Bạn vui lòng Đăng nhập nếu đã có tài khoản tại Yume.vn
Hoặc Đăng ký tài khoản miễn phí.
Tieu Luan Mi Hoc
15/05/2009 16:05 | 1,578 lượt xem
I/Lý do chọn đề tài
Những ai đã từng tiếp xúc, yêu thích những vật phẩm, những bức họa được vẽ bằng chất sơn ta cùng các họa phẩm như son, then, vàng bạc... thì cũng từng bị thu hút không chỉ bởi sự công phu của quá trình chế tác mà còn là một trạng thái thỏa mãn đôi mắt với những sự lấp lánh của hiệu ứng kim loại như bạc; vàng hay sự chuyển màu êm ái sâu lắng mà chỉ có được với sơn ta Việt Nam cùng kỹ thuật mài tinh xác. Sơn mài cho người ta nhiều cảm giác khác nhau với các chất liệu độc đáo khi làm tranh, hiệu ứng diễn tả khác biệt với các chất liệu khác mà chỉ ở sơn ta mới có.
Từ rất nhiều cảm giác mà hiệu ứng sơn mài mang lại ấy ta thấy có một sự lấp lánh và quyến rũ chính điều này đã lôi cuốn tôi đi sâu tìm hiểu và khám phá về sơn mài Việt nam - một nét nghệ thuật độc đáo.
II/ Những hiểu biết chung về Sơn Mài Việt Nam
Cũng không thể phủ nhận một điều, đó là thông qua sự thể nghiệm tìm tòi với không ít những yếu tố bản lĩnh và dũng cảm, các họa sĩ trẻ Việt Nam đã góp phần tạo nên một bộ mặt khá đa dạng cho hội họa sơn mài truyền thống. Họ đã cách tân, mở mang nhiều từ phương thức biểu hiện sáng tạo với những nội dung mới mang nhiều phong cách. Bên cạnh (hoặc là nối tiếp) những nội dung truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, họ còn mạnh dạn đưa những chủ đề như tình yêu hiện đại, những nỗi bức xúc, ám ảnh chủ quan đầy nội tâm phức tạp... và thể hiện chúng trên nền chất liệu sơn mài truyền thống. Trong lịch sử dân tộc, nghề sơn xuất hiện khá sớm. Cư dân Việt cổ từ khoảng 2.500 năm trước đã tìm thấy cây sơn mọc hoang dã và đã biết cách sử dụng nhựa cây để trám thuyền hay dùng để phủ lên các vật dụng khác nhằm tăng độ bền chắc cho vật dụng. Trong quá trình phát triển, có thể nói, nghề sơn hầu như luôn song hành với nghề tạc tượng, các chạm khắc trang trí trong các công trình kiến trúc. Vì vậy, suốt thời kỳ phong kiến Đại Việt, nghề sơn khá hoàn hảo. Khắp các xứ Đông, Nam, Đoài, Bắc, đâu đâu cũng có nghề sơn. Xứ Đông có làng Hà Cầu (Đồng Minh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nổi tiếng bởi hai nghề sơn và tạc tượng; Xứ Bắc có Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) nổi danh nhờ độc quyền chất sơn then bóng mịn không đâu bằng; Vùng Sơn Nam Hạ có làng sơn quang Cát Đằng (nay thuộc ý Yên, Nam Định); Vùng Hà Tây (thuộc xứ Đoài xưa) có mật độ các làng nghề sơn khá dầy đặc: Chuyên Mĩ, Bối Khê, Bình Vọng, Hạ Thái, Văn Giáp...
Tranh sơn mài của những nghệ nhân xưa thường được vẽ trực tiếp hoặc gián tiếp lên gỗ (nhưng không có công đoạn mài) với các mảng màu được vẽ riêng rẽ. Ngoài kỹ thuật pha chế nhựa sơn mầu và nước sơn, sở trường vẽ và sáng tác các mẫu trang trí hoa văn có thể nói là rất điêu luyện đi kèm với kỹ thuật chạm trổ, đắp sơn. Nếu chia theo đề tài, ta có thể thấy có mấy dạng tranh sơn cổ như sau: Tranh nằm trong kết cấu kiến trúc cổ bao gồm tranh trần thiết (có ở chùa Dâu, chùa Mía, đình Chèm...), tranh cửa (có ở đình Chèm, chùa Vĩnh Phúc...), bích họa có bộ tranh ...Nhị thập tứ hiếu ở lăng Đồng Khánh... Ngoài ra, còn có một số bức vẽ nằm ở dạng khác như vẽ trên ván nong, cốn hay trong khám thờ... Thực chất mà nói, nó chưa hẳn là tranh mà là những cấu kiện nằm trong kiến trúc, chỉ là những mô-típ, đồ án hoa văn trang trí; Dạng tranh sơn cổ thứ hai chính là tranh thờ, chủ yếu là tranh chân dung và tranh nhân vật, dân gian quen gọi là tranh Thần, có thể được vẽ đơn chiếc hay theo bộ; Cuối cùng, không thể không kể đến thể loại tranh liên hoàn, bao gồm các dạng tranh có nội dung khuyến giáo, ngâm vịnh hoặc kể chuyện. Đặc tính của loại tranh này là tính liên hoàn có kế tục, thường được vẽ dưới dạng “Nhất thư nhất họa”, đậm nét mô tả.
Về lịch sử tranh sơn mài, từ xa xưa, người Việt đã biết dùng loại sơn đặc biệt này để trang hoàng tại các đền chùa, miếu mạo, cung đình, nhưng theo họa sĩ Đằng Giao, loại sơn này đã được chính thức đi vào nghệ thuật nước nhà kể từ khi lớp nghệ sĩ đầu tiên của Việt Nam được đào tạo từ trường Mỹ Thuật Đông Dương đã đưa sơn mài vào những sáng tác nghệ thuật của họ.
Từ lúc khởi đầu đến khi hoàn tất được một bức tranh sơn mài đòi hỏi rất nhiều công phu, có những bức phải mất cả nửa năm trời mới xong. Khi nói đến nghệ thuật thì chắc chắn là phải có sáng tạo, nhưng ngay cả dến kỹ thuật của tranh sơn mài, người nghệ sĩ cũng phải tự tìm tòi và sáng tạo rất nhiều, giả tỉ như màu trắng trong tranh sơn mài phải tạo từ vỏ trứng gà hay trứng vịt chẳng hạn.
Sự hấp dẫn của chất liệu độc đáo, vừa bền lại vừa có vẻ đẹp lộng lẫy vàng sơn này đã thu hút các họa sĩ Việt Nam ra công nghiên cứu tìm tòi, khai thác mọi khả năng biểu hiện của chất liệu sơn cổ truyền để áp dụng vào trong nghệ thuật tạo hình hiện đại. Công cuộc cách tân trong nghệ thuật sơn mài gắn liền với sự ra đời của trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương (nay là trường Đại học Mĩ thuật Hà Nội). Vào khoảng những năm đầu của thập kỷ 30 (thế kỷ 20), thầy và trò của trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương bắt đầu làm quen với chất liệu sơn truyền thống với sự cộng tác của các nghệ nhân, trong đó có cụ Đinh Văn Thành - nghệ nhân quê làng Hạ Thái (Hà Tây). Vừa tiếp xúc với nền mĩ thuật châu Âu, nghệ nhân Đinh Văn Thành cùng các họa sĩ, các sinh viên của trường vừa mạnh dạn tiến hành những thử nghiệm đối với chất liệu sơn, nhằm khắc phục những hạn chế về bảng màu vốn chưa được phong phú, chỉ hạn chế trong các màu đen, đỏ, vàng kim hoặc bạc phủ hoàn kim mà thôi. Nhờ quá trình tìm tòi thể nghiệm đó, các họa sĩ Việt Nam đã nắm bắt được kĩ thuật pha chế các loại sơn chín, kĩ thuật sử dụng các chất liệu sơn (son trai, son tươi, son nhì), biết cách sử dụng vàng bạc quỳ được rây nhỏ thành bột, pha trộn vào sơn cánh gián được pha nhựa thông hoặc dầu trẩu. Với cách pha chế mới này, người ta có thể vẽ nhiều lớp sơn màu chồng lên nhau, sau mỗi lớp sơn lại mài nhiều lần trong nước sạch, tạo ra nhiều màu sắc. Ngoài ra, với kĩ thuật sử dụng tài tình chất liệu dân dã như vỏ trứng, vỏ trai... các họa sĩ đã tạo được nhiều hòa sắc trắng với dạng một nền men rạn hấp dẫn, hoặc ánh sắc muôn màu của xà cừ (vỏ trai) rất phong phú.
Bước ngoặt này đã mở ra cho ngành nghề sơn cổ truyền sang một kỷ nguyên mới, mang đến cho diện mạo mĩ thuật hiện đại Việt Nam một sắc thái mới. Người ta gọi cuộc cách tân trong nghệ thuật sơn mài cũng chính là cuộc cách mạng trong nền hội họa Việt Nam. Bản thân danh từ “sơn mài” đã được ra đời trong thời kỳ này để khỏi lẫn với lối làm sơn cổ truyền thường vẫn quen gọi là “sơn ta”, “sơn quang dầu”. Sơn mài thực sự bước chân vào lĩnh vực hội họa tạo hình và ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trên thị trường tranh quốc tế. Ngoài ra, kỹ thuật mài và pha chế màu của sơn mài cũng dần dần được ứng dụng vào trong ngành sơn mĩ nghệ cổ truyền, tạo hiệu quả kĩ thuật, mĩ thuật cao.
Đi tiên phong trong việc áp dụng kỹ thuật sơn cổ truyền với các sắc đen, đỏ, vàng, bạc... để tạo nên các tác phẩm hội họa hiện đại là họa sĩ Trần Văn Cẩn, là họa sĩ Nguyễn Gia Trí, là họa sĩ Nguyễn Tường Lân... Và bên cạnh đó, còn có không ít các tác phẩm đã đạt được những thành công nhất định trong thời kì đầu này của các họa sĩ như: Hoàng Tích Chù, Nguyễn Tiến Chung, Lê Quốc Lộc, Phạm Hậu, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Khang... Hầu hết, đề tài thường xoay quanh phong cảnh nông thôn êm đềm với bụi tre, ao làng, đình chùa, hội hè, đình đám, cảnh sông nước, cảnh lao động nơi nông thôn dân dã...
Cùng với thời gian, nghệ thuật sáng tác tranh sơn mài ngày càng tiến tới bởi đội ngũ ngày càng đông các họa sĩ tham gia nghiên cứu tìm tòi, thể nghiệm thêm về chất liệu, về màu sắc cũng như về kỹ thuật thể hiện và phương cách thể hiện với những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Nhiều tác phẩm được lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam như tranh của các họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Sĩ Ngọc, Phạm Văn Đôn... và của các họa sĩ khác với những bảng màu phong phú, thể hiện nhiều phong cách với những đề tài đa dạng, muôn màu muôn vẻ.
Khoảng tới năm 1932, sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương học thêm được phương pháp rắc bột vàng bạc rồi cải tiến cả phương pháp mài bóng. Việc gắn vỏ trứng dựa theo truyền thống khảm xà cừ, rồi đánh bóng cũng là một phát kiến mới. Những tiến bộ về pha chế màu sơn cũng làm cho bảng màu sơn mài phong phú và đa dạng hơn, đặc biệt là khả năng mô tả không gian, ánh sáng và tạo khối nhờ có sự chuyển đổi sắc độ linh hoạt.
Sau năm 1954, một loạt tác phẩm sơn mài thành công ra đời, đánh dấu một giai đoạn hoàn toàn mới của nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Đồng thời, dẫn tới một giai đoạn mới cao hơn hẳn về chất lượng của toàn bộ nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Chính các tác phẩm sơn mài này làm cho chất liệu sơn mài trở thành một chất liệu tạo hình dẫn đầu, đặc sắc và độc đáo của mĩ thuật Việt Nam đó là: Tát nước đồng chiêm (Trần Văn Cẩn), Qua bản cũ (Lê Quốc Lộc), Nhớ một chiều Tây Bắc (Phan Kế An), Đi chợ Bắc Hà (Mai Văn Nam), Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ (Nguyễn Sáng), Nhà tranh gốc mít (Nguyễn Văn Tỵ), Tre (Trần Đình Thọ), Bình minh trên nông trang (Nguyễn Đức Nùng, ...
Không dừng lại ở đó, các thế hệ họa sĩ nối tiếp nhau vẫn luôn luôn tìm cách khai thác các thế mạnh của loại chất liệu, nội dung cho đến cách biểu hiện. Nhưng cũng không ít họa sĩ trẻ đã tạo cho mình một sự phá cách: Trên nền vóc cổ xưa, họ đưa vào hàng loạt những chất liệu mới mà gọi tóm lại là “chất liệu tổng hợp”, với mong muốn tạo nên hiệu quả thẩm mĩ mới lạ. Tất nhiên, không phải lúc nào những thử nghiệm cũng có thể thành công mà thậm chí, đôi khi, chúng còn góp phần làm lệch hướng, phá đi vẻ đẹp nền nã, cao sang của sơn mài truyền thống.
Cũng không thể phủ nhận một điều, đó là thông qua sự thể nghiệm tìm tòi với không ít những yếu tố bản lĩnh và dũng cảm, các họa sĩ trẻ Việt Nam đã góp phần tạo nên một bộ mặt khá đa dạng cho hội họa sơn mài truyền thống. Họ đã cách tân, mở mang nhiều từ phương thức biểu hiện sáng tạo với những nội dung mới mang nhiều phong cách. Bên cạnh (hoặc là nối tiếp) những nội dung truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, họ còn mạnh dạn đưa những chủ đề như tình yêu hiện đại, những nỗi bức xúc, ám ảnh chủ quan đầy nội tâm phức tạp... và thể hiện chúng trên nền chất liệu sơn mài truyền thống. Công bằng mà nói thì cũng không ít các tác phẩm của họ cũng đạt đến những thành công nhất định, được mọi người công nhận. Có thể kể đến một vài họa sĩ trẻ vẽ tranh sơn mài hiện đại như Đinh Quân, Vũ Thăng, Mai Đắc Linh, Xuân Việt, Trịnh Quốc Chiến... Họ và nhiều, rất nhiều những họa sĩ già và trẻ khác vẫn luôn luôn tìm tòi, luôn luôn thể nghiệm trên chất liệu sơn mài truyền thống của dân tộc mình để khai thác, khám phá, sáng tạo... góp phần thúc đẩy sự phát triển nền nghệ thuật tạo hình của đất nước bằng chính tài năng và nhiệt huyết của mình.
III/ Sự công phu khi làm tranh
1.Bó hom vóc
Việc hom bó cốt gỗ (đồ vật cần sơn) ngày xưa thường được người làm sử dụng giấy bả, loại giấy chế từ gỗ dó nên rất dai, có độ bền vững hơn vải. Cách bó hom vóc được tiến hành như sau: dùng đất phù sa (ngày nay người thợ có thể dùng bột đá) trộn sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom, chít các vết rạn nứt của tấm gỗ. Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy (hoặc vải màn) sau đó còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho các nẹp gỗ ngang ở sau tấm vóc (ván gỗ) để chống vết rạn xé dọc tấm vải. Sau đó để gỗ khô kiệt mới hom sơn kín cả mặt trước, mặt sau. Công đoạn này nhằm bảo vệ tấm vóc không thể thấm nước, không bị mối mọt, không phụ thuộc môi trường làm gỗ co ngót. Xử lý tấm vóc càng kỹ, càng kéo dài tuổi thọ cho đồ vật cần sơn, mỗi tác phẩm sơn mài có tuổi thọ 300-400 năm.
3.Sơn lót
Sơn lót hực chất là khâu phù trợ nhưng cũng là một yêu cầu cần thiết. Lót không chỉ làm bền vật liệu mà còn nhờ lót mà những chỗ lõm nhỏ trên bề mặt được lấp đầy và làm hoàn thiện hơn lên sản phẩm
Sơn lót được dùng sơn nguyên chất, loại sơn tốt nhất không cần pha trộn gì hơn. Điều đán g chú ý là trước khi sơn lót pải kiểm tra mặt sản phẩm, nếu mặt sản phẩm chưa đủ nhẵn thì buộc phải làm lại.
Khi có được tấm vóc nói trên (hoặc các mô hình chạm khác bình hoa, các bộ đồ khác), người chế các món đồ phải làm các công đoạn gắn, dán các chất liệu tạo màu cho tác phẩm trước tiên như: vỏ trứng, mảnh xà cừ, vàng, bạc...sau đó phủ sơn rồi lại mài phẳng, tiếp đến dùng màu.
Với kỹ thuật sơn phủ tượng và đồ nội thất như: hương án, hoành phi, câu đối... người thợ phải làm trong phòng kín và quây màn xung quanh để tránh gió thổi các nguyên liệu: quỳ vàng, quỳ bạc, tránh bụi bám vào nước sơn còn ướt.
Vì dầu bóng đã pha màu để vẽ nên độ bóng chìm trong cốt màu tạo thành độ sâu thẳm của tranh, do đó sau mỗi lần vẽ phải mài. Người xưa sử dụng lá chuối khô làm giấy nháp. Đến nay, nguyên tắc đánh bóng tranh lần cuối chưa có gì thay thế phương pháp thủ công vì loại tranh này không được phép phủ dầu bóng. Đó chính là điểm độc đáo của tranh sơn mài. Sự thành công của một bức tranh sơn mài phụ thuộc rất lớn vào công đoạn sau cùng. Có một số thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc rối, đá gan gà v.v..
IV/ Đặc tính của sơn mài
1. Tính hấp dẫn.
Tính hấp dẫn trước hết được thể hiện ở màu sắc lộng lẫy, trang nghiêm và trang trọng của nó. Nhờ có đặc tính này mà sơn được phủ lên mọi cốt nguyên liệu khác nhau đáp ứng nhu cầu đòi hỏi nội dung về mặt tín ngưỡng và tnhs thẩm mỹ cao.
2. Tính hoành tráng và đa dạng
Những vật có cốt khác nhau sau khi đã phủ sơn làm thay đổi một cách căn bản hình thức bề ngoài của nó, tạo tính liền khối đồ sộ, hoành tráng và đa dạng. Bản thân những vật này nếu không có sơn thì khó có thể tạo ra được.
3.tính kết dính và hoà hợp
Đặc tính của sơn có tính kết dính cao, chắc. Nhờ có tính chất này sơn ta được sủ sụng và gắn kết các vật dụng thành khối cố định nhưng cũng khôgn để mất đi tính thẩm mĩ.
4. Tính bền đẹp, giản dị.
Sơn mài có khả năng tồn tạ tốt trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Việt Nam làm nhờ tính bền đẹp của nó.Có những vật phẩm sơn cách đây hàng trăm năm vẫn tồn tại với màu sắc và nước sơn gần như mới.
5. Tính khái quát và chi tiết
Sơn mài không chỉ thể hiện tính khái quát vtrên vật thể mà khi cần vẫn thể hiện tính chi tiết. Tính khái quát, ước lệ biểu hiện ở hình khối, sắc độ, tôn thêm hiệu quả của chức năng biểu đạt của vật sơn. Sơn mài có thể biểu hiện được cả tính chi tiết bằng cách dùng các chất liệu như vỏ trứng nhưng vẫn không làm rối mà vẫn gây cảm giác iền khối thống nhất.
Sơn mài với màu sắc đơn giản mang tinh khái quát ước lệ cao
6. Dễ bảo quản, dễ tôn tạo
Do đặc tính lý hoá học sơn ta đã góp phẩn hạn chế đến mức tối đa ựư phá hoại của côn trùng, mối mọt và phù hợp với mọi điều kiện tự nhiên. Sơn mài không chỉ dễ bảo quản mà còn dễ sửa chữa, dễ gắn chắp khi bị nứt, gẫy.
V/ Những giá trị nghệ thuật trong tranh sơn mài.
1. Ánh sáng trong tranh sơn mài
Đó là một thứ ánh sáng kỳ ảo, lung linh, tôn giáo, sâu lắng và đôi khi huyễn hoặc.Các hoạ sĩ thời kỳ đầu của trường Mỹ thuật Đông Dương, của nền hội hoạ cận hiện đại Việt Nam, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa ấn tượng Pháp nên trong bức tranh sơn mà truyền thống của họ rung rinh, nhảy nhot những ánh sáng tự nhiên. Nhưng sau đó các hoạ sĩ đã thấy rằng cách diễn tả ánh sáng thực, ấn tượng trong tranh sơn mài hiệu quả không cao nên đã tìm ra được thứ ánh sáng độc đáo từ chất liệu và thể hiện thành công.
Ánh sắng trong tranh sơn mài truyền thống là ánh sáng tự phát quang từ vật thể, không phải là ánh sáng tả như tự nhiên của tranh sơn dầu- là ánh sáng mhắt một chiều- mà là ánh sáng phản chiếu từ những mảng bạc, mảng vàng, mảng vở trứng.... Người hoạ sĩ đa dùng những mảng sáng ấy để cân bằng độ sáng - tối trên bề mặt tranh, và cân đối về độ sáng - tối ở ngay các mảng, các chất.
Theo một quy luật tất yếu, có ánh sáng thì phải có bóng tối, nhưng tối ở tranh sơn mài không phải là do hoạ sĩ mà tối là của chính chất liệu sơn then. Chính vì thế khi xem tranh sơn mài truyền thống của các hoạ sĩ trường Mỹ Thuật Đông Dương và các hoạ sĩ thời kì cách mạng ta thấy ánh sáng đó rất kì lạ. Có khi miếng nóng sáng của vàng, của son lại làm ra bầu trời xa tít, còn những màu lạnh, đen thì lại là mật ở gần.
Một thứ ánh sáng nữa trong tranh sơn mài là ánh sán nhân tạo, là thứ ánh sán phát ra từ xung quanh các hình thể. Các hoạ sĩ đã vẽ những đường viền bắng vàng vào xung quanh các hình thể trong tranh, tạo được ra thứ ánh sáng loé ra từ đó.
Ánh sáng tả thực trong tranh sơn mài không phải là không có chỗ đứng, nhưng vì nó không phải là thế mạnh của chất liệu này nên đa số các hoạ sĩ đi theo lối ánh sáng ước lệ trên.Điển hình cho sự thành công của thứ ánh sáng tả thực này ta nên kể tới tác phẩm: "Học đêm" của Nguyễn Sáng, "Bình minh trên nông trang" của Nguyễn Đức Nùng... Ánh sáng hắt từ một chiều được các tác giả diễn tả không kém gì sự biểu đạt của sơn dầu.
2. Không gian trong tranh sơn mài
Mõi chất liệu vẽ tranh đều có mọt không gian riêng. Không gian trong tranh lụa, tranh giấy dó là không gian nhoè mờ; trong sơn dầu là không gian tả thực thì tranh sơn mài có một không hgian rất riêng, đó là không gian ước lệ mang tính tôn giáo và tâm linh nhiều hơn các tranh khác. Nó khước từ không gian tả thực mà đi vào một không gian biểu trưng, không gian ấn tượng cao nhất của tính ước lệ, rất hợp với các xu thế của các thể loại tranh hiện đại trên thế giới. Cũng có khi nó lại sang không gian tranh cổ điển, song đây không phải thế mạnh của nó. Vậy nói đơn giản, không gian trong tranh sơn mài là không gian trang trí màng tính ước lệ cao, nhưng nó còn có thể bứt ra khỏi tính chất trang trí thuần tuý cũng như cũng có thể vựơt qua đượcquy luật viễn - cận và nhữn tiêu chí là nô lệ của mắt nhìn để vươn ra cái nhìn tâm tưởng. Với ánh sáng lì ảo, lung linh và tôn giáo đa tạo nên một không gian rất riêng biệt, hết sức độc đáo của tranh sơn mài truyền thống Việt Nam.
3. Độ sâu trong tranh sơn mài truyền thống
Bản thân chất sơn để kết dính là sơn then và sơn cánh gián đã có đọ sâu rồi, không đâu dễ thấy một chất liệu có màu đen sâu thăm thẳm như sơn then rong tranh sơn mài. Sơn cánh gián tốt thì trong hổ phách với độ sâu 1cm vẫn nhìn thấy.
Trong quá trình vẽ, sơn bay đi bay lại càng trong thì càng thấy độ sâu ở các lớp. Cho nên, qua quá trình làm tranh mất nhiều thời gian, các hoạ sĩ vẽ tranh sơn mài mà xử lý không cẩn thận, sơn bay đi thì bức tranh sẽ không được như ban đầu, không như ý muốn của hoạ sĩ nữa.Sự thay đổi về màu sắc của bức tranh làm thay đổi bố cục và làm thay đổi giá trị của bức tranh. Vì thế các hoạ sĩ phải thật chú ý, tính toán sao cho bức tranh có màu sắc trong trẻo, sâu lắng.
Tranh sơn mài thật có sức cuốn hút kì lạ, nó buộc các hoạ sĩ phải theo nó trong suốt quá trình sáng tạo. Có hoạ sĩ phải bỏ ra 10 năm mới đạt được ý đồ cho tác phẩm của mình.
Đa phần các hoạ sĩ ve tranh sơn mài lúc đầu bao giờ cũng để mức độ dậm hơn so với ý đồ của tác phẩm chính để sơn bay đi là vừa. Nhưng giải pháp này chỉ là tạm thời vì mặc nhiên chưa có cách khắc phục. Đó chính là sức sống riêng biệt của tranh sơn mài truyền thống, nó buộc người hoạ sĩ phải quan tâm chăm sóc nó như chính đúa con thai nghén của mình.
Việc làm sơn mài luôn phụ thuộc thời tiết - nó rất thích hợp mùa xuân và những ngày mưa đầu hạ. Điều đó làm ta thấy sự phân bố làm nghề sơn mài không những chia theo khu vực sản phẩm mà còn có yếu tố liên kết phục vụ lẫn nhau.
Xứ Đông có làng Hà Cầu (Đồng Minh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nổi tiếng bởi hai nghề sơn và tạc tượng; Xứ Bắc có Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) nổi danh nhờ độc quyền chất sơn then bóng mịn không đâu bằng; Vùng Sơn Nam Hạ có làng sơn quang Cát Đằng (nay thuộc ý Yên, Nam Định); Vùng Hà Tây (thuộc xứ Đoài xưa) có mật độ các làng nghề sơn khá dầy đặc: Chuyên Mĩ, Bối Khê, Bình Vọng, Hạ Thái, Văn Giáp...
Làng nghề sơn mài Phù Lào (Tiên Sơn - Bắc Ninh) thường lấy quỳ vàng, quỳ bạc của làng Kiêu Kị (Gia Lâm), lấy giấy dó của làng Đông Cao, lấy vải màn của làng Đình Cả, lấy vóc hoặc sản phẩm chạm khắc của làng Phù Khê, lấy nguồn sơn thô của Phú Thọ, Yên Bái và lấy nguồn dầu trẩu, dầu trám của Lạng Sơn, Cao Bằng...
Hà Nội ngày nay vẫn là đầu mối tập trung nguyên liệu và các bậc chế tác nghệ thuật sơn mài nổi tiếng. Đa phần họ có gốc thành viên của các làng nghề truyền thống nhập cư Hà Nội và tạo nên 36 phố phường ngày trước.
Hiện nay, tranh sơn mài sử dụng nguyên liệu là sơn Nhật được dùng khá phổ biến. Do sơn ta có hạn chế là dễ gây tác động phụ cho người sử dụng (bị "sơn ăn"), ngoài ra, khi dùng sơn ta, tranh lại phụ thuộc vào thời tiết khá nhiều. Khi thời tiết có độ ẩm cao thì sơn càng nhanh khô, nếu thời tiết khô ráo (độ ẩm thấp) thì sơn rất lâu khô. Do vậy, sơn ta ít khi được dùng tại các nước có khí hậu khô ráo. Trong khi đó, sơn Nhật lại nhanh khô và làm cho việc ai đó muốn vẽ tranh ở nước ôn đới cũng có thể thực hiện được. Nhưng khi sử dụng sơn Nhật, để tranh được bóng, bây giờ người ta thường dùng một lớp sơn trong (sơn cánh gián) phủ ra bên ngoài tranh, còn nếu tranh sơn mài dùng sơn ta, chỉ cần lấy nắm tóc rối xoa lên tranh, hoặc dùng bàn tay có độ ẩm (có ít mồ hôi) xoa lên tranh, tranh sẽ rất bóng. Tuy nhiên, tranh sơn màu dùng sơn ta vẫn được ưa chuộng hơn vì sự công phu trong quá trình làm tranh và khi nhìn, nó tạo độ sâu cho bức tranh hơn.
Sơn mài ngày nay không chỉ còn ứng dụng sản xuất tranh sơn mài, hoành phi hay câu đối... nó còn được phát triển để sản xuất các mặt hàng nội thất cao cấp như bàn ghế, giường tủ... Gốm sơn mài hiện là mặt hàng được ưa chuộng tại nhiều nước.
Trước thập niên 1930, người ta chỉ dùng sơn ta trong trang trí đồ thờ cúng, làm hàng mỹ nghệ. Vào thời gian này, một số họa sỹ Việt Nam đầu tiên đang học như:
Trần Quang Trân: Họa sĩ đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội thực hiện sơn mài là Trần Quang Trân với bức tranh sơn mài "Bờ Ao" được báo chí từ trước đến nay không hết lời ca ngợi và được xem là giá trị tiền phong của ngành nầy. Họa sĩ Trần Quang Trân bắt đầu mài những màu sơn đỏ và màu bạc trong bức tranh nổi tiếng của ông ta như đã nói; sau đó là bức sơn mài khác, nhan đề là "Cành tre và bóng nước" và thành công bất ngờ. Nhiều họa sĩ đã nghiên cứu đường hướng nầy và công nhận cách sơn mài của ông Trân rất xuất sắc. Sau đó có những cố gắng cải tiến sơn mài đã được trường Mỹ thuật Đông Dương lưu tâm đến.
Tại trường nầy trong những năm 1930 - 1931, họa sĩ Mai Trung Thứ đã quan tâm sâu sắc trong vấn đề nầy. Ông từng vẽ những phong cảnh bằng loại sơn nhựa nhiều màu nổi tiếng từ nhiều năm trước, nhưng lại không dùng cách mài nhẵn. Trong quá khứ thìngười Trung Hoa và người Nhật đã từng thực hiện. Ông ta đã thử nghiệm bước đầu bằng cách mài, nhưng cũng có những bước tiến trong việc dùng đến màu đen mà thôi.
Sau ông Mai Trung Thứ đến lượt các họa sĩ khác như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Ánh và Nguyễn Khang cũng tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Họ đã thử nghiệm bằng cách rắc vỏ trứng và rắc bột vàng, bột bạc lên trên mặt sơn, với chủ đích là tạo cho màu sắc trong những hình trang trí thêm phong phúvà linh động hơn là màu thuần chất. Cuộc triển lãm loại tranh nầy vào năm 1934 đã khiến cho nhiều giới thưởng ngoạn lưu tâm đến.
Trong những hoạ sĩ sơn mài trong thời gian trước 1945, ngoài Nguyễn Gia Trí, Trần Quang Trân, nhiều hoạ sĩ khác cũng đã đi vào những cuộc thử nghiêm riêng của mình: Lê Phổ, Nguyễn Khang, Phạm Hậu. Những thể tài của họ trong chất liệu và kỹ thuật sơn mài thông thường là tranh phong cảnh, kiến trúc, đình chùa, quán xá, bờ tre, núi non, biển thuyền. Những họa sĩ môn nầy thường tỉa từng ngọn lá cây, ngọn cỏ, từng hòn gạch, viên ngói, từng cái vảy của cảnh lưỡng long triều nguyệt, tứ ly, tứ quý, bát vật, từng chi tiết tỉ mỉ trên cáibuồm cánh dơi. Những phong cảnh, di tích được thể hiện bằng sơn mài của những hoạ sĩ nầy là vịnh Hạ Long, chùa Bút Tháp, đi chùa Hương, những lăng tẩm Huế, Đại Nội, đền Ngọc Sơn, Văn Miếu. Cũng cần kể thêm những họa sĩ tham gia môn sơn mài: Phạm Đức Cường, Lê Quốc Lộc, Tạ Tỵ, Mạnh Quỳnh, Nguyễn Văn Quế... đã phát triển thêm, để trở thành "một khuynh hướng sơn mài" mang nặng tính trang trí những cung cách cổ kính, trang nghiêm.
Trần Văn Cẩn: Một trong những họa sĩ ra công khám phá thêm về sơn mài phải kể đến hoạ sĩ Trần Văn Cẩn. Vào năm 1936, ông đã sáng tác bức tranh sơn mài "Tiễn anh khóa đi thi Hương", được bố cục theo hình thức của bình phong từng mảnh ráp lại. Những hình người trông to lên, dàng theo hàng ngang, những dân làng thời xa xưa tiễn anh khoá ra đi, trong khi đó những thiếu nữ mơ chuyện "Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau".
Bức tranh nầy được thể hiện bằng những màu: son, then, cánh gián,vàng óng ánh, rực rỡ... làm hiện lên một khung cảnh tiễn đưa vuivẽ, tưng bừng, tràn trề hy vọng của dân làng. Bức tranh nầy đã được hiệu trưởng Tardieu, giáo sư Inguimberty khen ngợi và chấm cho sinh viên Trần Văn Cẩn đỗ thủ khoa khoá VII trường Cao Đẳng Mỹ Thuật (1937), trên cả Nguyễn Gia Trí học cùng lớp nầy (Bài thi của sinh viên Nguyễn Gia Trí là tác phẩm vẽ trên lụa).
Sau đó, Trần Văn Cẩn lại còn thực hiện thêm bức tranh "Trong Vườn": trong tranh, ông đắp mấy lớp sơn dày, để cho cây phù dung tiền diện nổi hẳn lên, để tách xa nhân vật (hai thiếu nữ trong tranh) đi lại từ phía sau; xa hơn nữa, lại có hai thiếu nữ ngồi thêu trong vườn sâu, với màu nâu sẫm râm mát. Bố cục nầy đã trảira một không gian rộng rãi, mở đường cho những bức tranh sơn mài kiểu lớn ghép lại. Những nhà nghiên cứu xem hai bức tranh nầy là giai đoạn chuyển tiếp, để bước sang "thời kỳ sơn mài Nguyễn Gia Trí" trong chuyên đề "Thiếu nữ - vườn cây - lầu tạ".
Nguyễn Văn Ty: Sau Trần Văn Cẩn thì đến Nguyễn văn Ty, trong một khổ tranh rộng kiểu Panorama có nhan đề là "Chợ Bờ". Đây là một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, núi non trùng điệp với nhiều chi tiết kỳ thú, được thể hiện từ hòn đá gồ ghề, cheo leo cho đến những vòng nước xoáy, cùng hoà chung với những đợt sóng bạc đầu; tất cả đều được thếp bằng những bụi bằng bạc, rắc vụn những gò trai óng ánh trên một nền then (đen) sâu thẳm. Bức tranh đã mở đường cho những thể tài mới của thiên nhiên vùng sơn cước, mạn ngược, lôi cuốn những họa sĩ đô thị thời tiền chiến.
Nguyễn Khang: Bên cạnh đó, Nguyễn Khang cũng trong trường hợp sáng tạo tươngtự. Sơn mài của Nguyễn Khang tập trung vào những đề tài dung dị hơn của người dân quê. Chẳng hạn như bức tranh sơn mài nổi tiếng của ông ta có nhan đề "Đánh cá đêm trăng" (1938), với những chitiết đơn thuần, thoát sáo, nhưng rất sinh động. Trong cảnh, mấy người chài lưới, quấn khăn đầu rìu, đóng khố, người chèo, kẻ buông lưới. Hai anh khác ở tiền diện thì mò cua, bắt ốc. Tất cả hoà nhịp trong ánh sáng màu hồng sinh động của sơn mài, nổi trên nền then được rắc bạc nhẹ, như chỉ phủ mờ, gây được không khí tranh huyền ảo, mông lung, như để thi vị hoá cuộc sống của người dân chài. Từ cách diễn đạt và bố cục của Nguyễn Khang, tranh sơn mài quamột giai đoạn mới: dựng thành mảng lớn.
Những tính "công bút, đồ họa" trước kia đã không còn thấy nữa. Những họa sĩ khác cũng tìm cách đi vào sơn mài với những khám phá mới; chẳng hạn như khoảng 1943 - 1944, trong hoàn cảnh vật liệu sơn mài ngày càng khan hiếm, cho nên những tác phẩm thi tốt nghiệp của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương chỉ có thể thực hiện bằng những màu chính: son, then, cánh gián; đôi khi có thêm chút bột bạc; còn bột vàng thì không tìm thấy nữa.
Nguyễn Trọng Hợp: Cũng trong những hạn chế vừa nói, họa sĩ Nguyễn trọng Hợp đã thể hiện bức tranh sơn mài "Chăn trâu dưới gốc thông". Trong tranh, tác giả dùng nền vóc son trai bằng màu then, đồng thời rắc thêm bột bạc ít nhiều để diễn tả độ đậm nhạt. Trông qua, tưởng chừng như tranh thủy mạc cổ điển. Nội dung là một đối cảnh: bên cạnh một gốc thông cổ thụ sù sì sống đã mấy trăm năm cao lên vút, thì lại có một em bé mục đồng áo tơi, nón lá, cỡi trâu dáng nghênh ngang.
Đặc tính của tranh là vận dụng sơn mài trong những chi tiết nhỏ bé của từng ngọn lá dài ngắn so le, từng vết nứt của thân cây thông già, từng cái xoáy trên lưng trâu; tất cả đã tạo nên được những ấn tượng sâu sắc, nồng nàn của tinh thần Á Đông. Qua tranh, những đường nét chứng tỏ một sức làm việc cần cù, kiên nhẫn, một trong những yếu tố của họa sĩ sơn mài để thành công.
Nguyễn Sĩ Ngọc: Tranh sơn mài thường sử dụng những khổ lớn, trải rộng, chiều chi tiết hoà đồng. Điều nầy thấy rõ nhất trong công trình sơn mài của Nguyễn Sĩ Ngọc, trong tranh "Đi chợ Tết về qua đình" (1940). Sĩ Ngọc đã dùng đến thể loại "sơn mài sáng", mà trước đó, chưa ai nghĩ đến việc khai thác nầy. Bức tranh khổ 2m X 5m, dùng loại vóc khổ lớn, nền cánh gián; vỏ trứng dùng để tạo bối cảnh thiên nhiên của toàn cảnh một ngôi đình cổ; bên cạnh có những túp lều tranh của ngôi chợ miền quê. Tiền diện của bức tranh là ba cô thôn nữ đi chợ trên đường về, gánh các thúng xếp đầy những lễ vật ngày Tết, để lộ ra ngoài những vàng hương, đồ mã, cá, gà. Vận dụng những tính chất đặc thù của tranh sơn mài, họa sĩ đã dùng bột đá màu xanh hoà cùng màu thắt lưng thiên lý, để cho những màu nâu trầm chín nục trên các váy, áo tứ thân và kích thích màu yếm đỏ son tươi.
Toàn cảnh hiện lên rất rõ nét của thời hoàng kim của làng xứ Đoài thuở thanh bình, thịnh trị. Ngay sau khi bức tranh được hoàn tất, chính hai hoạ sĩ giáo sư Inguimberty và Tô ngọc Vân đã mời hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí đến thưởng thức; để rồi trở về mở tiệc sâm banh ăn khao để đánh dấu một giai đoạn mới nhất của tranh sơn mài "Không vàng, không bạc,cũng giàu sang", thành ngữ đánh dấu sức bột phá của loại tranh nầy.
Nguyễn Gia Trí: Trong công cuộc mò tìm và khai thác những chất lịêu dùng trong sơn mài, qua nhiều thử nghiệm, họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã vượt xa hơn cả người mở đầu tranh sơn mài hiện đại là Trần Quang Trân. Là một nghệ sĩ luôn hướng thượng, tự do, phóng khoáng, họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã tìm lấy những đường hướng hội họa sơn mài, tự mình tạo nên một nền tảng mới, một phái sơn mài biệt lập. Ông có những quan niệm tạo hình mới, tìm kiếm không ngừng, kết hợp của hai phương pháp thể hiện nghệ thuật đông và tây, cổ và kim và thể hiện những tác phẩm sơn mài của mình bằng chất liệu và kỹ thuậtcổ truyền. Trong giai đoạn 1939- 1945, ông là người dẫn đường cho một "thời đại hoàng kim" của tranh sơn mài Việt Nam.
Sơn mài Nguyễn Gia Trí đã đạt được chuẩ đích tuyệt vời, trở thành khuôn mẫu cho những tranh cùng thể loại sau nầy. Những công trình tìm tòi nghiên cứu được phát động trong những năm sau đó, nhất là những bài viết về sơn mài trên tờ Phong Hoá và Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương. Kỹ thuật tranh sơn mài được ra đời từ đó với những kỹ thuật và phương pháp vững chắc. Họa sĩ Trí say mê nghiên cứu sơn mài và đưa đến nghệ thuật cao nhất trong lãnh vực nầy.
Trên tờ Ngày Nay số ra ngày 21 tháng 1 năm 1937, tựa đề "Gia Trí và sơn ta", Tô Tử (tức họa sĩ Tô Ngọc Vân) đã viết về thành công của Nguyễn Gia Trí như sau: "Cái lối sơn cổ của ta hào nhoáng, loè loẹt, son giữa màu son, vàng chỉ sắc vàng, trơ trẽn như anh chàng giàu khoe của, vào trường Mỹ Thuật đã dần dần biến thành mỹ công nhã nhặn mà vẫn quý giá. Vàng bạc, sơn son, sơn then (màu đen) người ta chỉ dùng nguyên chất có chừng độ khi người ta xét thấy cần phải dùng đến cho toàn thể. Rồi cũng ngần ấy vật liệu đè lên nhau mà mài đi, mài lại, người ta chế ra được màu dìu dịu tầm thường.
Đến cuộc thí nghiệm Nguyễn Gia Trí, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở óc, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên nghệ thuật thượng đẳng. Người ta có thể tưởng tượng một "thầy sơn" khác chung quanh mấy ông phó sơn giúp việc, chia nhau từng đoạn vẽ mà bôi sơn vào,bằng những màu đã tìm sẳn và đã ấn định cho chỗ nào rồi.
Nghệ thuật Gia Trí không thế, nó là ý tưởng, cảm tính của Gia Trí đúc lại; một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ mà ra...Trên những màu hồng nhạt, biến hóa, những sắc nâu non thật là non, những vỏ trứng như đổi cả thể chất để thành quý vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên... Những màu hoen hoen đứng cạnh nhau, cân đối dung hoà một cách tuyệt khéo, đem lại cho người biết hưởng cảm giác bồn chồn, rạo rực..."
Chính họa sĩ Trần Văn Cẩn trong khi xem tranh sơn mài Nguyễn Gia Trí cũng xác nhận: Những tranh (sơn mài) Nguyễn Gia Trí bao giờ cũng mang lại cho người thưởng ngoạn một cảm giác trong veo, với nền tranh phẳng như mặt nước in hình cảnh vật ở dưới đáy của làn nước đó. Không phải chỉ có những nét lung linh huyền ảo mà thôi, mà màu sắc hiện ra, nhất là cái chất sâu thăm thẳm khi ẩn khi hiện chập chờn. Đôi khi lại ửng lên những nét vô cùng chói lọi, tưởng chừng như đang cất cao tiếng hát ở tùy nơi, tùy chỗ, mà tác giả đã đặt chúng ở bên cạnh nhau, phản ánh trạng thái cuồng nhiệt sung mãn ở một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, luôn luôn dạt dào, hứng phấn (...)
Nhìn chung lại thì những bức tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Gia Trí trong giai đoạn đó toát lên những vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát, trong trẻo như một tác phẩm màu nước của một họa sĩ tài ba đã phóng bút chấm phá theo cảm hứng sâu sắc nhất của mình khi hoà đồng với cảnh vật dùng làm đối tượng hội họa. Những bức sơn mài của ông ta sáng tác vào những năm 1937-1938 như "Chùa Thầy", "Đền Trung Tự" đã cho thấy rõ sự thành công vượt bực trong phong cách diễn đạt nầy.
Qua những thành công nầy, tranh sơn mài Việt Nam đã tiến thêm một bước dài. Trong cuốn "Hướng đi của nền hội họa Việt Nam" (HN- 1994) họa sĩ Quang Phòng đã viết về Nguyễn Gia Trí và nghệ thuật sơn mài như sau: " Trên cái nền súc tích tầng tầng lớp lớp màu và chất quyện vào nhau kết tinh thành một khối hổ phách óng ánh ấy, Nguyễn Gia Trí đã phóng lên một "sơ đồ đường nét" thếp vàng rực rỡ, tách các hình tượng khỏi bối cảnh, làm hiện ra những thiếu nữ đứng, ngồi, đi lại, đuổi bướm, hái hoa; vui chơi dưới cành liễu lả lướt bay trước gió hay thơ thẩn cạnh bông sen trắng nở ven bờ hồ bên lan can lầu thủy tạ. Tất cả phối hợp với nhau cùng hoà chung nhịp điệu theo các đường lượn uyển chuyển, quán xuyến toàn tranh - cho người xem cảm giác tương phản kỳ thú giữa cái cực kỳ giàu sang và cái vô cùng giản dị.... làm sơn mài như Nguyễn Gia Trí thì không mấy ai theo được. Ông đã vung tiền để thuê toàn thợ giỏi, vững vàng không biết tiếc để tạo chất, làm cho những màu son chói lên như than hồng, những màu xám rung rinh những âm vang trên các lớp vàng lơ lửng ở tầng dưới và cuối cùng là những nét, mảng lớn, nhỏ toàn vàng thếp chen nhau ùa vào nền tranh làm bật nổi các hình tượng và trùm lên tất cả một bầy ánh sáng chan hoà..."
Phạm Hậu: Từ Nguyễn Gia Trí, những công việc tìm tòi khác cũng được khởi xuất. Một trong những nghệ sĩ nổi danh khác trong giai đoạn nầy, nhưng với tinh thần khác hẳn là họa sĩ Phạm Hậu. Tranh của Phạm Hậu lại thiên về lối trang trí, một kiểu thức trang trí rất đẹp. Nếu Nguyễn Gia Trí thiên về việc dùng kỹ thuật sơn mài để thể hiện cảm hứng của mình một cách tuyệt hảo, thì đằng nầy, Phạm Hậu là người làm chủ được những chất sơn nhựa quánh đặc, để tạo ra những nét vẽ tinh vi với màu sắc hài hoà. Ông ta thường thể hiện những bức tranh khổ lớn, như bức "Chợ Bờ", hay loại bình phong "Chùa Thầy" rất nổi tiếng. Trên những bức hoạ, những con hươu, nai đi vào trong cảnh rừng sâu hay hình của những con cá vàng giữa những đám rêu phong đều là chủ đề sinh động mà họa sĩ đã khai thác những góc độ tuyệt diệu.
Từ năm 1945 trở về sau, nhất là trong giai đoạn chiến tranh Việt Pháp mở đầu cho những biến chuyển quan trọng, tranh sơn mài đã không có dịp để phát triển nữa. Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương do chính quyền tổ chức và bảo hộ tài trợ đã chấm dứt hoạt động. Miền Bắc trong thời kháng chiến thì hội hoạ chỉ phục vụ cho tuyên truyền quân sự, chính trị; miền Nam chỉ những sinh hoạt cá nhân, cục bộ. Trên đây là các họa sĩ điển hình cho việc khai phá sơn màu và sơn mài trong thập niên 40. Trong thời gian đó, còn nhiều họa sĩ đi sâu vào kỹ thuật sơn mài khác. Tuy nhiên trong lúc nầy thì sơn mài chỉ được hạn chế trong những màu đen, đỏ, nâu cánh gián,vàng và bạc, những màu khác dường như không được khai thác đến hay khó tìm cho đúng sở thích. Trong thời gian nầy, vì những hạn chế của vật liệu, mà sắc trong sơn, cho nên, trên một bình diện nào đó, nghệ sĩ đã không thể thực hiện đúng như ước vọng cảm hứng của chính mình.
IX/ Những tác phẩm sơn mài nổi tiếng

| ||
| "Mùa đông sắp đến" của Trần Văn Cẩn.
X/ Kết luận Với Mỹ Thuật Việt Nam, sơn mài gần như là một kho tàng quý báu lưu giữ các giá trị nghệ thuật đặc trưng riêng cho nên hội hoạ cổ truyền và đương đại Việt Nam. Ở mọi thời đại thì sơn mài vẫn thu hút được các hoạ sĩ, những người yêu mĩ thuật tìm hiểu và nghiên cứu. Và cũng với sự say mê, bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của sơn mài mà tôi cũng cố công góp nhặt, tìm tòi kiến thức về sơn mài. Có thể nói những tìm tòi này còn quá ít ỏi nhưng cũng đã phần nào nói lên được những đặc trưng riêng quý báu của sơn mài Việt Nam và khẳng định thêm giá trị của sơn Mài trong nền hội hoạ không ngừng phát triển của Việt Nam. Với những nhận định ngày càng khó tính của các nhà phê bình nghệ thuật, các nhà chơi tranh, thưởng lãm tranh sơn mài thời bây giờ thì đòi hỏi các hoạ sĩ Việt Nam càng phải nghiên cứu sâu, tìm tòi kĩ hơn nữa về nghệ thuật sơn mài. |
____________________________________________________________________________
Liên hệ
Xem các bài viết khác