằng tàu chiến trên sông Hồng. Kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đình làng Phù Liệt cũng là nơi quân đội ta cất giấu súng đạn, lương thực quân trang, quân dụng phục vụ cho chiến trường miền nam. Trước kia đình có năm gian lớn, từng là nơi huấn luyện của bộ đội đặc công sư đoàn 305. Mặc dù quy mô của ngôi đình không còn như cũ nữa nhưng trong tâm thức dân gian của bà con nơi đây vẫn đề cao vai trò của người có công với đất nước, với nhân dân Phù Liệt. Ðình Phù Liệt không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lịch sử lâu đời của một vùng đất oanh liệt, mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lành mạnh, nơi hội họp của các cụ cao niên trong làng.
Hằng năm vào các dịp lễ, Tết, hội hè nhất là ngày hội chính của đền (ngày bốn tháng tư âm lịch), bà con trong vùng lại tập trung tại đây để ôn lại thuần phong, mỹ tục, truyền thống yêu nước của cha ông ta, tuyên truyền giáo dục cho con cháu về lòng yêu quê hương đất nước. Ðó là một truyền thống tốt đẹp cần được gìn giữ và phát huy để góp phần giáo dục cho con cháu và thế hệ trẻ hôm nay. Ðình Phù Liệt đã được công nhận di tích lịch sử và không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng mà nó đã trở thành một danh thắng, một điểm đến đầy lý thú cho du khách thập phương xa gần hội tụ.

15.                        Đình, chùa NgọcThành: Quần thểdi tích lịch sửvăn hóa

Đình, chùa Ngọc Thành thuộc thôn Ngọc Thành, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang ,cách thị trấn Thắng khoảng 4 km về phía Đông Bắc. Đình và chùa đều được xây dựng vào thời Lê (thế kỷ XVIII).
Đình bao gồm: Tòa tiền tế và tòa đại đình, hai tòa này đều cấu trúc 5 gian, hai chái, tòa đại đình được nối với một gian hậu cung tạo ra ngôi đình có hình chữ đinh. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp tòa tiền tế đã bị giặc tàn phá, nay chỉ còn lại tòa đại đình với diện tích sử dụng khoảng 156m2. Chùa Ngọc Thành còn có tên cổ là chùa Phúc Duyên với diện tích khoảng 134m2 tọa lạc ngay phía sau ngôi đình khoảng 50m, cùng với những kiến trúc bài trí bên ngoài kết hợp với cây cối xum xuê tạo nên sự cổ kính của quần thể di tích. Chùa gồm tòa tiền đường 5 gian được nối với ba gian tòa thượng điện bằng một gian ống muống, tạo cho ngôi chùa có bố cục hình chữ công. Phía sau chùa là 5 gian nhà Mẫu để đồ thờ tự và đồ tế khí của đình...
Đình, chùa Ngọc Thành là một quần thể các hạng mục công trình văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương. Nơi đây không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi thờ các vị tướng tài giỏi có công lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống bình yên cho dân, cho nước. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đình chùa còn là trụ sở làm việc của nhiều cơ quan Nhà nước như: Ngân hàng Ngoại thương Việt Yên, Ủy ban Kháng chiến hành chính Việt Yên, Tòa án tỉnh Bắc Giang, trường Tiểu học xã Ngọc Sơn, trụ sở đóng quân của đơn vị pháo phòng không... Ngoài ra đình, chùa còn là kho chứa vũ khí, đạn dược để phục vụ kháng chiến. Cũng tại đình, chùa này trong những năm kháng chiến, đã động viên, tiễn đưa hơn 500 thanh niên lên đường tham gia kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiều người đã tiến bộ trưởng thành giữ các cương vị lãnh đạo trong cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị, xã hội. Hiện nay đình và chùa Ngọc Thành vẫn còn lưu giữ được một số tài liệu, hiện vật cổ quý có giá trị đó là bia đá có niên hiệu Tự Đức, 5 đạo sắc phong thời Nguyễn, ngai thờ, bài vị, kiệu, hệ thống tượng thờ gồm 26 pho và nhiều hoành phi câu đối có giá trị khác. Đình chùa Ngọc Thành có hai lệ chính là: Mùng 10 tháng Giêng và mùng 9 tháng 9 âm lịch, ngoài ra còn 10 lệ nhỏ khác. Đình chùa còn có một hội chính vào mùng 10 tháng Giêng với nhiều trò chơi dân gian truyền thống. Đình chùa Ngọc Thành có đầy đủ giá trị cả về lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, nên căn cứ vào giá trị của di tích và nguyện vọng của nhân dân thôn Ngọc Thành, xã Ngọc Sơn, ngày 25 tháng 12 năm 2006, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã ký Quyết định công nhận xếp hạng đình và chùa Ngọc Thành là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

16.                        Chùa Dâu và sự tích bụt mọc

Chùa Dâu hay chùa Bụt Mọc còn có tên chữ là Linh Quang tự thuộc làng Nội Hoàng, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng. Đây là ngôi chùa cổ ít thấy ở Bắc Giang gắn với tín ngưỡng thờ đá (Linh Thạch), câu chuyện dân gian sự tích chùa Bụt Mọc nói lên ý nghĩa của tục thờ này
Ngày xưa trong làng Nội Mang (Nội Hoàng) có người làm nghề đánh dậm bắt cá. Mỗi lần anh đi đánh dậm không thấy cá đâu chỉ thấy được một tảng đá trong dậm của mình. Nhiều lần như vậy thấy làm lạ, người đánh cá kia bèn đem tảng đá đó lên núi chôn và "khấn tảng đá phù hộ" cho đánh được nhiều cá, quả nhiên từ đó ngày nào anh ta cũng đánh được nhiều cá. Có điều tuổi đã cao mà anh vẫn không có con, thường ngày anh hay lên chỗ tảng đá kể lể sự tình và khấn cầu hòn đá cho xin đứa con nối dõi. Sau đó, vợ chồng anh có con trai. Thấy hòn đá linh nghiệm, vốn không hiểu biết lại tưởng rằng "tà ma" nên hai vợ chồng bèn đào hòn đá vứt đi, hôm sau lên núi lại thấy hòn đá mọc lên như cũ. Hai vợ chồng sợ hãi xin xưng tội, dựng chùa ngày đêm cầu khấn thờ phụng. Dần dần nhiều người qua lại lễ bái cầu việc gì cũng hiển ứng, đặc biệt là lễ cầu con. Từ đó dân gian gọi là chùa Bụt Mọc, chùa ở chân núi Dâu nên cũng gọi là chùa Dâu.
Qua sự tích chùa Dâu - chùa Bụt Mọc cho thấy tín ngưỡng thờ đá ở Nội Hoàng là Linh Thạch. Tục thờ này gợi sự liên tưởng tới tín ngưỡng thờ đá ở chùa Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cả hai ngôi chùa đều có tín ngưỡng bản địa là tục thờ đá, rồi hòa nhập với tôn giáo ngoại lai để có đá thiêng thờ trong chùa mang bản sắc tôn giáo tín ngưỡng của người Việt sau này. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Văn Lạng sự có mặt ngôi chùa Dâu ở Nội Hoàng, Yên Dũng đã chứng tỏ vùng đất này vào thời Hán (sau Công nguyên) dân cư khá ổn định và đã có sự du nhập đạo Phật theo mô tuýp đạo Phật du nhập vào Luy Lâu (Bắc Ninh) một trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của đất Giao Châu thời Bắc thuộc. Đây là ngôi chùa cổ hiếm hoi và độc đáo trên đất Bắc Giang, không ai còn nhớ ngôi chùa có từ bao giờ chỉ biết năm Chính Hòa 24 (1703) thời Lê, chùa đã được sửa chữa lớn, ghi theo lời văn trên bia đá.
Chùa Dâu hiện nay mang nét văn hóa, kiến trúc đan xen của hai thời đại: thời Lê và thời Nguyễn. Chùa có các hạng mục công trình gồm tòa tiền đường 5 gian nối tòa thượng điện 3 gian tạo kiểu chữ đinh, nhà khách 3 gian, nhà tổ 3 gian cùng nằm trong một quần thể di tích uy linh cổ kính. Phần liên kết các vì mái theo lối kiến trúc cổ truyền thống, kiểu chồng rường giá chiêng, xà cộc. Vì nách tạo kiểu cốn mê chạm trổ đẹp hình vân mây, đao mác, hình linh thú, hoa văn khắc vạch, hình ô trám… Hệ thống cột chùa vẽ hình rồng leo mang phong cách thời Nguyễn (thế kỷ XIX) có giá trị nghiên cứu mỹ thuật cổ truyền dân tộc.
Chùa còn bảo lưu hệ thống tượng Phật quý giá cùng nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị khoa học như: Hòn đá thờ gắn liền với sự tích "Chùa Bụt Mọc", bát hương, bia đá… Chùa Dâu còn là nơi sinh hoạt văn hóa tôn giáo, nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương từ xưa tới nay. Hội lệ hàng năm được tổ chức vào ngày 11, 12 tháng Hai âm lịch. Lễ hội có nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Di tích còn là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân xã Nội Hoàng. Trong những năm kháng chiến chống Pháp giai đoạn từ 1949-1951, chùa là nơi tập kết của dân quân du kích và bộ đội chủ lực tiểu đoàn 61, quân khu Việt Bắc 434…
Như vậy, chùa Dâu không những là ngôi chùa cổ của tỉnh mà còn ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự du nhập đạo Phật vào Việt Nam từ buổi ban đầu trong đó có vùng đất Bắc Giang. Câu chuyện dân gian sự tích chùa Bụt Mọc ở xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng phần nào nói lên được điều đó.

17.                        Dấu ấn thời Trần tại chốn tổ Vĩnh Nghiêm_Bắc Giang

Chùa Vĩnh Nghiêm còn gọi là chùa Đức La là ngôi chùa cổ, trung tâm Phật giáo thời Trần (thế kỷ XIII-XIV) thuộc thiền phái Trúc Lâm. Xưa chùa thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, Phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc, nay là thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng.
Hiện nay, ở vùng Trí Yên, nhân dân còn truyền lại câu chuyện: Vua Trần Nhân Tông sau khi dẹp xong giặc Nguyên Mông đã truyền lại ngai vàng cho con rồi xuống tóc đi tu để thoả nguyện ước tham thiền nhập định từ khi ngài còn trẻ tuổi. Trần Nhân Tông đã cùng các môn đồ du ngoạn khắp nơi để đăng đàn thuyết pháp và tìm nơi đắc địa dựng chùa, xây tháp... Khi ngài tới vùng Đức La của huyện Phượng Nhãn, lộ Bắc Giang, bỗng nhiên con tuấn mã của ngài hí vang, phi nước đại, ngài đã dùng hết sức để ghìm nó lại nhưng không được. Thấy vậy, dân làng trong vùng kéo ra sụp lạy, con tuấn mã mới dừng. Ngài thấy vậy bèn hỏi nguyên do và được dân làng cho biết: Đây là thế đất hình "Quy ẩm thực" trên lưng quy có một ngôi chùa cổ. Biết là đất thiêng linh ứng, ngài bèn vào thăm ngôi cổ tự sau đó cho mở mang nơi đây thành một ngôi chùa lớn và đặt tên là chùa Vĩnh Nghiêm. Tấm bia đá xanh ở chùa Vĩnh Nghiêm được khắc năm Hoằng Định thứ 7 (1606) đời vua Lê Kinh Tông, có nội dung: "... Nay ở huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Nguyên, đạo Kinh Bắc, nước Đại Việt có một khu sùng phúc, rõ là đất Tam bảo. Nơi đây trang nghiêm rực rỡ, non cao ngàn vạn dặm, trùng trùng điệp điệp. Vây tròn ôm lấy thành hình chiếc lọng hoa. Ở chỗ hai, ba sông, sóng nước dạt dào mênh mông, quanh co uốn lượn chầu về như dải lụa bạc, khoảng giữa là ngôi chùa cổ có một bầu trời riêng, truyền rằng đó là chùa Vĩnh Nghiêm. Thực là một danh lam đứng đầu thiên hạ..." Sách "Tam tổ thực lục" ghi: "Trạng nguyên Lý Đạo Tái một hôm theo vua (Trần Nhân Tông) đến huyện Phượng Nhãn vào chùa Vĩnh Nghiêm nghe Pháp Loa giảng kinh, bèn dâng biểu xin xuất gia tu đạo. Vua ưng cho, bèn thụ giáo với Pháp Loa, lấy Phật hiệu là Huyền Quang". Sau lần giác ngộ Phật đạo ở chùa Vĩnh Nghiêm, vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã lập nên giáo phái Trúc Lâm - ba vị trở thành Tam tổ "... là những bậc giáo hoàng thời ấy. Vì ngoài sự đắc đạo tu hành, thuyết pháp, độ sinh, các ngài còn được đặc quyền cầm sổ tăng tịch trong nước, thống lĩnh hết thảy tăng đồ..." Đến năm Hưng Long thứ 12 (1304) đời vua Trần Anh Tông, vào tháng 4, Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm làm lễ kết hạ, cho Pháp Loa đại sư trụ trì. Năm thứ 21 - Quý Sửu (1313) Tịnh Trí Tôn Giả Pháp Loa phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm định chức tăng đồ trong toàn quốc và cho đặt dựng một trăm ngôi chùa lớn ở các nơi. Cứ sau ba năm một lần lại làm như vậy, tăng ni có đến vài nghìn người như thế, đủ biết quy mô kiến trúc của trung tâm Phật giáo này ở cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV đã rộng lớn đến chừng nào.
Nhìn tổng thể chùa Vĩnh Nghiêm, thấy đây là một kiến trúc tứ giác với bộ phận trước tiền đường gồm sân, vườn hình thành từ tam quan chùa trở vào. Khu vực chính của chùa được tạo bởi toà tam bảo (hình chữ công), đến nhà tổ đệ Nhất (hình chữ công), tiếp là gác chuông và cuối cùng là nhà tổ đệ Nhị, ở hai bên tả vu và hữu vu là hai dãy hành lang (mỗi dãy 15 gian). Tổng thể kiến trúc chùa Vĩnh Nghiêm theo một trục dọc quay hướng nam có ghé chút đông. Đến nay, chùa Vĩnh Nghiêm đã qua 15 lần tu bổ, tôn tạo. Về cơ bản vẫn giữ được quy mô kiến trúc thuở ban đầu. Về tư liệu Hán - Nôm ở chùa Vĩnh Nghiêm còn lưu giữ được: 09 bia đá xanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX; 01 chuông đồng đúc năm Minh Mạng thứ 11 (1830); 12 bức hoành phi; 14 đôi câu đối; 3.000 ván in Kinh, có 35 Kinh sách gồm ba loại: Sách Kinh - sách Luật - sách Luận. Di sản Hán - Nôm ở chùa Vĩnh Nghiêm rất đa dạng về thể loại và phong phú về nội dung, có giá trị to lớn về lịch sử văn hoá góp phần làm sáng tỏ một ngôi chùa cổ - chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm - Việt Nam. Đã hơn 700 năm, chùa Vĩnh Nghiêm vẫn tồn tại với vai trò là một trung tâm Phật giáo, một Thiền viện đào tạo các tăng, ni nổi tiếng trong cả nước, vẫn mãi là chốn tổ, là đại danh lam để khách thập phương đến thăm quan và thắp hương lễ Phật.

  1. Đình Lam Cầu-Công trình kiến trúc nghệ thuật và những cổ vật quý !!

Thôn Lam Cầu thuộc xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, là một làng cổ nằm bên bờ Nam sông Đuống. Bề dày lịch sử và văn hiến của Lam Cầu đã được kết tinh và tỏa sáng ở quần thể di tích cổ kính thâm nghiêm, trong đó có ngôi đình làng
Đình Lam Cầu nằm ở cánh đồng phía trước làng, bao quanh là màu xanh bạt ngàn của lúa, ngô. Ngôi đình này vốn được xây dựng với quy mô lớn vào thời Lê Trung Hưng và còn để lại dấu ấn trên kiến trúc. Đến thời Nguyễn, vào thời vua Thành Thái được trùng tu tôn tạo và còn ghi lại trên câu đầu của tiền tế. Công trình kiến trúc thời Lê-Nguyễn này còn bảo lưu khá nguyên vẹn đến ngày nay. Đó là tòa Đại đình to lớn gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung; bộ khung gỗ lim to khỏe, chu vi cột cái là 1,52m, cột quân là 1,25m. Tiền tế với 4 góc đao lớn cong vút, đỉnh là 4 đầu rồng như đang vươn mình bay lên, bên cạnh là lân chầu, đỉnh nóc đắp đôi rồng lớn chầu mặt nguyệt. Với quy mô kiến trúc đồ sộ và nghệ thuật đắp nổi tứ linh đã tạo cho ngôi đình bên ngoài mang dáng vẻ cổ kính thâm nghiêm.
Nghệ thuật chạm khắc của đình Lam Cầu còn được thể hiện tập trung ở nội thất của tòa tiền tế, trên các bộ phận như: vì nóc, con rường, cốn, đầu dư, cửa võng và bẩy. Các đầu dư đều được chạm lộng đầu rồng ngậm ngọc với râu tóc dài bay hình nét mác và đây là dấu ấn của ngôi đình thời Lê Trung Hưng. Những bức cốn chạm nổi kênh bong các đề tài tứ linh như: rồng cuốn thủy, phượng đồ thư, lân chầu tinh xảo và sống động. Bức cửa võng gian giữa được tạo thành 5 tầng, chạm các hình tứ linh, tứ quý với các thủ pháp chạm nổi và chạm thủng điêu luyện, sơn son thiếp vàng lộng lẫy, đã góp phần tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy, uy nghiêm cho ngôi đình.
Giá trị của đình Lam Cầu còn được thể hiện nổi bật ở những cổ vật còn bảo lưu được như: sắc phong, ngai thờ, sập thờ, bia đá và nhiều đồ thờ tự khác. Trong những cổ vật, 7 đạo sắc phong đã cho biết rõ thần được thờ là “Đông Hải thượng đẳng thần” có nguồn gốc là “Thủy thần”. Gần 10 bia đá có các niên đại: Vĩnh Trị Bính Thìn (1676), Minh Mệnh 6 (1825), Tự Đức 6 (1853), Tự Đức 33 (1880), Thiệu Trị 6 (1846), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924), đã cho biết những thông tin về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của làng xã nơi đây. Đặc biệt tấm bia có tên “Từ chỉ bia ký” niên đại Minh Mệnh 6 (1825), cho biết Lam Cầu từng là đất khoa bảng; vào thời Gia Long từ chỉ được xây dựng lại với quy mô lớn để thờ phụng các bậc tiên triết nho học, các vị khoa bảng của làng xã và ghi tên những người công tiến tiền của vào việc xây dựng từ chỉ.
Hàng năm, đình Lam Cầu được mở hội vào ngày 12 tháng 2 âm lịch. Trong những ngày lễ hội có những nghi thức tế lễ Thần và có tục giao hảo với làng Nghĩa Vi. Bởi truyền rằng, xưa kia làng Lam Cầu dân cư còn thưa thớt, mỗi khi bị giặc cướp đến cướp bóc, lại được làng Nghĩa Vi bên cạnh giúp đỡ, vì vậy mà hai làng giao hảo với nhau. Mỗi khi đình đám hội hè, lại cử quan viên chức dịch sang nhau tế lễ giao lưu và đây chính là nét đẹp trong văn hóa làng xã. Trong những ngày lễ hội còn có những tục trò dân gian vui chơi giải trí như tuồng, chèo, đu, vật… thu hút đông đảo nhân dân địa phương vào những sinh hoạt văn hóa văn nghệ vui tươi lành mạnh mang đậm bản sắc dân tộc.
Đình Lam Cầu với những giá trị nổi bật về kiến trúc điêu khắc, cổ vật, lễ hội truyền thống, không những phản ánh bề dày lịch sử, văn hiến của quê hương nơi đây, mà còn góp phần làm nên bản sắc văn hiến của xứ Kinh Bắc-Bắc Ninh.

19.                        Đình Đại Yên

Lịch sử - truyền thuyết
Ngôi đình toạ lạc trên đất của trại Đại Yên, thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, nay thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đình thờ thành hoàng làng là Ngọc Hoa công chúa. Tương truyền Ngọc Hoa công chúa là cô bé 9 tuổi đã có công trong việc đánh giặc ngoại xâm, được vua phong công chúa. Khi mất dân làng thờ làm thành hoàng làng. Thần phả soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572) cũng chép lại là: "Nàng Ngọc Hoa là con ông đồ Huấn. Ông quê gốc ở Thanh Hoá ra Thăng Long dạy học lấy mẹ nàng là người trại Đại Bi. Đời Long Phù nhà Lý; năm thứ tư (1104) có giặc Ma Na, nàng Hoa mới 9 tuổi cũng xin ra trận, đóng giả làm cô gái bán hàng vào trại giặc dò la, báo tin địch cho quân ta đánh thắng. Trở về, nàng Ngọc Hoa được vua trọng thưởng, nàng xin qua nhà thăm mẹ và đột ngột qua đời, vua Lý Nhân Tông thương tiếc phong là Ngọc Hoa công chúa và cho dân Đại Bi lập đình thờ. Mộ nàng Ngọc Hoa tương truyền nay vẫn còn ở sau đình."
Trong thời kì 1935 - 1936, đình là nơi truyền bá chữ quốc ngữ và là nơi học võ cho thanh niên bảo vệ xóm làng.

Kiến trúc

Đình Đại Yên được xây dựng từ thế kỉ thứ XII - XIII và đã qua nhiều lần sửa chữa, nổi bật nhất là hai lần trùng tu vào năm 1886 và 1901. Hiện nay, cổng đình mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn theo kiểu ngũ môn, 3 hiện 2 ẩn với cửa giữa nằm trong hai trụ lớn kiểu lồng đèn.
Đình quay về hướng Tây, gồm cổng, sân gạch, hai bên có tả vu, hữu vu, nhà tiền tế, đại bái, hậu cung. Phía sau có mộ công chúa Ngọc Hoa được xây thành hình vuông. Nhà tiền tế được kết cấu theo kiểu vì kèo trụ trốn, 4 gốc ở bốn chân cột vẩy ra thành bốn chiếc bẩy, ở bốn gian bên, mái được lót kín theo kiểu vòm cuốn (vỏ cua), một hình thức hiếm thấy ở đình chùa miền Bắc, giống như kiểu kiến trúc đình chùa ở Huế. Trang trí trên các bức cốn của nhà tiền tế, gồm 3 gian với 4 hàng chân cột, có tường hồi bít đốc, kết cấu bộ vì theo kiểu giá chiêng chồng rường, con nhị. Ngoài ra có các hình vẽ rồng cuốn thuỷ, rồng cuốn cột ở các cột sơn son thếp vàng.
Toà đại bái được xây dựng nhỏ hơn nhà tiền tế với ba gian, 4 hàng chân cột. Hai kiến trúc này liền kề nhau theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, tạo nên một không gian liên hoàn hiếm thấy ở các đình chùa khác. Bên trong hậu cung, các bức cốn được trang trí với hình chạm nổi phượng vũ trong tư thế đang bước về phía trước, miệng ngâm một bông cúc mãn khai.
Chiếc khám thờ Ngọc Hoa công chúa là một sản phẩm được chạm trổ đẹp, mặt ván ở lưng khám vẽ đôi rồng chầu mặt trời với tư thế uốn lượn trong mây cuộn, phần trong khung được chia làm ba ô ngăn cách bởi hai trụ lửng chạm lẵng hoa. Tượng to bằng người thật, tạc trong tư thế ngồi, chân trái khoanh, chân phải co chéo, tóc cuộn lên đỉnh và che bằng khăn kết hình cánh phượng. Khuôn mặt tượng phương phi, nhân hậu, mắt nhìn xuống, miệng mỉm cười. Áo tượng vát chéo hai lớp, để lộ yếm ngực và chảy qua cánh tay. Tay trái tượng cầm một quả đào nhỏ. Tay phải để ngửa trên đầu gối trong thế "kết âm cam hồ" để xua tan mọi phiền muộn.
Trong đình có các câu đối ca ngợi Ngọc Hoa công chúa là:
Một trận quân về, làm bình yên vạn vật
Chín tuổi dẹp giặc, phò lý giữ non sông.
Hay như câu:
Nữ giới nảy anh hùng, Trưng Triệu tiếp gót
Triều đình ban sắc chỉ, sống chết khác thường.
Đình còn giữ lại nhiều hiện vật có giá trị: 3 câu đối gỗ, 3 bức hoành phi, 2 lọ lục bình hình bát giác, 1 đôi choé, 4 hương án, 2 bộ cửa võng... Bốn hương án được bảo quản khá tốt, trong đó có giá trị nghệ thuật cao nhất là chiếc nhang án đặt ở tiền tế. Tai nhang án chạm rồng và long mã chầu vào giữa, hàng diềm kép dưới được chạm thủng và bong, chia ô cùng với các hình thức trang trí rồng, hồ phủ, phượng. Ở chân nhang án cũng chia ô to nhỏ cân xứng với các đề tài linh vật, khiến cho mảng chạm thêm sinh động và đầy gợi cảm.
Ngoài ra, đình còn lưu giữ nhiều hiện vật khác như kiệu bát cống, ngai, bài vị, cửa võng cùng với những bộ chấp kích, phủ việt, đại đao, chuỳ...
Đình đã được Nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử Văn hoá Nghệ thuật ngày 27/01/1990.

20.                        Đình Giảng Võ

Đình làng thuộc phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, thờ Bà chúa Kho Lý Thị Châu Nương, người có công cất giấu kho tàng không để rơi vào tay giặc Mông - Nguyên. Đình đã bị phá huỷ. Ngày 06/05/1998, nhân dân phường Giảng Võ đã dựng lại ngôi đình bằng bê tông cốt thép theo kiến trúc cổ với kinh phí 184 triệu đồng và đã hoàn thành sau 3 tháng thi công, đúng vào ngày 20 tháng 7 ÂL, ngày mất của Bà chúa Kho. Đây là một công trình góp phần làm đẹp một di tích Lịch sử Văn hoá lâu đời của thủ đô Hà Nội.

Lịch sử - truyền thuyết
Đình Giảng Võ nay nằm ở ngõ 612 Đê La Thành, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đình Giảng Võ thờ thành hoàng là Lý Thị Châu Nương, tục gọi Bà chúa Kho. Bà là nữ tướng thời Trần, là người phụ trách kho lương. Theo gia phả lưu giữ tại đình, bà quê ở phường Võ Trại, từ nhỏ tinh thông võ nghệ, cung kiếm. Sau đó, bà lấy chồng là Trần Thái Bảo, một vị tướng triều Trần trấn giữ Hoan Châu (nay là Nghệ An). Khi giặc Nguyên Mông sang xâm lược, bà theo chồng đánh giặc và chỉ huy việc bảo vệ kho lương.
Sau chiến thắng quân Nguyên Mông, vua Trần đã ban thưởng, phong Trần Thái Bảo là chỉ huy đạo quân bảo vệ hoàng cung. Châu Nương được phong là Quản chưởng quốc khố, coi sóc kho tàng quốc gia.
Quân Nguyên trở lại xâm lược lần thứ 2, Trần Thái Bảo chỉ huy chặn giặc, bảo vệ triều đình rút lui an toàn. Thế nhưng, Trần Thái Bảo đã hi sinh trong trận chiến này. Được tin dữ, Châu Nương quyết tâm hơn nữa chỉ huy quân lính chuyển kho, bảo vệ lương thực, của cải. Sau khi cất giấu an toàn kho lương, Châu Nương xông ra quyết tử với quân thù và hi sinh theo chồng. Sau khi bà mất, triều đình đã sắc phong là "Anh linh hiển ứng kho nương công chúa", "Giám chưởng Quốc khố công chúa", "Quốc khố Đại vương phu nhân thánh mẫu" và sai làng Giảng Võ lập đền thờ. Ngày nay, khi đến thăm đình, du khách còn có thể thấy bức đại tự ghi dòng chữ "Trần Lý phương danh" (Tiếng thơm hai họ Trần - Lý) và câu đối ca ngợi bà:
Của cải nuôi quân, cửa khôn nghe tin vua xuống chiếu
Mưu mô hay đuổi giặc, nước nhà nức tiếng gái cao tài.
Theo cụ Nguyễn Bá Be, thủ từ của đình thì đình Giảng Võ xưa kia vốn là đền, vì dân làng tôn bà Châu Nương làm thành hoàng nên trở thành đình. Ngoài ra, thần phả của đình cũng cho biết rằng ngoài nơi thờ chính ở làng Giảng Võ còn có 22 làng ở lộ Diễn Châu (nay thuộc Nghệ An) lập miếu thờ Châu Nương. Dân gian thì quen gọi bà là Bà chúa Kho nên đình còn có tên là đình Bà chúa Kho.
Kiến trúc
Như đã nói trên, đình Giảng Võ được xây dựng từ thời Trần nhưng sau đó đã bị phá huỷ. Đền mới hiện nay được dựng lại vào năm 1998 nhưng vẫn mang nét kiến trúc cổ với các hoa văn, chạm trổ.
Đình toạ lạc trên khu đất cao, tổng diện tích khoảng 7500m2. Các kiến trúc của đình được phân bố theo chiều sâu. Quy mô, kiến trúc đình hiện nay khá đẹp. Cổng Tam quan được xây dựng trước kia nay chỉ còn dấu tích là bốn viên đá xanh cỡ lớn. Bên sân đình có hai miếu nhỏ thờ hai nàng hầu của Châu Nương là Đệ nhất Vương cô và Đệ nhị Vương cô. Chính giữa là nhà Phương đình. Phía trong cùng là toà đại đình, là nơi thờ bài vị, long ngai và tượng bà Châu Nương. Các nét chạm trổ nơi đây cũng có đề tài là hổ phù, phượng vũ, mây, cá hoá rồng... Di tích cổ nhất của đình là hai toà nhà tả mạc và hữu mạc (tả vu và hữu vu) nằm bên toà đại đình. Đây là nét kiến trúc cuối thế kỉ XIX hiếm hoi còn sót lại trong đình, có kết cấu vì kèo quá giang, xây kiểu đầu hồi bít đốc với các trụ xây vuông đỡ mái, trong đó có hai trụ được trang trí lồng đèn và các hình hoa lá, rồng mây, đỉnh trụ là hình hai con nghê quay mặt vào nhau. Ngoài ra, trong khuôn viên đình còn có bốn con nghê đá, hai tấm bia đá và một số trụ đá trước đây dùng làm chỗ kê cột đình. Đặc biệt, theo cụ thủ từ thì hai tấm bia đá hoàn toàn không có chữ. Trước kia, hai tấm bia không được đặt đứng mà lại để nằm áp xuống mặt đất. Lý do về cách đặt hai tấm bia thì đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa giải thích được.
Sân đình lát gạch vuông, ở giữa có một nền gạch cao 30cm, dấu tích của ngôi phương đình hai tầng tám mái, được xây dựng từ năm 1931, đã bị thực dân Pháp đốt cháy năm 1946. Quanh đình cũng còn một số dấu tích như bãi ngựa, khu sọt cỏ, gò cơm, tương truyền là nơi bà Châu Nương buộc ngựa và cho ngựa ăn. Các nhà khảo cổ học cũng đã thám sát khu vực này, phát hiện và sưu tầm được nhiều hiện vật có giá trị như đạn đá, phác vật cổ, nỏ, gốm sứ thời Lê... Nhiều nhà khoa học cũng cho rằng khu vực này là cửa Bảo Khánh môn của kinh thành Thăng Long xưa.
Hàng năm, đình tổ chức lễ vào ngày sinh (12/02) và ngày hoá (20/7) của bà Chúa. Ngoài ra, vào ngày 23/12 ÂL, Trung tâm hội chợ triển lãm Việt Nam phối hợp với UBND phường Giảng Võ, Nhà hát Tuồng trung ương tổ chức lễ rước bài vị và bát hương thành hoàng làng để cầu quốc thái dân an. Đây cũng là một lễ hội lớn trong các lễ hội của lịch sử văn hoá thủ đô.
Nhầm lẫn của đền thờ Bà chúa Kho ở Bắc Ninh
Nhắc đến đền Bà chúa Kho thì nhiều người biết đến đền Bà chúa Kho ở Bắc Ninh nhiều hơn là đình Giảng Võ (còn có tên là đình/ đền Bà Chúa Kho). Và cũng nhiều người dân không biết rằng ngôi đình ở Giảng Võ, thành phố Hà Nội mới là nơi thờ nữ tướng trông coi kho tàng của nhà Trần, được chính vua Trần Nhân Tông phong tước.
Về sự tích Bà chúa Kho ở đền thờ tại Bắc Ninh, đình Giảng Võ có lưu lại bài viết Một sự hiểu lầm về đền Bà Chúa Kho của tác giả Trần Minh và Nguyễn Trí Tuệ. Theo như phân tích trong bài viết của hai tác giả này thì Bà Chúa Kho được thờ tại Bắc Ninh vốn là Hoàng hậu vua Trần. Khi Hoàng hậu lâm bệnh mất, nhà vua thương tiếc nên mới sai 72 làng quanh vùng lập đền thờ, trong đó có quê gốc của Hoàng hậu là Cổ Mễ (nay thuộc Bắc Ninh). Đền thờ ở đây được dựng trên núi Kho. Về sau, các triều đại sắc phong bà là nữ thần và ban danh hiệu Bà Chúa nên dân gian quen gọi là Bà Chúa Kho, nghĩa là bà Chúa núi Kho. Về sau, người dân đã lầm tưởng đây là nơi thờ của bà chúa trông coi kho tàng của triều đình.
Vì hiểu lầm về gốc tích của thần được thờ nên nhiều người đã đến đây cầu xin thần ban phát của cải, tài lộc và làm phát sinh những hiện tượng tiêu cực, làm mất đi bản sắc văn hoá uy nghiêm của nơi thờ tự.

21.                        Chùa Bà Đanh

Vị trí
Chùa Bà Đanh toạ lạc tại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chùa quay mặt ra hướng Nam mạn sông Đáy. Chùa đã được xây dựng từ lâu đời nhưng được trùng tu nhiều lần. Các công trình còn lại đều được xây dựng từ thế kỷ XIX trở lại đây.
Kiến trúc
Chùa có cổng tam quan, công trình này được tôn cao vượt hẳn lên năm bậc và hai đầu xây bít đốc. Tam quan có ba gian, hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái, lợp bằng ngói nam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can và những chấn song con tiện, tầng này sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim. Phía ngoài cửa hai bên là hai cột đồng trụ được xây nhô hẳn ra. Trên nóc tam quan đắp một đôi rồng chầu vào giữa. Hai bên cổng chính là hai cổng nhỏ có tám mái, cửa phía trên lượng cong hình bán nguyệt.
Nhà bái đường có 5 gian, hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam. Nhà trung đường cũng có 5 gian, hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam, cửa nối liền với tòa bái đường. Nhà thượng điện có 3 gian, hai bên xây tường bao, phía trước là hệ thống cửa gỗ lim. Đằng trước nhà tổ là một sân gạch, phía ngoài là khu vườn để trồng hoa và cây lưu niệm. Phía đông của khu chùa là phủ thờ Mẫu làm giáp với dãy trung đường. Toàn bộ khu vực chùa có tường bao quanh. Nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc của ngôi chùa tập trung thể hiện ở nhà bái đường – nơi hành lễ thường ngày của các nhà sư và các phật tử.
Trong nhà thượng đường của chùa Bà Đanh có nhiều tượng thờ như tượng Tam thế, tượng Ngọc Hoàng và Thái Thượng Lão Quân, tượng Bà Chúa Đanh. Có thể coi pho tượng Bà Đanh là một nét đặc sắc của chùa. Tượng được tạc theo tư thế toạ thiền trên chiếc ngai đen bóng (không phải là tòa sen), với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết, không có dáng vẻ siêu thoát, thần bí như các tượng Phật khác. Sự hài hòa giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh.

22.                        Cụm di tích Đình - Đền - Chùa Triều Khúc

Lịch sử
Đình - đền - chùa Triều Khúc là cụm di tích thuộc làng Triều Khúc, còn gọi là làng Đơ Thao, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, thờ Bố cái Đại vương Phùng Hưng. Theo sử thì Phùng Hưng là người quê Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, là một hào kiệt thời bấy giờ (766 - 799). Ông đã chiêu tập quân sĩ chống lại ách thống trị của nhà Đường (Trung Quốc). Viên quan cai trị lúc đó là Cao Chính Bình, vì bị nghĩa quân bao vây nên sợ hãi, phát ốm rồi chết. Nghĩa quân giành được thắng lợi, Phùng Hưng được nhân dân tôn là Bố Cái Đại vương. Trong khi đem quân đánh thành Tống Bình (nay thuộc Hà Nội) Phùng Hưng đóng doanh trại ở làng Triều Khúc, nên sau khi ông mất, cũng như quê hương Đường Lâm và nhiều nơi khác, làng Triều Khúc đã lập đền thờ ông.
Kiến trúc
Đình có quy mô kiến trúc lớn, gồm tam quan, phương đình, hai dãy nhà giải vũ, đại đình và hậu cung. Tam quan là một ngôi nhà gạch ba gian kiểu vì kèo. Sau tam quan là phương đình hai tầng, tám mái, mười sáu cột (bốn cột cái lớn và mười hai cột quân), các kẻ chạy từ cột cái tới nóc. Các đầu kẻ có chạm rồng và lá, đầu dư chạm hình đầu rồng thời Nguyễn, góc mái uốn cong, bờ dải đắp nổi hình rồng, phượng hướng về nóc mái. Qua sân là hai nhà giải vũ song song với phương đình.
Đại đình là kiến trúc chính gồm năm gian lợp ngói ta, với 24 cột, bốn hàng dọc, sáu hàng ngang, ba mặt xây tường gạch. Chính giữa bờ nóc là hình mặt trời lửa. Các cánh cửa chính sơn son thiếp vàng. Kiến trúc theo lối chồng rường giá chiêng, hai đầu hồi chạm nổi hình mặt hổ. Đầu dư của vì kèo gian giữa chạm nổi hình đầu rồng, miệng ngậm viên ngọc. Trên các đầu bẩy đều trang trí hình rồng lá, rồng mây, phượng, long mã.. Các bức cốn trên các bộ vì, được chạm lộng các hình rồng cuốn nước, long, ly, quy, phượng, rồng mẹ, rồng con. Hệ thống y môn và cửa võng được chạm khắc tinh vi và sơn son thiếp vàng lộng lẫy.
Hậu cung là một ngôi nhà ba gian nối với gian giữa đại đình tạo nên kiến trúc hình chữ "đinh", đây là nơi đặt long ngai bài vị, đồ thờ tự và mười một đạo sắc phong, sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1784), muộn nhất là năm Khải Định thứ 9 (1924).
Đền Triều Khúc (ở làng vẫn gọi là đền thờ sắc) được xây ở giữa làng, trông ra hồ rộng. Đây là ngôi nhà rộng, phía trong có hệ thống sàn, trước sau đều để trống, thoáng đãng. Sau ngôi nhà này là ngôi nhà làm nơi thờ (có thể gọi là tiền đình), nối liền với hậu cung, 2 bên đầu hồi có tường nối suốt cả ba toà. Đền Triều Khúc được chạm trổ khá công phu. Các đầu bẩy và cốn nách đều chạm tứ linh và vân mây, hoa lá.
Chùa Triều Khúc có tên chữ là Hương Vân tự, có quy mô to lớn, bao gồm tam quan, tam bảo, tiền đường, thượng điện, hai dãy hành lang, nhà Tổ. Chùa toạ lạc phía bên kia bờ hồ đình và đền Triều Khúc, trong một khuôn viên có nhiều cây cổ thụ sum suê. Tam quan hai tầng mái ở cửa chính và 2 cửa phụ, có bốn cột trụ biểu. Nhà tiền đường gồm năm gian, tường hồi bít đốc tay ngai bờ nóc đắp cuốn thư. Toà thượng điện 5 gian nối với tiền đường tạo hình chuôi vồ. Phật điện có 52 pho tượng được tạo tác từ thế kỉ XVIII và thời Nguyễn.
Hàng năm làng Đơ Thao mở hội xuân từ mồng 10 đến 12 tháng Giêng ÂL. Đây là một hội làng khá tiêu biểu cho nghi thức truyền thống nổi tiếng của thủ đô Hà Nội.
Phần hội đặc sắc nhất là múa "con đĩ đánh bồng", tiết tấu và động tác khác với các nơi, vui và hấp dẫn.
Đình - đền - chùa Triều Khúc đều đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử - Nghệ thuật - Kiến trúc ngày 29/01/1993.

23.                        Đình Ngọ Xá-Dấu ấn khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Thôn Ngọ Xá, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành là một làng cổ nằm bên bờ Nam sông Đuống có bề dày lịch sử và văn hiến. Trong quần thể di tích của Ngọ Xá thì ngôi đình làng đã phản ánh bề dày lịch sử và những nét văn hiến tiêu biểu của quê hương nơi đây, đặc biệt còn phản ánh về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào thế kỷ I đầu công nguyên
Đình Ngọ Xá vốn được khởi dựng từ lâu đời, đến đầu thời Nguyễn được trùng tu và mở rộng với quy mô lớn và còn bảo lưu khá nguyên vẹn đến ngày nay. Đó là tòa đại đình kiểu chữ Công gồm tiền tế 3 gian 2 chái bốn mái đao cong, ống muống 2 gian và hậu cung 3 gian, bộ khung gỗ lim vững chắc, trên tất cả các bộ phận như vì nóc, con rường, cốn, đầu dư, bẩy đều được chạm khắc “tứ linh, tứ quý” tinh xảo.
Song giá trị nổi bật của đình Ngọ Xá chính là những cổ vật còn bảo lưu được như: Thần tích, sắc phong, bia đá và nhiều đồ thờ tự khác. Đặc biệt, bản thần tích được kê khai vào năm 1938 và 7 đạo sắc phong với các niên đại: 2 đạo Thiệu Trị 6 (1846), Tự Đức 3 (1850), Tự Đức 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1886), Duy Tân 3 (1909) và Khải Định 9 (1924), đã cho biết khá rõ về người được thờ và có thể tóm tắt như sau:
Vào đầu công nguyên, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Vua nhà Hán cử Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là một kẻ vô cùng tham lam tàn bạo, khiến đời sống nhân dân ta khổ cực lầm than. Thái thú Tô Định đã giết chết Thi Sách con Lạc tướng Chu Diên là chồng của Trưng Trắc. Không chịu nổi ách đô hộ của Tô Định, Trưng Trắc đã cùng em là Trưng Nhị mô binh phất cờ khởi nghĩa đánh chiếm các thành trì nơi quân Hán đóng. Quân của Hai Bà đã đánh chiếm một số thành trì, rồi tiến quân xuống huyện Siêu Loại xứ Kinh Bắc để đánh chiếm thành Luy Lâu là thủ phủ của quân Hán. Khi quân của Trưng Trắc tiến đến làng Ngọ Xá, vào ngôi miếu cổ nơi đây để nghỉ ngơi, bỗng trời nổi cơn phong ba, mưa gió dữ dội, rồi trời quang mây tạnh, có một đám mây ngũ sắc bay đến phủ trên miếu. Bà trông thấy rõ có ba vị thiên thần hình dáng kỳ dị, mũ áo chỉnh tề, từ đám mây bước ra và nói rằng: “Chúng ta đây chính danh thứ nhất là Lạc Thị, thứ hai là Quốc Công, thứ ba là Bảo Công. Nay thấy nhà ngươi là đàn bà mà có lòng dẹp giặc giữ nước, yên dân, nên âm phù cho nhà ngươi để lập công sau này chắc được hiển vinh”. Ba vị thiên thần nói xong rồi biến mất, hôm ấy là ngày 12 tháng 2. Bà biết là thiên thần linh hiển ứng giúp, liền lập tức làm lễ tạ thần ở ngôi miếu cổ này. Sau đó, Bà cho quân tiến thẳng đến thành Luy Lâu nơi Tô Định đóng đánh một trận quyết chiến, tiêu diệt và bắt được rất nhiều giặc, thu được nhiều lương thực, vũ khí. Sau khi thắng trận, Bà đã mở yến tiệc khao quân, cho gọi phụ lão làng Ngọ Xá đến bảo rằng: “Ta sớm trừ được giặc Tô Định cũng là nhờ Thần ở ngôi miếu cổ ở làng âm phù cho. Từ đây về sau, dân làng cứ theo tên hiệu của ba vị Thần mà thờ phụng”, còn ban cho dân làng 30 nén vàng để sửa sang miếu thờ. Trưng Trắc trở về kinh đô lên ngôi vua, ban tặng sắc phong cho ba vị Thần ở làng Ngọ Xá là: Vị thứ nhất “Lạc Thị đại vương”, vị thứ hai là “Quốc Công đại vương”, vị thứ ba là “Bảo Công đại vương”. Từ đó về sau, các triều vua qua đây đánh giặc được Thần ở làng Ngọ Xá âm phù và đều có sắc phong ban thêm mỹ tự cho Thần.
Giá trị của đình Ngọ Xá còn được thể hiện ở lễ hội truyền thống: Hàng năm cứ đến ngày 11 tháng 2 (âm lịch) đình Ngọ Xá lại được mở hội. Xưa để chuẩn bị cho công việc đình đám, ngay từ trong năm làng tổ chức họp phân việc cho các giáp (Đông, Đoài). Mỗi giáp cử ra 1 ông Quan đám để lo việc đình đám. Trong hai ông quan đám này, cử ra một ông “chủ tế” được nhận ruộng công để nuôi bò và làm bánh dầy tế thánh. Vào đám, ngay từ ngày 11 làng tổ chức mở cửa đình để bao sái đồ thờ tự và phong cờ quạt và mời quan viên chức dịch các làng giao hảo đến dự hội. Ngọ Xá giao hảo với thôn Chi Trung (xã Tân Chi) và thôn Thượng Trì (cùng xã Hoài Thượng) và mỗi khi đình đám đều mời quan viên, chức dịch đến tế lễ giao lưu văn hóa. Ngày 13, làng tổ chức rước văn và rước “Bà Đám” từ nhà ra đình để tế thánh (Bà Đám có công cấy lúa, nuôi bò, làm bánh dầy tế thánh nên được trọng vọng như Ông Đám). Trong khi tế có tục hát ca trù thờ thần. Trong những ngày lễ hội, sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi giải trí như: tuồng, chèo, vật, đu, chọi gà… thu hút đông đảo nhân dân địa phương vào những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ vui tươi lành mạnh

24.                        Chùa Một Cột

Vị trí: Phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình, Hà Nội.
Ðặc điểm: Chùa có kiến trúc độc đáo, được tạo dáng như một bông sen cách điệu từ dưới nước vươn lên.
Chùa Một Cột có tên chữ là Diên Hựu (phúc lành dài lâu) được xây dựng vào năm 1049 thời vua Lý Thái Tông. Tương truyền khi ấy vua Lý Thái Tông đã cao tuổi mà chưa có con trai nên nhà vua thường đến các chùa để cầu tự. Một đêm ông chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện lên đài hoa sen ở một hồ nước hình vuông phía tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai trao cho nhà vua. Ít lâu sau hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa Một Cột có dáng dấp như đã thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm.
Chùa Một Cột là một Quốc tự, liên quan tới vua sáng lập triều Lý, được xây dựng gần khu vực Tử Cấm thành, hàng tháng cứ rằm, mồng một vua đến đặt lễ cầu phúc.
Theo sử sách, chùa được xây lần thứ nhất năm 1049: "Mùa đông tháng 10 dựng chùa Diên Hựu. Trước đây vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên toà sen, dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy vua nói với bề tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất, làm toà sen của phật Quan Âm như đã thấy ở trong mộng. Cho các nhà sư đi xung quanh tụng kinh cầu nhà vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (phúc lành dài lâu). Năm 1070 mùa xuân tháng giêng năm Thần Võ thứ 2, vua viết chữ Phật dài 1 trượng 6 thước khắc vào phiến đá".
Lần xây dựng thứ hai vào năm 1105, vua tu bổ chùa Diên Hựu: "Mùa thu tháng 9 làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu... Bấy giờ vua chữa lại chùa đẹp hơn chùa cũ, đào hồ Liên Hoa Ðài gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ". Bích trì đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây Bảo Tháp. Trước khi vào chùa còn có một phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng (khoảng 26m) trước cổng chùa. Chùa là một cụm kiến trúc bề thế, có ý tưởng độc đáo và thẩm mỹ đẹp đã bị chiến tranh tàn phá, trở thành um tùm rậm rạp thời giặc Minh”.
Thông qua nhiều tài liệu cổ cho biết chiếc cột thần kỳ cao tới 20m, trong đó có bia Sùng Diện Linh ở chùa Long Ðọi Nam Hà do Binh bộ thượng thư Nguyễn Công Bật viết đã mô tả và ghi chép tỷ mỷ việc xây tiếp chùa Một Cột: "Mở cửa chùa Diên Hựu tại vườn tây. Dấu vết theo quy mô thủa trước, lo toan Thánh ý ngày nay. Ðảo hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ trồi lên cột đá. Trên cột đá có một cánh hoa sen ngàn cánh xoè ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm. Trong đền đặt pho tượng sắc vàng, ngoài hồ có hành lang bao bọc. Ngoài hành lang lại có hồ Bích Trì, bắc cầu cong đi lại, ở sân trước hai cầu bên tả hữu xây bảo tháp lưu ly...".
Đây là một công trình kiến trúc sáng tạo kết hợp không gian kiến trúc có nhịp điệu cao thấp gồm điêu khắc đá, hội hoạ, chạm vẽ hành lang, mặt nước là biểu tượng văn hoá, nghệ thuật cao, tính dân tộc đậm nét. Chùa đã bị huỷ hoại, xây dựng lại nhỏ hơn so với nguyên mẫu, nhắc lại ở đây một thời đã có một cụm kiến trúc độc đáo.

25. Đền Đô_Bắc Ninh

Vị trí: Đền Đô nằm ở làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đặc điểm: Di tích lịch sử văn hoá đền Đô đã được Nhà nước công nhận xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia theo Quyết định số 154 ngày 25/01/1991 của Bộ Văn hoá Thông tin - Thể thao và Du lịch.
Là nơi thờ 8 vị vua nhà Lý. Đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009 - 1028); Lý Thái Tông (1028 - 1054); Lý Thánh Tông (1054 - 1072); Lý Nhân Tông (1072 - 1128); Lý Thần Tông (1128 - 1138); Lý Anh Tông (1138 - 1175); Lý Cao Tông (1175 - 1210) và Lý Huệ Tông (1210 - 1224).
Đền Đô - còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế, đền được xây dựng vào thế kỷ 11 (1030), trên khu đất phía đông nam Hương Cổ Pháp, Châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng). Khu đất này theo Thiền sư Lý Vạn Hạnh cho rằng nơi hội tụ của thiên khí, nơi có thế 8 đầu rồng chầu về. Tương truyền, xưa kia phía trước cửa đền là một khu rừng Báng, có dòng Tiêu Tương uốn khúc chảy qua.
Đền được dựng trên nền đất. Khi vua Lý Công Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê hương vào tháng 2 năm Canh Tuất (1010), tại đây, nhà vua đã dừng thuyền rồng để đi thăm các bậc kỳ lão, yết lăng Thái Hậu và đo vài mươi dặm đất làm “Sơn Lăng cấm địa”. Dân làng Đình Bảng đã xây dựng một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua.
Khi vua Lý Công Uẩn băng hà (1028), Lý Thái Tông lên ngôi kế vị vua cha, Ông đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa và chọn làm nơi thờ tự vua cha và cũng từ đó đền trở thành nơi thờ tự các vị vua nhà Lý sau khi băng hà.
Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, đền Đô đều được quan tâm tu sửa và mở rộng, đặc biệt, đền được mở rộng nhất vào thế kỷ 17 (1602) với quy mô của 21 hạng mục công trình được sắp xếp theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, xung quanh có tường thành vây bọc. Kiến trúc của đền có sự kế thừa phong cách cung đình và phong cách dân gian, tổng thể kiến trúc được kết hợp hài hoà, chạm khắc tinh xảo, thể hiện một công trình kiến trúc bề thế vững chắc nhưng không cứng nhắc trong khung cảnh thiên nhiên.
Năm 1952, đền Đô bị giặc Pháp chiếm và phá huỷ hoàn toàn. Từ năm 1989 trở lại đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng của nhân dân Đình Bảng và tấm lòng công đức của nhân dân thập phương, Đền Đô đã từng bước được khôi phục, tìm lại dáng vẻ xưa của đợt trùng tu, mở rộng đền năm 1602 với các hạng mục công trình như: Nhà Hậu cung (80m²), nhà chuyền Bồng (80m²), nhà Kiệu (130m²), nhà để Ngựa (130m²), Thuỷ đình, Phương đình...
Căn cứ vào các dấu tích, các nguồn tài liệu và các hạng mục công trình đã được dựng lại cho phép chúng ta hình dung tổng thể kiến trúc di tích đền Đô như sau:
Đền Đô có diện tích 31.250m², gồm 21 hạng mục công trình lớn nhỏ. Trung tâm là điện thờ, nơi đặt bài vị và tượng của Tám vị vua nhà Lý, xung quanh có nhà chuyền Bồng, nhà Tiền tế, nhà Phương Đình, nhà để kiệu, nhà để ngựa, nhà Thuỷ Đình... Kiến trúc Đền đô được chia làm hai khu vực nội thành và ngoại thành.
Khu vực nội thành có diện tích 4.320m² , bố trí theo kiểu “Nội công ngoại quốc” bao quanh là tường gạch cao 3m, rộng 1m (hai bên xây gạch, ở giữa đổ đất) có hai cửa ra vào. Nội thành được chia thành Nội thất và Ngoại thất.
Nội thất bao gồm các công trình: Nhà Hậu cung- Nơi đặt ngai và bài vị thờ Tám vị vua Nhà Lý (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông). Nhà Chuyền Bồng có kiến trúc chồng diêm tám mái, các đầu đao uốn cong mềm mại. Ngoài ra còn có nhà để bia, nhà để ngựa, nhà để kiệu,... tất cả đều được xây dựng công phu, đắp, chạm khắc tinh xảo.
Ngoại thất gồm nhà vuông, kiến trúc kiểu chồng diêm tám mái, 8 đầu đao cong vút mềm mại. Khu vực này có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách, đền vua Bà (đền thờ Lý Chiêu Hoàng)
Đền Đô với kiến trúc độc đáo mang tính giá trị nghệ thuật, cảnh trí hữu tình và mang trong mình một giá trị lịch sử văn hoá đậm nét của Vương Triều Lý nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung. Đền Đô xứng đáng với lời ngợi ca
“ Đền Đô kiến trúc tuyệt vời
Thăng Long đẹp nhất, đẹp người ngàn năm”

26.                   Chùa Bút Tháp và ảnh hưởng của Thiền Tông

Vừa giới thiệu với các bạn đôi nét về chùa Dâu,bây giờ Trúc sẽ giới thiệu tiếp về chùa Bút Tháp.Chùa Dâu và Chùa Bút Tháp là những ngơi chùa cổ kính bậc nhất ở Bắc Ninh-vùng đất van hiến với thành cổ Luy LÂU-Chùa Thiếu Lâm ở Hà Nam (Trung Quốc) vào thời Bắc Nguỵ, nơi thuỷ tổ Thiền Tông là Đạt Ma trụ trì. Phái Thiền Tông rèn luyện thân thể đến cảnh giới cao độ có thể cột được tâm bản thân để thành chính quả. Tuy nhiên thời kì đó Trung Quốc loạn lạc liên miên, các sư tăng Thiếu Lâm Tự không tránh khỏi việc đề cao chính nghĩa cứu vớt sinh linh lầm than, tức là đã tích cực can thiệp vào việc đời. Ngày nay Thiếu Lâm Tự nổi tiếng thế giới chủ yếu ở việc rèn luyện thân thể.
Từ Thiếu Lâm Tự, Thiền Tông nhanh chóng phát triển ảnh hưởng ra các địa phương lân cận, trong đó có cả Việt Nam. Người đưa Thiền Tông vào nước ta là hoà thượng Viên Văn, tổ dòng Lâm Tế đời thứ 34. Hoà thượng Viên Văn tên thật là Lý Thiên Tộ, pháp danh Hải Trừng, thường được gọi là Chuyết Công hay Chuyết Chuyết, sinh năm 1590 tại Phúc Kiến. Ban đầu ngài xuất gia theo hoà thượng Tiệm Sơn, rồi theo hoà thượng Đà Đà, một vị cao tăng được vua Minh phong là Khuông Quốc đại sư. Sau khi đắc pháp, Chuyết Công dẫn đệ tử đi thuyền về phương nam truyền đạo vào năm 1630. Ngài đã qua Cao Miên, Chiêm Thành nhưng không hợp ý các vua nơi đó, rồi ngài đến Thăng Long vào năm 1633, giảng Phật pháp ở chùa Khán Sơn. Chúa Trịnh Tráng và vua Lê Huyền Tông đều tôn kính ngài, do đó ngài đã ở lại tu hành ở chùa Phật Tích.
Chúa Trịnh đánh giá cao giáo lí Thiền Tông qua nội dung văn bia Phụng lệnh chỉ dựng năm 1646 ở chùa Bút Tháp: Đạo Phật phù trợ khiến vận nước vững bền. Bia Sắc kiến Ninh Phúc thiền tự bi kí dựng năm 1647 cũng viết: Phật pháp khó gặp, lòng nhân chẳng dễ. Phật pháp hư không sao có lòng tin sâu rộng đến vậy. Tại đây sư Chuyết Chuyết cử đại đệ tử Minh Hành về nước thỉnh kinh theo nguyện vọng của chúa Trịnh. Sau đó ngài cho khắc in và tàng kinh tại chùa Phật Tích bộ kinh Thuỷ lục chư khoa. Tiếp đó ngài tổ chức một trai đàn lớn cầu cho các vong linh của thời đại. Giáo lí Thiền Tông ngay bấy giờ đã có ảnh hưởng lớn đến vương triều Lê Trịnh.
Năm 1640 hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc xuất gia theo Chuyết Công. Sau đó công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, con gái hoàng hậu Ngọc Trúc cũng xuất gia ở chùa Phật Tích theo Minh Hành. Năm 1640 Chúa Trịnh đã ra sắc chỉ xây dựng lại chùa Ninh Phúc, tên cũ của chùa Bút Tháp, quy mô như ngày nay. Sư Chuyết Chuyết cùng các môn đệ sang đây tu hành và chỉ đạo xây chùa theo mô hình Thiếu Lâm Tự ở Trung Quốc. Điều này được chính sư Minh Hành viết ở bia chùa: Ninh Phúc biệt danh là cổ sái Thiếu Lâm, vốn là nền cũ dấu xưa của bậc thánh hiền, thực đúng hình thắng nổi danh trong vùng Siêu Loại. Hay thay! Đất lành hun đúc khí thiêng. Dựng chùa mới cốt để ghi nhớ lòng hiếu từ yêu người, thốt lời hay ấy há không đi tới chỗ đạo đức nhân nghĩa?
Năm 1644 sư Chuyết Chuyết viên tịch, sư Minh Hành sang kế trụ trì và tiếp tục chỉ đạo xây chùa. Ngài cho xây tháp Báo Nghiêm thờ thầy, ngôi tháp hình chiếc bút khổng lồ nay thành biểu tượng của tỉnh Bắc Ninh văn hiến. Cư sĩ Âu Dương Vựng Đăng viết văn bia có đoạn: Tôi học Phật, lánh sang nước Nam, có dịp hội đàm với thiền sư Chuyết Chuyết tại chùa Khán Sơn ở Thăng Long. Lúc mới gặp tôi nghĩ ngài là người khùng. Lâu ngày tôi thấy ngài là người thông thái, rộng rãi, thanh tịnh. Ngài lại có tài ngôn luận, thích bỡn cợt vui vẻ. Ngài đức độ trung hậu, kính già yêu trẻ, coi thiện tử như bạn thân mà khinh thường tiền củ...
Sau khi sư Chuyết Chuyết qua đời, sư Minh Hành nhận y bát trở thành tổ thứ 35 dòng Lâm Tế Thiền Tông. Trong văn bia ở chùa Bút Tháp ngài tự viết rằng: Than ôi! Ta vốn là kẻ nghèo hèn ở đất Hu Giang, biết bao giờ gửi tinh chất vào toà sen thượng phẩm. Ngoảnh mặt vào tường, đứng trong tuyết lạnh, ấn tổ theo đó thêm sáng; lưng đeo đá nặng giã gạo đêm khuya. Y bát từ đây kế truyền. Một niệm Di Đà sáng soi thế giới ba ngàn đại thiên; Luận bàn Phật điển phô bày nghĩa lí sáu đời lục tổ. Như vậy chính sư Minh Hành đã khẳng định dòng Lâm Tế Đại Việt là một chi nhánh của Thiền Tông Trung Quốc mà trung tâm là Thiếu Lâm Tự. Sáu đời lục tổ là Bồ Đề Đạt Ma; Huệ Khả; Tăng Xán; Đạo Tín; Hoằng Nhẫn; Huệ Năng. Trong đó Huệ Khả đứng trong tuyết lạnh nhiều ngày tham thiền học đạo khi thầy ngoảnh nhìn vào tường, còn Huệ Năng thì đeo đá nặng giã gạo dưới bếp nhà chùa, được thầy truyền y bát vào lúc đêm khuya. Ngày 24 tháng 3 năm 1659 sư Minh Hành qua đời, đệ tử Sa di Chân Kiến, tổ đời thứ 36, người Đông Ngàn, dựng tháp đá Tôn Đức chứa xá lị thầy. Ngôi bảo tháp này được tu sửa đầu năm 2009 đã tìm thấy 2 pho kinh Hoa Nghiêm bằng đồng nặng 20 kg để ở trên đỉnh tháp. Tại chùa Trạch Lâm ở Thanh Hoá cũng có tháp mộ sư Minh Hành, bên trong có pho tượng ngài đúc bằng đồng. Hội chùa Bút Tháp chính là ngày giỗ sư tổ Minh Hành.
Kiến trúc chùa Bút Tháp còn nguyên dạng đến ngày nay, gồm các hạng mục chính là: tam quan, gác chuông; thiêu hương; thượng điện; tích thiện am; nhà chung; phủ thờ; hậu đường; nhà tổ; giải vũ và các tháp sư tổ. Hệ thống tượng phật và tượng sư tổ khá phong phú, tiêu biểu là các pho: Tam Thế; Phật Bà nghìn mắt nghìn tay; Tuyết Sơn; Thị giả; La Hán; Quan Âm Thế Chí; Bà chúa Kim Cương; Chuyết Công; Minh Hành... Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay là tuyệt phẩm nghệ thuật tạc tượng của nước ta. Tượng có kích thước 3,7m x 2,1m x 1,15m. Trên đầu Phật Bà có tượng Adida tạo thành 11 mặt phật và 42 cánh tay trần, dựa theo điển Adida chắp lại mặt Quan Âm khi quá lo nghĩ nổ thành nhiều mảnh nhỏ. Sau lưng Phật Bà là vầng hào quang, trên đó gắn 952 tay nhỏ tạo thành nhiều lớp, ở giữa mỗi bàn tay gắn một con mắt mi dài, đen láy. Tư thế tượng ngồi thư thái trên toà sen do Chàng ba Long Vương đội đưa Phật Bà vượt qua biển khổ. Bên dưới bệ tượng có khắc dòng chữ Hán: Tuế thứ Bính Thân niên thu nguyệt cốc nhật doanh tạo Nam đồng Giao Thọ nam Trương tiên sinh phụng khắc. Nghĩa là: Giao Thọ nam Trương tiên sinh hoàn thành tạc tượng ngày tốt mùa thu năm Bính Thân (1656). Ngoài ra còn một hệ thống các bức phù điêu gỗ và phù điêu đá tươi vui sống động rút từ thiên nhiên và truyền thuyết dân gian.
Trải qua thời gian, nhiều hạng mục kiến trúc chùa xuống cấp, từ năm 1989 chính phủ Cộng hoà Liên bang Đức đã tài trợ kinh phí 8 đợt tu sửa, do Trung tâm tu bổ di tích thi công. Việc tu sửa có sự khảo sát, thiết kế, phương án tu bổ từng hạng mục chu đáo nên cơ bản giữ được nguyên trạng ban đầu. Đặc biệt đầu năm 2009, trong quá trình tu bổ tháp Tôn Đức và phát hiện ra 2 pho kinh bằng đồng.
Chùa Bút Tháp tuy dựng ở vùng đồng bằng nhưng cảnh quan và giáo lí Thiền Tông của nó luôn là nơi hành hương tâm linh của du khách trong và ngoài nước. Tiếc rằng vốn công phu của tiền nhân đã thất truyền. Trước Cách mạng tháng Tám, sư Thích Giải Ngạn, chú ruột vua Bảo Đại trụ trì chùa vẫn còn là một người công phu kì tài. Ông có truyền dạy công phu cho một số đệ tử tục gia, số này đã tham gia tích cực trong kháng chiến chống Pháp. Đệ tử cuối cùng là ông Tống Ngọc Đấu cũng đã qua đời mà không truyền dạy cho người nào.

27.                   Chùa Dâu

Chùa Dâu, được xây dựng ở cổ thành Luy Lâu từ thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, là ngôi chùa cổ nhất và là nơi khởi nguồn của đạo Phật Việt Nam. Chùa nằm phía nam cổthành Luy Lâu, trên mộtkhu đất rộng bên bờsông Thiên Đức cũ(nay thuộc thôn Khương Tự, xãThanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Xa xưa người dân ởđây thường sốngbằng nghềtrồng dâu, nuôi tằm và cấy lúa nước nên dân gian xưa gọi là vùng dâuhoặc KẻDâu.
Ban đầu chùa có tên là Pháp Vân Tự. Theo sựtích dân gian,Man Nương vào tu tại chùa Linh Quang (thuộc huyện Tiên Sơn ngày nay) từnăm 12tuổi. Một hôm Man Nương đang nằm ngủ, nhà sưKhâu Đà La người Tây Trúc (Ấn Độ)vô tình bước ngang qua người. Bà Man Nương có mang, sau 14 tháng thì sinh ra mộtcô con gái. Trước khi vềTây Trúc sư Khâu Đà La đã trao cho Man Nương một câygậy tầm xích dặn là khi nào hạn hán mang ra cắm xuống đất sẽcứu được mọi sinhlinh và niệm chú gửi bé gái vào một hốc cây dâu bên bờsông ThiênĐức.
Sau khi sưvềTây Trúc, hạn hán kéo dài ba năm. Man Nương liền dùng gậy tầm xích cắm xuống đất tạo ra mưa. Cây dâu bịđổtrôi vềthành Luy Lâu vàtrôi vào bờkhi nghe tiếng bà Man Nương gọi. Man Nương cho xẻtạc cây thành bốntượng Phật gọi là tứpháp, đặt phật hiệu là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, PhápĐiện tượng trưng cho mây, mưa, sấm, chớp. Khi tạc đến khúc giữa, những người thợ gặp phải hòn đá bèn ném xuống sông. Ban đêm, lòng sông sáng rực lên. Thì ra đólà người con gái của Khâu Đà La gửi vào cây dâu đã hóa đá. Hòn đá nhảy vàothuyền bà Man Nương và được bà đưa lên thờ, gọi là đức Thạch Quang (đá tỏasáng).
Man Nương sau được tôn là Phật mẫu, tu ởchùa Tổ(Mãn xá), còn tứ pháp được thờởbốn chùa khác nhau trong cùng một khu vực.
Pháp Vân Tự-Chùa Dâu là nơi tu hành đắc đạo của nhiều vịcao tăng nổi tiếng. Với ý nghĩa làmột Trung tâm Phật giáo từđầu Công nguyên, nơi đây đã đào tạo 500 vịtăng ni,dịch 15 bộkinh phật và xây dựng hàng chục bảo tháp uy nghiêm. Nhiều vịcao tăngnổi tiếng đã đến đây trụtrì nhưMâu Bát, Tì Ni Da Lưu Chi, Khang Tăng Hội, PhápHiền.
Chùa Dâu được coi là một ngôi chùa rất thiêng nên còn được gọi làchùa Diên Ứng (diên là câu, ứng là hiệu, tức cầu gì được nấy). Các đời vua củacác triều đại xa xưa đã từng vềchùa Dâu đểrước tượng Pháp Vân vềchùa BáoThiên (Hà Nội) đểcầu đảo (cầu mưa cầu gió). Vua Lý Thánh Tông cũng đã vềchùacầu tự, khi đi thuyền trên sông đã gặp nguyên phi ỶLan.
Chùa Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa từthếkỷ17-18, thời Hậu Lê. Chùa chính được bốcụctheo kiểu "nội công ngoại quốc", nằm trong khuôn viên hình chữnhật 30x70m, baogồm tiền đường, tháp Hòa Phong, tảtrường lang, hữu trường lang, đại bái đường,Phật điện, cung cấm, hậu đường, Thạch Quang am.
Trải qua bao thăng trầmcủa thời gian, chùa Dâu và hội Dâu vẫn luôn là điểm đến của Phật tửcảnước. Dukhách đến với chùa Dâu nhưvềvới cội nguồn của đạo Phật nước Nam, đểcầu khẩnmột sựbình yên trong tâm hồn nhưcái tên bình dị, mộc mạc của ngôi chùa cổtrênđất Bắc Ninh.

28.                   Chùa An Châu - Thái Nguyên

Chùa An Châu thuộc xã Nga My (Phú Bình) là một ngôi chùa cổ, nằm trên một quả đồi cao ráo ở trung tâm của làng. Phía Đông Nam có dòng sông Cầu lịch sử, là nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp, một thắng cảnh nổi tiếng của địa phương. Nhân dân trong vùng thường gọi là chùa Lảo, vì chùa có tên chữ là Quang Lão tự.
Ngoài tên gọi trên, nhân dân còn gọi là chùa An Châu, tên này gắn với tên làng. Tên làng An Châu mới có vào thời Nguyễn. Trước đó, làng An Châu xưa có tên cổ là xã An Nhuyễn, thuộc tổng Hà Nhuyễn, huyện Hiệp Hoà, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa An Châu nằm trong diện tiêu khổ kháng chiến. Hoà bình lập lại, năm 1985, nhân dân địa phương đã dựng lại ngôi chùa trên nền cũ. Hiện nay, trong chùa chỉ còn một số hiện vật như: 1 quả chuông cổ, 1 cây hương đá, 5 bia đá, tượng phật... có niên đại cuối Lê đầu Nguyễn. Chùa An Châu nằm ở một địa thế đẹp có tiền án, hậu chẩm, giữa làng mạc khá trù mật. Trong chùa có 1 câu đối ca ngợi về cảnh đẹp này như sau:

 Ấp An Châu, bên phải có núi tựa cho chùa Quang Lão
Núi đẹp ở bên trái càng làm cho chùa đẹp thêm

Trước cửa chùa là quần thể đình và văn chỉ của làng. Đình An Châu có nhà bát giác kiến trúc cổ rất đẹp. Trên các cấu kiện gỗ của nhà bát giác này được trang trí nhiều hoa văn với các đề tài tứ linh, tứ quý. Trong đình còn lưu giữ được 2 hoàng phi, 2 câu đối, 5 tấm bia đá, 12 sắc phong, trong đó có sắc phong ghi rõ sắc cho Dương Tự Minh người đã có công chống giặc Tống bảo vệ đất nước dưới triều Lý.
Chùa An Châu còn một số tượng phật cổ, có 5 bia đá cổ ghi công đức có giá trị là tư liệu Hán Nôm quy, nhưng 1 trong những hiện vật có giá trị là quả chuông đồng. Đây là quả chuông lớn, thuộc loại: "Đại hồng chung”. Chùa An Châu là một trong những ngôi chùa cổ còn lưu giữ được quả chuông có niên đại sớm nhất ở Thái Nguyên

29.                   Đền Vua Đinh

Vị trí
Đền vua Đinh Tiên Hoàng nằm trong quần thể kiến trúc cố đô Hoa Lư ở làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, còn gọi là đền Thượng. Ðền vua Ðinh nằm giữa các tán cây đại thụ, các vườn cây ăn quả, cây cảnh đan xen nhau càng tạo nên vẻ bề thế, hoành tráng tôn nghiêm của ngôi đền.
Tiểu sử Đinh Tiên Hoàng
Vua họ Đinh, tên huý là Bộ Lĩnh, người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), cha là Thái sử Hoan Châu Đinh Công Trứ. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân, lên ngôi là Đinh Tiên Hoàng, đóng đô ở Hoa Lư, quốc hiệu là Đại Cồ Việt, ở ngôi 12 năm (968-979), có tài năng sáng suốt, dũng cảm mưu lược, thống nhất đất nước sau những năm loạn lạc thời các sứ quân. Sau vua bị Đỗ Thích giết, hưởng dương 56 tuổi (924-979), mộ táng ở lăng Trường Yên.
Lịch sử - kiến trúc
Đền khởi dựng trong đời vua Lê Đại Hành, qua nhiều triều đại đều được phong thờ. Nhưng do lâu ngày, đền cũ đổ nát. Cuối đời Lê-Mạc, tướng nhà Lê là Mỹ quận công Bùi Văn Khuê đóng quân ở vùng này đứng ra tu sửa đền vào năm Quang Hưng 21 (1598). Kiến trúc đền hiện nay chủ yếu là công trình tu tạo năm Chính Hoà 17 (1696) và lần trùng tu năm Minh Mạng thứ 4 (1823).
Ðền toạ lạc trên khuôn viên diện tích chừng 5ha, được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 17, theo kiểu "nội công, ngoại quốc". Lớp ngoài là Ngọ môn quan (cổng ngoài) có 3 gian lợp ngói. Qua một sân ngắn vào đến lớp thứ hai là đến Nghi môn (cổng trong) 3 gian dựng bằng gỗ lim kiến trúc theo 3 hàng chân cột. Bốn góc ngoài của Nghi môn nội có xây bốn cột trụ cao. Ði hết chính đạo, qua hai cột trụ lớn là đến sân rồng. Giữa sân rồng có một long sàng bằng đá xung quanh chạm nổi, dài 1,8m, rộng 1,4m. Hai bên sập rồng có 2 con nghê đá chầu, được tạc trên hai tảng đá xanh nguyên khối đẹp.
Từ sân rồng bước lên là Bái đường 5 gian, kiến trúc độc đáo. Tiếp đến là Thiêu hương, kiến trúc theo kiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Ðinh. Ði hết toà Thiêu hương du khách bước vào chính cung 5 gian. Gian giữa thờ tượng vua Ðinh được đúc bằng đồng đặt trên bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối. Hai bên bệ đá có hai con rồng chầu bằng đá, tạc theo kiểu yên ngựa. Gian bên phải thờ tượng Ðinh Phụng Lang (ngoài), Ðinh Ðế Toàn (trong) đều quay mặt về phía Bắc, là hai con thứ của vua Ðinh Tiên Hoàng. Gian bên trái thờ tượng Ðinh Liễn quay mặt về phía Nam là con trưởng của vua Ðinh Tiên Hoàng.

30.                   Chùa Láng

Lịch sử và truyền thuyết
Chùa có tên chữ là Chiêu Thiền Tự, hay còn được gọi là chùa Cả, ở ven sông Tô Lịch, thuộc phường Láng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tên gọi Chiêu Thiền tự được giải thích trong văn bia tạo dựng năm Thịnh Đức thứ 4 (1656) hiện còn được bảo quản ở chùa như sau: Cái nguyên hữu chiêu hiển gia tường, cố dĩ Chiêu danh. Đĩnh sinh Thiền sư đại thánh, cố dĩ Thiền danh (nghĩa là: Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư đại thánh nên gọi là Thiền). Về cảnh đẹp của chùa, bài văn bia cũng đã mô tả: "Thật là danh lam bậc nhất, thế gian không có chùa nào sánh kịp. Khí tốt Phượng thành bên hữu toả khắp, dòng sông Tô Lịch bên tả lượn vòng, Nhị Hà nghìn dặm quanh kinh đô uốn khúc như rồng xanh lớp lớp chầu về, Tản Viên dãy núi đầy khí đẹp hướng vào, như hổ trắng đàn đàn đến họp".
Chùa thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh. Câu chuyện về Thiền sư Từ Đạo Hạnh mang nhiều màu sắc truyền kỳ. Theo các nguồn tư liệu còn lại đến ngày nay thì câu chuyện được kể như sau: Từ Đạo Hạnh có tên là Từ Lộ, con ông bà Từ Vinh và Tằng Thị Loan. Ông học giỏi, đỗ đầu khoa Bạch Liên nhưng không ra làm quan, mà tìm đường sang Tây Trúc học đạo để trả thù cho cha (Nguyên Từ Vinh có hiềm khích với Diên Thành hầu, bị Diên Thành hầu nhờ pháp sư Đại Điên giết chết rồi vứt xác xuống sông Tô Lịch). Sau khi đắc đạo và trả thù được cho cha, Từ Đạo Hạnh đến trụ trì ở chùa Phật Tích trên núi Sài Sơn (chùa Thầy). Bấy giờ vua Lý Nhân Tông không có con trai bèn xuống chiếu tìm con cháu tôn thất để nối ngôi. Em vua Lý Nhân Tông là Sùng Hiền hầu gặp Từ Đạo Hạnh nói chuyện cầu tự và Thiền sư hứa sẽ giúp đỡ. Khi vợ Sùng Hiền hầu sắp sinh, Từ Đạo Hạnh tắm rửa và vào hang núi hóa thân. Sau đó vợ Sùng Hiền hầu sinh con trai đặt tên là Dương Hoán và được lập làm hoàng thái tử nối ngôi hoàng đế, tức là Lý Thần Tông, kiếp sau của Từ Đạo Hạnh. Do sự tích này mà con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông đã cho xây cất chùa Chiêu Thiền để thờ vua cha và tiền thân của Người là thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Kiến trúc
Chùa được xây dựng từ đời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) trên khu đất rộng 4 mẫu Bắc Bộ. Ngoài cửa tam quan, chùa còn có cửa tam thiền với bốn cột trụ lớn vuông vức uy nghi, 3 mái cong gắn vào sườn cột phía gần đỉnh, mái giữa cao hơn 2 mái bên như kiểu cung vua. Tiếp đó là sân vuông, mỗi bề 10m, ở giữa có sập đá nơi chồng kiệu trước khi rước thánh. Tam quan chùa có hai tầng mái song không treo chuông khánh. Bên trong sân chùa là lầu bát giác với 16 mái đao cong, nơi làm lễ dân hương, lễ mộc dục. Hai bên lầu bát giác là tả vu và hữu vu, mỗi bên 9 gian, chùa chính có ba toà: tiền đường, trung đường và hậu cung đặt tượng thờ Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông. Sau hậu cung lại có hai lầu vuông treo chuông, khánh. Xung quanh là hành lang đặt các tượng La Hán. Chùa có bố cục nội công ngoại quốc, tính ra là tròn 100 gian chẵn, là đệ nhất tùng lâm ở chốn kinh đô. Tương truyền Từ Đạo Hạnh là một trong ba vị thiền sư đầu thời Lý (sau Giác Hải và Không Lộ) từng tu hành ở đây. Theo bài minh khắc trên quả chuông thì chùa còn có tục danh là chùa Nền. Ngày nay vẫn còn một ngôi chùa Nền nhỏ nằm xế về phía Cầu Giấy, tương truyền là nơi thờ mẹ Từ Đạo Hạnh, có lẽ xưa kia cũng nằm trong khuôn viên chùa Láng. Huyền thoại còn ghi lại là Từ Đạo Hạnh hoá ở hang Thánh Hoá, núi Sài Sơn (núi Thầy, Quốc Oai, Hà Tây, nay là huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội). Vua Lý Thần Tông là hiện thân kiếp sau của ông. Chùa Láng được trùng tu nhiều lần, lần gần đây nhất là vào năm Thành Thái 6 (1889) và một lần sửa chữa nhỏ do chiến tranh. Năm 1995, chùa đã được những ngườ thợ nổi tiếng của huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội) tu sửa, chạm trổ. Chùa là một công rình kiến trúc cổ, thờ cả Phật, Nho, Thánh theo nguyên tắc tam giáo đồng nguyên trong tín ngưỡng người Việt. Chùa có hai câu đối là:

Tỉnh mộng nơi cửa này, nay trở thành chùa cũ của vườn Láng, sông Tô.
Thân thể ngài hoá thành tượng thanh cao còn lại trên đỉnh Nùng, Sài Sơn.

Chùa còn lưu giữ được 30 hoành phi, 31 câu đối, 2 quả chuông, 1 khánh lớn, 15 bia đá, 12 đạo sắc phong từ Lê Cảnh Hưng 44 (1783) đến Khải Định 9 (1924).
Vì được trùng tu nhiều lần nên chùa không còn nhiều dấu tích của di vật cổ. Tấm bia cổ nhất còn ở chùa do tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc viết, được dựng năm Thịnh Đức thứ 4 (1656). Trước đây, chùa còn có cuốn kinh bằng đồng lá của vua Lý thường dùng để tụng niệm. Nay cuốn sách đó đã bị thất lạc.
Chùa còn là di tích cách mạng trước năm 1945, là nơi che dấu và gặp gỡ cán bộ lãnh đạo của Đảng, Mặt trận, nơi tập hợp thanh niên phản đế Hà Nội tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hiện chùa Láng đang được trùng tu, tôn tạo.
Lễ hội
Hội chùa Láng mở vào ngày mồng 7 tháng 3 ÂL, tương truyền là ngày hoá của thiền sư Từ Đạo Hạnh và mỗi 15 năm mới mở một lần. Việc chọn lựa và huấn luyện các đô tuỳ và những người tham gia vào cuộc rước chuẩn bị cho mỗi lần hội lễ khá công phu. Bộ đô tuỳ nội gồm 18 trai đinh, phải là những người còn đang chịu tang, như có ý để tang cho thánh phụ, sẽ rước kiệu từ chùa Láng đến cổng Cót, rồi "độ hà" sang bên kia sông, chuyển kiệu cho Đô tuỳ ngoại. Đô tuỳ ngoại gồm 36 người (trong đó có 18 người là dự bị) rước kiệu đi tiếp và rước trở về chùa Cả. Ngày mồng 5, rước kiệu đến chùa Nền để thánh thăm lại thân sinh, ngày mồng 6 rước kiệu đến chùa Tam Huyền ở làng Mọc để thánh thăm cha, trên kiệu chỉ có một bát hương. Tối mồng 6, rước tượng thánh trong chùa Cả ra đặt trong nhà bát giác giữa sân, để thánh xem lễ. 10 cô gái ăn mặc lộng lẫy, buộc vào tay một bông hoa giấy và gắn một cây nến cháy giữa lòng bàn tay, múa lượn chung quanh, trong nền nhạc của phường tài tử. Sáng mồng 7, sau hồi trống lệnh để mọi người chuẩn bị và một hồi trống tiếp theo, các đô tuỳ ngoại đầu đội mũ quả dưa, mình đóng khố bao màu đen, khăn nhiễu điều quàng chéo vai, theo hai hàng đôi vào rước tượng thánh ra sập đá trước tam quan để chồng đòn kiệu. Một hồi trống của phủ hiệu gióng lên, phường đồng văn, phường tài tử phát lệnh nổ vang. Theo đó là các đô tuỳ ngoại rước long kiệu ra cửa tam quan để chờ các làng kết chạ như Nhược Công, làng Mọc cùng rước long đình đến nhập cuộc rước.
Đi đầu cuộc rước là hai lá cờ tiết mao (bện bằng cước thay cho lông Tê ngưu), tiếp theo là 5 lá cờ ngũ hành bằng vóc, mỗi cờ một màu; 4 cờ tứ linh bằng nỉ đỏ, mỗi cờ thể hiện một con trong bộ long, ly, quy, phượng; 8 cờ bát quái mỗi lá cờ tượng trưng cho một quẻ; người vác cờ đội nón dấu, áo nậu xanh, quần chẹt gấu. Sau cờ là trống gồm: 1 trống cái 2 người khiêng, 1 người che lọng có thủ hiệu cầm dùi trống theo sát để điểm trống; 1 chiêng 2 người khiêng, 1 người che lọng, 1 thủ hiệu để gióng chiêng cùng với trống điểm. Tiếp theo là voi có bành và ngựa gỗ thờ, đều có lọng che, có mã phu và quản tượng vác siêu đao và hoạ kích đi cùng. Kéo và đẩy voi, ngựa do trai làng Nhược Công đảm trách. Tiếp đến là 4 người vác 4 tàn vàng, tượng trưng cho nghi trượng của nhà Vua. Đi sau nghi trượng là các chấp kích lang, những trai tráng vác đủ loại vũ khí truyền thống đi bảo vệ, đi xen vào giữa các chấp kích là hai người vác hai tấm biểu gỗ khắc chữ “hỡi tỵ” và “tĩnh túc” như có ý khuyên mọi người hãy bình tâm.
Phường Đồng Văn gồm 20 người, khăn đóng, áo the, thắt lưng nhiễu màu, với nhạc cụ: 1 thanh la, 2 sênh tiền, 8 trống bản đeo ngang lưng. Cùng đi với phường là 2 “con đĩ đánh bồng” (hai chàng trai đóng giả con gái), vành khăn, tóc seo gà, yếm thắm, váy lĩnh, áo tứ thân, lụa thắt lưng hoa đào lý, trống bồng đeo ngang lưng vừa đi vừa vỗ trống bồng vừa múa, uốn éo, mắt lúng liếng như trêu chọc mọi người. Tiếp đó là ông Lệnh, áo thụng xanh điệu bộ trang nghiêm, mũ phốc đầu, cầm lá cờ bằng vóc thêu chữ “lệnh” to. Cờ lệnh này chính là cờ vía (tức cờ tướng lệnh của Thánh), che lọng vàng; sau là 2 người đội nón dấu, áo nậu, cắp 2 thanh gươm bằng gỗ gọi là gươm “đàn mặt” tượng trưng cho kiếm lệnh của Thánh. Đi sau đám rước là phường bát âm. Trên hành trình của cuộc rước, cứ khoảng vài chục mét thì bày sẵn một hương án, đốt đèn nhang, có một bô lão túc trực bái lễ đám rước đi qua, tượng trưng cho thần dân bái vọng Thiên tử. Đám rước tưng bừng, nhộn nhịp đi qua làng đến nơi làm lễ.

Chùa Thầy ở Sơn Tây cũng thuộc hệ thống chùa thờ Từ Đạo Hạnh nên dân gian có câu rằng:


Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.

Hiện nay, chùa Láng là một điểm tham quan thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Lễ hội chùa Láng cũng là một trong những lễ hội quan trọng và thu hút sự quan tâm của nhiều người dân thủ đô và khách thập phương.
Chùa Láng được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá năm 1962.

31.                   Chùa Báo Thiên

Đây là một ngôi chùa cổ, còn có tên là Sùng Khánh Báo Thiên tự. Chùa được dựng vào tháng 4 năm Bính Thân, niên hiệu Long Thuỵ Thái Bình 3 (1056) đời vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072). Từ cuối thời Lê, chùa đã hoang phế, khu đất trước chùa biến thành nơi họp chợ, gọi là chợ Tiên. Đầu đời vua Tự Đức, Tổng đốc Tôn Thất Bật theo nền chùa cũ xây sửa lại. Sau thực dân Pháp lấy lô đất thuộc thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương để xây Nhà thờ Lớn thành phố Hà Nội, chùa bị phá. Chùa vốn nằm trên đất phường Báo Thiên, kinh thành Thăng Long, nay ở vào khoảng cạnh chùa Lý Quốc Sư, chỗ đầu phố nhà thờ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, thờ tượng bốn vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.
Năm sau (1057), vua lại cho xây thêm một ngôi tháp rất cao. Tháp có tên là Đại Thắng Tư Thiên bảo tháp, nói tắt là Báo Thiên tháp. Do đó chùa có thêm tên gọi là chùa Báo Thiên.
Có truyền thuyết nói rằng trước khi xây chùa, một hôm vua Lý Thánh Tông xa giá lên Hồ Tây xem cá, đến bờ đê gặp một người điên đi đến mắng rằng: "Nhà vua làm chủ một phương, sao không sửa sang chính sự, lại thoả ý rong chơi, để cho bên dưới bọn quan lại hà khắc, nhũng nhiễu. Sao không sớm tỉnh ngộ để báo đáp ý trời. Ta vốn là người phường Báo Thiên, được Thượng đế cho làm thần giữ mưa, thấy dân khốn khổ nên báo để nhà vua biết". Nói xong biến mất. Vua trở về, bỏ yến tiệc, giảm bớt tệ quan liêu, sai làm chùa ở phường Báo Thiên, đắp tượng 4 vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ trong chùa.
Chùa trở thành một danh thắng. Nhiều vị thiền sư nổi tiếng thời Lý về ngụ tại đây, chữa bệnh cho nhà vua và hoàng gia, mở trường dạy kinh Phật, truyền đạo cho đệ tử và lập tông phái. Nhà sư Đạo Huệ ở chùa Phật Tích về đây ở năm Canh Ngọ (1150), nhà sư Tĩnh Giới, năm Đinh Dậu (1177) có công cầu đảo được mưa lớn sau một năm hạn hán kéo dài, nhà sư Minh Không chữa bệnh cho Lý Thần Tông được triều đình cho dựng tịnh xá bên cạnh chùa để ông ở trong khi lưu lại kinh đô.
Còn tháp thì trở thành biểu tượng cho kinh thành Thăng Long. Đời Trần, nhà đại nho Phạm Sư Mạnh trên đường về kinh thành theo đường sông Hồng, khi trông thấy ngôi tháp từ xa đã làm bài thơ Vịnh tháp Báo Thiên:


Trấn áp Đông Tây giữ đế đô
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ
Non sông vững chãi tay trời chống
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô
Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng đáp
Đêm đêm sao xế đuốc khôn mờ
Tới đây những muốn dầm ngòi bút
Chiếm cả dòng sông mài mực thơ.


Bài thơ không những gợi cho chúng ta một ý niệm về quy mô của tháp mà còn thể hiện đạo Phật với vai trò của một quốc giáo, có ý thức bảo vệ quốc gia, dân tộc. Đây thực thực sự là một bài thơ đặc sắc. Chỉ một ngọn tháp mà choán cả ba chiều của không gian. Tháp Báo Thiên của kinh kì bóng trùm trên mặt đất, mà đỉnh nhọn thì hun hút đâm sâu vào trời xanh và tầng đế vuông thì cắm bền trong lòng đất mẹ. Di sản văn hoá này xứng đáng tiêu biểu cho truyền thống dân tộc, cho hào khí Thăng Long. Tháp Báo Thiên đỡ cho cả bầu trời khỏi bị lay động, lại giữ cho mặt đất không bị chuyển dời. Toà tháp sừng sững cũng là tư thế của người Việt Nam đầu đội trời, chân đạp đất, trụ vững trên một dải non sông cẩm tú mà bao kẻ địch thèm thuồng.
Phạm Sư Mạnh tự hào là phải, vì theo ghi chép của Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục thì tháp xây 12 tầng, bằng gạch đá, viên nào cũng có hàng chữ Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo. Tháp cao mấy chục trượng. Nền tháp có bốn cửa, trong tháp có tượng người, tiên, chim muông bằng đá, đem từ Chiêm Thành về. Cửa tầng ba có khắc Thiên tử Vạn thọ. Suốt 12 tầng tháp đều có cửa, riêng tầng trên cùng đúc bằng đồng.
Đến thời Minh thuộc, Vương Thông bị nghĩa quân Lam Sơn vây khốn trong thành Đông Quan, chúng đã vơ vét đồ đồng để đúc binh khí chống lại quân ta. Thế là tháp Báo Thiên bị đi để phá lấy đồng.
Năm 1434 vua Lê Thái Tông mở mang khu vực hồ Gươm, sai thợ dựng lại chùa Báo Thiên. Còn ngôi tháp đổ không xây lại được nữa. Chỗ nền tháp cũ chỉ còn là một gò đất cao. Đến cuối thời Hậu Lê, chùa cũng đổ nát vì không được tu sửa. Nền tháp cũ thành nơi họp chợ của dân phường, đôi khi lại dùng làm chỗ hành hình tội nhân.
Như thế tháp Báo Thiên chỉ còn di tích là gạch đá và chùa thì ở trong cảnh đổ nát, nhưng khu vực phường Báo Thiên thì lại trở thành nơi dân cư đông đúc. Đây trở thành đất các thôn Báo Thiên Tự, Chân Cầm, Tiên Thị, Tự Tháp ... thời Nguyễn. Nhất là vì nó lại ở gần khu vực Vương phủ và dinh Phủ doãn. Đầu thời Nguyễn, Phạm Đình Hổ có kể tiếp trong Tang thương ngẫu lục: "Năm 1791, chính quyền Tây Sơn cho đào lấy những gạch đá của nền tháp để tu bổ thành Thăng Long. Nền tháp có 4 cửa, có 8 pho tượng Kim Cương chia đứng ở bốn cửa, ngoài ra còn có những tượng người tiên, chim muông, cho đến những giường ghế chén bát không thể kể xiết, toàn bằng đá cả".
Lại nói thêm về chùa Báo Thiên thì chùa tồn tại mãi tới cuối thế kỉ XIX. Sách Đại Nam nhất thống chí được soạn vào những năm 60 của thế kỉ XIX có ghi: "Chùa hiện nay do nguyên Tổng đốc Tôn Thất Bật theo chùa cũ mà sửa lại. Những đá xanh còn lại trên hình hoa sen là đá mặt tháp, có hình bát giác là bệ của tháp, đều là vật xưa cả".
Suốt mấy thế kỉ sau, chùa vẫn được sùng chuộng là nơi danh lam thắng cảnh di tích cũ của triều Lý. Đầu đời vua Tự Đức, chùa được xây sửa lại và vẫn còn giữ được một ít đá xanh có chạm hình hoa sen bát giác vốn là đá ở bệ tháp cũ từ thời Lý.
Khi Pháp chiếm thành Hà Nội, chỉ qua một năm, ông giám mục Puginier người có nhiều công giúp cho giới quân sự Pháp đánh chiếm đã có ý định xây một ngôi nhà thờ ngay trên đất chùa Báo Thiên nên đã bàn với công sứ Hà Nội là Bonnal về việc đó. Vì nhiều lý do chính trị, Bonnal không dám trực tiếp dính líu vào mặc dù y có toàn quyền quyết định. Sợ việc chiếm đất nhà chùa cho nhà thờ sẽ làm cho người Việt Nam căm phẫn, đổ thêm dầu vào lửa chống Pháp của nhân dân, y giao cho Tuần phủ Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ thực hiện. Độ đã bày mưu cho kỳ hào thôn Báo Thiên tự - đa số là giáo dân các nơi khác đến ngụ - làm tờ khai là chùa đổ nát, để vậy dễ gây tai nạn nguy hiểm và xin phá đi. Chỗ đất bỏ không thành đất vô chủ. Đất vô chủ thì nhà nước có thể cấp cho người khác. Thế là Độ chấp nhận đơn xin đất của Puginier để xây nhà thờ lên đó.
Để có tiền xây một ngôi nhà thờ đồ sộ, Puginier mở nhiều đợt xổ số và nhiều cuộc lạc quyên lớn. Cuộc sổ số năm 1884 thu được 10 vạn đồng và cuộc xổ số năm 1886 được 6 vạn đồng. Công việc xây dựng làm trong bốn năm và ngôi Nhà thờ lớn được khánh thành ngày 24/12/1886 để kịp làm lễ Noel.
Việc xây Nhà Thờ Lớn thánh Joseph trên di chỉ chùa cổ Báo Thiên đã đánh dấu quyền uy của chủ nghĩa thực dân Pháp trong thời kì mở đầu cuộc xâm lược Hà Nội.

32.                   Chùa Kim Chuông

Vị trí
Chùa Kim Chuông có tên chữ là Kim Chung tự, còn gọi là chùa Chuông Vàng hay chùa Chuông. Xưa chùa thuộc thôn Nhân Dục, xã Hiến Nam, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc phường Hiến Nam, TX Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Truyền thuyết
Trong sách “Hưng Yên tỉnh nhất thống chí” của Trịnh Như Tấu có đoạn ghi như sau: "Chùa Chuông - Phố Hiến đẹp nhất danh lam" có nghĩa: chỉ Chùa Chuông ở Phố Hiến là đẹp nhất. Chùa đẹp không phải bởi cảnh quan và tên gọi mà còn đẹp hơn bởi Chùa Chuông nằm trong quần thể di tích đô thị cổ Phố Hiến một thời nổi danh "thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến".
Truyền rằng: Vào một năm đại hồng thuỷ, có một dòng nước hung dữ cuốn theo một chiếc bè gỗ, trên bè ngự một quả chuông vàng rất đẹp, chiếc bè đã trôi qua nhiều nơi nhưng không dừng lại. Một ngày kia, chiếc bè được dòng nước đưa đến địa phận thôn Nhân Dục, thuộc tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xưa, nay thuộc phường Hiến Nam, TX Hưng Yên. Tăng ni, phật tử tại một ngôi chùa nhỏ trong thôn cùng các hương lão rất mừng, họ cho rằng trời phật ban cho quả chuông quý, liền bàn nhau góp công, góp của xây dựng lại chùa lớn hơn rồi làm lễ rước chuông vào chùa. Khi hồi chuông vang lên, âm thanh trong sáng bay xa hàng ngàn, vạn dặm, vang động cả một vùng. Người ta còn kể: Tiếng chuông vang xa tận phương Bắc và điều kỳ lạ là khi tiếng chuông ngân lên, những báu vật của người Nam lưu lạc ở Bắc Quốc (Trung Quốc) liền trỗi dậy đòi về. Vua quan Bắc triều rất lo lắng, vì ngày nào tiếng chuông còn được thỉnh thì những báu vật mà chúng cướp được sẽ về hết với chủ cũ, nên đã tìm đến chùa hòng lấy cắp chuông vàng. Biết được ý định đó, các tăng ni giấu chuông vàng xuống một giếng nhỏ. Dần dần, những người mang chuông đi giấu đều viên tịch, hậu thế muốn tìm lại chuông nhưng không thấy. Để ghi nhớ ngôi chùa đã từng có một quả chuông quý, các tăng ni phật tử và nhân dân trong vùng đặt tên chùa là Kim Chung Tự.
Kiến trúc
Chùa Chuông được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ XV), với kiểu kết cấu “nội công ngoại quốc” gồm: tiền đường, thượng điện, nhà tổ, nhà mẫu và 2 dãy hành lang. Mặt tiền chùa quay hướng nam. Chùa được bố trí cân xứng trên một trục trải dài từ cổng Tam quan đến nhà tổ. Nhà tiền đường gồm 5 gian 2 dĩ theo lối kiến trúc kiểu con chồng đấu sen, nối giữa tiền đường và thượng điền là khoảng sân. Thượng điện cũng gồm 5 gian 2 dĩ với nét kiến trúc giống như tiền đường. Đây là nét kiến trúc mang phong cách thời Hậu Lê. Cách bài trí các tượng thờ theo thứ tự: Trên cùng là 3 pho Tam Thế; tiếp đến là A Di Đà và tứ Bồ Tát; lớp dưới là Văn Thù và Phổ Hiền; tiếp theo là Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu; tiếp nữa là Địa Tạng Vương và Phạm Thiên, Đế Thích, sau cùng là tòa Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh. Hai dãy hành lang Đông, Tây được nối với Tiền đường và nhà mẫu có kiến trúc kiểu kèo cầu quá giang đơn giản, đối xứng với các lớp tượng khác nhau miêu tả nhiều nội dung sinh động của triết lý nhà Phật. Cuối dãy hành lang là tượng Đức Ông đứng cạnh có Già Lan - Chân Tể và tượng Đức Thánh Hiền, đứng cạnh có Diệm Nhiên - Đại Sỹ.
Hiện nay trong chùa còn lưu giữ tấm bia đá dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 7, 1711. Trên bia ghi lại tên của những người có công đóng góp xây dựng, tu sửa chùa. Đặc biệt nhất là trong bia còn ghi lại cảnh đẹp của Phố Hiến và một số phường Hàng Bè, Hàng Sũ, Thợ Nhuộm, Cự Đệ, Hàng Thịt... mà ngày nay khó có thể tìm thấy trên bia đá.
Lễ hội
Chùa thờ Phật, sau đó là năm vị thành hoàng của năm đền trong vùng. Các tượng trong chùa phần lớn bằng đất nung, sơn màu, rất ít tượng gỗ. Hàng năm dân làng làm lễ vào ngày 10 đến 15 tháng 3. Vào các dịp đại lễ Phật Đản, dịp xuân về hàng năm chùa Chuông tổ chức lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và khách thập phương. Chùa Chuông đã được Bộ văn hoá thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm1992.

33.                   Đền Hát Môn

Đền ở xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội), là 1 trong 3 ngôi đền thờ Hai Bà Trưng lớn nhất và lâu đời nhất ở nước ta. Nguyên xưa, ngôi đền nằm trên bờ cửa sông Hát (một đoạn của sông Đáy), ngày nay, vì sông đổi dòng, nên đền đã ở sâu vào đất liền. Tương truyền, chỗ này là nơi Hai Bà Trưng lập đàn và mở hội thề năm 40 sau công nguyên, trước khi xuất quân đánh quân xâm lược Đông Hán. Hai bà đã đánh đuổi Tô Định chạy về nước. Sau khi chiếm được các thành trì ở Lĩnh Nam, bà bèn tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh, Vĩnh Phúc. Hai năm sau, nhà Hán sai Mã Viện sang đánh, quân Hai Bà phải rút về giữ Cấm Khê, Trưng Vương tự vẫn ở sông Hát, về sau xã Hát Môn lập đền thờ.
Trước khi vào thăm đền, du khách sẽ gặp miếu "Bà Hàng nước" thờ người phụ nữ đã khuyên hai Bà tự vẫn để giữ trọn khí tiết. Tiếp đến, ta sẽ gặp hai trụ đồng rất cao, được coi là cổng đền. Từ cổng đền đi xuống khoảng 200m là cửa Tam quan. Qua một sân rồng với những phiến đá xanh chạm khắc từ thời Lê là đến đền. Đền được xây dựng trên một gò đất cao, với bố cục theo kiểu tiền tế chữ Nhất (一).
Trong đền, bày nhiều đồ thờ cúng cùng hoành phi, câu đối, nói lên khí phách, tinh thần quật khởi và công đức của hai Bà, đối với non sông xã tắc. Chính giữa đền, có treo bức đại tự "樂雄正統- Lạc Hùng chính thống". Phía Hậucung có đặt hai long ngai bài vị của hai Bà. Ngoài ra, trong đền, hiện còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật giá trị như: kim tự khí, hương án, bài vị... mang đậm nghệ thuật Chạm khắc thời Lê. Phía sau đền có một gò gọi là gò ngọc ấn, nơi khi xưa nghĩa quân hai Bà chôn giấu các ấn tín và ngọc ấn. Đền đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia năm 1991.
Lễ hội chính vào ngày mồng 6 tháng Ba, mồng 4 tháng Chín và 24 tháng Chạp âm lịch. Hội lễ ngày mồng 6 tháng Ba, ngày hoá của Hai Bà Trưng là hội lễ chính hằng năm. Trong ngày hội, dân làng cúng Hai Bà những mâm đầy các đĩa bánh trôi. Theo truyền thuyết tại Hát Môn thì khi bị vây hãm, Hai Bà Trưng đã phi ngựa qua vùng căn cứ cũ, nhân lúc đói, Hai Bà ghé vào quán hàng bánh của một bà già ăn đĩa bánh trôi và 2 quả muỗm. Bánh trôi dâng phải có đủ 100 viên rất nhỏ, sau khi tế lễ xong, làng đem 49 viên đặt vào lòng một bông hoa sen thả xuống dòng sông để trôi về biển cả. Đặc biệt, dân làng Hát Môn không làm và không ăn bánh trôi trước ngày 6 tháng Ba.
Hội lễ ngày 4 tháng Chín, tương truyền là ngày Hai Bà Trưng làm lễ xuất quân. Trong ngày hội có diễn múa cờ với sự tham gia của trai đinh trong làng, có đông đảo du khách trẩy hội. Hội lễ ngày 24 tháng Chạp, được tổ chức rất trang nghiêm. Đó là lể mộc dục (tắm tượng). Để chuẩn bị cho lễ mộc dục, làng Hát Môn chọn 20 tráng đinh, vào nửa đêm ngày 23 sang ngày 24 rước tượng Hai Bà từ trong hậu cung ra nhà Dội (nhà tắm tượng). Cùng lúc đó, dân chài Hát Môn, cũng gọi là vạn Hát, sắm sửa thuyền chở lọ (hoặc bình, ang, hũ) đựng nước ra giữa sông Hồng lấy nước về nhà Dội để làm lễ. Gọi là tắm tượng nhưng người ta chỉ lau phủ bụi bặm trên tượng, rồi dùng khăn nhúng nước (có khi pha hương hoa lá thơm) để lau lần nữa. Sau cùng, rước tượng về bày thờ ở hậu cung.

34.                   Chùa Hoè Nhai (Hồng Phúc tự)

Chùa Hoè Nhai còn có tên gọi là Hồng Phúc tự. Chùa hiện toạ lạc tại số 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi chùa cổ, tương truyền được xây dựng từ thời nhà Lý. Xưa, chùa thuộc phường Hoè Nhai, phía Tây Bắc thành Thăng Long.
Lịch sử
Theo truyền thuyết kể lại thì tên gọi Hoè Nhai được hình thành là do vào thời Lý, triều đình quy định mỗi quan trong triều phải trồng một cây hoè từ Hoàng thành ra Hồng Phúc tự (bến Đông Bộ Đầu). Đường trồng cây hoè hai bên nên gọi là Hoè Nhai, tên thôn và chùa khu này cũng có tên là Hoè Nhai. Chùa được xây dựng từ khoảng 1010 - 1225. Vào thời Lê, năm Chính Hoà thứ tư (1703), chùa được xây dựng lại. Các năm 1812, 1889 thời Nguyễn, chùa được trùng tu và mở rộng.
Chùa từng là trung tâm in ấn kinh Phật trong nhiều thế kỉ. Hiện nay trong chùa còn giữ được mấy chục bộ ván kinh. Thời kì Lê - Trịnh phân tranh, cùng với kinh thành Thăng Long, chùa cũng không tránh khỏi tai hoạ binh hoả thiêu cháy. Sau đó, nhà sư Khoan Nhân đã đứng ra lo liệu việc tu sửa nên cảnh chùa mới được như ngày nay. Việc trùng tu này được nhắc đến trong tấm bia khắc dựng năm Gia Long thứ 10 (1811).
Xưa kia, phạm vi chùa khá rộng, song qua nhiều lần sửa chữa, trùng tu lớn vào các năm 1687, 1899 và 1952, mỗi lần chùa một hẹp dần và còn lại như hiện nay. Văn bia khắc năm 1703, dựng tại chùa ghi rõ: "Chùa Hồng Phúc ở Hà Thành, núi Nùng như vạt áo, sông Nhị như giải lưng, hồ Trúc Bạch chắn ngang, dòng Tô Lịch vòng lại. Đây thật là chốn tùng lâm lâu đời của đất Thăng Long".
Kiến trúc
Chùa có kiến trúc theo chữ Công với toà Thượng điện được trang trí nhiều mảng chạm khắc hình tứ linh như long, li, quy, phượng và các bức cửa võng sơn son thếp vàng.
Chùa có 68 pho tượng cổ và nhiều hiện vật quí như khánh đồng cao 100cm, rộng 150cm, đúc năm Giáp Dần niên hiệu Tự Đức thứ 17 (1864) và 28 tấm bia. Tiêu biểu nhất là tấm bia đá dựng năm Chính Hoà thứ 24 (1703) do Tiến sĩ Hà Đông Mục soạn bài ký. Nội dung bia cho biết chùa Hồng Phúc được xây dựng tại phường Hoè Nhai, ở Đông Bộ Đầu. Tư liệu này giúp cho các nhà sử học xác định được vị trí của chiến thắng Đông Bộ Đầu chống quân Nguyên năm 1258. Sân chùa có hai ngọn tháp ba tầng. Cũng tại chùa Hòe Nhai, Thành hội Phật giáo Hà Nội đã dựng tháp Ấn Quang để kỷ niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức (tu tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn), đã tự thiêu ngày 11/06/1963 để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm. Chùa còn có quả chuông đúc vào năm niên hiệu Tự Đức 17 (1864 ) và một khánh đồng cao 1,5 m, đúc năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức 3 ( 1734 ) đời Lê Thần Tông.
Khuôn viên chùa đã bị thu hẹp nhiều. Tuy nhiên chùa vẫn là một không gian thanh tịnh để du khách có thể đến chiêm bái, ngoạn cảnh và thư giãn tinh thần. Kiến trúc chùa có phía trước là chính điện, phía sau là nhà tổ và tăng phòng với dãy hành lang xung quanh. Trong chùa còn lưu giữ một số bia đá, cổ hơn cả là tấm bia dựng năm Chính Hòa 24 (1703) ghi rõ vị trí chùa ở phường Hòe Nhai tại Đông Bộ Đầu, tức bến Đông. Chính nhờ tấm bia đá này mà giới sử học đã xác định được vị trí chiến trận ngày 29/01/1258 của dân tộc ta mà sử cũ gọi là chiến thắng Đông Bộ Đầu đánh đuổi giặc Nguyên, giải phóng kinh đô nhà Trần, ở khu vực lân cận chùa Hòe Nhai. Ngoài ra, trong chùa còn có nhiều tấm bia khác cho biết chùa là trụ sở của một trong hai tông phái Phật giáo lớn của Thăng Long xưa kia: phái Tào Động. Đây là một phái thiền lớn của Phật giáo Việt Nam với sư tổ thứ nhất là Hoà thượng Thuỷ Nguyệt, truyền đến năm Nhâm Thân (1932) đời thiền sư Thích Nhân Từ là được 47 đời. Nhiều thiền sư của phái đã được các triều đại sắc phong. Hiện chùa còn giữ được một đạo sắc phong do vua Lê Hiển Tông phong cho thiền sư Trần Văn Chức vào năm Cảnh Hưng Thứ 11 (1750).
Vừa qua, được sự giúp đỡ của Phật tử trong và ngoài nước, chùa đã được tu sửa nhà Tổ, nhà khách, nhà thờ và quy hoạch lại khuôn viên tháp Ấn Quang. Trong thời gian tới, chùa sẽ tiếp tục trùng tu Thượng điện thờ Tam Bảo.
Hiện vật
Tấm bia ghi chiến công năm 1258 ở Đông Bộ Đầu
Trong chùa có đến 28 tấm bia nhưng cổ hơn cả là bia dựng năm Chính Hoà 24 (1703) ghi rõ vị trí chùa ở phường Hoè Nhai, tại Đông Bộ Đầu tức Bến Đông.
Theo nghiên cứu của các nhà sử học thì chùa Hoè Nhai hiện nay chính là khu vực địa danh Đông Bộ Đầu trong lịch sử. Đây là nơi đã diễn ra chiến thắng quân Nguyên năm 1258 ngay tại cửa ngõ thành Thăng Long. Thạc sĩ Nguyễn Hữu Tâm, người dịch tấm bia cho biết, tấm bia chứa nhiều tư liệu quý về thành Thăng Long thế kỉ XVII - XVIII, giúp khẳng định chính xác địa danh Đông Bộ Đầu. Tác giả văn bia là tiến sĩ Hà Tông Mục.
Pho tượng cổ độc đáo
Chùa Hoè Nhai còn được nhiều người biết đến với pho tượng Phật cổ độc đáo có tên là Dĩ thân vi thăng sàng, còn được gọi là tượng vua sám hối Phật. Đây là một pho tượng đôi tạc nhà vua mặc triều phục đang quỳ, hai bàn tay vua cung kính mở rộng để trên mặt phẳng, tương xứng với thân vua đang trong tư thế cúi lạy và mang trên lưng một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen. Pho tượng bằng gỗ cao 1,52m (trong đó tượng vua quỳ cao 0,40m, chiều rộng hai chân vua 0,54m), đặt trên một bệ rộng 0,84m. Pho tượng đặt bên trái chính điện, đăng đối với tượng Quan Âm tống tử. Nét chạm đơn giản, mạch lạc thể hiện được thần thái của tượng. Nếu tượng dưới nét mặt là nam tính, ra chiều thành kính thì tượng phía trên có nét mặt nữ tính, nghiêm trang, đầy đặn. Các nếp áo chảy dài mạnh, nhuần nhuyễn chứng tỏ trình độ khá chắc tay của người chạm. Toàn bộ tượng phủ sơn son thiếp vàng có vài ba điểm đã bong tróc, cốt gỗ cũng có đôi chỗ bị nứt nẻ, tuy nhiên nước sơn trải qua thời gian dài vẫn giữ được màu khá đẹp, cổ kính. Tượng mang phong cách cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. Tương truyền tượng này do chính vua Lê Hy Tông sai tạc để tỏ lòng sám hối của mình sau sự kiện thiền sư Tông Diễn thuộc phái Tào Động đời thứ 37 vào kinh dân ngọc khai thị. Theo các nhà nghiên cứu và các tài liệu lịch sử còn lại đến ngày nay thì khoảng năm 1678, vua Lê Hy Tông có lệnh buộc các tăng ni phải rời kinh thành Thăng Long, lui về chốn núi rừng, thôn xóm vắng vẻ để hành đạo. Nghe tin này, thiền sư Tông Diễn đã đến kinh thành xin gặp nhà vua dâng ngọc. Khi được triệu vào cung, dâng hộp ngọc thì thấy bên trong là một tờ biểu kể rõ ràng lợi ích của việc ứng dụng Phật pháp vào chính sự để giúp đất nước được thái bình thịnh trị, cứu đời an dân như thời Lý - Trần. Nhà vua sau khi đọc biểu và trò chuyện với thiền sư, được giải đáp những thắc mắc và nghe những báo ứng không tránh khỏi của tội huỷ báng, ngăn trở, bài xích Phật giáo đã tỉnh ngộ và sai tạc tượng như trên để tỏ lòng thành. Cũng một thuyết khác lại cho rằng pho tượng này tạc theo điển tích về việc vua Đế Thích Indra tình nguyện làm giường cho Phật Thích Ca ngồi thuyết pháp. Thế nhưng, dù theo bất kì truyền thuyết nào thì cũng không thể phủ nhận pho tượng cổ này đã phản ánh đời sống tinh thần của xã hội xưa và là một di sản nghệ thuật tượng đặc sắc của Việt Nam.
Năm 2006, nhân dịp UNESCO công nhận lễ Phật Đản là một lễ hội tôn giáo lớn trên thế giới, nhiều công trình Phật giáo nổi tiếng ở châu Á được nhắc đến, trong đó có tượng Vua sám hối Phật ở chùa Hoè Nhai.
Với giá trị lịch sử và kiến trúc của mình, chùa Hoè Nhai được coi là chốn Tổ của phái Tào Động và là một trong hai phái lớn nhất của Thiền tông Bắc Bộ. Chùa đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hoá ngày 21/01/1989.

35.                     Chùa PhổGiác

Chùa Phổ Giác ở cuối phố Ngô Sĩ Liên (nhà số 82), cách đầu đường Quốc Tử Giám 30m, thuộc phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có người đã cắt nghĩa tên chùa Phổ Giác là phổ cập việc giác ngộ giáo lý nhà Phật cho các Phật tử. Chùa được khởi dựng từ năm 1773 tại địa điểm bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Chùa vốn tên chữ là chùa Phổ Giác, tên Nôm là chùa Tàu Tượng, gọi tắt là chùa Tàu, vì thuộc xứ đồng Tàu Tượng đời Lê, thuộc phường Đông Các, sang thời Nguyễn thuộc thôn Kiếm Hồ. Sở dĩ chùa có tên Tàu Tượng vì đây vốn là nơi tập trung các tàu voi của đơn vị tượng binh đời Lê, có cả ngôi miếu Dương Võ được dựng cạnh chùa từ năm 1737, hoàn thành năm 1770, có khắc văn bia Dương Võ bi kí, thờ ba vị có công luyện tập voi chiến, xem như ba tổ sư công tượng. Sang đời Nguyễn, miếu bị đổ nát, bia được gởi sang chùa Phổ Giác. Tới khi Pháp chiếm Hà Nội năm 1883, chúng lấy đất chùa xây tòa đốc lý (nay là Trụ sở UBND thành phố Hà Nội), chùa phải dời xuống khu vườn của Viện Thái y cũ, tức ở cuối phố Ngô Sĩ Liên ngày nay. Chùa vẫn giữ tên Phổ Giác và dân chúng vẫn quen gọi là chùa Tàu. Tấm bia Dương Võ cũng được chuyển theo, hiện vẫn còn trong chùa.
Một truyền thuyết khác cho rằng đời Lê, chùa có một vị sư trụ trì tên là Phan Cảnh Diệp có tài dạy voi. Phan là người gốc Nghệ An. Thời Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786), có một con voi xổng chuồng, chạy tới Trường Thi phá phách lung tung làm dân sợ hãi. Chúa Trịnh bèn ra lệnh ai bắt được voi về chuồng thì sẽ được trọng thưởng. Lúc ấy Phan Cảnh Diệp liền tới ngay, nhảy lên lưng voi, dùng búa sắt đánh vào đầu, tỏ rõ uy lực, buộc voi phải quay về trước điện Kính Thiên. Chúa Trịnh thấy thế mừng lắm, trọng thưởng, thăng làm đội trưởng, phong hàm lục phẩm. Sau này, ông còn cỡi voi xông vào phá giặc trong nhiều trận chiến nên được phong tước Quận công. Ông nhận chức tước nhưng không ra làm quan mà tiếp tục vào chùa tu hành. Hiện trong chùa có tượng chân dung Phan Cảnh Diệp được thờ ở hậu cung.
Hiện chùa có 37 pho tượng, 13 bia đá và 3 chuông đồng. Chùa được xếp hạng Di tích Lịch sử Nghệ thuật Kiến trúc vào tháng 10/1991.

36.                     Chùa Bổ Đà

Vị trí
Ngôi chùa tọa lạc trên núi Bổ Đà, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, cách TP Bắc Giang 20km về phía Tây Nam. Chùa có tên chính thức là Quán Âm Núi Bổ Đà, là một trong trung tâm Phật giáo của phái Trúc Lâm Tam tổ. Đây là ngôi chùa lớn nhất trong khu di tích núi Bổ Đà.
Lịch sử
Theo truyền thuyết, núi Bổ Đà xưa là nơi đức Quán Thế Âm Bồ Tát ứng thân cứu đời. Thời thượng cổ trong làng có vợ chồng người tiều phu nghèo nhưng sống hiền lành, nhân đức tên Minh Đà, tuổi đã ngoài 40 mà vẫn chưa có con trai nối dõi. Một hôm người chồng đốn đến gốc cây thông già, cứ mỗi nhát bổ ông lại niệm “Quán Thế âm Phật”, sau chợt thấy lóe sáng dưới nhát rìu, tiền bắn ra tung tóe, đếm được 32 đồng tiền. Ông biết là được trời Phật phù hộ liền quỳ lạy cầu khấn xin được chút con trai, sau đó ông dựng một ngôi chùa lợp tranh dưới gốc thông già và tô một pho tượng Quán Â
m hằng ngày khói hương thờ phụng. Quả nhiên sau đó 9 tháng 10 ngày vợ ông sinh hạ một cậu con trai khôi ngô. Vì thế ngôi chùa sau này được gọi là chùa ông Bổ, dần nhiều người qua lại lễ bái, cầu điều gì đều hiển ứng.
Đến đời vua Lê Bảo Thái (1720-1729), vị sư trụ trì tên là Phạm Kim Hưng đã trùng tu xây dựng thượng điện, tiền đường, cột đá, cột gỗ... Đời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786) có vị sư tổ họ Ngô hiệu là Tính Ánh, sắc phong Hảo Tiết hòa thượng, vân du qua đây, thấy phong cảnh u nhàn tĩnh mịch bèn cùng nhân dân xây thêm gạch ngói và trụ trì tại đây. Các vị hòa thượng Thiệu Không, tiếp đến hòa thượng Thi Tâm Phả Thần Như... tiếp nối tôn tạo, tu bổ chùa khiến nơi đây trở thành nơi đến vãn cảnh và tìm thi hứng của thập khách muôn phương.
Cảnh quan
Chùa Bổ rất cổ, đẹp và u tịch nằm yên tĩnh dưới chân một đồi thông, xung quanh là tường đất bao phủ. Nhiều người vẫn gọi chùa Bổ là chùa
Đất bởi không gian trong chùa man mác một màu nâu của đất, từ bể nước, tường, gạch cũ rêu phong... Điều đặc biệt là trong chùa có một thư viện với rất nhiều cuốn sách cổ. Hằng năm, hội chùa diễn ra từ ngày 16-18 tháng Hai âm lịch.

37.                     Đình Đông Hương

Vị trí
Đình Đông Hương còn gọi là đình Hàng Trống, hiện tọa lạc tại số 82 Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây thực tế là một ngôi nhà nhỏ, thấp, rộng khoảng 3m, cao hai tầng khoảng 8m. Trước năm 1954, đền là một nơi thờ tự rất sầm uất. Vào những ngày mồng một và ngày rằm mỗi tháng, người đến lễ bái rất đông. Vào khoảng những năm 1980, ngôi đền vẫn còn danh tiếng nhưng khách thập phương đến viếng thì vắng hẳn.
Lịch sử - Truyền thuyết
Về ngôi đình này thì các tài liệu hiện nay nói rất sơ lược.
Theo các truyền thuyết còn lưu lại thì đền vốn thờ một đào nương. Tuy nhiên, lai lịch của đào nương này lại có nhiều cách kể khác nhau. Truyện thứ nhất kể rằng vào thời Lê - Trịnh, ở phường Báo Thiên có một cô gái tài sắc vẹn toàn tên là Ngọc Kiều, điều đặc biệt là cô có giọng hát thật tuyệt diệu. Song chính giọng hát này đã khiến cô chuốc lấy tai họa. Nguyên thuở đó, bọn nịnh thần gian ác thường tìm các cô gái đẹp hát hay dâng vào Phủ chúa. Thế là Ngọc Kiều bị bắt sung vào đội nữ nhạc. Chúa Trịnh (không rõ là chúa nào) say nhan sắc và giọng hát của cô. Vì thế Vương phi nổi cơn ghen, đang đêm phục rượu cho rồi sai lính đem chôn sống bên bờ hồ. Bị oan khuất, lại chết vào giờ "linh" nên cô đào hiển thánh. Thương cảm người tài sắc, nhân dân trong vùng đã xây mộ và lập đền thờ cô. Đó chính là đền Đông Hương.
Theo cách kể khác thì người được thờ trong đình cũng là một đào nương. Tuy nhiên, đây là cô đào gắn liền với sự nghiệp giúp nước giúp dân. Tương truyền, vào thời quân Minh đô hộ nước ta, cô mở một quán nước cạnh hồ. Cô cũng đàn ngọt hát hay nên thu hút nhiều binh lính đến quán. Theo kế sách định sẵn, mỗi đêm cô cứ dụ một hai toán lính đến để uống rượu, thưởng thức cô múa hát rồi phục rượu cho say. Sau đó, cô cho chúng vào bao tải rồi cho người khuân ra sông thả. Vì thế, binh lính quân Minh chết rất nhiều. Về sau, mưu kế của cô bị lộ và cô bị sát hại. Sau khi bình định đất nước, vua Lê Lợi biết chuyện này nên đã cho lập đền thờ ghi nhớ công lao
Theo cuốn Việt Nam thần tích của Phượng Nam, in tại Hà Nội năm 1938, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện của Trường Viễn Đông bát cổ (EFEO), Paris, Pháp thì có ghi: "Đình Hàng Trống thờ cô Phạm Thị Huệ là một cô đầu danh ca thuở xưa, quê ở làng Đào Đặng thuộc huyện Tiên Lữ, Hưng Yên". Câu chuyện về cô Phạm Thị Huệ thì cũng giống như cách kể về cô đào nương gắn liền với sự nghiệp giúp nước thời quân Minh xâm lược nước ta như đã kể trên. Tuy nhiên, tài liệu này cũng nói thêm là khi cô mất, nhà vua cho lập miếu thờ tại quê quán cô cũng như nhiều nơi ở phía Đông thành Thăng Long. Miếu được tu sửa nhiều lần. Vào thời Lý, miếu được đặt tên là đình Đông Hương. Nguyên do của tên gọi này là thời đó đã xảy ra một vụ hoả hoạn lớn ở phía Đông kinh thành. Vua nhà Lý ngự trong thành nhìn thấy một người con gái hiện ra cầm cờ phất làm cho ngọn lửa tắt, không đốt miếu và các nhà phụ cận. Sau đó, nhà vua đã cho tu sửa đền, mở rộng thêm và đổi tên là đền (hay đình) Đông Hương, có nghĩa là "hương thơm ở phía Đông thành" và phong là "Phúc thần dân thôn Tự Tháp". Đến thời Pháp thuộc, vì lí do đô thị hoá và kiến thiết đô thị, người ta đã mở phố xá, cắt xén khu vực của đền và chỉ còn lại một hậu cung bé nhỏ như chúng ta thấy ngày nay.
Thế nhưng, dù là cách kể nào thì đình Hàng Trống vẫn linh thiêng, thu hút nhiều người đến viếng và bức hoành phi hiện còn treo trong đền với bốn chữ Khiển Thiên chi muội (Ví như em gái của Trời) đều thích hợp với lai lịch, thân thế của cô đào.

38.                     Đền Quốc Công

Vị trí
Đền thờ Quốc Công Trần Nguyên Hãn ở thôn Đa Cai, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đền được xây dựng trên một thế đất bằng phẳng, rộng cao, tương truyền chính là nơi đặt Phủ đệ cũ của Trần Nguyên Hãn.
Kiến trúc
Kiến trúc đền theo kiểu chữ Đinh 丁, xung quanh có tường bao bọc tạo thành khuôn viên chữ Điền 田vuông vắn. Gồm 3 phần: Cổng đền, nhà tiền tế, hậu cung.

Từ khi xây dựng đến nay, đền đã được tu sửa nhiều lần và xây dựng thêm, chủ yếu vào đời Nguyễn. Nghệ thuật kiến trúc mang phong cách thời Nguyễn: Đục trơn bào nhẵn, trang trí đơn giản.
Đối tượng suy tôn
Đền thờ Tả tướng Quốc công Trần Nguyên Hãn. Người Sơn Đông rất tự hào về truyền thống anh hùng đánh giặc ngoại xâm giữ nước, mà tiêu biểu là người anh hùng dân tộc Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn - công thần vào bậc nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1417- 1427). Trần Nguyên Hãn là dòng dõi nhà Vua, cháu 7 đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, cháu 4 đời quan Tư đồ Trần Nguyên Đán và gọi Nguyễn Trãi là bác họ. Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm Canh Ngọ (1390) tại Sơn Đông. Trước khi tìm vào Lam Sơn để cùng Bình Định Vương Lê Lợi trù mưu khởi binh, ông đã có 11 năm nghiên cứu binh pháp, 11 năm mài gươm chờ thời cơ diệt giặc. Vì vậy suốt 10 năm kháng chiến chống quân Minh ông luôn là một vi tướng tài với các trận đánh nổi tiếng: Xương Giang, Chi Lăng, Đông Quan. Đất nước thanh bình ông được phong Tả tướng quốc và xin về quê hương lập ấp sinh sống. Vừa mở mang trang trại, vừa đóng thuyền bè, tập hợp tráng binh rèn luyện võ nghệ, để bảo vệ đất nước, nhưng lại bị bọn nịnh thần đố kỵ gièm pha là ông có mưu làm phản, nhà vua nghe lời đã triệu hồi ông vào kinh.
Truyền thuyết
Có truyền thuyết liên quan về Trần Nguyên Hãn là Thanh Gươm và phiến đá mài gươm.
Chuyện kể rằng: Trong thời kỳ giặc Minh thống trị nước ta, Trần Nguyên Hãn mới bước vào tuổi thanh xuân. Vì cha mẹ lên khai hoang lập trại ở địa đầu trang Sơn Đông, nên ngày ngày Trần Nguyên Hãn vẫn đi cày, đi cuốc. Trong một lần đi cày ở nương Gò Rạch, Trần Nguyên Hãn cày lên một thanh sắt dài như gươm. Đêm đêm ông đem gươm ra mài ở một hòn đá lớn bên bờ ao Son, vì vậy hòn đá đó có tên là đá mài gươm, hòn đá có một vết lõm trông tựa như vết chém tương truyền đó là vết chém thử gươm của Trần Nguyên Hãn. Thanh gươm được Trần Nguyên Hãn mang bên người, tình cờ Trần Nguyên Hãn được một ông chủ bè ở cửa sông Phú Hậu tặng một thanh gỗ hình chuôi gươm vớt ở dưới lònh sông, khi cắm lưỡi gươm vào thì vừa khít, thanh gươm từ đó công hiệu.
Thanh gươm huyền thoại ấy đã gắn liền với những chiến tích lẫy lừng của vị công thần khai quốc thứ nhất triều Lê. Tương truyền, về sau Tôn Thất Thuyết vẫn hằng mõ có được thanh gươm thần của Trần Nguyên Hãn để đánh đuổi quân Pháp, ông đã đến đền thờ Tả tướng cầu mộng và đổi lấy thanh gươm thờ mang đi Ngày nay ở đền thờ ông vẫn còn đôi câu đối:

Sự nghiệp làm tướng đất Lam Sơn còn mãi với đất thiêng này.
Lòng trung quân của người bầy tôi trên dòng sông Lô là có trời biết.

Phiến đá qua một thời gian dài đã bị phù sa sông Lô lấp, sau này vào năm 1998, người dân thôn Đa Cai đã tìm thấy phiến đá nặng khoáng 2 tấn và đem về đặt trong khuôn viên đền thờ để mọi người cùng nhau chiêm ngưỡng.

39.                     Chùa Bồng Lai

Vị trí
Chùa tọa lạc tại thôn Hà Thạch, xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Chùa được xây dựng vào thời Lê, quay theo hướng Tây Nam nhìn ra sông Hồng. Chùa Bồng Lai đã công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Truyền thuyết
Truyền thuyết dân gian cho rằng chùa Bồng Lai được làm vào đời Trần, do ông Đỗ Nguyên Cảnh tổ chức nhân dân xây dựng. Ông Đỗ Nguyên Cảnh, một vị tướng của Trịnh Doanh, là người Hà Thạch, thấy dân làng không hoà thuận lắm bèn đem quân về đóng ở Xuân Lũng, ông cho gọi các thợ cả đến bàn bạc rồi đêm đến mới điều quân về làng tựu xà xếp cột dựng chùa, chọn hướng Thao Giang để tránh việc làng tranh cãi. Ông ra lệnh mỗi đầu xà, đầu cột đều phải đệm vải tấm để việc dựng được nhanh chóng và bí mật. Vì vậy chỉ qua một đêm. Sáng ra dân làng bỗng thấy một ngôi chùa đồ sộ như có phép thần thông biến hóa. Từ đó chùa rất được sự ái mộ của tăng ni phật tử và dân trong vùng, họ đều cho rằng chùa do trời dựng.
Kiến trúc
Kiến trúc chính của chùa Bồng Lai gồm 2 toà hình chữ Đinh 丁. Chùa có cổng tam quan, sân chùa lát bằng gạch đỏ, bên tả sân là ngôi nhà 3 gian mới xây, bên hữu dựng hàng bia đá. Tiền đường gồm 5 gian, kết cấu kiến trúc theo kiểu quá giang gối tường bố trụ. Toà thứ hai kiến trúc thượng điện 5 gian có kết cấu vì kèo câu đầu và trụ báng chống nóc.
Thượng điện chùa Bồng Lai còn lại tương đối nguyên vẹn các thành phần kiến trúc cũ. Tất cả có 20 cột gỗ lớn nhỏ, cột cái cao 3,6 m, chu vi 1,25 m, cột con cao 2,5 m, chu vi 1,0m, thân cột được sơn son và vẽ hình rồng cuốn. Đáng chú ý là còn hai vì kèo của thế kỷ 17, lần trùng tu lớn thời Chính Hòa.
Di vật
Trong chùa còn nhiều tảng kê chân cột, chất lượng bằng đá xanh mịn hạt, hình vuông mỗi cạnh 0,4 m, trên mặt trạm khắc một bông sen hai lớp, mỗi lớp 18 cánh, vòng tròn trong cùng là nơi để tiếp xúc với chân cột. Đây là những hòn kê từ lần trùng tu lớn ở thế kỷ 17. Chiếc bệ được làm bằng đất nung duy nhất còn lại trên đất Phú Thọ được coi là nghệ thuật trang trí Phật giáo thời đại Lý Trần. Bệ được thiết kế giật cấp 3 tầng. Kết cấu bệ gồm các viên đất nung có kích cỡ khác nhau được lắp vào nhau, mỗi mặt là một khối hình trang trí nổi, tạo thành một tác phẩm nghệ thuật bệ đất nung hoàn chỉnh. Các họa tiết trang trí gồm: Hoa cúc, hoa văn cánh sen, hoa hải đường và trang trí hình con ly đang trong tư thế vờn mây. Nhìn chung đây là chiếc bệ đất nung quí hiếm còn sót lại của chùa Bồng Lai.
Chùa Bồng Lai có hơn 200 pho tượng tròn làm bằng chất liệu gỗ và đất, kỹ thuật tạo dáng đẹp, sơn thếp hài hòa, được bài trí ở 2 tòa trên các bệ xây giật cấp cao dần về phía trong. Các pho tượng chùa Bồng Lai đều được các nghệ nhân tạc với kỹ thuật cao, tràn đầy tâm hồn dù chất lượng bằng gỗ hay đất cũng được phủ sơn nhiều lớp, bên ngoài thếp vàng, thếp bạc cẩn thận, xứng đáng là những pho tượng có tiếng là đẹp xưa nay. Tượng được bài trí cân đối hài hòa từ tòa tiền đường vào thượng điện. Dáng tượng đẹp, đạt tới trình độ Phật tính cao bởi nghệ thuật tạo tượng còn khá nguyên vẹn của thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18.

40.                     Chùa Đại Bi

Ngôi chùa ở xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Theo thư tịch cổ, chùa được Huyền Quang Lý Đạo Tái cho xây tại quê nhà vào năm 1313.
Lý Đạo Tái sinh năm 1254, mất năm 1334, đỗ Trạng nguyên năm 21 tuổi, thời vua Trần Thánh Tông. Ông làm quan tại triều trong 20 năm, được thăng đến chức Bồi tụng, từng theo vua Trần Anh Tông (1293-1314) đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe Thiền sư Pháp Loa thuyết pháp. Từ đó Đạo Tái kính mộ đạo Phật, bèn từ quan để xuất gia.
Năm 1305, ông thụ giới Sadi tại chùa Vũ Ninh do Thiền sư Bảo Phác trụ trì, được ban pháp hiệu là Huyền Quang. Gặp Điều ngự Trần Nhân Tông (1278-1293) tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại, ông được giữ lại thị tùng trong vài năm. Sau đó, sư vân du nhiều nơi trong nước. Do kiến thức uyên thâm cả về Khổng (Nho), Phật, Lão (Đạo) nên những buổi thiền sư đăng đàn thuyết pháp có rất đông tăng đồ đến nghe. Khi trụ trì ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, tăng đạo của Thiền sư có đến cả nghìn người.
Truyền thuyết kể rằng vua Trần Nhân Tông muốn thử thách đạo tâm của Huyền Quang, bèn sai cung nữ Nguyễn Thị Điểm Bích cải trang đến quyến rũ, nhưng không lay chuyển được. Thấy Huyền Quang quả là bậc chân tu, Trúc Lâm mới lập làm quốc sư, trụ trì ở chùa Thanh Mai, rồi chùa Côn Sơn. Năm 1313, Thiền sư trở về làng Vạn Tái thăm cha mẹ, dựng lại chùa Đại Bi ngay sát cạnh nhà.
Ngôi chùa hiện đang được xây vào thời Nguyễn. Chùa gồm 5 gian Bái đường, 3 gian Hậu cung. Nhà Tổ 3 gian được xây dựng khá công phu, ngoài cửa có bức hoành phi “Lưỡng quốc Trạng nguyên từ”. Chùa còn quả chuông lớn đúc năm 1924. Trong vườn chùa còn hai tấm bia đá xanh, một tấm có ghi “Lý trạng nguyên hành trạng”, cao 1,69m, rộng 0,81m, 1 ngọn bảo tháp và cây hương đá. Chùa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia năm 1990.

41.                     Đền Hương Nghĩa

Đền Hương Nghĩa hiện toạ lạc tại số 13 Đào Duy Từ, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Xưa kia đây là đất thôn Hương Bài (thôn Hương Bài sáp nhập với thôn Kiên Nghĩa thành thôn Hương Nghĩa) thuộc tổng Tả Túc, sau này là tổng Phúc Lâm.
Lịch sử và truyền thuyết
Đền Hương Nghĩa thờ Cao Tứ và vợ ông là Phương Minh công chúa. Được biết, ông là một dũng tướng, văn võ song toàn, được An Dương Vương phong là Trấn thủ Đại La thành (sau là thành Thăng Long).
Đình Hương Nghĩa ở kế bên đền thờ Nguyễn Trung Ngạn. Song, qua thời gian, đền đã bị phá nên người dân đã đưa bài vị mở đình thờ Nguyễn Trung Ngạn về đền thờ chung với Cao Tứ. Vì thế nên đền Hương Nghĩa cũng còn gọi là đình.
Theo truyền thuyết kể lại thì Cao Tứ là em Cao Lỗ, người đã có công chế tạo nỏ thần giúp An Dương Vương. Ông là một vị tướng tài giỏi, lập được nhiều công trạng, được An Dương Vương gả công chúa Phương Minh. Khi Triệu Đà xâm lược, ông dàn quân trên sông Tô Lịch chống gặc, khiến Triệu Đà bị thua. Sau đó, khi thực hiện xong kế để Trọng Thuỷ trá hàng và đánh cắp nỏ thần, Triệu Đà lại sang xâm lược nước ta lần nữa, Cao Tứ tiếp tục dàn quân trên sông Tô Lịch chống trả quyết liệt và tử trận. Công chúa Phương Minh hay tin cũng tự trầm mình ở sông Bắc Giang để giữ trọn khí tiết, thuỷ chung với chồng. Về sau, ông bà được vua ban sắc phong và cho phép dân làng Hương Nghĩa lập đền thờ. Tháng 10 năm Quý Mùi (1943), niên hiệu Bảo Đại, đền được trùng tu và có khắc bia Hương Nghĩa đình công đức bi, nội dung nhằm "ca ngợi công đức, mưu lược tài năng của thần Cao Tứ được các Hoàng đế phong mỹ tự, muôn dân tôn sùng. Thời gian gần đây, đình bị đổ nát nên đại thần toàn quyền Pháp cho phép tu sửa để việc thờ cúng được tinh khiết nên toàn dân cùng cựu kỳ mục bản đình là Lưu Văn Năm chánh hội Tân Đinh Nhi triệu tập mọi người góp sức trùng tu đền to đẹp để làm sáng tỏ những điều tốt đẹp từ thời Hùng Vương để nơi đây lại được linh thiêng, muôn dân chiêm ngưỡng, hương hoả mãi mãi, làm cho quốc gia được hưng thịnh, nhân dân khoẻ là như công đức của thần. Vậy làm bia để lưu truyền cùng giang sơn mãi mãi”.
Kiến trúc
Đền Hương Nghĩa toạ lạc ngay trung tâm của khu phố cổ Hà Nội. Toàn bộ khu di tích gồm cổng, sân hẹp, đền chính kết cấu theo kiểu chữ Đinh gồm có tiền tế và hậu cung. Tiền tế gồm ba gian hai dĩ, xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bộ vì đỡ mái gồm 6 bộ vì bằng gỗ được kết cấu theo kiểu chồng rường con nhị. Trên thân các con rường, trụ trốn đều được chạm khắc hoa lá cách điệu nổi, ôm sát vào vì nóc, các thân cách chắc khoẻ nhưng mềm mại. Gian giữa của tiền tế được mở các cửa bức bàn gỗ, phía trên của cửa bức bàn được chạm thủng hình hoa cúc mãn khai, đầu cánh hoa được chạm sắc nhọn như đao mác. Hậu cung là một nếp nhà dọc ba gian nối với gian giữa tiền tế qua hệ thống máng che phần mái. Nhà xây gạch, bộ khung đỡ mái có ba vì gỗ làm kiểu vì kèo quá giang, để trơn không trang trí.
Hiện nay, đền còn lưu giữ một số di vật có giá trị như thần phả bằng chữ Hán cổ ghi lại công tích của Cao Tứ, hai đạo sắc phong Cao Tứ và 4 tấm bia thời Nguyễn, trong đó đáng lưu ý nhất là bia Hậu thần bi ký và bia Hương Nghĩa đình công đức bi.

Trong gian thờ, ngoài hai pho tượng gỗ Cao Tứ và Phương Minh công chúa đặt trong khám thờ còn có bốn ngai thờ gỗ, chín khám thờ, hai bài vị, sáu câu đối và 5 bức hoành phi ca ngợi nội dung công đức "Thánh cung vạn tuế"
Hai câu đối còn trong đền là
Đọc sử Nam, sách thông giám còn ghi nước lắng cổ trung tiêu tiết nghĩa
Dựng La Thành, ba đền đài vẫn còn đó, đất thiêng thắng tích đượm hương thơm
Ngoài ra, trong điện thờ còn có bài vị của Nguyễn Trung Ngạn được đưa từ đình Hương Nghĩa sang.
Đây là một di tích thu hút nhiều du khách đến tham quan và tìm hiểu về truyền thuyết giữ nước của người Việt xưa.

42.                     Đền Trúc Lâm

Vị trí
Ngôi đền ở thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ), thường gọi là đền Đồng Bảng.
Đối tượng suy tôn
Đền thờ Phùng Lộc Hộ. Ông là anh tướng thời Trần, có công dẹp giặc Mông Nguyên, vào thế kỷ XIII. Theo truyền thuyết dân gian địa phương, Phùng Lộc Hộ là con của tiên nương Phùng Thị Dung. Trong một lần đi kiếm củi trong rừng, bỗng có đám mây che rợp, tiếng hổ thét gầm dữ dội, bà hoảng sợ chạy về nhà. Sau 14 tháng, bà sinh được một cậu con trai, đặt tên là Lân Hổ.
Nhờ có công đánh giặc, vua Trần phong cho ông tước Lân Hổ hầu và 8 chữ “南方壯气, 北看寒心- Nam phương tráng khí, Bắc khán hàn tâm” (khí mạnh phương Nam, rùng mình giặc Bắc). Vào giờ Ngọ ngày 10 tháng Chạp năm ấy, ông mất. Nhà vua cho xây lăng mộ tại nơi ông đóng đô. Tại nơi ông sinh là thôn Đồng Bảng, nhà vua cho xây đền thờ. Hàng năm vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch, dân làng Đồng Bảng làm lễ dâng hương để tưởng nhớ công lao của ông.
Kiến trúc
Đền có quy mô không lớn, nhưng kiến trúc nghệ thuật rất độc đáo. Các bộ phận kiến trúc gỗ của đền được chạm khắc khá tỉ mỉ, tinh tế. Nhìn chung nghệ thuật trang trí mang đậm phong cách kiến trúc cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

43.                     Đền Tiết Phụ

Vị trí
Đền Tiết Phụ toạ lạc tại làng Phán Lục, huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên, nay là huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đối tượng suy tôn
Đền thờ người tiết phụ là Từ Nhị Nương, tức là Từ Nhị Khanh, vợ của Phùng Trọng Đạt, có sách chép là Phùng Trọng Quỳ. Theo truyền thuyết, ở phủ Khoái Châu có hai gia đình họ Phùng và họ Từ. Họ Phùng là quan, giàu có, còn họ Từ thì nghèo. Tuy thế, nhưng hai gia đình thân nhau và kết thành thông gia. Trọng Đạt là một người ham mê cờ bạc, rượu chè. Khi binh biến, cha con Phùng Trọng Đạt phải đến Nghệ An. Nhị Khanh ở nhà cùng song thân, khi song thân qua đời, Nhị Khanh về ở với bà cô. Bà cô tham của quý, bắt gả Nhị Khanh, Nhị Khanh nhờ người đầy tớ đi tìm chồng. Vợ chồng gặp nhau, nhưng tính ham mê cờ bạc rượu chè của Trọng Đạt không hề thay đổi, lại giao du với một lái buôn tên là Đỗ Tam. Đỗ Tam rất muốn có Nhị Khanh nên đã âm mưu bắt chàng đánh bạc gán vợ khi thua, ban đầu thắng, sau khi ngà ngà say, Đỗ Tam đã bắt viết văn bản gán vợ, bị thua, vợ thuộc về Đỗ Tam. Nhị Khanh không chịu được nỗi tủi nhục này nên đã thắt cổ tự tử. Sau khi chết, cảm động trước cái chết vì trinh tiết của Nhị Khanh, Ngọc Hoàng cho cai quản một ngôi đền, làm cho mưa thuận gió hoà. Từ đó dân làng đặt tên cho đền là đền Tiết Phụ.

44.                     Đền Cường Bạo Đại Vương

Ngôi đền ngày trước ở xã ở xã Bối Tuyền, nay không rõ xã, thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, thờ Cường Bạo Đại Vương. Tương truyền, thần là con nhà nông, từ thuở nhỏ ham thích công việc cày cấy. Lớn lên sức vóc to lớn, tuy con nhà nghèo nhưng ông có bản tính hào hiệp, có chí lớn người trong làng thường gọi ông là Cường Bạo.
Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa vùng quê Vụ Bản thường xảy ra hạn hán, lụt lội, mùa màng thường bị Thiên Lôi đến cướp đi. Một hôm mưa to gió lớn, Thiên Lôi lại vác lưỡi tầm sét đến tàn phá thôn làng. Cường Bạo bèn bảo dân làng chặt lá chuối rải khắp các mái nhà. Thần Sấm đến làng vung lưỡi tầm sét giáng xuống, nhưng lưỡi búa sượt tàu lá trơn đều trượt hết không trúng ̣đích. Thần Sấm tức giận xuống sát lũy tre để xem xét, rồi dồn hết uy lực giáng lưỡi búa cuối cùng xuống nóc nhà Cường Bạo. Lưỡi búa vung mạnh quá kéo văng cả thần Sấm trước sân. Cường Bạo nấp sẵn trong nhà bèn nhảy bổ ra hô dân làng đuổi bắt, đánh cho thần Sấm một trận thừa sống thiếu chết. Từ đó thần Sấm không dám bén mảng đến tàn phá làng Bối nữa.Dân làng kính phục tôn gọi Cường Bạo là Đại Vương. Sau khi ông mất, dân lập đền thờ xuân thu nhị kỳ đàn hương tế cáo.

45.                     Chùa Tự Khoát

Chùa tọa lạc trên khu đất của làng Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì. Theo truyền thuyết có hai công chúa nhà Lý (1010-1225) đi tu, về đây dựng am thờ Phật trên núi Trúc Lĩnh - đất chùa hiện nay, dân dạy nghề đan lát và làm thuyền thúng. Chùa qua trùng tu nhiều lần, có diện mạo hiện nay là từ thế kỷ 19 thời nhà Nguyễn.
Tam quan chùa khá lớn, tháp cao vút, Chùa có 2 lớp, 7 gian ngoài và 5 gian trong, ngoài ra còn nhà tổ, nhà khách. Chùa còn một bức chạm thời Lê sơ (TK15) tả cảnh tát nước, bơi thuyền, đấu vật, đánh kiếm và những bức chạm nổi thời Nguyễn cùng với hơn 50 tượng thế kỷ 19, trong đó có pho Cửu Long bằng đồng phủ nhũ vàng, 2 pho Hộ pháp đắp vữa cỡ lớn sơn son thiếp vàng.
Cảnh quan chùa rất đẹp, nằm giữa một vùng tre trúc vườn cổ thụ và cây ăn quả. Mùa xuân 1789, quân Tây Sơn đã trú tại chùa để đánh trận Ngọc Hồi, dân làng đem bò, lợn, gạo khao quân. Chùa còn là cơ sở Đảng trong thời kỳ chống Pháp. Năm 1967 chùa là nơi chỉ huy của bộ đội tên lửa đánh máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Hà Nội.

46.                     Đình Quang Húc

Ngôi đình ở làng Quang Húc, xã Đông Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ), còn gọi là đình Bôm. Đình thờ thành hoàng là thần núi Tản Viên. Theo truyền thuyết, thần chính là Sơn Tinh, chồng công chúa Ngọc Hoa, con rễ của Hùng Vương thứ 18. Đình được xây dựng vào thế kỷ 17, cùng thời điểm với đình Chàng. Tương truyền, các hàng cột của 2 ngôi đình này được lấy từ một cây gỗ lớn, nên có thành ngữ là: “gốc đình Chàng, ngọn đình Bôm”. Ngôi đình lúc đầu quay về hướng Nam, về sau đổi lại theo hướng Đông Bắc. Trong khuôn viên đình có nhiều cây cổ thụ bao quanh. Hai bên phía trước đình được xây dựng hệ thống tường bao. Ngôi đình hiện nay gồm: Nghi môn, Đại đình, Hậu cung và nhiều công trình phụ trợ khác.

47.                   Đình Kim Châu

Vị trí
Ngôi đình thuộc thôn Kim Châu, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội).
Đối tượng suy tôn
Đình thờ thành hoàng là Uy Linh Đại Vương, tên huý là An Lộ. Sang thời Hậu Lê, dân làng còn thờ thêm 2 vị quan triều người làng là tiến sĩ Nguyễn Hiên và tướng công Nguyễn Liên. Theo truyền thuyết, thành hoàng làng là một vị tướng thời Lê, hành quân đánh giặc phương Bắc. Khi già, ông mất tại đây. Vì thế người xưa ca ngợi…
Chí khí ở triều Lê nghìn năm còn
Uy danh ở đất này vạn năm đến miếu phụng thờ
Kiến trúc
Đình được xây dựng theo kiểu chữ Nhị (二),gồm 2 hạng mục chính là toà đại bái và toà hậu cung. Đình có 2 công trình phụ là 2 dãy tả, hữu mạc. Đình đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá nghệ thuật.

48.                     Đền Nguyễn Thị Ngọc Thanh

Vị trí

Đền Nguyễn Thị Ngọc Thanh toạ lạc trên đường Phố Hiến, xã Hồng Nam, TX Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Kiến trúc
Đền nằm đối diện chùa Nễ Châu, cũng được trùng tu vào thời Nguyễn, kiến trúc kiểu chữ Đinh 丁bao gồm 3 gian tiền tế và 2 gian hậu cung. Đềncó kết cấu kiến trúc kiểu con chồng đấu sen, chạm khắc hoa văn cách điệu, mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn.
Truyền thuyết
Theo truyền thuyết dân gian, sách “Đất Hưng Yên” của Phạm Như Tiên và gia phả họ Nguyễn thì di tích đền và chùa Nễ Châu gắn liền với tên tuổi bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh. Bà sinh ngày 15 tháng Giêng năm Bính Thân, quê ở Nễ Châu. Khi Lê Hoàn về đóng quân trấn ải ở đây để chống quân Tống xâm lược, thấy bà xinh đẹp đã lấy làm vợ và xây cho một “Ngọc Dinh Thự” ở chợ Nễ Châu. Lê Hoàn còn mua thêm đất, phong cho Nguyễn Thị Ngọc Thanh làm chính nhất phu nhân. Bà đã có công giúp đỡ nghĩa quân cất giấu lương thảo, giặt giũ quần áo... Giặc tan, Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, một phần do không có con, hơn nữa cha mẹ lại già yếu không có người phụng dưỡng, Ngọc Thanh đã xin nhà vua cho ở lại quê hương, Lê Hoàn đồng ý và cử người con thứ 9 là Lê Long Kính (hiệu Trung Quốc đại vương) thay mình trấn giữ vùng này và cũng là để chăm nom Bà. Ngày 15.8, Nguyễn Thị Ngọc Thanh qua đời, nhà vua thương tiếc đã cho lập đền thờ Bà ngay trước cửa chùa Nễ Châu để phụng thờ và phong làm “Ngọc Thanh Hoàng hậu”. Ngày 10.9 âm lịch, Lê Long Kính mất, được dân làng Nễ Châu phong làm Thành hoàng làng và cũng được thờ tại Đền cùng với Ngọc Thanh Hoàng hậu.

49.                   Đền Ông Mổ Bụng

Vị trí
Đền Ông Mổ Bụng toạ lạc tại làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Truyền thuyết
Truyền thuyết kể lại rằng trong làng Liễu Đôi có một chàng trai mồ côi nghèo hèn họ Lang rất mê võ vật và hay đến các lò vật xem các đô vật tập võ nhưng thường bị đuổi, chàng đành phải trèo lên các cây cao để xem lén và học mót.
Một hôm chàng đi đánh dậm, có một quả bưởi to trôi vào dậm, chàng nhặt lấy vứt đi mấy lần nhưng nó vẫn cứ trôi lại. Chàng cầm lên thấy còn tươi, liền bổ ra ăn. Ăn xong chàng mắc bệnh đau bụng. Một hôm cơn đau dữ quá chàng không chịu được, liền lấy dao đâm vào bụng. Nhưng lạ thay có một quyển sách trong bụng rơi ra và bệnh lành hẳn. Đó là quyển sách dạy học võ. Từ đó chàng ngày đêm say mê luyện tập võ nghệ theo sự hướng dẫn của cuốn sách. Chẳng bao lâu chàng trở thành một lực sĩ võ nghệ cao cường không ai địch nổi. Tiếng lành đồn xa, người ta theo chàng để học rất đông.

Khi giặc ngoại xâm kéo đến xâm lược, nhân dân đến xin học võ để cứu nước đông quá mình chàng không dạy xuể. Biết còn nhiều sách trong bụng, chàng lấy dao mổ bụng lôi sách ra, chia cho thiên hạ. Chia xong thì chàng chết. Giặc tan, nhớ ơn chàng Lang, nhân dân lập đền thờ chàng ở cánh đồng Đồng Á, gọi là đền thờ “Ông Mổ Bụng”.

50.                     Chùa Long Cung

Vị trí: Chùa ở sườn núi Long Sơn thuộc làng Long Khám, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Truyền thuyết
Tương truyền, chùa do cung phi Kỳ Viên của chúa Trịnh xây dựng nhằm yếm trên mộ của một vị thám hoa. Theo truyền thuyết, Kỳ Viên vốn là yêu quái biến thành cô gái đẹp để trêu người. Một hôm, tình cờ gặp một anh học trò, cô gái xưng là tiên nữ bị đày xuống núi, nhờ có viên ngọc thần ngậm trong miệng mà có tài biến hoá. Anh bèn lừa cô lấy mất viên ngọc, nhờ vậy mà học hành tấn tới, vài năm sau thi đỗ thám hoa.
Cô gái bị mất viên ngọc nên chết đi, đầu thai làm con một người nông dân, lớn lên nhan sắc xinh đẹp, được chúa Trịnh kén vào cung. Lúc này ông thám hoa đã chết, mộ táng ở trên núi Long Sơn. Phi bèn xin chúa Trịnh cho xây chùa yểm ở trên mộ. Chùa có hình giải vũ, bốn góc dựng bốn gác chuông, quy mô đồ sộ, kiến trúc tinh xảo.

51.                     Chùa Bích Động

Chùa Bích Động xây dựng trên sườn núi Bích Động thuộc thôn Đàm Khê, xã Ninh Haỉ, huyện Hoa Lư.
Bích Động là một trong những thắng cảnh nổi tiếng nhất của tỉnh Ninh Bình được mệnh danh là "Nam Thiên đệ nhị động", có nghĩa là động đẹp thứ nhì của trời Nam, sau động Hương Tích ở Hà Tây.
Năm 1705, có hai vị hoà thượng, pháp danh là Trí Kiên và Trí Thể, một người quê ở Đông xuyên, thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định gặp nhau kết nghĩa làm anh em. Hai nhà sư đều có lòng mộ đạo, muốn đi nhiều nơi để truyền bá đạo Phật và xây dựng các ngôi chùa. Đến đây, thấy núi Bích Động có địa thế tuyệt đẹp và đã có chùa, nên hai nhà sư quyết định dừng chân, tự mình sửa sang chùa cũ, đi quyên giáo xây dựng lại thành 3 ngôi chùa: Hạ, Trung và Thượng để tu hành. Năm Đinh hợi (1707), hai nhà sư Trí Kiên và Trí Thể đã đúc một quả chuông lớn, hiện còn treo ở Động Tối.
Khoảng năm Giáp Ngọ (1774), Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767 - 1782) đã đến thăm chùa và đặt tên cho chùa Bích Động. Bích Động có nghĩa là động Xanh. Cõ lẽ khi chúa Trịnh Sâm đến đây, nhìn toàn cảnh núi, động , sông nước, đồng ruộng, cây cối đều xanh tươi, chùa như hội tụ nền xanh nên phải là Động Xanh, cái tên rất đẹp và mộng mơ. Chùa Bích Động là một công trình kiến trúc cổ nên cũng như những ngôi chùa khác được xây dựng bằng gỗ lim, mái lợp bằng ngói ta không có mấu, mũi lượn tròn, các góc của mái đều có đầu đao cong vút lên như hình lưỡi đao ,hoặc như hình cái đuôi con chim phượng, làm cho mái uốn lượn, uyển chuyển như sóng nước thuỷ triều, nhìn bán diện như hình một chiếc thuyền rồng ngoạn mục trôi trên nước hoặc như hai cánh chim đang dang rộng bay lên.
Nhưng chùa Bích Động lại xây dựng theo kiểu chữ "Tam" Hán tự, ba toà không liền nhau, tam cấp dọc theo sườn núi, dựa vào thế núi từ thấp lên cao thành 3 ngôi chùa riêng biệt: Hạ, Trung và Thượng.
Điều độc đáo của chùa Bích Động là núi, động và chùa bổ sung cho nhau, lại ẩn hiện giữa những cây đại thụ xanh biếc, làm cho chùa hoà nhập với cảnh trí thiên nhiên ngoại mục. Toàn cảnh như một bức tranh núi rừng hùng tráng, dát lên một phù điêu gồm 3 ngôi chùa cổ kính, mái ngói rêu phong, có đủ 8 cảnh đẹp mà người xưa đã gọi là ''Bích sơn bát cảnh'', ba chùa lại được xây trên sườn núi cao, dưới gầm lại có động Xuyên Thuỷ.

Chùa Hạ có 5 gian xây trên một nền cao dưới chân núi. Trong chùa thờ phật, kiến trúc chùa theo kiểu chữ Đinh. Vì kèo, xà ngang, xà dọc cũng bằng gỗ lim. Mái chùa là hai tầng mái uốn cong, gồm 8 mái. Các cột đá ở chùa hạ đều bằng đá liền một khối, không chắp nối, cao hơn 4m, làm được những cột đá thư thế là một kỳ công.
Sau khi tham quan chùa hạ, trở ra sân quay về hướng Bắc, bước khoảng 80 bậc đá men quanh sườn núi, tới lưng chừng núi là đến chùa Trung, kiến trúc bán mái phía ngoài. Đây là một chùa rất độc đáo, ít nơi có được, một nửa gắn vào hang động, một nửa lộ thiên, chùa có 3 gian thờ phật. Lễ Phật xong ở Thượng điện, bước lên 21 bậc đá là đến Động tối. Đây là động chính, thâm nghiêm, tĩnh mịch, thiên nhiên đã miệt mài bao đời chau chuốt tỉ mỉ vô cùng tinh tế sắc sảo đến từng chi tiết nhỏ để tạo nên những ông tiên, cô tiên, tiểu đồng, rồng lượn, rùa bơi, voi chầu, hổ phục...
Lên chùa Thượng, du khách phải bước tới gần 40 bậc đá theo sườn núi. Chùa Thượng còn gọi là chùa Đông, chùa thờ phật bà Quan Âm . Đây là ngôi chùa nằm ở vị trí cao nhất, gần đỉnh núi Bích Động.
Bích động quả là một ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam, không nơi nào có thế đất, thế núi như vậy.

52.                     Đi lễ chùa Hà cầu duyên

Chùa Hà tên chữ là Thánh Đức tự, ở thôn Bối Hà, xã Dịch Vọng, Huyện Từ Liêm, nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Tương truyền, chùa được xây dựng bởi một gia đình làm nghề gốm phát tài, quê ở Bối Khê, nay còn lưu lại lăng mộ thờ phụng sau chùa. Bên phải chùa là ngôi đình Hà làm hoàn toàn bằng gỗ quý, thờ 2 vị thành hoàng là Triệu Chí Thành và Chu Lý, các tướng của Triệu Việt Vương (thế kỷ VI) có công chống giặc Lương.
Ngôi chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, xây dựng, ngày càng to đẹp, hoàn toàn bằng tiền thập phương công đức, được xem là một trong những ngôi chùa lớn và nổi tiếng nhất ở Hà Nội.
Không hiểu bắt đầu từ đâu và từ khi nào, tên tuổi chùa Hà gắn liền với niềm tin rằng nơi đây rất linh nghiệm đối với những lời cầu xin về tình duyên. Khách thập phương, trong đó nhiều nhất là thanh niên nam nữ không chỉ ngày rằm, mùng một hay đầu năm mới mới đến chùa thắp hương cầu xin mà dường như quanh năm, chùa lúc nào cũng đông khách. Dọc con phố dẫn vào chùa Hà bán chỉ một loại hoa hồng, hoa của tình yêu. Những người viết sớ thuê thì luôn sẵn sàng viết những lá sớ cầu xin trời Phật gắn kết người này với người kia, xin mặn nồng, bền lâu theo ý của những người đến cầu duyên. Các hàng lưu niệm quanh chùa cũng bán rất nhiều vòng, nhẫn… mà cái nào cũng đi theo đôi, theo cặp…
Lấy cớ ngồi chờ đến lượt viết sớ, tôi lân la hỏi chuyện mấy cô gái trẻ đang đọc từng cái tên để ông lão viết sớ phiên từ chữ quốc ngữ sang chữ Hán Nôm. Ba cô gái cùng đến chùa để mong trời phật phù hộ cho mình tìm được “người trong mộng”. Mỗi khi ông cụ hỏi đến tên “đối tượng”, cô gái bị hỏi lại ngượng ngiụ nhìn hai cô bạn, còn hai cô kia thì phá lên cười. Cuối cùng thì 3 lá sớ đã viết xong, ông cụ viết sớ còn tận tình hỏi han tuổi tác, phán vài câu "động viên" rồi mới chỉ sang quầy bán hương lễ bên cạnh.
Bích, một trong 3 cô gái, vừa sắp lễ vừa nói với vẻ hồi hộp: “Em theo chị gái em đến đây lễ đã mấy năm rồi. Chị em đã lấy chồng, còn em thì hy vọng ra trường sẽ có nơi có chốn. Em sợ ế lắm!”, nói rồi cô gái cười thành tiếng, hai má đỏ lên. Nhưng khi tôi hỏi em biết chùa Hà thờ ai không, thì cô lắc đầu: “Em không biết. Chỉ biết cứ đến chùa này là để cầu duyên thôi”.
Ở quầy bán đồ lưu niệm, một cô gái đang băn khoăn chọn mua một đôi lắc đeo tay, theo lời mách của chị chủ quán, cô sẽ để đôi lắc đó vào đĩa đồ lễ, cầu khấn Phật xong rồi đem về, tặng "đối tượng" một cái, mình giữ một cái, thế là giũa hai người đã có sợi dây gắn kết rồi, thế nào cũng thành đôi…

Ba cô gái vừa đi khỏi thì có một bác gái trung niên bước vào quán. Ông lão viết sớ rút ngay tờ sớ dành để viết cho những người chuyên cầu tài, cầu lộc ra chuẩn bị chấp bút thì bác gái xua tay: “Không ông ơi, cháu cầu duyên”. Mấy người xung quanh khúc khích cười. Bác gái cũng cười, phân bua: “Vâng, cháu nhờ ông viết sớ cầu duyên cho con trai cháu. Thằng bé đang đi du học ở nước ngoài, cùng với bạn gái. Tụi nó mấy năm trước đi chùa Hà mà quen nhau, giờ thì cùng đi học xa, năm nào cũng gọi điện về nhà nhờ mẹ đi lễ hộ, cầu xin trời phật phù hộ cho chúng nó thành đôi”.
Ông cụ à lên một tiếng, vui vẻ lấy tờ sớ khác viết. Vừa viết ông vừa kể: “Chùa Hà thiêng lắm, chả trách nhiều người theo thế. Mấy năm nay có cả Tây đến lễ cầu duyên đấy. Mấy anh Tây yêu mấy cô Việt Nam, không biết có hiểu gì không cũng chắp tay cầu khấn thành kính lắm. Viết sớ cho các đôi ấy đúng là “đông tây y kết hợp”, buồn cười lắm”.
Ông lão đã ngồi viết sớ ở cổng chùa hơn chục năm nay nhưng bản thân ông cũng không biết nguồn cơn từ đâu mà người ta lại truyền tụng nhau rằng cầu duyên ở chùa Hà rất linh. Ông chỉ biết rằng từ nhỏ, ông đã nghe ông, cha mình nói như vậy và đến đời ông thì điều đó trở thành mặc định.
Có thể nói trong số các chùa lớn nhỏ ở Hà Nội thì chùa Hà là nơi thu hút được đông người trẻ đến lễ nhất. Đến chùa Hà, nữ có phần đông hơn nam và tất cả các bạn nữ đến đây đều không hề giấu giếm ý định cầu duyên của mình. Các chàng trai thì có phần kín đáo hơn một chút. Hoàng Tú Nam, một kỹ sư xây dựng, gãi đầu cười cười khi được hỏi đến chùa cầu điều gì: “À…. Em đến cầu xin Phật phù hộ việc làm ăn thuận lợi thôi”, nhưng dường như vẻ ngượng ngiụ của anh nói lên rằng không chỉ có thế.
Vào chùa, người ta có thể bắt gặp nhiều thiếu nữ chắp tay khấn với một vẻ vô cùng thành kính, khấn rất lâu, ánh mắt đăm đăm nhìn Phật như muốn thổ lộ cả gan ruột. Có gái vừa lầm rầm khấn vừa đưa tay lên lau mắt…
Vào những ngày đầu năm mới này, chùa Hà lúc nào cũng đông nghẹt. Trên tất cả các ban là các đĩa hương nến, hoa quả… của phật tử xếp chồng lên nhau không biết bao nhiêu lớp. Chị Thảo, khách lễ chùa, lau mồ hôi trên mặt, nói: “Sắp lễ xong, tôi bưng từ sảnh vào ban mà chen toát mồ hôi. Vào đến ban mà loay hoay mãi không tìn thấy một chỗ trống nào để đặt lễ, đành chồng lên chỗ đồ lễ cao quá mặt người, suýt thì làm đổ cả đống. Người đứng lễ đông quá, chen được vào rồi thì muốn ra cũng không nổi”.
Chị vừa dứt lời thì trong chính điện có tiếng rơi loảng xoảng. Hoá ra một cô gái cúng khấn xong rồi, cố len vào chỗ đặt lễ để xin lại một bông hoa lộc đem về cất trong nhà lấy thiêng, khiến cho tất cả các đĩa xung quanh đổ ào xuống…
Với ông cụ viết sớ thuê, hơn chục năm ngồi ở cổng chùa là từng ấy năm ông được chứng kiến hàng vạn tâm tư, niềm vui, nỗi buồn, nhìn thấy vô số niềm hy vọng, đổ vỡ của nhân tình thế thái. Ông già trầm ngâm nói: “Ở đây mới biết con người ta đời nào cũng thế, ai cũng mong mỏi, khao khát hạnh phúc, nhất là hạnh phúc lứa đôi. Cũng có nhiều cô cậu đến lễ vì tò mò, để “thử xem thế nào”, nhưng mà cũng có nhiều người đến cửa chùa với những nỗi niềm bi thiết lắm”.
Trong số khách quen của ông cụ có một cô gái tháng nào cũng đôi lần đến chùa, nhờ ông viết sớ đến quen mặt, thuộc tên. Qua những lá sớ và những lời tâm sự rời rạc, ông lão biết được phần nào nỗi lòng của vị khách. Từ lúc bắt đầu yêu, cô đã đến lễ chùa Hà. Đến lúc lấy được người yêu rồi, cô vẫn đến. Rồi vợ chồng cô bỏ nhau, cô vắng mặt đến gần 2 năm. Khi những vật vã đau khổ qua đi, cô lại đến chùa cầu xin một lần hạnh phúc khác… Cô nói với ông lão viết sớ rằng dù lúc hạnh phúc hay đau khổ, cô ấy vẫn cảm thấy tình duyên ấy chưa trọn vẹn… Thế là lại hoa hồng biện lễ, cô chăm chỉ đến chùa cầu xin một tình yêu đúng như trong nguyện ước. Dường như việc cầu duyên ấy đã giúp cô sức mạnh để tiếp tục sống và hy vọng vào những điều tốt đẹp.

53.                     Ngôi chùa cổ nhất Hà Nội

Được xây dựng cách đây 14 thế kỷ và trùng tu nhiều lần, chùa Trấn Quốc là một di tích quan trọng trong quần thể danh thắng Tây Hồ.
Đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang nước ta vào đầu Công nguyên bởi các tăng ni và thương gia Ấn Độ. Từ đó, nhiều ngôi chùa mọc lên. Tại Hà Nội (cũ), Trấn Quốc là ngôi chùa được xây dựng đầu tiên.
Chùa được xây từ thế kỷ thứ VI, thời Lý Nam Đế, tại thôn Yên Hoa, sau đổi là Yên Phụ, trên một bãi cạnh sông Hồng, với tên đầu tiên là Khai Quốc (nghĩa là mở nước). Đến đời Lê Thái Tông, thế kỷ 15, chùa được gọi là An Quốc. Đầu thế kỷ 17, do bãi sông bị lở, chùa được dời vào đảo Cá Vàng (Kim Ngư) trong Hồ Tây, chính là địa điểm ngày nay. Đời Lê Hy Tông (1675 - 1705), chùa được đổi tên là Trấn Quốc, nghĩa là giữ nước.
Ngôi chùa đã được trùng tu vào các năm 1624, 1628. Đến năm 1639, chùa được xây dựng thêm, quy mô to rộng, chạm trổ tinh khéo. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính ghi lại sự việc này trong văn bia tại chùa: "Nay đắp cao nền chùa cũ, mở rộng thêm, trước tiên dựng các tòa thượng điện, đài đốt hương, tiền đường, hậu đường, cổng có gác, tiếp theo dựng luôn tả hữu hành lang, định ra từng dãy, chia ra từng tòa…".
Đến năm 1815, đời vua Gia Long, chùa một lần nữa chùa được tu sửa, đúc chuông, đắp tượng to đẹp tráng lệ. Trên một bia khác tại chùa do tiến sĩ Phạm Qúy Thích soạn có ghi: "Trước hết làm nhà thờ Phật, nhà thắp hương, tiền đường, cả thảy ba tòa. Sau đó làm hai hành lang, gác chuông, hậu đường, cả thảy bốn nếp nhà. Tất cả đều cao lớn hơn trước, đồng thời đúc tượng Phật và đúc chuông lớn.


Năm 1821, vua Minh Mạng từ Huế ra Bắc có đến thăm chùa, ban hai mươi lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, vua Thiệu Trị cũng đến thăm, ban một đồng tiền vàng lớn và 229 quan tiền để sửa chữa. Vua Thiệu Trị còn đổi tên chùa là Trấn Bắc nhưng dân vẫn quen gọi là Trấn Quốc.
Trấn Quốc có lối kiến trúc độc đáo, khác với nhiều chùa. Phía trước là nhà bái đường rồi đến hậu cung, phía sau mới là hai dãy hành lang thập điện và gác chuông. Trong chùa có nhiều tượng đẹp, đáng chú ý nhất là pho tượng Thích Ca nhập niết bàn, chân nọ gác lên chân kia, đầu gối lên tay phải. Đó là lúc đức Thích Ca hóa khi 80 tuổi. Chùa còn có một vườn tháp.
Rời ngôi chùa bốn bề là hồ nước mênh mông, tĩnh lặng, trầm mặc, nhiều du khách vẫn còn nhớ câu mở đầu văn bia do trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn và dựng năm 1639: "Quý thay chùa Trấn Quốc, là cảnh đẹp phủ Phụng Thiên, danh lam miền kinh địa... Chùa được xếp vào hàng thứ tư của nước Nam"./.

54.                     Vãn cảnh chùa Hoằng Ân

Làng Quảng Bá đã có từ thời Bố Cái Ðại vương Phùng Hưng đánh giặc nhà Ðường xâm lược. Ngày nay, đã lên phố, thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội, nhưng người dân Quảng Bá vẫn tự hào về những giá trị văn hóa lâu đời: chè ướp sen, quất cảnh và chùa Hoằng Ân.
Ngôi chùa cổ là một trong những di tích lịch sử văn hóa và danh thắng nổi tiếng ở phía đông Hồ Tây. Tương truyền chùa được xây dựng vào thời Lý, do Thiền sư Ngô An (1019 - 1088) người làng khởi lập. Ðến thời Lê, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), chùa được xây dựng lại.
Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Ðoan Quốc Công Thái Tổ Gia dụ Hoàng Ðế Nguyễn Hoàng, vợ của Thanh Ðô Vương Trịnh Tráng (1623 - 1657) cho xây dựng lại quy mô lớn.

Năm Minh Mạng thứ hai, chùa đổi tên là Sùng Ân Tự. Ðời Vua Thiệu Trị, Vua ngự giá thăm chùa, sau đó, năm 1842, Bộ Lễ xét thấy tên Sùng Ân Tự trùng với tên lăng của Vua nên xin cho đổi là Hoằng Ân Tự, ngày nay, chùa được gọi theo tên làng - chùa Quảng Bá.
Văn bia của chùa ghi: "Phía trước là Tây Hồ mênh mông, phía sau là Tam Ðảo xanh ngắt, nhà cửa san sát, xóm bao bọc xung quanh, muôn phần tươi đẹp".
Sách Tây Hồ chí chép: Chùa ở trên Hồ Tây thuộc phường Quảng Bố. Ðầu triều Lý dựng lên, tên là Báo Ân. Khoảng năm Thông Thụy, Ðạo sĩ Trần Tuệ Long đắc đạo tại đó, môn đồ thu xá lợi (xương cốt) nhập tháp (nay không còn dấu tích). Mùa Xuân năm Quý Mão, niên hiệu Hưng Long thứ 16, thời Trần Anh Tông, nhà sư Huyền Trang từ núi Yên Tử về kinh dự lễ triều hạ xong đã tới đây giảng kinh Thư Lăng Nghiêm.
Chùa còn lưu giữ được bộ di vật có giá trị về mặt lịch sử và nghệ thuật với 30 pho tượng sơn son thếp vàng, tạo tác công phu tinh xảo, thuộc phong cách nghệ thuật thời Lê - Nguyễn, trong đó có pho tượng Quan Âm Nam Hải rất đặc biệt, tuy kích thước không lớn. Tượng có nét mặt thuần hậu, mặc áo cà sa nhiều nếp ở tư thế ngồi thiền, chân chống chân thõng, giẫm lên đài sen. Ba pho tượng Át Nam Tôn Giả, Hộ Pháp Tam Châu, Giám Trai Sứ Giả. Các chùa khác đều tạc ba pho tượng này ở tư thế ngồi, nhưng ở chùa Quảng Bá tạc ở tư thế đứng.
Chùa còn có ba pho tượng quý giá là bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, tượng Nguyễn Kim (ông nội bà Tú), tượng Nguyễn Hoàng (cha đẻ bà Tú) mà ở các chùa khác không có.
Trong chùa còn có hai quả chuông. Quả lớn được đúc năm Cảnh Hưng thứ ba (1743), cao 1,5m, đường kính 0,8m; vai chuông khắc nổi bốn chữ Hán: Long Ân Tự.
Quả chuông nhỏ được đúc vào thời Nguyễn. Ðặc biệt chùa còn lưu giữ bài kệ khái quát triết lý đạo Phật của Tổ Tông Diễn trình lên hòa thượng Thủy Nguyệt, Tổ sư của phái Tào Ðộng Việt Nam.
Nhà chùa còn giữ được 30 tấm bia đá, trong đó có tấm bia khắc hình một ni sư dựng ngày 28 tháng giêng năm Thiệu Trị thứ hai (nhiều người cho đó là hình Công chúa Ngọc Tú).
Trải bao mưa nắng, chùa vẫn giữ được quần thể kiến trúc đẹp, trước tòa tiền đường, lầu chuông cao ngất vươn lên cùng mây trời Hồ Tây lộng gió. Những cây nhãn cổ, vươn cành xum xuê tỏa rộng trên sân gạch đỏ sẫm.
Ðặc biệt, khu mộ tháp lô xô cao thấp, trầm mặc, ẩn mình dưới bóng ngọc lan thơm dịu dàng và thân cau cao vút như đưa chúng ta vào miền tâm linh thanh khiết. Ðây là nơi an nghỉ của nhiều Hòa thượng có công trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước: Hòa thượng Phạm Ngọc Ðạt, hiệu Bình Lượng là ân nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ Người hoạt động ở Thái-lan; Hòa thượng Thích Trí Ðộ, Thích Tâm An, Thích Mật Ứng và Thích Ðức Nhuận... Năm 1991, Chùa đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Với giá trị lịch sử - văn hóa và thế đắc địa mà thiên nhiên ban tặng, nhìn ra Hồ Tây mênh mông, chung quanh là những vườn quất trĩu quả, chùa Hoằng Ân là một trong những điểm văn hóa - du lịch của thành phố thu hút khách muôn nơi.
Ðến Quảng Bá, du khách đi trên những con đường nhỏ quanh co, hai bên là những vườn quất cảnh với các "thế" được uốn tỉa công phu; những chùm quả xanh đang dần chín vàng, làm đẹp cho muôn nhà khi Tết đến - Xuân về.
Vãn cảnh chùa, ta sẽ cảm nhận được những điều kỳ diệu của văn hóa Thăng Long ngàn xưa đang hiện diện trên từng tấc đất của làng cổ lên phố trong cuộc sống hôm nay.
Trở ra con đường mới mở ven hồ, thả hồn theo sóng biếc, sương giăng mây khói, nghe tiếng cá quẫy, xem câu văng và ngắm những ánh vàng ánh bạc lao xao trên mặt gương Tây Hồ. Ấy là cõi thực và mơ hòa giữa thiên nhiên trời đất, lòng người mà thiên nhiên ban tặng.
55. Long Đọi Sơn tự

Chùa Đọi Sơn hay còn gọi là Long Đọi Sơn tự toạ lạc tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Từ thị trấn Đồng Văn, theo quốc lộ 60A, đi 8 km là đến ngã ba thị trấn Hòa Mạc, đi thẳng 6 km nữa là tới di tích.
Chùa nằm trên một quả núi giữa đồng bằng với độ cao gần 300 mét, địa thế và phong cảnh nơi đây rất đẹp. Phía Đông có dòng sông Châu uốn lượn như một dải lụa ôm ấp những cánh đồng lúa xanh. Hai bên bờ sông là các xã Tiên Phong, Yên Nam… bát ngát bãi mía, nương dâu. Đứng trên đỉnh núi Đọi nhìn xuống, trông xa phong cảnh tựa như bức tranh thuỷ mạc. Sát chân núi là làng xóm, dân cư đông đúc và trù phú.
Căn cứ vào các tư liệu còn lại thì chùa Đọi được xây dựng vào thời Lý. Ngôi chùa do vua Lý Nhân Tông trực tiếp tìm địa điểm và ra lệnh cho xây dựng. Công trình làm trong bốn năm, bắt đầu từ năm 1118 và hoàn tất mọi công việc vào năm 1122. Đến nay, chùa đã qua nhiều lần tu sửa, lần tu sửa lớn là vào năm 1958 đã hoàn tất công trình chính tại đây.
Chùa Đọi được xây dựng theo kiểu chữ đinh, bao gồm 7 gian bái đường và ba gian thượng điện. Hệ thống vì kèo làm theo kiểu chồng đấu giá chiêng, cột cái đường kính 30 cm, chân tảng kê đá cổ bồng, xà và hoành vuông, mái lợp ngói ta. Xung quanh xây tường gạch, năm gian giữa nhà bái đường được lắp cánh cửa bức bàn bằng gỗ lim. Bên trái chùa song song với nhà thượng điện là năm gian nhà tổ, cột bằng đá vuông, tường gạch, lợp ngói ta. Nối liền nhà tổ là bốn gian tăng phòng, nơi ở của các nhà sư trụ trì. Nhà khách đối diện với nhà tổ qua một sân lát gạch. Nhà tổ, nhà khách, tăng phòng tạo thành hình chữ U có chung một sân gạch ở giữa. Bên phải chùa chính là phủ thờ Liễu Hạnh công chúa. Tuy các công trình kiến trúc tại chùa phần chạm khắc không nhiều, hoa văn không phong phú nhưng mang đậm tính lịch sử và vẻ đẹp cổ kính.
Chùa hiện nay có nhiều di vật có giá trị như: Bia Sùng thiện diên linh được khắc năm 1121. Bia cao 2m50, rộng 1m65, dầy 0m30. Đây là một tấm bia được trang trí đẹp, trán, diềm và cạnh bia đều lấy hình rồng để trang trí.
Những con rồng ở đây tuy kích thước và bố cục có khác nhau, nhưng đều được nghiên cứu kỹ từ chi tiết cho đến toàn thể để tạo ra sự thống nhất cũng như đăng đối một cách linh hoạt. Bệ bia là một khối đá hình chữ nhật dài 2m40, rộng 1m90, cao 0m50. Bia Sùng thiện diên linh không chỉ có giá trị cao về mặt nội dung mà còn là một tấm bia có giá trị về mặt nghệ thuật. Đây là một tấm bia quý hiếm của thời Lý còn lại đến ngày nay. Hiện nay, chùa Đọi Sơn còn sáu pho tượng kim cương, trong đó có những pho mất đầu hoặc bị sứt gẫy các bộ phận đã được tu sửa lại. Các pho tượng kim cương ở chùa Đọi Sơn có kích thước xấp xỉ nhau, cao bằng người thực, khoảng 1m60, đứng chống gươm trước bụng, tượng tạo bằng đá khối, có mối liên quan mật thiết với các công trình tôn giáo và đã có những đóng góp quan trọng về mặt thẩm mỹ cho công trình. Trong số những di vật điêu khắc đá được phát hiện ở chùa Đọi Sơn phải kể thêm tượng đầu người mình chim, mang hình tượng thần thoại trong nghệ thuật Ấn Độ. Tượng được tạc từ đá ráp, cao 40 cm, phần trên tượng là hình người còn nửa dưới là hình chim, chân có móng, đuôi nhiều lông cao vút hẳn lên.
Toàn bộ pho tượng thần thoại này được thể hiện khá công phu. Tượng có cấu trúc độc đáo, kỳ dị, nhưng phong cách thoải mái. Nói đến các di vật của chùa Đọi không thể không kể đến những mảnh gốm trang trí kiến trúc. Những viên gạch đất nung có hình vũ nữ, mỗi viên đều có hai hình người đang múa. Chúng có kích thước trung bình cao 0m15, dài 0m22, dầy 0m08. Gốm đất nung có trang trí hình rồng, loại gạch này có chiều dài 0m24, cao 0m10 được nung già, có màu đỏ. Viên gạch được khắc trọn một con rồng. Những loại gạch đất nung có hình trang trí khắc nổi hẳn lên, được gắn vào phía ngoài của các công trình kiến trúc. Chính những thành phần trang trí này đã góp phần làm tăng thêm vẻ thẩm mỹ cho cây tháp và giá trị nghệ thuật cho toàn bộ các công trình ở đây.
Chùa Đọi Sơn trước đây có rất nhiều tượng phật, nhưng do chiến tranh và thiên nhiên huỷ hoại đến nay không còn được bao nhiêu. Tuy nhiên, chùa còn khá nhiều pho tượng đẹp có giá trị về mặt nghệ thuật, trong đó có pho Di Lặc. Đây là pho tượng bằng đồng, được đúc vào năm 1864. Tượng Di Lặc biểu hiện cho một tương lai tốt đẹp, tươi sáng. Thành công của pho tượng này chính là đã thể hiện được ý đồ tư tưởng đó thông qua một hình tượng nghệ thuật.
Đến thăm di tích chùa Đọi Sơn, du khách sẽ có dịp dự lễ hội của chùa. Lễ hội hàng năm được mở cửa vào các ngày từ 19 đến 21 tháng 3 âm lịch, trong đó ngày 21 là ngày hội chính. Từ sáng sớm, đoàn rước kiệu đã hành lễ từ chân núi lên chùa làm lễ, dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương là các đội tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn Trời Phật. Về phần hội, vào ngày lễ hội, chùa Đọi Sơn có nhiều trò vui được tổ chức như thi nấu cơm, thi dệt vải, bơi thuyền, hát chèo, hát đối, hát giao duyên, hội chọi gà, tổ tôm điếm, múa tứ linh, đấu vật, đánh cờ người.
Lễ hội chùa Đọi Sơn là dịp để nhân dân tưởng nhớ đến những người có công với nhân dân, đồng thời động viên mọi người phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước.
Từ lâu, chùa Đọi Sơn vẫn được coi là nơi linh thiêng. Khách đến chùa không chỉ vào những ngày hội, mà những năm gần đây diễn ra hầu như quanh năm. Khách ở nhiều tỉnh thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định …về đây để được đáp ứng nhiều nhu cầu: tín ngưỡng, tâm linh, tìm hiểu lịch sử, thưởng ngoạn cảnh đẹp…
Nằm giữa đồng bằng, núi Đọi Sơn với độ cao gần 300m đã tạo nên một cảnh quan đặc sắc. Người Hà Nam ngày nay vẫn tự nào vì quê mình có núi Đọi sông Châu. Chùa Đọi đã và đang tạo sức hút đối với du khách xa gần, là một địa chỉ du lịch đầy triển vọng của tỉnh Hà Nam./.

Các di vật chùa Long Đọi
Các di vật của chùa Long Đọi còn giữ được như tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, 6 pho tượng Kim Cương trong 8 pho có từ ngày xưa là những hiện vật rất quý báu đối với việc nghiên cứu văn hoá nước ta cách đây gần một thiên niên kỷ.
a. Bia Sùng Thiện Diên Linh
Bia cao 2,5m, rộng 1,65m, dày 0,3m. Bệ bia là một khối đá hình chữ nhật dài 2,4m, rộng 1,8m, cao 0,5m không tạc hình con rùa như các chân bia khác mà tạc hình hai con rồng uốn khúc. Bệ chia làm hai phần, phần nằm tiếp xúc với đất hình chữ nhật, phần phía trên chạm khắc hình sóng nước 2 lớp trên cao và dưới thấp. Mặt bệ bia chia làm hai nửa, tạc hình hai con rồng, đuôi ở đoạn sau, xoắn thành 4 khúc khép kín. Mỗi con rồng có 4 chân, đầu rồng có bờm nhưng nay chỉ có cổ đầu rồng đã bị phá vỡ. Chạy vành ngoài mặt chính của bia là những con rồng được chạm nối tiếp nhau. Trán, diềm và cạnh bia đều lấy hình rồng làm đối tượng trang trí, ở trán bia có 2 con rồng chầu vào giữa tên bia Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi. Hai mặt cạnh bia mỗi bên có 9 ô quả trám, trong mỗi ô có chạm hình rồng.
b. Tượng Kim Cương
Hiện này chùa Đọi còn giữ được 6 trong 8 pho tượng Kim Cương, trong đó, có những pho bị mất đầu hoặc sứt gẫy đã được đắp lại bằng xi măng. Các pho tượng Kim Cương ở chùa Đọi có kích thước xấp xỉ nhau, cao bằng người thực, khoảng 1,6m đứng chống gươm trước bụng. Tượng được tạc bằng đá khối, phục trang theo lối võ quan. Lá chắn che trước ngực, áo giáp ngoài được trang trí tỉ mỉ bằng hình hoa cúc, hình xoắn. Trên toàn thân áo còn rải rác những bông hoa nhỏ nhiều cánh. Cán gươm được trang trí hình ho cúc dây. Tượng được tạc nổi một phần theo kiểu phù điêu về phía đằng trước, phía sau lưng lẫn luôn vào khối đá. Tượng đứng thẳng, hai chân hơi dõng theo thế đứng vững chãi của người lính gác, hay tay khuỳnh chống gươm trước bụng, đầu đội mũ trùm tai, mặt tròn trặn, nhẹ nhõm.
c. Tượng đầu người mình chim
Tượng đầu người mình chim mang hình tượng nghệ thuật trong thần thoại Ấn Độ, gọi là tượng chim thần Ki-na-ri. Tượng được tạc bằng đá ráp, cao 40cm, tạc một hình người nửa dưới là chim, chân và cánh thể hiện rất rõ, chân có móng, đuôi nhiều lông cao vút. Hình tượng người rất thực. Trên đầu tượng, tóc tết thành hình cầu, vắt ngang trán là một vành khăn rủ xuống ngang vai. Trên hai cánh chim là những đường cong khắc chìm vòng quanh vành ngoài, bên trong có những đường xoáy trôn ốc được cách điệu theo hình hoa lá chạm nổi. Thu hút nhất ở tượng là bộ mặt. Đây là bột mặt trầm tư, đôi mày thanh tú và dài, cặp mắt hơi xếch, đuôi mắt dài hơn, quặp xuống, làm môi khép lại thoáng như có nụ cười. Mũi dọc thẳng, cao. Bộ tóc phía trên đầu được thắt bằng một dải điểm hoa, tạo thành búi trên đỉnh đầu. Đây là những mô típ trang trí của thế kỷ XI–XII.
d. Những mảng gốm trang trí
Tại chùa Đọi đã tìm thấy một số viên gạch bằng đất nung có hình vũ nữ, một số viên khác có hình rồng:
Gạch đất nung có hình vũ nữ: Kích thước trung bình của loại gạch này rộng 0,15m, dài 0,22m, dày 0,08m, được nung già, có màu đỏ son. Hình các vũ nữ múa ở đây được miêu tả cách điệu, dáng điệu các nhân vật mềm mại uyển chuyển, gương mặt tươi sáng với một nụ cười kín đáo, tóc chải ngược về phía sau, uốn bồng lên cao, mũ che một phần tóc, chân đi hài mũi cong, bắp tay, cổ tay để trần có đeo vòng, quần ống túm, áo thêu thùa công phu. Động tác của các vũ nữ như đang lướt về phía trước, toàn thân như đang đung đưa, chân hải bước lên, chân trái gập xuống, hai cánh tay để trần tung ngang vai, đầu lắc lư theo nhịp trống. Hai bàn tay xòe ra là một động tác vũ đạo vừa như đỡ một tấm xà chạm cách điệu ở phía trên. Toàn bộ cả mảng gốm này được ghép lại với nhau toát lên một vẻ say sưa với cuộc sống.
Gạch đất nung có hình rồng: Loại gạch này có chiều dài 0,24m, cao 0,1m được nung già, có màu đỏ. Viên gạch được khắc trọn vẹn một con rồng. Đây là một con rồng thân hình tròn, có nhiều khúc uốn lượn, thân dài và nhỏ dần về phía đuôi, có dáng dấp một con rắn. Đầu rồng có tỷ lệ cân đối với thân, chân rồng thanh mảnh, râu thoát ở hàm trên ra, có hai đường sóng cuộn vào nhau. Bờm sau gáy thoát ra từ nhiều đốt, lượn về đằng trước hoặc đằng sau. Con rồng được tạo ở tư thế mình nghiêng, đắp nổi trên gạch nhưng rất sinh động.
d. Pho tượng Di Lặc bằng đồng
Đây là pho tượng đồng nặng 1 tấn, được đúc vào năm 1864. Toàn bộ pho tượng được đặt vào thế ngồi thoải mái, chân phải chống lên, chân trái xếp vào lòng. áo mặc nhưng chỉ xỏ hai cánh tay, để hở cả ngực và bụng, bụng căng tròn, ngực nở, vai đầy đặn. Bộ mặt được diễn tả thành công thể hiện sự no đủ, vui tươi. Tai dài, dầy. Các khối thịt ở cằm, má được chú ý khắc hoạ. Pho tượng được tạo với tư thế ngồi, đầu hơi ngửa ra sau, chiều ngang được mở rộng ra hai bên, số đo chiều ngang lớn hơn số đo chiều cao. Tất cả các chi tiết đều thể hiện sự thống nhất của một ý đồ nghệ thuật và qua đó, biểu hiện tư tưởng của tác giả.

56.                   Nghệ Thuật Kiến Trúc Chùa Thầy Với Phật Giáo Mật Tông

Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), thuộc xã Thụy Khuê, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, từ lâu đã nổi tiếng không phải chỉ ở vẻ đẹp của kiến trúc, danh lam thắng cảnh mà còn bởi những truyền thuyết kỳ ảo, linh thiêng xung quanh thiền sư Từ Đạo Hạnh. Lối tu mang màu sắc huyền bí của dòng thiền Mật Tông cùng với những huyền tích của Từ Đạo Hạnh đã tạo nên những sắc thái riêng biệt của kiến trúc cũng như nghệ thuật tổ chức không gian nơi đây.

Trong quần thể danh thắng gồm 16 ngọn núi với những hang động nổi tiếng, chùa Thầy nổi bật cả về qui mô và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc. Dường như từng ngọn núi, con sông nơi đây đều in dấu sự tích, cuộc đời tu hành của Từ Đạo Hạnh. Cái tên "núi Thầy", "chùa Thầy", "Tổng Thầy" là cách mà dân gian thể hiện sự tôn kính đối với vị "Thầy"-nhà sư trụ trì, hành lễ để cầu phúc, chữa bệnh, dạy nghề cho dân địa phương. Là thiền sư đời thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ly Đa Lưu Chi, một tông phái của Trung Hoa truyền sang Việt Nam từ năm 580 cho đến cuối đời Lý, song cách tu của Từ Đạo Hạnh cùng một số thiền sư khác như Vạn Hạnh, Ma Ha,

Nguyễn Minh Không… lại mang nhiều yếu tố Mật Giáo (1). Bản thân dòng Tỳ Ly Đa Lưu Chi cũng là sự kết hợp giữa Thiền Tông và Mật Tông, do vậy nó gần với tín ngưỡng phong thuỷ, sấm kỳ, cầu đảo, điều phục tà ma, bốc thuốc… rất thịnh ở Trung Quốc và Việt Nam. Thiền sư ngày đó thường nổi tiếng về phép thuật chữa bệnh. "Từ Đạo Hạnh hàng ngày tụng kinh Đại bi tâm Đàlani đủ 108000 lần, sai khiến được Tứ trấn thiên vương, trả thù cho cha. Sư còn làm bùa phép, bùa chú, còn thác sinh làm vua Lý Thần Tông sau này"(2).

Tuy nhiên, Mật Tông khi truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với chân tế, cầu hồn, pháp thuật, yển bùa trị tà ma chữa bệnh…(3). Như vậy, chùa Thầy được coi là một trong những ngôi chùa mang đậm dấu ấn của phái Mật Tông, chủ trương dùng hình tượng cụ thể kết hợp với mật chú, mật ngữ để khai mở trí tuệ và giác ngộ, thường sử dụng các yếu tố: phong thuỷ, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, sắp đặt điêu khắc, đồ thờ để tạo hiệu quả thị giác, để người Phật tử tự suy ngẫm đi đến giác ngộ. Tất cả những yếu tố này được qui gọn trong bốn pháp Mạn Trà la bao gồm: "Đại Mạn Trà la, Tam muội gia Mạn Trà la, Pháp Mạn Trà la, Yến Ma Mạn Trà la"(4).
Về phong thuỷ, chùa Thầy không chỉ ở vị trí đắc địa mà bản thân sự sắp đặt kiến trúc phối hợp với cảnh quan thiên nhiên cũng phù hợp với thuyết phong thuỷ. Đó là hình tượng con rồng. Núi Thầy được xem là con rồng lẻ đàn sắc sảo (quái long), chung quanh có Thập lục kỳ sơn (là các con lân, con phượng, con rùa) chầu về. Chùa Thầy được dựng ở chân núi Sài Sơn uốn lượn như đuôi rồng, mặt nhìn ra núi Long Đẩu, phía trước là hồ Long Trì (ao rồng), xung quanh có làng xóm đông vui. Chùa nằm trên khu đất Hàm rồng, sân cỏ trước là hàm trên của rồng, bờ hồ bên trái là hàm dưới, miệng rồng há ra đón hòn ngọn là Thủy Đình; hai dải đất rộng ra hai bên là hai chân trước của rồng ôm lấy chùa; hai cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều là răng nanh của rồng; hai bên có giếng tượng trưng cho mắt rồng (5); hai cây gạo khúc khuỷu vươn lên trời trước chùa là râu rồng; ba lớp chùa Hạ, Trung, Thượng là đầu rồng; hành lang hai bên chùa có gác chuông, gác trống là tai rồng. Chính vẻ đẹp, hình tượng kỳ ảo của chùa Thầy đã khiến Chúa Định Vương Trịnh Căn (1682-1709) khi qua đây phải ghi lại trên bia Phật Tích Sơn Tự: "Nay thấy chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích như viên ngọc nổi lên giữa đám ruộng sỏi đá rạng vẻ xuân tươi cả bốn mùa"(6).

Về kiến trúc, đây là một ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh linh thiêng và đẹp đẽ, đánh dấu sự hội nhập giữa tín ngưỡng bản địa với Phật giáo, giữa tính chất từ bi của Phật với sự linh thiêng của Thánh. Chùa Thầy được biểu hiện bằng một cấu trúc hoàn chỉnh gắn kết giữa kiến trúc chùa với một cung Thánh nối vào phía sau tòa nhà Tam Bảo trên cùng một trục. Cung Thánh là một không gian đóng kín, với diện tích nhỏ để tạo nên vẻ huyền bí, linh thiêng. Toàn bộ kiến trúc chùa trải dài, ăn cao dần theo triền núi theo bố cục nội công ngoại quốc, dạng mặt bằng hoàn chỉnh, phổ biến nhất của kiến trúc Phật giáo thế kỷ XVII. Khu Tam Bảo bao gồm cả tòa nhà Tiền đường, Thiêu hương, thượng điện gắn kết theo chữ công, hai bên có hai dãy hành lang dài nối gác chuông, gác chống, nhà hậu tạo nên một khung chữ nhật (Quốc), tạo cho chùa một không gian thoáng bên trong nhưng lại kín đáo bên ngoài. Cùng kiểu, còn có một số chùa thờ Thánh khác như Bối Khê (Hà Tây), Keo (Thái Bình), Láng (Hà Nội)… Song ở những chùa này, ngay ở kiến trúc phía ngoài có sự kết hợp giữa kiến trúc chùa (Tam quan) với kiến trúc đền (Nghi môn) gọi chung là Tam quan nội, Tam quan ngoại. Với những chùa mà việc thờ thánh quan trọng hơn thờ Phật thì ngũ môn hay nghi môn tứ trụ của đền được đặt trước Tam quan chùa. Chùa Thầy xưa nay không có Tam quan, bởi thế không có đường vào mặt trước. Đó cũng là đặc điểm riêng của kiến trúc chùa Thầy. Một dấu ấn nữa ghi nhận sự kết hợp tín ngưỡng bản địa với Phật giáo là việc sử dụng những miếu thờ Thần để Phật hóa Thần. Hang Thánh

hóa của chùa Thầy nay vẫn còn treo biển Hương Hải Am gợi về nơi tu hành xưa của Từ Đạo Hạnh. "Khởi đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ ứng với Bồ đề viện của Từ Đạo Hạnh, tương ứng với tòa "Điện Thánh" của chùa. Hiện nay nền điện thánh còn bảy hòn đá tảng chân cột bằng đá màu đỏ nâu kích thước 0.65m x 0,65m và một số hiện vật niên đại sớm thời Lý"(7).
Những tòa chính của chùa Thầy được xây trên nềnrất cao, thấp nhất là hành lang và nhà hậu cũng được làm trên nền cao 1m, tiền đường cao hơn mặt đất 1m, điện Phật cao 1,76m, cao nhất là điện thánh cao 2,20m, xung quanh kê đá hộc. Toàn bộ cấu trúc chùa theo kiểu chồng dường kèm giá chiêng. Hành lang kiểu hệ thống vì kèo ván chống. Đáng lưu ý nhất là tòa thiêu hương (hay ống muống) là kiến trúc nối liền dựa chủ yếu hai tòa tiền đường và thượng điện nên không có cột, hai bên có lan can gỗ chạm chấn song con tiện. Tuy nhiên ở một ngôi chùa đặc biệt như chùa Thầy, nó còn được dân địa phương gọi là nhà cầu. Theo tác giả Trần Lâm - Hồng Kiên (8), kiến trúc của tòa này rất gần dạng thượng gia - hạ kiều dù trên dưới không hề có nước. Cùng dạng kiến trúc thượng gia - hạ kiều còn có hai chiếc cầu đá Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều uốn cong hai bên phải trái trước chùa, trong địa hình tổng thể như hai năng nanh và hai mắt rồng. Cầu Nhật Tiên Kiều bên trái chùa để đi ra đảo nhỏ có đền thờ Tam Thánh, còn Nguyệt Tiên Kiều bên phải chùa nối với bờ hồ có đường lên núi, tương truyền do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây dựng cuối XVI đầu XVII. Mỗi cầu gồm năm gian, dưới xây đá cuốn, trên dựng bộ khung nhà gỗ lợp ngói. Hai bên thành cầu thông thoáng, có lan can thấp. Ngoài nét đẹp của kiến trúc soi bóng bên hồ, tạo sự bề thế cho chùa, Nhật - Nguyệt Tiên Kiều còn là biểu hiện của trời - trăng, âm - dương đối đãi, hòa hợp tạo thế cân đối, tăng thêm vẻ đẹp cho ngôi chùa. Nằm giữa hồ nước xanh Long Trì trên trục chính của chùa là nhà Thủy Tạ kiểu phương đình, gồm hai tầng tám mái chồng diêm xoè ra bốn phía tựa bông sen khổng lồ mọc lên từ hồ nước. Vào ngày hội chùa, đây là nơi diễn ra trò rối nước vui nhộn.
Về điêu khắc, mỗi hệ thống tượng với chức năng riêng biệt sẽ được đặt ở những vị trí nhất định trong chùa. Ở chùa Thầy với kiến trúc tiền Phật hậu Thánh, có hai hệ thống tượng chính: hệ thống tượng Phật và hệ thống tượng Thánh.
Trọng tâm của hệ thống tượng Phật là ở chùa Trung Đại Hùng Bảo Điện). Cách sắp xếp cơ bản vẫn chia trên hai chục chính: Trục ngang (thời gian) là bộ tượng Tam Thế (Quá khứ, hiện tại, tương lai) và trục dọc (không gian) gồm tượng Tuyết Sơn - Di Lặc - Thích Ca sơ sinh. Mỗi nhóm tượng được chú trọng, nhấn mạnh đến thần thái, cách tạo hình ứng với chức năng của tượng. Bộ tượng tam thế tượng trưng cho ba ngàn đức Phật trong ba kiếp, cho tính bình đẳng về Phật tính, do đó ba pho tượng hình dáng, kích thước tư thế tọa thiền tương tự nhau chỉ khác thế tay và một vài chi tiết trang trí. Nhóm tượng Di Đà Tam Tôn bao gồm Bồ Tát Đại Thế Chí - A di đà - Bồ Tát Quan Âm. Ba tượng này có thế ngồi tọa thiền kiết già (yoga), khiến tâm không thể lay động. Điểm đặc biệt ở ba pho tượng này là phong cách tạo hình mới chú trọng yếu tố trang trí bằng hệ thống hạt nổi, bao gồm những hạt tròn to nhỏ khác nhau, kết hợp với hoa cúc mãn khai kết năm hàng dọc, ba hàng ngang bao quanh thân tượng. Chưa có tượng nào trước và sau này lại có nhiều hạt như vậy. "Đó là hàng hạt kỳ ảo, được chạm theo một qui luật bắt nguồn từ ý nghĩa của Mật Tông (gọi là bí mật giáo, một Phật phái tin vào linh phù, châu ngôn, pháp ấn) tạo ra cái linh thiêng"(9).
Tiếp đó, theo trục dọc là tượng Tuyết Sơn-Di Lặc-Thích Ca sơ sinh tượng trưng cho ba đoạn đời tu hành của Phật. Tuyết Sơn là Phật ở giai đoạn tu khổ hành, chưa thành Phật, còn đau đáu về cuộc đời, với hình dạng một nhà sư gày gò, ngồi an tịnh, trầm mặc, khuôn mặt đầy suy tư. Di Lặc được coi là vị Phật của tương lai, đấng Từ Tôn cứu thế, người ta cho rằng "Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình". Bởi vậy tượng Di Lặc thường béo tốt, mặt tròn, bụng phệ, chân tay ngắn, tư thế một chân co, một chân chống, khuôn mặt tượng luôn cười hớn hở bắt nguồn từ đại tâm từ bi hỉ xả của ngài (10). Cuối cùng là tượng Thích Ca sơ sinh một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất ý nghĩa "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn", xung quanh có chín con rồng tượng trưng cho mây trời linh thiêng hội tụ lấy nước thiêng tẩy trừ những uế trọc cho đức Phật.
Bao bọc hai bên Tam Bảo là hành lang với hệ thống tượng La Hán, hiện thân của những người tu hành xuất thân từ nhiều tầng lớp có tiểu sử, cá tính, lối tu khác nhau do vậy cũng là nhóm tượng sinh động, hiện thực, tạo nhiều cảm hứng. Tuy nhiên 18 vị La Hán bằng đất ở chùa Thầy không phải là nhóm tượng đặc sắc về thẩm mỹ và tạo hình. So với một số chùa cùng niên đại thế kỷ XVII, hệ thống tượng chùa Thầy có số lượng ít, không đầy đủ, phần nào cho thấy vai trò của Từ Đạo Hạnh trong chùa lớn hơn vai trò của Phật giáo.
Tượng Từ Đạo Hạnh ở ba kiếp khác nhau được thờ trong điện Thánh: tượng kiếp tu tiên đặt trong khám thờ bên trái, giữa là tượng chân thân của họ Từ, bên phải là tượng Lý Thần Tông, hóa thân Từ Đạo Hạnh. Nếu pho chân thân Từ Đạo Hạnh mang tính chân dung thể hiện khuôn mặt khắc khổ gân guốc, trong trang phục áo cà sa, mũ pháp sư, ngồi thiền định thì tượng Lý Thần Tông mang nhiều yếu tố tượng trưng, kích thước lớn hơn người thực. Sinh động, độc đáo nhất là tượng Từ Đạo Hạnh ở kiếp tu tiên đặt trong khám thờ. Theo yếu tố Mật giáo tượng Phật được tạo hình động, yếu tố cơ học được thể hiện ở pho tượng này. "Pho tượng có kích thước bằng người thực, làm bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám thờ. Khi xưa trong ruột tượng có đặt dây máy theo lối con rối, do đó mỗi khi mở cửa khám tượng từ từ đứng dậy, đóng cửa khám tượng lại từ từ ngồi xuống. Về sau... mới cắt dây máy, và tượng ngồi luôn…"(11).
Có thể thấy tượng Phật đã được thể hiện bằng nhiều yếu tố hình tượng, màu sắc, chất cảm để chuyển tải ý tưởng của đạo Phật. Điểm nổi bật của tượng Phật giáo nói chung, tượng chùa Thầy nói riêng là trạng thái Thiền định, tĩnh tại, trừ tượng Kim Cương ở thế động còn đều có thế tĩnh, tọa sen thiền định hay đứng thẳng. Cái động chỉ nằm ở thế ấn quyết trên các cánh tay tượng Phật, một mặt tạo ra sự linh thiêng, mặt khác, trong không gian ngôi chùa, nó có tác dụng giúp Phật tử thâm nhập vào ý nghĩa của việc tu hành.
Về hình và màu, tượng Phật thể hiện sự viên mãn hoàn chỉnh đầy đủ 32 quý tướng nhà Phật: tai dài, mặt tròn đầy, tóc bụt ốc… Y phục cân đối tĩnh tại, hài hòa thiên địa nhân. Riêng các tượng La hán có cá tính riêng do xuất thân, tiểu sử của mỗi vị. Tượng Thánh mang tính chân dung, hiện thực, đặc biệt chú trọng đến tính động, tác dụng mạnh tới thị giác người xem.

Về chất liệu: Các nghệ nhân phối hợp giữa gỗ và đất để tạo hình phong phú. Nếu tượng gỗ với màu của vàng, đỏ của sơn, màu cánh gián dưới ánh đèn nến tạo cảm giác lung linh, huyền ảo. Tượng đất hút màu tạo nên độ trầm sâu cho các pho tượng. Tuỳ loại tượng, tuỳ chức năng mà hệ thống tượng được sử dụng trang trí màu sắc cho phù hợp. Tượng Phật, đặc biệt tượng Tam thế, được sơn son thếp vàng tạo vẻ trang nghiêm, linh thiêng. Tượng La hán, Hộ pháp sử dụng màu mạnh, tươi, tương phản gây ấn tượng mạnh về sự trấn áp, oai phong, tạo cái động. Tượng Tuyết Sơn màu đen, thể hiện giai đoạn khởi thủy, tu hành theo lối khổ hạnh của Phật.

Không chỉ sử dụng hệ thống điêu khắc, chùa Thầy còn sử dụng tổng hợp các yếu tố sắp đặt kiến trúc không gian ánh sáng để chuyển tải giáo lý Phật pháp đến với Phật tử. Đó là yếu tố phong thuỷ tìm sự hòa hợp con người - thiên nhiên, tạo vật. Từ ngoài vào chùa cũng là sự chuyển trạng thái từ nơi cuộc sống thế tục để bước vào một thế giới yên tĩnh lắng đọng. Tiền đường bao giờ cũng là nơi trống vắng, ít tượng, tạo không gian yên tĩnh. Trong cái không gian đó, tượng Hộ pháp to lớn, oai phong có tác dụng trấn áp sự ngạo mạn trong mỗi con người. Càng đi sâu vào chùa Phật tử càng được đến gần với cõi Phật. Nơi tiếp xúc trọng tâm nhất là Phật điện, đông đảo vị Phật đang cứu độ, giáo hóa chúng sinh. Về ánh sáng càng đi sâu vào chùa, ánh sáng tự nhiên càng mất dần để chuyển sang ánh sáng của đèn, nếu giúp con người tĩnh tâm suy ngẫm tạm xa rời cuộc sống đời thường.
Nghệ thuật bày đặt điêu khắc, kiến trúc độc đáo, đẹp đẽ linh thiêng, kết hợp với cảnh quan thiên nhiên vốn có (cụm di tích Chùa, hang động tự nhiên) và truyền thuyết linh thiêng về vị thiền sư Từ Đạo Hạnh đã đưa chùa Thầy vào hàng đệ nhất trong di sản nghệ thuật kiến trúc Phật giáo cổ truyền. Đến nay, chùa Thầy vẫn cuốn hút khách hành hương đến vãn cảnh, cầu phúc cầu tài, và hấp dẫn các nhà nghiên cứu tìm hiểu về giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ, lịch sử, tôn giáo nơi đây.

  1. Câu Lậu Sơn - vùng đất địa linh đầy tiềm năng du lịch

Vào những ngày nghỉ cuối tuần, từng đoàn xe du lịch chạy qua đường cao tốc rẽ về chùa Tây Phương không ngớt, xe máy nối đuôi nhau. Từ xa nhìn về phía mặt trời lặn, ta được chứng kiến những dãy đồi nhấp nhô, mờ xanh đằng sau màn sương đục. Buổi chiều tà, một quang cảnh thật hoang sơ và chứa đựng bao điều bí ẩn.
Du khách đến vùng này số đông chỉ để thăm chùa, ngắm phật, để thử một lần xem nhà thơ Huy Cận tả cảnh và tả tình hay đến mức nào về những pho tượng La Hán. Trong số du khách đến đây còn có những người muốn tìm hiểu điều bí ẩn, những huyền thoại đang bị phủ một lớp bụi thời gian
Địa thế đồi núi có sông Tích chảy qua, bao kín phía Tây tạo thành một vùng sơn thủy hữu tình, một địa thế quân sự hiếm có đã lọt vào mắt của các nhà quân sự. Nơi đây đã có biết bao người con của quê hương Cần Kiệm không quản hy sinh đứng lên giữ gìn bờ cõi, chống lại giặc giã để bảo vệ quê hương. Sự tích còn ghi người trai làng Phú Đa, Cần Kiệm đã chống giặc cướp đến hy sinh cả thân mình nơi kẽm núi để bảo vệ làng quê. Bởi thế đã để lại cho đời đôi câu đối ca ngợi.

: Dũng cảm tiến lên phía trước, một tấm lòng son còn tồn tại trong nước sông Tích. Tên tuổi còn mãi, nghìn năm nghĩa khí rung động đến núi Lôi Âm.
Những kỷ nguyên dân tộc ta còn chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, sự tích còn ghi chuyện một Tiết độ sứ nhà Đường, mò đến vùng này, biết được dãy Câu Lậu Sơn đầu linh khí, đã cưỡi voi về kinh lý, đến trước con suối chảy qua ngọn núi Tây Phương, voi phủ phục mà không dám vượt qua. Tiết độ sứ đã leo lên những quả núi này, nhận thấy đây quả là một vùng địa linh và ông ta đã sai đào 9 cái giếng để cắt đứt long mạch rồi báo về cho vua Đường là vùng địa linh của nước Nam thần đã yểm đi rồi. Ngày nay 9 cái giếng nước vẫn trong xanh quanh quả núi.
Vùng địa linh ấy làm sao yểm được khi nhân kiệt ở khắp nơi đã nổi lên đánh đuổi quân Nam Hán giành lại giang sơn.
Đến đời Hậu Lê - Mạc Đăng Dung, cuộc chiến tranh Trịnh Mạc kéo dài. Nguyễn Kính là một tướng tài đã đứng ra xây dựng lực lượng trấn ải phía Tây, được vua Lê phong là Tây Quận Công. Khi Mạc Đăng Dung lên thay nhà Lê, Mạc Đăng Dung đã mời Nguyễn Kính về giúp sức để chống lại nhà Trịnh, ông được phong đến chức Thái úy Tây Kỳ Vương, được cấp đất lập phủ ở Phú Đa và khi mất được phong tước Thượng Trụ Quốc và được nhân dân làng Phú Đa tôn làm Thành hoàng để ngày ngày tưởng nhớ công lao của ông. Ngôi đình Phú Đa được xếp hạng là Di tích văn hóa, ghi lại sự tích đó.
Ngày nay núi Câu - sông Tích vẫn còn đó, dân cư ở đây đã khai phá và xây dựng cuộc sống từ ngàn năm nay, tuy núi sông có biến đổi, dân tình có phát triển, đời sống có đổi mới thì vùng địa linh ấy vẫn không mất đi những giá trị vật chất mang đầy huyền thoại. Chả thế sinh thời nhà Bác học Lê Quý Đôn đã về đây dạy học và đã tặng cho đình làng Phú Đa đôi câu đối ca ngợi vẻ đẹp của vùng này.
“Phúc của làng đọng mãi nơi núi Câu
Hương của sách vẫn trải dài theo dòng Tích”

Núi Tây Phương vẫn tọa lạc, ngôi chùa cổ nổi tiếng trong và ngoài nước với hàng trăm pho tượng đẹp mê hồn. Một di tích Quốc gia được xếp hạng đặc biệt, đã in dấu chân Bác Hồ về thăm năm 1959.
Núi Lôi Âm vẫn nghi ngút hương khói từ Lôi Âm tự với những tấm bia cổ đang đặt ra cho các nhà Sử trả lời có phải nơi đây sinh ra Phục Hy Hoàng đế như giả thuyết của một số nhà nghiên cứu?
Núi Miễu đầu rồng với hàng trăm ngôi mộ, ai cũng muốn đem “mả táng hàm rồng” để phát sinh bao quận công, tiến sĩ.
Núi Lài Cài không cao nhưng ẩn trong đó một địa danh rực rỡ màu sơn - nơi Hồ Chủ tịch về ở và làm việc năm 1947. Ngày nay, đường đã mở rộng rải bê tông từ kẽm núi về Nhà lưu niệm Bác Hồ để khách thập phương đến thắp hương tưởng niệm Bác - Người Cha già dân tộc.
Núi Đông Thượng vẫn giữ trên ngôi đình cổ làm từ thời Lê Thánh Tông, vững bền cùng khóm đa cổ thụ nhìn ra sông Tích, hướng đến xa xa dãy núi Ba Vì - Một di tích Quốc gia đã được xếp hạng.
Còn núi Sọ vàng, trung tâm của xã, khúc giữa của con rồng Câu Lậu, bây giờ đã thành phố núi, có đường nhựa chạy từ kẽm núi vào đến trung tâm xã và kéo dài đến khu công nghệ cao Hòa Lạc với những ngôi nhà tầng cao, tầng thấp, điện lưới, điện thoại với đủ các cửa hàng tạp hóa, các xưởng sản xuất đồ sắt, đồ gỗ, xứng đáng là bộ mặt của một làng quê đang đổi mới.
Ngày nay, khi khu công nghệ cao Hòa Lạc phát triển cùng với nhu cầu của khách thủ đô dành những ngày nghỉ cuối tuần để đi tham quan không chỉ chùa Tây Phương mà họ còn đi sâu vào những di tích lịch sử, những chấm son của dân tộc nơi đây, hẳn rất thỏa lòng để dành 1, 2 ngày về nơi cội nguồn giúp cho họ thư thái và vốn hiểu biết thêm phong phú.

  1. Vãn cảnh chùa Hoằng Ân

Làng Quảng Bá đã có từ thời Bố Cái Ðại vương Phùng Hưng đánh giặc nhà Ðường xâm lược. Ngày nay, đã lên phố, thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội, nhưng người dân Quảng Bá vẫn tự hào về những giá trị văn hóa lâu đời: chè ướp sen, quất cảnh và chùa Hoằng Ân.
Ngôi chùa cổ là một trong những di tích lịch sử văn hóa và danh thắng nổi tiếng ở phía đông Hồ Tây. Tương truyền chùa được xây dựng vào thời Lý, do Thiền sư Ngô An (1019 - 1088) người làng khởi lập. Ðến thời Lê, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), chùa được xây dựng lại.
Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Ðoan Quốc Công Thái Tổ Gia dụ Hoàng Ðế Nguyễn Hoàng, vợ của Thanh Ðô Vương Trịnh Tráng (1623 - 1657) cho xây dựng lại quy mô lớn.
Năm Minh Mạng thứ hai, chùa đổi tên là Sùng Ân Tự. Ðời Vua Thiệu Trị, Vua ngự giá thăm chùa, sau đó, năm 1842, Bộ Lễ xét thấy tên Sùng Ân Tự trùng với tên lăng của Vua nên xin cho đổi là Hoằng Ân Tự, ngày nay, chùa được gọi theo tên làng - chùa Quảng Bá.
Văn bia của chùa ghi: "Phía trước là Tây Hồ mênh mông, phía sau là Tam Ðảo xanh ngắt, nhà cửa san sát, xóm bao bọc xung quanh, muôn phần tươi đẹp".
Sách Tây Hồ chí chép: Chùa ở trên Hồ Tây thuộc phường Quảng Bố. Ðầu triều Lý dựng lên, tên là Báo Ân. Khoảng năm Thông Thụy, Ðạo sĩ Trần Tuệ Long đắc đạo tại đó, môn đồ thu xá lợi (xương cốt) nhập tháp (nay không còn dấu tích). Mùa Xuân năm Quý Mão, niên hiệu Hưng Long thứ 16, thời Trần Anh Tông, nhà sư Huyền Trang từ núi Yên Tử về kinh dự lễ triều hạ xong đã tới đây giảng kinh Thư Lăng Nghiêm.
Chùa còn lưu giữ được bộ di vật có giá trị về mặt lịch sử và nghệ thuật với 30 pho tượng sơn son thếp vàng, tạo tác công phu tinh xảo, thuộc phong cách nghệ thuật thời Lê - Nguyễn, trong đó có pho tượng Quan Âm Nam Hải rất đặc biệt, tuy kích thước không lớn. Tượng có nét mặt thuần hậu, mặc áo cà sa nhiều nếp ở tư thế ngồi thiền, chân chống chân thõng, giẫm lên đài sen. Ba pho tượng Át Nam Tôn Giả, Hộ Pháp Tam Châu, Giám Trai Sứ Giả. Các chùa khác đều tạc ba pho tượng này ở tư thế ngồi, nhưng ở chùa Quảng Bá tạc ở tư thế đứng.
Chùa còn có ba pho tượng quý giá là bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, tượng Nguyễn Kim (ông nội bà Tú), tượng Nguyễn Hoàng (cha đẻ bà Tú) mà ở các chùa khác không có.
Trong chùa còn có hai quả chuông. Quả lớn được đúc năm Cảnh Hưng thứ ba (1743), cao 1,5m, đường kính 0,8m; vai chuông khắc nổi bốn chữ Hán: Long Ân Tự.
Quả chuông nhỏ được đúc vào thời Nguyễn. Ðặc biệt chùa còn lưu giữ bài kệ khái quát triết lý đạo Phật của Tổ Tông Diễn trình lên hòa thượng Thủy Nguyệt, Tổ sư của phái Tào Ðộng Việt Nam.
Nhà chùa còn giữ được 30 tấm bia đá, trong đó có tấm bia khắc hình một ni sư dựng ngày 28 tháng giêng năm Thiệu Trị thứ hai (nhiều người cho đó là hình Công chúa Ngọc Tú).
Trải bao mưa nắng, chùa vẫn giữ được quần thể kiến trúc đẹp, trước tòa tiền đường, lầu chuông cao ngất vươn lên cùng mây trời Hồ Tây lộng gió. Những cây nhãn cổ, vươn cành xum xuê tỏa rộng trên sân gạch đỏ sẫm.
Ðặc biệt, khu mộ tháp lô xô cao thấp, trầm mặc, ẩn mình dưới bóng ngọc lan thơm dịu dàng và thân cau cao vút như đưa chúng ta vào miền tâm linh thanh khiết. Ðây là nơi an nghỉ của nhiều Hòa thượng có công trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước: Hòa thượng Phạm Ngọc Ðạt, hiệu Bình Lượng là ân nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ Người hoạt động ở Thái-lan; Hòa thượng Thích Trí Ðộ, Thích Tâm An, Thích Mật Ứng và Thích Ðức Nhuận... Năm 1991, Chùa đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Với giá trị lịch sử - văn hóa và thế đắc địa mà thiên nhiên ban tặng, nhìn ra Hồ Tây mênh mông, chung quanh là những vườn quất trĩu quả, chùa Hoằng Ân là một trong những điểm văn hóa - du lịch của thành phố thu hút khách muôn nơi.
Ðến Quảng Bá, du khách đi trên những con đường nhỏ quanh co, hai bên là những vườn quất cảnh với các "thế" được uốn tỉa công phu; những chùm quả xanh đang dần chín vàng, làm đẹp cho muôn nhà khi Tết đến - Xuân về.
Vãn cảnh chùa, ta sẽ cảm nhận được những điều kỳ diệu của văn hóa Thăng Long ngàn xưa đang hiện diện trên từng tấc đất của làng cổ lên phố trong cuộc sống hôm nay.
Trở ra con đường mới mở ven hồ, thả hồn theo sóng biếc, sương giăng mây khói, nghe tiếng cá quẫy, xem câu văng và ngắm những ánh vàng ánh bạc lao xao trên mặt gương Tây Hồ. Ấy là cõi thực và mơ hòa giữa thiên nhiên trời đất, lòng người mà thiên nhiên ban tặng.

  1. Ðền Và cổkính

Ðền Và - nay thuộc thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, thành phố Sơn Tây, Hà Tây cổ kính và đẹp đẽ bậc nhất trong số các đền miếu trong vùng, nơi từ xưa đến ngày nay có lễ hội thu hút dân trong vùng và khách thập phương đông vui với nhiều trò vui dân gian cũng vào hàng hiếm thấy ở xứ Ðoài.
Ngôi đền đồ sộ, bề thế, mái ngói bạc mầu cùng năm tháng, với khoảng sân rất rộng, ẩn dưới rừng lim cổ thụ uy nghi, trầm mặc tỏa bóng, trên ngọn đồi thấp đầu làng, bên đường quốc lộ.
Vẻ cổ kính với lối tổ chức không gian nội, ngoại thất, cùng các đường nét kiến trúc cơ bản đậm phong cách kiến trúc đền miếu thời Lê, đã từng được trùng tu một số lần vào thời Nguyễn, mà dấu ấn rõ nhất là nghệ thuật chạm khắc, trang trí tinh xảo mà bay bướm, ngôi đền hiện vẫn vững chãi, sải mái nguy nga, không gian bên trong thoáng rộng với hệ bàn thờ, đồ thờ uy nghi mà không kém phần lộng lẫy, tương xứng với niềm thiêng của vị Thánh được cả nước tôn thờ-Thánh Tản Viên, một trong "Tứ bất tử" của nước nhà, vị Phúc Thần bậc nhất trong tâm linh của dân ta.
Thánh Tản Viên là hóa thân của khí thiêng sông núi, sức mạnh siêu nhiên giúp dân chống cả giặc dã lẫn thủy tai, theo truyền miệng của dân trong vùng, một lần du xuân thuở xa xưa lắm, ghé thăm một miền đất tụ cư, thấy ngọn đồi hình kim qui tỏa khí lành nay là đồi Và, có khí chất một vùng thắng địa, Ngài dừng chân, đám mây lành từ núi Tản bay đến che lọng tía, liền lập hành cung, gọi "đông cung".
Vào khoảng vài ba thế kỷ sau công nguyên, dân trong vùng lập đền bái vọng, đời đời hương khói phụng thờ. Bài văn trên tấm bia đá lập năm 1883 hiện còn dựng ở chái đền, cho hay lúc ấy "đền là miếu nhỏ, nhưng rất linh ứng, cầu gì được nấy".
Trải nhiều thế kỷ thăng trầm, đến thời thịnh trị triều Lê, làng Và trù phú đứng ra cùng dân chúng trong vùng góp công góp của xây cất ngôi đền lớn trên vị trí ngôi đền cũ.
Ngôi đền năm gian, mặt tiền rộng, lòng đền sâu, ba hàng cột lim cỡ một vòng tay ôm, chân cột đặt trên đá tảng trang trí hoa văn, đỡ ba bộ vì kèo chồng giường, hệ bẩy và quá giang đều chạm trổ hoa văn hoa lá khiến bộ khung, sườn đền to lớn, chắc khỏe trở nên thanh thoát và đẹp mắt.
Gian chính giữa là hệ ban thờ ba ngôi Thánh Tản, các long ngai, bài vị sơn son thếp vàng lộng lẫy, dưới tán lọng vàng, tỏa không khí linh thiêng.
Ðồ thờ phong phú, một số là di vật thời Nguyễn còn giữ được, nhiều hơn là của khách thập phương cung tiến từ trước đến giờ, đáng chú ý là những cỗ kiệu gỗ chạm trổ công phu, sơn thếp đẹp mắt...
Lễ hội Ðền Và mới thật là đông vui, sầm uất, tới nay vẫn giữ được cách thức cổ truyền, xem như một di sản phi vật thể giá trị.
Bắt đầu từ cuộc rước bài vị Thánh qua sông Hồng đến làm lễ tắm ngai ở Ðền Dội, nay thuộc xã Ngư Bình (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc).
Lễ rước bắt nguồn từ truyền thuyết kể rằng: Sơn Tinh từng du ngoạn vùng ven sông Hồng vào ngày 14 tháng Giêng , không còn nhớ rõ năm, thấy cô thôn nữ gánh đôi quang sọt, Ngài nhờ cô gánh cho đôi sọt nước từ sông Hồng để rửa chân.
Theo lời Ngài, cô xuống sông múc nước, quả nhiên đôi sọt tre đan hóa hai sọt nước đầy. Hôm sau, cô ra chốn cũ lặng lẽ hóa thân, mối đùn thành gò mộ. Sơn Tinh báo mộng cho dân làng lập đền thờ, dân gọi là Ðền Dội.
Từ đó, ba ngày 14 - 17 tháng Giêng các năm Tý - Ngọ - Mão - Dậu, Ðền Và lại mở hội lớn gọi là chính lễ. Lễ tắm ngai dùng nước lấy ở giữa sông Hồng vào sáng sớm ngày Rằm, đựng vào chum nhỏ.
Theo lệ, chính lễ rước đông vui nhất, dân cả tám làng Vân Gia, Cầu Trì, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Ðạm Trai (xã Trung Hưng); Phú Nhi (phường Phú Thịnh); Phù Sa (xã Viên Sơn); thôn Di Bình, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) cùng nhau làm lễ.
Chiều 14 tháng Giêng, mỗi thôn một kiệu túc trực trên sân trước cửa Ðền Và. Sớm tinh mơ ngày Rằm, làm lễ "phụng nghinh", rồi rước long ngai ba vị Ðức Thánh Tản ra kiệu chính.
Ðoàn rước trùng điệp theo sau kiệu chính là những kiệu văn (văn tế), kiệu long mũ của tam Thánh, kiệu hương hoa, oản quả các thôn dâng cúng. Ðám rước trang nghiêm mà náo nhiệt càng đi càng thu hút đông đảo dân trong vùng, trên đường diễu hành qua cầu Cộng vào thành phố Sơn Tây.
Tới cổng thành cổ thì đoàn kiệu quay một vòng mới rước qua các làng Phù Sa, Phú Nhi để đi đến bờ sông Hồng. Các cỗ kiệu lần lượt xuống thuyền qua sông, rồi dừng lại trước bàn thờ tam vị Thánh Tản, sau đi vào Ðền Dội.
Cuộc vui ở bãi sông tới xế chiều thì lại rước kiệu trở lại Ðền Và. Sau các nghi thức tế lễ là tưng bừng hội. Người người hào hứng vòng trong vòng ngoài, xem và nhập cuộc các trò vui dân gian, những đấu cờ người, đấu vật, chọi gà, hát múa dân ca, dân vũ lắm làn điệu và vũ hình đặc sắc xứ Ðoài...

Nằm ở thị xã Sơn Tây, đền Và là một công trình kiến trúc nghệ thuật cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn đã được Bộ Văn hóa xếp hạng. Đây là nơi thờ phượng Đức thánh Tản Viên (tức Sơn Tinh), vị thần của nông dân Việt Nam.
Từ thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cách Hà Nội 40 km về phía Tây Bắc) đi về hướng Thành Cổ, rẽ qua cầu Công Cộng, trên dòng sông Tích, bạn sẽ đến khu Xã Tắc thuộc xã Trung Hưng.
Qua Xã Tắc khoảng một cây số theo con đường láng nhựa qua cánh đồng làng Vân Gia, xã Trung Hưng là đến đền Và. Đây là một ngôi đền cổ kính nằm giữa rừng lim già nguyên sinh, trên gò đất rộng sáu hecta hình con rùa có đầu quay về hướng Bắc.
Theo truyền thuyết, thánh Tản Viên là một trong bốn vị thần (tứ bất tử) của dân tộc Việt Nam, gồm Bà Chúa Liễu (thần dạy nghề), Thánh Gióng (thần đánh giặc ngoại xâm), Tản Viên (thần mùa màng, thời tiết) và Tiên Dung - Chử Đồng Tử (thần tình yêu).
Theo ngọc phả về Tản Viên, ngày 14 tháng Giêng Âm lịch, không rõ năm nào, nhân một lần đi đánh giặc về, ngài đến vùng bãi ven sông Hồng khi trời oi bức. Sơn Tinh dừng chân và chọn gò đất cao có bóng mát để nghỉ ngơi, chuẩn bị hành trình về núi Tản. Lúc ấy, có một người đàn bà gánh sọt đi tới. Ngài bèn gọi lại, ngỏ ý nhờ gánh cho hai sọt nước mát giữa sông để tắm.
Người đàn bà ngạc nhiên:
- Gánh nước cho tướng quân tắm tôi không ngại, nhưng tôi chưa thấy ai dùng sọt gánh nước bao giờ.
Sơn Tinh bảo:
- Bà cứ dùng sọt mà gánh sẽ được.
Người đàn bà làm theo thì kỳ lạ thay, đôi sọt tre vẫn đựng được nước. Bà gánh nước lên gò cao có cây cối um tùm rồi lặng lẽ ra về.
Sơn Tinh tắm xong chẳng nhìn thấy người đàn bà đâu, cùng quan quân, người ngựa lướt nhẹ trên sông Hồng trở về núi Tản. Ngày hôm sau, người đàn bà ra chỗ ngài tắm và lẳng lặng hóa thân ở đó. Ít ngày sau, mối đùn lên phủ kín xác bà. Nhớ ơn bà, Sơn Tinh loan báo cho dân làng ra rước thi hài bà về mai táng và cho xây đền thờ. Ngôi đền ấy ngày nay gọi là đền Dội ở làng Di Bình, tỉnh Vĩnh Phúc.
Lễ hội đền Và được tổ chức một năm hai lần vào các ngày từ 13 đến 15 tháng Giêng và từ 14 đến 15 tháng Chín (Âm lịch). Ba năm một lần, vào các năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì tổ chức đại hội.
Đền Và là một ngôi đền to, rộng rãi. Trước cửa đền có giếng Ngọc và ngũ Dinh. Ngoài cổng nghi môn có ba cửa rộng, hai bên là gác chuông, gác trống. Qua một sân gạch rộng là đến đền Trung. Tại đây có bốn pho tượng lớn, hai con ngựa hồng và bạch.
Vào trong nữa là đền Thượng và hậu cung, có ba ngai thờ Tản Viên và hai anh em họ của ông là Cao Sơn và Quý Ly. Trong đền có nhiều đồ thờ cổ có giá trị như lọ lộc bình, chóe, cột đèn bằng đá, chuông đồng và nhiều hoành phi, câu đối. Các cửa đền sơn son, vẽ rồng vàng.
Đền Và còn có tên gọi khác là Đông cung - một trong hệ thống tứ cung nổi tiếng của xứ Đoài. Theo đó, đền Hạ (Tây cung) ở xã Minh Quang (Ba Vì), Nam cung ở thôn Yên Cư, xã Tản Lĩnh (Ba Vì), Bắc cung thuộc làng Thư Xá, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc).
Đền Và qua các triều đại Lý, Trần… đều được trùng tu. Đến đây, trải tấm bạt ngồi dưới gốc những cây lim già, ngắm dòng sông Tích lượn lờ và những cánh đồng lúa xanh ngút mắt, ai cũng cảm thấy lòng bình yên. Đặc biệt, làng Vân Gia có một đặc sản rất hấp dẫn là bánh tẻ. Đây là một loại bánh giống bánh giò, nhưng dai hơn và dù không có nhân thịt vẫn rất ngon.
60. Chùa mía - ngôi chùa cổ trên vùng đất cổLàng cổ Đường Lâm, Sơn Tây là nơi thu hút không ít nhiếp ảnh gia, đạo diễn, các nhà quay phim và nhiều học giả. Không chỉ có truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời, đây còn là mảnh đất du lịch rất đẹp. Đặc biệt, Đường Lâm có chùa Mía ẩn mình trong sương sớm, nơi để con người chìm vào thế giới thâm nghiêm, tạm quên đi cuộc sống ồn ào, vội vã.
Không giống như nhiều ngôi chùa khác, chùa Mía vào mùa xuân không ồn ào hay nghi ngút khói hương mà vẫn yên tĩnh, trang nghiêm.
Chùa Mía tọa lạc trên mảnh đất xứ Đoài giàu truyền thống, nơi hội tụ quần thể di tích gồm nhiều đền chùa, miếu mạo, phản ánh quá trình xây dựng và gìn giữ một vùng đất giàu truyền thống lịch sử. Chùa Mía tên hiệu là “Sùng Nghiêm Tự”, nằm trên vùng đồi của làng Đông Xàng (xã Đường Lâm, thành phố Sơn Tây), cách Hà Nội gần 50 cây số về phía tây. Đường Lâm là một điển hình làng cổ Việt Nam, vừa được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Nơi đây vẫn còn cây đa, bến nước, sân đình, những ngôi nhà đỏ rực tường đá ong kiên cố, như chẳng hề có vết tích thời gian.
Thế kỷ XVII, chùa bị hư hỏng, điêu tàn đổ nát. Năm 1632, Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Dung đã đứng ra khuyến mộ thiện nam tín nữ các làng Đông Xàng, Mông Phụ, Cam Thịnh, Cam Toàn… các làng thuộc Tổng Mía cùng tôn tạo lại. Cung phi Ngọc Dung còn gọi là Ngô Thị Ngọc Diệu, là phi tần trong phủ chúa Trịnh Tráng (1623-1657) vốn là người làng Nam Nguyễn (Nam An). Nhân dân trong vùng mến mộ uy đức của bà, đã tạc tượng đem thờ ở chùa. Người dân nơi đây tôn sùng bà là “Bà Chùa Mía”. Về sau, Chùa được tu bổ nhiều lần, nhưng đến nay từ quy mô đến kiến trúc của chùa vẫn được giữ gần như nguyên vẹn. Tấm bia dưới gác chuông ghi năm Vĩnh Tộ thứ ba (1621) nói về việc lập chùa.
Ngày nay, con đường đi vào chùa Mía đã được xây đắp lại, đẹp và sạch sẽ hơn. Từ trung tâm thành phố Sơn Tây, đi khoảng 5 cây số là đến cổng chùa. Từ đây đi thêm một quãng nữa, du khách sẽ đi qua chợ Mía, ngôi chợ nhỏ, để người dân buôn bán nông sản.
Ghé vào quán của một cụ bà, ngắm cổng tam quan đơn giản, mộc mạc được tán cây đa già che chở, hẳn nhiều người đều có cảm giác dường như mảnh đất này không hề chịu tác động từ thế giới bên ngoài. Chùa Mía giản dị ngay từ cái nhìn đầu tiên, để du khách khi bước vào mới thấy vẻ đẹp này mấy nơi có được. Chùa Mía không ồn ào bởi nhiều dịch vụ trong cúng lễ như ở các đền chùa khác, không sơn son thếp vàng như những ngôi chùa phương Nam, đặc biệt là có một số lượng lớn tượng cổ.
Cấu trúc chùa Mía gồm các tòa tam quan, chính điện, thượng điện, nhà tổ, hành lang san sát, nối kề nhau theo hình chữ Mục. Bước qua cổng Tam quan, nhìn sang bên phải, du khách sẽ nhìn thấy cây đa cổ, gốc to khít vòng tay mấy người ôm, rễ cây rắn chắc nổi lên trên mặt đất. Đối đỉnh với ngọn đa già là tòa bảo tháp cử phẩm Liên hoa. Tòa tháp này mới được xây dựng để thờ vọng Xá lợi Phật. Đây cũng là ngọn Tháp bút, Kính thiên, được coi là trấn giữ cho mạch âm của làng quê được an lành và phát triển. Đi vào bên trong là khu nội điện gồm tiền đường, đại hùng, bảo điện, thượng điện được cấu trúc theo kiểu “Nội công ngoại quốc” rất bề thế.
Thắp hương ở đền chính rồi cứ thế men theo những hành lang nối dài, ban thờ này nối tiếp ban thờ kia, không bao giờ phải quay lưng lại ban thờ nào. Cảm giác uy nghiêm, bao bọc linh thiêng của chốn Phật đường, dễ dàng tạo cảm giác yên bình, tĩnh tại. Phía trái tiền đường có một tấm bia cao ngang đầu người đặt lên lưng một con rùa đá lớn, có niên đại từ thời Đức Long năm thứ 6 (1632) đời Lê. Tấm bia ghi lại công trạng của Bà Chúa Mía đã dựng chùa ra sao. Tấm bia được coi là to lớn và cổ xưa nhất còn lưu giữ đến ngày nay.
Tháng 5-2006, Thành hội Phật giáo TP.HCM kết hợp với Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công bố 10 kỷ lục văn hóa Phật giáo Việt Nam, trong đó có Chùa Mía là nơi lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam. Ở đây có đến 287 pho tượng thờ, trong đó có 174 tượng bằng đất nung sơn son thếp vàng, 107 tượng mộc và sáu pho tượng bằng đồng.
Những pho tượng nổi tiếng là tác phẩm điêu khắc sinh động như: tượng Tuyết Sơn, tượng Di Lặc, tượng Bát Bộ Kim Cương… Tượng Tuyết Sơn cao 0,76m, không to lớn và nổi tiếng như tượng Tuyết Sơn ở chùa Tây Phương, nhưng cũng được điêu khắc, chạm trổ rất tinh xảo. Tám pho tượng làm bằng đất nung ở tòa thượng điện lại đặc biệt nổi bật với hình khối, bố cục vững chắc, thân hình khỏe khoắn, hài hòa, thể hiện con mắt và bàn tay tinh xảo của những nghệ nhân xưa.
Trái với những đường nét chạm khắc đầy oai nghiêm trên bức tượng Bát Bộ Kim Cương là tượng Quan Âm Thị Kính với những đường nét mềm mại, uyển chuyển và tinh xảo. Tượng miêu tả một người phụ nữ thùy mị, gương mặt phúc hậu, bế đứa nhỏ bụ bẫm, kháu khỉnh. Người dân làng Mía đã tự hào với pho tượng Quan Âm Thị Kính trong chùa mà sáng tác câu thơ:
Nổi danh chùa Mía nhà ta
Có pho tống tử Phật Bà Quan Âm
Chùa Mía không rộng và đông đúc khách thập phương đến viếng như chùa Tây Phương, chùa Hương hay những ngôi chùa nổi tiếng khác. Ghé thăm chùa vào những ngày đầu xuân, vẫn thấy chùa yên tĩnh, cổ kính như ngày thường. Khách viếng chùa không ồn ào, chen chúc. Khói hương không nghi ngút, thoảng trong không gian tĩnh mịch là tiếng chuông chùa văng vẳng. Người dân ở đây hiền lành quá, chẳng ai dám phá vỡ khung cảnh tĩnh mịch của ngôi chùa cổ linh thiêng.
Từ chùa Mía, du khách đi bộ khoảng 300m là tới một ngôi đền mà các cụ bán hàng trước cổng gọi là đền Mẫu. Người dân đi lễ chùa Mía ngày xuân thường sang đây xin một quẻ thẻ đầu năm lấy may, rồi xin bảng thẻ theo số quẻ thẻ rút được. Không có thầy giải quẻ, nhưng ai nấy đều tự luận bảng giải, cũng là niềm tin tưởng về một năm nhiều tài lộc, may mắn.

  1. Chùa Đậu

Chùa Đậu (hay Thành Đạo tự ) là một ngôi chùa ở thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Vì chùa thờ Bà Đậu hay nữ thần Pháp Vũ nên chùa được gọi là chùa Đậu và còn có tên là Pháp Vũ Tự.
Lịch sử
Theo truyền thuyết, chùa được dựng dưới thời Bắc thuộc lần thứ hai (602 - 939), nhưng theo văn bia, chùa được xây dựng từ thời triều nhà Lý.
Kiến trúc
Nhục thể thiền sư Vũ khắc Minh ở chùa ĐậuChùa đã được trùng tu nhiều lần. Theo văn bia tu tạo dựng năm Dương Hoà đời thứ 5 thì ngôi chùa này được tôn tạo vào thời nhà Lý, thế kỷ thứ 11. Ngoài ra trong chùa còn nhiều viên gạch lớn thời nhà Mạc và một số bia có niên hiệu Sùng Khang (1566 - 1577).
Cũng theo tấm bia trên, có một lần trùng tu lớn vào năm 1635 đời vua Lê Thần Tông.
Chùa được xây dựng kiểu "nội công ngoại quốc". Tam quan chùa là một gác chuông đẹp, hai tầng tám mái với các đầu đao cong vút. Nhiều bộ phận gỗ được chạm khắc hình rồng, phượng và hoa lá.
Tầng trên treo quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) thời nhà Tây Sơn.
Qua tam quan là một sân gạch rộng, hai bên có hai tòa giải vũ làm nơi nghỉ ngơi cho khách hành hương.
Tiền đường phía trước, nối liền với hai dãy hành lang hai bên và nhà tổ ở phía sau làm thành một khung vuông bao bọc lấy tòa thiêu hương và điện thờ Bà Đậu hay nữ thần Pháp Vũ.
Ở chùa Đậu có khá nhiều bia đá từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18.
Trong chùa có chiếc khánh đồng đúc năm 1774 với bài minh do Phan Trọng Phiên biên soạn. Ở đây còn hai tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng khắc bài thơ nôm của chúa Trịnh Căn (1682 - 1709) và chúa Trịnh Cương (1709 - 1729).
Tượng trong chùa
Tượng thiền sư Vũ Khắc Minh sau khi tu bổ
Tượng thiền sư Vũ Khắc Trường trước và sau khi tu bổĐặc biệt là trong chùa còn có hai pho tượng của hai nhà sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường đã tu ở chùa vào khoảng thế kỷ 17, được tạo thành bằng cách bó sơn ta rồi quang dầu ra ngoài chính thi hài các nhà sư. Đầu năm 1993, Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã được giao nhiệm vụ lập phương án thiết kế và thi công trùng tu hai pho tượng này. Khi chiếu tia X-quang, các nhà nghiên cứu còn thấy rõ xương cốt bên trong thi hài và kết luận rằng : không có vết đục đẽo, không có hiện tượng hút ruột, hút óc và các khớp xương dính chặt với nhau như thể tự nhiên. Đây là hai vị Thiền sư đắc đạo tại chùa, để lại toàn thân xá lợi. Xá lợi đốt không cháy, ngâm trong nước không tan.
Tượng thiền sư Vũ Khắc Minh đã được tu bổ với các kỹ thuật truyền thống như : bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất. Tổng số lớp sơn và thếp vàng là 14 lớp. Trước khi tu bổ, tượng nặng 7 kg, sau khi tu bổ, tượng nặng 7,5 kg.
Pho tượng Vũ Khắc Trường đã bị hỏng nặng vào khoảng năm 1983 do am đặt tượng bị ngập sau trận lụt lớn. Tượng hồi đó đã được ông Vũ Văn Tuyền, cháu của thiền sư Vũ Khắc Trường đắp lại bằng đất và sơn ta. Tượng đã được các nhà nghiên cứu sắp xếp lại những xương bị gãy, xông thuốc 2 lần và phủ xương bằng dung dịch PVC và đưa lại xương vào trong tượng và bao kín toàn tượng bằng sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc, chỗ dày nhất tới 22 lớp. Toàn bộ pho tượng sau khi tu bổ nặng 31 kg.

Tượng táng chùa Đậu nhận kỷ lục quốc gia
Chùa Đậu, tỉnh Hà Tây vừa được công nhận là chùa có tượng đắp từ di hài người đầu tiên ở Việt Nam. Đây là nơi còn lưu khá nguyên vẹn nhục thân sư ông Vũ Khắc Minh với chiều cao ngồi 57 cm, nặng 7 kg.
Ngôi chùa trên nổi tiếng từ lâu với di hài của hai vị sư trong tư thế ngồi thiền, được bó sơn ta. Qua vết nứt rộng 2 mm ở đầu và mặt tượng có thể thấy xương sọ của thiền sư. Đó là tượng nhà sư Vũ Khắc Minh được đánh giá là hiện vật lịch sử quý hiếm của quốc gia. Nhiều bảo tàng trên thế giới hiện chưa có hình tượng tương tự.
Chùa Đậu cũng nhận kỷ lục chứa cuốn sách ghi lịch sử chùa bằng đồng xưa nhất với chiều dài 24,8 cm, rộng 13cm, gồm 10 tờ đồng. Chùa được ghi nhận là "Danh lam đệ nhất" thời Hậu Lê.
Cũng dịp này, Trung tâm sách kỷ lục Vietkings công bố 27 kỷ lục Phật giáo Việt Nam của miền Bắc. Trong đó, ngôi chùa có số cột gỗ lim trong chánh điện nhiều nhất Việt Nam thuộc về chùa Non Nước, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, với 80 cột cao khoảng 13m, đường kính mỗi cột chừng 0,35 m. Số cột này tương đương với 600 m3 gỗ.
Chùa Tây Phương được công nhận có bộ tượng La Hán điển hình nhất của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thế kỷ XVIII, với 62 pho tượng lớn nhỏ của chùa phần nhiều làm từ gỗ mít, được các nghệ nhân tạo tác rất tinh tế. Chùa Hiến, thị xã Hưng Yên, có cây nhãn tổ đầu tiên của Việt Nam. Cây có dáng đẹp, quả to, cùi dày, hương vị ngon đặc sắc, cao khoảng 5m, chu vi gốc 1,82m. Trung ương Hội làm vườn Việt Nam xác định cây trên 300 năm tuổi. Ngày 10/10/1992, cây nhãn chùa Hiến được phong danh hiệu "tổ sư" của các cây nhãn Việt.
Chùa Phổ Minh, ở phía Bắc thành phố Nam Định được ghi nhận có Thái Bình, có gác chuông bằng gỗ cao nhất; chùa Phật Tích, Bắc Ninh, có hùa Dâu, Bắc Ninh là nơi xuất phát dòng Thiền đầu tiên của Việt Nam; chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, có Dạm, Bắc Ninh có cột đá chạm rồng lớn nhất; chùa Đức La, Bắc Giang, lưu giữ số bản kinh Phật khắc gỗ nhiều nhất; chùa Thành, Lạng Sơn, có hệ thống tượng thờ bằng đồng nguyên khối nhiều nhất; chùa Thái Lạc, Hưng Yên, lưu giữ nhiều bức cốn xưa nhất; chùa Kim Liên, Hà Nội, có tam quan bằng gỗ thời Lê lớn nhất; clưu trữ bản kinh Trường A hàm nhiều nhất là; chùa Bằng, Hà Nội, có tháp Phật giáo cao nhất.

Núi chùa Bái Đính, ở khu du lịch văn hóa Trường An giành kỷ lục vì bộ tượng tam thế bằng đồng lớn nhất, giếng nước lớn nhất và đại hồng chung lớn nhất.
62. Chùa Thầy - Hà Tây

Chùa Thầy ở xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây là một ngôi chùa gắn liền với tên tuổi của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, người có công lớn trong việc dạy học và chữa bệnh cho dân đồng thời cũng là người tổ chức và sáng lập ra môn đá cầu,đánh vật và múa rối nước. Chùa Thầy cùng với vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên và những giá trị văn hoá lịch sử thực sự tạo nên một điểm du lịch hấp dẫn.
Trên khung cảnh núi non hùng vĩ của Sài Sơn, chùa Thầy hiện ra trong sự yên tĩnh, dưới những làn sương mờ mờ ảo ảo hay trong những dòng người tấp nập đi lễ chùa.
Ngôi chùa cổ, mái ngói cong được xây dựng khá khang trang với lối kiến trúc độc đáo kiểu chữ Tam gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng song song với nhau. Bao quát chùa là không gian thoáng đãng với hồ nước trong xanh có hoa khoe sắc nở, có thuỷ đình, nơi múa rối nước và hai chiếc cầu nhỏ là Nhất tiên kiều trông vào đền Tam phủ còn Nguyệt Tiên kiều nối với đường lên núi.
Chùa Hạ là nơi lễ bái của các tăng ni phật tử và là nơi giảng đạo của các nhà sư còn chùa Trung là nơi thờ Tam Bảo. Lớn nhất to nhất là chùa Thượng - nơi đặt ba pho tượng chuyển kiếp của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ở chính giữa là ngôi bảo điện đồ sộ được trang hoàng rất nguy nga. Phía trên đặt hòm sắc linh triều tôn phong của Thiền sư. Phía dưới là tượng Thiền sư nhập đinh trên toà sen vàng đầu đội mũ hoa sen, tay chắp trước ngực, mình khoắc áo cà sa. Trong khảm thờ ở phía tay trái của toà bảo điện là tượng toàn thân của Thiền sư. Bức tượng đẹp và được tạc bằng gỗ chiêu dâu với những đường nét chạm trổ khéo léo và tinh vi. Đặt song song với nó là tượng thiền sư đã hoá kiếp thành vua Lý Nhân Tông, đầu đội mũ bình thiên, ngồi oai nghi trên ngai vàng.
Chùa Thầy còn thờ tượng cha mẹ thiền sư Từ Đạo Hạnh là ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan cùng hai người bạn đồng đạo thân thiết của thiền sư là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải. Hai bên chùa là hành lang dài thờ mười tám vị La Hán phía sau là gác chuông, gác trống.
Lên giữa lưng chừng núi Thầy là chùa Cao, nơi mà thiền sư Từ Đạo Hạnh bắt đầu con đường tu hành của mình. Đi vòng ra phía sau là hang Cắc Cớ. Hang rộng và sâu, đường đi trơn nên dễ bị trượt chân, do đó vừa đi vừa phải lò dò từng bức một và phải vịn vào nhau . Đi ngược lên phía trên là đến Đền Thượng, bên cạnh có hang Bụt Mọc, độc đáo kỳ thú, tiếp sau là hang Bò âm u, hang Giớ với những ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.
Ngoài ra, du khách sẽ còn thấy một hệ thống văn bia cổ bằng chữ Hán và chữ Nôm, có giá trị được lưu giữ tại ngôi chùa này.
Thắng cảnh chùa Thầy làm cho tất cả những ai đã đến đều có cảm giác bình yên, thích thú nhưng lại rất lưu luyến lúc ra đi. Vì vậy chưa đến hội chính từ mùng năm đến mùng bảy tháng ba âm lịch nhưng những dòng người đổ về chùa Thầy ngày một thêm đông. Người đi dâng hương khấn phật, cầu duyên, người vãn cảnh chùa đi, báo hiệu cho một mùa lễ hội đông vui, sôi nổi.

63. Phát lộ dấu vết am Ngọa Vân - Yên Tử

Vừa tìm thêm được mấy ngôi cổ tháp phía trên chùa Hoa Yên, trên tháp Thiền Định và một ngôi am cổ có thể là am Ngọa Vân nơi Thượng hoàng Trần Nhân Tông tịch diệt nhập niết bàn…
Cho đến bây giờ, hướng về Yên Tử ai cũng nghĩ đây là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm, nơi Đầu đà Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, vị tổ khai sáng ra dòng thiền này đắc đạo thành Phật chính.

Trước khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông vào Yên Tử tu tập, thì nơi đây đã trở thành thánh địa Phât giáo với nhiều thiền sư tu theo các dòng phái khác nhau. Điều này được kể lại trong sách Thiền tông chỉ nam tự do chính ông nội của đức Nhân Tông viết. Trong sách này có nhắc đến chuyện, sau loạn Trần Liễu thấy đau lòng trước cảnh huynh đệ tương tàn, vua Trần Thái Tông bỏ ngai vàng trốn lên Yên Tử định xin xuất gia. Thái sư Trần Thủ Độ lúc bấy giờ mới đem cả triều đình lên cầu xin vua về và quyết ý: nhà vua ở đâu triều đình ở đó. Trước tình cảnh như vậy vua mới tham thiền với quốc sư Phù Vân về đạo. Sau khi nghe sư giảng giải ngài đã ngộ ra được chân lý của đạo Phật và quyết định trở về triều đình lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đại thắng quân Nguyên.
Tuy nhiên, bên cạnh những chỉ dẫn như vậy trong Thiền tông chỉ nam tự, chúng ta hành hương trên con đường từ chùa Hoa Yên lên Yên Tử đã thấy nhiều dấu tích của các thiền phái khác. Đơn cử nếu du khách để ý thì trước khi lên đến chùa Hoa Yên vài bậc đá ở một khu vườn bên phải có đặt một bảo tháp bằng đá của một vị thiền sư theo dòng Lâm Tế. Chúng ta sẽ bắt gặp một cụm tháp Lâm Tế nữa nếu quá bộ đi tiếp từ chùa Hoa Yên lên chùa Bảo Sái.
Có hẳn một con đường cổ tháp của thiền phái Trúc Lâm chạy dọc theo con đường đi của khách bộ hành. Đầu tiên phải kể đến cụm tháp chùa Lân mà ngày nay chính là Thiền viện Trúc Lâm, kế đến và cụm tháp Hòn Ngọc ở cuối đường Tùng; lên cao hơn nữa là vườn tháp bên cạnh lăng Quy Đức nơi có tháp tổ Huệ Quang nơi đặt xá lị và tượng vua Trần Nhân Tông, ở các chùa Hoa Yên – Bảo Sái – Một Mái – Vân Tiêu đều có những vườn tháp với số lượng khá nhiều, rải rác trên đường đi là những cụm hoặc một vài ngôi tháp lẻ nhưng không hề thiếu những giá trị về mặt lịch sử lẫn tính mĩ thuật.
Cổ tháp ở Yên Tử có chung một đặc điểm là được xếp bằng những khối đá được mài vuông không có chất kết dính, trong mỗi tháp đều có khám thờ đặt bài vị hoặc tượng của các thiền sư. Thêm một đặc điểm đặc biệt hơn theo kinh nghiệm của các sư và dân địa phương ở đây trong việc đi tìm tháp hoặc các am cổ cho biết: các am hoặc tháp thương được dựng ở giữa hai gốc cây tùng, điều này chỉ riêng Yên Tử mới có. Chính nhờ kinh nghiệm này mà năm 2007 vừa rồi người ta đã tìm thêm được mấy ngôi cố tháp ở phía trên chùa Hoa Yên, trên tháp Thiền Định và một ngôi am cổ hiện đang có nghi vấn đó chính là am Ngọa Vân nơi Thượng hoàng Trần Nhân Tông tịch diệt nhập niết bàn…
Bên cạnh tháp tổ Huệ Quang ở lăng Quy Đức, có lẽ đẹp nhất vẫn là tháp Thiền định ở vị trí phía trên chùa Hoa Yên. Nếu như ở các bảo tháp khác được dựng từ những khối đá vuông vắn được xếp lên nhau thì bảo tháp Thiền định lại được dựng bằng gạch nung theo lối Chàm có tráng men xanh. Đế tháp là bốn mặt hổ phù, trán tháp là một đóa sen ngậm viên minh châu, trong khám thờ có bài vị nhưng bị phong hóa không còn nhìn rõ chữ, bản thân tháp Thiền định được dựng giữa hai gốc cổ tùng.
Tại sao ở Yên Tử, mỗi am và tháp đều được dựng giữa hai gốc tùng? Một thiền sư đã giải thích điều này: Sở dĩ mỗi bảo tháp hay am ở đây được đều được dựng giữa hai gốc tùng vì theo quan niệm của người phương Đông thì tùng vốn là cây thiêng có khả năng hút linh khí của trời đất, việc tọa thiền dưới gốc tùng sẽ làm tăng công năng tu tập của mỗi thiền sư. Thêm một nguyên nhân nữa trong kinh Phật kể lại: khi đức Phật Thích Ca nhập niết bàn ở Kushinagar, ngài nằm ở giữa hai cây Ta la song thọ; chính chi tiết này làm cho ta có thêm một sự lý giải về mối liên quan đến những cụm bảo tháp nằm giữa hai gốc cổ tùng ở nơi đây.
Cuộc tìm kiếm am Ngọa Vân – đâu là nơi mất của đức Điều ngự Giác hoàng?
Đầu năm 2007, vào gần đúng dịp lễ hội Yên Tử, dân địa phương đi đào măng về kháo nhau trên đường đi chùa Bảo Sái, đoạn trên chùa Một mái có con đường rẽ ngang đi lối trên của am Dược và am Hoa đã phát hiện một nền am cổ. Bên cạnh đó có một bảo tháp hơi bị xụp. Nhiều người cho rằng rất có thể đó chính là am Ngọa Vân nơi mà đệ nhất tổ thiền phái Trúc Lâm, Đầu đà Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn.
Con đường mòn này từ lâu chẳng có ai đi và gần như mất dấu. Sau nhiều lần bị lạc, đến nơi, thì thấy quả thật có một bảo tháp còn nguyên vẹn, đỉnh tháp hơi bị xụp xuống. Vị sư trông coi chùa Bí Thượng phỏng đoán là có thể tháp được xếp lại vì ở Yên Tử trước đây các bảo tháp không được trông coi cẩn thận có thời gian người ta có phong trào đào các tháp để tìm vàng. Nhưng trên thực tế, bảo tháp này vẫn được khá giữ nguyên ven, phần bị xụp có thể do tác động cơ học từ móng gây ra.

Theo một dấu hiệu nhận biết chung, tháp dược dựng từ bằng những khối đá vuông vắn được xếp lên nhau theo hình dáng chung của những cổ tháp trong vùng Yên Tử, trên trán có bia, nhưng chữ bị phong hóa không thể đọc nổi những văn tự khắc trên đó, và tháp cũng nẳm ở vị trí là giữ hai gốc cổ tùng.
Ngay bên cạnh bảo tháp chừng 100m chính là một nền am nhỏ mà rất nhiều người ở đây đó chính là am Ngọa Vân như trong sử sách ghi lại.
Nền am được dựng dưới một phiến đá rất to nhô ra tạo như một cái mái tự nhiên, điều này khá lý thú nhưng không có gì đặc biệt lắm. Đặc biệt hơn cả là trước am có hai gốc cổ tùng rất lớn, đường kính chừng hai người ôm, thân hai cây to bằng nhau. Gần như vừa khít giữa hai cây tùng là một phiến đá phẳng tự nhiên có chiều dài độ một người nằm.
Có thể đây chính là nền móng của một cổ am và đã có người tu tập.

Trước đó người ta vẫn biết có một ngôi chùa Ngọa Vân ở Đông Triều, và theo quan niệm của mọi người đó chính là nơi đức Trần Nhân Tông tịch diệt nhập niết bàn. Hiện giờ trong chùa còn thờ một bức tượng Trần Nhân Tông nhập niết bàn theo đúng với những gì sử sách tả lại: ngài nhập niết bàn theo tư thế sư tử tọa, giống với tư thế của Phật Thích Ca nhập niết bàn tức là người nằm nghiêng một tay chống đầu, một tay buông xuống đùi, hai chân để co lại xếp chồng lên nhau.
Trong quá trình kiểm chứng thông tin về ngôi cổ am mới tìm ra này thì có thông tin: phát hiện một am Ngọa Vân nữa bên dãy Yên Sinh sườn phía Tây dãy Yên Tử mạn Bắc Giang. Liền ngay sau đó như để khẳng định cho quan điểm về có một am Ngọa Vân nữa ở Bắc Giang , GS Huệ Chi cũng đã viết: “Việc qua đời của vua Trần ở am Ngọa Vân trên dãy Yên Sinh là điều đã được khẳng định, không có gì phải xét lại!”.
GS Huệ Chi đưa ra quan điểm từ 3 cuốn sách: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư; Thánh Đăng Ngữ Lục, Tam Tổ Thực Lục.
"Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ, Quyển III, ghi rằng vua Trần Nhân Tông băng ở am Ngọa Vân thuộc dãy Yên Tử vào ngày 3 tháng 11 năm Mậu thân…. "Thánh đăng ngữ lục" và "Tam tổ thực lục" thì nói kỹ hơn nhiều…Ngày 18 vua lên đường, đi bộ, tới chùa Tú Lâm ở ngọn Kỳ Đặc thuộc dãy Yên Sinh thấy nhức đầu, bèn bảo hai tỳ khưu đi theo là Tử Doanh và Hoàn Trung rằng: "Ta muốn lên đỉnh Ngọa Vân nhưng sức chân yếu quá không thể đi được. Biết làm thế nào đây?". Hai tì khưu bèn tâu vua: "Hai đệ tử chúng con có thể giúp người". Nói rồi họ cùng khiêng nhà vua lên đến đỉnh Ngọa Vân. Đến nơi, nhà vua từ tạ, bảo: "Thôi hai người hãy xuống núi tu hành, đừng coi sinh tử là một chuyện dễ dàng".”
GS Huệ chi cũng nói thêm: “Nhưng hai tài liệu khác của chính nhà Phật và có lẽ còn sớm hơn cả "Đại Việt sử ký toàn thư" là "Thánh đăng ngữ lục" và "Tam tổ thực lục" thì nói kỹ hơn nhiều”
Trên thực tế, GS Huệ Chi lầm lẫn một điều rất lớn rằng cuốn Thánh Đăng Ngữ Lục do thiền sư Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm soạn vào thế kỷ 18 trong khi đó Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được soạn ra trước đó 3 thế kỷ.
Thêm vào đó cuốn Thánh Đăng Ngữ Lục có thể được biên soạn vào cuối đời vua Trần Minh Tông đầu đời Trần Dụ Tông nhưng không có tác giả. So với Đại Việt Sử Ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên viết dưới thời Lê Thánh Tông thì Thánh Đăng Ngữ Lục chỉ là dạng tục sử ở mức tham khảo tư liệu loại 2.
Cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được Ngô Sĩ Liên biên soạn dựa trên thành tựu của cuốn Đại Việt Sử Ký do Phan Phu Tiên một sử gia đời Trần biên soạn, như vậy đây luôn luôn là nguồn tư liệu đáng tin cậy loại 1.
Dựa vào những tư liệu sẵn có cộng thêm với tư liệu thu được trong quá trình thực tế, có thể nhận xét như sau:
Thứ nhất: Theo quan niệm dân gian, sư ở đâu thì dựng am ở đó, còn chùa là nơi thờ Phật; khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia vào Yên Tử tu hành tháng 8 năm 1299, thì tháng 7 cùng năm đó đã cho dựng am Ngự Dược theo những gì mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại. Trong suốt quá trình tu tập đến đắc đạo, sử chỉ ghi chép duy nhất buổi thuyết pháp giảng Khóa Hư Lục đầu tiên của ngài tại ngôi chùa Vĩnh Nghiêm thuộc dãy Yên Sinh chứ không nói gì thêm.
Thứ hai:
Mối liên hệ giữa am và tháp ở Yên Tử rất khăng khít với nhau. Khi các thiền sư viên tịch, am của họ bao giờ cũng được dựng ngay gần khu vực tháp. Bản thân theo hai cuốn sử kia cũng cho biết là xá lị của vua Trần Nhân Tông được chia ra hai nơi: Một phần đặt ở Đức Lăng, phủ Long Hưng (Thái Bình); một phần đặt trong Kim Tháp ở chùa Vân Yên (chùa Hoa Yên ) trên Yên Tử, vậy không có lẽ gì vua Trần Nhân Tông lại có ngoại lệ là mất ở một nơi, táng ở một nẻo.
Rất khó có khả năng chứng minh về một sự tồn tại của am Ngọa Vân ở phía sườn tây Yên Tử mạn bên dãy Yên Sinh thuộc địa phận Bắc Giang và cũng khó xác định vị trí chính xác của am Ngọa Vân nơi mà mà đệ nhất tổ đã nhập vào cõi niết bàn tại khu vực xung quanh Yên Tử.

64. Lịch sử tang thương về chùa Báo Thiên ở Hà Nội xưa

Francis Garnier lúc ấy đóng quân ở Trường Thi đem toàn bộ ngôi chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự ở gần đó giao cho người thông ngôn của mình là Giám Mục Puginier làm nhà ở và nơi làm việc tạm thời. Giám Mục cho cất thêm mấy gian nhà gỗ trong khuôn viên chùa
Ở Hà Nội, phía Tây hồ Hoàn Kiếm, dọc theo trục Bắc Nam, có 1 đường phố ngắn (chỉ 300m) phía Bắc tiếp nối với phố Lý Quốc Sư, phía Nam đụng với phố Trường Thi, nằm gọn trog phường Hàng Trống thuộc quận Hoàn Kiếm, mang tên Phố Nhà Chung, thời Pháp thuộc gọi là Rue de la Mission (phố Hội Truyền Giáo hoặc phố Hội Thừa Sai).
Trên đường phố này xúm xít những cơ sở Công giáo như Nhà Thờ Lớn, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội , trụ sở của Hội đồng Giám mục Giáo hội Công giáo Việt Nam và mấy cơ sở bên “lương” như Câu lạc bộ Thanh thiếu niên [1] Hoàn Kiếm, Trung tâm ngoại ngữ Đại học Sư phạm… tiếp giáp với ngôi chùa cổ danh tiếng trong sử sách vẫn ghi là “Đền” Lý Quốc Sư [2].
Thời tôi còn công tác ở Ban Tôn giáo Chính phủ, tôi đã nhiều lần đến thăm chùa và nghe vị sư trụ trì [3] chùa Lý Quốc Sư kể chuyện, đưa cho đọc những tư liệu quí giá mà nhà chùa vẫn còn lưu giữ được về khu đất bên cạnh chùa. Thật bất ngờ cho tôi khi đọc thấy những chứng tích rằng toàn bộ khu đất ấy, ngày nay gọi là Phố Nhà Chung (Công giáo), ngày xưa là khuôn viên 1 ngôi chùa (Phật giáo) cổ kính, tráng lệ, đồ sộ vào bậc nhất nước ta.
Chùa đó có tên gọi tắt là Báo Thiên Tự, gọi đầy đủ là Sùng Khánh Báo Thiên Tự; trong sân chùa có một ngôi bảo tháp cao vòi vọi (12 tầng), cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt nước hồ [4] Hoàn Kiếm. Tháp này có tên gọi là Đại Thắng Tư Thiên Tháp, gọi tắt là Báo Thiên Tháp.
Báo Thiên Tự được khởi công xây dựng từ năm 1056 [5] (đời vua Lý Thánh Tông), đúc 1 quả đại hồng chung nặng đến 1 vạn 2 ngàn cân (7260 kg). Báo Thiên Tháp có chóp làm bằng đồng, được xây dựng 1 năm sau khi xây dựng xong chùa.
Trong chùa và tháp có rất nhiều vật hạng bằng đồng như tượng Phật, thiền trượng, giới đao hộ pháp nhà Phật…cho nên năm 1427, khi quân Minh xâm lược bị vây khốn trong thành Đông Quan (tức Hà Nội), chúng cố thủ để chờ quân tiếp viện, đã đến chùa cướp phá tàn bạo: tốc chóp tháp đồng, nấu chảy đại hồng chung và tất cả những gì bằng đồng, bằng kim loại để làm vũ khí (đúc súng) chống lại quân Việt Nam của Lê Lợi - Nguyễn Trãi mãi cho đến khi biết rõ là các đạo quân tiếp viện (Liễu Thăng, Mộc Thạnh) đều đã bị đánh tan cả, mới chịu đầu hàng.
Tuy nhiên, nhà Lê không để chùa bị bỏ hoang, cho trùng tu và đại trùng tu nhiều lần ngôi chùa vẫn giữ vị thế bậc nhất nước ta.
Trong chùa Lý Quốc Sư ngày nay vẫn còn lưu giữ bản gấm thêu sắc tự của đời Cảnh Hưng (tức vua Lê Hiển Tông 1740-1786) về chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự. Trên nền tháp bị phá, đã được tôn cao bằng một đàn tràng cũng gần nơi bây giờ là nhà thờ lớn.
Về lý do diễn biến đổi thay từ chùa và tháp Báo Thiên, một trong “Tứ đại khí” hay “Tứ bảo khí” của Việt Nam cổ (tạm dịch là 4 công trình to lớn và quí báu của nước Nam ta) thành ra Nhà Thờ Lớn, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Hội đồng Giám mục Giáo hội Công giáo Việt Nam và các tu viện Công giáo xung quanh đó ngày nay, thì dò theo các quyển sách lịch sử đáng tin cậy như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hà Thành thất thủ chính khí ca (khuyết danh) - bản trường ca về việc Hà Nội bị Pháp đánh chiếm lần thứ 2 (Nguyễn Hoàng Viên: Hoàng Diệu 1829-1882, NXB Đà Nẵng 2001, trang 54-66), Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của Nguyễn văn Tân, NXB Văn hóa Thông tin , Hà Nội 1998; Từ điển đường phố Hà Nội - NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2000; Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm -Công giáo và Dân tộc, xuân 1996, Thành phố Hồ Chí Minh ;
Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long -NXB văn hóa thông tin, Thời báo kinh tế Việt Nam, tập I, 2007… tôi suy ra những kết luận chuẩn xác như sau:
Số là sau khi được triều đình Huế chính thức nhượng 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) theo hòa ước 1862 (Nhâm Tuất), đến 1867 (Đinh Mão) quân Pháp lại chiếm luôn 1 cách dễ dàng cả 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên) nữa, soái phủ Sài-gòn có ý định chiếm nốt xứ Bắc Kỳ, để thiết lập vững chắc nền đô hộ của Pháp ở Viễn Đông.
Đô đốc Dupré viết thư sang Pháp:
“Xứ Bắc Kỳ rất giàu và nối liền với nước Tàu. Đó là nơi để các tỉnh phì nhiêu Tây Nam xứ Trung Hoa tải sản vật sang cho ta. Việc chiếm cứ xứ này là vấn đề sinh tồn cho tương lai cuộc đô hộ của ta ở Viễn Đông”. (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương . NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang 117)
Pháp sử dụng hòa ước 1862 như 1 công cụ “tàm thực” (tằm ăn dâu) thần hiệu: “… Đạo Thiên Chúa được tự do truyền giáo … Người Pháp và người Tây Ban Nha được quyền mở 3 hải cảng Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên và tự do đi lại buôn bán trong nước ta…” (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương, NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang 87)
Năm 1871, có 1 thương gia người Pháp tên là Jean Dupuis đi tìm 1 con đường sông ở Bắc Kỳ giao thông với tỉnh Vân Nam của Tàu. J.Dupuis mộ lính Tàu và tập họp 1 băng đầu trộm đuôi cướp về đóng tại Hà Nội .
Quan ta không có quyền đuổi họ đi, bèn tâu về triều, xin phản kháng với đô đốc thống lĩnh xứ Nam Kỳ. Nhưng đô đốc Dupré chỉ 1 mực bênh vực Dupuis.
Tháng 5-1873, quan ta bắt giam đồ đảng người Nam và người người Tàu của Dupuis, thì Dupuis bảo sẽ dùng vũ lực phá nhà ngục, đánh tháo cho những kẻ bị bắt giam. Dupuis lại đòi mua muối, củi để tàu của mình dùng, nhưng quan ta không chịu, khiến tình hình càng hết sức căng thẳng.
Thuở ấy, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức bổ nhiệm chức Bắc Kỳ Khâm mạng tuyền sát đổng sức đại thần (kinh lược sứ Bắc Kỳ), điều quân từ Sơn Tây về giữ thành Hà Nội.
Đáp lại thư phản kháng của triều đình Huế, soái phủ Sài-gòn còn giúp thêm cho J.Dupuis 3 vạn quan tiền.
Ngày 27-7-1873, Dupré đánh điện tín về bộ Hải quân:
“Xứ Bắc Kỳ đã mở cửa thông thương nhờ công của Dupuis. Việc này có ảnh hưởng lớn đến thương mại của Anh, Đức, Mỹ. Ta cần phải chiếm xứ này trước, đừng để bọn giặc Tàu hay người Tây phương khác chiếm. Như thế ta sẽ đem lại cho nước Pháp 1 con đường buôn bán độc quyền. Tôi không xin thêm viện binh. Tôi sẽ đem quân lực sẵn có đi đánh. Sự thành công rất chắc chắn”. (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương, NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang 119).
Soái phủ Sài-gòn truyền lệnh cho trung tá [6] Francis Garnier mang 1 tiểu đội chiến thuyền ra Bắc Hà trước để điều tra vụ Dupuis, sau buộc triều đình Huế mở rộng xứ Bắc Kỳ cho người Pháp buôn bán. Ngày 17-9-1873, F.Garnier rời bến Sài-gòn và đến ngày 5-11, đem quân đến Hà Nội .
F.Garnier vừa mới gặp Nguyễn Tri Phương đã khiêu khích rất hách dịch, đòi đóng quân ngay trong hoàng thành, bắt buộc các địa phương phải để cho người Pháp thông thương trên toàn cõi Bắc Kỳ, nhưng Nguyễn Tri Phương cự tuyệt, lý do là vì chưa có lệnh triều đình. Thực sự Francis Garnier khiêu khích để châm ngòi cuộc chiến tranh:
“Tôi nhất định đánh. Tôi sẽ đem 180 quân bản bộ hạ thành Hà Nội và bắt Nguyễn Tri Phương giải về Nam, làm tù binh” (Thư của Francis Garnier gởi về Soái phủ Sài-gòn cho Đô đốc Dupré ngày 10-11-1873).
Ngày 20-11-1873, đúng 6h sáng, Francis Garnier truyền lệnh hạ thành Hà Nội. Đại bác ta trên thành bắn ra không có tác dụng gì cả, đạn lướt qua đầu quân Pháp và rớt xuống cả mặt đất phía sau. Quân ta trong lúc hoảng hốt, quăng xuống vô số đá to, đá nhỏ mà chẳng trúng tên quân Pháp nào. Một đại bác của Pháp bắn vỡ cửa Đông, quân Pháp ào tới, ập vào thành. Đến 7h, cờ Pháp bay trên vọng lâu trung ương thành Hà Nội. Phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Nguyễn Tri Phương trúng đạn bị thương nặng ở đùi, bị Francis Garnier bắt được. Francis Garnier phái các bác sĩ đến băng bó vết thương, đổ cháo và thuốc vào miệng ông để ông mau phục sức. Nhưng Nguyễn Tri Phương dứt cả băng bó, phun cháo và thuốc ra, nhất quyết tuyệt thực cho đến chết.
Francis Garnier đem thông ngôn [7] đến ngồi bên giường ôn tồn an ủi. Nguyễn Tri Phương thản nhiên đáp:
“Làm tướng phải chết và chết ở trận tiền không phải là cái chết nhục nhã” (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương, NXB Chính Ký, Sài-gòn 1944, trang123)
Ngày 20-12-1873, Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối cùng, thọ 74 tuổi (1799-1873).
Francis Garnier lúc ấy đóng quân ở Trường Thi [8] đem toàn bộ ngôi chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự ở gần đó giao cho người thông ngôn của mình là Giám Mục Puginier làm nhà ở và nơi làm việc tạm thời. Giám Mục cho cất thêm mấy gian nhà gỗ trong khuôn viên chùa [9], còn Tòa Giám Mục thì vẫn đặt tại Sở Kiện. Trong mấy năm sau đó, tình trạng này vẫn không thay đổi vì chỉ đến ngày 21-12-1873 thì Francis Garnier bị quân Cờ Đen phục kích giết chết, quân Pháp rút về Nam, giao Hà Nội lại cho triều đình Huế cai quản theo hòa ước 1874 (Giáp Tuất).

Mãi cho đến 9 năm sau, Soái phủ Sài-gòn mới cử Henri Riviere [10] ra đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882-Nhâm Ngọ). Lần này thì Tổng đốc Hà Ninh [11] là Hoàng Diệu (trọng trấn từ 1879) quá phẩn uất trước cảnh vua và triều đình bạc nhược chủ hòa [12], không quyết tâm phòng bị, còn các quan chức kế cận mình thì hèn nhát bỏ trốn trước giờ lâm trận, thậm chí phản bội đầu hàng, cho nên sau khi viết xong tờ di biểu, ông đã treo cổ tự tử trên cây ổi ở miếu Công Thần trg Hành Cung Kính Thiên.
Sau khi chiếm được Hà Nội, Henri Riviere sai phá hủy các cổng thành và nhiều đoạn tường thành, vần hết đại bác trên thành ném xuống hào. Các chùa miếu quanh thành đều bị phá phách, xô sập tất cả, 1 mặt để lấy gỗ gạch làm công sự [13], mặt khác là để thực hiện chủ trương triệt hạ nền văn hóa cổ truyền bản địa [14] và độc tôn Thiên Chúa giáo mà thực dân Pháp vẫn được Vatican tuyên dương là Trưởng Nữ của Giáo hội. Cũng chính trong thời điểm này, Báo Thiên Tự bị phá hủy hoàn toàn và biến mất trên bản đồ Hà Nội.
Khu vực chùa và tháp Báo Thiên cũ được ước đoán theo các tư liệu lịch sử. Có thể chính điện của Chùa nằm trên nền đất nay là Nhà thờ Lớn và Tòa Tổng giám mục Hà Nội; Tháp Báo Thiên tọa lạc trên khoảng đất thuộc khu vực Tòa khâm sứ cũ. Khuôn viên vườn chùa (Thời Lý - Trần - Lê) kéo dài đến qua khu Chủng viện, Dòng mến Thánh giá ra sát Hồ Gươm.
Năm 1884, hàng ước Patenotre được ký kết, triều đình Nguyễn chấp nhận Pháp bảo hộ và chia Việt Nam thành 3 kỳ: Nam Kỳ là xứ thuộc địa (colonie) của Pháp, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ (protectorat) của Pháp, Trung Kỳ được gọi là Đế chế An Nam (Empire d'An Nam) – sự thật thì cả ba kỳ đều chung 1 chế độ lệ thuộc, ngay trong đế chế An Nam thì vua mặc dù có những vị vua yêu nước muốn khôi phục độc lập chủ quyền cho Dân tộc, nhưng cuối cùng phải bị bắt bị đày, bởi “vua thì còn đó, nước thì không “, triều đình quan lại thì mặc dù cũng có những ông quan tận trung báo quốc nhưng cuối cùng phải bị giết bị tù bởi triều đình quan lại rút cuộc chỉ là con rối trong tay thực dân Pháp mà thôi, Giám Mục Puginier mới cho xây dựng lại bằng những vật liệu kiên cố Nhà Thờ Lớn và các tòa nhà khác của Nhà Chung rồi dời Tòa Giám mục [15] về đây.
Năm 1925, Tòa Thánh Vatican lập Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh ở Việt Nam (Delegue’ Apostolique16 F, Apostolic Delegate [16] E) và trụ sở ban đầu đặt tại Huế, đến năm 1951 mới dời ra Hà Nội và Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh được xây dựng ngay trên khu đất Phố Nhà Chung này. Đến năm 1957, sau khi hiệp định Geneve được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời chia thành 2 miền tập kết quân đội, đợi ngày hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Nhưng chính quyền miền Nam nhất định không chịu hiệp thương tổng tuyển cử, Tòa Thánh Vatican thì nhất quyết không thừa nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên chuyển Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh vào Nam (Sài-gòn) là nơi mà Tòa Thánh công nhận là “đại diện duy nhất” (!) cho nước Việt Nam…
Lê Quang Vịnh

Tái bút:
Noel 2007, hàng trăm thanh niên Công giáo Hà Nội đã xông vào địa chỉ 42 phố Nhà Chung đang là trụ sở của Phòng Văn hóa Thông tin, Nhà Văn hóa & Trung tâm Văn hóa Thể thao quận Hoàn Kiếm, phát hàng vạn tờ truyền đơn đòi Nhà nước phải trả lại cho Tòa Tổng Giám Mục khu đất ở địa chỉ này mà họ cho là của Tòa Khâm sứ (cũ).
Họ trưng ra 1 bức thư của người đại diện Tòa Thánh Vatican khi rời Hà Nội vào Sài-gòn năm 1959 cám ơn Tòa Giám Mục Hà Nội đã cho mượn đất để xây dựng Tòa Khâm sứ (cũ).
Tôi không tham gia vào cuộc tranh chấp phức tạp này. Tuy nhiên tôi không thể không ghi lại lịch sử cụ thể của khu đất bao gồm cả địa chỉ 42 và 40 và toàn bộ phố Nhà Chung (hiện nay) trên đó tọa lạc Tòa Khâm sứ (cũ) và Tòa Tổng Giám Mục, Nhà Thờ Lớn Hà Nội và các tu viện, đan viện và các cơ sở Nhà chung khác nữa ở đây, đều nằm trong khuôn viên của ngôi chùa cổ gần 1000 năm và đồ sộ, nguy nga vào bậc nhất nước Nam xưa.
Ngôi chùa ấy đã là nạn nhân cực kỳ đau khổ của quân xâm lược nước ngoài: năm 1426, quân xâm lược Tàu (Vương Thông nhà Minh) đã phá đổ Đại Thắng Tư Thiên Tháp cao 12 tầng và cướp phá nghiêm trọng những vật hạng bằng đồng, bằng kim loại trong chùa để đúc súng, tuy nhiên sau đó nhà Lê đã cho trùng tu, đại trùng tu nhiều lần ngôi chùa sắc tứ này; năm 1873, quân xâm lược Pháp (F.Garnier) lấy ngôi chùa này giao cho Giám Mục Puginier dùng làm nhà ở và chỗ làm việc tạm khi Giám Mục về Hà Nội làm thông ngôn cho F.Garnier, tư lệnh cuộc đánh chiếm Hà Nội lần thứ I; năm 1882, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ II, quân xâm lược Pháp (H.Riviere) đã xô sập tất cả đền chùa xung quanh Hà Nội để lấy gạch gỗ đá xây dựng công sự; năm 1884, trên khu đất khuôn viên chùa cũ, Giám Mục Puginier cho xây dựng nên Nhà Thờ Lớn và dời Tòa Giám Mục về đây (1887)...
Chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự và Đại Thắng Tư Thiên Tháp (tức Báo Thiên Tháp 12 tầng cao) ngày nay không còn nữa, nhưng chứng tích của nó thì vẫn rành rành ra đó, không có gì để nghi ngờ bàn cãi. Chuyện xảy ra chỉ mới hơn 120 năm, đối với đời người thì có thể nói là dài, nhưng đối với lịch sử thì chẳng là bao năm cả.
Chùa và tháp Báo Thiên gắn liền với truyền thống chống xâm lược của dân tộc ta, với thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, với máu lệ của “những kẻ tôi trung tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương” [17] Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.

1] nay đã chuyển thành trụ sở Phòng Văn hóa Thông tin, Nhà Văn hóa và Trung tâm Văn hóa Thể thao quận Hoàn Kiếm.
[2] thờ Vạn Hạnh thiền sư (9?? – 1018 )
[3] Thượng Tọa Thích Bảo Nghiêm
[4] Báo Thiên Tháp Ảnh: Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam , NXB Văn hóa –Thông tin, Hà Nội 1998, tr 92.
[5] nguyên văn : “Bính thân, năm thứ 3, mùa hạ, tháng 4, xuống chiếu khuyến nông, làm chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn. Vua (Lý Thánh Tông nổi tiếng thương dân như con) thân làm bài minh. Đinh dậu, năm thứ 4, mùa xuân, tháng giêng, xây bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên, cao vài chục trượng , 12 tầng…” (ĐVSKTT, tập I, NXB VHTT 2004, tr 318).
[6]capitaine de fregate, Trần Trọng Kim dịch là Đại úy, nhưng tôi (Lê Quang Vịnh ) nhận thấy quá thấp, bởi trg hải quân Pháp cổ, capitaine có nghĩa là chiến thuyền trưởng chứ không phải là đại úy như trg lục quân, hơn nữa có 3 cấp capitaine là Capitaine de corvette=thiếu tá hải quân; Capitaine de fregate=trung tá hải quân; Capitaine de vaisseau=đại tá hải quânèdo đó đề nghị dịch lại là trung tá hải quân (theo Larousse 1992).
[7] chính là Giám Mục Puginier (theo Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim)
[8] khoảng giữa Thư viện KHXH và Trường Kỹ nghệ Hà Nội (theo Hà Thành thất thủ ca, câu 8)
[9] theo Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long, tập I, 2007, trang
[10] Capitaine de vaisseau=Đại tá hải quân (xem chú thích số 6)
[11] Hà Ninh có 2 nghĩa trái ngược nhau: theo Trần Trọng Kim trg Việt Nam sử lược là Hà Nội + Ninh Bình, theo Nguyễn Hoàng Viên trg Hoàng Diệu 1829-1882 là Hà Nội + Ninh Bình + Hà Nam, nhưng theo Hoàng Xuân Hãn trg bản nghiên cứu về Chính Khí Ca thì lại là Hà Nội + Bắc Ninh.
[12] Vua Tự Đức nói: “Bàn hòa là người có công, bàn chiến là kẻ có tội…” (Đặng Duy Phúc: Thăng Long. Đông Kinh. Hà Nội , nơi hội tụ nhân tài. NXB Hà Nội 1996)
[13] Trg Hà Thành thất thủ ca có ghi: /Kính Thiên ngài ngự thếp vàng,/Tây ngồi đánh chén với đoàn thanh lâu./Các chùa miếu đâu đâu đấy tá,/Can gì Tây cũng phá tan tành? (câu 115-118)
[14] còn có 1 yếu tố tinh thần khác dẫn đến quyết định của H.Riviere phá hết các đình chùa ở Hà Nội mà Giáo sư Vũ Khiêu có nhắc tới: “Ngay từ giờ phút đầu tiên…các đình chùa đều đánh trống, gõ mõ, khua chiêng vang dội để khoa trương thanh thế áp đảo địch và hỗ trợ cho tinh thần quyết chiến của quan quân trong thành…” (Giáo sư Vũ Khiêu: Lễ tưởng niệm danh nhân yêu nước Hoàng Diệu nhân 170 năm sinh tại Văn Miếu Quốc tử giám Hà Nội ngày 30-10-1999. Nguyễn Hoàng Viên: Hoàng Diệu , NXB Đà Nẵng 2001, trang 216).
[15] tên gọi của Tòa Giám Mục đã thay đổi rất nhiều lần kể từ khi đạo Thiên Chúa được truyền vào Việt Nam. Năm 1679, Tòa Thánh chia Địa phận Đàng Ngoài thành 2: Địa phận Tây và Địa phận Đông Đàng Ngoài. Năm 1846, Địa phận Tây Đàng Ngoài lại được chia làm 2: Địa phận Tây Đàng Ngoài và Địa phận Nam Đàng Ngoài. Hà Nội nằm về phía Tây nên thuộc về Giáo phận Tây Đàng Ngoài. Tòa Giám mục lúc ấy được gọi là Tòa Giám Mục Tây Đàng Ngoài. Mãi đến năm 1924 mới lấy tên nơi đặt Tòa Giám Mục làm tên gọi các Giáo phận. Tòa Giám Mục Hà Nội có tên từ ấy (GHCGVN, niên giám 2004, trang 218)
[16] Apostolic Delegate: Khâm sứ Tòa Thánh (= vị đại diện của Đức Giáo Hoàng, không làm nhiệm vụ ngoại giao như apostolic nuncio mà chỉ làm nhiệm vụ của Giáo Hội là liên lạc với các giám mục ở những quốc gia không có quan hệ ngoại giao chính thức với Vatican (Nguyễn Đình Diễn: Từ điển Công giáo Anh Việt, NXB Tôn giáo , Hà Nội 2002, trang 49)
[17] Hồ Chí Minh : Lịch sử nước ta à Nước ta nhiều kẻ tôi trung/Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương /Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương /Cùng thành còn mất, làm gương để đời

65. Chùa Báo Thiên và tháp Đại Thắng TưThiên

Chùa Báo Thiên và tháp Đại Thắng TưThiên là do vua Lý Thánh Tông đứng ra chủ trì việc xây dựng. Nói cách khác là do nhà nước đứng ra làm “chủđầu tư” theocách nói hiện nay. Chùa và tháp là hai biểu tượng của Phật giáo, nhưng do là mộtngười theo Phật, vua đã cho xây chùa năm 1056 và dựng tháp năm 1057.
1. Vềvua Lý Thánh Tông, người chủ trì xây dựng tháp
Tháp ĐạiThắng TưThiên - Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông (1023-1072), vịvua thứba củatriều Lý chủtrì xây dựng. Vua Lý Thánh Tông là người nhưthếnào, xin đọc tríchđoạn trong Đại Việt SửKý Toàn Thư:
“Sửthần Ngô SĩLiên bàn: Thương xóthình ngục, yêu thương nhân dân, là việc đầu tiên của vương chính. Thánh Tôn lorằng tù giam trong ngục, hoặc có kẻkhông có tội, nhân đói rét mà đến chết, thìcấp cho chiếu chăn ăn uống đểnuôi cho sống; lo rằng quan lại giữviệc hình ngụchoặc có kẻvì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, thì cấp thêm cho tiền bổng và thứcăn, đểnhà được giàu đủ; lo rằng nhân dân thiếu ăn thì xuống chiếukhuyến nông;lo rằng năm đại hạn đói kém thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo; trước sau mộtlòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ pháp độ, văn sự bên trong tiến mau chóng; phía Nam bình nước Chiêm; phía Bắc đánh nước Tống, uyvũbên ngoài hiển hách rõ ràng. Tuy có việc lầm lỗi nhỏkhác, cũng vẫn là bậcvua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngụ ý chưa cho là phải” (tr. 234).
Lời bàn của sửquan Ngô SĩLiên vào thếkỷ 15 là kết quảcủa những sửkiện mà nhà làm sửtrước ông đã ghi trong một sốbộ sửtừthời Trần sẽcũng dẫn trong bài này, cho thấy vua là người đặt căn bản caitrịtrên lòng từbi của giáo pháp đức Phật.
Có ba sựkiện quan trọngnhất đương thời vua thực hiện là:
- Đánh sang Khâm Châu (nay thuộc tỉnhQuảng Tây, Trung Quốc) của triều Tống năm 1059;
- Đánh Chiêm Thành, bắtvua ChếCủvà 5 vạn người Chiêm năm 1069, đất đai nước ta mởxuống đến địa phậntỉnh Quảng Nam ngày nay;
- Lập Văn Miếu, Hoàng thái tửđến đây đểhọc năm1070. (Hành động này chứng tỏvua Lý Thánh Tông dù là một Phật tửthuần thành,nhưng là người đã có ý thức cao vềviệc đào tạo người tài và người có năng lựcquản trịcho nhà nước và quốc gia, điều đó chứng minh cho một nền Phật giáo khaiphóng trong thời Lý và được tiếp nối trong thời Trần).

Là một Phật tử thuần thành: nhà vua là truyền phái thếhệthứnhất của dòng Phật Thảo Đường,cùng với nhà sưBát Nhã nổi tiếng và cưsĩNgô Xá, và nhờthế, nhà vua cũng đồngthời là một vịquân vương sáng suốt, nhưng đầy lòng từbi của Phật giáo. Hãy xemsửchép:
“Mùa hạ, tháng 4, vua ngựđiện Thiên Khánh xửkiện. Khi ấy côngchúa Động Thiên hầu bên cạnh, vua chỉvào công chúa bảo ngục lại rằng: “Ta yêucon ta, cũng nhưlòng ta làm cha mẹdân, nhân dân không biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương. Từnay vềsau, không cứgì tội nặng hay nhẹ, đềunhất luật khoan giảm” (tr. 232)
Một vịvua đầy lòng từbi song cũng đồngthời là người có vũcông sáng chói, sau chiến dịch đánh Chiêm năm 1069, cươnggiới của Đại Việt đãmởxuống đến tận địa phận tỉnh Quảng Nam ngàynay.
Việc nhà vua cho xây tháp Đại Thắng TưThiên là một ghi nhận đấtnước thịnh trị, phát triển và an bình và cũng là thuận lòng trời và thuận lòngdân.

2. Sửliệu trong các thưtịchcũ
Vua Lý Thánh Tông cho xây dựng tháp và chùa ra sao, và sau đời vua thì chùa và tháp có sốphận nhưthếnàosau đây xin có một tập hợp các thông tin lịch sửnhưsau:
Sớm nhất nói về cây tháp này thuộc vềcác bộsử:
a. Đại Việt SửLược (Việt SửLược): Thápdựng năm 1057 (Đinh Dậu), cao 30 tầng, có tên là Đại Thắng TựThiên;
b. Đại Việt SửKý Toàn Thư: Làm chùaSùng Khánh Báo Thiên năm 1056 (Bính Thân),phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng đểđúc chuông (tính ra kilôgram = 9.600 kg). Vua LýThánh Tông tựtay viết bài minh văn. Năm 1057 (Đinh Dậu, mùa Xuân, tháng Giêng)xây bảo tháp Đại Thắng TưThiên, cao vài chục trượng, 12 tầng (tức tháp BáoThiên);
Trong Đại Việt SửKý Toàn Thư, chùa Báo Thiên và tháp Đại ThắngTưThiên có khá nhiều lần được đềcập. Ngoài phần dẫn trên, có thểkêthêm:
Vềchùa:
- “Đinh Tị, năm thứ5[1137]…
Tháng 3,…Vua ngựđến chùa Báo Thiên, làm lễPhật Pháp Vânđểcầu mưa. Đêm hôm ấy mưa to” (tr. 272) .
- “Mậu Ngọ, năm thứ6[1138]…
Mùa thu, tháng 7, không mưa. Vua sai Hữu ty làm lễcầu ởVu đànvà chùa Báo Thiên” (tr. 273) .
- “Mậu Thân, năm thứ3 [1188],… Mùa hạ,tháng 5, vua thân ngựđến chùa Pháp Vân ởDuềnh Bà đểđảo vũ, nhân rước tượngPhật Pháp Vân vềchùa Báo Thiên (triều Lê khi mới dựng nước còn theo tục cũ này)” (tr. 296) .
- “Ất Dậu, năm thứ7 [1285]…
Mùa thu,… Tháng 9,...Bia chùa Báo Thiên gãy làm đôi,…” (tr. 56-63) .
- “Giáp Dần, Thiệu Bình năm thứ1 [1434]…
Tháng 5,…Ngày 24, giờthìn,…
Chém người thợcủa cục Tảban tất tác là Cao SưĐãng. Bấygiờđiều động thợởcác cục tất tác làm chùa Báo Thiên. Công việc thổmộc nặngnề, SưĐãng phải làm khó nhọc, nói vụng rằng:“Thiên tửthì không có đức, đểđếnhạn hán, đại thần thì ăn của đút, cửdùng người vô công, có gì là thiện đâu màlàm chùa to thế?”. Bịngười cáo giác. Đại tưđồLê Sát giận lắm…” (tr. 79-89)
- “Mậu Thìn, năm thứ6 [1448]…Mùa hạ, tháng 6,…Xuốngchiếu cho các quan văn võ phải trai giới đến chùa Báo Ân ởcung Cảnh Linh đểđảovũ. Vua thân đến lạy. Sai thái úy Lê Khảđến xã CổChâu tước tượng Phật Pháp Vânvềchùa Báo Thiên ởKinh thành. Xuống chiếu cho các nhà sưtụng kinh cầu đảo,vua và hoàng hậu đếnlàm lễ. Cho bọn nhà sư10 tấm lĩnh và vóc, 20 quan tiềnmới. Ngày hôm ấy tha cho 24 người tội còn đáng ngờ” (tr. 137-143).
Vềtháp:
- “Mậu Ngọ, năm thứ8 [1258]…
Mùa thu, tháng 8, gió to, đỉnh tháp Bao Thiên gãy rơi xuống” (tr. 30-31) .
- “Nhâm Tuất, năm thứ9 [1322]…
Tháng 3, sét đánh tháp Báo Thiên, lởmấtgóc bên đông tầng thứhai” (tr. 124) .
- “Bính Tuất [1406]…Tháng 6, chỏm tháp Báo Thiên gãy rơi xuống. An phủsứĐông Đô là Lê Khải không báo tinấy phải biếm 1 tư” (tr. 244-246) .
- “Năm Đinh Mùi [1427]... Mùa xuân, tháng giêng, vua (Lê Thái Tổ-NQT) tiến quân đến bờbắc sông Lô (tức là sông Cái,NhịHà, sông Hồng, không phải sông Lô ởViệt Bắc nước ta-NQT), đối diện vớithành Đông Quan…
Lấy Hàn lâm viện thừa chỉhọc sĩlà Nguyễn Trãi làmtriều liệt đại phu nhập nội hành khiển Lại bộthượng thưkiêm hành Khu mật việnsự. Bấy giờvua lầu nhiều tầng ởdinh BồĐề, trên bờsông Lô (bấy giờcó hai câybồđềởgiữa nên gọi là dinh BồĐề), cao bằng tháp Báo Thiên (NQT nhấn mạnh),hàng ngày ngựtrênlầu đểtrông vào trong thành xem giặc làm gì, cho Trãi ngồihầu ởtầng thứhai đểvâng chỉthảo các thưđi lại” (tr. 29-30) .
- “Đinh Mùi năm thứ15 [1547]…Tháp Báo Thiên bịsập” (tr. 136) .
c. An Nam Chí Lược: Tháp xây năm 1057, cao 13 tầng, nhưng cótên là Báo Thiên Tự Tháp;
d. Việt SửTiêu Án: Tháp xây 1057, cao 12 tầng, có tên là BáoThiên, Đại Thắng TưThiên Bảo Tháp;
e. Khâm Định Việt SửThông Giám CươngMục: Tháp cao 12 tầng, cấp 1 vạn 2 nghìn cân đồng, tháp thuộc thôn Tiên Thị,huyện ThọXương;
f. Đại Nam Nhất Thống Chí:
Trong này, cuốn chícủa triều Nguyễn cho biết trong Thăng Long Bát Cảnh (tức là các bài thơvịnh támcảnh ởThăng Long của người Thanh sang nước ta có bài Báo Thiên Hiểu Chung(Chuông sớm chùa Báo Thiên) (tr. 196). Trong mục “phố” của sách, có đoạn: “Phố Báo Thiên: bán vải thâm và dù xanh” (tr. 198) .

Những Lời Bình Luận
Bình luận 1:
Các sử liệu, đặc biệt là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vừa dẫn ra trên đây cho thấy:
Thứ nhất, chùa Báo Thiên và tháp Đại Thắng Tư Thiên là do vua Lý Thánh Tông đứng ra chủ trì việc xây dựng. Nói cách khác là do nhà nước đứng ra làm “chủ đầu tư” theo cách nói hiện nay. Chùa và tháp là hai biểu tượng của Phật giáo, nhưng do là một người theo Phật, vua đã cho xây chùa năm 1056 và dựng tháp năm 1057.
Thứ hai, tháp Đại Thắng Tư Thiên là rất cao so với đương thời, đã có khá nhiều lần bị sét đánh. Số lượng tầng trong các bộ sử hầu hết thống nhất, đều là 12 tầng, trừ Đại Việt Sử Lược và An Nam Chí Lược là 30 tầng và 13 tầng.
Theo thiển nghĩ, hai con số này là một khắc nhầm vì 12 với 13 tự dạng gần nhau, và 30 tầng có thể là 30 trượng song bị cố ý khắc thành 30 tầng, vì hai chữ “tầng” (層) và “trượng” (丈) có tự dạng khác hẳn nhau. Sự khắc nhầm này có thể là một nhấn mạnh về độ cao thực tế của tháp Đại Thắng Tư Thiên mà người đương thời và đời sau rất thán phục.
Chi tiết vua Lê Lợi cho làm một tháp gỗ cao bằng tháp Báo Thiên và ngồi trên đó quan sát quân Minh trong thành Đông Đô lại càng khẳng định tháp có chiều cao cao nhất.
3. Một số tài liệu liên quan trong bia ký và sách cũ
a. Nhà thơ Phạm Sư Mạnh thời Trần có bài Đề Báo Thiên Tháp
Trấn áp đông tây giữ đế kỳ
Một tháp cao ngất cao ngất đứng tự nhiên
Non sông vững chãi cột chống trời
Xưa nay đã lập nên không mòn
Gió qua chuông réo thơ ứng hợp
Sao đêm chiếu sáng không mờ tối
Ta đến tới đây muốn làm thơ
Sông xuân mài thành mực thơ
Cho dù thế nào, qua bài thơ của Phạm Sư Mạnh, ta đã nhìn thấy ra phần quan trọng nhất trong chức năng của tháp: “trấn áp đông tây củng đế kỳ”. Ngọn tháp được làm ra để nhận lấy một sứ mệnh bảo trợ cho đế đô và vương quốc. Do vậy, dù không miêu tả là bao nhiêu tầng, nhưng chắc chắn là tháp Đại Thắng Tư Thiên một lần nữa lại được khẳng định về chiều cao của nó.
b.Tang Thương Ngẫu Lục:
Sự tích tháp Báo Thiên đã được hai danh sĩ Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án viết như sau:
“Cây Tháp Đại Thắng Tư Thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục trượng … Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên quan giữ thành là Thành Sơn hầu Vương Thông phá hủy cây tháp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414]. Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên … Năm Giáp dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá.
Những hòn gạch hoa, hòn nào cũng thấy khắc những chữ “Lý gia đệ tam đế, Long thụy Thái Bình [1054-1058], tứ niên tạo”, tức là “Đúc trong năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý” .
c. Trong bia ký Trùng Tu Tiên Thị Từ Ký thờ Minh Không Quốc sư, khắc năm 1885, Tự Đức năm thứ 8, có đoạn: “Phía bên phải đền, xưa có tháp Báo Thiên…” .
Bình luận 2:
Các chứng cứ trưng dẫn về tháp trên đây cho thấy con số 12 tầng là đáng tin cậy vì đến tận thế kỷ 18, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án còn dựa theo sách cũ mà chép lại, chứng minh rằng đương thời, sách mà các ông đọc cũng vẫn ghi con số 12 tầng.
Xin nói rằng mặc dầu các sách nêu con số 12 tầng, một con số không hề ngẫu nhiên, nhưng tôi chưa được đọc lời giải về con số này ở những người đi trước.
Vậy tại sao lại là 12 tầng? Sau đây tạm giải:
Tháp có 12 tầng là bởi thể hiện cho “thập nhị thiên” (十二天) - 12 cõi trời. 12 cõi trời ấy gồm:
- Phạm Thiên (梵天), còn đọc là Phạn Thiên = Brahmadeva. Cõi này lại gồm ba cõi: đệ nhất: Phạm Chúng Thiên; đệ nhị: Phạm Phụ Thiên; đệ tam: Đại Phạm Thiên. Lấy nghĩa là Phạm Thiên giáng xuống bảo hộ thánh linh.
- Địa Thiên (地天) = Prthivi, một trong bốn vị Chấp Kim Cương Thần ở Kim Cương Giới. Vị thần này cai quản Địa Đại (Địa là một trong bốn Tứ Đại tạo nên vũ trụ, người), hình ảnh trong mạn đà la là hoa sen.
- Nguyệt Thiên (月天) = Candra, Soma, Somadeva, Nisakara,…
- Nhật Thiên (日天), cũng là Nhật Thiên Tử (日天子) = Sῡrya là biến hóa thân của Quan Âm Bồ Tát trụ ở trong mặt trời. Mặt trời là cung điện của vị này.
- Đế Thích Thiên (帝釋天), Đế Thích (帝釋) = Sakra Devᾱnᾱm Indra. Đây là vị chủ của cõi trời Đao Lị (忉俐天), là cõi trời cao nhất của Trung giới, cao hơn trời Tứ Thiên Vương, thấp hơn trời Dạ Ma (Yᾱma) nguyện thường xuyên hỗ trợ cho Tam Bảo.

- Hỏa Thiên (火天), một hàng chúng của Thập Nhị Ngoại Kim Cương trong mạn đà la của Thai Tạng Giới (胎藏界= Gaibhakoṥa Dhatu)
- Diêm Ma Thiên, còn đọc Diễm Ma Thiên (琰麼天) = Suyᾱmadeva, cõi cắt đứt tất cả nghiệp thiện ác của chúng sinh.
- La Sát Thiên (攞剎天), một trong 12 cõi trời đồng thời cũng là một trong tám phương trời. Vua của các La Sát là thần trấn giữ ở góc Tây Nam.
- Thủy Thiên (水天).
- Phong Thiên (风天), một trong Tứ Chấp Kim Cương Thần trong Kim Cương Giới Mạn đà la, vị trí ở góc Tây Nam Mạn đà la.
- Tì Sa Môn (毘沙門天) = Vaisravana, còn gọi là Đa Văn Thiên, là một trong bốn vị Thiên Vương hộ thế, cũng là vị thiên thần hộ pháp kiêm bố thí phúc trong Phật giáo. Vị trí trong Thai Tạng Giới Mạn đà la ở bên cửa Bắc của Ngoại Kim Cương Bộ Viện.
- Đại Tự Tại Thiên (大自在天) = Mahesvara, ở trên đỉnh của Sắc Giới, là chúa tể của Tam Thiên Thế Giới. Mật Tông cho đây là Đại Nhật Như Lai ứng hiện, hiện đủ mọi hình, có rất nhiều tên
Phối vị của 12 cõi trời trong Mạn đà la là như sau :
Phong thiên Tỳ sa môn thiên Đại tự tại thiên
Địa thiên Phạm thiên
Thủy thiên Tứ tí bất động thiên Đế thích thiên
Nguyệt thiên Nhật thiên
Diêm ma thiên
La sát thiên Hỏa thiên
Nhìn vào danh vị và phối trí của 12 cõi trời, chúng ta thấy rõ đây là ngọn tháp của Mật Tông Phật giáo. Phải trình bày ngay một điểm là các vua đầu nhà Lý (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông) rất ưa chuộng các nghi lễ Mật giáo và kinh Mật giáo. Bằng chứng cho sự ưa chuộng đó là bia văn tại tháp Sùng Thiện Diên Linh mà giáo sư Hà Văn Tấn đã dịch lại và đăng tại tạp chí Nghiên cứu Phật giáo, số 2 năm 2001 về hội đèn Quảng Chiếu, thực chất là một lễ hội Mật giáo.
Chính người viết bài này cũng đã từng đề cập đến sự ưa chuộng đó khi viết bài Quy hoạch tâm linh - tôn giáo của kinh thành Thăng Long (nhân cuộc khai quật khảo cổ học ở 18 Hoàng Diệu) đăng trong tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2005.
Như vậy, ngọn tháp Đại Thắng Tư Thiên mà nghĩa của nó là: Nhận được suy tư lớn của chư Thiên và ngôi chùa mang tên Báo Thiên với ý nghĩa: báo đáp ân của chư Thiên, chính là biểu tượng cho khát vọng được Trời - Phật bảo hộ và gia hộ cho đất nước phồn vinh và hòa bình, vĩnh cửu.
Nguyễn Quốc Tuấn - Viện nghiên cứu Tôn giáo (Viện KHXH và NV)

66. Yên Tử còn một chốn thiêng

Khi nhắc đến khu di tích Yên Tử và Thiền phái Trúc Lâm, người ta thường chỉ biết đến chùa Yên Tử mà quên mất di tích Ngọa Vân và Hồ Thiên. Đây chính là nơi vị vua anh minh Trần Nhân Tông tu hành và viên tịch. Đến nay hai di tích quan trọng này đã hoang phế, kéo theo nó là cả một hệ thống kiến trúc văn hóa Phật giáo như chùa, am, tháp, lăng, mộ cũng bị thời gian vùi lấp.
Lật mở những điều bí ẩn
Nằm trên đỉnh núi cao, với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, di tích Hồ Thiên từng được sử cũ ngợi ca là nơi cảnh đẹp dấu thiêng của vùng đất Đông Triều.
Cùng với Yên Tử, Hồ Thiên và Ngọa Vân là hai địa danh nổi tiếng gắn với tên tuổi và sự nghiệp tu hành của vua Trần Nhân Tông, người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm – một thiền phái Phật giáo lớn của Việt Nam mà cho đến hôm nay triết lý của nó vẫn thấm đượm tinh thần dân tộc, có giá trị nhân văn cao cả, có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội.
Nơi đây chính là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng của thiền phái này vào cuối thời Trần (đầu thế kỷ 14) và là chốn tu hành của nhiều vị cao tăng. Nhưng do di tích này nằm trên đỉnh núi cao, không tiện đường qua lại nên nó dần bị rơi vào quên lãng và hoang phế.
Cuối năm 2007, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với UBND huyện Đông Triều tiến hành điều tra khảo sát khảo cổ học và thu được nhiều tư liệu quan trọng, làm sáng rõ giá trị lịch sử văn hóa về khu di tích và cung cấp những bằng chứng khoa học chân thực về quy mô và chức năng của các công trình kiến trúc tôn giáo trong hệ thống các di tích Phật giáo ở khu vực này.
Cụ thể là đã xác định được vị trí của các công trình kiến trúc như chùa, vườn, tháp, nhà bia, nhà tổ, nhà tăng và khu tịnh thất tại chùa Hồ Thiên.
Đặc biệt tại một số vị trí, các nhà khảo cổ học đã lắp ghép được những manh mối quan trọng dự báo về khả năng sẽ tìm thấy những kiến trúc tháp chùa thời Trần.
Không những thế, qua quá trình điều tra, các nhà khảo cổ học còn nhận diện được chùa Hồ Thiên có quy mô rất lớn (500m2), mặt bằng hình chữ “Công” hoàn toàn khác với những nhận định trước đó cho rằng Hồ Thiên chỉ có quy mô nhỏ và mặt bằng hình chữ “Đinh”.
Tại khu nhà tổ chùa Hồ Thiên - nơi từng đặt tượng đá thờ ba vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông và hai đệ tử Thiền sư Pháp Loa và Huyền Quang - hiện còn lưu giữ hai pho tượng đá trong tư thế tọa thiền, đều đã bị mất đầu, trong đó có một pho được suy đoán là tượng vua Trần Nhân Tông.
Bên cạnh đó, tại khu di tích Ngọa Vân (chùa Ngọa Vân và am Ngọa Vân) nơi tu hành và viên tịch của Vua Trần Nhân Tông, các nhà khảo cổ học đã chứng minh được Ngọa Vân là một quần thể kiến trúc chùa tháp Phật giáo lớn bao gồm 4 khu vực với 12 điểm di tích nằm trải rộng và kết nối dài với hệ thống di tích chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần trên suốt chiều dài của dãy núi Yên Tử.
Tại đây đoàn điều tra khảo sát còn tìm thấy rất nhiều dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc chùa tháp cùng nhiều loại di vật như gạch, ngói, chân tảng, đồ gốm, sành có niên đại từ thời Trần đến thời Lê, Nguyễn. Đặc biệt các nhà khảo cổ còn tìm thấy một dấu tích lò nung ngói của thời Lê Trung Hưng thế kỷ 18.
Tư liệu này cho thấy trong điều kiện xây dựng trên núi cao, rất khó khăn về vận chuyển nên người xưa đã xây dựng những lò nung gạch ngói ở vị trí thuận lợi về nguồn nước và nguyên liệu điều này trùng hợp với việc xây dựng chùa Vân Tiêu (Yên Tử) và chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều).
Một minh chứng quan trọng khác đó là tại Ngọa Vân hiện cũng vẫn còn những công trình kiến trúc liên quan đến vị vua Trần Nhân Tông đó là tháp Phật Hoàng - tháp mộ của Hoàng đế Trần Nhân Tông, và chiếc bàn đá tương truyền là nơi ngài ngồi thiền và viên tịch. Đây là những bằng chứng cho thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của khu di tích Ngọa Vân.
Cần trả lại vị trí xứng đáng
Hệ thống chùa tháp thiền phái Trúc Lâm không chỉ dừng ở khu Yên Tử mà nó là một hệ thống quần thể các di tích chùa tháp nằm trên dãy núi Yên Tử từ Đông Triều sang Uông Bí.
Chính vì vậy hai di tích Hồ Thiên và Ngọa Vân cần được đặt trong chiến lược quy hoạch bảo tồn để gắn kết với khu di tích Yên Tử tạo thành một quần thể về không gian văn hóa Phật giáo của Việt Nam và gắn kết với quần thể không gian văn hóa Trần gồm khu di tích lăng mộ các vua nhà Trần, khu đền Sinh và chùa Quỳnh Lâm.
Làm được điều này, không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo vệ di sản văn hóa mà còn mở ra những triển vọng mới cho việc phát triển kinh tế du lịch.
Theo Tiến sĩ Bùi Minh Trí – Viện Khảo cổ thì để thực hiện được ý tưởng trên phải tính ngay đến việc khai thông những tuyến đường hành hương kết nối giữa các không gian văn hóa bởi điều này sẽ giúp cho người hành hương có một tuyến thăm quan nhiều di tích nổi tiếng mà còn hiểu thêm về không gian văn hóa tâm linh.
Song trước hết phải có kế hoạch trùng tu tôn tạo những công trình kiến trúc tôn giáo quan trọng khi có đầy đủ bằng chứng và những cơ sở khoa học tin cậy.
Được biết, UBND huyện Đông Triều cũng đồng tình với việc quy hoạch bảo tồn di tích để phát huy giá trị lịch sử văn hóa to lớn của quần thể di tích trong sự kết nối với hệ thống di tích Yên Tử.
Hy vọng rằng, không lâu nữa, những người hành hương về nơi đất Phật sẽ được biết thêm rằng Yên Tử còn một chốn thiêng.

67. chùa Hoằng Pháp

Ngôi chùa Hoằng Pháp uy linh
Mái cong ngói đỏ đậm tình quê hương
Chuông chiều mõ sớm du dương
Lời kinh tiếng pháp chỉ đường tu thân.
Chùa Hoằng Pháp không chỉ đẹp về cảnh quan mà còn đẹp về đạo hạnh của vị Tổ khai sơn. Chùa tọa lạc trên khu đất diện tích 06 ha, tại Thành Ông Năm, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Hoằng Pháp do cố Hòa thượng Ngộ Chân Tử sáng lập năm 1957. Nơi đây xưa kia là một cánh rừng chồi. Sau hai năm khai phá, năm 1959 Hòa thượng mới bắt đầu xây dựng bằng gạch đinh, hai tầng mái ngói, mặt chùa xoay về hướng Tây Bắc. Do đức độ cao dày của Hòa Thượng, Phật tử các nơi quy tụ về quy y ngày một nhiều. Để có đủ chỗ lễ bái, giảng đạo, năm 1971, Hòa thượng xây nối thêm mặt tiền chánh điện dài 28m, tường xây bằng gạch block, mái lợp tole cement.
Ngoài việc tu hành, tiếp Tăng độ chúng, hoằng truyền Phật pháp, xây dựng ngôi Tam Bảo, Hòa thượng luôn quan tâm đến người hoạn nạn. Năm 1965, trước cảnh màn trời chiếu đất của đồng bào bị chiến tranh tàn phá tại Đồng Xoài, Thuận Lợi, Hòa thượng đã đón nhận 60 gia đình gồm 261 nhân khẩu về chùa nuôi dưỡng trong 8 tháng, sau đó mua đất xây cất 55 căn nhà cho đồng bào định cư.
Năm 1968, do chiến tranh những trẻ thơ mất cha lạc mẹ không nơi nương tựa hoặc nghèo đói thất học ngày càng nhiều, Hòa thượng lại thành lập viện Dục Anh, tiếp nhận 365 em từ 06 đến 10 tuổi về nuôi dạy. Năm 1974, với dự định mở làng cô nhi tiếp nhận thêm hàng ngàn trẻ thơ bất hạnh và thành lập đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương, Hòa hượng đã mua 45 mẫu đất tại ấp Phú Đức, xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh. Công việc khai hoang đắp đường đang tiến hành thì tháng 4/1975 miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Hòa thượng đã hiến số đất đó cho Ban Quản trị khu Kinh tế mới Lê Minh Xuân.
Sau khi đất nước thống nhất, số trẻ em được thân nhân nhận về, viện Dục Anh giải tán, Hòa thượng lại tiếp tục hạnh nguyện từ bi cứu khổ nhận nuôi dưỡng các cụ già neo đơn hoặc vì gia cảnh khó khăn. Năm 1988, Hòa thượng an nhiên thị tịch lúc 13g30 ngày 16 tháng 10 năm Mậu Thìn tại chùa Hoằng Pháp, trụ thế 88 năm, 65 tuổi đạo.
Kế tục sự nghiệp tại chùa Hoằng Pháp là TT. Thích Chân Tính, đệ tử của Hòa thượng. Quan tâm đến việc hoằng truyền chánh pháp tại bản tự, Đại đức đã thành lập một Ban Hộ tự tại địa phương và mười chúng ở các nơi với hơn 1.000 Phật tử. Hằng thàng vào những đêm sám hối 14 và 30, Thượng tọa đều thuyết giảng phật pháp cho Phật tử tại địa phương. Riêng 10 chúng ở các nơi về chùa sinh hoạt, tu học vào lúc 08 giờ sáng những ngày 15-1, 15-4, 15-7 âm lịch. Đại Đức cũng cưu mang nuôi dưỡng hơn 50 cụ già neo đơn, hoặc hoàn cảnh khó khăn. Đặc biệt Đại Đức rất quan tâm đến các em GĐPT, hiện có hơn 100 em đoàn sinh tu học hàng tuần tại chùa. Ngoài việc hướng dẫn Phật pháp cho các em GĐPT, Đại Đức còn quan tâm đến tương lai nghề nghiệp của các em. Đại Đức đã trang bị 05 máy vi tính và đàn Organ. 01 trống điện để mở lớp dạy vi tính và đàn hoàn toàn miễn phí cho các em theo học tại chùa.
Do chánh điện bị xuống cấp nặng, được sự cho phép của Chính quyền địa phương, ngày 21-2 năm At Hợi (23/3/1995), Đại Đức đã khởi công xây dựng lại. Trong lần tái thiết này, Đại Đức đã nới rộng chánh điện chiều ngang 18m, chiều dài 42m, tổng diện tích xây dựng là 756m2, kiến trúc theo lối chữ “công”. Tuy hình thức có mới nhưng vẫn mang dáng vẻ cổ kính của chùa miền Bắc với góc đao cong vút, 02 tầng mái ngói màu đỏ. Toàn bộ nền móng, đà, cột, trần, mái đều đúc bêtông kiên cố, tường xây gạch, mặt ngoài dán gạch men, mặt trong sơn nước. Nền lót gạch granite nhập từ Tây Ba Nha. Toàn bộ cánh cửa, bao lam, án thờ đề làm bằng gỗ quý, chạm trổ rất tinh vi.
Hai bên bậc cấp dẫn lên thềm tiền đình chánh điện là hai con sư tử lớn bằng cement. Hai bên cửa chánh điện là hai bức phù điêu khắc tượng thần Kim Cang với vẻ mặt cương nghị, thân hình mang dáng đẹp khỏe mạnh của người lực sĩ. Nội điện gồm tiền Phật hậu Tổ. Tiền điện thờ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ngự trên tòa sen trong tư thế thiền định, chiều cao khoảng 4,50m. Phía trên chung quanh vách tường là 07 bức phù điêu bằng cement chạm khắc hình ảnh cuộc đời đức Phật từ lúc xuất gia cho đến khi nhập niết bàn. Phía trên và dưới bức phù điêu đối diện với tượng Phật là hai hàng chữ “Phật Nhật Tăng Huy - Pháp Luân Thường Chuyển”. Trước án thờ là bao lam bằng gỗ điêu khắc hình “cửu long chầu nguyệt”. Phía trên bao lam là ba cuốn thư cũng bằng gỗ khắc chữ Hán; cuốn ở giữa đề THIÊN NHƠN SƯ, hai cuốn hai bên đề chữ TỪ BI và TRÍ TUỆ.
Hậu Tổ thờ cố Hòa Thượng Ngộ Chân Tử, Tổ khai sơn chùa Hoằng Pháp. Và trên tường là hai bức phù điêu miêu tả cuộc đời hành đạo của Ngài. Hai bên tả hữu là bàn thờ chư hương linh.
Đối diện với chánh điện là tượng đức Bổn Sư Thích Ca Mau Ni Phật tọa thiền dưới gốc cây Bồ đề. Phía trước cây Bồ đề là cổng tam quan mới đựơc xây dựng vào tháng 6/1999. Từ ngoài nhìn vào cổng tam quan, cổng chính đề chữ CHÙA HOẰNG PHÁP, hai cổng phụ bên trái đề chữ TỪ BI, bên phải đề chữ TRÍ TUỆ. Dọc theo hai cột của cổng chính có hai câu đối:
HOẰNG dương đại đạo chỉ bày nhân loại nhận ra chân thật tính
PHÁP Phật nhiệm màu khai thị chúng sinh ngộ được Bồ đề tâm
Dọc theo hai cổng phụ có hai câu đối:
TỪ BI cứu bốn loài qua bể khổ đau
TRÍ TUỆ độ ba cõi đến bờ hạnh phúc
Từ trong cổng tam quan nhìn ra, dọc theo hai cột chính có hai câu đối:
Tri ân Hòa Thượng Tôn sư gây dựng cảnh thiền từ đất Bắc
Báo đáp Cao Tăng Tổ đức vun trồng vườn giác tại miền Nam
Dọc theo hai cổng phụ có hai câu đối:
Đến cửa chùa rũ bỏ trần duyên tính xấu
Vào điện Phật giữ gìn mối đạo tâm lành
Tất cả các câu đối trên cổng tam quan đều được khắc bằng chữ Việt.
Bên trái chánh điện nhìn từ ngoài vào là tháp “Nhị Nghiêm”, nơi an trí nhục thân cố Hòa Thượng Ngộ Chân Tử. Cách một khoảng là tháp các vị Ni của chùa đã quá cố. Tiếp đến là nhà ăn rộng rãi, thoáng mát có hòn non bộ mới tạo. Song song là dãy nhà dưỡng lão nữ, gồm 10 phòng, mỗi phòng 04 người ở với đầy đủ tiện nghi. Sau cuối là nhà trù. Bên phải chánh điện nhìn từ ngoài vào là vườn cây với thảm cỏ xanh tươi. Sát bờ tre là một tòa non bộ cao hơn 10m rộng 20m nằm trên một hồ nước. Bên trong hồ ngay chính giữa tôn trí tượng đức Quan Thế Am Bồ Tát bằng câm thạch trắng cao 5m. Đây là công trình non bộ lớn và đẹp nhất trong các chùa tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Tiếp đến là hòn non bộ nhỏ trong hồ tròn. Sau đó là tháp Phổ Độ, nơi để cốt của thập phương bá tánh. Phía sau chánh điện là Tăng đường, cũng dùng làm giảng đường có thể chứa khoảng trên 300 thính giả. Trước tăng đường là hai bãi cỏ xanh tươi với cây me cổ thụ lâu đời.
Chùa Hoằng Pháp có khuôn viên rộng lớn với nhiều cây cao bóng mát quanh năm. Là địa điểm rất lý tưởng cho các em GĐPT đến sinh hoạt dã ngoại và cắm trại. Ban Hướng dẫn GĐPT thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều trại Hè Lục Hòa tại đây với số lượng hơn 800 đoàn sinh.
Để tạo điều kiện cho Phật tử tại gia cắt bới trần duyên, hầu thúc liễm thân tâm, tinh tấn tu tập, Đại Đức đã kết hợp với Ban Đại diện Phật giáo huyện Hóc Môn tổ chức Khóa tu Phật thất vào tháng 3/1999 tại chùa Hoằng pháp. Số lượng Phật tử tham dự khóa tu là 70 người, thời gian tu tập 07 ngày đêm với pháp tu chuyên niệm Phật A Di Đà. Đây là khóa tu Phật thất đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, số lượng Phật tử về tham dự mỗi khoá trên dưới 3.000 người. Ngoài ra, mỗi chủ nhật đầu tháng đều có khóa tu niệm Phật một ngày với số lượng Phật tử tham dự ngày càng đông, có lúc lên đến trên 7.000 người.
Chùa Hoằng Pháp thuộc hệ phái Bắc tông, đã trải qua hai đời Trù trì:
1/ 1957-1988: cố Hòa Thượng Ngộ Chân Tử, viên tịch năm 1988.
2/ 1988 đến nay: Đại Đức Thích Chân Tính.
Hàng năm vào ngày 16/10 âm lịch, chùa tổ chức ngày húy kỵ cố Hòa Thượng Ngộ Chân Tử rất trọng thể.

68. Khu du lịch ĐạiNam - Nơi tôn vinh văn hóa Việt

Khu du lịch Đại Nam - Nơi tôn vinh văn hóa Việt
Khu du lịch Đại Nam là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay. Với tổng diện tích giai đoạn 1 là 261 ha, giai đoạn 2 là 450 ha, Khu du lịch Đại Nam có đủ cả biển, hồ, sông núi và tường thành, làm toát lên vẻ đẹp của đất nước Việt Nam. Đến với Khu du lịch Đại Nam, chúng ta như được trở về với cội nguồn dân tộc vậy .
Sáng : Xe công ty Du lịch Việt sẽ đón quý khách tại điểm hẹn và khởi hành đi Thủ Dầu Một – Bình Dương để tham quan “ Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến ” du khách sẽ tận mắt chứng kiến những cảnh quan hùng vĩ của núi sông, đặc biệt hơn cả là sự tái hiện lịch sử văn hóa Việt Nam từ thời dựng nước cho đến nay .
Tham quan đền thờ Đại Nam Quốc Tự ( Khu Tâm Linh) là một công trình mang kiến trúc thời Lý. Còn hoành tráng hơn cả quảng trường Thiên An Môn và điện Thái Hòa ( Trung Quốc ) . Với các bức tượng được dát bằng vàng 24K như tượng Bác Hồ, tượng Vua Hùng, Đức Phật …thì mỗi chi tiết, hoa văn trong đền thờ đều đạt sự tinh xảo về chạm trổ, điêu khắc, thể hiện văn hóa Việt Nam. Tham quan dãy núi Bảo Sơn trên có ngôi Bảo Tháp huyền bí , bên dưới là dòng Bảo Giang dài 720 m dòng sông nhân tạo dài nhất Việt Nam chảy quanh chân núi Bảo Sơn . Tham quan hang tiền sử nằm dưới chân núi là nơi nói lên cội nguồn của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lich sử dựng nước .
Tiếp đến quý khách tham quan vườn thú nơi sở hữu một loạt động vât quý hiếm như : Linh Dương sừng xoắn , Cọp trắng , Sư tử trắng, Tê giác , Ngựa vằn, Cọp Dương Đông …. Quý khách ra xe trở về khu vui chơi giải trí với hơn 40 trò chơi như tàu lượn siêu tốc , búa dập, vòng quay ,chèo thuyền , xem phim 4D , xe đụng và các trò chơi dân gian …(chi phí tự túc).
Chiều: Tham quan hình ảnh Ngũ Long (18 tầng địa ngục ) , Ngũ Phượng ( bí mật kho báu ), Thập Nhị Kỳ Án , tham quan bức tường thành dài 13km thể hiện hình ảnh của 54 dân tộc Việt Nam và chạy suốt chiều dài bên dưới tường thành là 5.000 phòng nghỉ , khách sạn tiêu chuẩn 5 sao . Quý khách sẽ rời khỏi khu du lich vào tham quan một vòng trong siêu thị Đại Nam .
Chiều tối quý khách khởi hành về TP HCM , xe đưa quý khách về điểm tập trung ban đầu . Chia tay đoàn và hẹn ngày tái ngộ !

69. Chùa Cói (Vĩnh Phúc)Chùa Cói, xưa thuộc làng Cói xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, nay thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc). Di tích chùa Cói là một tổ hợp đầy đủ của một Phật đường bao gồm: Tam quan, chùa và tháp.
Tam quan chùa Cói với kiến trúc gồm 3 gian nhỏ, gọn, có hệ thống chịu lực chính là 10 cột đá xanh nguyên khối được đẽo gọt công phu, đường kính 0,25m, cao 2,0m, có 3 hàng chân cột, trong đó 2 cột cái gian chính giữa sử dụng cột gỗ lim kéo dài vượt lên làm cột chung cho 2 vì nóc theo lối kiến trúc kiểu chồng rường, thay cho hàng con rường dưới ngoài cùng là đầu bẩy gỗ đua ra đỡ lấy tàu mái, 4 góc mái là các đầu đao cong vút, uyển chuyển ẩn hiện trong vòm lá xanh hữu cảnh đa tình.
Trên 2 cột đá gian chính giữa được vát phẳng một mặt, lần lượt có ghi lạc khoản, tuy qua năm tháng đã phai mờ nhưng quan sát kỹ còn nhận đọc được “Canh Tý, mạnh xuân, cát nhật”. Theo tư liệu của Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam thì tam quan chùa Cói được xây dựng cùng với chùa Cói vào thế kỷ XIII. Chùa xưa còn lưu đôi câu đối về cảnh đẹp và sự tích gốc của chùa,

(Về điển tích và xuất xứ đôi câu đối xin được các bậc túc nho, các nhà nghiên cứu cho ý kiến khảo cứu thêm)
Chùa Cói nguyên gốc không còn, nay chỉ còn 12 pho tượng cổ được lưu giữ tại ngôi chùa được xây dựng lại vào năm cuối thế kỷ XX, gồm: 3 pho tam thế Phật, bộ Di đà Tam Tôn (A Di đà, Quan thế âm và Đại thế chí Bồ tát), tượng A Nan Đà Tôn Giả và Phật Tổ Thích Ca thuyết pháp, tất cả đều bằng gỗ, sơn son thếp vàng, phong cách điêu khắc tượng tròn cuối thế kỷ XVIII.
Tháp: Một loại hình kiến trúc Phật Giáo, một trong những đặc trưng của đạo phật, tháp có thể là nơi chứa đựng Xá Lị, tranh, tượng hoặc có ý nghĩa tượng trưng, ví như: 4 bậc thang lên tháp thể hiện khái niệm là từ - bi - hỉ - xả hay 10 bậc là tượng cho thập địa,…Các tầng tháp thể hiện các phương tiện hoằng hoá phật pháp. Nếu là tháp mộ thì tượng cho mộ tăng hay ni, hoa sen 5 cánh tượng trưng cho “Ngũ Phật”.
Tháp Cói có 7 tầng, cao 7,70m, thu dần từ đế lên đỉnh, cứ mỗi tầng thu rút 20cm cả mỗi cạnh vuông và chiều cao (1 cạnh vuông chân đế dài 1,70m) - gạch xây tháp là gạch Bát Tràng, loại gạch bìa vuông, dày 3cm, các viên gạch ở 4 góc tháp đều được tạo vát lên làm cho cây Tháp có dáng cong thanh thoát nhẹ nhàng, vữa kết dính được chế từ vôi vỏ sò trộn mật mía - thân tháp được trát kín một lớp vữa bảo vệ.
Tương truyền tháp Cói được xây dựng khoảng giữa thế kỷ XVIII, có liên quan tới sự kiện về cuộc khởi nghĩa của Quận Hẻo (Nguyễn Danh Phương, 1740 - 1751) rằng: Chỉ qua một đêm, Nguyễn Danh Phương cho quân xây xong cây tháp và cả quán Tiên, nhằm gây thanh thế và thu phục nhân tâm chống lại triều đình Lê Trịnh, qua hàng trăm năm, một màu rêu phong cổ kính bao trùm toàn bộ cây tháp càng tăng thêm sự gợi mở mong muốn tìm hiểu về một loại hình kiến trúc phật giáo ở Vĩnh Phúc.
Như vây, chùa Cói được xây dựng từ thế kỷ XIII, đến thế kỷ XVIII sau khi dựng 2 cây tháp (nay chỉ còn một, do chiến tranh huỷ hoại) trở thành một tổng thể kiến trúc có giá trị nghệ thuật được Viễn Đông Bác Cổ xếp hạng là di sản văn hoá có giá trị ở Việt Nam (năm 1939).
Nằm trong một quần thể các di tích: Đình Đông Đạo, Quán Tiên, đình Tiên, chùa Hạ, cầu đá…và ở vị trí trung tâm của thị xã Vĩnh Yên, chùa tháp Cói sẽ là điểm đến tham quan, nghiên cứu của đông đảo du khách gần, xa trong và ngoài tỉnh.

70. Đình - Chùa - Di Tích Lịch Sử Ở Hải Phòng

Đền An Tràng

Đền An Tràng nằm trên khu đất cao thuộc thôn An Tràng, xã Trường Sơn, huyện An Lão, Hải Phòng. Đền thờ Vương Công Hiển, tướng tài của Lý Nam Đế ( thế kỷ VI ).

Cha Vương Công Hiển quê ở Châu Ái. Do bị quan lại địa phương, tay sai của bọn đô hộ ức hiếp nên chaVương Công Hiển cùng bạn thân rời quê tìm người cùng chí hướng. Ông đến thôn An Tràng, xã Trường Sơn, huyện An Lão ngày nay xin nhập tịch rồi lấy vợ người An Tràng.
Ngày 8/2 năm Nhâm Ngọ, ôngbà sinh được một người con trai đặt tên là Công Hiển, năm Hiển 6 tuổi cha mất, 12 tuổi mẹ cũng qua đời. Công Hiển được người cậu ruột nuôi dưỡng cho ăn học và học rất giỏi. Đến tuổi trưởng thành, Công Hiển kết duyên cùng Vũ thị Quý Minh người cùng thôn. Vợ chồng Công Hiển sống rất hòa thuận và hạnh phúc.Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, Công Hiển đi theo. Chỉ trong vòng 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện. Biết quân giặc cậy vào sức mạnh, nên Lý Bí đã phân cho các tướng trấn giữ các nơi hiểm yếu. Công Hiển giữ thành Bô Cô kiêm nhiệm vụ dụ giặc.
Được tin Long Biên thất thủ, Tiêu Tư chạy về Trung Quốc, vua Lương lập tức lệnh phải chiếm lại. Nhưng quân giặc vừa kéo vào nước ta đã bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan. Trong một trận đánh quyết liệt, Công Hiển đã có công lớn giải vây cho Lý Bí.
Đầu năm sau ( 543 ) quân Lương lại sang xâm lược nước ta lần nữa cũng bị Lý Bí đánh tan ở Hợp Phố. Mùa xuân năm 544 Lý BÍ xưng Hoàng đế Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, lo việc tổ chức bộ máy cai trị , phong thưởng các tướng sỹ có công. Công Hiển xin được về trông coi đất An Tràng.
Vào tháng 5 năm 545, vua Lương lại phái quân sang xâm lược Vạn Xuân, Lý Nam Đế đem quân chống lại, nhưng không cản được quân giặc ở Lục Đầu, rồi cửa sông Tô Lịch, thành Gia Ninh ( Việt Trì ). Cuối cùng Lý Nam Đế cùng tướng sỹ lui binh về miền núi rừng Vĩnh Yên.
Khi Phạm Tu tử trận, Vương Công Hiển và Lý Phục Man phá vòng vây thoát về Châu Diên. Giặc vây riết, Phục Man tự vẫn. Vương Công Hiển đau buồn rồi mất vào ngày 15/11. Quân lính mai táng ông ở phía Tây thành Châu Diên. Nhân dân An Tràng lập miếu thờ ngay tại vườn nhà ông để tưởng nhớ công lao.
Hội làng An Tràng được tổ chức hàng năm từ ngày 7 đến hết ngày 12 tháng Giêng Âm lịch rất long trọng, trang nghiêm. Sau đó, mọi người tham gia các trò vui: xem hát chèo, hát chầu văn, đặc biệt là xem đánh vật để nhớ lại những ngày Công Hiển mở trường luyện võ, luyện quân ở địa phương. Đền An Tràng, xã Trường Sơn, huyện An Lão là một di tích lịch sử văn hóa được nhà nước xếp hạng năm 1993.
Khu vực: Huyện An Lão
Địa chỉ liên hệ: Thôn An Tràng - Xã Trường Sơn - Huyện An Lão

Đình Hàng Kênh

Đình Hàng Kênh ( tên chữ là Nhân Thọ đình ) nằm trên đường Nguyễn Công Trứ, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Theo bia ký còn lưu giữ tại di tích, đình Hàng Kênh ngày nay khởi dựng vào năm 1719, đời vua Lê Dụ Tông và được trùng tạo từ năm 1841 đến 1850.
Đình Hàng Kênh tọa lạc trên một khuôn viên rộng chừng 6000m2 với bố cục kiến trúc truyền thống: đại đình, tòa ống muống và hậu cung. Ngoài kiến trúc chính còn có hai tòa giải vũ, văn miếu, hồ bán nguyệt. Tòa đại đình là phần kiến trúc trọng yếu nhất của ngôi đình, có quy mô bề thế gồm 7 gian, mái lợp ngói mũi hài, đầu đạo cong vút.
Với kết cấu bộ khung chịu lực bằng gỗ lim gồm 42 cột cao hơn 5 mét, chu vi cột gần 2 mét, kê trên những chân tảng đá xanh chạm nổi một bông sen. Nét đặc sắc, độc đáo của tòa đại đình là các mảng trang trí chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo như chạm bong hình, chạm nổi, chạm thủng trên các xà cột, câu đầu, bảy hiên, cốn.... tạo cho các mảng chạm khắccó không gian nhiều tầng, nhiều lớp, một thế giới điêu khắc sống động với nhiều đề tài phong phú, đa dạng như: rồng, mây, hoa lá, kỳ lân, phượng....
Đặc biệt ở hơn 100 mảng điêu khắc có gần 400 con rồng quấn quýt, hòa quyện cùng hoa,lá, cỏ cây, chim, phượng, với kỹ thuật chạm khắc tinh xảo. Đình Hàng Kênh không chỉ có giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc điêu khắc mà còn bảo lưu được kiểu kiến thức ván sàn lòng thuyền hiếm có, đưa đình Hàng Kênh trở thành một di sản văn hóa đặc sắc trong các ngôi đình Việt Nam. Tòa hậu cung thâm nghiêm thờ Ngô Vương Quyền người có công đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 giành nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam sau một nghìn năm Bắc thuộc.
Tượng Ngô Quyền ngôi trên ngai rồng trong tư thế thiết triều, phía trước có một chiếc thuyền nhỏ,một khúc gỗ tượng trưng cho hàng cọc cắm trên sông Bạch Đằng. Đình Hàng Kênh là di tích đặc biệt tiêu biểu của thành phố Hải Phòng, được nhà nước xếp hạng năm 1962.
Khu vực: Quận Lê Chân
Địa chỉ liên hệ: Đường Nguyễn Công Trứ - Hàng Kênh - Hải Phòng

Miếu Phương Mỹ

Miếu Phương Mỹ thuộc xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. tương truyền, làng Phương Mỹ có từ rất sớm. Ban đầu mang tên là trang Hoa Kiều. Vào thời nhà Lý ( 1010 – 1225 ), trang Hoa Kiều trở thành trang Hoa Chương. Đến thời Nguyễn trang Hoa Chương đổi thành thôn Phương Mỹ và giữ nguyên tới ngày nay.
Miếu Phương Mỹ được xây cất trên một cù lao nhỏ hình mai rùa nổi giữa đầm Đông – vết tích của một dòng sông cổ ở phía đông làng. Miếu quay về hướng đông, các công trình liên hoàn từ ngoài vào lần lượt gồm hồ nước, tam quan, sân rộng có tường bao xung quanh, trước thềm tam cấp là một sân tế nhỏ. Ngăn cách với bên trong tiền đường là hệ thống 3 gian cửa gỗ làm theo kiểu “ cửa thùng, cung khách” quen thuộc. Mặt bằng kiến trúc miếu bố cục hình chữ đinh gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung.
Số lượng đồ thờ, đồ tế tự ở miếu Phương Mỹ tương đối phong phú và chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn ( 1802 – 1945 ). Trong đó, các di vật quí ngoài long đình, bát bửu, bài vị, quán tẩy, nhang án, số đồ thờ bằng đồng hay sành sứ khác, còn có 5 chiếc sập gỗ, 3 bộ kiệu bát cống và 3 pho tượng thánh đều có niên đại thế kỷ XIX.
Hiện nay, tại hậu cung, trên bàn thờ cao và sâu nhất đặt 3 tượng gỗ dáng dấp tương tự nhau, cùng ngồi trên ngai rồng, mặc long bào, đội mũ acnhs chuồn trong tư thế thiết triều, vẻ mặt phảng phất nét phong sương của những võ tướng vừa trải qua trận mạc... Nhân dân địa phương cho biết đây là tượng các vị Phạm Quảng, Phạm Tử Nghi và Quý Minh đại vương được tôn làm thành hoàng của làng.
Theo sử cũ và thần tích còn lưu giữ được về cuộc đời và sự nghiệp của các vị, có thể tóm tắt như sau: Quý Minh đại vương là dũng tướng tài ba củavua Hùng Duệ Vương ( đời Vua Hùng thứ 18 ) có công trong việc bảo vệ đất nước trong cuộc nội chiến Hùng – Thục ( Văn Lang- Âu Lạc. Tương truyền, tại thôn Phương Mỹ, xưa kia là nơi đóng quân mai phục của Quý Minh. Sau khi ông mất, dân làng lập miếu thờ ghi nhớ công ơn của ông.
Phạm Tử Nghi là người làng Vĩnh Niệm, tổng An Dương, huyện An Dương, phủ KinhMôn, trấn Hải dương ( nay thuộc phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Ông là người võ nghệ cao cường và có sức địch muôn người, có công lao to lớn đối với quê hương đất nước. Phạm Tử Nghi làm quan triều Mạc tới chức Phò mã Đô úy, Thái Úy và được phong tước Tứ Dương hầu. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi của đất nước, ông lập nhiều chiến công. Kẻ địch không thắng nổi ông bèn lập mưu sát hại. Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi trên mảnh đất quê hương đã lập đền thờ ông.
Phạm Quảng là người trang Hoa Kiều ( xã Mỹ Đồng huyện Thủy Nguyên ngày nay ). Ông là một võ tướng dưới triều Đinh Tiên Hoàng. Khi triều đình biến động cũng là lúc mối đe dọa xâm lăng của giặc Tống đã kề sát biên giới. Trong tình hình nguy ngập đó, Lê Hoàn lên ngôi. Phạm Quảng đã phò tá Lê Hoàn chống Tống. Sau chiến thắng quân xâm lược, ông trở về làng quê sinh sống. Khi mất ông được dân làng lập miếu thờ phụng.

Kể từ khi ngôi đình của làng không còn, miếu Phương Mỹ được coi như ngôi đình chung, nơi thờ phụng các vị thành hoàng – những bậc thánh nhân có công lao to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước quê hương. Miếu Phương Mỹ được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1992.
Khu vực: Huyện Thuỷ Nguyên
Địa chỉ liên hệ: Xã Mỹ Đồng - huyện Thủy Nguyên

Chùa Nhân Trai

Chùa Nhân Trai tên chữ là Phúc Linh tự, thuộc thôn Nhân Trai xã Đại Hà, huyện Kiến Thụy, cách trùn tâm thành phố khoảng 20 km theo đường 353 đi Đồ Sơn. Theo như lời các cụ trong thôn kể lại thì lúc đầu chùa có quy mô to lớn, tượng pháp uy nghi xứng đáng là chốn danh lam tổng Cổ Trai, trung tâm của Dương Kinh xưa.
Từ đó tới nay, trải qua thời gian và lịch sử chùa đã được sửa chữa nhiều lần. Kiến trúc chính của ngôi chùa hiện nay làm năm Canh Tuất, Duy Tân (1910 ). Chuà được xây theo kiểu chữ “đinh” gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Tòa phật điện hiện còn lưu giữ được nhiều pho tượng Phật cổ kính được bày trọn trong hậu cung. Hệ thống tượng pháp phô diễn được vẻ tinh hoa, sống động của nghệ thuật điêu khắc tạo hình. Trên mình tượng phủ một lớp màu sắc trang kim lấp lánh.
Chùa Nhân Trai là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo cổ còn lưu giữ được một số di vật quý đời Mạc: trước sân chùa còn có hai tượng rồng bằng đá đặt thành một cặp như lan can hình rồng tạo thế trườn từ trên cao xuống, dầu nghểnh cao nhìn thẳng về phía trước và hai bên là bốn lan can hoa văn như hình dáng mây bằng đá, các tượng rồng và lan can đá này thể hiện theo phong cách đời Mạc.
Hằng năm vào ngày Phật Đản và dịp lễ tết âm lịch, nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội được tổ chức. Bên cạnh các nghi thức tế lễ còn có nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian, đây là dịp người dân trong làng thể hiện tấm lòng của mình đối với các bậc tiền nhân. Chùa Nhân Trai luôn là niềm tự hào của mỗi người dân làng Nhân Trai hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.
Khu vực: Huyện Kiến Thuỵ
Địa chỉ liên hệ: Thôn Nhân Trai - Xã Đại Hà - Huyện Kiến Thụy

Miếu Chùa Trung Hành

Miếu và chùa Trung Hành nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An. Xưa kia là vùng đất Ngô Quyền đóng quân và huy động sức người, sức của, đánh quân xâm lược Nam Hán năm 938, mở đầu kỷ nguyên độc lập lâu dài của đất nước. Là một trong số 17 làng xã có hệ thống phòng, tích chứa quân lương của NgôQuyền, nên Trung Hành được các triều đại kế tiếp phong sắc, công nhận việc thờ tự Ngô Vương.
Đặc biệt, Trung Hành vốn nổi tiếng là địa linh nhân kiệt, nhiều người đỗ đạt, nhiều văn quan võ tướng có tài, hiện còn được ghi lại trên các văn bia, gia phả các dòng họ. Ngạn ngữ có câu : “ An Dương – Trung Hành, Kim Thành –Quỳnh Khê, thế ngôn chi đa sĩ ” nghĩa là : Làng Trung Hành, huyện An Dương; làng Quỳnh Khê, huyện Kim Thành đời truyền có nhiều quan.
Miếu Trung Hành thờ Ngô Quyền có quy mô vừa phải, hòa quyện với cảnh quan làng xóm. Dấu vết trang trí nghệ thuật của lần khởi dựng đầu tiên ( đầu thế kỷ 17) còn để lại trên 4 cây cột cái sơn son, chạm rồng mây. Những điểm nổi bật của di tích là sự hợp lý, liên hoàn của toàn bộ khuôn viên. Bằng những vật liệu truyền thống như: gỗ, đá, ngói, gạch Bát Tràng gắn vữa hồ... bàn tay người nghệ nhân làng xã đã tạo ra một công trình có kết cấu hoàn chỉnh, qui mô khép kín gồm: kiến trúc cổng, tòa bái đường, hai bên giải vũ, cung ngoài, cung trong kiểu nội công, ngoại quốc.
Tòa cung trong, cung ngoài được bài trí các cổ vật quen thuộc như: kiệu bát cống, giá chiêng, bộ bát bửu, nhiều di vật bằng đồng như: chuông, khay, đèn chân nến, đỉnh đốt trầm, đồ sứ. Tòa hậu cung thâm nghiêm thờ Ngô Vương Quyền. Tượng Ngô Quyền tạo thiền trên ngai rồng, được tạc theo lối trụ tròn, thể hiện rõ uy thế của một vị vua. Cách miếu chừng 300 mét về bên trái và cùng hướng tây là chùa Trung Hành, tên chữ là “ Hưng Khánh tự ”.
Chùa có bố cục kiến trúc truyền thống: Tam quan – gác chuông, tòa phật điện, nhà thờ tổ, vườn bia, mộ tháp.Cổng chùa đồng thời là gác chuông có 2 phần chính: cổng giữa 3 tầng 12 mái, lợp ngói cổ 2 lớp, hai lối bên xây kiểu 2 tầng, 8 mái. Kiến trúc cổng chùa mang ý nghĩa dịch học sâu sắc, biểu thị 3 thành phần cơ bản của vũ trụ là Trời – đất – người. Tầng giữa treo quả chuông đồng cao 1,4m đúc năm Minh Mạng thứ 3 ( 1823 ). Tòa phật điện chùa Trung Hành thờ các pho tượng phật: Tam thế, Adiđà, Văn Thù, Phổ hiền, Hộ thiện, Trừ ác... Đặc biệt tại đây còn lưu giữ pho tượng vị hoàng đế nhà Mạc.
Tượng Hoàng đế có khuôn mặt trái xoan, trán dô, mũi gồ, mắt một mí; cổ cao 3 ngấn, tai chảy xệ như tại Phật, đầu đội mũ Vương miện trang trí một dải bằng 12 ô, ô chính giữa và ô sau gáy khắc nổi chữ vương Thân tượng khoác áo hoàng bào. Giữa ngực có “bối tử” hình chữ nhật trong khắc rồng, thân uốn khúc dạng “ yên ngựa”.
Pho tượng được đặt ở vị trí kín đáo ( cuối Phật điện ) toàn thân phủ một lớp sơn dày, trông thoáng qua giống như tượng gỗ. Lý giải về pho tượng đá chùa Trung Hành, một số nhà nghiên cứu lịch sử cho biết: Khi nhà Lê Trung Hưng đánh đuổi nhà Mạc, một nhánh nhà Mạc lẩn trốn tới Đằng Lâm mai danh, ẩn tích đổi từ họ Mạc sang họ Khoa. Họ đã mang theo pho tượng đá giấu dưới ao làng, lúc tình hình tạm yên, được vớt lên bảo quản trong chùa. Nhưng đề phòng bị phát hiện, họ quét phủ một lớp sơn để che mắt nhà Lê.
Lễ hội ở Trung Hành diễn ra từ ngày 17 tháng Giêng âm lịch. Xưa có tục múa roi, diễn lại khí thế xung quân, diệt giặc của quân đội thời Ngô Quyền. Khi múa roi. một người cầm cờ thêu chữ “ Đằng Giang thiên cổ” đứng hàng đầu, tám người cầm roi chia nhau đứng ở 2 bên. Tất cả quay mặt vào hướng đình theo lệnh, cứ dứt một hồi trống thì người cầm cờ và roi đều vái và hô to “ lạy đức Vua”, hết lượt thứ 3 họ bắt đầu quay lại múa roi, múa cờ, reo hò vang rội.Cụm di tích văn hóa chùa, miếu Trung Hành được nhà nước xếp hạng năm 1993.
Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Phường Đằng Lâm - Quận Hải An

Chùa Mỹ Cụ




 



Chùa Mỹ Cụ tên chữ là Linh Sơn tự thuộc thôn Mỹ Cụ, xã Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, ngoại thành Hải Phòng. Đây được coi là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất của huyện Thủy Nguyên, cũng như của thành phố Hải Phòng. Tương truyền song thân vua Lê Đại Hành đã đến chùa cầu tự sau đó sinh ra vua, tức là vào khoảng thế kỷ thứ X chùa đã được xây dựng.
Văn tự cổ nhất còn lại ở chùa là cây Thạch trụ dài niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705) đời vua Lê Hy Tông, ghi lại việc trùng tu, xây dựng chùa. Đến đời Lê Trung Hưng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 13 Đinh Dậu ( 1717 ) vua Lê Dụ Tông, vị hòa thượng Thích Tế Cổn tư Tuệ huấn thiền sư trụ trì chùa đứng lên hưng công, phát tích công đức, tu tạo chùa vơi quy mô lớn.
Chùa được xây dựng lại với 12 gian to rộng, nhà tổ, nhà tăng… Tạc được 19 pho tượng , các đồ tế khí được sơn son thiếp vàng. Hiện nay chùa còn giữ một bia đá ghi lại sự kiện này. Ban đầu chùa Mỹ Cụ theo Thiền phái Trúc lâm ( đời Trần) đến đời Lê Trung Hưng theo Thiền phái Tế trúc dòng tổ. Năm Minh Mạng thứ 9 ( 1838) ngài Vô cấu luật sư kiêm Thiền sư họ Phạm trụ trì chùa. Chùa lại được tu bổ, tôn tạo thêm nhiều tượng mới, đồ tế mới.
Năm Nhâm Ngọ ( 1942 ) chùa lại được tu sửa, nhưng lần này đã làm mất đi màu sắc cũ của chùa. Ngôi chùa hiện nay được làm mới vào năm 1979 trên nền đất cũ và cơ bản vãn còn dựa vào nét kiến trúc chính của lần trùng tu năm Nhâm Ngọ ( 1942 ). Chùa nằm tựa lưng vào một núi đất nhỏ chạy dài có tên là “ Núi con rồng ”. Địa điểm xây dựng chùa là một đầu của dãy núi đó có tên “đầu phượng”, dân gian có câu ca “ linh sơn núi phượng”. Chùa quay hướng nam trong một địa thế rất đẹp hai bên có “ Hổ phục Quy chầu ”, Tổng thể chùa được thiết kế theo ba tầng cao dần từ chân núi lên.
Hàng năm ngà chùa mở hội vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch, đây là hội làng có truyền thống từ rất lâu đời trải qua nhiều thế hệ được duy trì liên tục kể cả trong điều kiện chiến tranh, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng tham gia.
Khu vực: Huyện Thuỷ Nguyên
Địa chỉ liên hệ: Thôn Mỹ Cụ - Xã Chính Mỹ - Huyện Thủy Nguyên

Chùa Nhân Lý



 



Chùa Nhân Lý thuộc thôn Nhân Lý, xã Cao Nhân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Theo một số nhà nghiên cứu, chùa Nhân Lý thuộc thiền phái Trúc Lâm, có chốn tổ ở núi Yên Tử, do vua Trần Nhân tông sáng lập.

Một số hiện vật đáng lưu ý của chùa gồm: Ba pho tượng Tam Thế và pho tượng Adiđà, một quả chuông đồng cao 1,25 m đôi chóe sứ men xanh lam, cao 0,6m, trang trí cảnh tùng, lộc...tượng Quan Âm Tống Tử ( Quan âm Thị Kính ). Tại vườn tháp có 4 mộ tháp đều dặt xá lỵ của các vị sư. Đáng chú ý là ngôi tháp bên tả mang tên Phả Đồng tháp, cao 3 tầng, có bài minh bằng chữ Hán với nôi dung chủ yếu ca ngợi cảnh chùa. Tháp có niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 ( 1801 ).

Do chiến tranh, 3 ngôi miếu và một ngôi đình đã bị tàn phá nên nhân dân đã đưa các vị thành hoàng của mình vào phối thờ tại nhà tổ của chùa. Ba vị thành hoàng là Quý Minh đại vương, Quảng Tế Hùng cư sĩ, Lôi Công. Về tiểu sử Quý Minh, theo thần tích chép: bấy giờ, Hùng Duệ Vương tuổi đã già, sức đã yếu, Thục Phán đem quân đánh. Có người anh em kết nghĩa với Tản Viên họ Trương, tên Tuấn, tự Quý Minh về triều tâu vua xin cho phá quân Thục.

Quả nhiên quân Thục bị đánh tan, phải rút về. Ông Tuấn về triều dự lễ mừng công, sau đó xin phép vua thăm các doanh đồn cũ, trong đó có trang Nhân Lý. Ông Tuấn mất ngày 12/9 âm lịch, vua Hùng thương tiếc truền cho trang Nhân Lý lập đền thờ, cấp 300 quan tiền để xuân thu quốc tế phong tặng là Quý Minh Đại Vương. Dân làng tôn kính gọi là Đức thánh Cả. Quý Minh còn được tôn thờ ở Tam Hưng ( huyện An Dương ) và nhiều nơi khác trên đất Hải Phòng ngày nay.
Vị thứ 2 là Quảng Tế Hùng cư sỹ, trước đây có miếu thờ ở Đồng Quýt, sau bị thất lạc. Nhân dân chỉ còn giữ lại bức tượng, văn khấn, một số sắc phong do các vua Triều Nguyễn phong tặng: Dực bảo trung hưng, Quảng Tế Hùng cư sỹ đại vương, thượng đẳng thần.
Vị thứ 3 tên là Lôi Công, trước đây thờ tại miếu Đông. Theo gia phả họ Đỗ thì Lôi Công tức là Đào Văn Lôi, con ông Đào Cam Mộc, mẹ họ Đỗ người làng Vân Tra. Cả hai cha con đều có công giúp nhà Lý, làm quan to. Ông ngoại Đào Văn Lôi vốn là một hào trưởng có uy tín trong vùng, cũng có quan tước ở triều Lý. Đào Văn Lôi sau khi mất được dân làng tôn thờ làm thành hoàng. Đào Văn Lôi còn được vua Lý Thánh Tông, sau khi dẹp loạn 3 vương, phong là Tả Phúc Tâm.
Ba pho tượng thể hiện các vị thành hoàng ngồi trong ngai vàng son rực rỡ, vẻ mặt uy nghi. các hiện vật đáng lưu ý: tượng 3 vị sư tổ, đôi chóe sứ có nắp đậy cao 40 cm, men xanh lam; đôi chĩnh men xanh hình lục lăng cao 65 cm, trang trí sơn thủy; đồ đồng có bộ đèn nến và một số đỉnh đồng kiểu chữ nhật; một quả chuông đôngf cao 70cm, đường kính miệng 37cm; bản sắc phong của các vua triều Nguyễn phong cho 3 vị thành hoàng làng Nhân Lý.
Chùa Nhân Lý, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên là một di tích lịch sử văn hóa được nhà nước xếp hạng năm 1992.
Khu vực: Huyện Thuỷ Nguyên
Địa chỉ liên hệ: Thôn Nhân Lý - Xã Cao Nhân - Huyện Thủy Nguyên

Đình - Chùa Cốc Liễn

Đình – chùa Cốc Liễn thuộc xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 20 km. Thôn Cốc Liễn, nơi có công trình đình – chùa cổ, trước năm 1945 là xã Cốc Liễn, tổng sâm Linh, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An. Tên Cốc Liễn có muộn nhất trước thế kỷ XVII; vốn trước gọi là Trang Minh Liễn, đời Thành Thái ( 1889 – 1907) mới đổi thành Cốc Liễn.
Đình Làng Cốc Liễn tôn thờ vị thành hoàng tên hiệu Đông An ( tức Chử Đồng Tử ). Tâm thức văn hóa dân gian Việt Nam cho rằng, Chử Đông Tử là một trong 4 vị thần linh bất tử của người Việt đã từng ra miền biển buôn bán, tu tiên, học Phật. Sau khi được nhà sư ở Nam Hải truyền cho đạo Phật và pháp thuật, Chử Đồng Tử trở về có ghé lại bến thuyền làng Minh Liễn, đã cứu sống bà Đa bị chết đuối.
Cảm kích trước công ơn trị bệnh cứu giúp người nghèo của ông, mẹ con bà Đa cùng dân làng lập miếu thờ tự vị thần Đông An, thấy linh ứng từ đó liền tôn thờ làm thành hoàng; lúc đầu thần Đông An được thờ bằng long ngai, bài vị tại miếu, sau lập thêm ngôi đình như hiện nay. Truyền thuyết dân gian còn cho biết thêm, thần Đông An tức Chử Đông Tử vốn xuất thân từ tầng lớp bình dân nghèo khó luôn gắn bó với công việc hướng thiện, làm việc đạo nghĩa, nên cư dân ở nhiều nơi đã lập thờ tự, bốn mùa hương khói.
Vào đầu thế kỷ XVII, vua Lê Thần Tông hiệu Vĩnh Tộ vâng lệnh vua cha đem quân ra miền Hải Đông tiễu trừ giặc loạn. Lúc đầu gặp thế giặc mạnh, vua phải cho quân tạm lui, giặc đuổi theo gấp. Đến Trang Minh Liễn thấy nhiều người lễ bái tại ngôi cổ miếu, nhà vua liền vào lễ, bỗng trời đất nổi lên trận phong ba, làm cho giặc khiếp vía kinh hoàng.
Quân ta thừa thế đánh tan được quân giặc, để thưởng công tạ ơn cho vị thần linh, vua xuống chiếu ban sắc phong kèm theo mỹ tự ‘ kinh thiên vĩ địa Đại vương” giao cho trang Minh Liễn phụng thờ. Sắc phong đầu tiên mang niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 6 được dân làng lưu giữ, còn đến ngày nay. Từ ngày ngôi đình được khởi dựng nhân dân cầu cúng rất linh ứng, vào những năm đại hạn kỳ vũ đều được mưa rào, cả Tổng Sâm Linh ngày trước đều tôn vinh thần Đông An là “ Đức thánh cả thượng đẳng tối linh”.
Cùng với việc tôn tạo ngôi đình, tôn thờ An Đông – Chử Đồng Tử, dân làng Cốc Liễn đã phục dựng ngôi chùa làng bên cạnh khu vực ngôi đình thành một cụm công trình văn hóa – lịch sử. Ngôi chùa làng Cốc Liễn có tên chữ Minh Quang tự, còn lưu giữ nhiều đồ tế khí, cùng các pho tượng Phật cổ mang niên đại rải rác từ đầu thế kỷ XVII, XVIII, XIX như: tượng Tam Thế, Adi Đà, tượng Thánh tăng, Đức Ông….
Đình Cốc Liễn lưu giữ được 20 đạo sắc quý trải dài từ đời Lê Thần Tông ( Vĩnh Tộ ) đến đời vua Khải Định. Đây là nguồn sử liệu quan trọng, minh chứng cho quá trình tồn tại của cụm di tích đình – chùa Cốc Liễn hiện nay. Lễ hội truyền thống hàng năm diễn ra vào ngày mồng 1 tháng giêng; mồng 10 tháng 2; mồng 10 tháng 4; mồng 5 tháng 5 và 15 tháng 8 âm lịch với nghi lễ tế, rước trọng thể, truy ơn công đức vị thần.
Khu vực: Huyện Kiến Thuỵ
Địa chỉ liên hệ: Xã Minh Tân - huyện Kiến Thụy

Miếu Nam

Miếu Nam là một di tích lịch sử thuộc thôn Hà Liên - Bắc Sơn - Hải An, đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia ( tháng 1 năm 1990 ). Tại đây, nhân dân địa phương tôn thờ vị công thần triều Lý, tên gọi Nguyễn Hồng.
Miếu Nam trước đây vốn là ngôi đình Nam, có tên chữ Vạn Thọ, được tạo dựng trên gò đất phía Nam của làng, văn bia ghi nhận là nơi “ hoá” của Nguyễn Hồng. Trên nền xưa cảnh cũ, di tích miếu Nam được tạo dựng từ phế tích của ngôi đình cổ xưa. Và, miếu Nam tiếp tục bảo lưu một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân địa phương được thành văn khắc trên tấm bia đá, tôn thờ danh tướng Nguyễn Hồng : “ bé thì chăm chỉ học hành, vâng lời cha mẹ dạy bảo. Lớn lên, khi nước có giặc thì hăng hái lên đường ra trận, giặc tan lại về quê nhà…”. Tấm văn bia cổ, niên hiệu Tự Đức ( 1848 - 1883 ) còn cho biết lai lịch , công huân vị danh tướng như sau: “ Năm 544, nước Vạn Xuân do Lý Nam Đế lãnh đạo bị giặc ngoại xâm rập rình uy hiếp, triều đình có việc cấp bách, biết Nguyễn Hồng người trang Hà Liên mưu tài, trí giỏi, võ nghệ tinh thông, vua Lý đã phong cho Nguyễn Hồng quyền đốc quân các châu, quận và ra mặt trận chống giặc ở cửa sông Bạch Đằng. Hia đạo quân thuỷ bộ do Nguyễn Hồngchỉ huy đã giáp trận, diệt tan kẻ giặc, nước nhà lại yên”.
Sau khi được vua Lý ban thưởng rất hậu, Nguyễn Hồng xin được trở lại quê nhà khao thưởng dan làng, rồi mất sau đó tại trang Hà Liên. Từ nhiều năm nay, chính quyền và nhân dân Bắc Sơn đã tôn tạo trên quê hương mình một điểm di tích và danh thắng, để từ di sản văn hoá này muốn giáo dục và phát huy khơi dậy niềm tự hào về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm và truyền thống lao động cần cù của người dân địa phương.
Di sản văn hoá miếu Nam được ẩn mình dưới bóng cây cổ thụ, soi bóng xuống dòng mương xanh mát quanh năm, tạo thành cảnh quan trên bến dưới thuyền hết sức sinh động.
Một trong nhiều văn vật quí được dân làng lưu giữ tại miếu là đôi kiệu rồng dài 4m, mang dấu ấn nghệ thuật Nguyễn ( thế kỷ XIX ). Cả hai cỗ kiệu đều đặc tả một phức hợp rồng - một con vật gần gũi trong đời sống tâm linh người Việt Nam. Rồng trong nhiều thế bay, sum vầy giữa áng mây cụm…song song từng đôi một. Khác với kiệu bát côngs ở nhiều đình, miếu khác ở Hải Phòng, cỗ kiệu thất cống ( 7 thanh rồng ) ở miếu Nam được đánh giá vào bậc “ độc nhất vô nhị” hiện nay.
Lễ hội ở Miếu Nam được mở đúng ngày sinh của danh tướng Nguyễn Hồng ( 16/2 âm lịch hàng năm ). Nhưng theo chu kỳ đại lễ thì cứ 4 năm lại mở một lần. Người đến lễ hội không chỉ nhân dân địa phương mà còn đông đảo khách thạp phương. Sau lễ dâng hương tại miếu Nam là cuộc rước nghi vệ thành hoàng, long đình. bát biểu và hai cỗ kiệu quí trên các nẻo đường quanh thôn, xã. Đội ngũ trong đám rước đông vui nhưng chỉnh tề, uy nghi, rực rỡ sắc màu truyềnt hống và rộn ràng trong khúc nhạc “ lưu thuỷ hành vân”. Kiệu hoa, kèn lệnh xen lẫn tiếng trống, chiêng…như làm sống lại hào khí anh hùng của một vùng quê ngoại thành.

Khu vực: Huyện Thuỷ Nguyên
Địa chỉ liên hệ: Thôn Hà Liên - Bắc Sơn - Hải An

Đình - Chùa Đông Khê

Đình Đông Khê dựng ở giáp tây xã Đông Khê, hiện ở trục đường Đông Khê, quận Ngô Quyền. Làng vốn có 2 đình, nhưng một đã bị hỏng trong chiến tranh phá hoại, nay chỉ còn một đình thờ Ngô Vương thiên tử, anh hùng của dân tộc. Đình Đông Khê hiện chỉ còn tòa đại đình làm theo chữ “ đinh”, phong cách kiến trúc Nguyễn.
Theo các cụ già làng, đình được trùng tu tạo lớn thời Kiến Phúc nhà Nguyễn do Trần Thê Nho người làng, làm quan đến chức Án sát sứ tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh đứng lên hưng công. Ông được tôn làm hậu thần, hiện có ban thờ phối hưởng ở gian bên trái đình. Mặc dù trải qua nhiều biến cố, nhưng tòa đại đình bằng gỗ lim còn khá vững chãi, các mảng khắc trang trí đẹp vẫn còn. Chỉ có tường bao, giải vũ, đồng trụ bị đổ nát. Ngày nay người dân địa phương mới phục hồi tường bao, hai đồng trụ nhưng lại đem câu đối chùa ghép vào. Đồ thờ tự hương án, long đình,bát bửu, câu đối, hoành phi… đã được sửa chữa, sơn thiếp lại.
Chùa Đông Khê tên chữ là Nguyệt Quang tự, một ngôi chùa cổ của Hải Phòng, một môn sơn nổi tiếng. Chùa được dựng từ lâu đời, năm Chính Hòa thứ 5 đã có đợt sửa chữa lớn, nhưng chỉ từ khi thiền sư Như Hiện thuộc dòng Lâm Tế, đời Pháp thứ 37 của Phật phái này về trụ trì thì chùa Đông Khê trở thành một chốn tổ lớn, có ảnh hưởng rộng, đào tạo nhiều tăng tài trong đó có đến 60 người xuất sắc.
Thiền sư tinh thông đạo pháp, kiên trì giới hạnh được nhân dân, sĩ thứ vô cùng kính trọng. Năm 1748, Thiền sư được vua Lê Hiển Tông ban chức tăng cương, năm 1757 lại được vua phong Tăng thống Thuẫn Giác hòa thượng. Ngài viên tịch ngày 6-5 Ất Dậu( 1765), bảo tháp lưu giữ xá lỵ ở chùa Đông Khê hiện còn. Chùa hiện mang phong cách kiến trúc Nguyễn gồm Đại hùng bảo điện, nhà tổ, vườn tháp, nhà tăng, nhà phương trượng… đã hoàn chỉnh. Tam quan, cổng chùa vốn khá đẹp nhưng năm 2000 lại được làm mới hoàn toàn với quy mô to đẹp hơn. Từ ngày đổi mới đến nay, nhà sư trụ trì đã tu bổ, tôn tạo nhiều tạo nên một danh lam.
Đồ thờ tượng tháp cổ đều còn giữ được khá đầy đủ, đặc biệt chùa còn giữ được một quả đại hồng chung, đúc năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9 – đời Sơn Tây. Đình – Chùa Đông Khê đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1997. Đình chùa Đông Khê và chùa An Đà mới được trùng tạo là một quần thể di tích rất có giá trị thu hút đông đảo khách hành hương, khách du lịch.
Khu vực: Quận Ngô Quyền
Địa chỉ liên hệ: Phường Đông Khê - Quận Ngô Quyền

Chùa Mét

Chùa Mét có tên chữ là Thiên Hương tự thuộc thôn Thượng Phần, xã Cổ Am huyện Vĩnh Bảo. Theo tộc phả họ Trần ở Cổ Am, năm 1407, sau thất bại trong cuộc giao chiến với quân Minh xâm lược, Trần Khắc Trang một quý tộc trong tôn thất nhà Hậu Trần đã đưa gia đình về ẩn cư tại khu rừng Mét thuộc địa bàn xã Cổ Am ngày nay. Trong quá trình an cư lập nghiệp, Trần Khắc Trang đã đứng ra hưng công xây dựng nên ngôi chùa thờ phật, vì thế chùa được mang tên chùa Mét.
Chùa Mét ra đời đương lúc đạo Phật được coi là quốc giáo, chùa có quy mô to lớn như nhiều ngôi chùa cùng thời khác. Nhưng trải qua thời gian, kiến trúc của ngôi chùa không còn được như ngày trước.
Chùa Mét nằm ở phía Tây làng Cổ Am, chùa nằm trong không gian tĩnh mịch, trước có khoảng sân rộng, sau đến khu vườn thiền có 4 ngôi mộ tháp xây bằng gạch, trong đó có ngôi mộ tháp chôn xá lỵ Trần Khắc Trang, trên tháp có gắn bia đá “ Trần tộc thế hệ ký” soạn năm

Cảnh Hưng thứ 3 ( 1775). Mái tháp được làm tương tự mái long đình ( 4 mái khum lợi chậu ) đỉnh mái đắp ụ sen trên đấu vuông thót đáy. Các tháp mộ giống hệt nhau từ chất liệu, kiểu dáng đến quy mô. Theo phân tích chất liệu thì các ngôi mộ tháp đều được dựng vào Thời Lê.
Chùa Mét hiện nay còn bảo lưu được nhiều tượng Phật, đồ thờ tự quý có giá trị, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX như: bộ tượng Tam Thế, bộ tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Quan Âm Chuẩn Đề, tượng Đức Ông, bia hậu Phật, chuông đồng câu đối hoành phi, cửa võng trang trí mỹ thuật khá tinh xảo, làm phong phú thêm cho kho tàng mỹ thuật Phật Giáo Việt Nam. Bên cạnh đó chuà Mét còn góp phần nhỏ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, là cơ sở đóng quân mở lớp huấn luyện quân chính trước khi Nam tiến của đội vệ quốc đoàn thuộc chiến khu Đông Triều. Nơi đây cũng chứng kiến trận đầu chống Pháp của du kích Cổ Am và nhiều năm là cơ sở bám đất, bám dân của cán bộ, đảng viên xã.
Chùa Mét là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, một trung tâm sinh hoạt văn hóa ở làng quê Cổ Am. Sự ra đời của chùa Mét không chỉ gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật lịch sử thời Hậu Trần – Trần Khắc Trang, mà còn là một di tích lưu niệm về danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đây chính là niềm tự hào, là nguồn động viên các thế hệ nơi đây cùng nhau gìn giữ và xây dựng vùng đất Cổ Am ngàn năm văn hiến.
Chùa Mét đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1998.
Khu vực: Huyện Vĩnh Bảo
Địa chỉ liên hệ: Thôn Thượng Phần Xã Cổ Am huyện Vĩnh Bảo

Chùa Đồng Thiện

Chùa Đồng Thiện ( tên chữ là Hải Ninh tự )nằm ở trung tâm xã Vĩnh Niệm, huyện An Hải. Theo tục truyền và nội dung văn bia thì chùa Đông Thiện được xây dựng vào những năm 30 của thế kỷ này, do Hội đồng thiện đứng chủ hưng công. Công việc thiện tâm này của Hội đồng thiện được sự hưởng ứng của đông đảo tín đồ, thiện nam, tín nữ trong nước. Hội đồng thiện tỉnh Bắc Ninh đã quyên cúng cho việc làm tình nghĩa này cả một ngôi chùa khang trang đẹp đẽ. Tên chùa Hải Ninh ra đời để ghi nhớ về sự kiện thiện tâm đó của Hội đồng thiện Hải Phòng và Hội đồng thiện Bắc Ninh. Ngay từ buổi ấy chùa cũng được gọi là chùa Đồng Thiện với ý nghĩa là ngôi chùa được dựng nên từ tấm lòng thiện tâm của con người.
Kiến trúc với dáng bề thế, khang trang gồm nhiều tòa ngang dãy dọc, mặt quay hướng Đông Bắc. Chùa có hai lớp tam quan dọc theo đường “Thần đạo”, nối tam quan thứ nhất với tam quan thứ hai là một nhà thiêu hương và một hồ nước tròn, chu vi gần 400m. Kèm hai bên chùa là khu nghĩa trang rộng lớn, các mộ chí ở đây là cả một thế giới thu nhỏ của các laọi hình kiến trúc cổ kim, đông tây, muôn sắc màu, san sát bên nhau yên bình và ấm cúng. Nhà thiêu hương với kiến trúc một gian vuông vức, hai tầng tám mái chung quanh để thoáng không xây tường che, bốn bức dựng bốn cột tròn, kê trên chân tảng hình đôn đá, mái lợp ngói vẩy rồng rêu phong cổ kính, đao cong hình lá lật thâm thấp, thâm u.
Thiêu hương là nơi quàn linh cữu của người xấu số, nơi các vị tăng ni chạy đàn cầu siêu thoát cho các sinh linh. Cả khối nhà là một thể thống nhất tượng trưng cho thái cực. Hai tầng tám mái là biểu tượng của lưỡng nghi ( âm và dương ). Ngôi nhà vuông tượng trưng cho tứ tượng, tám mái là biểu tượng của “bát quái”. Người xưa quan niệm rằng: thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật hữu hình.
Chùa Đồng Thiện là ngôi chùa có giá trị thẩm mỹ cao, bình dị, không ồn ào, đã góp phần làm sáng tỏ thêm cái tính chất “ Nhập thế gia trụ trì Phật pháp” của đạo Phật Việt Nam đậm tính nhân văn, đầy lòng nhân ái.


Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Xã Vĩnh Niệm - huyện Hải An cũ

Chùa Hang – Đồ Sơn

Chùa Hang có tên chữ là Cốc tự, xưa thuộc địa bàn Vạn Tác, xã Đồ Sơn, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, đạo Hải Dương; nay thuộc phường Vạn Sơn, thị xã Đồ Sơn. Như tên gọi của chùa, người xưa lấy một hang đá núi, cao 3,5m rộng 7m chia làm 2 bậc thềm, bậc thềm ngoài rộng khoảng 23m2, bậc thềm trong cao hơn độ 0,50m lòng hang hình thang, xuyên thẳng sâu vào núi, dài chừng 25 m, phía trong cùng cao 1,2m rộng 1,3 m. Trước kia chùa có bàn thờ đá, tượng Adiđà, bát hương đều bằng đá. Năm 1930, Tuần phủ tỉnh Bắc Giang Đặng Quốc Giám xin được lô đất gần chùa đã cho phá núi để xây biệt thự và đục mở rộng cửa hang nhưng nghe nói “ bị thần núi Cô Tiên quở” nên lại thôi.
Trong chiến tranh, dân tản cư, chùa gần đồn Tây ên cảnh chùa càng hoang vắng. Năm 1967, tiểu đoàn công binh đã phá rộng lòng hang ở chỗ cánh cửa hang chừng 8 m để cất giấu tài liệu cho thuận tiện khai thác đá ở phái ngoài xây tường bảo vệ che cửa hang. Vì vậy, những bài thơ đề vịnh Chùa Hang khắc trên vách đá, cùng bệ thờ đá đều bị hỏng.
Chùa Hang là chùa thiên tạo lớn của Đồ Sơn, theo truyền ngôn có từ trước công nguyên. Nhà sư Bần – tên dân dã người nước Thiên Trúc theo thuyền đi truyền bá đạo Phật đã đến cư trú tại hang và mở chùa. Dân Đồ Sơn vẫn truyền rằng sư Bần còn dựng chùa Bần trên núi Mẫu Sơn, sau người viên tịch ở chùa Hang.
Nhiều thơ ca về chùa Hang Đồ Sơn hiện còn lưu:
Chùa Hang , động Phật, hang Dơi
Bốn phương tám hướng chẳng nơi nào bằng
Chùa hang cảnh Phật nhiệm mầu
Ấy là Bụt mọc hay bầu Tiên xây
Chùa Hang Đồ Sơn cùng với miếu Thị Đa ở Cốc Liễn, Kiến Thụy gần đó thờ Chử Đồng Tử là những chứng tích quí liên quan đến quá trình đạo Phật du nhập vào nước ta khoảng những năm trước Công Nguyên.
Khu vực: Thị xã Đồ Sơn
Địa chỉ liên hệ: Phường Vạn Sơn - Quận Đồ Sơn

Đình Từ Lâm

Đình Từ Lâm thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng thờ vị thành hoàng Hoa Duy Thành một danh tướng thời Trần có công tham gia đánh đuổi giặc Mông – Nguyên thế kỷ thứ XIII.
Về thân thế, công lao của vị thành hoàng được ghi trong bản thần tích lưu giữ tại đình do Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất ( 1572) và truyền thuyết tại địa phương cho biết: Hoa Duy Thành người Trang Linh Động huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương ( nay là thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Xuất thân trong một gia đình quan lại quý tộc có thế lực trong vùng, thông minh, khỏe mạnh,am hiểu binh pháp, văn võ song toàn được mọi người mến mộ. Nghe tin giặc Nguyên kéo sang xâm lược nước ta lần thứ 2 ( 1258) Hoa Duy Thành tự bỏ tiền của tuyển mộ huấn luyện quân sỹ.
Khi triều đình mở khoa thi tuyển mộ tướng tài, ông là người đỗ đạt cao và trở thành vị tướng tâm phúc dưới quyền của Quốc Công tiết chế Trần Hưng Đạo, đảm trách đội quân tinh nhuệ hộ giá vua Trần rút khỏi vòng vây của giặc từ vùng biển An Bang ( Hải Phòng – Quảng Ninh ) ngày nay vào vùng Châu Ái – Thanh Hóa an toàn theo kế sách của Hưng đạo đại vương. Trong cuộc chiến chống xâm lược Nguyên Mông lần thứ 3 ( 1287 – 1288 ) Hoa Duy Thành được lậnh đem quân bảo hộ phối hợp với các cánh quân truy kích địch trên sông Bạch Đằng, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử dân tộc.
Quét sạch quân thù, Hoa Duy Thành trở về quê hương sinh sống, được nhà vua ban tặng trang Từ Đường, sử dụng làm điền trang của mình. Khi ông mất, dân làng lập đền thờ ngay tại nơi xưa kia ông luyện binh mã. Đến thời Lê, đền Từ Đường được tu sửa thành Đình Từ Đường và tôn ông làm Đương cảnh thành hoàng. Đến đời Khải Định, Từ Đường được đổi tên thành Từ Lâm như hiện nay, vì kiêng tên húy nhà vua.
Trang trí kiến trúc của đình thể hiện khá công phu tỉ mỉ. Các hình hoa lá cách điệu, các đề tài tứ linh, tứ quí... chạm nổi trên các thanh rường, câu đầu, bẩy hiên thật khéo léo, sinh động.Còn ở mỗi đầu dư hình rồng, kỹ thuật chạm bong kênh được sử dụng tinh vi, giúp chúng ta xác định niên đại tạo dựng của đình vào khoảng thế kỷ thứ XVII thời Lê. Đình Từ Lâm được nhà nước công nhận là di tích lịch sử năm 1991.
Khu vực: Huyện Vĩnh Bảo
Địa chỉ liên hệ: Xã Đồng Minh - Huyện Vĩnh Bảo

Miếu Hạ Lũng

Hạ Lũng là một làng xã ven đô thuộc phường Đằng Hải, quận Hải An. Mảnh đất này từ xưa vốn nổi tiếng về trồng cây trái, hoa tươi, quả ngọt cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Miếu Hạ Lũng là một trong nhiều di tích nằm ở vùng hạ lưu sông Bạch Đằng, trong hệ thống các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ mà nhân dân các làng xã cổ Hải Phòng xây dựng nên để ghi nhớ công lao đánh giặc của Đức Ngô Vương Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
Miếu hạ Lũng được khởi dựng trên khu đất cao, thoáng rộng phía trước có hồ nước nối liền với cánh đồng lúa chiêm trũng - một di sót của dòng sông cổ chảy qau làng xã. Mặt chính của ngôi miếu quay hướng chính tây với ý niệm “ Lao thành tây vọng “ hàm ý đời đời hướng về Cổ Loa, ghi nhớ chiến công của Ngô Vương Quyền. Kiến trúc của ngôi miếu cổ được kết cấu theo lối “
Tiền quốc hậu đinh” tạo thành nhiều lớp, hàng, sân, nhà đối xứng nhau qua trục thần đạo, trông tựa một di cung thu nhỏ.
Từ trục đường liên xã nhìn vào, có con đường nhỏ dẫn đến cổng tam quan, sau cổng tam quan lại có một sân vuông vức lát gạch cổ Bát Tràng, nối toà tiền tế 5 gian với toà đại bái - kèm hai bên sân dựng hai toà giải vũ chạy song song, sau toà đại bái có ba gian chuôi vồ, tạo thành cung cấm của ngôi miếu. Bộ mái của các toà nhà vừa giới thiệu trên đều được trang trí, đắp vẽ công phu với nhiều đề tài cổ điển như: đôi phượng chầu mặt trời, lưỡng long chầu nguyệt, hồi long, thuỷ quái Makara….
Góp phần làm tăng thêm sự uy nghi cổ kính của ngôi cổ miếu Hạ Lũng là chiếc nhang án gỗ, mang niên đại nghệ thuật thế kỷ XVIII. Thân nhang án được chia làm nhiều ô vuông chữ nhật, ngũ giáo, tạo lớp nông sâu khác nhau là nơi thể hiện các mảng đề tài trang trí quen thuộc như: rồng, phượng, hoa cúc, qua các đường soi, lỗ đục và nước sơn thếp tinh xảo, rực rỡ.
Tại nơi cao nhất của toà cung cấm, tượng Ngô Quyền toạ trên ngai rồng, trong thế thiết triều, khuôn mặt phảng phất nét phong sương, dày dạn của một vị chủ tướng dạn dày trận mạc. Đầu Ngô Vương đội vương miện, cánh chuồn, chạm thủng hình rồng, thân mũ thêu chữ vương và dải băng cúc mãn khai - một biểu tượng của mặt trời. Thân khoác áo long bào đỏ, thêu rồng, phương, hoa , lá mây cụm….Gương mặt vuông chữ điền, mắt mở to nhân trung đầy đặn, cương nghị…
Đầu xuân năm mới, từ ngày 16 đến 18 tháng giêng, người dân Đằng Hải - Hạ Lũng cùng nhiều làng xã láng giềng tưng bừng mở hội tại di tích để tưởng niệm Ngô Vương Quyền với những nghi lễ trang trọng, tôn nghiêm, cùng các trò vui chơi, thi đấu mang đậm bản sắc địa phương: tế lễ, dân hương hoa, nải quả, thi chọi gà, kéo co…

Miếu Hạ Lũng là một trong những địa điểm để thế hệ hôm nay và mai sau cùng ghi nhớ khí thế hào hùng “ Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” của ông cha ta thưở trước.
Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Phường Đằng Hải - quận Hải An

Đình Tri Yếu

Đình Tri Yếu thuộc xã Đặng Cương, huyện An Hải cũ. Nơi đây người dân địa phương thờ phụng các nhân vật lịch sử thời đại các vua Hùng dựng nước, được tôn vinh là thành hoàng ở địa phương như: Cao Sơn, Quí Minh và Chàng Rồng.
Theo thần tích, Chàng Rồng đại vương là người làng Tri Yếu ( thưở đó có tên là Quán Anh Trang) – căn cứ của triều Hùng Vương ở xứ Đông. Thần tích kể rằng: do thời thế, vua Hùng phải nhường ngôi cho Thục Phán, Chàng Rồng trở về làng Tri Yếu ẩn cư, ông chuyên việc dạy dân trồng dâu, nuôi tằm dệt vải, cấy lúa, trau dồi phong hóa. Ông thường tâm niệm rằng: “ Ta một sợi tơ, hạt gạo đều nhờ ơn vua Hùng ban cho. Nay nhà Hùng mất, ta còn mặt mũi nào thờ vua mới”. Chàng Rồng nhiều lần bí mật đột nhập Loa Thành thu lại ấn tín, Long cổn của Triều Hùng, sau bị tướng quân Cao Lỗ vây giết ở quê nhà. Tương truyền, nơi ông đóng bản doanh xưa là nơi dựng đình Tri Yếu ngày nay, nơi ông mất, nhân dân lập miếu Kiến Phục thờ để ngàn năm hương khói nhớ ơn ông.
Lễ hội đình Tri Yếu được tổ chức từ ngày mồng 7 đến hết ngày 11 tháng 2 âm lịch hàng năm. Hội đình Tri Yếu gắn liền với lễ tưởng niệm đức thánh Chàng Rồng – một võ tướng trung quân của vua Hùng Duệ Vương và hội thi tay nghề dệt vải. Năm nào cũng vậy, sáng ngày mồng 7 tháng 2 dân làng Tri Yếu tổ chức tế cáo Đại vương ở miếu Kiến Phục, rồi tiến hành rước “ bát hương thánh” về đình bằng nghi thức trang trọng, đầy đủ bộ lễ, bát âm chiêng trống…
Hội đình Tri Yếu ngoài nghi lễ tế trang nghiêm diễn ra trong đình, ngoài sân còn biểu diễn hát chèo, cờ tướng đấu vật… Trên hồ bán nguyệt trước cửa đình còn có cuộc thi dệt vải của các thôn nữ có “ bàn tay vàng”. Một trò độc đáo nưa của lễ hội đình Tri Yếu ngày nay là trò “ bịt mắt bắt dê”. Trên một khoảng ruộng đình rộng gần một sào đang độ “ để ải qua đông” được dọn dẹp sạch sẽ, vạch vôi qui định phạm vi giữa người xem và người tham dự chơi, người ta còn cố tạo ra nhiều lỗ nhỏ trên mặt bằng để tăng thêm độ khó cho các cầu thủ dự thi.
Sau khi chấm dứt các cuộc vui chơi, đua tài diễn ra ban ngày thì tối đến, dân làng Tri Yếu lại cùng du khách thập phương tề tựu trước sân đình thi hát đúm, xem đốt cây bông ngay tại hồ đình. Hát đúm sân đình làng Tri Yếu lôi cuốn đông đảo nam thanh nữ tú người địa phương tham gia một cách say mê, làm cho không khí ngày xuân thêm đằm thắm. Và đình làng Tri Yếu đã trở thành trung tâm văn hóa – thể thao của xã Đặng Cương, huyện An Hải.
Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Xã Đặng Cương - Huyện An Hải cũ

Đền Nghè

Biên, quận Lê Chân ), Đền Nghè là di tích lịch sử văn hóa thờ nữ tướng Lê Chân. Bà quê ở làng An Biên ( thuộc Đông Triều, Quảng Ninh )đã đến vùng đất nơi ngã ba sông Tam Bạc đổ vào Sông Cấm, lậo ấp Vẻn, sau đổi là An Biên Trang, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ( 40 – 43 )chống quân Đông Hán xâm lược. Bà là một nữ tướng tài ba, anh dũng đã lập nhiều chiến công hiển hách vang dội trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng , được Trưng Vương phong chức “ Chưởng quản binh quyền nội bộ”, giao trọng trách trấn giữ miền Hải Tần.
Để tưởng nhớ công lao của nữ tướng, người lập ra làng An Biên xưa và đặt nền móng cho thành phố Hải Phòng ngày nay, nhân dân đã lập lên tòa miếu An Biên thờ bà. Buổi đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh, đến năm 1919 được xây dựng khang trang. Đền Nghè hiện nay là một công trình mang kiến trúc thời Nguyễn, đầu thế kỷ XX bao gồm: tam quan, tòa bái đường, thiêu hương, hậu cung, giải vũ, nhà bia, nơi đặt tượng voi đá, ngựa đá. Sau lại làm thêm tòa tứ phủ.
Tòa bái đường gồm 5 gian được nâng đỡ bởi 16 cột gỗ lim, kê trên 16 viên đá tảng đục đẽo công phu, tỉ mỉ. Chính giữa nóc nhà bái đường đắp nổi hàng chữ Hán lớn” An Biên cổ miếu”. Hậu cung gồm 3 gian, xây cao hơn nhà bái đường với kiểu thiết kế 2 tầng mái, làm tăng thêm sự bề thế, uy nghi của công trình. Nét đặc sắc của Đền Nghè là nghệ thuật chạm khắc gỗ, đá. Với các đề tài long – ly – quy – phượng ; tùng – cúc – trúc – mai .... thể hiện kỹ thuật chạm bong hình, chạm nổi, chạm chìm đạt đến trình độ tinh xảo.
Hiên nay, đền Nghè còn bảo tồn được nhiều tác phẩm điêu khắc trên đá rất có giá trị, điển hình là tấm bia đá có kích thước lớn được tạc vào thời Nguyễn, ghi tiểu sử của nữ tướng Lê Chân. Tòa bái đường treo khánh đá chạm nổi đề tài “ vũ hội long vân” đường nét tinh vi, mềm mại, uyển chuyển. Ở tòa thiêu hương có chiếc sập đá đồ sộ, tạo bằng khối đá liền, chạm nổi hình chim, thú, hoa lá rất công phu. Tại tòa hậu cung, tượng Nữ tướng ngồi trên ngai thờ, đặt trong một khám lớn sơn son, thếp vàng với dáng vẻ uy nghi, đôn hậu, xinh đẹp.
Hội đền Nghè được tổ chức từ ngày mồng 8 đến ngày mồng mười tháng 2 âm lịch, thu hút đông đảo du khách đến tham quan di tích, tưởng niệm nữ tướng Lê Chân. Đền Nghè được nhà nước xếp hạng di tích năm 1975. Đền Nghè nằm ở trung tâm thành phố Hải Phòng thuộc phường Mê Linh, nay là phường An Biên.
Khu vực: Quận Lê Chân
Địa chỉ liên hệ: Phường An Biên - Quận Lê Chân - Hải Phòng

Đình An Biên

Đình An Biên còn có tên là đình Đông An, tức đình thôn Đông, xã An Biên một làng gốc của nội đô Hải Phòng nay. Đình tọa lạc ở trung tâm khu phố Lê Chân, cách đền Nghè không xa, ở ngõ 170( tên cũ là ngõ Đông An ) phố Hai Bà Trưng. Quanh khu này, còn có nhiều gia đình họ Lê, nhận là dòng dõi họ Lê của nữ tướng Lê Chân.
Đình An Biên thờ Lê Chân, con gái thầy thuốc Lê Đạo và bà Trần thị Châu, quê ở làng An Biên, huyện Đông Triều xứ Đông ( nay là Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh ). Căm tù tên quan cai trị nhà Đông Hán giết cha vì không ép được Lê Chân làm tỳ thiếp, Lê Chân trốn về vùng ven biển xứ Đông, lập căn cứ. Khi Trưng Trắc dựng cờ khởi nghĩa, Lê Chân đem dân binh vùng Hải Đông hưởng ứng, lập nhiều công lớn. Khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc lên làm vua, cử Lê Chân giữ việc Chưởng quản binh quyền nội bộ, giao trấn thủ vùng hải tần.
Năm 43, Mã Viện sang đánh trả thù,Lê Chân tổ chức chống cự, chặn giặc dọc tuyến ven biển Đông Bắc . Sau khi chị em Trưng Vương tuẫn tiết, Lê Chân đem quân về trấn giữ vùng Lạt Sơn, tỉnh Hà Nam bây giờ. Giặc bao vây tuyệt lương, nữ tướng phải tự tận để bảo tòan danh tiết. Sau khi nữ tướng hy sinh, dân An Biên lập đền thờ( tức đền Nghè – An Biên cổ miếu). Theo thần tích, đời Trần Anh Tông được phong phúc thần làng An Biên, huyện An Dương.
Không rõ năm khởi dựng, đình hiện nay được trùng tạo năm 1929, theo kiểu kiến trúc đời Nguyễn gồm 7 gian tiền đường, 3 gian ống muỗng, 3 gian hậu cung. Đình xây dựng trên khuôn viên rộng, trông ra hồ nước. Ngày xưa, những ngày hội đình có rất nhiều trò chơi dân tộc, nhất là các môn vật, võ dân tộc..,Tương truyền đó là những môn lúc sinh thời nữ tướng vẫn thường luyện binh. Trong đình khi xưa có đủ nghi vệ thành hoàng, câu đối, hoành phi...lộng lẫy nhưng trong thời gian kháng chiến chống Pháp đã bị mất mát đi một số, đình ít được tu bổ. Đình xuống cấp, đồ thờ tự bị mất mát hư hỏng nhiều nhất trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Hiện nay người dân địa phương và du khách thập phương đã tự nguyện đóng góp tu sửa đình, mua sắm thêm đồ thờ tự, trong sân đình lại dựng tượng nữ tướng và núi giả, vườn hoa...lễ hội đã phục hòi, một số trò chơi cũng được phục hồi bước đầu. Cùng với đền Nghè, hồ An Biên – nơi luyên thủy quân của nữ tướng – tượng đài Lê Chân dựng năm 2000 tại dải công viên trung tâm thành phố, đình An Biên góp phần tạo nên một quần thể di tích văn hóa lịch sử có giá trị của trung tâm thành phố Cảng Trung dũng quyết thắng.
Khu vực: Quận Lê Chân
Địa chỉ liên hệ: Phố Hai Bà Trưng - Quận Lê Chân

Chùa Bách Phương

Đền và chùa Bách Phương thuộc xã An Thắng, huyện An Lão. Đền là một kiến trúc cổ kính hình chữ “đinh” gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Đền Bách Phương là một di tích lịch sử, chứng minh cho truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của địa phương thế kỷ XIII.
Nhân vật được thờ tại đền Bách Phương là vị thần Dụ Khánh tên thật là Trần Thụy một võ tướng thuộc dòng tôn thất nhà Trần, có tham gia chống Nguyên – Mông. Trần Thụy quê gốc ở làng Tức Mạc , huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định thuộc dòng dõi nhà Trần, nổi tiếng 3 lần đánh tan giặc Nguyên – Mông xâm lược. Ông có công mở mang phát triển làng xóm tại điền trang thái ấp Bách Phương sau nhiều năm ly tán, tan hoang bởi giặc ngoại xâm.
Đền là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, đặc biệt phần hậu cung được sơn son thiếp vàng rực rỡ thuộc loại quý hiếm ở Hải Phòng hiện nay. Đền có đến 39 tờ sắc từ đời Lê Trung Hưng đến đời Nguyễn. Nhiều tờ sắc đời Lê rất có giá trị nói rõ lý do gia phong mỹ tự cho vị thần như đảo vũ được mưa, cầu trừ hoàng trùng hay thắng trận. Ở nơi hậu cung linh thiêng nhất là pho tượng thần Dụ Khánh. Tượng được đặt trong long khám, đội mũ phốc, mặt vuông chữ điền , mũi dọc dừa, mắt phượng xếch, nhân trung đầy đặn. Khuôn mặt lộ rõ quý tướng và thần thái đậm vẻ phong sương của người chiến binh dầy dạn trận mạc. Tượng được thể hiện ở tư thế ngồi thiết triều trên ngai rồng, áo long bào bó sát thân, trông lẫm liệt như vị thiên sứ nhà trời trong các huyền thoại dân gian.
Cùng với sự tồn tại của đền Bách Phương là ngôi chùa thờ phật. Chùa Bách Phương có tên chữ là Tân Hoa tự, chùa trước đây có quy mô kiến trúc rộng lớn, từng là chốn trường ốc của cả vùng An Lão, An Dương. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Bách Phương còn là một trong số những cơ sở kháng chiến tiêu biểu. Khuôn viên cũ của chùa hồi đó là nơi đặt trạm quân y tiền phương mặt trận khu B do bác sỹ Nguyễn Văn Tín, nguyên thứ trưởng Bộ Y Tế Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phụ trách. Vì thế chuà Bách Phương ngoài chức năng hội tụ sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng còn là nơi giáo dục truyền thống yêu nước của địa phương.
Lễ hội hàng năm của quần thể di tích đền, chùa Bách Phương được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch. Tương truyền, đó là ngày ăn mừng thắng trận của vị võ tướng tôn thất nhà Trần ( tức thần Dụ Khánh ). Lễ hội thường diễn ra 3 ngày, với các trò chơi dân gian thượng võ như: võ, vật, cờ tướng...
Đền chùa Bách Phương đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1995. Cụm di sản văn hóa này là một trong những điểm sáng của quần thể di tích danh thắng Núi Voi đang lấp lánh chào đón du khách từ xa.
Khu vực: Huyện An Lão
Địa chỉ liên hệ: Xã An Thắng huyện An Lão

Chùa Minh Phúc

Chùa Minh Phúc thuộc thôn Minh Thị, xã Toàn Thắng huyện Tiên Lãng. Nhiều giả thuyết cho rằng đây là ngôi chùa xuất hiện từ thời nhà Mạc cùng với sự tồn tại của dòng sông, bến, chợ của địa phương thế kỷ XVI – XVII. Chùa Minh Phúc ngoài việc thờ Phật còn thờ bà Hoàng Thái Hậu họ Vũ dưới triều Mạc.
Để giải thích về nhân vật được thờ tại chùa, nhân dân địa phương cho rằng: Bà Hoàng Thái Hậu có tên là Vũ Thị Quỳnh là vợ ba Thái Tổ Mạc Đăng Dung, người có công quyên góp tiền của để hưng công, tu sửa chùa. Sau khi bà mất, dân làng nhớ đến công lao của bà đã chạm nổi phù điêu trên đá thờ tại chùa như một vị phật. Đối với người dân nơi đây, việc chùa Minh Phúc thờ Hoàng Thái Hậu thể hiện lòng ngưỡng mộ hướng về vương triều nhà Mạc bằng cả sự tôn kính.
Hàng năm vào những ngày lễ tết, ngày Phật đản...nhà chùa luôn là một trong những nơi thu hút đông đảo thiện nam, tín nữ trong vùng đến sám hối, cầu mong những điều tốt lành. Đây thật sự là nơi sinh hoạt tôn giáo của người dân địa phương, điều đó không những thể hiện ý thức tôn giáo của mỗi người nà còn thể hiện lòng kính trọng đối với bà Hoàng Thái Hậu thời kỳ nhà Mạc.
Mặc dù qui mô của nhà chùa không lớn, song những giá trị lịch sử mà ngôi chùa đang lưu giữ là một tài sản vô cùng quí giá đối với việc nghiên cứu lịch sử của địa phương. Pahỉ chăng nơi đây từng hiện hữu một dòng sông vào khoảng thế kỷ XVI – XVII, hiện tượng trù mật hai bên bờ sông: chợ, đường, cầu, quán, chùa và là một điểm sáng trong giao thương buôn bán – Minh Thị.
Qua bao năm tháng, thời gian đã phủ những lớp bụi, những lớp rêu phong lên ngôi chùa Minh Phúc, nhưng sự tồn tại của ngôi chùa cho đến ngày nay là một minh chứng của người dân địa phương hướng về nhà Mạc, và như để nhắc nhở về một thời kỳ sôi động diễn ra trên mảnh đất này.
Khu vực: Huyện Kiến Thuỵ
Địa chỉ liên hệ: Thôn Minh Thị - Xã Toàn Thắng - Huyện Tiên Lãng

Chùa An Lạc

Chùa An Lạc có tên là An Lạc tự - một công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng cổ truyền, thuộc địa bàn phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng. Chùa An Lạc do nhân dân làng An Lạc, tổng An Lạc, huyện An Dương, tỉnh Kiến An cũ xây dựng. Tương truyền , chùa An Lạc được xây dựng từ thời nhà Trần, xưa kia chùa và đình An Lạc được xây dựng trên cùng một khuôn viên, đất đai rộng rãi thoáng mát và cách xa khu dân cư. Chùa và đình An Lạc bố cục theo lối “ tiền Thánh hậu Phật ”, ẩn mình dưới tán cổ thụ xanh um.
Chùa đình An Lạc không chỉ là những công trình kiến trúc đẹp mà còn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng: nằm ở vùng giáp ranh giữa vùng nông thôn rộng lớn của tỉnh Kiến An, tỉnh Hải Dương với thành phố cảng Hải Phòng. Địa điểm dựng chùa và đình An Lạc kề bên quốc lộ 5, con đường huyết mạch nối Cảng Hải Phòng với thủ đô Hà Nội. Đặc biệt, đình chùa An Lạc nằm trong địa bàn dân cư có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm từ lâu đời và có ảnh hưởng sâu sắc của phong trào đấu tranh của công nhân và phong trào yêu nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Chùa An Lạc hiện nay được xây dựng trên khuôn viên đất rộng 1474m2 và là một công trình khá đồ sộ. Chùa quay hướng chính Tây nhìn ra đại lộ Tôn Đức Thắng. Mở đầu cho chùa là một tam quan kiêm gác chuông sừng sững mái đao cong tầng tầng lớp lớp tựa như bao kiến trúc tam quan của các chùa làng Việt Nam cổ truyền khác. Sau tam quan là một sân rộng lát gạch chỉ nghiêng phẳng phiu, khoảng giữa sân chùa, phía trước tòa Phật diện là khu bồn hoa bể cảnh đẹp, chính giữa dựng tượng Quan Âm đứng bằng xi măng trắng. Bên trái sân chùa là một dãy nhà 7 gian gồm tòa điện mẫu, tòa điện thánh và tăng phòng. Chùa An Lạc là một địa chỉ đỏ sáng ngời của Đảng bộ, quân và dân thành phố cảng Hải Phòng, cần được quan tâm bảo vệ.
Khu vực: Quận Hồng Bàng
Địa chỉ liên hệ: Phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng

Chùa Phổ Chiếu

Chùa Phổ Chiếu thuộc xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải cũ. Chùa được xây trên khu đất rộng khoảng vài ha, quay hướng Đông, phía sau là con đường liên xã chạy qua. Chùa bố trí theo lối kiến trúc kiểu chữ “công” gồm 5 gian tiền đường, 3 gian ống muỗng và 3 gian hậu cung. Về lịch sử hình thành, ngôi chùa ra đời khá muộn. năm 1953, sư cụ Ngô Chân Tử người làng Cao Mại, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã đến đây xây dựng chùa và trụ trì tại đó. Lúc đầu, chùa được gọi là Tam Giáo đường, thờ 3 tôn giáo Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo. Đây là nét thường gặp ở các ngôi chùa của Việt nam, nó thể hiện sự hòa hợp về tôn giáo và sự hòa hợp của dân tộc.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chùa Phổ Chiếu từ buổi dầu khởi dựng với tên Tam Giáo đường đã không còn giữ được nguyên trạng của ngôi chùa làng Dư Hàng Kênh. Thể theo nguyện vọng của tăng ni, tín đồ Phật tử và của nhân dân, chùa Phổ Chiếu được trùng tu vào năm 1985. Đặc biệt từ khi Đại Đức Thích Thanh Giác lên trụ trì chùa năm 1989 đã quyên góp công sức của nhân dân, tín đồ Phật tử để mở mang xây dựng thêm để ngôi chùa có diện mạo khang trang như ngày nay.
Chùa Phổ Chiếu hiện nay là một địa điểm đẹp hấp dẫn du khách thập phương và các tín đồ. Chùa Phổ Chiếu ngoài ý nghĩa là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt tôn giáo của nhân dân còn là địa điểm ghi nhiều dấu ấn lịch sử của thành phố Hải Phòng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Hiện nay, chùa không ngừng tu sửa để ngày càng khang trang phục vụ đời sống tâm linh của người dân địa phương.
Hàng năm vào những ngày lễ Phật Đản (rằm tháng 4), Thượng nguyên (14 tháng giêng), Vu lan(rằm tháng 7)...và các ngày rằm mồng một, chùa Phổ Chiếu là một trong những nơi thu hút rất đông nhân dân đến cầu phúc cho bản thân, gia đình, bè bạn..Đây thực sự trở thành địa điểm sinh hoạt tôn giáo không những của nhân dân địa phương mà của cả nhân dân thành phố Hải Phòng.
Khu vực: Quận Lê Chân
Địa chỉ liên hệ: Đường Miếu Hai Xã - HP

Đền Phú Xá

Đền Phú Xá ( phường Đông Hải, quận Hải An,thành phố Hải Phòng ) là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, danh tướng thời Trần có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, thế kỷ XIII. Khi mất ông được nhân dân tôn gọi là “ Thánh Vương”. Truyền thuyết dân gian ở địa phương cho biết: nơi đây, Trần Quốc Tuấn đã thiết lập nhiều kho lương thực, chuẩn bị cho chiến dịch Bạch Đằng năm 1288, đồng thời diễn ra cuộc khao thưởng quân sĩ có công trước khi kéo quân về căn cứ Vạn Kiếp.
Tại vị trí ngôi đền cổ kính hôm nay, nhân dân còn tôn thờ người phụ nữ có tên Bùi Thị Từ Nhiên, người giữ trọng trách chăm lo quân lương, cung cấp hậu cần cho quân đội Nhà Trần thưở ấy. Truyền ngôn ở đây kể rằng, khi giặc tan, bà Bùi thị Từ Nhiên lại cùng dân làng lo sản xuất, xây dựng xóm làng. Hậu quả của cơn hồng thủy năm Canh Thân ( 1320 ) làng quê bị tàn phá, người dân phải bỏ đi nơi khác làm ăn sinh sống. Khi nước rút, dân làng trở về, bắt tay khôi phục xóm thôn.
Bà Bùi Thị Từ Nhiên vận động nhân dân sửa lại ngôi đền thờ Trần Quốc Tuấn. Làng Phú Xá ban đầu gọi là Phú Lương, thời Tự Đức ( 1848 – 1882 ) do tránh tên húy chồng bà Bùi Thị Từ Nhiên nên mới đổi thành Phú Xá. Từ ngôi đền nhỏ làm bằng tre, tranh, nứa lá ban đầu, trải qua nhiều lần tu tạo, đền Phú Xá ngày nay đã trở thành một công trình kiến trúc bề thế kiểu nội công, ngoại quốc, nét trang trí nghệ thuật chạm khắc, đắp vẽ mạng đậm dấu ấn phong cách thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Theo truyền thống dân gian “ Tháng tám giỗ cha” là 20 tháng tám âm lịch hàng năm, dân làng sửa soạn lại đồ tế khí, nghi vệ Đức thánh Trần và Bùi thị Từ Nhiên một cách trọng thể để đón nhân dân khắp nơi về dự. Đền Phú Xá được nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1990.
Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Phường Đông Hải quận Hải An.

Đền Mõ

Đền Mõ, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy ( Nghi Dương xưa ) do dân làng Nhgi Dương xây dựng lên tỏ lòng nhớ ơn công chúa Thiên Thụy ( Quỳnh Trân ) người có công khai lập. Công chúa Thiên Thụy là con gái trưởng vua Trần Thánh Tông, chị gái vua Trần Nhân Tông, tên húy Trần Quỳnh Nga. Do có nhan sắc lại đủ tài thi họa, ca ngâm, nên công chúa được phong Thái trưởng công chúa Thiên Thụy. Đến tuổi cập kê, vua cha gả cho Hưng Võ Vương Nghiễn, con trai Trần Hưng Đạo. Vì yêu mến cảnh thiền, dốc chí đi tu, công chúa đi du ngoạn nhiều nơi, rồi đến xã Nghi Dương, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn thấy nơi đây cảnh đẹp, công chúa dựng một am nhỏ để thờ Phật. Công chúa lại xin nhà vua cho khẩn khoang lập trang trại giúp dân lưu tán có chỗ nương thân.
Trong cai quản công việc, công chúa đặt hiệu lệnh bằng tiếng mõ để những người làm nghe đó mà nghỉ ngơi, ăn uống, đi làm...nên mọi người gọi công chúa là “ Bà chúa Mõ”. Sau lại cho đắp gò đất bên chùa để xem thời tiết, dựng một nhà ở cánh đồng Mõ giữ nông cụ, giống má và đào giếng cho mọi người có nước uống...
Năm 1293 vua Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Thuyến, xưng là thượng hoàng đi tu ở núi Yên Tử. Thái tử lên ngôi đổi niên hiệu là Hưng Long. Nhà vua ban chiếu quy định ruộng đất của các thân vương đời Thánh Tông được miễn thuế. Công chúa xin vua cho 5 xã ( Nghi Dương; Mai Dương; Xuân Dương; Tú Đôi; Du Lễ) được miễn thuế lao dịch. Từ đó nhân dân 5 xã đội ơn công đức của công chúa. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc về xã Nghi Dương lập đền thờ.
Đền Mõ có quy mô rộng thoáng đẹp gồm tam quan, ngũ môn( 5 cửa), gác chuông 2 tầng 8 mái, vườn hoa, cây thuốc trong ngoài....hai tòa giải vũ 5 gian, 2 chái ở 2 bên sân. Các mảng trang trí ở đền Mõ chủ yếu tập trung ở các rường, đấu, câu đầu, cốn, bẩy hiên, cửa và ván bưng tòa hậu cung....Đề tài trang trí chủ yếu vẫn là : “ rồng mây hội tụ”, “ cá hóa rồng”, “ lưỡng long chầu nguyệt”. Ngoài rồng còn có hổ phú ngậm chữ thọ, thú 4 chân, chim...ở đầu các tiền đường ( cung đệ tam) ngoài ra còn thấy rõ hình ảnh các chú chuột khi đùa vui với nhau, khi gặm chân rồng, khi đưa chân lên gãi tai.... Hình thức nghệ thuật được thể hiện thật phong phú như: chạm nổi, chạm chìm, chạm lộng. Các cửa võng, đại tự, cuốn thư, câu đối hình lòng máng rực rỡ vàng son. Nội dung của câu đối ca ngơi công đức của công chhúa Thiên Thụy và cảnh đẹp địa phương.
Một ngôi chùa nhỏ nằm bên trái ngôi đền Mõ được gọi là chùa Mõ do công chúa Thiên Thụy lập ra để tu hành thờ Phật. Chùa là một nhà dọc 2 gian vốn là hậu cung của chùa cũ và 3 gian phía trước mới xây, 3 gian này chỉ có giá trị thờ cúng, không có giá trị nghệ thuật kiến trúc.
Đền Mõ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, một di tích lịch sử, văn hóa thờ công chúa Thiên Thụy người có công với quê hương Ngũ Phúc, Kiến Thụy ngày nay. Đền Mõ được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1991.
Khu vực: Huyện Kiến Thuỵ
Địa chỉ liên hệ: Xã Ngũ Phúc - Huyện Kiến Thụy

Đình Đồng Lý

Đình Đồng Lý thuộc xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đình quay hướng Đông Bắc, nhìn thẳng ra cánh đồng lúa nước trũng, vốn xưa kia la dấu vết của một dòng sông cổ dẫn nước ra dòng sông Cấm chảy qua địa phận xã Mỹ Đồng. Đình Đồng Lý có kiến trúc đan xen hài hòa giữa nghệ thuật trang trí thời Lê( thế kỷ XVII )và nghệ thuật thời Nguyễn( rải rác qua các thế kỷ XIX, XX). Các bộ phận cấu thành bộ khung ngôi đình như: Cột, xà, hoành, rường.... đều bằng gỗ lim, đục chạm trang trí, tỉ mỉ vơi nhiều mảng đề tài rồng mây, hoa lá, cỏ cây sinh động thể hiện ước vọng ngàn đời của người nông dân những mong mưa thuận, gió hòa, dân khang vật thịnh.
Nguyên gốc trang trí nghệ thuật trên kiến trúc gỗ niên đại Lê thế kỷ XVII chỉ còn lại: Hệ thống cột, chân tảng đá xanh, kết cấu 2 vì đốc tiền đường, cấu trúc “ nghê gỗ”, tàu mái. Những phần còn lại của phần kiến trúc gỗ và bộ sưu tập những di vật được bài trí, bảo quản tại di tích hiện nay đều in đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn đầu thế kỷ XIX trở đi. Kiến trúc xây, đắp, vẽ và tam quan được khởi dựng vào thời Bảo Đại (1926 – 1945) qua bàn tay tài hoa và óc thẩm mỹ của những hiệp thợ địa phương.
Đình Đồng Lý thờ danh nhân Sỹ Quyền. Thần phả ghi rằng “ Sỹ Quyền là người đất Trung Nguyên( Phương Bắc), vì tránh loạn Vương Mãng phải sang ẩn cư tại trang Đồng Lý, đạo Hải Đông thuộc đất Giao Châu (lãnh thổ Bắc bộ nước ta hiện nay)”. Sỹ Quyền theo Hai Bà Trưng tập hợp nhân dân nổi dậy đánh đuổi giặc Tô Định ra khỏi bờ cõi.
Truyền thuyết và thần tích lưu giữ tại Đồng Lý đã dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi Sỹ Quyền cùng đội dân binh trang Đồng Lý do ông dẫn đầu, tham gia khởi nghĩa: “ Trên đường đi cờ bay, gió thổi vạn dặm, chiêng trống vang rền như sấm động ngàn núi”. Trong trận quyết chiến tả xung, hữu đột ở Hồ Lãng Bạc, Sỹ Quyền đã anh dũng hy sinh giữa trận tiền. Tương truyền, xác ông trôi về đến bến sông thuộc địa phận trang Đồng Lý thì dừng lại, dân làng được báo mộng liền tổ chức an táng trọng thể theo nghi thức vương hầu. Xứ đồng nơi dân làng tiễn đưa Sỹ Quyền hóa sinh vào cõi vĩnh hằng nay vẫn còn trong di ngôn của các cụ già người địa phương.
Đình Đồng Lý, xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1993.
Khu vực: Huyện Thuỷ Nguyên
Địa chỉ liên hệ: Xã Mỹ Đồng huyện Thủy Nguyên

Chùa Thiên Phúc - Đồ Sơn

Theo lời truyền trong nhân dân, chùa Thiên Phúc được khởi dựng từ kỷ nguyên văn hóa Lý Trần. Trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên (thế kỷ 13) Đức Trần Hưng Đạo đã dẫn quân đi qua khu vực này; do đó khi người qua đời, nhân dân địa phương đã lập nơi thờ tự tại chùa như một vị bồ tát cứu dân độ thế.
Đến thời Lê – Trịnh, được sự tham gia của đông đảo nhân dân trong vùng, các vị sư đã đứng lên tu tạo tượng Phật , làm mới Thập điện minh vương. Tòa Phật điện cao ráo, tòa ngang dãy dọc khang trang mua sắm thêm đồ thờ. Trải qua quá trình lịch sử, chùa Thiên Phúc luôn là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng làng xã , cầu cho trời yên biển lặng, cuộc sống ấm no.
Từ khi có Đảng lãnh đạo, truyền thống yêu nước gắn bó đoàn kết trong cộng đồng lãng xã của các vị tu hành và nhân dân được phát huy mạnh mẽ. Sư sãi nhà chùa cùng tham gia chăm sóc bảo vệ cách mạng, hầu hết tại các khu vực sân vườn Tòa Phật điện đều có hầm bí mật cho cán bộ kháng chiến đi về hoạt động tại các cơ quan ủy ban kháng chiến khu Tả Ngạn, ủy ban kháng chiến Hải Phòng, huyện ủy Nghi Dương… nhiều lần giắc càn quét bắt bớ, nhưng cán bộ vẫn được nhà chùa bảo vệ an toàn.
Theo văn bản bia cũ chùa Thiên Phúc nơi tọa lạc của ngôi chùa ở nơi linh thiêng, hợp thuyết phong thủy: rồng chầu, hổ phục, phía trước có sóng nước dập dờn, xứng là nơi phát triển lâu dài, dân cư an lạc. Mặt chính của ngôi chùa quay hướng Tây, là hướng người ta tin rằng đây là hướng ổn định nhất, hợp với sự vận hành của âm dương. Cũng như nhiều ngôi chùa Việt Nam tồn tại cùng lịch sử xây dựng và phát triển làng xã địa phương, Chùa Thiên Phúc luôn trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư. Hội chùa được ghi nhớ, tổ chức đều đặn hàng năm vào 2 ngày mồng 6 và mồng 7 tháng Giêng với các hoạt động khóa lễ, dâng lễ phẩm nơi cửa Tam Bảo.
Nét nổi bật xuyên suốt quá trình tồn tại của ngôi chùa chính là nơi đoàn kết, gắn bó với truyền thống yêu nước, đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân. Sự tồn tại và phát triển của ngôi chùa chính là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của nhân dân địa phương từ kỷ nguyên văn hóa Lý Trần thế kỷ 12 – 13 còn in lại dấu vết qua các địa danh Tiểu Bàng, Đại Bàng.
Khu vực: Thị xã Đồ Sơn
Địa chỉ liên hệ: Bàng La - Đồ Sơn

Chùa Hoàng Pha

Chùa Hoàng Pha có tên là An Lạc Tự thuộc xã Hoàng Động, huyện thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Không chỉ thờ Phật, hiện nay tại tòa nhà tổ của Chùa còn có ban thờ 4 vị thành hoàng làng Hoàng Pha, được nhân dân nơi đây rất tôn kính, đó là 4 danh tướng thời Nhà Lý ( 1010 – 1225 ) có nhiều công lao chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước. Đặc biệt là công ơn đóng góp xây dựng quê hương Hoàng Pha, Hoàng Động của 3 anh em họ Lý : Lý Minh, Lý Khả, Lý Bảo và Nguyễn Quốc Hồng. Tên tuổi và sự nghiệp của họ gắn liền với quá trình phát triển của làng xóm nơi đây.
Chùa Hoàng Pha có niên đại xây dựng muộn nhất vào đầu thế kỷ XVIII. Trên chiếc trống bằng đá do nhân dân địa phương cúng vào chùa ghi rõ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 2 ( 1706 ) đã chứng tỏ điều đó . Chùa tọa lạc trên khuôn viên hình chữ nhật ( rộng khoảng 1300m2) xung quanh xây tường gạch, ngăn cách chùa với xóm làng, đồng ruộng....Chùa quay về hướng tây nhìn ra dòng sông Cấm, đó cũng là hướng nhìn về đất tổ của đạo Phật ( Tây Trúc).
Toàn bộ kiến trúc của chùa hiện gồm 4 tòa nhà, cấu trúc theo hình chữ “quốc”. Mặt trước là tòa nhà kiểu chữ “ đinh” gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. các bộ vì kèo có kết cấu ‘ chồng rường đốc thước” quen thuộc. Ba gian giữa lắp hệ thống cửa gỗ kiểu “ cửa thùng khung khách”. Tại gian đốc bên phải tòa tiền đường đatự bàn thờ Đức ông, gian bên trái đặt bàn thờ Mẫu, phía ngoài treo quả chuông đồng khá lớn cao 1,5m rộng 0,8m, niên đại ghi chuông là Tự Đức nguyên niên (1848).
Ba gian hậu cung đặt tòa Tam Bảo, thư stự trên cùng là bộ tượng tam Thế, tiếp đến là tượng A di đà; hàng thứ 3 giữa là Quan Âm “ nghìn mắt, nghìn tay”, bên phải là “ Đại thế chí Bồ Tát”, bên trái là “ Quan âm Bồ tát”, hàng thứ 4 giữa là “ Quan Âm chuẩn đề”, bên phải là Ananđà, bên trái là Quan Âm Thị kÍnh; hàng thứ 5 là tượng Ngọc Hoàng, hai bên là Nam Tào, Bắc Đẩu, cuối cùng là tòa “ Cửu long và Thích ca sơ sinh”. Nhìn chung ácc pho tượng Phật ở đây được tác đơn giản, đáng quan tâm hơn cả là 3 pho tượng Tam Thế và tượng Quan Âm chuẩn đề mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Chùa Hoàng Pha là công trình có qui mô khá lớn, còn bảo lưu được một số kiến trúc, tượng Pháp, đồ thờ có giá trị cần đượcquan tâm giữ gìn, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc ở địa phương. Chùa Hoàng Pha được Nhà nước xếp hạng di tích văn hóa năm 1992.
Khu vực: Huyện Thuỷ Nguyên
Địa chỉ liên hệ: Xã Hoàng Động - huyện Thủy Nguyên

Miếu Phương Lưu nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa

Tọa lạc trên diện tích không rộng, xen giữa các khu dân cư đông đúc Phương Lưu, phường Đông Hải nhưng ngôi miếu thờ vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, người chỉ huy cuộc chiến đấu thắng lợi trên sông Bạch Đằng năm 938, vẫn giữ được dáng vẻ tôn nghiêm. Ngôi miếu này có bố cục kiến trúc kiểu chữ “đinh” với 3 gian tiền đường, 2 gian hậucung,mái lợp ngói mũi hài quay theo hướng nam.
Trên các cánh đồng rường, vị nách, cón, bảy hiên, kẻ góc các mô típ nghệ thuật thời Hậu Lê như các hình đao, mác, rồng cách điệu, các đề tài truyền thống tượng trưng cho quyền lực của vị thần được thờ cũng như ước nguyện của người dân. Bên cạnh các đồ thờ tự quý sơn son thiếp vàng rực rỡ được làm từ thế kỷ 18, miếu Phương Lưu còn giữ 16 bản sắc phong của các triều vua: Lê Vĩnh Khánh(1792 – 1732); Vua Quang Trung( 1788 – 1792); Cảnh Thịnh ( 1793 – 1802); Gia Long( 1802 – 1820);...ca ngợi công đức của Ngô Quyền với đất nước.
Theo nội dung bản sắc phong cuả vua Tự Đức năm 1880, thôn Phương Lưu là một trong số 17 thôn xã ở vùng An Dương được phép dựng miếu thờ Ngô Quyền. Miếu Phương Lưu từ bao đời nay đã tồn tại như một chốn tôn nghiêm dành cho người anh hùng dân tộc được suy tôn là vị phúc thần của làng. Dưới mái đao cong cổ kính rêu phong, ngôi miếu hàm chức nhiều giá trị vật chất cũng như tinh thần với tư cách là một di sản văn hóa trên vùng đất và người năm xưa đã cùng Ngô Vương đánh giắc, khôi phục giang sơn.
Trải qua thời gian, nhân dân phường Đông Hải đã không ngừng ra sức trùng tu, tôn tạo, gìn giữ miếu Phương Lưu, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của các thế hệ hôm nay đối với bậc tiền nhân. Miếu Phương Lưu đã được Nhà nước xếp hạng di tích lich sử văn hóa năm 2001.
Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Phường Đông Hải - Quận Hải An

Đền Kha Lâm

Đền dựng ở thôn Kha Lâm, xã Nam Hà, trước là làng Kha Lâm, tổng Văn Đẩu huyện An Lão, nay thuộc phường Nam Sơn, quận Kiến An, cạnh đường Trần Nhân Tông. Đền thờ công chúa Chiêu Chinh, tên húy là Trần Thị Hinh, con gái vua Trần Thánh Tông và bà phi Trần Thị Hương, người trang Kha Lâm. Công chúa vốn phong tư tài mạo tuyệt trần, lại tinh thông văn võ nên được vua cha vô cùng yêu quý.
Khi tuổi thành niên, hạ giá với công tử Đỗ Khắc Hân.Nhưng chỉ được 3 năm phò mã bị bệnh qua đời. Công chúa một lòng thủ tiết sống trong cảnh cô đơn. mấy năm sau, nhân giặc Nguyên sang đánh nước ta lần thứ 2, có người hiến kế dùng mỹ nhân để hòa hoãn, vua cha gợi ý công chúa gánh vác việc này, nhưng công chúa xin về quê mẹ tu Phật. Vua cha thương tình chấp nhận.
Công chúa về Kha Lâm bỏ tiền nhà mở chợ,làm cầu sửa sang đường xá cho tiện việc mua bán của dân trong vùng; lại đem hơn trăm mẫu ruộng cấp đều cho dân cày cấy. Công chúa dựng một ngôi chùa ở thôn Đông Cao làm nơi tu hành. Thấy em dốc lòng làm việc thiện, nhu phí tốn kém, công chúa Chiêu Hoa và chồng là Thái học sinh Cao Toàn ở trang Phù Liễn đã giúp 12 mẫu ruộng tốt.
Từ khi có công chúa về định cư ở quê cũ, chăm lo việc thiện, dân làng đều được hưởng phúc lành, dân khang vật thịnh.Công chúa lại xin vua miễn giảm thuế khóa, lao dịch cho dân Kha Lâm. Khi vua Trần Nhân Tông truyền ngôi cho thái tử Thuyên ( Anh Tông ). Ngài chuyên nghiên cứu Phật giáo, lập ra thiền phái Trúc Lâm và được suy tôn là Trúc Lâm đệ nhất tổ.
Ngài vân du nhiều nơi để thuyết pháp, có lần đã đến chùa Mõ ở Nghi Dương ( Ngũ Phúc - Kiến Thụy ), nơi chị gái là công chúa Thiên Thụy Quỳnh Trân trụ trì và chùa Kha Lâm của công chúa Chiêu Chinh. Nhân dịp này, hai công chúa đã theo thượng hoàng Nhân Tông về cung Trung Hoa ở phủ Thiên Trường mở pháp hội ở chùa Phổ Minh, bố thí tiền bạc, vải vóc, thóc gạo cho dân nghèo các nơi về dự hội.
Sau công chúa qua đời ở chùa Kha Lâm, trước lúc lâm chung cho mời dân làng giao lại gia tư để dân làng cày cấy, riêng 12 mẫu ruộng liền khoảnh thì dùng vào việc mở mang chợ búa. Ngọc cốt công chúa được đưa về an táng tại lăng Bảo Đức, ấp An Sinh – huyện Đông Triều, quê gốc của nhà Trần.
Đền được dân khởi dựng từ đời Trần, qua nhiều lần trùng tu, trải qua kháng chiến chống Pháp rồi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đền bị hư hỏng nặng. Từ khi có đường lối đổi mới của Đảng, nhân dân địa phương và nhiều nơi đã góp công của dựng lại đền vẫn theo kiểu chữ “đinh” gồm hậu cung và 3 gian đại bái nhưng qui mô nhỏ, kiểu thức đơn giản. Đền Kha Lâm đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Quốc Gia năm 1992.
Hàng năm, nhân dân mở hội vào ngày thánh đản mồng 6 tháng 2 (âm lịch) và ngày thánh hóa mồng 3 tháng 5 ( âm lịch).
Khu vực: Quận Kiến An
Địa chỉ liên hệ: Phường Nam Sơn - quận Kiến An

Chùa Vẽ - Hải Phòng

Chùa Vẽ là ngôi chùa thờ Phật của làng Đoạn Xá, phường Đông Hải, quận Hải An – thành phố Hải Phòng hiện nay. Ngôi chùa nằm ở vị trí ngoại vi phía Đông thành phố, ngoài tên chữ Hoa Linh tự, chùa còn có tên nôm thường gọi là chùa Vẽ.
Người dân Đoàn Xá – Đông Hải đã từ bao đời nay gắn bó với ngôi chùa Vẽ của lãng xã mình và các vị thánh được thờ trong đó. Trong ký ức của người dân các địa phương về nét sinh hoạt văn hóa xã thôn trước cách mạng tháng tám năm 1945, thì Đình thường được nhắc đến nhiều hơn, nhưng ở Đoạn Xá chùa Vẽ được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa của người dân thuộc ba làng: Đoạn Xá, Thượng Xá, Vạn Mỹ ( nay đã chuyển thành phường ).
Hàng năm vào ngày mồng 4 tháng giêng, người dân lại mở Hội chùa tổ chức tế Đức ông. Trong ngày Hội ngoài việc thờ Phật, cúng Thánh rất trang nghiêm, trên sân chùa còn tổ chức nhiều trò vui chơi như: Hát Đúm, Hát ả đào, diễn chèo...; Từ ngày 15 đến hết ngày 24 tháng giêng, nhà Chùa còn tổ chức lễ “Dâng sao giải hạn” cho dân làng và thiên nam, tín nữ thập phương....
Đặc biệt chùa Vẽ luôn được coi là một di tích gắn bó liên quan chặt chẽ với Đền Phú Xá, Phủ Thượng đoạn là hai trong “ Tứ linh từ ” của Huyện An Dương xưa, nay là quận Hải An, cho nên trong những ngày hội lễ ở Phủ Thượng Đoạn ( từ mồng 1 đến 15 tháng 3) và đền Phú Xá ( từ mồng 1 đến 20 tháng 8) hàng năm Chùa Vẽ cũng mở cửa đón khách thập phương và là một điểm không thể thiếu trong tâm thế những người đi trẩy hội.
Khu vực: Quận Hải An
Địa chỉ liên hệ: Phường Đông Hải - Quận Hải An

Miếu Bảo Hà

Xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo có ngôi miếu tên gọi “ Tam xã thượng đẳng từ” nguyên là của 3 thôn xưa là : thôn Bảo Động, Hà Cầu và Mai An, nay hợp lại gọi là Bảo Hà. ở đây có nghề tạc tượng và múa rối đã trở thành bộ môn nghệ thuật độc đáo và được các triều đại ghi nhận. Thành hoàng của ngôi miếu là Linh Lang đại vương. Phối thờ với thành hoàng của làng là Nguyễn Công Huệ - ông tổ nghề tạc tượng, người có nhiều công khai nghiệp tạc tượng nổi danh.

Về lịch sử, Linh Lang đại vương là một danh tướng thời Lý ( 1010 - 1226). Theo sách “ Hà Nội nghìn xưa” có ghi “ Linh Lang đại vương chính là hoàng tử Hoàng Chân con vua”, do bà phi người làng Bồng Lai sinh ra ở trại chợ Thủ Lệ ( nay là khu Cầu Giấy).
Năm 1069, giặc Tống xâm lược nước ta, hoàng tử cầm quân chống giặc. Một lần, ngài hành quân tới trang Linh Động ( nay là làng Bảo Hà ) dựng đồn binh, luyện tập binh sĩ, mộ tuyển thêm quân. Khi ngài mất, dân làng xây miếu thờ ngay trên nền đồn binh xưa. Các triều đại sau như Cảnh Thịnh (1796), Tự Đức rồi Duy Tân, Khải Định đều phong sắc cho ngài là “ Thượng đẳng thần”.
Tưởng nhớ ngài, dân làng tạc tượng thờ và tôn là thành hoàng. Tượng Linh Lang đại vương trong hậu cung của “ Tam xã thượng đẳng từ” có nét đặc sắc mà các tượng khác không có là tượng ngài có thể cử động khi có người đẩy cửa vào hành lễ, tượng đứng dậy như có ý đón chào và lại ngồi xuống được . Đó là sự tài hoa của làng nghề tạc tượng, nghề múa rối. Nói đến nghề tạc tượng, dân làng Đồng Minh - Vĩnh Bảo đều nhắc tới vị tổ của nghề là ông Nguyễn Công Huệ với một thái độ kính trọng, bởi ông là người sáng lập, dạy nghề cho dân làng. Vì vậy dân làng tạc tượng ông phối thờ trong miếu.
Người đời truyền ngôn rằng: “Thưở giặc Minh đô hộ nước ta năm 1407 - 1472, chúng bắt một số thanh niên trai tráng trong làng đi phục dịch rồi đưa sang Quan xưởng ở Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Công Huệ”. Sống trong cảnh đất khách quê người, lòng ông vẫn luôn hướng về tổ quốc.
Trong thời gian ở đất Trung Quốc, ông chú tâm học hỏi nghề chạm khắc, nghề sơn mài và nghề châm cứu. Ông suy ngẫm, ghi nhớ và thuộc những thủ pháp bí truyền. Đến đời Lê Nhân Tông ( 1443 - 1459) Nguyễn Công Huệ và những nạn nhân chiến tranh khác được trở về Tổ quốc. Về tới quê nhà, ông mang tâm sức mở nghề, lập nghiệp truyền dạy cho nhiều người, ông được mọ người suy tôn là tổ sư nghề tạc tượng.
Hàng năm cứ vào ngày mồng 8, mồng 10 tháng Giêng cánh thợ tạc tượng, thợ sơn trong làng lại sửa lễ ra miếu Cả chiêm ngưỡng tổ sư, mọi người kính cẩn nhắc tới “ Đức tổ sư ta khi nhỏ sống ở nước Nam, tin sùng đạo Phật, khi lớn sang Bắc học được nghề tạc tượng, tài cao xuất chúng, nghề nghiệp tinh thông, về nước khai sáng nghề nghiệp”.
Trong số nhiều học trò theo học nổi danh có ông Tô Phú Vượng đã được vua Lê phong là “ Kỳ tài hầu”. Từ nhóm thợ tài ba làng Bảo Hà đã toả đi nhiều nơi, sáng tạo nhiều tượng thờ nổi tiếng khắp miền quê. Tại chùa Mía, chùa Thầy có nhiều bức tượng đẹp, sống động tục truyền rằng đó là tác phẩm của hiệp thợ Đồng Minh Vĩnh Bảo.
Miếu Bảo Hà có không gian kiến trúc không lớn nhưng dân làng còn lưu giữ được nhiều di tích quí, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc qua nhiều thế hệ của người Linh Động, Hà Cầu xưa. Dưới ánh nến , ánh đèn mờ ảo từ Long đình, bài vị, hương án đến các tượng quan văn, quan võ, tố nữ, ông phỗng…. đều lấp lánh màu son, sắc bạc của nghề sơn son thếp, sơn mài truyền thống, điêu luyện. Nổi lên trên tất cả là pho tượng điêu khắc khối tròn một cụ già rất đôn hậu, râu trắng như cước, ngồi thế thanh thoát, dáng vẻ thư thái mãn nguyện, đó là chân dung Nguyễn Công Huệ - ông tổ làng nghề, người có công dạy bảo bao lớp người thành danh nghề chạm khắc, sơn mài.
Tượng Nguyễn Công Huệ được bày ở vị trí cao nhất trên bàn thờ tả gian của nhà tiền Đường. Ngày nay, nghề làm tượng tạo những con rối ( rối cạn và rối nước ) vẫn được duy trì. Đó thực sự là nghề cổ truyền có ý nghĩa văn hoá truyền thống điển hình của một làng quê yêu nghệ thuật thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Miếu Bảo Hà xã Đồng Minh huyện Vĩnh Bảo được nhà nước xếp hạng năm 1991.
Khu vực: Huyện Vĩnh Bảo
Địa chỉ liên hệ: Xã Đồng Minh - huyện Vĩnh Bảo

Đình Kim Sơn - Di tích Cách mạn

Kim Sơn, một làng quê thuộc xã Tân Trào huyện Kiến Thụy là địa phương sớm có phong trào cách mạng. Năm 1944, phong trào Việt Minh ở nơi đây phát triển mạnh. Những cuộc biểu tình thị uy của nhân dân Kim Sơn khiến ngụy quyền trong vùng rất hoang mang, dao động. Chớp thời cơ đó, lực lượng cách mạng trong khu vực phủ Kiến Thụy và một số nơi khác đã phát động nhân dân địa phương đấu tranh xóa bỏ bộ máy ngụy quyền, thiết lập chính quyền cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa, tiêu biểu là ở Kim Sơn.
Tại đây ngày 12/7/1945, Việt Minh đã tổ chức mít tinh, thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng. Đây là tổ chức chính quyền cách mạng đầu tiên của tỉnh Kiến An và vùng Duyên Hải Bắc bộ. Lễ ra mắt Ủy ban dân tộc giải phóng tại đình Kim Sơn ngày 12/7/1945 được đông đảo nhân dân hưởng ứng.
Chiều ngày 12/7/1945, Ủy ban cách mạng Kim Sơn cùng các lực lượng tự vệ đến trường học xã Cổ Trai trấn áp cuộc họp của nhóm Thanh niên Đại Việt. Viên Tri phủ và bọn phản cách mạng phải đầu hàng và xin tha tội. Lá cờ Quẻ Ly của chính quyền thân Nhật bị hạ xuống. Cuộc họp của chúng đã trở thành diễn đàn tuyên truyền Cách mạng, vạch mặt bọn bán nước. Chính quyền cách mạng Kim Sơn ra đời làm cho giặc Nhật lo ngại một cuộc bùng nổ dây chuyền không thể ngăn được. Do vậy, giặc Nhật ráo riết chuẩn bị đàn áp phong trào cách mạng ở Kim Sơn.
Nhận định giặc Nhật sẽ tìm cách khủng bố Kim Sơn, các đồng chí lãnh đạo tổ chức tự vệ và nhân dân tích cực rào làng, luyên tập chiến đấu, tăng cường canh gác, phòng gian, củng cố căn cứ, đề cao tinh thần cảnh giác. Tại phái Bắc làng lập một công sự lớn. Lực lượng tự vệ chuẩn bị vũ khí thô sơ như gạch đá, nước điếu thuốc lào đóng chai, lọ, búa đanh, giáo mác, gậy, mã tấu, súng kíp, lao tre vót nhọn....tất cả những gì dùng cho tự vệ chiến đấu đều được sử dụng. Các hướng vào làng đều bố trí sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch.
Sáu giờ sáng ngày 4/8/1945, giặc Nhật gồm 50 tên lính Bảo An do 2 tên sỹ quan Nhật chỉ huy đi 2 xe Ca Mi Nhông từ Kiến An đến Kim Sơn. Phát hiện địch đến Đình Ngọc, tiếng trống nổi lên cùng với tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ ngân vang dõng dạc, tiếng thanh la, tiếng mõ, tù váuc liên hồi, rộn rã khắp làng, thúc giục ý chí chiến đấu của mọi người và đó cũng là hiệu báo cho các lực lượng tự vệ các nơi về ứng cứu. Các lực lượng tự vệ trong vùng như Đoan Xá, Lão Phong, Kính Trực, Sâm Linh, Cốc Liễn và từ Vinh Quang ( Tiên Lãng ) cũng hăng hái tiến về Kim Sơn góp sức chiến đấu chống phát xít Nhật bảo vệ chính quyền cách mạng.
Bằng ý chí kiên cường bất khuất, quân dân Kim Sơn đã chiến đấu quả cảm, suốt 5 giờ liền buộc giặc phải rút lui. Sau cuộc chống càn vang dội ấy, nhân dân và tự vệ Kim Sơn lại nhanh chóng kéo về giành chính quyền ở phủ lị Kiến Thụy và ở Tỉnh lỵ Kiến An cùng cả nước làm nên cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại. Đình Kim Sơn được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1986.
Khu vực: Huyện Kiến Thuỵ
Địa chỉ liên hệ: Xã Tân Trào huyện Kiến Thụy

Đền Thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo được nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991.
Nguyễn Bỉnh Khiêm thuở nhỏ tên gọi là Văn Đạt quê ở trang Trung Am, huyện Vĩnh lại, tỉnh Hải Dương. Ngày sinh của ông chưa có sách nào ghi cụ thể. Theo cuốn “ Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề - một danh nhân ở khoảng cuối đời Lê Trung Hưng người làng Mộ Trạch, tỉnh Hải dương thi đỗ tiến sỹ khoa Bính Thìn năm 1736 đời Lê Ý Tông, làm quan tới chức Đông Các hiệu thư thị tham chánh sơn Nam đã viết: “ Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 ( tức năm Tân Hợi 1491) lúc nhỏ vốn dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Năm 4 tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài nghĩa của kinh, mới đọc qua đã thuộc làu làu...”
Lớn lên được mẹ và thầy Dương Đức Nham dạy học. Sang tuổi trưởng thành, ông học thấy bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Do xã hội lúc đó nhiều biến động, mãi đến năm 44 tuổi ông mới dự thi thời triều Mạc. Cả 3 kỳ thi đều đỗ giải Nguyên Khôi. Kỳ thi Đình năm Ất Tỵ ( 1535) ông đỗ Trạng Nguyên và được nhà vua bổ làm Hiệu thư ở Viện Hàn Lâm, rồi Đại học sỹ tòa Đông Các. Ông làm quan cho nhà Mạc được 8 năm rồi dâng “ Thất trảm sớ” không được vua ưng thuận nên cáo lão từ quanvề quê mở trường dạy học, sang tác hàng nghìn bài thơ bằng chữ Nôm và chữ Hán.
Người đời tương truyền, ông có nhiều bài sấm ký bao quát tầm nhìn thời thế ứng nghiệm. Nhiều học trò theo học ông đã lừng danh như: Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Đinh Thời Trung, Trương Thời Cử...có người làm tới chức Tể tướng. Như vậy ông không chỉ là cây đại thụ về thơ văn mà còn là một nhà giáo lỗi lạc.
Mặc dù sống cuộc đời điền viên, vui thú cỏ cây hoa lá, ngâm thơ vịnh cảnh cùng môn sinh nhưng trong lòng ông vẫn đau đáu nỗi yêu nước, thương dân. Ông mất ngày 28 tháng Giêng mùa đông năm Ất Dậu ( 1585) niên hiệu Diên Thành thứ 9 đời Mạc Mậu hợp thọ 95 tuổi.
Triều đình nhà Mạc cử Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng vềdự lễ viếng và thay mặt vua tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc Công. Tháng Giêng năm bính Tuất (1586), vua Mạc ban cấp cho làng Trung Am 3000quan tiền để lập đền thờ ông, có gắn biển mang hàng chữ “ Mạc triều Trạng Nguyên Tể tướng từ” do nhà vua tự tay đề, đông thời giao cho địa phương 100 mẫu ruộng thờ ông.
Như vậy, đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nền đất cũ được xây dựng xưa nhất là năm 1586. Sau đó do biến động của lịch sử, ngôi đền đó không còn, sau này mới được dựng lại. Theo “ Công tiệp dư ký” của ông Vũ Phương Đề ghi: “ năm Vĩnh Hựu nguyên niên ( Ất Mão 1735 đời Lê Ý Tông) người trong làng vì nhờ Thị Đức của tiên sinh có dựng lại trên nền nhà cũ... người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân thu, hai kỳ đến tế lễ”
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười khi đến thăm đền đã ghi hàng chữ lưu niệm “ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn, một thầy giáo, một nhà triết học, một nhà dự báo, một danh nhân văn hóa như cây đại thụ bóng trùm cả một thế kỷ XVI. Tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết , nhân cách cao cả cùng với tri thức uyên bác và tài năng sáng tạo đã tạo nên sự nghiệp, uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của ông mà đến nay chúng ta rất đỗi tự hào, trân trọng”
Năm Mậu Thìn 1929 ( Bảo Đại thứ 3) dân làng quyên góp tiền bạc, công sức tu tạo lại ngôi đền. Tháng 9/1985, ngôi đền được thành phố chỉ đạo tu sửa, mở mang khuôn viên, sửa lại đường sá. Năm 1998, đền được nâng cấp tôn nền xây tường bao. Đặc biệt vào cuối năm 2000, kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, UBND thành phố Hải Phòng đã duyệt kế hoạch cho nanag cấp tạo dựng cả một vùng rộng lớn thành quần thể “ Di tích danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm” gồm: Quán Trung Tân, mộ phần Cụ Nguyễn Văn Định ( thân phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ) , khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, chùa Song Mai nơi phu nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tu hành. Đường đi được làm lại, khuôn viên, vườn cây lưu niệm được qui hoạch, cảnh quan thật khang trang ngoạn mục.
Khu vực: Huyện Vĩnh Bảo
Địa chỉ liên hệ: Thôn Trung Am - Xã Lý Học - Vĩnh Bảo

Từ Đường Họ Phạm

Từ Đường họ Phạm thôn Xuân Đài, xã Trường Thọ - huyện An Lão thành phố Hải Phòng là một công trình kiến trúc truyền thống do chính con cháu họ tộc lập nên để bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên của lớp hậu duệ. Ngày chạp tổ mười hai tháng giêng hàng năm, họ tộc tập trung về dâng hương tế lễ tiên tổ, khuyên bảo nhau tô đẹp thêm truyền thống dòng họ, cần cù lao động, đoàn kết thân ái trong nội tộc và cả cộng đồng làng xóm.

Từ Đường có niên đại xây dựng vào đời Nguyễn đầu thế kỷ 19, cùng một số cổ vật có giá trị đồng đại khác như bia đá 3 chiếc, đây là những văn tự có giá trị, khẳng định chủ quyền, quá trình tồn tại và phát triển của dòng họ trong cộng đồng làng xã địa phương. Trải suốt thời gian tồn tại, Từ Đường họ Phạm đã có nhiều đóng góp giúp đỡ, tạo điều kiện cho cán bộ kháng chiến, cán bộ các cơ quan dân chính Đảng của thành phố Hải phòng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc và giữ gìn bí mật,an toàn trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ thời kỳ từ 1965 – 1975.
Đây thật sự là một địa chỉ đỏ trong tâm khảm của thế hệ cán bộ, chiến sỹ lực lượngvũ trang nhân dân cùng một số cơ quan đoàn thể của thành phố Cảng hôm nay. Tại nội thất kiến thúc Từ Đường cũng như khu vực vườn cây bao quanh nhà thờ Tổ họ phạm, vẫn còn dấu vết hầm hố trú ẩn cho người hoặc nơi cất giấu phương tiện làm việc... có giá trị giáo dục truyền thốngcho lớp tẻ trong nội tộc và cộng đồng làng xóm về sự hy sinh cao cả của ông bà tổ tiên đối với sự nghiệp cách mạng cao đẹp của Đảng.
Từ trung tâm thành phố Hải Phòng đi quan quận Kiến An đi đến huyện lỵ An Lão, theo đường hựa An Lão Quán Trang độ 3 km gặp ngã ba chợ Khúc Gián, rẽ vào làng Xuân Đài. Từ Đường họ Phạm ở khu vực giữa làng Xuân Đài, giáp danh hai xóm 14 và 16. Làng Xuân Đài cách huyện lỵ An Lão 3 km và trung tâm thành phố Hải Phòng 24 km về phiá tây, thuận tiện cho mọi phương tiện giao thông đường bộ khi đến thăm di tích.
Khu vực: Huyện An Lão
Địa chỉ liên hệ: Thôn Xuân Đài - xã Trường Thọ - Huyện An Lão

Từ Đường Họ Mạc

Từ Đường họ Mạc tại thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng là một trong những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng. Vào thế kỷ 16, địa bàn làng Cổ Trai thuộc huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn, Trấn Hải Dương ( nay là xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy , thành phố Hải Phòng) được sử sách nước ta cũng như những câu chuyện lưu truyền trong dân gian nhắc đến như một chốn địa linh vì đây là nơi phát tích của dòng họ nhà Mạc mà người đầu tiên dựng nên đế nghiệp chính là Mạc Đăng Dung. Đồng thời nơi đây còn được biết đến với tư cách là kinh đô thứ 2 hồi thế kỷ 16 khi đế nghiệp của dòng họ Mạc đang thời thịnh trị.
Tuy nhiên không được may mắn như các vương triều Đinh – Lê; Lý – Trần và Lê sơ, vương triều Mạc và dòng họ Mạc đã phải nếm trải ngọn lửa thù hận dữ dội của nhà Lê – Trịnh. Dương Kinh ( cụ thể là địa bàn làng Cổ Trai) với các cung điện, Từ đường, đình chùa, mồ mả dòng họ gần như bị san phẳng hoàn toàn. Điều này đã gây không ít khó khăn cho hậu thế khi tìm về những giá trị vật chất cũng như tinh thần trên quê hương nhà Mạc. Vào thời nhà Nguyễn , đời vua Duy Tân thứ 10, những hâuk duệ của dòng họ Mạc đã quy tụ về chốn tổ, dựng lại miếu Đường để thờ cúng tổ tiên, lập bia đá để ghi rõ thế thứ tôn hiệu lưu truyền cho đời sau. Từ Đường họ Mạc được dựng lại từ ngày đó và tồn tại cho đến ngày nay.
Trước hết có thể nói đây là di tích vật chất ( loại hình kiến trúc) duy nhất còn lại trên vùng đất quê hương vương triều nhà Mạc. Vùng đất mang đậm những dấu ấn lịch sử về một vương triều phong kiến được sử sách ghi danh với cả vinh quang lẫn những oan khiên đã phần nào làm người đời sáng tỏ. Đồng thời khu vực Dương Kinh chắc chắn từ trong quá khứ, hiện tại và tương lai đã, đang và sẽ giành được sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu sử học mà còn của các cấp chính quyền của các ngành du lịch, đầu tư phát triển nhằm khôi phục Dương Kinh tương xứng với tầm vóc mà nó đã từng đóng vai trò quan trọng khi nhà Mạc còn cai quản đất nước ở thế kỷ 16.
Lễ hội truyền thống tại Từ Đường nhà Mạc diễn ra vào ngày 22/8 âm lịch hàng năm. Ngày này, con cháu di duệ họ Mạc kể cả những họ do nhiều hoàn cảnh khác nhau về lại mảnh đất Cổ Trai , dâng hương tại Từ Đường của dòng họ Mạc. Đây là dịp để các chi họ Mạc và chi họ gốc Mạc nhận nhau, bổ sung tư liệu quí về phả hệ của dòng họ mình. Trong đó có cháu chắt tổng đốc Hoàng Diệu, con cháu các nhà cách mạng Phan Đăng Lưu ( Nghệ An ) , Lều Thọ Nam ( Nhị Khê).
Khu vực: Huyện Kiến Thuỵ
Địa chỉ liên hệ: Thôn Cổ Trai - Xã Ngũ Đoan - Huyện Kiến Thụy

71. Đền Ngọc Sơn.

Đền Ngọc Sơn là một thắng cảnh nổi bật của hồ Hoàn Kiếm. Ngôi đền này được xây dựng trên nền của cung khánh Thụy do trịnh Giang (thế kỷ XVII) xây dựng ở dải đất xưa gọi là đảo Ngọc làm nơi nhà chúa ra hóng mát vào mùa hè.
Đến đầu thế kỷ XIX, cung Khánh Thụy không còn, trên nền cố cung này được xây một ngôi chùa đặt tên là chùa Ngọc Sơn. Sau ở chùa Ngọc Sơn còn thờ thánh Văn Xương là vị thánh trông coi về việc văn chương, khoa cử. Nhưng người dân Hà Nội đã tới chùa Ngọc Sơn để thờ thánh Văn Xương là vị thánh trông coi về việc văn chương, khoa cử. Nhưng người dân Hà Nội đã tới chùa Ngọc Sơn để thờ vọng Đức Thánh Trần là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300), anh hùng dân tộc ba lần làm tướng chỉ huy đánh giặc ngoại xâm ở thời Trần (1258, 1285, 1288), tác giả “Hịch tướng sĩ văn” bất hủ và sách “binh thư yếu lược”, đồng thời là một trong 10 vị nguyên soái vĩ đại nhất của lịch sử quân sự thế giới. Năm 1864 “thần Siêu” (nhà văn tiêu biểu Nguyễn Văn Siêu) bạn của “thánh Quát” (nhà thơ nổi danh Cao Bá Quát) đã chủ trì việc sửa sang cảnh quan Hồ Hoàn Kiếm, xây Tháp Bút có tạc ba chữ “Tả thanh thiên” (viết lên trời xanh) trên núi Ngọc Bội, cạnh đó có xây cửa cuốn làm Đài Nghiên trên đặt tảng đá hình một nghiên mực nho, quanh Nghiên có khắc bài minh. Qua Tháp Bút, Đài Nghiên thi đến cầu Thê Húc bằng gỗ luôn sơn màu hồng tượng trưng cho ánh nắng hồng đọng lại. Cầu Thê Húc dẫn đến Đắc Nguyệt lầu là đền Ngọc Sơn, ngôi đền gồm ba nếp, nếp đầu tiên ở ngoài là nhà Bái Đường, nếp giữa thơ Văn Xương, nếp trong cùng thâm nghiêm, cẩn trọng nhất thờ Đức Thánh Trần. Trước mặt nhà Bái Đường còn xây Trấn ba đình (đình Chắc Sóng). Đền Ngọc Sơn rực rỡ lung linh nhất vào các dịp lễ tết, hội hè, tết Nguyên đán, nơi thu hút người Hà Nội và khách du lịch trong và ngoài nước.

72. Đình Vạn Phúc.

Đình này được xây dựng trên nền đất xưa thuộc làng Vạn Phúc, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận. Đình này còn có tên là Vạn bảo, gọi theo tên một trại ở đây.
Nay đình Vạn Phúc nằm trong một ngõ nhỏ thuộc phố Đội Cấn, quận Ba Đình. Đình thờ Linh Lang Đại vương là hoàng tử Hoằng Chân, người tướng giỏi đã có công chống giặc Tống (năm 1077) ở trận sông Cầu (sông Như Nguyệt). Hội đình Vạn Phúc vào ngày 10 tháng Hai âm lịch. Đình Vạn Phúc có cỗ kiệu đặc biệt, to và có thể tháo rời cất vào hòm khi đã rước xong. Tại đình này còn chiếc trống lớn nhất ở Hà Nội, mỗi mặt trống phải căng cả cỗ da của con trâu mộng và khi đánh, dân “Thập tam trại” đều nghe thấy. Đình được công nhận di tích lịch sử - văn hóa năm 1992

73. Núi yên Tử - Chùa Hoa Yên.

Núi Yên Tử (An Tử sơn, 1.068 m) là "đất tổ Phật giáo Việt Nam" và là một thắng cảnh thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, thuộc vùng Đông Bắc của Việt Nam.
Trên đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày trước có tên gọi là Bạch Vân sơn.
Trung tâm Phật giáo Việt Nam
Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ( 1258-1308). Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách Thạch thất mị ngữ và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa nổi tiếng như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều... Tại trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334), vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.
Thắng cảnh
Từ Hà Nội có thể đi xe ô-tô vượt quãng đường 115 km, qua thị xã Uông Bí thì rẽ vào đường Vàng Danh, đi tiếp khoảng 9 km thì rẽ trái. Có thể lên núi Yên Tử bằng hai cách:
Theo đường cáp treo hiện đại vượt quãng đường trên 1.2 km lên tới độ cao 450 m gần chùa Hoa Yên. Với cách này có thể ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao với những cây tùng, cây đại hàng trăm năm tuổi xen lẫn trong những rừng cây xanh tươi và hít thở không khí trong lành.
Theo đường đi bộ dài trên 6 km đã được gia cố bởi hàng nghìn bậc đá xếp, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông.
Hành trình thăm viếng Yên Tử bắt đầu từ suối Giải Oan với một cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Cầu dài 10 m, có kiến trúc không cầu kỳ nhưng toát lên vẻ đẹp cổ kính, vững chãi. Tục truyền xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật. Vua Nhân Tông có rất nhiều cung tần và mỹ nữ. Họ đã khuyên ông trở về cung gấm nhưng không được nên đã lao mình xuống suối tự vận. Vua Nhân Tông thương cảm cho họ nên lập một ngôi chùa siêu độ để giải oan, từ đó con suối mang tên Giải Oan.
Trước sân chùa sum suê từng khóm loa kèn màu hoàng yến chen lẫn màu trắng mịn, xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.
Tiếp đó tới chùa Hoa Yên nằm ở độ cao 543 m với hàng cây tùng cổ tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên tu hành trên Yên Tử. Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu lẩn khuất trong mây bên triền núi. Sau điểm này là chùa Đồng, tọa lạc trên đỉnh Yên Tử cao 1.068 m. Chùa được khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê với tên gọi Thiên Trúc tự.
Đứng ở độ cao 1068 m trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát cả vùng Đông Bắc rộng lớn với những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long như một bức tranh, xa hơn là sông Bạch Đằng.
Dọc đường còn có một số điểm tham quan như Tháp Tổ, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên, các khu du lịch sinh thái Thác Vàng, Thác Bạc. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của chùa Lân mà đức Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông từng thuyết giảng chúng sinh. Đây là công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam.
Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng năm bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch).
Núi Yên Tử ở phía Tây thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có đỉnh cao 1068m. Chùa Hoa Yên thường gọi là chùa Cả, tọa lạc trên núi Yên Tử, ở độ cao 516m. Theo sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), chùa nguyên tên là Vân Yên, do Thiền sư Hiện Quang dựng vào cuối thời Lý. Kế tiếp là Thiền sư Đạo Viên, Thiền sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Diêu, Thiền sư Huệ Tuệ, Trúc Lâm Đại sĩ tức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1299) v.v... Điều Ngự Giác Hoàng cho mở chùa Vân Yên to rộng, tả hữu dựng viện Phù Đồ, lầu chuông trống, nhà dưỡng tăng, nhà khách, dưới sườn núi dựng nhà cửa suốt đến xứ Thanh Lương. Tăng đồ khắp nơi đến nghe giảng yếu chỉ Thiền Tông rất đông. Chùa Vân Yên trở thành trung tâm Phật giáo thời bấy giờ. Đến khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), Vua Lê Thánh Tông lên thăm chùa, thấy cảnh hoa nở đầy sân, bèn cho đổi tên là Hoa Yên. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng nhỏ. Trước chùa có Huệ Quang Kim tháp xây năm 1310 an táng xá-lợi Trần Nhân Tông và hơn 40 tháp lớn nhỏ khác, đều là tháp cổ đời Trần. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

74. Chùa Lôi Âm.

Ngôi chùa mới sửa lại màu ngói còn quá tươi, cột đá đỡ diềm mái dường như hơi tân kỳ quá... nhưng cái thần khí vẫn giữ đó, ngôi chùa nhỏ ẩn mình trên núi lớn, giữa ngàn mây, không lụy bụi trần.
Nằm ở khoảng giữa thành phố Hạ Long và thị xã Uông Bí, cách quốc lộ 18 chừng dăm cây số, trên một ngọn núi cao bên hồ nhân tạo Yên Lập có một ngôi chùa mang cái tên rất ... “Tây du” - Lôi Âm tự.
Đường lộ rải nhựa kết thúc tại một bến thuyền thưa thớt với chỉ dăm con thuyền tẻo teo và một quán hàng. Con đò máy của nhà chùa dùng đưa khách sang ngang là đồ vật hiện đại và có kích thước to lớn nhất ở đây. Vỏ ngoài sơn màu sáng và tiếng nổ phành phạch của nó có vẻ không mấy hợp với khung cảnh, nhưng ngay sau khi rời bến nó đã hòa vào bao la núi non sông nước. Những hòn đảo ngoi trên mặt hồ trước kia vốn là những đồi thông nên vào mùa nước lớn cây cao tràn ra khỏi mép đảo. Con đò cứ như lao thẳng vào khe núi, nhưng khi tới gần trời đất lại mở ra bao la. Trên những triền đảo thấp, làn sương mỏng lan trên mặt hồ rộng lau sậy phất phơ.
Cậu lái đò còn khá trẻ nhẹ nhàng từ chối khi chúng tôi có ý định lì xì đầu xuân: “Đò này của chùa, không thu tiền khách sang ngang. Nếu chư vị có lòng xin làm công quả mang gạch lên chùa”. Gạch đã được buộc sẵn từng đôi, không xách thì có thể treo toòng teng lên gậy mà khiêng, người nào sức dài vai rộng có thể bỏ dăm bảy cặp vào bao bố mà quảy, hệt như thầy trò Đường Tam Tạng vậy. Dăm chục bước chân đầu cảnh thơ, trời mát ai cũng đi phăm phăm.
Nhưng qua chừng hai ngọn đồi đã thấy chân chồn, mồ hôi vã. Hóa ra gạch không nặng, hành lý không nặng, chính cái xác phàm của ta lại là thứ nặng nề đáng ghét nhất. Một cụ bà khi nãy bị đám thanh niên bỏ lại sau giờ đã theo kịp, không dừng bước chân bà nói như chỉ đủ cho mình nghe: “Thư thư thôi các bác ạ, bằng ba thế này mới được nửa đường. Xin đức thánh chứng cho lòng thành thì đi nhẹ nhàng lắm...”. Kinh nghiệm các cụ quả đúng, đi chùa phải thư thả, nhẹ nhàng, miệng niệm nam mô thì chân leo mấy núi cũng xuể.
Qua chặng nghỉ giữa đường thì mệt nhọc cũng vơi đi nhiều phần, mùi nhựa thông ngào ngạt không gian, tuy không có tiếng suối reo hay vượn hót nhưng cũng đáng cho là chốn tiên bồng nếu như không có mấy bảng cảnh báo cháy rừng và yêu cầu giữ vệ sinh chung. Chặng đường thứ hai núi dốc hơn, chân đã chồn tới mức muốn “sụm bà chè” thì bỗng nghe tiếng chuông chùa âm âm, tiếng mõ ẩn hiện trong sương. Cũng phải một thôi đường nữa mới thấy rõ hình ngôi chùa tọa trên sườn núi cao, thử thách cuối cùng là ngót trăm bậc thang dốc đứng dẫn lên sân chính.
Không phải ngôi chùa tòa ngang dãy dọc, cũng không phải mây núi hùng vĩ làm ta choáng ngợp. Bỗng nhận thấy hai viên gạch mang công sức của ta chìm trong lớp lớp những viên gạch dưới sân chùa. Cây hương trước cửa chùa không cháy rừng rực, khói không tuôn làm chảy nước mắt người mà lan tỏa và nhẹ quyện vào lớp khói sương phảng phất dù đã sắp chính ngọ. Ngôi chùa mới sửa lại màu ngói còn quá tươi, cột đá đỡ diềm mái dường như hơi tân kỳ quá... nhưng cái thần khí vẫn giữ đó, ngôi chùa nhỏ ẩn mình trên núi lớn, giữa ngàn mây, không lụy bụi trần. Tương truyền chùa được lập cách đây đã nhiều trăm năm, do công của một hoàng tôn đời Lê.
Nghe rằng chùa linh lắm, vua chúa cũng không quản ngại xa xôi cách trở thường lui tới đây để cầu an, đặc biệt là cầu mưa thuận gió hòa. Trời khô nắng hạn đến mấy chỉ thỉnh lên một hồi chuông là mây vần tụ về, bão lụt đến mấy cũng mưa tạnh mây tản. Nơi đây cũng đã hình thành một hồ nước ngọt nhân tạo khổng lồ giúp tưới tiêu khắp một vùng sơn cước.

Khách lên chùa bắt đầu có người cầu chức, xin của và ngoài chùa chính còn giữ khí Phật, cách vài trăm mét người ta đã lập thêm miếu Bà, hang Cậu. Biết làm sao được, một đằng phải giữ tín ngưỡng dân gian, một đằng nữa các con nhang đệ tử lại là những người góp công quả nhiều nhất, tích cực nhất. Cơ chế thị trường đã lên núi từ lúc công nhân lâm trường được giao khoán chăm sóc và thu hoạch nhựa thông. Nhưng, như bà quản gia nhà chùa cho biết nếu không có sự tích cực của các tín chủ kết hợp với nhà chùa vận động đóng góp xây mới thì ngôi (chùa) cũ chắc năm qua đã sụp rồi, kể cả nhiều bức tượng Phật cổ cũng vậy.
Nấn ná mấy cũng phải tới lúc chia tay. Người ta thường nói lên khó xuống dễ, thêm nữa ưu phiền đã vợi hết, thân xác như thanh thoát hơn nhiều. Tiếng máy diesel phành phạch đưa tâm thức khách xuân trở về với thực tại, bến bên kia có hai xe du lịch vừa tới, có lẽ dân Hà Nội lên.

75. Chùa Long Tiên.

Tam quan chùa là một kiến trúc hiếm thấy, trên đỉnh được tôn trí một pho tượng Phật, bên dưới là gác chuông, ở đây có câu "Long tắc linh, Tiên tắc danh" (có Rồng thì thiêng, có Tiên thì nổi tiếng).
Chùa tọa lạc ở chân núi Bài Thơ, thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chùa được dựng vào thời Lý. Kiến trúc hiện nay được xây dựng vào năm 1941. Tam quan chùa là một kiến trúc hiếm thấy, trên đỉnh được tôn trí một pho tượng Phật, bên dưới là gác chuông, ở đây có câu "Long tắc linh, Tiên tắc danh" (có Rồng thì thiêng, có Tiên thì nổi tiếng). Bái đường và thượng điện kiến trúc hình chữ "Đinh". Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Đặc biệt có tòa Cửu Long hay tượng Thích-ca sơ sinh bằng gỗ thếp vàng đời Lê, cao 1,60m. Cung bên trái là điện thờ đức Trần Hưng Đạo, cung bên phải là điện thờ Vân Phương Thánh Mẫu. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

76. Chùa Quỳnh Lâm­ ­_Quảng Ninh

Chùa Quỳnh Lâm nằm trên đồi trong dãy núi vòng cung Đồng Triều, xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chùa được khởi dựng từ thời Lý.
Chùa Quỳnh Lâm nằm trên đồi trong dãy núi vòng cung Đồng Triều, xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chùa được khởi dựng từ thời Lý. Chùa từng là nơi trụ trì của nhiều vị Thiền sư danh tiếng như Quốc sư Nguyễn Minh Không (đời Vua Lý Thần Tông), Thiền sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương, vị tổ thứ 2 của phái Thiền Trúc Lâm (đời Vua Trần Minh Tông), Thiền sư Chân Nguyên (thời Hậu Lê)... và trở thành một trung tâm Phật giáo của cả nước từ lúc Thiền sư Pháp Loa lập Viện Quỳnh Lâm vào năm 1317. Ở sân trước chùa có nhiều tháp cổ, trong đó có tháp Tuệ Quang là tháp mộ Thiền sư Chân Nguyên dựng năm 1726. Đặc biệt, chùa còn giữ một tấm bia thời Lý cao 2,43m, ngang 1,54m khắc chữ hai mặt và một số di vật bằng đá, đất nung cổ. Chùa hiện được Đại đức Thích Đạo Quang tổ chức trùng tu mở rộng. Năm 1995, chùa đã xây nhà bia và nhà thờ Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Trên cở sở chùa Quỳnh Lâm cũ, năm 1316 Pháp Pháp Loa cho xây dựng và thành lập viện Quỳnh Lâm với một kiến trúc đồ sộ và hoàn chỉnh vào năm 1329. Quỳnh Lâm trở thành "Đệ nhất danh lam cổ tích của nước An Nam". Đây là nơi trung tâm truyền kinh giảng đạo và đào tạo hàng ngũ sư sãi cho đạo Phất, nhiều hội lớn có tiếng trong sử sách được tổ chức tại đây như hội" Thiên Phật bảy ngày, bảy đêm" (1352)...
Hiện ở sân trước chùa có nhiều tháp cổ, trong đó có tháp Tuệ Quang là tháp mộ Thiền sư Chân Nguyên dựng năm 1726. Đặc biệt, chùa còn giữ một tấm bia thời Lý cao 2,43m, ngang 1,54m khắc chữ hai mặt và một số di vật bằng đá, đất nung cổ. Chùa hiện được Đại đức Thích Đạo Quang tổ chức trùng tu mở rộng. Năm 1995, chùa đã xây nhà bia và nhà thờ Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Lễ hội chùa Quỳnh Lâm diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 4 tháng 2 âm lịch, nhưng không khí lễ hội diễn ra trong suốt 3 tháng xuân với lòng thành kính của tất cả các tín đồ Phật tử gần xa tín tâm về đây dâng hương lễ Phật.

77. Chùa Yên Tử.

Quần thể di tích Yên Tử có 11 chùa, rất nhiều am, tháp trải từ Bí Thượng (chân Dốc Ðỏ) đến chùa Ðồng. Ðường lên Yên Tử phải qua nhiều dốc và suối.
Yên Tử cách thị xã Uông Bí (Quảng Ninh) 14 km về phía Tây Bắc. Theo Thiền sử, Yên Tử là nơi ra đời và phát triển thiền phái Trúc Lâm với ba vị tổ: Trần Nhân Tông (1258-1308) pháp danh Ðiều Ngự Giác Hoàng, là ông tổ thứ nhất. Pháp Loa tôn giả (tên thật Ðồng Kiên Cương, 1284 -1330) là ông tổ thứ hai. Lý Ðạo Tái (1254 -1334 ) pháp danh Huyền Quang tôn giả, là ông tổ thứ ba.
Quần thể di tích Yên Tử có 11 chùa, rất nhiều am, tháp trải từ Bí Thượng (chân Dốc Ðỏ) đến chùa Ðồng. Ðường lên Yên Tử phải qua nhiều dốc và suối. Linh Ðộng Tự (chùa Lân), có 25 ngọn tháp bằng gạch và đá, đẹp nhất là tháp Tịch Quang (niên đại 1727), nơi giữ xá lị sư Tuệ Ðăng, người sáng lập ra chùa này. Vuợt dốc Dây Ðiều, Vá Quỳ đến gò đất rộng, bằng phẳng có 8 ngôi tháp trong đó có 3 tháp đá cao 3 tầng, ngọn cổ nhất có niên đại 1758. Khu Tháp Tổ rộng khoảng 3000m2, có 97 ngọn tháp. Giữa lăng là Tháp Tổ có tên Huệ Quang Kim Tháp, nơi giữ xá lị của Trúc Lâm Ðệ Nhất Tổ. Tháp gồm 46 tảng đá ghép, bệ tháp hình đài sen, 102 cánh, có pho tượng Ðức Ngài Ðiều Ngự bằng đá cẩm thạch, cao 62 cm.
Chùa Hoa Yên là nơi thờ Trúc Lâm tam tổ. Tượng Trần Nhân Tông lớn nhất đặt ở giữa hậu cung. Chùa có cây đại 700 tuổi. Sau chùa, có tháp Ðộ Nhân, xây bằng gạch tráng men, gần 8 thế kỷ dãi dầu mưa nắng mà vẫn bền màu. Vượt qua nhiều suối dốc nữa sẽ lên tới vị trí cao nhất của Yên Tử - bia chữ Phật cao 3m, rộng khoảng 2m. Gần bia là chùa Ðồng. Tương truyền, mỗi lần đánh chuông ở chùa Ðồng thì mây mưa kéo tới. Yên Tử xưa là trung tâm Phật giáo ở Việt Nam. Ngày nay, Yên Tử là di tích lịch sử, văn hoá rất có giá trị của Việt Nam.

78. Đền Voi Phục

Trong khuôn viên của Công viên Thủ Lệ có ngôi đền Voi Phục. Gọi là đền Voi Phục vì trước cửa đền có đặt tượng hai con voi đang phủ phục chầu.
Tên chính của đền là Linh Lang tự, nơi thờ thần Linh Lang (môt trong bốn vị thần trấn bốn cửa thành Thăng Long xưa). Theo Ngọc phả: Linh Lang là con thứ tư của Lý Thánh Tông, mẹ là Cảo Nương, vốn người làng Bồng Lai (Đan Phượng, Hà Tây) sống ngụ ở Thị Trại (Từ Liêm). Tuy là Cung phi nhưng bà vẫn được về nhà ở riêng. Một lần, bà đi tắm ở Hồ Tây bị rồng quấn lấy người, về nhà thấy có mang, và sinh ra Linh Lang. Khi quân Tống xâm lăng, vua cho sứ đi cầu hiền, chàng Linh Lang xin được cấp voi và cờ hiệu đi dẹp giặc. Chiến thắng trở về, chàng vẫn về Thị Trại với mẹ. Vua muốn nhường ngôi cho chàng, nhưng chàng từ chối. Ít lâu sau, chàng bị bệnh rồi chết và hóa thành rồng đen lặn biến xuống Hồ Tây. Thấy vậy, vua cho lập đền thờ ngay trên ngôi nhà Hoàng tử ở và phong Thần. Ngoài ra vua còn ban lệnh miễn mọi việc công ích, tạp dịch cho dân Trại, để họ chuyên lo việc cũng tế ở đền, vì thế nên Trại được đổi là Thủ Lệ (giữ lệ cúng tế). Linh Lang là Hoàng tử thời Lý khác với Uy Linh Lang là Hoàng tử thời Trần thờ ở đền cũng tên là Voi Phục phía trên Thụy Khuê, hai đền có rước giao hiếu, giao lưu.
Trong đền có hai tượng đồng, hòn đá to có vết lõm (tương truyền là do rồng quẫy khi biến xuống Hồ). Đường vào đền vẫn giữ được nét cổ của một cánh rừng xưa, với những cây muỗm, cây si và những bụi mía to ở phía sau. Đền nằm trong khuôn viên của một vườn hoa mới lập, đã tôn lên sự hài hòa của một cảnh xưa cổ kính, bên cái hiện đại hoa lệ

79. Đình Hoàng Mai

Tên một ngôi đình ở làng Hoàng Mai, nay là phường Hoàng văn Thụ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Đình được xây dựng trên đất Hoàng Mai vốn là trung tâm của thái ấp Kẻ Mơ do Thượng tướng Trần Khát Chân xây dựng và ở 10 năm (1389 – 1399). Đình thờ Thượng tướng Trần Khát Chân và em là Trần Hãng (còn gọi là Trần Hương), do đó ở làng Hoàng Mai có tục kỵ húy, xưa không gọi là “chân” mà nói cẳng, không gọi “hương” mà nói nhang. Con trai độc nhất của Thượng tướng là Trần Thông sau cũng là một tướng trẻ thời Lê, có công đức với dân nước, được thờ làm thành hoàng làng ở Khúc Thủy (Hà Tây). Đình Tương Mai (Hà Nội) và 29 đình của 29 làng khác cùng với đình Tam tổng là Bình Bút – Nam Cai – Đốn Sơn (Thanh Hóa) cũng thờ Thượng tướng Trần Khát Chân làm thành hoàng.

80. Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa thường gọi là chùa Đức La, tọa lạc ở thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chùa được dựng vào thời Trần, là một trung tâm lớn của Phật giáo Việt Nam.
Chùa từng là nơi thuyết pháp của Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) và là nơi đào tạo, định chức danh các tăng sĩ thời Trần. Ca dao cổ có câu: Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành. Kiến trúc chùa ngày nay khá bề thế với diện tích khoảng 10.000 mét vuông gồm tam quan, chùa Hộ, nhà thiêu hương, chùa Phật, nhà tổ, gác chuông hai tầng mái và nhà trai. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết chùa có từ thời Lý, được xây dựng qui mô, sau bị binh hỏa đổ nát. Địch Vũ Hầu Nguyễn Thọ Cường hưng công tu sửa chùa vào năm 1606. Đến đầu thời Nguyễn, chùa lại được đại trùng tu: tượng Phật, tượng 3 vị tổ Trúc Lâm và nhiều bức chạm khắc có giá trị nghệ thuật được sáng tác trong lần trùng tu này. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

81. Chùa Tam Thanh

Chùa tọa lạc ở phường Tam Thanh, thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chùa được dựng từ thời Hậu Lê, trong động Tam Thanh.
Chùa có pho tượng đức Phật Di-đà cao 2,20m, được tạc nổi vào vách đá. Đối diện với động Tam Thanh là hòn Vọng Phu nổi tiếng với truyền thuyết nàng Tô Thị đã ngóng chồng hóa đá đứng giữa trời. Gần động Tam Thanh còn có hai động Nhất Thanh và Nhị Thanh. Ở các động đều có bút tích của Ngô Thì Sĩ (đời Vua Lê Hiển Tông). Ở khu vực này còn có phố Kỳ Lừa và sông Kỳ Cùng, đã tạo thành một bức tranh sơn thủy hữu tình của xứ Lạng : Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

82. Chùa Thành

Chùa thành: một di tích lịch sửvăn hóa Quốc Gia, nơi trung tâm của Phật giáotỉnh Lạng Sơn. Chùa Thành đã được xếp hạng: Di Tích Lịch SửVăn Hóa Cấp Quốc Giavào năm 1993.
Tọa lạc bên con sông KỳCùng thơmộng, bảng lảng sươngmờ, soi bóng ngôi cổtựuy nghiêm nhưvẽlên giữa trùng điệp sơn khê một bức họavới gam màu thủy mặc.
Chùa Thành tên chữlà Diên Khánh tự( do chùa nằmcạnh Đoàn Thành phía Bắc lên từxưa mọi người vẫn quen gọi là chùa Thành) có từ khoảng thếkỷXV, trước kia thuộc Châu Ôn và có tên là Hương Lâm Tự( Năm 1796chùa được trùng tu và đổi tên thành Diên Khánh Tự)
Nằm cạnh con sông Kỳ Cùng và bến đò Thạch Độ( cầu KỳLừa bây giờ) với một vịtrí phong thủy hữutình, ngôi cổtựnhưsoi bóng xuống dòng sông trong xanh, hòa quyện tiếng chuôngchiều trầm ấm ngân nga, làm cho người ta nhưvơi đi bao não phiền trần thế.
Khi xưa, mỗi lần các sứthần của hai nước Việt Trung qua lại thì đều vàochùa dâng hương lễPhật, cầu nguyện bình an, trước khi qua sông đem theo sứmệnhcủa mình cho công tác bang giao.
Từphía ngoài nhìn vào là cổng Tam Quanchồng diêm lớp lớp với 24 mái, lợp ngói mũi hài và các đầu đao cong vút. Với lốikiến trúc cổtruyền của Phật giáo miền Bắc, lại càng tôn thêm vẻuy nghiêm cổ kính của chốn thiền môn, làm cho ta nhưđang đi vào cõi thiền an tịnh.
Trên mái chùa, nhưng con giống như: Long, Ly, Quy,
Phượng đượcđắp vẽcông phu, uyển chuyển cho ta cảm giác nhưcác con vật đang bay đang chạy.Toàn bộcác câu đối phía ngoài bằng chữHán được gắn bằng sứhết sức tỉmỉ, côngphu, các cánh cửa chùa chạm trổtinh xảo với những cảnh tứlinh, tứquý, tùnghạc diên niên, tứbình và các hoa sen, bánh xe Pháp luân, bàn tay Phật… chứng tỏ những bàn tay tài hoa của những nghệnhân chạm khắc. Các hồi chùa được đắp vẽ cầu kỳ, mái xếp mái với bao tích chuyện Phật giáo và những họa tiết, hoa văn…cho người ta cái cảm giác tâm linh an lạc
Chùa được chia ra có hậu cungthờPhật, Bái Đường, Phương Đình, Tiến Đường, Tam Quan, TổĐường, Hậu Đường… vớitất cảlà 38 gian lớn nhỏ.
Bước chân vào chùa, ta sẽcó cảm giác như đang lạc vào chốn Tây Phương Cực Lạc khi tất cảhệthống nội thất của chùa đượctrang trí và bốcục hết sức tinh vi, cổkính.
Toàn bộhệthống tượng thờ của chùa được đúc bằng đồng vàng nguyên khối với trên 40 pho tượng lớn nhỏ. Đâylà ngôi chùa duy nhất trên toàn Quốc có đầy đủhệthống tượng Phật thờtheo lốiPhật giáo Bắc Tông được đúc toàn bộbằng đồng nguyên khối.
Ngôi Đại HùngBảo Điện uy nghiêm nhưng gần gũi, làm cho ta có cảm giác nhưđang được diện kiếnChưphật, BồTát, Thánh Tăng.
Hệthống hoành phi câu đối của chùa đượcđục chạm cực kỳtinh xảo và sơn son thiếp vàng, có những bộhoành phi câu đối cóniên đại mấy trăm năm. Trongchùa hiện lưu giữquảchuông, được đúc từnăm 1671triều vua Lê Hiển Tông nặng 600kg.
Hệthống mái chùa được trạm đục tỉmỉ theo lối “ thuận chồng bẩy con’’ với các đầu Phượng đỡtoàn bộhoành và các kèo,bẩy đục chạm tùng, cúc, trúc, mai vô cùng tinh tế. Các cột gỗlim to một ngườiôm cao 9m được đặt trên các chân tảng đá xanh và nền chùa lát gạch bát tràngcàng tôn thêm nét cổkính. Các cửa sổởđây cũng được thiết kếhết sức khoa họcvà đậm chất Á Đông khi cửa sổngoài tròn, trong vuông tượng trưng cho âm dương,trời đất. Cánh cửa cũng được làm nhưmột bức tranh tứbình, tứquý mỗi khi đónglại tạo cảm giác nhẹnhàng cho các cửa sổvà giữđược nét cổkính nguyên sơ. Hệ thống chiếu sáng của chùa cũng được bốtrí hài hòa, phụhọa cho kiến trúc củachùa, tạo cảm giác thiêng liêng làm cho ta thấy nhưnhỏbé trước Đức Phật uynghiêm và nhưchút bỏmọi nhọc nhằn phiền não.
Tại Tam Quan của chùatreo một quảchuông nặng 2100kg mới được đúc năm 2007 đểsớm hôm chiêu mộ. Tiếngchuông trầm ấm ngân nga, bay xa hàng chục km và bạn sẽthấy thanh thoát tâm hồnnếu nhưmột lần bạn được nghe tiếng chuông chùa Thành hòa vào thinh không khichiều buông, sương phủmờtrên mặt sông KỳCùng thơmộng.
Chùa đượctrùng tu nhiều lần vào các năm 1796 – 1947 – 1967 – 1980 – 1992 và đặc biệt vàonăm 2004 chùa được phép đại trùng tu và có được toàn cảnh nhưngày nay.
Chùa Thành hiện nay là trụsởcủa Phật giáo tỉnh Lạng Sơn. Là trung tâmvăn hóa Phật giáo của toàn tỉnh. Vào các ngày lễcủa Phật giáo và các chiều Chủ Nhật, có rất đông tín đồPhật tửđến đểnghe giảng và tu học. Đặc biệt vào cácdịp lễhội như: Hội Bắc Lệtháng chín, Hội Đầu Pháo TảPhủ, KỳCùng, có rất đôngQúy khách thập phương tới chùa chiêm bái, cầu phúc.

83. Chùa Tiên

Chùa Tiên Chùa thường gọi là chùa Song Tiên, tọa lạc ở phố Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Chùa nằm ngang chừng núi Đại Tượng (lên 64 bậc cấp), quả núi đá có hình con voi nằm về phía Nam thị xã Lạng Sơn, cách cầu Kỳ Cùng khoảng 500m, trên đường đi Mai Pha. Chùa được lập vào thời Lê Thánh Tông, thờ Phật, Tiên. Sự tích của chùa qua các chuyện kể dân gian đều tập trung vào Ông Tiên ngự trên núi, đã dẫm chân xuống đá biến thành giếng Tiên có đầy nước trong vắt cho dân làng dùng trong những năm hạn hán. Có truyền thuyết khác kể về hai ông Tiên ngồi đánh cờ đến sáng không về trời, đã hóa đá... Chùa nằm trong động, chính giữa thờ chư Phật, Bồ-tát. Cung bên phải thờ vị anh hùng Trần Hưng Đạo, cung bên trái thờ Thánh Mẫu. Động còn giữ bút tích của Ngô Thì Sĩ ghi trên bia đá. Lễ hội chùa Tiên hàng năm vào ngày 18 tháng giêng (âm lịch). Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

84. Chùa Dâu

Chùa Dâu, còn có tên là Diên Ứng ,Pháp Vân hay Cổ Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Duyên ứng tự. Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân ("mây pháp"), chùa Đậu thờ Pháp Vũ ("mưa pháp"), chùa Tướng thờ Pháp Lôi ("sấm pháp"), chùa Dàn thờ Pháp Điện ("chớp pháp") và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần.
Chùa Đậu tại vùng Dâu đã bị phá hủy trong chiến tranh nên pho tượng Bà Đậu được thờ chung trong chùa Dâu.
Lịch sử
Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962.
Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn, Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.
Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Hiện nay, ở tòa thượng điện, chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời nhà Trần và thời nhà Lê.
Kiến trúc
Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật
Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt Nam, chùa Dâu được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Tiền đường của chùa Dâu đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương; Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam châu Thái tử, Mạc Đĩnh Chi. Thượng điện để tượng Bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp Vũ), và các hầu cận. Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức ông, Thánh tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính.
Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Ở gian giữa chùa có tượng Bà Dâu, hay nữ thần Pháp Vân, uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun, cao gần 2 m được bày ở gian giữa. Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ. Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá, tương truyền là em út của Tứ Pháp.
Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Những tượng này đều có niên đại thế kỷ 18.
Bên trái của thượng điện có pho tượng thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tượng được đặt trên một bệ gỗ hình sư tử đội tòa sen, có thể có niên đại thế kỷ 14.
Chùa Dâu nhìn từ tam quan, tháp Hòa Phong ở chính giữa
Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp". Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Trong tháp, treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6 m ở bốn góc. Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán.
Có câu thơ lưu truyền dân gian:.
Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Ngày hội chùa Dâu được tổ chức rất long trọng và quy mô, tuyến hành hương về nơi đất Phật còn mở rộng tới chùa Phúc Nghiêm - chùa Tổ - nơi thờ Phật Mẫu Man Nương

85. Kể Chuyện Lịch Sử Việt Nam - Lý Bát Đế:

Triều Lý, khởi nghiệp từ Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) truyền tới Lý Hạo Sảm (Lý Huệ Tông) kéo dài 214 năm, bao gồm 8 vị vua cầm quyền mà dân gian quen gọi là Lý Bát đế. Cách gọi này của dân gian ngụ ý không kể tới vị nữ vương Lý Chiêu Hoàng, mới có 9 tuổi, lên ngôi trên danh nghĩa trong một thời gian ngắn, mọi việc triều chính chủ yếu do Trần Thủ Độ cùng các quan đại thần nắm giữ. Điều này dẫn đến cuộc đảo chính êm ả giành ngôi vị dưới bàn tay đạo diễn của Thái sư họ Trần, Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, và lịch sử đã sang trang với sự phát triển, hưng thịnh của một vương triều mới.
Nhìn lại lịch sử, 8 vị vua triều Lý đã có công lớn đối với dân tộc, đặc biệt là vị vua đầu triều khi ông quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La rồi định đô ở Thăng Long. Đây là một nơi có thế rồng cuộn, hổ ngồi, chính giữa nam, bắc, đông, tây, tiện nghi núi sông sau trước, một nơi tươi tốt, phồn thịnh, đáng là kinh đô mãi mãi muôn đời để tư đó, đất nước ta cất cánh bay lên. Nhà vua tỏ ra có cái nhìn văn hoá, địa lý, lịch sử, con mắt kinh tế của bao quát sâu xa, và việc dời đô này đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc.
Các vua Lý cho xây nhiều cung điện, đền chùa, đắp lại La Thành, xây thêm hoàng thành, cấm thành. Cả nước chia thành 24 lộ, dưới là các huyện (quận), hương (giáp) và lập ra các châu ở miền núi. Các vua Lý rất chú trọng phát triển nông nghiệp, cho đắp đê Cơ Xá và thường cày tịch điền để động viên dân chúng gắng sức làm nghề nông.
Về văn hoá - giáo dục, các vua Lý đã tổ chức thi để tuyển chọn quan lại và khoa thi minh kinh bác học được tổ chức lần đầu tiên dưới triều Lý nhằm tìm ra hiền tài giúp nước. Văn Miếu - trung tâm văn hóa giáo dục cũng được lập ra dưới triều này. Nhà Lý còn thường xuyên chăm lo phát triển khối đoàn kết dân tộc, gả các công chúa cho các tù trưởng nhằm mở mang bờ cõi, tạo nên phên dậu, giữ vững biên giới, chống ngoại bang xâm lấn, cướp đất. Cùng với việc xây dựng đất nước, nhà Lý còn có công tổ chức kháng chiến chống Tống thắng lợi và mở một lãnh thổ xuống phía Nam. Sau này, miếu thờ 8 vị vua đời Lý được gọi là đền Lý Bát đế hay đền Đô, ở xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, nơi phát tích của họ Lý Ngôi đền này đã được dân chúng bao đời hương khói quanh năm.

Cuốn sách "Lý Bát đế" kể về cuộc đời của tám vị vua triều Lý, các câu chuyện dã sử, truyền thuyết về một số địa danh và nhân vật lịch sử triều Lý.

Đền Lý Bát Đế, còn gọi là Đền Đô hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý. Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà Lý.
Với vị thế, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Việt và in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đền Lý Bát Đế đã được Nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử - văn hóa theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóa-Thông tin cũ, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 25/01/1991
Đền Lý Bát Đế thuộc xóm Thượng, làng (xã) Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đền nằm trên vùng đất "địa linh nhân kiệt" Đình Bảng, cách thủ đô Hà Nội gần 20 km về phía Bắc, thuộc địa phận hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay) nên còn gọi là đền Cổ Pháp.
Đền thờ tám vị vua nhà Lý, đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (1128-1138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224).
Từ xa xưa, Cổ Pháp được liệt vào làng "tam cổ": "Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp". Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí, linh thiêng. Làng Cổ Pháp là nơi phát tích của triều đình nhà Lý, kéo dài hơn 200 năm.
Đền Lý Bát Đế được khởi công xây dựng từ ngày 3 tháng Ba năm Canh Ngọ 1030 bởi Lý Thái Tông khi vị hoàng đế này về quê làm giỗ cha. Sau này, đền được nhiều lần trung tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm thứ hai niên hiệu Hoàng Định của vua Lê Kính Tông (tức năm 1620), khắc văn bia ghi lại công đức của các vị vua triều Lý.[1]
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đã phá hủy nhiều di sản văn hóa ở Cổ Pháp. Năm 1952, quân Pháp dội bom, phá hủy hoàn toàn đền. Đến năm 1989, đền đã được khởi công xây dựng lại, theo đúng hình dáng và kiến trúc mà các nhà nghiên cứu lịch sử đã phác thảo, căn cứ vào dấu tích còn lại và các tài liệu lưu trữ.
Kiến trúc
Thủy đình của Đền Đô
Đền Lý Bát Đế rộng 31.250 m², với trên 20 hạng mục công trình, chia thành 2 khu vực: nội thành và ngoại thành. Tất cả đều được xây dựng công phu, đắp vẽ chạm khắc tinh xảo.
Khu vực nội thành có kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc". Cổng vào nội thành gọi là Ngũ Long Môn vì hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Trung tâm của Khu nội thành và cũng là trung tâm đền là chính điện. Chính điện gồm trước tiên là Phương đình (nhà vuông) 8 mái 3 gian rộng đến 70 m². Tiếp đến nhà Tiền tế 7 gian rộng 220 m². Tại đây có điện thờ vua Lý Thái Tổ. Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại "Chiếu dời đô" của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư...". Sau cùng là Cổ Pháp điện gồm 7 gian rộng 180 m² là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý. Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba gian bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông; ba gian bên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông.[2]
Trong nội thành còn có nhà chuyển bồng, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để ngựa thờ. Đặc biệt, phía Đông đền có nhà bia, nơi đặt "Cổ Pháp Điện Tạo Bi" (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm, được khắc dựng năm Giáp Thìn (1605), do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền và ghi công đức của các vị vua triều Lý.
Khu ngoại thất đền Lý Bát Đế gồm thủy đình trên hồ bán nguyệt. Đây là nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu diễn rối nước. Hồ này thông với ao Cả trên và ao Cả dưới và sông Tiêu Tương xưa. Thủy đình ở phía Bắc hồ rộng 5 gian có kiến trúc chồng diêm 8 mái, 8 đao cong. Thủy đình đền Lý Bát Đế từng được Ngân hàng Đông Dương thời Pháp thuộc chọn là hình ảnh in trên giấy bạc "năm đồng vàng". Nhà văn chỉ ba gian chồng diêm rộng 100 m² nằm bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý. Nhà võ chỉ có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, ở bên phải khu nội thành thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc, những quan võ đã có công lớn giúp nhà Lý. Ngoài ra, ở khu vực ngoại thành còn có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng), v.v...
Bát Đế vân du
Hoành phi liên hoa bát diệp (tám đời như tám bông hoa sen), trong đền còn có bức hoành phi "Bát diệp trùng quang" (tám đời cùng sáng)
Trong khi hướng dẫn du khách tham quan, các cụ trong Ban Quản lý di tích đền kể lại, không phải chỉ một lần, vào những ngày giỗ các vị vua Lý, trên nóc đền thường xuất hiện 8 đám mây trắng xếp thành một dải nối tiếp nhau. Đám mây hiện hữu khoảng mươi, mười lăm phút rồi mới tản ra. Những người dự lễ xôn xao bàn tán. Các cụ bảo, đó là linh hồn 8 vị vua Lý hiện về. Lại nữa, vào đúng ngày Lễ hội đền Đô năm 2003 (15-3 âm lịch - ngày Lý Công Uẩn đăng quang), những người dự lễ hội tại đây đã chứng kiến một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ: Một dải mây hình rồng vàng từ phía Thăng Long - Hà Nội bay về đứng lên nóc đền một lúc rồi tản ra, đúng lúc dân làng Đình Bảng bắt đầu lễ rước "Linh bài Lý Thái Tổ và Chiếu dời đô ra Thăng Long" theo nghi lễ cổ truyền... Những câu chuyện và hình ảnh ấy được ghi chép, chụp ảnh và lưu lại trong những tài liệu về đền Đô. Các nhà khoa học giải thích, đó chỉ là sự trùng hợp kỳ lạ của thiên nhiên. Nhưng với người dân Đình Bảng, điều đó có nghĩa là các vị vua nhà Lý vẫn luôn hiện diện đâu đó trên mảnh đất quê nhà.
Hội Đền
Đền là trung tâm thờ các vua Lý với nhiều nghi thức rất trọng thể trong các dịp lễ hàng năm, kỷ niệm ngày mất của các vị vua. Đặc biệt lễ hội đền Đô được tổ chức vào các ngày 15, 16, 17 tháng 3 âm lịch nhằm kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3 năm Canh Tuất 1010). Đây là ngày hội lớn mang tính quốc gia, thu hút hàng vạn khách hành hương thể hiện lòng thành kính và nhớ ơn của người dân Việt đối với các vua Lý. Đó còn là lễ hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân xã Đình Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.

86. chùa Phật Tích Bắc Ninh

Chùa Phật Tích nằm trên sườn nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên) thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, xã Phật Tích đã nằm trong địa bàn diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ. Trên cơ sở đó hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của đất nước (trung tâm Dâu - Luy Lâu). Và nhà sư Ấn Độ Khâu-đà-la đã về đây dựng chùa và truyền đạo. Nhưng phải đến đời Lý (1010-1225) thì chùa Phật Tích mới được xây dựng với qui mô lớn. Chùa Phật Tích được triều Lý ưu ái đặc biệt bởi nó nằm trong vùng văn hóa lâu đời của xứ Kinh Bắc, quê hương của vua Lý.
Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên trên sườn núi.
Vì Phật Tích là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng và là nơi cảnh quan tươi đẹp lại gắn với hàng loạt những câu chuyện huyền thoại, nên các vua Lý và sau này là các vua Trần thường xuyên lui tới thăm viếng. Năm 1071, Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 mét, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích, bà Ỷ Lan có vai trò đặc biệt quan trọng. Để ghi nhận công lao của bà, ở thôn Vĩnh Phú lập đền thờ bà gọi là đền bà Tấm.
Sang thời Trần, Phật Tích vẫn là ngôi chùa lớn, một đại danh thắng. Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ). Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.
Trải qua thời gian, chùa Phật Tích bị tàn phá nặng nề. Vào thời Lê, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn và đổi tên là Vạn Phúc tự. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: "Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, đầu rồng và tay rồng với tới trời sao". Chùa được kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền. Phía sau chùa là khu vườn tháp gồm 39 ngọn xây bằng gạch và bằng đá (nay còn 34 ngọn).
Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá, hư hỏng nhiều. Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A di đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, Nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử - văn hóa. Sau đó nhân dân trồng phía sau chùa một khu rừng với trên một vạn cây thông và cây bạch đàn, và trồng ở trước cửa chùa vườn cây ăn quả. Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị tam thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian nhà thờ Mẫu.
Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh đu, hát quan họ...
Chùa Phật Tích, một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, cho đến nay vẫn còn giữ được nhiều di vật cổ quý giá. Bức tượng Phật A di đà bằng đá xanh ngồi trên tòa sen cao 1,87 m, một tác phẩm điêu khắc đặc sắc của nền mỹ thuật nước nhà nói chung và nghệ thuật tạc tượng nói riêng. Tượng người chim đánh trống, một nhân vật thần thoại, thể hiện ước mơ thoát tục và khát vọng vươn tới của con người. Đặc biệt, phía trước chùa Phật Tích có một hàng thú 10 con: tê giác, trâu, voi, sư tử, ngựa... to lớn. Tất cả các di vật cổ bằng đá nói trên đều là những tác phẩm nghệ thuật tài hoa của các nghệ nhân dựng chùa buổi đầu tiên với những nét rất đặc trưng cho thời Lý.
Nằm trên sườn núi, xung quanh là rừng thông và vườn cây trái, chùa Phật Tích mang những nét huyền bí và thật thơ mộng. Chùa lại là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng, là công trình văn hóa quý quá và đặc biệt là nằm trong vùng văn hiến Kinh Bắc lâu đời nên chùa Phật Tích đã thu hút được bà con trong vùng và du khách thập phương.

Truyền thuyến Lý Thánh MẫuTruyền thuyết về Lý Thánh Mẫu
Chùa Thiên Tâm ở chân núi Tiêu, xã Tươmg Giang (thị xã Từ Sơn) là trung tâm Phật giáo lớn thế kỷ thứ 10. Đây là nơi các vị đại sư biên soạn và lưu giữ kinh Phật. Thiền sư Vạn Hạnh trụ trì chùa này được vua Lê Long Đĩnh mời làm Quốc sư giúp vua chế định chính sách trị nước.
Đền thờ Lý Thánh Mẫu.
Thời ấy có cô gái trẻ nhà họ Phạm quê ở Hoa Lâm thường đến chùa làm mướn các việc cấy lúa, trồng rau, quét dọn, đèn nhang hầu phật. Một đêm cô đun bếp vô tình để nhà sư bước qua chạm phải chân, vậy mà rung động mang thai. Nhà sư thấy vậy đưa cô đến chùa Minh Châu nương nhờ. Nhiều nhà gia thế hỏi cưới cô làm thiếp nhưng cô đều từ chối quyết một dạ nuôi con. Ngày cô trở dạ trời nổi mưa gió và có bà mụ hiện lên đỡ cho mẹ tròn con vuông. Nhưng sinh con rồi ngày ngày cô phải bế con xin ăn những khi không có việc làm mướn. Ba năm sau cô bế con đến chùa Cổ Pháp nương nhờ thiền sư trụ trì Lý Khánh Văn, em trai thiền sư Lý Vạn Hạnh. Bấy giờ nhà sư nuôi con chó khôn, hễ gặp mẹ con cô Phạm thị là sủa mừng rối rít. Rồi con chó ấy đẻ một con lông trắng phau, lưng điểm chữ Tuất thiên tử. Đêm trước khi mẹ con bà Phạm Thị đến, nhà sư thấy thần linh báo mộng có đế vương giá lâm, phải quét dọn chùa sạch sẽ nghênh tiếp. Sáng ra nhà sư thấy cổng chùa xuất hiện dòng chữ Hưng quốc chi niên. Nhà sư đợi cả ngày vẫn không thấy có ai đến. Nhà sư quay vào chùa tụng kinh thì nghe thấy tiếng con chó khôn sủa mừng rối rít, liền ra cổng đón. Sư không ngờ đó vẫn chỉ là mẹ con người ăn mày thỉnh thoảng có đến chùa xin ăn. Nhưng nhớ lời thần báo mộng, trụ trì đưa mẹ con họ vào chùa cho ăn và nhận đứa trẻ nuôi dưỡng. Bà mẹ trẻ Phạm Thị quay trở về chùa Minh Châu, nhưng đến đồi Mả Báng thì hoá. Đồi Mả Báng là một trong mười chín nơi có long mạch thiên tử bị Cao Biền đào đứt long mạch trấn yểm và sau đó thiền sư La Quý An đã lấp lại. Nơi bà Phạm thị hoá được thần thổ địa sai mối lập tức đùn kín liền. Có người qua đường thấy sự lạ hỏi bâng quơ: Mộ ai to thế? Người ấy nghe tiếng trả lời đâu đó: Mộ mẹ vua Lý đấy. Người ấy kinh sợ, liền ở lại để trông nom phần mộ chu đáo.
Sư Lý Khánh Văn đặt tên đứa trẻ là Lý Công Uẩn, sau chính là vị vua khai sáng triều Lý. Ngay sau khi lên ngôi, nhà vua đã truy tôn mẹ là Minh Đức hoàng thái hậu, cho xây lăng mộ ở rừng Miễu và cho dân làng lập đền thờ, gọi là đền thiêng Lý Thánh Mẫu. Đền nay thuộc địa phận thôn Dương Lôi (Tân Hồng - Từ Sơn). Ngày giỗ Lý Thánh Mẫu nhằm mồng 7 tháng Giêng hằng năm là ngày hội chùa làng Dương Lôi.
Đền thờ Lý Thánh Mẫu kiến trúc cổ nay không còn. Năm 1997 dân làng dựng lại đền mới theo kiến trúc truyền thống hình chữ nhị gồm nhà tiền tế 5 gian, hậu cung 3 gian quay hướng Đông Bắc và một số công trình phụ trợ khác. Đền còn lưu giữ một cổ vật là cây hương đá Nhất thiên thạch trụ khắc chữ Hán 4 mặt, dựng năm 1705, trong đó có đoạn viết: Miếu đường xã Dương Lôi là nơi danh lam cổ tích phụng thờ Lý triều thiên thành hết sức linh thiêng cho nên mọi nhà trong xã đã công đức dựng nên Thiên hương thạch trụ dâng tiến trước miếu điện

Đền thờ đức Thánh Trần ở phường Tiền An

Đền thờ Trần Hưng Đạo nằm trên phố Hàng Mã (khu phố 5) phường Tiền An (thành phố Bắc Ninh) là công trình văn hóa tín ngưỡng vốn được khởi dựng từ lâu đời, thờ người có công với dân với nước.
Nhưng vì lâu năm ngôi đền đã bị hư hại, vào thời Nguyễn triều vua Thành Thái ngôi đền được trùng tu tôn tạo. Khi ấy, ngôi đền gồm 2 tòa kiểu chữ Nhị: Tiền tế 3 gian, hậu cung 3 gian; bộ khung gỗ lim, mái ngói, chạm khắc trang trí nghệ thuật và còn để lại dấu ấn là bức cửa võng chạm lộng đề tài “Phù dung và chim trĩ” với nét chạm tinh xảo, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, cũng từ thời vua Thành Thái đến nay, đền nhiều lần được tu bổ tôn tạo. Năm 1998, nhân dân địa phương đã cùng nhau quyên góp xây dựng lại ngôi đền với quy mô khá lớn, kiên cố, vững chắc. Đó là tòa nhà hai tầng với các lớp mái đao cong uốn lượn duyên dáng. Tầng một dùng làm nơi tiếp khách trong những ngày sự lệ. Tầng hai là nơi thờ phụng tôn nghiêm Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Tầng này được dựng thành 3 cung theo kiểu chữ tam, bộ khung gỗ lim chạm khắc trang trí đẹp. Đến nay, đền thờ Trần Hưng Đạo trên phố Hàng Mã, phường Tiền An vẫn còn bảo lưu được nhiều cổ vật quý hiếm như: sắc phong, chuông đồng, hoành phi, câu đối, tượng thờ là những di sản văn hóa quý giá. Đặc biệt bức hoành phi treo trong hậu cung chạm nổi 4 chữ Hán lớn “Trần triều hiển Thánh” bên cạnh có dòng niên đại “Thành Thái ất Tỵ” (1905) và đôi câu đối cổ: “Phá Nguyên Mông bảo quốc an dân sơn thủy trường lưu trung dũng tướng/Phù Đại Việt trừ tà diệt ác miếu đình vĩnh phụng phúc lương Thần” (Tướng trung dũng đánh Nguyên Mông giữ nước yên dân lưu truyền mãi với non sông/Thần linh thiêng trừ tà diệt ác giúp Đại Việt muôn thuở nơi đền miếu), đã phản ánh khá rõ về người được thờ là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Sử sách ghi lại, giặc Nguyên Mông ba lần kéo quân sang xâm lược nước ta vào các năm 1258, 1285, 1288. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, quân dân Đại Việt đã đoàn kết một lòng đánh bại ba lần xâm lược của chúng. Với cương vị là Tổng chỉ huy quân đội, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn không những là một bậc thiên tài về quân sự, mà còn là một nhà chính trị đại tài, nhà ngoại giao kiệt xuất.
Trên cương vị Tổng chỉ huy quân đội Đại Việt đánh giặc, ông đã viết các sách “Binh thư yếu lược”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Hịch tướng sĩ” để động viên và khích lệ lòng yêu nước, ý chí chiến đấu của quân dân. Ông luôn biết trọng người tài, thương yêu binh lính, kẻ yếu hèn, nên quân dân cùng kính phục yêu mến tài đức của ông, cả nước thành một khối thống nhất đoàn kết một lòng để đánh giặc và đã 3 lần đánh lui quân xâm lược Nguyên Mông.
Với chiến thắng vĩ đại của quân dân Đại Việt trước sự xâm lược của đế quốc Nguyên Mông, tên tuổi và công lao của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã được sử sách ca ngợi, nhân dân nhiều nơi lập đền thờ và thường gọi là “Đức Thánh Trần” hay đền thờ “Trần Hưng Đạo”. Ngày nay, dân tộc ta đã tôn vinh Trần Hưng Đạo là anh hùng dân tộc và thế giới đã tôn vinh ông là danh nhân quân sự thế giới.
Như vậy, đền thờ Trần Hưng Đạo ở phố Hàng Mã, khu phố 5, phường Tiền An, thành phố Bắc Ninh là nơi thờ phụng tôn vinh bậc anh hùng dân tộc, danh nhân thế giới và đây là một trong những di tích tiêu biểu của nền văn hiến tỉnh Bắc Ninh.

87. Chùa Bái Đính - ngôi chùa lớn nhất Việt Nam

Chùa Bái Đính được xây dựa lưng vào núi Bái Đính ở xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (gần cố đô Hoa Lư). Mặc dù đang trong quá trình xây dựng, nhưng ngôi chùa này đã được chọn là một trong những địa điểm tổ chức các hoạt động nhân Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008.
Dự kiến, khoảng 3.500 đại biểu từ hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ được chiêm ngưỡng công trình Phật giáo với nhiều kỷ lục, được đánh giá là lớn nhất Việt Nam hiện nay. Hiện các nghệ nhân, thợ giỏi đang ngày đêm làm việc để kịp khánh thành chùa (giai đoạn 1) vào ngày 17.5 tới.
Đến năm 2010, khi chùa hoàn thành, khách thập phương đến vãn cảnh chùa Bái Đính phải xuống xe, đi thuyền qua hồ tụ thủy trước chùa để vào cõi Phật. Từ hai phía tam quan là 2 dãy nhà chạy dài ôm toàn khu chùa, bên trong đặt tượng 500 vị La Hán bằng đá, mỗi tượng một dáng hình khác nhau nhưng đều cao to đồ sộ. Bước qua cổng tam quan được làm bằng những thân gỗ lim cổ thụ, khách thập phương sẽ gặp một sân chùa rộng với pho tượng Quan thế âm bồ tát cao to, để rồi sửng sốt trước một tháp chuông hình bát giác với 3 tầng mái cong, tất cả là 24 mái ở tám phía với các đầu đao. Trong tháp treo một quả chuông đồng cao 10m, đường kính miệng 5m, nặng 36 tấn (đây được xem là quả chuông đồng lớn nhất Đông Nam Á hiện nay).
Lần theo các bậc đá lên cao là điện thờ Pháp chủ gồm hai tầng mái cong, có 8 mái ở 4 phía. Điện cao 27m, dài 47,7m, rộng 43,2m, bên trong đặt một pho tượng Pháp chủ nặng 100 tấn, được đúc bằng đồng nguyên chất. Đây là tượng Phật bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Sau điện Pháp chủ là một vườn sinh vật cảnh quý hiếm với những loài cây cổ thụ và những hòn non bộ như ở chốn tiên cảnh.
Phía trong cùng, dựa lưng vào vách núi là điện Tam thế cao 30m, dài 52m, rộng 47m. Bốn phía nền của điện Tam thế đều xây các tường đá thấp, tam cấp theo độ dốc của đồi và xây nhiều bậc đá để đi lên, tạo cho điện thờ một không gian hoành tráng, trang trọng. Trong điện đặt 3 tượng Tam thế đại diện cho quá khứ, hiện tại và tương lai bằng đồng nguyên chất, mỗi tượng nặng 50 tấn. Bên tả điện treo một quả chuông đồng cao 5,6m, đường kính miệng 3,5m, nặng 27 tấn.
Khu vực chùa Bái Đính còn được mở rộng với một không gian lớn về phía trước cửa tam quan và phía sau điện Tam thế với giếng Ngọc, hồ Phóng Sinh, hồ Đàm Thị, khu thờ Mẫu, khu thờ Tổ, khu tháp mộ sư, khu nhà Tăng thiền viện, khu nhà khách, bảo tháp 14 tầng và khu Bảo tàng Phật giáo Việt Nam..

MỤC LỤC

  1. Chùa hương - Động Hương Tích
  2. Đình Tây Đằng
  3. Đình và chùa Thái Cam
  4. Chùa Cầu Đông
  5. Chùa Vĩnh Trù
  6. Chùa Đồng Quang
  7. Chùa cổ Bối Khuê
  8. Chùa Vọng Cung
  9. chùa Bái Đính mới ở Ninh Bình
  10. Đền vua Đinh và lễ hội Trường Yên
  11. Chùa Thượng Đồng
  12. Chùa Lý Quốc Sư_Hà Nội
  13. Chùa Keo_Thái Bình
  14. Ðình Phù Liệt, một danh thắng lịch sử_Hưng Yên
  15. Đình, chùa Ngọc Thành: Quần thểdi tích lịch sửvăn hóa
  16. Chùa Dâu và sự tích bụt mọc_Bắc Giang
  17. Dấu ấn thời Trần tại chốn tổ Vĩnh Nghiêm_Bắc Giang
  18. Đình Lam Cầu-Công trình kiến trúc nghệ thuật và những cổ vật quý !!_Bắc ninh
  19. Đình Đại Yên_Hà Nội
  20. Đình Giảng Võ_Hà Nội
  21. Chùa Bà Đanh_Hà Nam
  22. Cụm di tích Đình - Đền - Chùa Triều Khúc_Hà Nội
  23. Đình Ngọ Xá-Dấu ấn khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
  24. Chùa Một Cột_Hà Nội
  25. Đền Đô_Bắc Ninh
  26. Chùa Bút Tháp và ảnh hưởng của Thiền Tông_Bắc Ninh
  1. Chùa Dâu_Bắc Ninh
  2. Chùa An Châu - Thái Nguyên
  3. Đền Vua Đinh_Ninh Bình
  4. Chùa Láng_Há Nội
  5. Chùa Báo Thiên_Hà Nội
  6. Chùa Kim Chuông_Hung Yên
  7. Đền Hát Môn_Hà Nội
  8. Chùa Hoè Nhai (Hồng Phúc tự)_Hà Nội
  9. Chùa PhổGiác_Hà Nội
  10. Chùa Bổ Đà_Bắc Giang
  11. Đình Đông Hương_Hà Nội
  12. Đền Quốc Công_Vĩnh Phúc
  13. Chùa Bồng Lai_Phú Thọ
  14. Chùa Đại Bi_Bắc Ninh
  15. Đền Hương Nghĩa_Hà Nội
  16. Đền Trúc Lâm_Hà Nội
  17. Đền Tiết Phụ_Hung Yên
  18. Đền Cường Bạo Đại Vương_Nam Định
  19. Chùa Tự Khoát_Hà Nội
  20. Đình Quang Húc_Hà Nội
  21. Đình Kim Châu_Hà Nội
  22. Đền Nguyễn Thị Ngọc Thanh_Hưng Yên
  23. Đền Ông Mổ Bụng_Hà Nam
  24. Chùa Long Cung_Bắc Ninh
  25. Chùa Bích Động_Ninh Bình
  26. Đi lễ chùa Hà cầu duyên_Hà Nội
  27. Ngôi chùa cổ nhất Hà Nội
  28. Vãn cảnh chùa Hoằng Ân_Hà Nội
  29. Long Đọi Sơn tự_Hà Nam
  30. Nghệ Thuật Kiến Trúc Chùa Thầy Với Phật Giáo Mật Tông_Hà Tây
  31. Câu Lậu Sơn - vùng đất địa linh đầy tiềm năng du lịch_Hà Nội
  32. Vãn cảnh chùa Hoằng Ân_Hà Nội
  33. Ðền Và cổkính_Hà Nội
  34. Chùa mía - ngôi chùa cổ trên vùng đất cổ_Sơn Tây(Hà Nội)
  35. Chùa Đậu_Hà Nội
  36. Chùa Thầy - Hà Tây
  37. Phát lộ dấu vết am Ngọa Vân - Yên Tử
  38. Lịch sử tang thương về chùa Báo Thiên ở Hà Nội xưa
  39. Chùa Báo Thiên và tháp Đại Thắng TưThiên
  40. Yên Tử còn một chốn thiêng
  41. chùa Hoằng Pháp
  42. Khu du lịch Đại Nam - Nơi tôn vinh văn hóa Việt
  43. Chùa Cói (Vĩnh Phúc)
  44. Đình - Chùa - Di Tích Lịch Sử Ở Hải Phòng
  45. Đền Ngọc Sơn._Hà Nội
  46. Đình Vạn Phúc._Hà Nội
  47. Núi yên Tử - Chùa Hoa Yên._Quảng Ninh
  48. Chùa Lôi Âm._Quảng Ninh
  49. Chùa Long Tiên._Quảng Ninh
  50. Chùa Quỳnh Lâm­ ­_Quảng Ninh
  51. Chùa Yên Tử_Quảng Ninh
  52. Đền Voi Phục_Hà Nội
  53. Đình Hoàng Mai_Hà Nội
  54. Chùa Vĩnh Nghiêm_Bắc Giang
  55. Chùa Tam Thanh_Lạng Sơn
  56. Chùa Thành_Lạng Sơn
  57. Chùa Tiên_Lạng Sơn
  58. Chùa Dâu_Bắc Ninh
  59. Kể Chuyện Lịch Sử Việt Nam - Lý Bát Đế:
  60. chùa Phật Tích Bắc Ninh
  61. Chùa Bái Đính - ngôi chùa lớn nhất Việt Nam_Ninh Bình.

The End

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận