trang Blog

tiendatTham gia: 20/07/2011
  • TÀI LIỆU THUYẾT MINH BÌNH THUẬN  NINH THUẬN
    Du Lịch
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    TÀI LIỆU THUYẾT MINH BÌNH THUẬN NINH THUẬN

    Chuyên đề: 70 năm ca khúc Việt Nam

    Nền âm nhạc Việt Nam xuất hiện từ rất sớm trải qua những thăng trầm của lịch sử có những lúc nền âm nhạc phát triển đến cao trào, có những lúc bị mờ nhạt tưởng chừng như mất hẳn song cho đến nay nền âm nhạc của nước ta đã có những chuyển biến mới và “70 năm ca khúc Việt Nam” là dấu ấn để ghi nhận lại sự chuyển biến đó.
    Sự ra đời của nhạc Mới hay Tân nhạc còn gọi là “nhạc cải cách” là một trong những sự kiện quan trọng đánh dấu bước ngoặc, bước phát triển mới trong lịch sử của nền âm nhạc nước nhà. Đây cũng là biểu hiện của lòng yêu nước và tinh thần tự cường dân tộc- nguồn sức mạnh đã tiếp sức cho các nhạc sĩ Việt Nam vượt lên mọi trở ngại để kiên trì theo đuổi ý nguyện xây dựng nền nhạc mới mang linh hồn của dân tộc.
    Trong những bước đi ban đầu, nền nhạc mới đã gặp nhiều vấp váp và cả những thất bại khó tránh trên con đường học tập, tiếp thu những cái mới - nhất là trong một cuộc học đầy gian lao không thầy dạy, không người hướng dẫn chỉ đường, vì vậy trong nền âm nhạc của giai đoạn này người ta thấy không ít những bài lai căn, chấp vá, “đầu Ngô mình Sở ”. Song các nhạc sĩ Việt Nam đã nảy sinh một khuynh hướng đối lập về quan điểm sáng tác và mở cuộc vận động tích cực cho sự tìm tòi nhằm xây dựng và phát triển một thể loại âm nhạc mới mang tính dân tộc.

    Và “ 70 năm ca khúc Việt Nam” có thể chia làm 3 giai đoạn:

     Giai đoạn I: từ năm 1936 đến trước cách mạng Tháng Tám 1945.

    - Giai đoạn II: từ cách mạng Tháng tám 1945 đến 1975.

    - Giai đoạn III: từ năm 1975 đến nay.

    I. GIAI ĐOẠN I: TỪ NĂM 1936 ĐẾN TRƯỚC CMT8 NĂM 1945

    Sau khi đưa phong trào sáng tác mới ra công khai, các nhạc sĩ trẻ càng thêm tự tin, không còn lo sợ, lạc lõng. Phong trào sáng tác, trình diễn ca khúc, nhạc phẩm mới của các nhạc sĩ trẻ Việt Nam ngày càng dâng lên sôi nổi.
    Phong trào chuyển theo hướng làm thay đổi sở thích của giới trẻ. Trước mối nguy vọng Pháp và trong tinh thần bảo vệ nghệ thuật của dân tộc, một số nhạc sĩ Việt Nam ra tay sáng tác những bản tân nhạc đầu tiên là vào năm 1938. Ở miền Bắc lúc ấy có Thẩm Oánh (định cư tại Hoa kỳ và từ trần năm 1996) , Dương Thiệu Tước (từ trần năm 1998 tại Việt Nam) , Trần Quang Ngọc, Lê Thương (từ trần tại Việt Nam). Trong Nam thì có Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Phạm Đăng Hinh. Tháng 3/1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên được chinh phủ bảo hộ Pháp gởi ra Hà Nội để thuyết trình về âm nhạc cải cách nhằm tạo một phong trào mới. Vào tháng 9/1938, báo Ngày Nay đã góp công vào phong trào phổ biến nhạc Mới bằng cách đăng những bài tân nhạc đầu tiên. Từ năm 1938 tới 1942 báo Ngày Nay đã đăng "Bông Cúc Vàng", "Kiếp Hoa" của Nguyễn Văn Tuyên, "Bình Minh", "Đàn Xuân "của Nguyễn Xuân Khoát, "Khúc Yêu Đương" của Thẩm Oánh, "Bản Đàn Xuân" của Lê Thương, "Đám Mây Rừng " của Phạm Đăng Hinh, "Đường Trường" của Trần Quang Ngọc.Báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy có đăng bản "Con Thuyền Không Bến " của Đặng Thế Phong. Các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Trần Dư, Vũ Khánh, Phạm Văn Nhượng cùng nhau thành lập nhóm MYOSOTIS. Trong nhóm này có hai xu hướng:
    - Sáng tác nhạc mới nhưng có âm hưởng nhạc dân tộc do Thẩm Oánh chủ trương.

    - Sáng tác hoàn toàn theo nhạc người Tây phương do Dương Thiệu Tước cầm đầu. Ít lâu sau, một nhóm khác gồm vài nhạc sĩ trẻ đầy nhiệt quyết thành lập nhóm TRICEA gồm Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn. Nhóm này chịu ảnh hưởng nhạc Trung Quốc lúc đầu, về sau phảng phất âm hưởng Âu châu và phải rả sớm. Nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng có các nhạc sĩ Hoàng Quý, Văn Cao, Canh Thân. Nhóm Đồng Vọng do Hoàng Quý điều khiển ra đời chuyên về nhạc hướng đạo lúc đầu và sau đó tích cực đóng góp trong việc phổ biến nhạc Mới. Lê Thương lúc đó giảng dạy tại trường trung học Lê Lợi. Một số tráng sinh hướng đạo có những tên đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam như Canh Thân, Phạm Nguyên, Hoàng Quý đã sáng tác những bài nhạc đáng kể như "Nhớ Quê Hương" (Phạm Ngữ và "Chùa Hương" (Hoàng Quý). Tỉnh Nam Định chứng kiến sự chào đời của hai bài "Đêm Thu" và "Con Thuyền Không Bến" của nhạc sĩ đoản mệnh Đặng Thế Phong. Hai bài nhạc Nhựt "Hà Nhựt Quân Tái Lai " (Bao giờ anh trở lại ) và "Shina No Yoru " (Đêm Trung Hoa) trích trong phim "Đêm Trung Hoa" (Nuit de Chine) đã gợi hứng cho nhạc sĩ Việt Nam thời bấy giờ sáng tác nhạc Việt, tạo thành phong trào "Người Việt hát nhạc Việt ". 1939: thế chiến thứ hai bùng nổ tại Âu Châu. Những bài "Việt Nam Bất Diệt" của Hoàng Gia Linh, "Trên Sông Bạch Đằng" của Hoàng Quý, "Tiếng Gọi Sinh Viên" của Lưu Hữu Phước đã làm sống dậy tinh thần yêu nước của tuổi trẻ.
    Tân nhạc trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ đã đóng một vai trò đáng kể và từ đó phát triển rất mạnh. Phong trào tân nhạc đã được đưa lên cao tột đỉnh với Tổng Hội Sinh Viên trong giai đoạn lịch sử 1943-1945. Nhạc sĩ đi liền với Tổng Hội Sinh Viên không ai khác hơn là Lưu Hữu Phước. Những bài hát làm ra đúng thời, đúng lúc và vẫn còn sống mãi trong tim đa số người Việt ngày hôm nay (nhất là những người vào tuổi ngũ tuần trở đi). Những ai đã sống trong thời kháng chiến chống Pháp vẫn còn nhớ những bài gợi lên những giai đoạn lịch sử Việt Nam như "Ải Chi Lăng", "Bạch Đằng Giang", "Hội Nghị Diên Hồng", hay những bài khích động thanh niên như "Tiếng Gọi Sinh Viên" (đổi thành Tiếng Gọi Thanh Niên, và cũng là bài quốc ca của thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu). "Lên Đàng" hay với thiếu niên như "Thiếu niên Việt Nam", hay những bài gắn liền với lịch sử như "Kinh Cầu Nguyện", "Hồn Tử Sĩ" (bài mà trong bất cứ chương trình đấu tranh của người Việt di tản vẫn còn dùng để tưởng nhớ các chiến sĩ tử trận) . Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là người đầu tiên sáng tác nhạc ca kịch trong kịch thơ "Tục Lụy" của Khái Hưng và Thế Lữ và tiểu ca kịch "Con Thỏ Ngọc". Nguyễn Đình Thi sáng tác bài "Diệt Phát Xít" thúc đẩy dân chúng nổi lên chống Nhựt Bổn.

    Lúc bấy giờ ở tại Sài Gòn, chỉ lẻ tẻ vài hội hoạt động về nhạc cải cách. Hội Nam Kỳ Đức Trí Thể dục mời bà nhạc sĩ dương cầm Louise Nguyễn Văn Tỵ (tên thật là Thái Thị Lang) trình diễn piano với những bài do bà sáng tác. Nhạc sĩ quá cố Võ Đức Thu trình bày nhạc phẩm "Việt Nam Tân Điệu". Từ Bắc tới Nam, nhạc sĩ tân nhạc bắt đầu mọc lên như nấm. Trong giai đoạn 1944 -1945, nhiều bài nhạc tôn giáo như "A Di Đà Phật" của Thẩm Oánh được hát nhân ngày khánh thành trùng tu chùa quán sứ Hà Nội vào cuối năm 1942 hay bài "Sám Hối" và nhiều ca khúc khác của Nguyễn Hữu Ba và Văn Giảng sáng tác tại Huế. Nhạc đoàn Lê Bão Tịnh gồm các nhạc sĩ Hùng Lân, Hải Linh, Tâm Bảo, Thiên Phụng đã sáng tác tập Cung Thánh gồm hàng trăm bài Thánh ca Thiên chúa giáo (1944-1945).

    Giai đoạn 1945-1946 đánh dấu cuộc chiến tranh bùng nổ tại Việt Nam vừa sau trận thế chiến thứ hai. Các nhạc sĩ lo sáng tác nhạc chiến đấu như Văn Cao với "Tiến Quân Ca" (trở thành Quốc Ca của chế độ cộng sản miền Bắc từ năm 1945, và được dùng làm Quốc Ca của Việt Nam Xã hội chủ nghĩa từ năm 1976 sau khi thống nhất đất nước), "Chiến Sĩ Việt Nam ", như Đỗ Nhuận với "Nhớ Chiến Khu ", như Phạm Duy với "Chiến Sĩ Vô Danh ", "Xuất Quân", như Lưu Hữu Phước với "Đoàn Quân Ma ", như Phan Huỳnh Điểu với "Giải Phóng Quân ", như Thẩm Oánh với "Việt Nam Phục Quốc ".

    Song song vơí những sáng tác chiến đấu, tình cảm vẫn còn rung động trong nguồn hứng qua các bài "Thiên Thai " (Văn Cao), Đêm Đông " (Nguyễn Văn Thương), "Xuân và Tuổi Trẻ " (La Hối), "Mùa Đông Binh Sĩ "

    (Phan Huỳnh Điểu), "Dạ Khúc " (Nguyễn Mỹ Ca), Đêm Tàn Bến Ngự " (Dương Thiệu Tước), " Cây Đàn Bỏ Quên " (Phạm Duy), "Mơ Hoa " (Hoàng Giác), "Cô Lái Đò" (Thẩm Oánh), "Suối Mơ " (Văn Cao), "Hẹn Một Ngày

    Về " (Lê Hữu Mục), "Đi Chơi Chùa Hương " (Trần Văn Khê/Nguyễn Nhược Pháp).

    Sáng tác cuả các nhạc sĩ mới trong giai đoạn đầu của âm nhạc cải cách cho tới trước khi cách mạng Tháng Tám thành công không thuần nhất. Theo đà chuyển biến về chính trị và xã hội nước ta, nó có nhiều biến chuyển cả về nội dung lẫn nghệ thuật.

    Căn cứ vào nội dung, các tác phẩm sáng tác trong giai đoạn này có thể chia làm ba khuynh hướng chính: khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hùng ca yêu nước và khuynh hướng cách mạng.


    Khuynh hướng lãng mạn:

    1936 – 1939 là thời kì Mặt trận dân chủ Đông Dương. Tuy chỉ là tạm thời, song do tình hình kinh tế khá hơn trước, nên bọn thực dân ở thuộc địa có phần nới tay hơn trước. Nhiều bộ phận thuộc giai cấp Tư sản và tiểu tư sản lớp trên chưa đi theo cách mạng tưởng có thể phát triển được trong khuôn khổ thự dân. Do đó, trong văn học, các loại văn học không cách mạng, không hiện thực, cụ thể là khuynh hướng văn học lãng mạn có cơ sở tồn tại và phát triển. đi đôi với tình hình văn học nói trên, trong âm nhạc cải cách giai đoan này các ca khúc lãng mạn cũng chiếm địa bộ phận. Tất nhiên cũng như trong văn học, ca khúc lãng mạn trong giai đọan này bao gồm nhiều thể loại và tính chất khác nhau: có ca khúc lãng mạn viễn vong theo kiểu “mơ theo trăng và vơ vẫn cùng mây”, trốn tránh thực tại.

    - Có loại ca khúc nhạc nhẹ, có tính chất giải trí – kể cả giải trí rẻ tiền.

    - Cũng có loại ca khúc lãng mạn mang nội dung sâu sắc hơn, qua đó tác giả gởi gấm tình yêu quê hương đất nước.

    - Lại có những ca khúc lãng mạn mang tính chất lãng mạng đồi trụy, kêu gọi thanh niên đắm chìn trong lốisống gấp. Đối với loại này, tuy chưa thấy bài nào mang tính chất khuy dâm như một số tiểu thuyết cùng loại bắt đầu phát triển từ 1935 và đặt biệt phổ biến ở thời kì 40 – 41 sau này, song nó cũng góp phần làm cho thanh niên xa rời thực tế xã hội để đắm chìm trong tình yêu lãng mạn, ủy mị, chí khí rã rời.

    Đa số bài khác bộc lộ tâm trạng chán chường bế tắc của thanh niên chưa tìm ra được lối thoát trong xã hội ngột ngạt thời đó. Chiếm đa số trong thời kì đầu của “âm nhạc cải cách”, ca khúc lãng mạng sẽ vẫn tiếp tục phát triển ở các giai đoạn sau khi nó không còn là thể loại “bao san” như ở buổi ban đầu.

    Để đánh giá khuynh hướng lãng mạng nói chung, có thể dẫn lời đồng chí Trường Chinh: “những văn nghệ sĩ sống dưới chế độ thực dân phong kiến là những người trí thức bị áp bức, tự mình kiếm sống khá vất vả. Vì vậy trừ một số ít tự nguyện làm “vú em” cho phong kiến và thực dân,còn đại bộ phận nghệ sỹ sớm hiểu sự đau khổ, nhục nhã của nguời dân mất nuớc. Một mặt họ bị hạn chế về quan điểm ,về cách nhận thức sự vật, về tính bấp bênh trong đáu tranh chính trị ,hạn chế về quan điểm, về cách nhận thức sự vật, về tính bấp bênh trong đấu ranh chính trị, nhưng về mặt khác họ giàu lòng yêu nuớc. Ngay trong những quan điểm sai lầm về nghệ thuật một số cũng mốn tìm sự phản kháng, một chỗ đuợc tự do thể hiện lòng ao uớc, niềm hi vọng của mình. Các tầng lớp tu sản và tiểu tư sản trí thức Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa.



    Khuynh hướng hùng ca yêu nước:

    Bên cạnh những bài hát thuộc khuynh hướng lãng mạn ngay từ giai đọan đầu của nhạc mới cũng đã xuất hiện những ca khúc mang nội dung khỏe khoắn, trong sáng. Đó chủ yếu là những bài hát viết cho phong trào hướng đạo của phạm văn xung, hoàng quý. Đặc biệt, ngay trong sáng tác công khai, lẻ tẻ đã có một vài nhạc sĩ viết được đôi bài hát hướng về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc rõ nét. Bài hát câu lạc bộ học sinh của lưu hữu phước (1939) là một trong những bài thuộc lọai đó. Tuy vậy những ca khúc này chưa chiếm ưu thế trên diễn đàn của các báo cáo các nhà xuất bản cũng như trong đa số các tầng lớp thị dân như những ca khúc thuộc khuynh hướng lãng mạn nói trên nó mới chỉ được phổ biến chủ yếu trong phong trào hướng đạo sinh hoặc trong một số bạn bè quen thuộc của các tác giả.

    Cho tới năm 1940 tình trạng nói trên vẫn còn tiếp diễn xong bên cạnh đó bắt đầu xuất hiện thêm những ca khúc của một số nhạc sĩ đã được tiếp xúc với cách mạng và tham gia họat động trong các tổ chức do đảng lảnh đạo. Những bài này có nội dung yêu nước, cách mạng rõ rệt hơn. Tuy nhiên chúng chưa được phổ biến rộng rãi. Một số bài chủ yếu mới phổ biến trong vòng bí mật, như một số bài của đỗ nhuận (lới cha già, chim than), hoàng quý(khoan hò khoan).

    Khuynh hướng này cùng với sự phát triển của tình hình chính trị xã hội trong nước và thế giới càng về sau cho tới cách mạng tháng tám càng phát triển mạng.

    Từ 1941, sau khi đại chiến thứ 2 bùng nổ nước pháp bị lôi kéo vào cuộc chiến và chịu nhiều tổn thất nặng nề.chính phủ pê – tanh chủ trương một công cuộc cải cách va phục hưng nước pháp, trong đó lưu ý nhiều hơn tới tổ chức thanh niên. Việc đó có ảnh hưởng tới các nước thuộc địa.

    Các hoạt động hướng đạo ở nước ta được đẩy mạnh hơn. Với các hoạt đông này, chính quyền thực dân mong muố cứu gỡ lại tình hình thanh niên ở các thành thị “đang say đắm vào cái đời sinh hoạt ích kỉ, lãng mạn, cái đơi trụy lạc cả về vật chất và tinh thần”, thậm chí “dở sống dở chết” vì chìm đắm trong hố trụy lạc do các nạn tiểu thuyết khiêu dâm gây đã lên đếnđỉnh điểm gây ra. Chính phủ pháp hy vọng “với những công cuộc tổ chức đó, thanh niên ta tập theo kỷ luật, tinh thần đoàn thể và rèn dũa những đức tính tốt như làm, sự điềm đạm, sự táo bạo, sự can đảm, kiên nhẫn….” Họ hi vọng nhờ vậy sẽ có thêm nhiều người lính tốt cung cấp cho cuộc chiến tranh của chúng ở Châu Âu.

    Năm 1940 sau khi Pháp thất trận và đầu hàng đức, nhật ồ ạt kéo vào đông dương. Chúng ra sức tuyên truyền cho chủ nghĩa đại đông á, khu vực thịnh vượng chung để lôi kéo những người ghét Pháp nhưng chưa giác ngộ cách mạng, bóc lột nhân dân ta, phát xít Nhật cũng đã khơi lên phong trào khỏe vì nước. Tất cả những sự kiện đó điều tác động mạnh tới tình hình âm nhạc công khai.

    Mặc khác ở thời kì này mặc dù đã rút vào bí mật, nhưng Đảng vẫn bám sát nhân dân lãnh đạo cách mạng. Phong trào cách mạng do đó ngày càng dân cao. Tin tức về các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra và sự khủng bố cực kì mang rợ, tàn bạo cuả thực dâ Pháp đối với những phong rào đó thu lượm được qua báo chí hoặc những thư từ vượt lưới kiểm soát của địch đã kích thích mạnh mẽ lòng yêu nước, câm thù giặc của các thanh niên, học sinh, sinh viên các đô thị.

    Đó là những yếu tố làm sôi thêm bầu máu nóng của những nhạc sĩ trẻ dù chưa tiếp xúc trực tiếp với cách mạng tìm đến ngày càng nhiều hơn với những đề tài lịch sử để qua đó gửi gấm lòng yêu nước chí thù giặc. Khuynh hướng nhạc yêu nước, trước kia còn mơ hồ bé nhỏ, nay có thêm động lực và thời cơ để phát triển trong vòng kiểm soát của địch đồng thời ngày càng ngã dần sang những nội dung yêu nước tích cực và cách mạng. Những ca khúc với đề tài tình yêu lãng mạng và những âm điệu ủy mị, ướt át trước đây- lúc này tuy vẫn còn rãi rác nhưng đã phải nhường bước trước những xu hướng mới: xu hướng vui sống, lịch sử về xu hướng yêu nước tích cực, cách mạng đang trên đà phát triển.

    Nhìn vào số lượng, từ năm 1941 những bài thuộc khuynh hướng này đã nhiều lên rõ rẹt và có chiều vượt qua những bài theo khuynh hướng lãng mạn cũ. Âm nhạc cải cách chuyển sang thời kỳ của những bản hùn ca còn gọi là thời thanh niên và lịch sử. Nó thổi một luồng gió mới vào mọi tâm hồn mệt mõi vì quá lãng mạn và nặng trĩu ưu phiền.

    Một trong những dịp náo nhiệt khơi mào cho sự chuyển hướng mạnh mẽ trong sáng tác âm nhạc là kỳ trẩy hội đền Hùng vào 10/03/1941 do tờ Việt báo tổ chức. Đó là một dịp để người dân Việt Nam tỏa lòng ngưỡng mộ đối với tổ tiên, vua Hùng- những người đã có công mở nước. Bản nhạc Đi hội đền Hùng lời ca của Ngyễn Phước Bộ, âm nhạc của Lưu Hữu Phước được in ra 1000 bản để phát không cho những người đi hội đền Hùng năm đó. Và bài Thanh niên ơi của Thẩm Oánh được hàng ngàn lòng ngực ca vang trong cảnh đời hùng vĩ.
    Thấy công cụ mà mình sử dụng để mê hoặc thanh niên Việt Nam, đẩy họ vào con đường ăn chơi hưởng lạc, xa rời đấu tranh đang dần bị các nhạc sĩ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước chuyển thành công cụ tuyên truyền vận động và thúc đẩy thanh niên lên đường đấu trang giải phóng dân tộc, thực dân Pháp đã bắt đầu xiết chặt lưới kiểm duyệt. Năm 1941, lời bài ca Người xưa đâu tá của Lưu Hữu Phước bị cấm, điệp khúc chính của bài Bạch Đằng Giang ( lời của Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước) vượt lưới kiểm duyệt của thực dân. Song Bạch Đằng Giang, ải chi lăng và kinh cầu nguyện (tức người xưa đâu tá) vượt lưới kiểm duyệt của thực dân vẫn lưu hành trong giới thanh niên, sinh viên và gây nên một phong trào sôi nổi.

    Cuối năm 1941 đầu 1942, tiếng gọi sinh viên của Lưu Hữu Phước bắt đầu lan rộng nhanh chống trong sinh viên và học sinh, rồi được quần chúng tự động gọi tên là tiếng gọi thanh niên. Bài hát đã kích thích mạnh mẽ lòng yêu nước, chí quật khởi của từng lớp thanh niên, học sinh thời bấy giờ. Tổ hội sinh viên- với một lập trường quốc gia cấp tiến và những đoàn viên trẻ tuổi hăng say- là tổ chức đã có nhiều hoạt động có tác động gây tinh thần yêu nước mãnh liệt tron nhân dân, nhất là trong đám học sinh, sinh viên. Đặc biệt chú trọng đến việc dùng tân nhạc tron cuộc đấu tranh chính trị chống Pháp- Nhật, tổng hội sinh viên quảng cáo rầm rộ cho những bản hùng ca của thời kỳ này, trong đó nổi bậc lên những sáng tác của Lưu Hữu Phước.
    Nắm lấy phong trào của thanh niên bên ngoài đang sôi nổi, ban thường vụ trung ương Đảng họp vào thàng 2/1943 ra quyết nghị: phái người vào các đoàn hướng đạo, hội thể dục để hoạt động.
    Chính qua đó, nhiều nhạc sĩ trẻ tham gia trong các tổ chức hướng đạo và các hoạt động của thanh niên, sinh viên đã chịu ảnh hưởng của cách mạng và sau này họ dễ dàng tự nguyện tham gia hàng ngũ những người chiến sĩ cách mạng đấu tranh giải phóng đất nước khỏi xiềng xích nô lệ. Trong lớp nhạc sĩ đầu tiên ấy có thể kể đến Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao…

    Cũng chính vì vậy, từ năm 1943 khuynh hướng nhạc yêu nước ngày càng nở rộ gần như lấn áp hẳn khuynh hướng lãng mạn kể cả những đô thị. Đây là một lực lượng hùng hậu để bổ sung cho dòng âm nhạc cách mạng đã hình thành và hoạt động chủ yếu trong vòng bí mật. Cho tới sau ngày đảo chính nhật 9 tháng 3 năm 1945, đặc biệt là sau cách mạng thánh 8 thành công, dòng âm nhạc này lớn mạnh vượt bật và đè bẹp hoàn toàn dòng nhạc lãng mạn.



    Khuynh hướng cách mạng:

    Khuynh hướng âm nhạc cách mạng của nước ta ra đời cùng với cuộc hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp công nhân ở nước ta – khi đó là Đảng cộng sản Đông Dương.

    Bằng sự nhạy cảm của mình những người cộng sản Việt Nam từ rất sớm đã biết vận dụng cả 2 phương thức sáng tác – đặt lời cho những bài có sẵn và sáng tác những bài ca mới theo phương pháp Âu tây. Các chiến sĩ Cộng Sản Việt Nam đặt lời mới cho những ca khúc cách mạng nước ngoài như: quốc tế ca, thanh niên xích vệ, nhà máy đứng lên mau… của Pháp, Đức. Nhưng khác hẳn việc đặt lời cho ca khúc ngoại quốc trong phong trào hát bài hát ta theo Tây đã nói ở trên, các chiến sĩ Cộng Sản đã làm công việc này với mục đích cổ vũ tinh thần đấu tranh của các chiến sĩ trên mặt trận cũng như nơi lao tù và vận động tham gia hoạt động cách mạng, giành độc lập tự do cho tổ quốc.

    Sớm nắm được quy luật phát triển của nghệ thuật âm nhạc nước nhà họ đã nhanh chóng lợi dụng nó làm vũ khí tuyên truyền cho cuộc đấu tranh chống thực dân xâm lược. Từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 một bài hát mới sáng tác theo phương pháp cấu tứ âu tây xuất hiện: cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu. Bài hát nhanh chóng được phổ biến rộng rãi và có sức lôi cuốn quần chúng xiết chặt hàng ngũ trong các cuộc biểu tình đình công hoặc võ trang cướp chính quyền ngày đó.

    Cho tới nay, bài hát nói trên vẫn được xem là sáng tác mới đầu tiên của khuynh hướng âm nhạc cách mạng. Nó mở màn cho những sáng tác cùng loại trong thời kì 1930 – 1931, 1936 – 1937 và những năm 1940 trở về sau của trần Văn Út (Tam Bình) Vương Gia Khương (cờ việt minh), Đỗ Nhuận (viếng mồ liệt sĩ, chiều tù, Quảng Châu công xã) và nhiều nhạc sĩ khác…

    Sự lãnh đạo ngầm của Đảng trong các tổ chức hướng đạo và các hoạt động của thanh niên – sinh viên từ năm 1943 trở đi được đẩy mạnh nó góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy những mầm móng sáng tác theo khuynh hướng yêu nước tiến bộ trong nền nhạc mới mau chóng lớn mạnh.

    Nhờ đó nhiều nhạc sĩ từng hăng hái sáng tác theo khuynh hướng này về sau đã trở thành những nồng cốt gia nhập đội ngũ nhạc sĩ cách mạng: Lưu Hữu Phước, Văn Cao… đặc biệt cũng trong 1943 đề cương văn hoá của Đảng ra đời lần đầu tiên đường lối và nhiệm vụ văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện tại và tương lai được vạch ra một cách đầy đủ, rỏ ràng và chính xác. Không chỉ còn là những hành động tự phát của những cá nhân lẻ tẻ như trong những năm trước.

    Đề cương văn hoá của Đảng đã chính thức mở màn cho một cuộc phản công có tổ chức của văn hoá Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương chống lại cuộc xâm lược bằng văn hoá của thực dân Pháp.
     

    Anh sáng đường lối của đề cương văn hoá sau này sẽ toả rộng tác dụng trong các tầng lớp văn nghệ sĩ theo cách mạng, giúp họ trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc xây dựng một nền văn hoá nghệ thuật và âm nhạc cách mạng vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại, phục vụ đông đảo quần chúng theo phương châm dân tộc, khoa học đại chúng.

    Từ 1944, khí thế cách mạng ngày càng dâng cao. Một số nghệ sĩ trẻ ở ngoại thành đã bắt liên lạc được với cơ sở cách mạng, trở thành một lực lượng đóng góp tích cực cho cuộc đấu trang sống mái sắp tới bằng thứ vũ khí văn nghệ sắt bén này.

    Những bài Tiếng gọi thanh niên của Lưu Hữu Phước cùng với những bài ca cách mạng khác như: Du kích ca của Đỗ Nhuận, Tiến quân ca của Văn Cao, Diệt phát xích của Nguyễn Đình Thi đã trở thành tiếng kèn thôi thúc thanh niên, sinh viên và các tầng lớp nhân dân hăng hái lao vào cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám 1945 bên cạnh hàng trăm bài hát sôi sục khí thế cách mạng của các tác giả khác…

    Những khuynh hướng khác trong đà tiến triển chung của âm nhạc cải cách các nhạc sĩ ở khắp nơi xuất hiện ngày càng nhiều. Họ sáng tác theo cảm hứng của mình và đồng thời chịu ảng hưởng của thời cuộc và các trào lưu chính từ bên ngoài dội tới. Đề tài nói chung vì vậy ở mỗi người cũng rất đa dạng. Khi thì những đề tài tình yêu mang tính chất lãng mạn. Khi là những bài hát về đề tài thanh niên, lịch sử hoặc chiến đấu.

    Khoảng năm 1944- 1945, những đề tài viết về tôn giáo bắt đầu xuất hiện và ngày càng phổ biến nhiều: A di Đà Phật của Thẩm Oánh (1942), Sám hối của Nguyễn Hữu Ba và một số bài Phật nhạc của Nguyễn Hữu Ba và Văn Giảng, một loạt ca khúc giáo đường Thiên Chúa nở rộ với nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh gồm Hùng Lâm, Tâm Bảo, Thiên Phụng, Hải Linh. Nhóm này sáng tác được hàng trăm bài in trong tập Cung thánh những năm 1944- 1945.
    Bám sát hơi dân ca, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát cũng cho ra đời một số bài có tính chất đồng dao: con cò, con voi…song nhìn chung, càng ngày gần tới ngày tổng khởi nghĩa 1945 những sáng tác mang nội dung yêu nước kích thích tinh thần dân tộc kêu gọi câm thù, thúc đẩy đấu tranh ngày càng nhiều.

    II. GIAI ĐOẠN II: TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN 1975

    1. Giai đoạn từ 1945 – 1954: Âm nhạc Việt Nam thời kì chống Pháp

    Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời đem lại niềm phấn khởi cho mọi tầng lớp nhân dân, trong âm nhạc, các nhạc sĩ trẻ cũng lao vào công cuộc sáng tác những bản nhạc hào hùng phấn chấn.

    Dòng âm nhạc Cách Mạng nảy sinh từ những năm 30 và họat động trong vòng bí mật nay chính thức ra công khai. Từ đây lịch sử ghi dấu sự lớn mạnh không ngừng của dòng nhạc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên, sau hơn nửa thế kỉ đụng độ với âm nhạc phương tây, các nghệ sĩ và nhạc sĩ từ nhiều khuynh hướng khác nhau đã qui từ về một mối. Nhưng từ tháng 12- 1946, Pháp quay lại xâm lược nước ta, âm nhạc Việt Nam lại bước vào giai đoạn phân hóa mới.

    Tại các vùng bị tạm chiếm, âm nhạc bị kéo về tình trạng những ngày đầu trước cách mạng, những đề tài lãng mạn, đồi trụy – phản động được sống lại.

    Ở các vùng kháng chiến, nội dung đề cương văn hóa 1943 của Đảng ngày càng được phổ biến sâu trong giới văn nghệ sĩ. Những cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt chống tư tưởng tự ti, miệt thị và những cách nhìn lệch lạc với nghệ thuật cổ truyền góp phần tẩy rửa nọc độc còn rớt lại của văn hóa thực dân.

    Từ khoảng năm 1950 – 1951 trở đi, âm nhạc Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển mình. Thời kì hồi sinh của âm nhạc cổ truyền và thời kì lột xác của bộ phận “âm nhạc cải cách” theo Cách Mạng chính thức được mở ra.
    Chính trong cuộc kháng chiến này, nhờ bám sát cuộc sống chiến đấu và tắm mình trong nguồn nhạc dân gian tươi mát mà xưa kia bứt xa, phương hướng và phương pháp sáng tác của các nhạc sĩ kháng chiến thay đổi hẳn. Từ 1950, đặc biệt là càng về cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, âm nhạc Cách Mạng càng đạt được nhiều thành tựu đáng kể.

    Trong lĩnh vực ca khúc, không chỉ ở nội dung mà trong ngôn ngữ nghệ thuật. Những âm điệu lai căn một cách cố ý không có chỗ đứng trong âm nhạc kháng chiến. Số bài còn chịu âm hưởng phương tây rút đi trông thấy nhường chổ cho những ca khúc giàu sắc thái dân tộc. Âm hưởng của âm nhạc dân tộc trong ca khúc kháng chiến đậm đà rõ nét.

    Ngoài những thành công của Văn Cao (sông Lô), Lê Yên (bộ đội về làng),… là những điển hình đầu tiên về sự đổi mới khả năng biểu hiện của âm điệu dân tộc với chất hành khúc chiến đấu. Đó cũng là những điển hình đầu tiên về sự Việt hóa thể hành khúc phương Tây và sự kết hợp khá thành công hình thức ca khúc mới với âm điệu dân tộc để tạo ra ngôn ngữ và nhịp sống thời đại trong âm nhạc Việt Nam.

    Chín năm kháng chiến thắng lợi đồng thời cũng đánh dấu sự thắng lợi của Mặt trận văn hóa và âm nhạc Việt Nam chống sự tấn công văn hóa của thực dân Pháp và ảnh hưởng di hại của nó.

    1954 chấm dứt giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Hòa bình được lập lại nhưng đất nước còn tạm chia cắt hai miền. Những cặn bã của văn hóa thực dân ở các vùng pháp chiếm cũ bị dồn xuống phía Nam. Quá trình phân hóa (bắt đầu từ 1946) để hình thành hai dòng nhạc Cách Mạng và phản cách mạng lúc này chuyển vào cao điểm, của sự đối kháng.

    Cùng với sự đối lập về chế độ xã hội, sự phát triển của hai dòng nhạc chính thống ở mỗi miền càng đi sâu vào sự đối lập về nội dung tư tưởng cũng như về hình thức và thể loại.

    Ở miền Bắc, âm nhạc không ngừng bước tiến lên quy mô hiện đại và phát triển một cách nhịp nhàng, cân đối, toàn diện hơn bất kì thời kì nào trong lịch sử âm nhạc nước nhà cho tới lúc đó Âm nhạc miền Bắc ngày càng đi vào chuyên nghiệp và chuyên môn hóa. Các khâu đào tạo, sưu tầm, nghiên cứu được chú trọng, đi vào tổ chức chính qui chặt chẽ, hổ trợ cho sáng tác, biểu hiện vươn lên những thành tựu rữc rỡ. Hàng ngàn bài ca nhạc cổ của các sắc tộc trên đất nước ta được ghi vào các băng từ tính. Hàng trăm bài được xuất bản dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều công trình chuyên khảo về âm nhạc dân gian và sân khấu cổ truyền ra đời.
    Việc phổ cập âm nhạc truyền thống trong nhân dân, đặc biệt trong các thế hệ trẻ, nhờ đó được đẩy mạnh, nâng cao thêm lòng yêu mến, quý trọng vốn cổ và việc kế thừa trong các sáng tác mới. Các lớp huấn luyện ngắn hạn trong thời kì kháng chiến được thay thế bằng các trường nghệ thuật với chương trình giảng dạy dài hạn toàn diện có hệ thống.

    Trường âm nhạc Việt Nam (nay là nhạc viện Hà Nội) thành lập 1956, trường nghệ thuật sân khấu (1959) thường xuyên đào tạo diễn viên đủ ngành nghề, đặc biệt là đội ngũ sáng tác âm nhạc căn bản, vững tay nghề, có khả năng viết ca khúc và tác phẩm thanh khí nhạc đủ loại. Truyền thống tiếp thu tinh hoa âm nhạc nước ngoài được phát huy.

    Trong thế kỷ này, nhân dân Việt Nam chủ động vươn tới những chân trời xa xôi ngoài biên giới, đón nhận tinh hoa âm nhạc bốn phương. Những học sinh, sinh viên âm nhạc gửi sang các nước bạn kế tục nhau ra đi và trở về với những kiến thức mới, kinh nghiệm hay, góp phần cùng lực lượng đang được đào tạo trong nước hoàn thiện dần nền âm nhạc mới của nước nhà. Ca khúc tiếp tục được mùa, ngày càng nhuần nhị hơn với các chất liệu âm nhạc dân tộc, già dận hơn trong việc khai thác các đề tài của cuộc sống mới. Nhiều nhạc sĩ dần hình thành phong cách riêng.



    2. Giai đoạn 1954 – 1975: Âm nhạc Việt Nam thời kì chống Mỹ cứu nước

    Hai mươi mốt năm từ 1954 – 1975 đánh dấu sự phát triển với một tốc độ chưa từng thấy của âm nhạc cách mạng Việt Nam trong lịch sử âm nhạc nước nhà cho tới bây giờ.

    Trong lúc đó, âm nhạc miền Nam chậm chạp bước theo một hướng khác. Tình hình âm nhạc ở đây hoàn toàn không thuần nhất.

    Tân nhạc đi vào con đường nhạc nhẹ hóa với những tác phẩm lai căn.Theo sự phát triển của phong trào và phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam, âm nhạc Cách Mạng và yêu nước cũng dần lớn lên.
    Năm 1975, chiến dịch hồ chí minh thắng lợi, nhanh như trận gió cuốn. Cách mạng Việt Nam toàn thắng. Các thế lực phản động bị đập tan. Dòng nhạc phản Cách Mạng cùng chung một số phận. Trên đất nước hòa bình thống nhất lại xuất hiện điển quy tụ mới trong nền âm nhạc Việt Nam. Tất cả những truyền thống âm nhạc tốt đẹp của dân tộc lại được khơi dậy mạnh mẽ trên toàn đất nước.

    Tiếng trống đồng hùng vĩ cùng tiếng đàn đá cổ xưa lại ngân vang trang trọng trên sân khấu thủ đô và một số địa phương mừng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tròn 35 tuổi. Sự nghiệp xây dựng và phát triển âm nhạc dân tộc, bao gồm hai bộ phận cân đối: nhạc cổ truyền và nhạc Mới, tiếp tục vươn tới đạt những thành tựu mới.
    Những tinh hoa âm nhạc cổ truyền dân tộc đựơc giới thiệu với đồng bào trong nước và nhân dân thế giới. Các công tác đào tạo, nghiên cứu lý luận và sáng tác âm nhạc đều có những bước phát triển mới đáng mừng. Nhiều nghệ sĩ ưu tú tham dự các cuộc thi âm nhạc quốc tế đã đem vinh quang về cho đất nước. Một trong những thành công rực rỡ nhất là thành tích vang dội của nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn trong cuộc thi Piano quốc tế tại Ba Lan, làm chấn động dư luận âm nhạc thế giới.

    III. GIAI ĐOẠN III: 1975 ĐẾN NAY

    Dù khó khăn, dù gian nan, dù sao đi nữa, người dân Việt Nam nên chấp nhận Việt Nam là quê hương ngàn đời. Niềm hy vọng nhỏ nhoi chỉ lóe lên và chưa được bừng sáng thì 30 tháng 4, 1975 đã đưa hàng trăm nghìn người ra đi trên đường di tản. Nhạc trẻ là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện tiên khởi vào đầu thập niên 60. Nhạc kích động Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập thị trường miền Nam vào cuối năm 1959. Giới trẻ, con của các thương gia và giới trưởng giả theo học chương trình Pháp thường nghe các loại nhạc kích động của Mỹ và Pháp.
    Phải đợi tới khoảng 1963 - 1965, phong trào nghe nhạc kích động Tây phương bành trướng mạnh qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The Platters, của Anh quốc như Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones, của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, vv…. là thần tượng của giới thanh niên nam nữ dưới 18 tuổi. Những ban nhạc trẻ kích động mạnh nhưng trên như C.B.C., The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights (sau đổi thành Strawberry Four với Tùng Giang, Đức Huy, Tuấn Ngọc và Billy Shane - cả 4 người này hiện nay ở Mỹ và Billy Shane đã qua đời năm 1998).

    Một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như Elvis Phương (hiện ở Hoa Kỳ), Pauline Ngọc (không còn hát n"a và hiện sống bên Đức), Prosper Thắng (sống ở Pháp và từ trần năm 1998), Julie Quang (hiện sống ở Mỹ), Carol Kim ( sống ở Mỹ),vv.. Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968 trở đi càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn nữa. Trước sự bành trướng mạnh mẽ của nhạc ngoại quốc nổi tiếng, Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Hải, vv… chuyển sang đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc.

    Phải đợi tới năm 1971 mới thấy xuất hiện đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại sân Hoa Lư do Trường Kỳ (hiện ở Montreal, Canada), Tùng Giang (ở California, Hoa Kỳ), và Nam Lộc ( làm việc cho một cơ quan thiện nguyện USCC ở Los Angeles, Cali) đảm trách. Sự thành công của đại hội nhạc trẻ đầu tiên ở Saigon đã đẩy mạnh nhạc trẻ lên cao độ qua những năm kế tiếp (1971 tại trường trung học Taberd với hơn 10.000 người nghe, và 1974 , năm chót trước khi mất Saigon tại vườn sở thú với trên 20.000 khán giả). Những bản nhạc ngoại quốc như "The House of the Rising Sun", "Reviens la Nuit", "Tous les Garçons et les Filles", "Capri, c'est fini", "Bang Bang" , "Besame Mucho", "Only You", "My Prayer", "Be Bop Be Lu La", "Love Story", "Yesterday", "Michelle", etc… là những bài vẫn còn được "ăn khách" trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hiện nay.

    Loại nhạc trẻ không đóng góp gì vào gia tài của nền Tân nhạc Việt Nam hay chỉ là loại nhạc bắt chước theo người Tây phương, không có gì là sáng tạo cả. Đó là loại nhạc cuồng loạn, ru hồn thế hệ trẻ trong khung cảnh chiến tranh để cho họ tạm quên cảnh tương tàn của đất nước qua những bước nhảy tango, twist, be-bop, valse, pasodoble, rumba, cha cha cha, vv.. Một giai đoạn bị Mỹ hóa, giữa thời kỳ náo loạn.

    Giai đoạn thứ ba của lịch sử Tân nhạc Việt Nam kể từ khi hàng triệu người Việt bỏ xứ ra đi trên đường tạm dừng sau ngày 30 tháng 4/1975 cho tới trước ngưỡng cửa của năm 2000.

    Nhạc di tản từ 30 tháng 4/1975. 25 năm lặng lẽ trôi qua. 25 năm đầy biến chuyển trong lịch sử thế giới nói chung và trong lịch sử Việt Nam nói riêng. Chỉ riêng về ngành âm nhạc Việt Nam, nhất là ở hải ngoại, số lượng bài bản tân nhạc, những ca khúc đã thay đổi nhiều đề tài, đã tăng số lượng theo một mức độ ngoài sức tưởng tượng của loài người.

    Những năm đầu của thời di tản cho thấy những băng nhựa đủ loại, từ các cuốn băng sao lại băng cũ thời trước 1975, đến các băng được sản xuất tại Âu Mỹ do hàng chục trung tâm băng nhạc.Đến năm 1988 mở màn cho giai đoạn dĩa laser loại compact disc.

    Chỉ trong vòng 5 năm (1988-1993) hàng nghìn dĩa laser tràn lan khắp nơi. Loại dĩa laser video phát triển từ 1992 lúc phong trào hát Karaoke khởi xướng mạnh tại Hoa Kỳ và Canada. Nhiều quán cà phê và quán phở, tiệm ăn ở Bắc Mỹ phải trang bị máy karaoke và luôn cả tư nhân cũng thích hát Karaoke vào cuối tuần trong những cuộc họp bạn tại gia. Gần đây hơn, các loại dĩa CDV, và DVD thay thế loại laserdisc làm bành trướng mạnh phong trào Karaoke tại tư gia.

    Video về tân nhạc cũng rất thịnh hành, hàng mấy chục trung tâm băng nhạc xuất hiện tại Âu Mỹ và các ca sĩ tự lập các trung tâm sản xuất riêng. Trong phạm vi nhạc di tản, tôi chỉ đề cập tới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại (1975-2000) Giai đoạn di tản qua 25 năm cho thấy sức mạnh vô cùng mãnh liệt của người Việt trong lĩnh vực sáng tác.

    Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người làm văn nghệ lúc nào cũng hăng say tìm nguồn cảm hứng qua những sáng tác âm nhạc. Một số nhạc sĩ ra đi trong đợt di tản đầu tiên gồm có Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Nam Lộc, Song Ngọc, Tô Huyền Vân, Huỳnh Anh. Năm giai đoạn thể hiện lịch sử tiến triển của tân nhạc hải ngoại:

    Nhớ Quê Hương, nhớ Saigon đất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào giữa mùa xuân năm 1975.

    Phải đợi tới cuối thu 1975, một số nhạc sĩ có tên tuổi ở Saigon đã ra đi trong đợt đầu và trong số đó có Nam Lộc. Nam Lộc là người đã viết một bản nhạc vào cuối năm 1975 và là bài thành công nhất trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980). Đó là bài "Saigon Ơi ! Vĩnh Biệt ". Saigon , thành phố của bao kỷ niệm, của nhớ nhung, của hàng triệu con tim bị rung động mỗi khi hai chữ Saigon được nhắc đến, là đề tài cho một số nhạc phẩm như "Saigon Ơi! Vĩnh Biệt !" (Nam Lộc , 1975), "Saigon Ơi ! Thôi Đã Hết" (Nam Lộc , 1976), "Saigon Năm Xưa” (Trần Quang Hải, 1985).

    Ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, California, lễ kỷ niệm một năm xa xứ đã được một số nghệ sĩ Việt tổ chức một chương trình đại nhạc hội đầu tiên giống như ở Saigon cùng lúc với sự chào đời cuốn băng thực hiện lần đầu tại hải ngoại do nữ ca sĩ Thanh Thúy hát với tựa cuốn băng Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt đánh dấu một biến chuyển mấu chốt trong lĩnh vực tân nhạc di tản và sản xuất băng nhạc tại hải ngoại.

    Ở Âu châu tại Paris, phải đợi tới tháng 9,1976 mới thấy sự bùng nổ của chương trình nhạc hội qua sự cố gắng của Lê Lai (đài VOA) từ Hoa Thịnh trốn sang Paris để tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với Khánh Ly, Hoàng Oanh và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải .Sự thành công của chương trình thi ca nhạc di tản đầu tiên đã khơi mào cho chương trình thi ca vũ nhạc kịch của đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn vào cuối tháng 10,1976.

    Các trung tâm băng nhạc lần lần xuất hiện ở Mỹ và Pháp. Từ 1988 bắt đầu chuyển mình sang phong trào làm dĩa laser. Cả chục nghìn dĩa CD đã được tung ra trên thị trường băng nhạc Việt Nam từ 1987. Nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào dĩa CD do Phạm Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề "Nhạc Tình Phạm Duy" vào cuối năm 1987. Vào đầu tháng 2, 1988, tại Paris, nhà sản xuất dĩa hát Pháp Playasound đã tung ra thị trường quốc tế dĩa laser đầu tiên về nhạc cổ truyền Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến qua dĩa "Rêves et Réalités/Trần Quang Hải et Bạch Yến" (Giấc Mơ và Sự Thật).

    Băng video trở thành một món ăn tinh thần cần thiết cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Trung tâm Thúy Nga trở nên một nơi phát hành các chương trình ca nhạc hay nhất từ 1989 trở đi với sự tuyển chọn ca sĩ, phối hợp với kỹ thuật thu hình do một cơ quan chuyên nghiệp Pháp đảm nhận. Phong trào Karaoke lan tràn vào giới nhạc Việt từ 1990.


    Nhạc tranh đấu và kháng chiến

    Sau ba năm im hơi 1975-1978, sống ẩn dật tại Miami (Florida) bên Mỹ trong khi chờ đợi các con (ban nhạc The Dreamers) còn kẹt lại ở Saigon (sau đó toàn ban nhạc The Dreamers đã được sang Mỹ và hiện định cư tại Midway City, California), trong khi ca sĩ Duy Quang đã nhờ Julie Quang (bây giờ chỉ mang tên Julie thôi sau khi chia tay với Duy Quang) để sang Pháp vào cuối năm 1978, Phạm Duy, người sáng tác nhạc nhiều nhất ở Việt Nam, lại xuất hiện lộ diện qua quyển nhạc "Hát Trên Đường Tạm Dung" (1978). Bản " Đường Tạm Dung" và bản "Nguyên Vẹn Hình Hài" của Phạm Duy đã là ngọn đuốc đốt cháy tạo nguồn hứng sáng tác cho một số nhạc sĩ trẻ để tung ra những nhạc phẩm tả nỗi uất ức oán hờn căm thù đi liền với phong trào phục quốc kháng chiến cùng lúc với sự xuất hiện của Võ Đại Tôn và Hoàng Cơ Minh.

    Nguyệt Ánh , một hiện tượng mới trong làng tân nhạc từ 1980 bắt đầu sáng tác nhiều nhạc phẩm phục quốc qua những cuốn băng như "Em nhớ màu cờ", "Dưới Cờ Phục Quốc", … Tên Nguyệt Ánh đi liền với giai đoạn phục quốc, kháng chiến. Việt Dzũng, một nhạc sĩ trẻ, hăng say kháng chiến, nói lên tiếng nói căm hờn qua các bản nhạc đầy ý chí trong hai cuốn băng "Lưu Vong Khúc" và "Kinh Tỵ Nạn" (1981). Trần Quang Hải và Bạch Yến đã sáng tác một số nhạc phẩm đấu tranh , điển hình nhất là "Thương Nhớ Quê Hương" (1978), "Cầu Mong Cho Mau Hòa Bình" (1978), và "Em Về Gi" “ Lửa" ( phổ thơ của Minh Đức Hoài Trinh, 1978) Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam, với mục đích yểm trợ "chiến dịch người về" đã xuất bản hai cuốn băng "Hát Cho Những Người Về " (1981), và "Rực Lửa Trời Đông" (1983) gồm những ca khúc nung nấu tinh thần kháng chiến ở hải ngoại và quốc nội. Nhiều chủ đề được tung ra qua một số băng nhạc sản xuất từ 1976 - 1980 như "Tháng Tư Buồn", "Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta", "Ngày Quốc Hận 30 tháng 4/1975", "Người Di Tản Buồn", "Hát Cho Người Tìm Tự Do", "Quê Hương Bỏ Lại", vv…

    Nhạc tả lại cảnh lao tù Việt Nam Năm 1981, Phạm Duy sáng tác 20 bài lấy tựa là "Ngục Ca" qua lời thơ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ "Tiếng Vọng Từ Đáy Vực" . Hà Thúc Sinh sáng tác trong thời gian học tập cải tạo ở Việt Nam . Sau khi vượt biển , được định cư tại Mỹ, đã xuất bản tập nhạc "Tiếng Hát Tủi Nhục" (1982). Châu Đình An, một nhạc sĩ trẻ , đã đóng góp qua tập nhạc "Những Lời Ca Thép " (1982). Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Nguyễn Đức Quang ở Mỹ, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Vy Hùng ở Canada, Trần Quang Hải, Duyên Anh, Ngô Càn Chiếu ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Nguyễn Đình Ngoạn ở Đức, Phạm Quang Ngọc, Cung đàn Nguyễn Sỹ Nam, Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc châu đã viết nhiều bài ca tranh đấu cũng như những ca khúc phù hợp với phong trào phục quốc.
    Sự phục sinh của nhạc tiền chiến từ năm 1982 trở đi, hiện tượng phục sinh nhạc tiền chiến được phát triển rộng rãi. Những ca sĩ đua nhau sản xuất băng nhạc hát lại những bài hát tiền chiến hay những bài trước 1975. Bạch Yến, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Kim Anh, Minh Hiếu, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie, Huyền Châu, Bích Thuận, Phương Dung, Kim Loan, Duy Quang, Elvis Phương, Thanh Mai, vv….

    Trong những năm 1983 - 1985 đã phát hành trên 100 cuốn băng nhạc làm sống lại những bài ca tiền chiến như để gợi lại biết bao kỷ niệm của thời quá khứ. Chủ đề phục quốc, kháng chiến nhường bước cho chủ đề tình yêu và kỷ niệm quê hương sau 10 năm lưu vong.

    Một số nhạc sĩ như Lam Phương, Đức Huy, Phan Kiên, Duy Quang, Ngô Minh Khánh, Trần Quang Hải, Duyên Anh trong khoảng thời gian 1982-85 đã sáng tác rất nhiều nhạc phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa. "Yêu Em Dài Lâu" (Đức Huy), "Ru Đời Phù Ảo" (Duyên Anh, 1984), "Anh Cần Em" (Trần Quang Hải - Lương Ngọc Châu, 1982).
    Giai đoạn này đánh dấu một chiều hướng mới trong làng nhạc Việt với sự viết lời ngoại quốc (Pháp và Anh) trên nhạc Việt do nhạc sĩ Trần Quang Hải đề xướng và mang nhạc Việt do nhạc sĩ Việt sáng tác vào thị trường quốc tế.
    Hưng ca, nhạc trẻ song ngữ ,phong trào phổ thơ được bành trướng, cũng như sự tái sinh phong trào du ca với Nguyễn & ETH; Ức Quang, Nguyễn Hữu Nghĩa và Phan Ni Tấn. Phong trào Hưng Ca được thành hình vào năm 1985 với tôn chỉ là dùng văn nghệ sân khấu và thanh niên để giữ vững những niềm tin cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa và bạo quyền cộng sản. Hai tập nhạc được phát hành: "Hưng Ca 1: Lên Đường "(1985), và "Hưng Ca 2: Hẹn Em Sài Gòn" (1986).

    Vấn đề thích nhạc ngoại quốc đã có từ thập niên 60 tại Việt Nam. Mười mấy năm trôi qua ở hải ngoại, giờ đây phong trào thích nhạc ngoại quốc (giống loại nhạc trẻ thời thập niên 70 ở Saigon) lại bành trướng mạnh và được giới trẻ lớn lên ở hải ngoại hưởng ứng nồng nhiệt.

    Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đã tạo ra phong trào xuất bản nhạc khiêu vũ và sự phát hiện nhiều vũ trường ở các nơi có đông người Việt sinh sống. Một số mầm non ca sĩ trẻ như Linda Trang Đài, Cinda Thúy, Sơn Tuyền, Thúy Vi, Thái Hiền, Phương Thúy, Lucia Kim Chi, Tryzzie Phương Trinh, Tuệ Châu, Tuấn Anh ở Mỹ, Ngọc Huệ (sang định cư ở Mỹ từ năm 1991), Bảo Khánh, Quỳnh Lân ở Úc châu cùng với Công Thành và Lynn (sang định cư ở Hoa kỳ từ năm 1987).

    Về sau có Đơn Hồ (nổi tiếng nhất trong năm 1992), Dalena (nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát tiếng Việt, nổi tiếng nhất trong hai năm 1991 và 1992),Trịnh Nam Sơn, Thái Tài, Ý Nhi, Ý Lan, Sher'e Thu Thủy, Phi Khanh, Như Mai, Kenny, Mỹ Huyền, Ngọc Bích, Thanh Hà, Quỳnh Như, Mạnh & ETH, Phi Nhung, Thanh Trúc, vv… mang lại cho nền nhạc trẻ một luồng gió mới và tạo nhiều sống động. Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đi tới nhạc song ngữ rất gần.
    Một số nhạc sĩ Việt như Phạm Duy, gần đây hơn có Khúc Lan, Ngọc Huệ, tất cả đều ở Mỹ và dịch lời ca Mỹ và Pháp ra bằng tiếng Việt và các ca sĩ trẻ hát nửa Việt nửa Anh hay Pháp và tạo thành một phong trào nhạc song ngữ từ năm 1987 trở đi.

    Trong thời gian 10 năm chót của thế kỷ XX, Phạm Duy đã phổ nhạc thơ Hoàng Cầm, phát hành quyển "Ngàn Lời Ca" (1987). Năm 1991, Phạm Duy thực hiện một loạt ca khúc "Bầy Chim Lìa Xứ", và phần giao hưởng cho "Con & ETH”.

    Sau cùng ông soạn nhạc phổ thơ "Truyện Kiều" và sẽ hoàn thành trong một thời gian gần đây. Trong vài năm chót đây (từ 1988), một số ca sĩ tân nhạc sống dưới chế độ Cộng Sản đã thoát ra hải ngoại và xin tỵ nạn như Họa Mi ( Pháp, 1988), Ái Vân (Đức, 1990, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ), Anh Khoa (Hưng Gia Lợi, 1988), Thái Châu (Gia Nã Đại, 1990), Bích Liên (Đức, 1992), Duy Khánh (Hoa Kỳ, 1991), Duy Trác (Hoa Kỳ, 1992), Nhật Trường (Hoa Kỳ, 1993) đã mang lại cho nhạc Việt ở hải ngoại một luồng gió mới , nhất là trong ngành phát hành băng nhạc và băng video. Một số nữ nhạc sĩ nổi danh ở hải ngoại qua nhiều sáng tác như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Linh Phương, Lê Tín Hương…

    Nhạc sĩ Vô Thường tạo một chỗ đứng riêng biệt với tiếng đàn Tây ban cầm tay trái qua hàng trăm CD tự xuất bản tại Hoa Kỳ . Các nhạc sĩ nghiệp dư như bác sĩ Phạm Anh Dũng (Hoa Kỳ), bác sĩ Nguyên Bích (Hoa Kỳ) có viết nhạc , cũng như nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc cho gần 200 bài thơ và thực hiện 18 CD với toàn nhạc của anh.

    Nhạc thiền đạo được phát triển từ năm 1996 với hai hiện tượng đáng kể: thiền sư Lương Sĩ Hằng và Vô Thượng Sư Thanh Hải và một số nhạc phổ thơ của hai vị này.

    Nhạc tại Việt Nam sau 1975 Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc, và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc. Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng:

    Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng, Từ Huy, Phú Quang, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Dương Thụ.

    Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền . Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Trần Tiến, Phó Đức Phương, Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.

    Nhóm "Những Người Bạn " gồm 8 nhạc sĩ: Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Từ Huy,

    Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hiên và Vũ Hoàng được chào đời tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 3, 1992 sau khi Trịnh Công Sơn sang Pháp gặp nhóm nghệ sĩ phố (artists on the road/ artistes de rue).

    Tên "Những người bạn " do Trịnh Công Sơn đề nghị với mục đích là sáng tác và trình bày sáng tác mới cho bạn và công chúng nghe. Mỗi tháng, nhóm đều có họp và mỗi người phải giới thiệu ít nhất là một sáng tác mới của mình và nghe lời phê bình của anh em. Nhóm "Những người bạn " sẵn sàng đi giới thiệu những tác phẩm mới và làm thành băng nhạc, video với sự phụ giúp những ca sĩ nổi tiếng như Lệ Thu (sang định cư tại Pháp), Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Thế Sơn, Thu Hà, Yến Linh.

    Trong buổi đầu tiên của nhóm này. Trịnh Công Sơn đã trình bày nhạc phẩm mới nhất tên là "Con Mắt Còn Lại" (ý thơ Bùi Gián - Thanh Tùng viết một ca khúc "Lối Cũ Ta Về " trong hoài niệm về người vợ đã mất. Trần Long Ẩn viết tặng mẹ. Hiện tượng này xảy ra vì các ca khúc mới sau 1975 không còn người nghe. Dân chúng ưa nhạc "sến", nhạc "vàng" hay nhạc trước 1975.

    Các ca khúc trữ tình trước 1975 xua đuổi các loại nhạc đấu tranh ca tụng Bác và Đảng, và luôn cả nhạc mới sau 1975. Từ năm 1990 trở đi, phong trào tổ chức hát vinh danh các nhạc sĩ lão thành như Nguyễn Văn Thương, Lê Thương, Hoàng Giác, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phan Huỳnh Điểu, Đoàn Chuẩn, Trần Hoàn, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý hay các nhạc sĩ trẻ hơn như Trịnh Công Sơn được tổ chức tại Hà Nội và Saigon và những ca khúc tiền chiến được hát trở lại. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã chuyển hướng sáng tác qua nhạc trẻ em (nhạc đồng dao) được nhiều thành C & OCIR.

    Hiện nay xe chúng ta đang thuộc địa phận Tp Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn và đông dân nhất cả nước với diện tích hôm nay rộng hơn 2093,7 km2 , dân số 5.037.155 người (01/04/1999). Tp Hồ Chí Minh có năng lực về sản xuất kinh doanh và đang phát triển khá sầm uất nhất khu vực Đông Nam Á.

    Ngược dòng lịch sử vào 1698 Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam Kinh lược đã lập dinh Phiên Trấn đặt cơ sở hành chính đầu tiên của Sài Gòn nay là Tp Hồ Chí Minh. Nếu không nhìn lại lịch sử , chúng ta thật khó hình dung nổi vùng đất này hơn 300 năm trước chỉ là bãi sình lầy, hoang vu. Nơi đây đất lành chim đậu đã có sức cuốn hút khác thường: người từ nhiều miền đất xa xôi nào đó đã đặt chân đến đây là trụ lại rồi sinh sôi nảy nở. Bằng bàn tay và khối óc, bằng mồ hôi nước mắt và cả xương máu nữa, họ đã biến vùng đất hoang sơ thành đồng ruộng phì nhiêu, phố phường đông đúc để rồi trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ lớn của cả nước như ngày hôm nay và mãi mãi trong tương lai.

    Thưa qúy du khách! Tp Hồ Chí Minh đã phải chịu nhiều tác động của bao cuộc chiến tranh để đến ngày nay là một trong những thành phố đa văn hóa, đa dân tộc. Hiện nay Tp Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước thu hút hằng năm 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam.Thì hôm nay qúy khách hãy rũ bỏ hết những vất vả lo toan của công việc hằng ngày, tạm biệt Tp Hồ Chí Minh thân yêu để đến với một thành phố êm đềm hơn tận hưởng những ngày nghỉ tuyệt vời.

    NGÃ TƯ HÀNG XANH.

    Thưa qúy du khách! phía trước chúng ta là ngã tư Hàng Xanh. Sở dĩ có tên gọi là Hàng Xanh theo Sài Gòn xưa của Vương Hồng Sển: trước đây vùng này có trồng nhiều loại cây Sanh (là loại cây cổ, cùng loại với cây si) được đọc trại nên có tên gọi là Hành Xanh. Nút giao thông này được xây dựng 17/09/1994, hoàn thành vào 30/4/1995 (nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Thành phố Sài Gòn) do công ty Huy Hoàng thi công với tổng kinh phí xây dựng 15,6 tỷ đồng, nếu tính luôn tiền đền bù giải tỏa kinh phí lên đến 63 tỷ đồng. Mục đích xây dựng nút giao thông Hàng Xanh nhàm giải quyết tình trạng kẹt xe thường xuyên trong thời gian trước. Nút giao thông Hàng Xanh là cửa ngõ quan trọng phía Bắc thành phố, hiện tại ở nút giao thông Hàng Xanh đến cầu Văn Thánh được mở rộng 2 bên có 4 làn xe chính và 2 làn xe phụ(tổng cộng 12 làn xe). Từ cầu Điện Biên Phủ đến chân cầu Sài Gòn sẽ được xây dựng mới với bề mặt cắt ngang là 100m và mở rộng đường Đinh Tiên Hoàng gấp đôi, với vốn đầu tư là 370 tỷ đồng.

    Khu vực Văn Thánhcó nhiều tên gọi: cầu Văn Thánh, bến xe Văn Thánh, khu du lịch Văn Thánh. Tên Văn Thánh có từ 1824 (Minh Mạng 5) ở khu vực này có xây dựng ngôi Văn Miếu thờ đức Khổng Tử nên người dân gọi là Khu Văn Thánh, trong thời Pháp miếu này bị phá bỏ và hiện nay không còn nữa. Xe chúng ta đang đi qua cầu Văn Thánh, cầu được bắc qua rạch Văn Thánh đổ ra rạch Thị Nghè và sau đó đổ ra sông Sài Gòn.

    Phía bên tay trái của qúy khách là bến xe Văn Thánhchợ Văn Thánh.Bến xe Văn Thánh là một bến xe lớn có từ lâu đời ở khu vực này, từ đây có thể đi Biên Hòa, Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung. Khoảng cuối năm 1996 bến xe được dời sang bến xe miền Đông với lý do ở đây xây dựng đường lớn và đường cao tốc, nếu để bến xe ở khu vực này sẽ gây ách tắc giao thông. Chợ Văn Thánh được xây dựng khoảng 1993-1995 dự kiến đây là chợ đầu mối(giống như chợ An Lạc và bến xe miền Tây) cho các loại hàng hóa từ miền Trung  và khu Tân Cảng, nhưng chợ khánh thành và buôn bán không lâu thì bến xe Văn Thánh dời đi làm cho chợ mất khách và mất đi vị trí chiến lược như dự kiến. Hiện nay chợ rất ế ẩm và nhà nước đang có kế hoạch bán khu chợ cho doanh nghiệp Đài Loan sự dụng vào việc khác.

    Khu du lịch Văn Thánhnằm trên một cù lao 7 ha nên còn gọi là cù lao 7 mẫu, hiện nay do Công Ty Du Lịch Sài Gòn quản lý.  Đây là khu du lịch nhỏ nhưng được nhiều người biết đến vì 1993-1994 ở đây tổ chức thi tuyển diễn viên điện ảnh. Vào mùng 5 tháng Giêng âm lịch hằng năm ở đây thường tổ chức lễ hội mừng chiến thắng Đống Đa (05/01/1789 Kỷ Dậu âm lịch).

    Khu du lịch Tân Cảng (Quân Cảng)trước đây khu vực này là cảng quân sự quan trọng của Mỹ-Ngụy. Sau giải phóng đây là khu vực của Hải Quân Việt Nam. 1990 khu vực Tân Cảng được chia thành 2 khu: quân sự và kinh tế cho tàu xuất nhập hàng hóa và kho để các container. Từ cầu Sài Gòn nhìn xuống chúng ta có thể thấy rất nhiều container xếp chồng lên nhau trong một khu vực rộng lớn.

    CẦU SÀI GÒN.

    Và bây giờ xe chúng ta đang đi qua cầu Sài Gòn đây là cửa ngõ quan trọng nối Tp Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Cầu được xây dựng 1959-1961 do công ty C.E.C (Capital Engineering Coporation) thiết kế và thi công. Nếu dựng cầu này lên thì qúy khách sẽ thấy cây cầu này cao bằng chiều cao của ngọn núi Bà Đen với chiều dài 987,413 m, rộng 24 m, 32 nhịp, Trước 5/2000 thì cầu Sài Gòn là cây cầu dài nhất Nam Bộ nhưng hiện nay nó đã nhường vị trí hàng đầu đó cho cầu Mỹ Thuận, là một công trình được xây dựng để chào thiên niên kỷ mới.

    Thưa qúy du khách! Cầu Sài Gòn được bắc qua sông Sài Gòn, sông dài trên 230 km bắt nguồn từ cao nguyên Hớn Quảng (Lộc Ninh – Bình Phước). Một đoạn sông này là ranh giới tự nhiên giữa Tây NinhBình Phước, một phần nước sông này chảy vào khu vực lòng hồ Dầu Tiếng – Tây Ninh. Sau đó chảy qua khu vực Bến Cát đến Thủ Dầu Một vào Tp Hồ Chí Minh và hợp với sông Đồng Nai đổ ra cửa Cần Giờ vịnh Gành Rái, đây là con sông có giá trị kinh tế lớn về giao thông, đặc biệt có nhiều hệ thống cảng quan trọng: cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái – Tân Cảng

    QUẬN 2 :

    Qua khỏi cầu Sài Gòn là địa phận của Quận 2 – Tp.HCM với diện tích 5020 ha gồm An Phú , An Khánh , Thủ Thiêm , Thạnh Mỹ Lợi , Bình Trưng . Trước 01/04/1997 khu vực này thuộc Quận Thủ Đức. Quận 2 gồm khu công nghiệp Cát Lái và khu đô thị mới Thủ Thiêm sẽ là trung tâm mới của thành phố trong tương lai gần . Với quy hoạch của thành phố thì Quận sẽ là trung tâm thương mại tài chánh của thành phố . Dân số hiện tại khoảng 86.027 người , dự kiến năm 2010 tăng 450.000-500.000 người .

    Hiện  có một số công trình trọng điểm đã và đang khởi công xây dựng tại khu vực Quận 2 :

    + Khu nhà ở và du lịch An Khánh

    + Khu đô thị mới Bình Trưng , Thạnh Mỹ Lợi

    + Khu liên hợp TDTT Rạch Chiếc

    + Khu công nghiệp Cát Lái .

    + Tháp truyền hình TPHCM cao 450m với vốn đầu tư 150 triệu USD

    + Hầm vượt sông Sài Gòn tại Thủ Thiêm

    + Đường song hành với quốc lộ 52 ( Kinh phí dự tính là 310 tỷ )

    + Đường cao tốc Bà Rịa – Vũng Tàu .

    QUẬN THỦ ĐỨC :

    Quận Thủ Đức có diện tích 47,26Km2 , dân số 163.387 người gồm 12 phường . Thị trấn Thủ Đức , Linh Đông , Linh Xuân , Linh Trung , Hiệp Bình Chánh , Hiệp Bình Phước , Tam Phú , và một phần xã Tân Phú , Hiệp Phú , Phước Long . Gồm 8 khu quy hoạch trọng điểm :

    + KCN Bắc Thủ Đức ( KCX Linh Trung ) 400 ha .

    + KCN Hiệp Bình Phước : 70 ha .

    + KCN Tam Bình : 50 ha

    + KCN Bình Chiểu : 28 ha

    + Khu du lịch ven sông Sài Gòn : 200 ha .

    + Khu dân cư Hiệp Bình Chánh – Linh Đông : 50 – 70 ha

    + Khu dân cư mới : 16 ha

    + Trường Đại học Quốc Gia : 800 ha ( 200 ha ở Thủ Đức )

    QUẬN 9 :

    Quận 9 có diện tích 113,75km2 , dân số 123.059 người , gồm các xã : Long Bình , Long Thạnh Mỹ , Tăng Nhơn Phú , Long Phước , Long Trường , Phú Hữu , Phước Bình và một phần diện tích của các xã Tân Phú , Phước Long , Hiệp Phú , Bình Trưng

    XA LỘ BIÊN HÒA ( XA LỘ HÀ NỘI )

    Con đường chúng ta đang đi vào những năm trước 1975 mang tên xa lộ Biên Hoà được xây dựng 1959-1961 do công ty CEC thiết kế và thi công đoạn đường này bắt đầu từ chân cầu Sài Gòn kéo dài đến ngã tư Tam Hiệp với chiều dài 31km , rộng 21m . Những năm này Mỹ và chính quyền Sai Gòn sử dụng con đường này như một đường băng quân sự dã chiến phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất bị sự cố , đến 1971 Mỹ cho rằng xa lộ thuận lợi cho quân cách mạng đỗ bộ tấn công Sài Gòn nên đã cho xây dựng con lương giữa tim đường . Sau năm 1975 con đường này mang tên quốc lộ 52 nhưng chỉ còn lại 10km bắt đầu từ chân cầu Sài Gòn đến ngã ba Đại Hàn ( hay còn gọi là ngã ba trạm 2 ) đoạn còn lại là Quốc lộ 1 . 1984 nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội đã đổi tên thành xa lộ Hà Nội , bắt đầu từ chân cầu Sài Gòn đến ngã tư Thủ Đức , đoạn còn lại là quốc lộ 1 . Ngày nay , hai bên xa lộ đã mọc nhiều khu vực dân cư sầm uất , khu vui chơi giải trí thể thao , làng đại học và đặc biệt là các khu công nghiệp hiện đại . Đây là con đường được duy tu , bảo dưỡng tốt nhất suốt chiều dài quốc lộ .

    CẦU RẠCH CHIẾC

    Xe chúng ta sắp đi qua cầu Rạch Chiếc , cây cầu này được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hoà ( 1959-1961 ) . Đây là cây cầu nhỏ với chiều dài 148m , rộng 8,5m nhưng là nhân chứng cho một sự kiện lịch sử quan trọng góp phần là rạng rỡ cho chiến dịch HCM vào 27/04/1975 tại chân cầu này đã xảy ra liên tục năm trận đánh giữa quân giải phóng và quân lính Sài Gòn bảo vệ cầu ( vì đây là điểm yếu nhất trên xa lộ ) . Cuối cùng quân giải phóng đã chiếm được cầu Rạch Chiếc dành lại đường giao thông quan trọng cho quân giải phóng tiến vào Sài Gòn , bên cạnh chiến công đó thì 59 chiến sĩ Cách mạng của ta đã hy sinh tại đây . Hiện nay , nhà nước đang có kế hoạch xây dựng đài tưởng niệm 59 chiến sĩ đã hy sinh 27/04/1975 .

    NHÀ MÁY XI MĂNG HÀ TIÊN

    Qua khỏi cầu Rạch Chiếc , phía tay phải của quý khách là quận 9 , phía tay trái là quận Thủ Đức . Nhìn về phía tay trái quý khách thấy một nhà máy đó là nhà máy xi măng Hà Tiên thuộc địa phận quận Thủ Đức được xây dựng 1959-1963 với công suất ban đầu là 79.000 tấn / năm , hiện nay nhờ trang thiết bị hiện đại công suất đã lên đến 1,2 triệu tấn / năm . Sau 1975 nhà nước quản lý ,  hiện nay nhà máy cung cấp một lượng lớn xi măng cho khu vực miền Nam và là một trong những cánh chim đầu đàn của ngành xi măng Việt Nam . Nguyên liệu chính lấy từ nhà máy xi măng Kiên Lương , sau đó chuyên chở bằng sà lan tới thành phố sản xuất ra xi măng thành phố cung cấp cho thị trường thành phố và Đông Nam Á .

    NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THỦ ĐỨC

    Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức được xây dựng vào năm 1964 với công suất hiện nay là 242MW  ( do nhận thêm 2 turbin khí từ Hải Phòng với công suất 77 MW )

    NGÃ TƯ THỦ ĐỨC

    Chúng ta đang đến một ngã tư đó là Ngã tư Thủ Đức , nếu rẽ trái là đi vào chợ Thủ Đức  , Sài Gòn WaterPark ….., còn rẽ tay phải là đi vào bệnh viện quân đội 7A , trường Công An Phước Sơn ,Học việc chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện TPHCM , Đại học Giao thông vận tải .

    NHÀ MÁY NƯỚC THỦ ĐỨC

    Nhìn bên tay trái quý khách có thể nhìn hai cột cao đó là nhà máy nước Thủ Đức được xây dựng 1959 với công suất hiện nay là 670.000m3 / ngày . Nhà máy có 8 bể lọc lấy nước từ sông Đồng Nai tại khu vực Hoá An cung cấp nước cho toàn thành phố . Và hai cột này là hai cột thuỷ áp nhằm điều hoà áp lực trong các đường ống nước như vào ban đêm tất cả các ống nước được khoá thì áp lực thì áp lực trong các đường ống rất lớn . Hai cột này có nhiệm vụ làm giảm áp suất , tránh tình trạng bị vỡ ống nước . Hiện nay chúng ta đang vay vốn tại ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) khoảng 65 triệu USD để thay đổi toàn bộ các ống dẫn nước chính từ 1,8m lên 2,4m và mở rộng nhà máy nước đưa công suất cung cấp nước của nhà máy lên 1 triệu m3 /ngày .

    CÔNG TY NƯỚC GIẢI KHÁT COCA-COLA

    Kế bên nhà máy nước Thủ Đức là công ty nước giải khát Coca-Cola với khả năng sản xuất 3.500két / ngày và công suất tối đa 40 triệu lít / năm . Hiện nay công ty này là doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài , chiếm lĩnh thị trường nước ngọt ở TPHCM và cả nước . Nhà máy trước đây là công ty liên doanh giữa Công ty nước giải khát Chương Dương và Công ty Indochina chi nhánh PBC ( Pacific Beverages  Company ) đặt tại Singapore , chính thức ký hợp đồng vào tháng 07/1993 với tổng đầu tư là 4 triệu USD . Nhà máy PBC nằm trên một lô đất khoảng hai ha tại Thủ Đức và có ba dây chuyền sản xuất : 1 vô chai thuỷ tinh , 1 vô lon , 1 vô chai nhựa PET . Ngoài ra , công ty là một trong những đơn vị tài trợ cho nhiều loại hình hoạt động ở TPHCM và cả nước nhất là về TDTT .

    NGÃ BA TRẠM HAI ( XA LỘ ĐẠI HÀN )

    Trước mặt quý du khách là ngã ba trạm 2 , con đường rẽ trái là xa lộ Đại Hàn ( hay còn gọi là xa lộ vành đai ) đây là con đường được xây dựng 1963 do chính quyền Sai Gòn làm để giảm bớt lưu lượng xe chở hàng từ các tỉnh miền Trung về miền Tây và ngược lại , không phải đi xuyên qua TPHCM . Con đường này với tổng chiều dài 40km từ ngã ba trạm 2 đến An Lạc – Bình Chánh , được Mỹ thiết kế và công binh Đại Hàn thi công nên mới gọi là xa lộ Đại Hàn . Sau 1968 Mỹ sợ hãi và lập tức cho xây dựng con đường này như một vành đai bảo vệ ngăn cách giữa Sài Gòn , Tân Sơn Nhất với cái nôi Cách mạng Củ Chi nên hiện nay trên bản đồ con đường mang tên là đường Trường Sơn . Trong tương lai , dự án xây dựng con đường xuyên Á Bangkok – PhnômPênh – Mộc Bài – Quốc lộ 22 – Xa lộ Đại Hàn – Quốc lộ 51 - Vũng Tàu sẽ được thực hiện  

    KHU DU LỊCH SUỐI TIÊN

    Đã từ lâu rồi trên đất nước tươi đẹp của chúng ta từ Bắc vào Nam những địa danh có phong cảnh hữu tình thơ mộng đều được dân gian lưu truyền với những cái tên mang dáng dấp huyền thoại . Đà Lạt có suối Tiên , Phú Yên có suối Tiên , Khánh Hoà có suối Tiên , Bãi Tiên … Nhưng chưa có con suối nào chảy cùng dòng thời gian với những truyền thuyết huyền thoại thật ly kỳ , hấp dẫn lại được chăm chút , kiến tạo với quy mô lớn như  Suối Tiên TPHCM đang nằm phía tay phải của quý khách cách TPHCM 19km . Nằm ở cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn , khu du lịch Suối Tiên nằm trên vùng đất đồi hình chữ S rộng 200.000m2  , chính giữa có dòng suối ngọt lành với nhiều mạch nước ngầm uốn lượn chảy xuyên qua suốt chiều dài 200m . Cảnh sắc hoang dã của Suối Tiên xưa dưới bàn tay lao động cần cù , khéo léo với nghệ thuật sắc sảo , tinh vi của các nghệ nhân , công nhân đã thực sự làm hồi sinh một vùng đất đã trãi rộng nơi đây một màu xanh mượt mà , tràn đầy sức sống … Bước vào khu du lịch Suối Tiên quý khách sẽ như lạc vào một chốn : “Bồng lai tiên cảnh” và đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác .

    NGHĨA TRANG LIỆT SĨ THÀNH PHỐ

    Nằm bên tay phải chúng ta là nghĩa trang liệt sĩ thành phố , đây là nơi yên nghĩ của các chiến sĩ hy sinh trong hai cuộc trường chinh chống Pháp , chống Mỹ và trên chiến trường Campuchia . Nằm trên ngọn đồi không tên với diện tích 3ha được xây dựng từ 1984 đến 04/1987 thì hoàn thành do kiến trúc sư Vũ Đại Hải thiết kế .

    Với hình ảnh người mẹ Việt Nam cao sừng sững ôm trọn 10.000 đứa con thân yêu đã ngã xuống cho Tổ Quốc . Điêu khắc gia Nguyễn Hải đã gửi tặng cho người dân TPHCM .

    CÔNG VIÊN LỊCH SỬ VĂN HÓA DÂN TỘC

             Qua nhiều ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam có rất nhiều di tích lịch sử và công trình văn hóa quý báu tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh kiên cường của các thế hệ người VIệt Nam để bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc.

            Thế nhưng các di tích lịch sử và công trình văn hóa của đất nước nằm trải dài từ Bắc đến Nam không phải ai cũng có điều kiện đến được; cho nên việc xây dựng và thể hiện những cột mốc lịch sử và văn hóa dân tộc ở một địa điểm tương đối tập trung là rất cần thiết cho việc giáo dục, phát huy truyền thống dân tộc và tạo điều kiện giao lưu văn hóa trong nước, giới thiệu văn hóa Việt Nam với nước ngoài.

            Dự án Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc tại thành phố Hồ Chí Minh với mục tiêu trên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quỵết định số 298/TTg ngày 08-5-1997. Đây là một công viên văn hóa có chọn lọc và sinh động những truyền thuyết , những sự kiện lịch sử và công trình văn hóa tiêu biểu của dân tộc; có làng văn hóa các dân tộc giới thiệu những kiến trúc, lễ hội truyền thống, trò chơi, phong tục tập quán của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; có khu vui chơi giải trí, khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, làng hoa kiểng ... phù hợp với sự phát triển phong phú , đa dạng về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của thành phố Hồ Chí Minh.

    Mục đích xây dựng

    Căn cứ Quyết định số 298/TTg ngày 08/05/1997 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu xây dựng Công viên lịch sử văn hoá dân tộc được xác định :

    + Làm điểm tựa giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc cho nhân dân nhất là cho thế hệ trẻ ( ở trong nước và đồng bào ở nước ngoài về thăm quê hương), góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    + Tạo điều kiện giao lưu văn hóa trong nước và giới thiệu văn hoá Việt Nam với nước ngoài, tăng cường tính phong phú, đa dạng trong đời sống tinh thần của nhân dân Thành phố.

                    + Tạo một cảnh quan thiên nhiên thoáng rộng; góp phần cân bằng sinh thái cho môi trường của Thành phố; giới thiệu có chọn lọc những sự kiện lịch và công trình văn hoá tiêu biểu của dân tộc; có làng văn hoá các dân tộc giới thiệu những kiến trúc, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, trò chới dân gian trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; có khu vui chơi giải trí, khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, làng hoa kiểng ... phù hợp với sự phát triển phong phú và da dạng của thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa điểm

    Cách trung tâm Thành phố 27km về hướng Đông Bắc, gần các khu công nghiệp,thương mại, dịch vụ của vùng tam giác thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai.

    Diện tích

    Diện tích đất sử dụng 408 ha , trong đó 381 ha thuộc quận 9, Tp. HCM và 27 ha thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.; được quy hoạch thành 4 khu chức năng.

    Khu Cổ Đại

    Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc và cảnh quan Khu Cổ Đại

    Diện tích 84,15 ha

    Khu Cổ Đại có diện tích (84,15ha) tái hiện thời cổ đại Thượng cổ - Văn minh sông Hồng, thời Hùng Vương cho đến Ngô Quyền (938 sau công nguyên) với các nội dung xây dựng chính:
     * Khu tưởng niệm các vua Hùng

     * Khu tái hiện thời đại Văn hóa Sơn Vi; Hòa Bình; truyền thuyết về người giao chỉ.

     * Khu tái hiện sinh hoạt Văn hóa Bắc Sơn, Phùng Nguyên.

     * Khu tái hiện văn minh sông Hồng, nước Văn Lang.

     * Khu thể hiện các truyền thuyết: Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh Thủy Tinh, sự tích Trầu Cau,Bánh Dày Bánh Chưng, Thánh Gióng ...

     * Khu tái hiện tình cảnh nhân dân và các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Khúc Hạo đến Ngô Quyền.

    Quan trọng nhất trong khu vực này là Khu tưởng niệm các Vua Hùng với công trình trung tâm là Đền tưởng niệm các Vua Hùng. Đây là một trong 12 công trình và chương trình trọng điểm của Tthành phố Hồ Chí Minh đã được triển khai xây dựng với mục đích là:

     * Nơi tôn nghiêm để tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     * Nơi thiêng liêng để nhân dân đến tưởng niệm, vọng bái tổ tiên, hướng về cội nguồn.

     * Nơi tổ chức các lễ hội, sinh hoạt văn hóa , khơi dậy tình cảm về nguồn, lòng tự hào dân tộc.

    Khu Trung Đại

     Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc và cảnh quan Khu Trung Đại

    Diện tích 29,19 ha

    Khu Trung Đại có diện tích (29,19ha) tái hiện các chiến công và những sự kiện lịch sử thời Đinh, Lê, Lý, Trần đến thời Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn (Thế kỷ 10 - thế kỷ 18) với các nội dung xây dựng chính:

    • Khu vực tái hiện thời Đinh - Lê -Lý
    • Khu vực tái hiện thời Nhà Trần
    • Khu vực tái hiện triều đại Hồ Quý Ly
    • Khu vực tái hiện thời Lê Lợi -  Nguyễn Trãi
    • Khu vực tái hiện thời Mạc - Trịnh - Nguyễn

    Khu vực tái hiện thời Tây Sơn

    Khu Cận - Hiện Đại

    Khu Cận - Hiện Đại có diện tích 35,92ha tái hiện từ thời nhà Nguyễn đến thời đại Hồ Chí Minh, với các nội dung xây dựng chính:

    • Khu vực tái hiện thời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1858
    • Khu vực tái hiện thời Pháp thuộc từ 1858 - 1930
    • Khu vực tái hiện thời kỳ đấu tranh giành độc lập từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
    • Khu vực tái hiện cuộc đời và sự nghịêp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Khu quảng trường Độc lập và tượng đài Thống nhất

    Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc và cảnh quan Khu Cận - Hiện Đại

    Khu Sinh Hoạt Văn Hóa

                Khu sinh hoạt văn hóa có diện tích (245,74 ha) bao gồm Cù lao Bà Sang với các khu sinh hoạt

    văn hóa, vui chơi giải trí theo chuyên đề.

    1. Bảo tàng lịch sử tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh.

                 Là một bảo tàng trong hệ thống Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam được Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể tại Quyết định số 86/2006/QĐ-TTg ngày 20/4/2006 và được triển khai đầu tư  xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam và Khu rừng Trường Sơn.

           Giới thiệu các nét văn hóa đặc trưng của 54 dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.
           Tổ chức giao lưu văn hóa và sinh hoạt lễ hội của các dân tộc.
           Tái hiện rừng Trường Sơn tổ chức các   loại sinh hoạt vui chơi giải trí cho thanh thiếu niên nhằm giáo dục lòng yêu nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    3. Công viên Điện ảnh.

                Giới thiệu nền điện ảnh Việt Nam từ ngày mới thành lập đến nay. Tổ chức trường quay và các dịch vụ về điện ảnh phục vụ các đoàn làm phim trong và ngoài nước.

    4. Khu Làng hoa - du lịch tắm bùn khoáng.

                Giới thiệu chuyên ngành hoa kiểng của thành phố, trưng bày, giao dịch, mua bán các giống hoa kiểng và hoa quả nhiệt đới Việt Nam. Tổ chức khu nghĩ dưỡng với loại hình tắm bùn khoáng nóng

    5. Khu Công viên mạo hiểm và quảng trường Hòa Bình.

    6. Khu du lịch sinh thái Cù lao Bà Sang.

           Xây dựng trên Cù lao Bà Sang với các loại hình du lịch sinh thái, du lịch nhà vườn và các loại hình vui chơi giải trí đặc thù vùng sông nước Nam bộ.

    7. Khu vui chơi giải trí dọc Sông Đồng Nai.

                Tổ chức các loại hình vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, dịch vụ... phục vụ khách tham quan, du lịch.

    8. Khu bảo tồn chùa Hội Sơn thuộc hệ phái Phật giáo Bắc Tông.

    9. Khu bảo tồn chùa Bửu Long thuộc hệ phái Phật giáo Nam Tông

    Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc và cảnh quan Khu Sinh Hoạt Văn Hóa

    Khu Cận - Hiện Đại

    Diện tích 35,92 ha

    Khu Cận - Hiện Đại có diện tích 35,92ha tái hiện từ thời nhà Nguyễn đến thời đại Hồ Chí Minh, với các nội dung xây dựng chính:

    • Khu vực tái hiện thời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1858
    • Khu vực tái hiện thời Pháp thuộc từ 1858 - 1930
    • Khu vực tái hiện thời kỳ đấu tranh giành độc lập từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
    • Khu vực tái hiện cuộc đời và sự nghịêp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Khu quảng trường Độc lập và tượng đài Thống nhất

    Khu Sinh Hoạt Văn Hóa

    245,74
    Khu sinh hoạt văn hóa có diện tích (245,74 ha) bao gồm Cù lao Bà Sang với các khu sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí theo chuyên đề.

    Đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu tưởng niệm các vua Hùng - 14/05/2008

    Sáng 10-5, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân và Phó Chủ tịch Thường trực UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài đã đi tìm hiểu và chỉ đạo việc thực hiện dự án Khu tưởng niệm các vua Hùng và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trong Khu công viên Lịch sử – Văn hóa dân tộc tại phường Long Bình, quận 9.

    Sau khi nghe báo cáo tình hình, Chủ tịch Lê Hoàng Quân ghi nhận những nỗ lực của Ban quản lý công viên và chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án. Theo đó, UBND TPHCM cho phép chỉ định thầu những công việc đòi hỏi chuyên ngành nghệ thuật cao để đẩy nhanh tiến độ thi công. Phải hoàn thành công việc xây lắp, lắp đặt trang thiết bị, trang trí nội ngoại thất của đền chính vào tháng 12-2008. Đầu tháng 2-2009 hoàn thành phần văn bia, câu đối liễn (GS Vũ Khiêu đã nhận lời góp ý về nội dung); liên hệ với Đền Hùng Phú Thọ về việc nhận trống đồng (phiên bản), đất Tổ, bát nhang, cây cọ; chuẩn bị bài văn tế và mời chủ tế cho buổi lễ Giỗ Tổ Hùng Vương vào năm 2009. Sở VH-TT thực hiện tập sách và bộ phim giới thiệu về công trình này.

    Chủ tịch Lê Hoàng Quân yêu cầu giải quyết dứt điểm việc giải phóng mặt bằng đúng luật định, chú ý tái định cư và nhận con cháu của người dân ở địa phương vào làm việc tại công viên. Hướng tới, công viên cần khai thác, tổ chức các loại dịch vụ, cung ứng cây xanh, hoa kiểng, huy hiệu Đền Hùng, các sản phẩm lưu niệm... để lấy thu bù chi. Từ năm 2010, công viên phải thu hút khoảng 10 triệu khách/năm.

    NGÃ BA TÂN VẠN

    Trước mặt chúng ta là ngã ba Tân Vạn , nếu rẽ trái vào 500m là khu du lịch Bình An nơi nghỉ ngơi cuối tuần cho dân thành phố . Với khung cảnh thoáng mát hữu tình , có hồ nước , nhiều khu vui chơi giải trí , còn nếu rẽ phải là vào núi Châu Thới , khu du lịch suối Lồ Ồ.

    CẦU ĐỒNG NAI

    Không biết vô tình hay hữu ý mà cây cầu Đồng Nai này trở thành ranh giới tự nhiên giữa TPHCM và tỉnh Đồng Nai. Cầu dài 453,9m , rộng 16m , được xây dựng cùng thời với cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hoa. Cầu Đồng Nai được bắc qua sông Đồng Nai dài 586km được bắt nguồn từ Cao nguyên Lâm Viên chảy qua địa phận tỉnh Đồng nai , sau đó hợp với sông Sài Gòn và đổ ra vịnh Gành Rái . Sông Đồng Nai có giá trị về đời sống và kinh tế lớn như : nước sinh hoạt , giao thông , nông nghiệp và đặc biệt là thuỷ điện .

    Thưa quý du khách ! Từ đây nhìn về phía tay trái xa xa ở ngã ba sông về phía thượng lưu là Cù Lao Phố có diện tích 60 ha . Ngược dòng lịch sử 1679 khi triều Minh ở Trung Hoa bị nhà Thanh lật đổ có khoảng 3.000 binh sĩ và gia đình trong nhóm “Bài Thanh phục Minh” đã và xin chúa Nguyễn cho làm dân Việt. Trong đó có một nhóm do Trần Thượng Xuyên làm thủ lĩnh đã đến cư trú tại đây và lập nên một cảng có hoạt động thương mại sầm uất gọi là Nông Nại Đại Phố . 1698 , thừa lệnh chúa Nhuyễn Phúc Chu, chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh đã vào Nam kinh lý, ông thấy vùng đất này trù phú và yên bình nên đã dừng chân tại đây. Ông đã chia các đơn vị hành chánh và thành lập chính quyền tại Nam Bộ , hai huyện đầu tiên là Phước Long ( Thuộc dinh Trấn Biên – Biên Hoà ) và Tân Bình ( Thuộc dinh Phiên Trấn – Sài Gòn ). 1998 TPHCM và TP Biên Hoà đã kỷ niệm 300 ngày được nền hành chánh đầu tiên tại Nam Bộ .

    TỈNH ĐỒNG NAI

    Hiện chúng ta đang chạy trên quốc lộ 1 thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai , đây là tỉnh miền Đông Nam Bộ có diện tích 5864 km2 , dân số 1989.541 người (01/04/1999 ) , thủ phủ là thành phố Biên Hoà nằm bên dòng sông Đồng Nai , đất đai thuộc loại phù sa cổ do sông Đồng Nai bù đắp . Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27oC với các huyện : Thống Nhất , Định Quán , Tân Phú , Vĩnh Cữu , Long Khánh , Xuân Lộc , Long Thành , Nhơn Trạch . Đây là tỉnh giao thoa của nhiều nền văn hoá cổ như  Oc Eo – Hoa – Chăm – Việt và nhiều dân tộc thiểu số khác . Tên gọi Đồng Nai xuất phát do độc trại từ tên “Nông Nại Đại Phố” có ý kiến khác cho rằng xưa kia nơi đây có nhiều đồng cỏ , Nai kéo về đây sinh sống rất nhiều nên gọi là cánh đồng nai – Sau này gọi là Đồng Nai cho đến bây giờ . Vì đất đai màu mỡ nên Đồng Nai rất thích hợp với nhiều loại cây lương thực , cây hoa màu , cây công nghiệp ngắn ngày như mía , đậu nành , thuốc lá ,… cây công nghiệp dài ngày như cà phê , cao su ,….. Ngoài ra , Đồng Nai còn là một trong những tỉnh có ngành công nghiệp phát triển nhất và có vốn dự án đầu tư nhiều nhất cả nước  . Và ngành công nghiệp đã đạt 5 điểm nhất so với cả nước :

    1/ Địa phương có nhiều khu công nghiệp nhất so với cả nước .

    2/ Có diện tích đất công nghiệp lớn nhất 20.000 ha .

    3/ Nhiều dự án đầu tư về công nghiệp ( trên 160 dự án )

    4/ Vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất .

    5/ Mức tăng trưởng giá trị sản phẩm công nghiệp cao nhất 59% .

    NGÃ BA VŨNG TÀU

    Qua khỏi cầu Đồng Nai trước mắt chúng ta là ngã ba Vũng Tàu , nếu rẽ phải theo quốc lộ 51 khoảng 100km là chúng ta đến một trung tâm dầu khí , một thành phố biển nổi tiếng tại miền Nam đó là TP Vũng Tàu . Nhưng chúng ta đến Nha Trang nên theo quốc lộ 1 là đi thẳng , quốc lộ 1 là con đường duy nhất đi các tỉnh miền Trung và miền Bắc .

    ĐẠI SIÊU THỊ CORA – Siêu Thị BigC

    Siêu thị Cora được khánh thành ngày 18/08/1998 do tập đoàn Bourbon của Pháp đầu tư là 54 triệu USD , diện tích 20.000m2 , có trên 2.000 mặt hàng , trong đó có 90% là hàng hoá sản xuất tại Việt Nam . Tập đoàn Bourbon là một trong những tập đoàn lớn nhất của Pháp về mặt lương thực thực phẩm . Các dự án của Bourbon đã đầu tư tại Việt Nam như nhà máy đường Bourbon – Tây Ninh , nhà máy thức ăn gia súc Buorbon … trong quy hoạch phát triển tại Việt Nam . Bourbon đã vạch rõ sẽ thô tính toàn bộ hệ thống siêu thị Việt Nam với khách hàng chủ yếu là tầng lớp trung lưu . Do vậy hiện nay Bourbon đã xây dựng thêm 3 đại siêu thị Cora Việt Nam : Siêu thị Cora An Lạc – Bình Chánh , siêu thị Cora Hà Nội , siêu thị Cora Miền Đông – Đường Tô Hiến Thành quận 10 .

    Hiện nay do tình hình chuyển biến kinh tế thị trường nên tập đoàn thương mại quốc tế Bourbon đã bán hết cổ phần và nhường quyền khai thác thị trường lại cho tập đoàn khối liên hợp Châu Au quản lý và đổi lải tên gọi mới là BigC. Đây là một trong những tập đoàn, có hệ thống siêu thị hiện đại trên thế giới được mọi người tín nhiệm nhất.Chính vì thế hiện nay những hệ thống chân rết của siêu thị CoRa đã chuyển đổi tên gọi mới là BigC với tên gọi này thì hiện nay những mặt hàng có trong siêu thị được phong phú hơn và hấp dẫn khách hàng hơn khi đến với siêu thị.

    KHU CÔNG NGHIỆP BIÊN HÒA II

    Còn bên tay phải chíng ta trước đây là tổng kho Long Bình cũ là trung tâm cung cấp vũ khí , đạn dược cho quân đội Mỹ và chư hầu trong chiến tranh tại Việt Nam . Kho Long Bình được xây dựng từ năm 1964 với diện tích ban đầu chỉ 6km2 vào năm 1966 đã được xây dựng lại và mở rộng ra thêm lên 24km2 . Toàn bộ tổng kho Long Bình có 6 hầm chứa trên 150.000 tấn vũ khí , đạn dược , khu vực này được bảo vệ cẩn mật với 6 hàng rào dây thép gai kiên cố , 72 tháp canh và 3 tiểu đoàn túc trực bảo vệ .

    Nhưng hiện nay một phần diện tích của tổng kho Long Bình cũ là khu công nghiệp Biên Hoà II với diện tích khoảng 375 ha được hình thành sau giải phóng ngày 15/12/1990 . Khu công nghiệp này có các nhà máy tiêu biểu như nhà máy thuốc lá Đồng Nai , tập đoàn Huyndai , điện tử Daewoo , .. Kế khu công nghiệp Biên Hoà II là khu công nghiệp Amata do Thái Lan hợp tác đầu tư trên diện tích khoảng 700 ha .

    Đây được xem là khu công nghiệp sạch . Cả hai khu công nghiệp này đều được xây dựng trên nền tảng của khu căn cứ quân sự Long Bình . Đây là nơi Mỹ tập trung khí tài quân sự lớn nhất khu vực Đông Nam Á với diện tích 24km2 phía quốc lộ 1 dài 6km , bên quốc lộ 51 dài 4km .

    NGÃ TƯ TAM HIỆP

    Trước đây ngã tư Tam Hiệp chỉ là ngã ba thôi nhưng sau này có 4 ngã rẽ cho nên người ta gọi ngã tư Tam Hiệp cho đến bây giờ . Tại đây nếu rẽ trái đi khoảng 6km là vào TP Biên Hoà , quý khách nhìn ngay tại bùng binh này có một tượng đài làm bằng gốm sứ đầu tiên tại Việt Nam , kỷ niệm trận đánh vào khu căn cứ Long Bình ( năm 1964 ).

    CHỢ SẶT

    Ngôi chợ Sặt nằm bên trái của quý khách được hình thành sau năm 1954 do những nhóm dân cư làng Sặt ở miền Bắc di dân vào theo lệnh của tổng thống Ngô Đình Diệm . Chợ thuộc Phường Tân Biên – TP Biên Hòa .

    KHU HỐ NAI 1,2,3,4 – KHU THIÊN CHÚA GIÁO HỐ NAI

    Nằm cặp hai bên quốc lộ 1 cách TP Biên Hòa 10km trải dài trên 12km được chia làm các khu vực : Khu Hố Nai 1,2,3,4 . Vào năm 1954 Hố Nai có khoảng 40.000 người thuộc 25 xứ đạo lớn của 3 nhóm chính Bùi Chu , Phát Diệm và Kẽ Sặt từ các tỉnh phía Bắc di cư vào theo sự cho phép của Ngô Đình Diệm thành lập các xã Hố Nai như một vành đai bảo vệ Sài Gòn . Và ở đây người ta thường gọi là khu thiên chúa giáo Hố Nai . Dân ở đây có nghề truyền thống là khai thác lâm sản và mộc . Hiện nay khu vực này có khoảng 16 xã , 29 nhà thờ , 28 trường học , 1 bệnh viện , 19 trạm y tế , 12 nhà bảo sanh và dân số trên 700.000 người .

    Thưa quý du khách ! Vì sao gọi nơi đây là khu Hố Nai thì trước đây nơi này là một vùng rừng núi và đồng cỏ hoang cho nên muôn thú thường tìm đến các nguồn nước và thức ăn của mình để sinh sống . Tại đây xuât hiện nhiều đàn nai và người dân nơi đây muốn bắt nai bằng cách đào những cái hố để bắt chúng . Có lẽ vì vậy mà tên gọi Hố Nai xuất phát từ các cái hố bắt nai của người dân vùng này .

    THUỶ ĐIỆN TRỊ AN

    Vào năm 1983 với sự giúp đỡ   của Liên Xô ( cũ ) đã khởi công xây dựng công trình thuỷ điện Trị An với tổng kinh phí là 150 triệu Rúp và 51 tỷ đồng Việt Nam . Đa số thiết bị nhập từ Liên Xô ( cũ ) . Hồ Trị An rộng 232 km2 với sức chứa 2,7 tỷ m3 nước , công suất nhà máy là 400MW , sản lượng điện 1,7 tỷ Kwh/năm . Đến tháng 09/1988 đã đưa vào vận hành .

    Đây là công trình thủy điện lớn nhất miền Nam , giải quyết cấp bách cho các ngành công nghiệp và sinh hoạt . Từ lòng hồ Trị An hàng năm người dân ở đây thu về trên 10 ngàn tấn cá , làm thay đổi cảnh quang và môi trường , phục vụ cho du lịch .

    CHIẾN KHU D

    Tiếp nối Trị An là chiến khu D , nơi đây trước kia là khu căn cứ chiến đấu của nhân dân ta trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp , Mỹ . Chiến khu được thành lập tháng 02/1946 khởi đầu từ 5 xã : Tân Hòa , Mỹ Lộc , Tân Tịch , Thường Lang , Lạc An thuộc các huyện Tân Uyên – Bình Dương . Do trung tướng Nguyễn Bình làm khu trưởng ẩn chứa : Đất Cuốc Lạc An , chiến khu Đỏ , chiến khu Đảng , chiến khu miền Đông , chiến khu Đầu Tiên .

    TRẢNG BOM

    Trước mắt chúng ta là các cánh rừng cao su chạy dài hai bên lộ với diện tích hơn 40.000 ha cây cao su tỉnh Đồng Nai là tỉnh có kim ngạch xuất khẩu cao su đứng thứ hai cả nước sau tỉnh Bình Dương . Và nơi đây là các cánh rừng cao su con ( trồng sau này ) , khu này người ta gọi là khu vực Trảng Bom thuộc huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai .

    Cái tên gọi Trảng Bom xuất phát từ những cánh đồng trồng khoai tây trước đây của thực dân Pháp . Trảng là rộng lớn , trải dài ; Bom là từ những củ khoai tây có hình cầu giống củ khoai tây hiện nay của chúng ta .

    CÂY CAO SU

    Hai bên rừng hiện nay là rừng cao su bạt ngàn , cây cao su được khám phá phát hiện tại rừng rậm Amazon bởi người Bồ Đào Nha . Trước đệ nhị thế chiến cây cao su được trồng chủ yếu tại Châu Mỹ , sau 1945 thì được trồng đại trà tại khu vực Đông Nam Á . Đồng Nai là tỉnh có diện tích trồng cao su lớn thứ hai sau tỉnh Gia Lai . Năm 1897 , dược sĩ Raoul – người Pháp đã mang giống cây cao su từ Java và Malaixia trồng tại vườn ông Yêm ở Thủ Dầu Một và Phú Nhuận .

    Cùng thời gian này bác sĩ Yersin cũng trồng thử nghiệm tại suối Dầu – Nha Trang . Đến 1904 thì cao su được trồng đại trà tại Việt Nam khoảng 3.400 ha tại Dầu Giây . Tại Việt Nam cây cao su chỉ trồng được từ Quãng Trị trở vào Đông Nam Bộ .

    Cách trồng cây cao su không phải như gieo hạt rồi cây nảy mầm mà cây cao su được ươm trong vườn cây giống . Cây cao khoảng 0,8m –1m người ta bắt đầu đem ra trồng theo hàng , mỗi cây cách nhau khoảng 3-5m . Cây cao su sau khi trồng khoảng 5 năm thì cho khai thác mủ và phải khai thác mủ từ lúc sáng sớm . Vì lúc này cây chưa xảy ra quá trình quang hợp nên cây cho mủ chất lượng cao hơn .

    Người ta dùng dao có móc cong trên đầu cạo lớp vỏ lụa bên ngoài , tránh cạo sâu vào bên trong vì như vậy làm cho cây cao su bị tổn thương và ảnh hưởng đến năng suất của cây . Hàng năm trung bình người ta khai thác cây cao su khoảng 300 ngày , hai tháng mùa khô không khai thác . Trong thời gian nghỉ vào mùa khô thì người ta chăm sóc và bón phân cho cây ( trung bình 1 ha cây cao su cho khoảng 60 lít mủ trọng lượng khoảng 20 kg ). Mủ tươi sau khi sấy khô còn lại 1/3 trọng lượng , giá bán 1 tấn mủ khô là 1.600 USD . Hiện nay cả nước có hơn 200.000 ha cao su .

    Khi cây cao su già người ta chuyển qua khai thác gỗ vì lúc này cây không còn cho mủ nữa , mỗi ha cao su cho 150m3 gỗ . Gỗ cao su được xử lý đưa vào sản xuất các mặt hàng gỗ trang trí trong nhà cho xuất khẩu ( chủ  yếu xuất khẩu sang Đài Loan , Nhật Bản , Nam Triều Tiên ,…)

    Và một khi nhắc đến cây cao su thì ai cũng biết đến câu :

    “ Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo”

    Ngày xưa những người phu làm đồn điền cho Pháp rất cực khổ , sống trong điều kiện thiếu thốn , phải ở trong rừng thiên nước độc . Bên cạnh đó khí hậu xung quanh rất độc vì cao su không thả khí O2 mà thả khí CO2 , làm cho công nhân ở đây thường sau khi không làm việc nữa thì bệnh rất nhiều . :

    “ Bán thân đổi mấy đồng xu

    Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” .

    Dự kiến đến năm 2005 diện tích cây cao su là 780.000 ha đứng thứ 4 sau Inđonexia , Malaixia , Thái Lan .

    NGÃ 3 DẦU GIÂY:

    Kính thưa Quý Khách! Ngã Ba Dầu Giây cách TP.Hồ Chí Minh khoảng 70km, nếu rẽ trái chúng ta sẽ theo Quốc Lộ 20 đến TP. Đà Lạt cách 234km. Nếu đi thẳng theo QL1A sẽ ra các tỉnh Miền TrungMiền Bắc, thành phố Phan Thiết cách NBDG 128km, sở dĩ nơi đây có tên gọi Dầu Giây vì xưa kia tại khu vực này có nhiều cây dầu và dây leo chằng chịt cũng nó người nói rằng do những người từ Miền Bắc vào đây định cư họ cho trồng rất nhiều cây Trầu (1 dạng cây leo ăn chung với vôi) vì thế mới có tên gọi là Trầu Giây, đọc trại là Dầu Giây. Cũng có người nói vui NBDG là nơi mà Mẹ Au Cơ  chia tay với Cha là Lạc Long Quân, mỗi người dẫn theo 50 con lên rừng và 50 con xuống biển (theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên”).

    Từ NBDG đi dọc theo QL1A chúng ta sẽ thấy những cánh rừng cao su bạt ngàn, Đồng Nai là 1 trong những tỉnh có diện tích trồng cao su lớn nhất cả nước. Cuối TK IXX  đầu TK XX bác sĩ Alexangder Yersin  nang giống cao su sang VN cho trồng thí nghiệm tại Suối Dầu – Nha Trang và nhận thấy giống cây này thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu VN.

    Vào TK XVIII tại Bazil lưu vực sông Amazôn người ta đã tìm thấy cây cao su, lâu lắm rồi bộ tôc Mai – Nác đã biết dùng mủ cây cao su để chống ẩm, làm bóng để chơi vào các mùa hè nên họ đặt tên cho cây này là Caoochoc có nghĩa là “Nước Mắt của cây”. Đến TK XIX  khắp thế giới đã trồng cây cao su nhưng tập trung nhiều ở vùng nhiệt đới của xứ châu Phi , Châu Mỹ và vài nước Câhu Á. Khi mang giống cây này sang Việt Nam, người Pháp đã phiên âm chữ Caaochoc và gọi là cây cao su, họ đã cho trồng thử nghiệm ở 1 số nơi nhưng không thành công.

    Đến năm 1863 người Pháp đưa hạt giống từ Java,Malaysia để gieo trồng tại vườn Ong Thêm – Thủ  Dầu Một, ngoài ra còn trồng thí điềm tại Phú Nhuận với diện tích 45 ha, cùng thời điềm mà BS Yersin cho trồng thử nghiệm tại Suối Dầu – Nha Trang. Sau đó họ nhập giống từ Colombia & Bazil, đế năm 1904 thành lập đồn điền cao su Suzana (tên của vợ toàn quyền Đông Dương) với diện tích 3.400 ha đầu tiên ở ngã 3 Dầu Giây. Ngày nay hầu hết các nông trường cao su do Nhà Nước quản lý, tuy nhiên cũng có 1 số người dân trồng và phát triển ngành cao su.

    Cây cao su được trồng bằng cách ươm cây giống trong vườn ươm, khi cây cao khoảng 0,8m – 10m người ta mang cây cao su con ra trồng tại vườn theo từng hàng thẳng, mỗi cây cách nhau 4 – 5m  thuận tiện cho việc chăm sóc và lấy mủ cao su và để cho ánh nắng chiếu vào cây. Khoảng 7 năm sau khi trồng cao su bắt đầu cho mủ, đường kính của cây lúc dó phải đạt khoảng 20cm.

    Người thợ cao su phải lấy mủ vào lúc sáng sớm vi khi ấy quá trình quang hợp chưa xảy ra mạnh nên mủ cao su có chất lượng hơn. Ban đầu người thợ dùng 1 con dao có móc cong cạo lớp vỏ lụa bên ngoài cây cao su tránh cạo sâu vào bên trong vì như vậy cây cao su sẽ bị tổn thương và làm ảnh hưởng đến năng suất của cây. Trung bình 1 cây cao su cạo được khoảng 60l mủ = 20kg. Mủ tươi sau khi sấy khô sẽ còn 1/3 trọng lượng, giá trung bình 1 tấn mủ cao su là 1.600USD. Hiện nay diện tích trồng cây cao su trên cả nước VN gần 700.000 ha.

    Ban đêm cây cao su thải ra khí độc (cacbonic) rất có hại cho sức khỏe của người thợ nếu họ ở trong nông trường. Vào thời Pháp thuộc, những người phu làm đồn điền cao su cho Pháp bị bóc lột rất tàn nhẫn và bị đàn áp rất dã man. Chính vì vậy mà người ta đã truyền khảu một số câu ca dao như sau:

                                                    “Bán thân đổi mấy đồng xu

                                               Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” hay

                                                    “Cao su đi dễ khó về

                                                Khi đi trai tráng khi về bủng beo”

    CON ĐƯỜNG THIÊN LÝ BẮC NAM

                Kính thưa quý du khách! Con đường QL1A là con đường giao thông chính của nước ta xuyên suốt từ Bắc đến Nam, điểm khởi đầu là Đồng Văn – Lạng Sơn và kết thúc tại Năm Căn – Mũi Cà Mau. Đường QL1A này dưới thời triều Nguyễn là con đường duy nhất để lên lạc giữa 3 xứ Nam – Trung – Bắc, chính vì vậy mới có tên là con đường Thiên Lý. Vào thời nhà Nguyễn con đường thiên Lý chỉ rộng khoảng 1,3m và được chia là nhiều trạm (là nơi để tập hợp quân lính phu trạm & ngựa để vận chuyển công văn, hoàng hoá cống phẩm của triều đình). Mỗi trạm có nhiều nhà trạm, có phu trạm lo việc  chuyển công văn, khiên cán kệ, đồn đạc của các quan. Thời Gia Long mỗi trạm đặt 1 cai đội và phó cai đội. Từ Quảng Nam đến thành Gia Định mỗi trạm có 50 phu trạm, từ Huế đến Quảng Bình mỗi trạm có 80 phu trạm và từ Quảng Bình – Hà Nội mỗi trạm có 100 phu trạm để phục vụ cho việc chuyển công văn, tin tức một cách nhanh chóng, việc này đã được sắp xếp 1 cách hợp lý như sau. Tùy theo mức độ khẩn của công văn vận chuyển đi mà người ta chia ra làm các cấp độ, vào thời đó các cấp độ được phân loại như sau:

    1.     Phi đệ: bình thường

    2.     Tối khẩn: quan trọng

    3.     Thứ khẩn: trên mức trung bình

    4.     Trường Thanh:

       Để chuyển công văn từ thành GĐ đến kinh đô Huế mất 13 ngày, Từ Miền Bắc vào

    Kinh mất 5 ngày. Nếu công văn đc chuyển đến đúng hạn các phu đội sẽ đc thưởng từ 3 – 5 quan tiền, còn chậm 1 ngày thì không đc thưởng. Nếu trể từ 3 – 4 ngày sẽ bị phạt đánh đòn từ 30 – 50 roi, vua Tự Đức quy định dùng ống tre khô, chắc. Một cái lớn và 1 cái nhỏ, công văn đc cuốn lại bỏ vào ống tre nhỏ dán miệng ống lại rồi cắt giấy (có đóng mộc của quan Phủ) để làm tem niêm phong ống từ 2 đến 3 lần, có dấu đóng vảo chỗ miệng ống giáp nhau sau đó buộc dây dán lại và đóng dâu thêm 1 lần nữa trước khi buộc chặt để chuyển đi không bị hư hỏng hay rớt mất.

                Những chiếu chỉ và sắc dụ của Vua đc đưa đến trạm nào thì trạm đó phải đưa đi ngay bất kể ngày đêm, mưa nắng. Những công văn ghi chữ “Phi Đệ” các  trạm phải dùng ngựa chuyển đi, nhờ thế mà công văn Phi đệ. Có thể từ Huế chuyển vào Gia Định. 06 ngày  hay từ Huế chuyển ra Hà Nôi  0 3 ngày. Nhờ đường giao thông  thông suốt , tổ chức trạm chặt chẻ sự lãnh đạo của Triều Đình Nhà Nguyễn đến mọi miền đất nước đc kịp thời, đó là 1 yếu tố quan trọng giúp cho nhà Nguyễn tồn tại gần 1 thế kỷ rưỡi.

    -       Ngã 3 Tân Phong: Từ ngã 3 Tân Phong đi thêm khoảng 10km chúng ta sẽ thấy núi Chứa Chan bên trái.

    TRUYỀN THUYẾT VỀ NÚI CHỨA CHAN

    Nhìn sang bên trái đường chúng ta thấy 1 ngọn núi gọi là Núi Chứa Chan, núi cao 834m, trên núi có 1 ngôi chùa Gia Lào nổi tiếng linh thiêng vào những ngày rằm người dân khắp mọi nơi đổ về đây hành hương rất đông. Tên núi gắn liền với một truỵền thuyết như sau: “Vào TK XVIII có 1 ông quan t6n Việt là Việt Hùng trong lúc giao chiến với quân Khmer ông đã bị bắt cùng với người vợ đag có thai. Sau đó ông bị giam lỏng trên  ngọn núi này,vì vợ ông có nhan sắc nên bị vua Khmer ép làm vợ lẽ trong lúc bà vẫn đang mang thai, sau đó bà sinh ra 1 người con gái. Đến khi cô con gái lớn bà đã kể lại câu chuyện và sự thật về cha mình. Cô gái đã cùng người hầu đi giải thoát cho cha nhưng bị vua Khme phát hiện và cho quân truy đuổi. Trong lúc hoảng loạn cả 3 người dã nhảy xuống núi tự vẫn. Biết được câu chuyện thương tâm đó người ta đặt tên cho ngọn núi là núi Chứa Chan để nói lên tình cảm chan chứa của 2 cha con, hiện nay trong chùa Gia Lào có 3 pho tượng gọi là Ong vàng, cô Bạc và cậu Chì.

                Từ khu vực núi Chứa Chan đi tiếp chúng ta sẽ đến ngã 3 Ong Đồn, nế quẹo trái chúng ta sẽ đến Võ Đất, Vỏ Su huyện Tánh Linh – tỉnh Bình Thuận, đó cũng là con đường đi vào núi Chứ Chan. Ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai  và Bình Thuận cách ngã 3 Ong Đồn 10km (tại khu vực Tân Minh B có 1 bảng hướng dẫn), nơi đó có khu vự làm nón và quạt lá Buông (qua làng Khme). Bên phải quý khách là núi Le, cây Le là 1 loại cây cùng họ với cây tre. Từ đây chúng ta đi thêm 98 km sẽ đến TP. Phan Thiết.

    Lịch sử tỉnh BÌNH THUẬN

    Đất Bình Thuận thời sơ khai

    Ðất Bình Thuận nguyên thuộc nước Nhật Nam ngày xưa, sau là đất của Chiêm Thành. Vì chiến tranh liên miên nên Chiêm Thành mất dần đất đai. Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đánh lấy đất Phan Lang (sau gọi là Phan Rang), chỉ còn để lại mảnh đất phía Tây cho Chiêm Thành. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu lấy luôn mảnh đất còn lại và đặt là Thuận Thành trấn, rồi lập Bình Thuận Phủ vào năm 1697, lấy đất phía Tây Phan Lang lập hai huyện An Phước và Hòa Ða. Sau đổi làm Bình Thuận Dinh và lập các đạo Phan Lang, Phan Thiết, Ma Ly và Phố Hài...

    Ðời Gia Long vẫn giữ Bình Thuận dinh, đến Minh Mạng đổi lại Bình Thuận phủ. Năm 1827, Minh Mạng đặt ra hai phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận và hai huyện Tuy Phong và Tuy Ðịnh. Bình Thuận được đặt thành tỉnh và giao cho quan Tuần phủ Thuận Khánh kiêm nhiệm luôn tỉnh Khánh Hòa. Năm 1888, Ðồng Khánh chuyển phủ Ninh Thuận và Khánh Hòa. Năm 1900, vua Thành Thái đặt huyện Tuy Lý và lấy huyện Tánh Linh trước thuộc Ðồng Nai Thượng sát nhập vào Bình Thuận. Năm 1905, phủ Di Linh cũng được trích thuộc về Bình Thuận.

    Thời Pháp thuộc, năm 1904, khi cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư của anh hùng Phan Bội Châu chấn động cả nước, nêu cao tinh thần duy tân tự cường để cứu nước, thì tại các tỉnh miền Trung phần, những người có lòng với quê hương tìm cách phát động phong trào mở mang dân trí, phục hồi dân khí. Hai anh hùng Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp vào Phan Thiết, mở thư xã, diễn thuyết nhiều lần kêu gọi đồng bào ý thức tự cường, truyền bá tinh thần canh tân, phát triển công thương nghiệp. Phong trào Duy Tân khởi sự tại Bình Thuận sớm hơn mọi nơi. Trước năm 1975, tỉnh Bình Thuận có các quận Hàm Thuận, Phú Quý, Thiện Giao, Hải Long, Hải Ninh, Hòa Ða, Tuy Phong và Phan Lý Chàm.

    Các lễ hội dân gian tại Bình Thuận:


    * Hội Ðền Dinh Thầy:Diễn ra trong hai ngày 15 và 16 tháng 9 âm lịch tại đền Dinh Thầy, Hàm Tân, Bình Thuận là ngày giỗ Thầy và Thím. Theo truyền thuyết có 2 vợ chồng: Thầy và Thím quê Quảng Nam sống ở thế kỷ 19, học đạo, đồng thời chữa bệnh cho nhân dân trong vùng theo pháp thuật. Trong phiên tòa xử án, Thầy và Thím đã cuốn lụa biến thành rồng đỏ bay vào Hàm Tân (Bình Thuận) sống tại đây và làm thuốc trị bệnh cứu giúp dân lành cho đến khi qua đời. Dân trong vùng thương tiếc lập đền thờ Thày và Thím. Hội Dinh Thày còn mang nhiều tín ngưỡng mê tín, dân đến cúng giỗ rất đông, cầu cúng xin xăm, xin lá số. Nhân dân trong vùng mang theo nhiều lễ vật để dự lễ cúng chay vào tối 15, cúng cỗ chay và cỗ mặn vào ngày 16 thng 9.

    ·            Lễ Hội Mbăng Katê:Lễ hội được tổ chức vào tháng 8, 9 âm lịch (đầu tháng 7 Chăm lịch), tại các lăng, tháp sau đó chuyển về gia đình đồng bào Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Lễ hội Katê là lễ hội quan trọng và có qui mô lớn nhất, kéo dài 5 ngày của người Chăm theo đạo Bà La Môn. Ðây là lễ Tết để tưởng nhớ các anh hùng, thần linh, tổ tiên, các vị vua có công với nước, với dân đã được thần thánh hóa như Po Klong Grai Pôrômê. Lễ hội đồng thời với việc hành hương, là việc thăm viếng, kết nghĩa bạn bè... Buổi tối trước ngày chính hội có nghi lễ trình y phục với các nghi thức trang trọng trong tiếng nhạc dân tộc và các điệu vũ cổ truyền. Trưa ngày chính hội là lễ dâng cúng và lễ rước thần , tắm tượng , mặc áo , đội mũ cho tượng... Khi trời sắp tối là kết thúc các nghi lễ, mọi người hưởng lộc và tham gia các trò vui như ngâm thơ, chơi nhạc,...

    ·            Trong lễ này, nhân dân thuộc dân tộc Raglai trên núi cũng xuống dự hội, chia xẻ niềm vui với ngườiChăm.


    * Lễ Cầu Yên: Là một trong những lễ hội truyền thống của người Chăm, được tổ chức hàng năm tại các làng, xóm vùng dân tộc Chăm Bà Ni. Lễ hội diễn ra vào đầu tháng giêng Chăm lịch kéo dài khoảng 3 ngày đêm. Dân làng làm lễ cầu yên để tống tiễn những điều xấu, không may của năm cũ. Nghi lễ được tiến hành lúc chạng vạng tối. Sau phần nghi lễ là đến các tiết mục múa, hát của dân tộc Chăm và trị chơi thả thuyền. Ngoài ra đồng bào dân tộc Chăm ở Bình Thuận thường xuyên tổ chức các lễ hội khác như: lễ Cầu Ðảo, lễ Rija Nưa, lễ Ðắp Ðập, lễ Cấm Phòng...

    Giới thiệu chung về Bình Thuận

     Bình Thuận là miền đất cuối cùng của miền Trung, phía Nam giáp miền Đông, phía Tây là rừng núi giáp Lâm Đồng. Bình Thuận có bờ biển dài, có cả hải đảo và vùng đồng bằng, miền núi. Chính những đặc điểm về tự nhiên đó là điều kiện thuận lợi, để từ lâu đời trên vùng đất này đã có con người sinh sống từ thời Tiền sử và Sơ sử mà những di tích khảo cổ học được phát hiện, khai quật đã chứng minh sinh động về những nền văn hóa khảo cổ đã qua. 

     Vào đầu công nguyên cũng đã có nhiều dân tộc, nhiều vương quốc với những nền văn hóa phát triển đã để lại đến ngày nay. Trong số đó có vương quốc Chămpa là một trong những vương quốc hùng mạnh ở nhiều thế kỷ ở thời cổ đại và trung đại, có một nền văn hóa phát triển rực rỡ ngang hàng với các nước trong khu vực. Họ để lại một khối lượng di sản lớn với nhiều giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa dân gian, một hệ thống lễ hội phong phú, đa dạng. Ðặc biệt về kiến trúc với nhiều nhóm đền tháp, đền thờ. Trong quá trình mở nước về phía Nam và từ khi thành lập tỉnh Bình Thuận (1697), người Việt đã kế thừa những thnh tựu về văn hóa của người Chăm và một phần của các dân tộc ít người khác, để xây dựng một nền văn hóa truyền thống phát triển qua từng thời kỳ lịch sử trên cơ sở những phong tục, tập quán văn hóa của Tổ tiên tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng. Trải qua hơn 300 năm lịch sử các thế hệ Tiền nhân xưa đã để lại trên đất Bình Thuận hàng trăm di tích cò giá trị, đó là những công trình kiến trúc: tháp, đình, cha, đền. miếu ….. Từ xưa là những yếu tố cấu thành đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của cộng đồng dân tộc. Khi nói đến Phan Thiết - Bình Thuận, người ta nghĩ ngay đến miền duyên hải với những bãi tắm sạch, đẹp nổi tiếng, đã từ lâu là điểm đến đầy quyến rũ. Thế nhưng, Phan Thiết còn là điểm hẹn của những "tour" du lịch văn hóa hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế. Cùng với chủ đề: "Bình Thuận - biển ấm tình người", "Du lịch văn hóa" là một nét mới cho du lịch Bình Thuận nhằm hưởng ứng chương trình "Việt Nam điểm đến của thiên niên kỷ mới".Bắt đầu từ thành phố Phan Thiết - thành phố nhỏ nhắn nhưng xinh đẹp nằm dọc hai bên bờ sông Cà Ty - con sông được ví như dòng sữa mẹ ngọt ngào nuôi lớn muôn người con của đất Bình Thuận. Tuy là thành phố trẻ (được vua Thành Thái ban chỉ dụ thành lập năm 1898), nhưng theo các nhà nghiên cứu thì phố cổ Phan Thiết hình thành trước Nha TrangPhan Rang. Thành phố hiện còn những ngôi nhà xưa với lối kiến trúc mang phong cách nghệ thuật Pháp, nằm ẩn hiện trong những vườn cây, tạo nên vẻ đẹp yên ả, "rất duyên" cho phố biển này. Chợ Phan Thiết sầm uất, nằm ngay trung tâm thành phố với những đặc sản của đất Bình Thuận mà du khách khi đến với Phan Thiết thường ghé lại mua về làm quà cho gia đình, người thân, bạn bè... Cách đó không xa là khu lưu niệm trường Dục Thanh - nơi này vào năm 1910, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có một thời gian sống và dạy học ở đây, trước khi vào Sài Gòn tìm đường cứu nước. Hiện trong khuôn viên vườn trường có cây khế do chính tay Người chăm sóc vẫn còn đó như một kỷ niệm: "Ngôi trường nhỏ một hôm Người đến. Cây khế sau vườn mừng trổ đỏ chùm bông". Ðối diện với trường Dục Thanh l Phân viện Bảo tng Hồ Chí Minh - nơi trưng bày những hình ảnh, hiện vật về Bàc Hồ với các hình ảnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Thuận. Gần trung tâm thnh phố Phan Thiết về hướng biển còn có đình Vạn Thuỷ Tú - nơi thờ cá Voi (thần Nam Hải). Tại đây có trên 100 bộ xương cá voi, trong đó có bộ xương cách đây gần 200 năm. Ðiều đặc biệt ở đây được các nhà khoa học nước ngoài đánh giá là nơi lưu giữ bộ sưu tập xương cá voi "lớn nhất thế giới". Ðến đây, du khách sẽ hiểu thêm về tín ngưỡng tục thờ cá Voi mang đậm nét "văn hoá biển" của ngư dân duyên hải miền Trung.Từ thành phố Phan Thiết ra Mũi Né, ở km số 6 một cụm tháp Chàm Pôshanư (còn gọi là tháp Phú Hải) - một trong những cụm tháp cổ còn lại đứng trầm mặc theo thời gian, minh chứng cho nền văn hóa, văn minh Chămpa một thời rực rỡ. Tuy không còn nguyên vẹn, nhưng tháp Pôshanư vẫn là một di tích lịch sử với kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của người Chăm. Gần đó là di tích lầu ông Hoàng (xưa kia nơi này là lâu đài "Tổ Chim Ưng" do ông hoàng người Pháp Montpensier xây dựng để sống chung với người đẹp Phan Thiết), nằm trên một ngọn đồi sát biển. Ðây cũng từng là nơi hò hẹn của đôi tình nhân: thi sĩ Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm. Chính chuyện tình của hai người mà di tích lầu ông Hoàng đã đi vào thi ca và càng làm cho Phan Thiết được nhiều người biết đến.Bình Thuận còn là "vùng đất Phật" với những ngôi chùa nổi tiếng như: Cổ Thạch (hay còn gọi là Chùa Hang) ở Tuy Phong;Linh Sơn Trường Thọ trên đỉnh núi Tà KouHàm Thuận Nam - nơi có tượng Phật nhập Niết Bàn dài 49m, lớn nhất Việt Nam; Dinh Thầy ThímHàm Tân - tất cả đều là những danh lam thắng cảnh đẹp, đạt tiêu chuẩn là những điểm du lịch văn hóa, du lịch hành hương hấp dẫn du khách khắp nơi tìm về.

    Những thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa đó là những di sản được kết tinh lại qua bàn tay, khối óc của ông cha chúng ta, qua nhiều thế hệ, được bồi đắp và giữ gìn đến ngày nay đã cấu thành các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh.

    Sau khi thành Đồ Bàn thất hủ, vương quốc Chăm pa bước vào giai đoạn cuối cùng của nó, lãnh thổ phía Bắc đến đèo Cù Mông, lúc đầu đóng đô ở Kaothara (Khánh Hoà). Đến giữa TK XVII chuyển về vùng Phan Rang . cho đến năm 1693 nhà Nguyễn chiếm được Phan Thiết thì vương triều Chămpa mất hản độc lập, chỉ tồn tại như 1 thế lực bán tự chủ. Trong thời Minh Mạng, người Chămpa trở thành 1 thành phần của dân tộc Việt Nam. Hiện nay tại xã Phan Thanh huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận có bà Thêm  thuộc dòng dõi hoàng tộc Chăm còn lưu giữ 1 số hiện vật và chau báu của vua Chăm như Vương Miện bằng vàng y nặng 1,5kg.

                Vào giữa TK XVIII tỉnh Bình Thuận còn là vùng đất hoang sơ nhưng qua những lần theo đàn cá vụ Nam, ngư dân miền Bắc mới phát hiện đây là vùng biển giàu hải sản, mưa thuận gió hoà. Đến cuối TK XVIII được sự khuyến khích của chú Nguyễn cư dân người Việt di cư đến đây ngày càng đông, họ khai phá biến đất hoang sình lầy thành xóm làng vạn chài.

                Năm 1962 chúa Nguyễn đã đặt tên cho vùng đất mới khai phá này là Thuận Phủ, năm 1964 đổi thành Thuận Thành Trấn và đến năm 1697 phủ Bình Thuận ra đời với địa giới từ phía Nam sông Phan Rang trở vào giáp vùng đất Biên Hoà ngày nay được chia làm 4 đạo: Phan Rang – Phan Thiết – Maly – Phố Hài. Vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) thành lập tỉnh Bình Thuận. Ngày 20/10/1998 vua Thành Thái xuống dụ công bố PT thành thị xã cùng lúc với thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An… Năm 1976 là tỉnh thuận Hải, năm 1993 hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận được tách ra từ tỉnh Thuận Hải. Tỉnh Bình Thuận có diện tích 7.992 km, toàn tỉnh có 192 km đường bờ biển, khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 800mm/năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, dân số khoảng 1.047.040 người, thành phần dân tộc gồm Việt – Chăm – Hoa, trong đó người Kinh chiếm khoảng 93% dân số toàn tỉnh. Bình Thuận có TP. Phan Thiết và 8 huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh và huyện đảo Phú Quý. Nghề đánh bắt hải sản ở PT phát triển mạnh mỗi năm đánh bắt được từ 110 – 120.000 tấn/ năm, về nông nghiệp là tỉnh có diện tích trồng cây Thanh Long lớn nhất cả nước. Đặc biệt là ngành du lịch với các điểm tham quan khá hấp dẫn như: núi Takou, Dinh Thầy Thím, Tháp cổ Poshanư, Hồ Biển Lạc, Bàu Sen, Bàu Trắng, Hải Đăng Khe Gà và Đồi cát di động. Mũi né với lợi thế bãi biển đẹp và an toàn cùng với hệ thống nhà hàng, khách sạn, resort từ 1 – 4 so được xây dựng 1 cách nhanh chóng đã đáp ứng được lượng khách du lịch khá lớn đem lạingân sách lớn cho tỉnh.

                Theo nghiên cứu tham khảo của Nữ sĩ Như Nguyên Nguyễn Ngọc Hiền (là hậu duệ xa đời của Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào là anh ruột của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thì chủ ý dùng chữ Bình trong địa danh Bình Thuận của LTH Nguyễn Hữu Cảnh là để ông kỷ niệm và nhớ đến nguyên quán Quảng Bình, theo nghiên cứu về LTH Nguyễn Hữ Cảnh, nữ sĩ Như Hiên viết:”Trước tiên là Trấn Biên (nơi đầu Biên Giới), Bình Khương sau đến Bình Thuận” Để dẫn chứng nữ sĩ Như Hiên liệt kệ một số địa danh có chữ Bình và chữ Tân ở xứ Gia Định.

    -       Ngã 3 Tân Minh (bên phải – Km 1750): Rẻ phải sẽ đi vào huyện Hàm Tân, đi thêm

    khoảng 22km nữa sẽ đến Thị trấn La Gi hay còn gọi là ngã ba 46 (vì La Gi cách Phan Thiết 46km). từ ngã 3 Hàm Tân đi đến Dinh Thầy Thím 18km, đây là 1 di tích tôn giáo đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá.

    DINH THẦY THÍM

    Kính thưa quý du khách! Hệ thống tín ngưỡng & thờ phụng trong dân gian nước ta đã được xếp đặt một cách có thứ tự và rất nghiêm chỉnh.

    . Chùa là nơi thờ phật

    . Am là một chổ nhỏ để 1 hoặc 1 số ít người tu hành (am được cất sơ sài, am ở trong hang gọi là am cốc).ở Nam Bộ trong vùng núi Bà Đen và Núi Sam, Thất Sơn (Châu Đốc – Tịnh Biên) có nhiều người cô độc tu trong hang, lập thành khá nhiều am, dân gian gọi là Cốc, cũng có nghĩa là Am Cốc, Amcó thờ Phật gọi là Am Tự (như Phù Dung Am Tự ở Hà Tiên).

    . Đền có kiến trúc lớn, nghiêm trang để thờ Vua hay Tướng Quốc có công lớn với đất nước, dân tộc, như: đền Hùng, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ trần Hưng Đạo, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trung Trực…

    . Đình là 1 ngôi nhà thờ những người có công với làng xã, địa phương, tỉnh, phủ

    . Phủ là nơi thờ những người sau khi chết hiển linh qua nhiều thời kỳ, được nhân dân, triều đại sùng bái như: Phủ Thiên Hương ở Nam Định (còn gọi là Phủ Giầy) thờ Bà Liễu Hạnh được suy tôn là Mẫu Nghi Thiên Hạ, được sắc phong là Thượng Đẳng Thần.

    Dinh là nơi thờ những người trong dân gian chết về sau hiểnlinh được nhân dân đa phần là ngư phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ sùng bái xây dựng rất trang trọng để thờ phụng và cúng tế hàng năm như: Dinh Cô ở Long Hải, Dinh Cậu ở Phú Quốc, Dinh Bà  (thờ Thủy Long Thánh Mẫu) ởPhú Quốc – Kiên Giang.

    Vạn là nơi thờ Cá Ong (Cá Voi) được ngư phủ tôn làm “Thần Nam Hải” (thần biển). Vạn ở vùng chài lưới gọi tát là Vạn Chài cũng tương đương như các đình làng ở các vùng làm nông nghiệp.

    Miếu là nơi thờ những người được kính trọng có nhiều công đức đối quần chúng, nhân dân địa phương.

    Miễu nhỏ hơn Miếu, có khi là cái chói bằng cây hoặc cái nhà nhỏ không cửa  năm ở bên vệ đường chổ thường xuyên xảy ra tai nạn  giao thông để thờ những người vô danh hay bất ngờ bị chết (bất đắc kỳ tử).

    Nhân dân Bình Thận và nhiểu địa phương ở Nam Bộ đã tuân theo trật tự tính ngưỡng thờ phụng này 1 cách nghiêm chỉnh phù hợp với phong tục tập quán truyền thống và văn hoá của dân tộc Việt Nam.

    Dinh Thầy Thím (DTT)  là 1 cơ sở tín ngưỡng dân gian khá nổi tiếng , được  du khách hành hương đến lễ bái tham quan rất đông.

    DTT tọa lạc ở giữa khu rừng dầu Bàu Cái thuộc xã Tân Hải huyện Hàm Tân, cách TP. Phan Thiết 70Km về hướng Đông Nam.

    Thầy Thím là 1 cách gọi dân dã vừa nghiêm túc vừa thân thương  của người Nam Trung Bộ & Nam Bộ dành cho 1 dôi vợ chồng đc sùng kính tương truyền như sau:

    Vào giữa TK XIX dười triều Vua Tự Đức nhau Nguyễn có đôi vợ chồng đạo sỹ quê ở làng Qua La, Phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Thầy sinh năm 1803 (năm Gia Long thứ 2) nhà nghèo lận đận trong thi cử nên Thầy đi tầm sư học đạo & trở thành 1 người có phép thuật cao cường. Theo truyền thuyết làng thầy rất nghèo, dân làng luôn mơ ước có 1 ngôi Đình làng Bát Nhị, vào 1 đêm mưa to gió lớn sáng ra dân làng đã thấy có 1 cái Đình Bát Nhị ngay giữa làng, hay tin quan trên đã cho quân lính tới bắt Thầy và kết án tử hình. Người ta kể rằng trước khi chết Thầy xin 1 tấm vải lụa vẽ hình rồng lên trên tấm vải làm phép rồi bảo Thím cùng ngồi lên, khi Thầy chấm đôi mắt cho rồng tự nhiên rồng từ tấm vải bay lên chở Thầy Thím về Phương Nam trước sự kinh hoàng của quan phủ.

    Hai vợ chồng đã dừng chân tại làng Tam Tần ngày ngày bốc thuốc chữa bệnh cho dân và vào rừng đốn củi kiếm sống qua ngày, tài đức của đạo sĩ nồi tiếng khắp vùng nên dân làng đã kính cẩn gọi 2 vợ chồng đạo sĩ là “Thầy Thím”, khi 2 vợ chồng Thầy Thím qua đời, dân làng cho mai táng chu đáo và cho xây Dinh để thờ phụng, theo truyền thuyết Dinh Thầy Thím được xây dựng về hướng Đông nhưng qua 1 đêm thì mọi người thấy Dinh quay về hướng Tây và dân làng cho đó là ý nguyện của Thầy.

    Dinh Thầy Thím (DTT) có kiến trúc theo kiểu Đình Làng, bao gồm các công trình : chính điện , nhà thờ Tiền Hiền, Võ Ca…trong khám thờ chính điện còn 2 bài vị thờ Thầy Thím & nhiều bức hoành phi ca ngợi công đức của 2 người. Dinh được xây dựng quy mô vào năm Kỷ Mảo (1879). Ngày nay chúng ta nhìn thấy trên thanh xà gồ của Dinh khắc dòng chữ Hán “Kỷ Mảo niên thập nhị nguyệt nhị thập ngũ nhật kiến tạo”

    Cách DTT chừng 5km là khu vực mộ của Thầy Thím ,tại đây có 4 ngôi mộ được đắp bằng cát trắng khá lớn theo dân gian đây là 2 ngôi mộ của Thầy Thím, 2 ngôi mộ còn lại là mộ củq đệ tử của Thầy.

    DTT từ 1TK qua là một nơi khá nổi tiếng được nhân dân khắp nơi đến chiêm bái không dứt, ngày nay Dinh đã trở thành 1 thắng cảnh du lịch nhờ có ưu điểm về thiên nhiên bao quanh như: bãi biển, đồi dương và núi rừng. Hằng năm nhân dân khắp nơi đến viếng mộ và thăm Dinh, đông nhất là vào dịp giỗ Thầy ngày 5 tháng giêng âm lịch và tiết thu của Dinh từ ngày 14 – 16 tháng 9 âm lịch.

    DTT  được UBND tỉnh Bình Thuận công nhận và ra quyết định bảo vệ khu thắng cảnh này. Quyết định số: 1377-QĐ-UBBT ngày 06 tháng 12 năm 1993 và bộ văn hoá thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997.

    MŨI KHE GÀ – NGỌN HẢI ĐĂNG CỔ NHẤT MIỀN NAM

    Có người gọi là Mũi Kê Gà nhưng xin thưa Quý khách tên Mũi Khe Gà là tên gọi đúng nhất bởi vì người ta đã căn cứ vào hình dáng đảo mà đặt tên. Thông thường những địa danh ven bờ do người đi biển đặt ra khi nhìn thấy hình dáng và cảnh vậttừ ngoài khơi. MKG cũng vậy có từ hơn 300 năn trước và được ghi trong “vè thủy trình” vốn là những câu hát của ngư phủ khi lái ghe di chuyển dọc theo bờ biển để nhắc nhở nhau đã đi qua và sắp tới địa danh nào (thời kỳ đó chưa có Hải Đồ). Vè Thủy Trình có 02 bài, có 180 câu, gồm 1 bài “hát vô” dành cho lái ghe từ Thừa Thiên – Huế – Quảng Nam đi vào hướng Đồng Nai và 1 bài “Hát ra” khi lái ghe trở về.

         Trong bài “Hát vô” có những câu (từ câu 1953 – 1958)

    “Ghe thuyền tụ tập từ xa

    Phú Hài. Phan thiết ấy là trạm chung

    Hỡi ơi đốn củi Gành Thông

    Sơn Lâm một gánh chất chồng 2 vai

    Khe Gà nay đã đến nơi

    Anh em làm lễ một hồi cho qua”

                Chắc quý khách còn đang thắc mắc tại sao “làm lễ một hồi cho qua” tại vì  MKG này ghe thuyền nào cũng sợ vì đây là khu vực hiểm yếu thuyền buồm qua lại thường bị đắm do không xác định được vị trí dẽ bị sóng tạt ghe thuyền va vào đá ngầm. Bởi thế các thế hệ ngư phủ đi biển xưakhi đi ngang qua dây đều phải lo làm lễ với Hà Bá, thần biển cầu xin cho ghe thuyền qua lại được dể dàng.

                Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Trịnh Hoài Đức ghi như sau: ở phía Tây huyện Tuy Lý cách 52 dăm sát biển có những hòn đá lớn ngang ta biển. Ơ ngoài có hòn đảo tên gọi Kê Dữ (đảo Gà) đảo Khe Gà cách bờ biển 500m vào những ngày nước ròng người dân ở đây có thể lội qua đảo, lúc cường triều sóng to gió lớn việc đi lại rất khó khăn.

                Trên đảo có ngọn Hải Đăng (NHĐ) tương đối đồ sộ, đây là NHĐ cao và xưa nhất nước, NHĐ  này trước đây do 1 người Pháp Chnavat thiết kế, xây dựng để hướng dẫn tàu thuyền qua lại. Khởi công xây dựng từ tháng 02 năm 1897 khánh thành vào năm 1898, nay vẫn còn 1 tấm đá hoa cương lớn ở ngay trước cửa vào Hải Đăng khắc số 1899 và ngọn Hải Đăng này chính là  thức họat động năm 1900. trong thời gian xây NHĐ đã xảy ra đại nạn làm nhiều người chết, nay vẫn còn nhiều mồ chôn  người bỏ mạng vì công trình này .

                NHĐ được xây dựng bằng đá hoa cương có hình trụ cột, tám cạnh, không rõ người Pháp xưa kia đã đem đá hoa cương từ đâu tới vì vùng này không có đá hoa cương. Đây không phải là những viên đá 4 góc bình thường mà tất cả những khối đá hoa cương dùng để xây dựng đều được chạm khắc thành từng ô có hình cạnh khớp với nhau giống như là những khối đá đã được dùng xây tháp rồi được tháo rời ra và lắp đạt để xây NHĐ  Khe Gà mà khi ráp, xây chỉ cần đặt lại theo đúng thứ tự từng góc cạnh từ dưới chân lên trên và người thợ chỉ cần đưa vữa trát vào là các khối đá dính chặt vào nhau mà không cn phải tô láng sửa chữa gì hết.

                Tháp Đèn cũng được xây bằng đá  cao 35m độ cao của toàn bộ từ dưới mặt đất lên tới đỉnh có chóp đèn là 41,5m, độ cao từ tầm ngọn đèn đến mặt biển là 65m, kích thước của mỗi cạnh ở chân tháp là 2m60, chiều dày của tường tháp từ chân tháp đến độ cao 6m là 1m60, càng lên cao độ dày của tường lại càng giảm là 1m50 và độ mỏng nhất của tường tháp khi lên tới đỉnh là 1m. Trên ngọn tháp có bóng đèn lớn 2000w làm tín hiệu hướng dẫn các tàu bè qua lại.

                Khi xưa NHĐ Khe Gà có 9 người điều hành gồm trạm trưởng người Pháp và 8 người Việt, ngoài NHĐ ở đây còn có 1 ngôi nhà lớn hình vuông mỗi cạnh 40m, dưới nhà là hầm chứa sâu 3m, trước nhà có 1 cái giếng gọi là Giếng Tiên. Từ mí nước biển lên đến NHĐ  có hàng chục bậc cấp và 2 hàng cây hoa sứ được người Pháp trồng xưa kia dọc theo lối đi và xung quanh chân NHĐ (từ cuối TK XIX) nay vẫn còn nguyên vẹn và tỏa bóng mát quanh năm.

                Để đi lên tới đỉnh NHĐ  chúng ta sẽ phải leo lên 184 bậc thang xoắn ốc bằng thép và hàng chục bậc cấp dẫn lên tới đỉnh đèn, tất cả đều được vận chuyển từ Pháp qua kể cà ngọn đèn trên đỉnh và máy phát điện.

                Hiện nay trên đảo Khe Gà và NHĐ trở thành 1 điểm tham quan thu hút du khách. Nó vừa là di tích kiến trúc vừa là thắng cảnh biển nên thơ và trữ tình.

    NÚI TÀKOU – CHÙA LINH SƠN TRƯỜNG THỌ

    Núi TaKou (còn gọi là Núi Tà Cú) nằm ven Quốc Lộ 1ª thuộc xã Tân Lập huyện Hàm Thuận Nam, cách TP. Phan Thiết khỏang 28km. Đây là một ngôi cổ tự nổi tiếng và là 1 điểm leo núi hấp dẫn, 1 thắng cảnh khung cảnh kỳ thú nhất của vùng đất Bình Thuận.

                Núi cao 475m từ dưới chân núi du khách sẽ phải leo lên hàng trăm bậc cấp theo con đường ngoằn ngèo giữa khu rừng cây hoang sơ mới lên được tới đỉnh. Nơi đây có 2 sơn tự cổ kính nổi tiếng, đường lên đỉnh núi có quang cảnh hấp dẫn, thích thú đối với các bạn trẻ. Từ ngày 12/9/2003 Công Ty Du Lịch Bình Thuận đã chính thức đưa hệ thống cáp treo lên núi Tà Cú, hệ thống cáp treo dài 1.640m có 25 cabin (6 người/cabin) do hãng Deppelmar (Ao) chế tạo và lắp đặt, giá vé 100.000đ/khách (khứ hồi) nhờ hệ thống cáp treo này mà du khách đỡ vất vả mệt nhọc khi lên viếng cổ tự.

                Ngôi chùa Linh Sơn Trường Thọ do tổ sư Trần Hữu Đức (1812 – 1887) khai sơn lập thành, quanh năm ở đây có cây xanh, suối chảy , chim vượn tạo nên 1 khung cảnh thiên nhiên kỳ thú. Thiền sư Trần Hữu Đức quê quán tại Phú Yên vào TK XIX năm ông được 17 tuổi ông đã cùng gia đình trôi dạt đến Phan Thiết, tại đây ông đã xuất gia, sau 15 năm tu đạo Thiền Sư Hữu Đức đã một mình đi đến xứ Bàu Tràm lập ra một ngôi chùa để tu luyện và suy ngẫm về giáo lý nhà Phật. Sau 30 năm ông trở thành một vị cao tăng đác đạo và có rất nhiều đệ tử, ông còn bốc thuốc chữa bệnh cho nhân trong vùng nên tiếng lành đồn xa.

                Vào năm 1872 nhà sư Trần Hữu Đức pháp danh Thông Am, pháp hiệu Hữu Đức đã từ bỏ tất cả đi đến sứ Bàu Siêu lên núi Takou lập chùa . ban đầu chùa Tà Cú là một ngôi chùa lợp mái tranh vách đất, trong thời gian này (năm Tự Đức 33) Canh Thìn (1880) ông đã được vời ra kinh thành để chữa bệnh cho bà Từ Dũ (Mẹ của vua Tự Đức) thóat khỏi căn bệnh hiểm nghèo. Vua Tự Đức ban sắc phong và đặt tên chùa là Linh sơn Trường Thọ, sư Hữu Đức  được ban danh xưng là “Đại Lão Hòa Thượng”

    Ngôi chùa dười Linh Sơn Long Đoàn đc xây dựng cũng vào cuối TK XIX  theo ý nguyện của nhà sư trước khi viên tịch.

                Qua nhiều thế hệ và thời gian chùa được bàn tay kiến tạo của con người bồi đắp dần dần để có thể có được  một công trình đồ sộ nổi tiếng như hiện nay không chỉ cho riêng tỉnh Bình Thuận mà cho cả vùng Nam Trung Bộ, tiêu biểu nhất là pho tượng nằm  (Phật Nhập Niết Bàn) nằm ở vị trí cao cách chùa 100m . Tác phẩm độc đáo này do kỹ sư Trương Đình Ý thực hiện vào năm 1962, cách đó chừng 50m là 3 nhóm tượng phật gồm A Di Đà, Quan Thế Am Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Cả 3 pho tượng có độ cao khỏang 7m nét mặt hiền hòa như đang nhìn bao quát cả thế gian sãn sàng cứu nhân độ thế, cụm tượng này còn được gọi là “Tịnh Độ Nhân Gian” Chùa Linh sơn Trường Thọ được xây dựng nhằm phản đối việc đàn áp Phật Giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bây giờ. Chùa Linh Sơn Trường thọ cùng núi Takou và khu rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên đã được tỉnh Bình Thuận xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 1993.

    CÂY THANH LONG

                Bình Thuận là nơi nổi tiếng về cây Thanh Long, cây có nguồn gốc ở các vùng sa mạc Mexico và Colombia, được trồng nhiều ở Nicaragua (Nam Mỹ). Vì thuộc họ xương rồng nên Thanh Long (TL) thích hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu hạn tốt, chịu được cường độ ánh sáng cao, thích hợp đất bạc màu, đất phèn..... Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á trồng và xuất khẩu TL, Việt Nam có tổng diện tích TL khỏang 200ha vậy phân nửa diện tích còn lại nằm ở Long An, Tiền Giang và các nơi khác.

                Cây TL có mặt ở Bình Thuận từ rất lâu đời ban đầu được trồng làm hàng rào. Đầu năm 1980 cây TL bắt đầu được chú ý nhưng đến năm 1990 cây TL mới bắt đầu được trồng ở xã Hàm Hiệp (Hàm Thuận Bắc), Phong Mẫn (TP.Phan Thiết), Hàm Mỹ, Hàm Thạnh (Hàm Thuận Nam) rồi đến xã Bắc Bình, Tuy Phong. Và đến nay cây TL là cây có giá trịkinh tế ở Bình Thuận. Cây có 2 lọai rễ: địa sinh hút chất dinh dưỡng dưới đất, khí sinh bám vào thân cây để leo. Cây có 3 đến 4 đợt cành, đợt cành thứ nhất là mẹ của đợt cành thứ 2. thời gian ra 2 đợt cành từ 40 – 50 ngày, cây một tuổi trung bình 30 cành, hoa thuộc lọai lưỡng tính, hoa của cây TL xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch kéo dài tới tháng 10. thời gian xuất hiện nụ cho đến khi hoa tàn là 10 ngày sau đó sẽ phát triển thành trái, mất thêm 15 đến 25 ngày để thu họach.

    Cây TL được trồng bằng trụ gỗ, trên đầu gỗ người ta đóng 1 cây để cho TL bám vào sau đó đễ phát triển  thành trái, mất thêm 15 đến 25 ngày để thu họach. Cây TL được trồng bằng trụ gỗ, trên đầu gỗ người ta đóng 1 cây để cho TL bám vào sau đó người ta chặt thành hom ngắn cắm xuống đất khỏang 3 – 4 ha rồi lấy dây buộc lên.

    ·            Thanh Long trái vụ: Có 1 người nuôi vịt tình cờ quây màn xung quanh các trụ TL, ban đêm mắc bóng đèn lên trên những cây TL để đề phòng kẻ gian, ko ngờ ít lâu sau những cây TL được mắc bóng đèn lại ra trái sớm hơn những cây TL không mắc bóng đèn. Từ sự kiện này  năm 1995 những người trồng TL đã áp dụng cho mắc bóng đèn trong những vườn TL và đạt được kết quả rất khả quan đó là họ thu họach được TL trái vụ. Đến tháng 12 năm 1997 hình thức này đã được áp dụng rộng rái trong tòan tỉnh, nhiều nhà vườn đã giàu lên đột ngột do thu họach được TL trái mùa. TL trái vụ có vỏ láng, trái lớn và có giá trị xuất khẩu cao.

    Cây Thanh Long ở Bình Thuận: Giá trị thị trường vẫn thấp

    (TTTM) - Hiện 40% sản lượng thanh long của Bình Thuận được tiêu thụ ở thị trường nội địa. Số còn lại dành cho xuất khẩu. Nơng dn trồng thanh long không hưởng lợi nhiều trong chuỗi giá trị trái thanh long ở cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu.

    Mỗi năm nông dân Bình Thuận thu hoạch hai vụ thanh long: chính vụ và trái vụ. Theo anh Việt - nông dân trồng thanh long ở xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam - vào mùa chính vụ, năng suất đạt 30 tấn/ha. Giá trung bình thanh long chính vụ 3.000 đồng/kg. Mùa trái vụ, giá thanh long trung bình ở mức 6.000 đồng/kg, với năng suất mùa này 20 tấn/ha. Như vậy, người trồng thanh long thu tiền bán trái là 210 triệu đồng/ha/năm.

    Nông dân được bao nhiêu?

    Trừ đi các khoản chi phí như phí lao động khoảng 35 triệu đồng, điện 30 triệu, phân bón 40 triệu, thuốc 2 triệu, chi phí cho việc phục hồi đất là 8 triệu đồng, thuế và các chi phí khác 2 triệu đồng. Tổng chi phí trồng thanh long ở mức 117 triệu đồng/năm. Vị chi, sau khi trừ chi phí, nông dân trồng thanh long vẫn dư được 93 triệu đồng/ha/năm. “Những năm trước, vật giá chưa leo thang, làm một hecta thanh long có thể đủ trang trải cho gia đình. Nhưng với giá cả hiện tại thì chúng tôi cũng chịu…”

    Theo hiệp hội thanh long Bình Thuận, hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng gần 40 cơ sở thu mua thanh long. Đối với tiêu thụ nội địa, những cơ sở thu mua lớn liên lạc với thương lái để báo giá theo thời điểm. Thương lái mua và bán lại cho các cơ sở thu mua thanh long với giá cao hơn từ 10 – 15% so với giá mua gốc từ nông dân. Cũng với quy trình như vậy, thanh long xuất khẩu được các cơ sở thu mua với giá cao hơn giá nội địa từ 20 – 30%, nhưng tiêu chuẩn sản phẩm khắt khe hơn.

    Trần Văn Tám, một thương lái, chuyên thu mua thanh long ở huyện Hàm Thuận Nam cho hay, ở thị trường nội địa, Hà Nội và TP.HCM là hai nơi tiêu thụ chính. Giá loại thanh long tốt nhất mà các thương lái mua tại vườn để bán ra Hà Nội khoảng 4.000 – 5.000 đồng/kg. Mỗi trái thanh long phải đạt tiêu chuẩn 500g/trái, quả tươi đỏ cịn đủ gai. Giá thanh long vào Sài Gịn loại tốt cũng ở mức 3.000 – 4.000 đồng/kg, với trọng lượng nhỏ hơn, khoảng 300g. Nếu mua cả vườn thanh long, đàm phán được với chủ vườn bán với giá 2.500 đồng/kg thanh long, trừ chi phí, Tám lời khoảng 400 đồng/kg thanh long.

    Giá trị xuất khẩu thấp do bán qua trung gian

    Hiện 40% sản lượng thanh long của Bình Thuận được tiêu thụ ở thị trường nội địa, 60% cịn lại xuất khẩu. Theo ơng Nguyễn Ngọc Hai, giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Thuận, hiện hơn 90% sản lượng thanh long Bình Thuận xuất qua các quốc gia Châu Á còn lại là các thị trường khác như EU, Nhật và một số quốc gia khác với thị phần rất thấp.

    Thanh long Bình Thuận phần lớn xuất theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc nên giá trị xuất khẩu không cao.

    Theo quan sát của chúng tôi, suốt một chặng quốc lộ 1, dài khoảng gần 10km, ở huyện Hàm Thuận Nam, hai bên đường là những dãy dài xe container lạnh đang chờ “ăn” thanh long. Gần như 100% điểm đến của những chuyến xe này là cửa khẩu Tân Thanh. Từ bao nylon bọc trái thanh long, đến những thùng giấy xếp trái đều được in bằng tiếng Trung Quốc. Dấu hiệu duy nhất còn lại để biết trái cây có xuất xứ Việt Nam là dòng chữ “Phan Thiet Dragon Fruit”. B Thu, quản lý thu mua của công ty Liên Phát cho biết, các đối tác Trung Quốc đưa qua những bao bì này và buộc cơ sở phải đóng gói, họ mới chịu mua. Hiện công ty mua thanh long với giá 4.000 đồng/kg, do đang vào cuối vụ.

    Năm tháng đầu năm, Bình Thuận đã xuất 10.243 tấn thanh long vào Đài Loan, Hong Kong, Trung Quốc, Thái Lan. Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 7 triệu USD. Giá xuất thanh long vào Đài Loan là 676 USD/tấn; Trung Quốc 413 USD/tấn. Đây là những thị trường xuất khẩu chính của trái thanh long. Đa số các cơ sở xuất khẩu thanh long ở Bình Thuận đều xuất qua trung gian, nên giá không cao. Vì vậy, họ cũng khơng thể mua thanh long từ nơng dn với gi cao hơn. Ông Nguyễn Ngọc Hai thừa nhận, hiện tỉnh Bình Thuận cĩ khoảng 30 doanh nghiệp xuất thanh long nhưng chỉ vài doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu trực tiếp.

    Đối với thị trường Châu Âu, trong sáu tháng đầu năm 2008, hợp tác xã Hàm Minh chỉ xuất trực tiếp được 10 tấn thanh long theo tiêu chuẩn Eurepgap sang thị trường Đức với giá gần 2 USD/kg thanh long. Số thanh long còn lại của 11 xã viên l.250 tấn, hợp tác xã buộc phải xuất qua trung gian l những công ty xuất khẩu rau quả của Việt Nam với giá chỉ ở mức 0,5 USD/kg, thấp hơn 1,5 USD so với xuất trực tiếp. Hợp tác xã cũng không mua hết lượng thanh long “sạch” mà các xã viên trồng theo tiêu chuẩn xuất khẩu sang châu âu, mặc dù, những nhà nông phải đầu tư thêm 30 triệu đồng/ha cho thanh long “sạch”. Như chúng tôi đã đưa tin, đã có tín hiệu cho thấy khả năng xuất khẩu thanh long qua Mỹ với giá cao. Nhưng nếu không mở nhanh thị trường, thì đa số nông dân vẫn chấp nhận kiểu canh tác cũ, để bán cho những thị trường dễ tính với giá rẻ.

    Ông Nguyễn Thuận, Phó Chủ tịch hiệp hội thanh long Bình Thuận: Sản xuất an tòan và  đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu để nâng giá trị thanh long

    Cộng đồng người Việt và người Hoa, chưa kể những cộng đồng gốc Á khác ở Mỹ, nếu họ chấp nhận thanh long Bình Thuận thì sẽ l một cơ hội lớn cho Việt Nam. Xa hơn nữa, nếu hệ thống Wal - Mart phân phối thanh long Bình Thuận, loại trái cây này có thể đi khắp thế giới. Mỗi năm Bình Thuận chỉ xuất khẩu được hơn 20 triệu USD thanh long, trong khi kim ngạch nhập khẩu trái cây của Mỹ trung bình mỗi năm hơn 6 tỉ USD, nên Mỹ là thị trường đầy tiềm năng.

    Cơ quan kiểm dịch thực vật Mỹ đã chính thức thông báo hai đơn vị có chứng chỉ Eurepgap sẽ được xem xét cho phép xuất khẩu trực tiếp thanh long vào thị trường Mỹ. Ngoài hợp tác xã Hàm Minh, công ty TNHH thanh long Hồng Hậu cũng là đơn vị được chọn trong đợt này. Chứng chỉ Eurepgap là một lợi thế để nâng cao giá trị xuất khẩu của trái thanh long. Vì vậy, tỉnh Bình Thuận đã có chủ trương, trong thời gian tới yêu cầu và hỗ trợ cho nông dân trồng thanh long trên toàn tỉnh Bình Thuận thực hành tiêu chuẩn Vietgap - quy trình thực hnh sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi (Vietnamese Good Agricultural Practices). Quy trình này áp dụng để sản xuất rau, quả tươi an toàn nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro từ các mối nguy cơ ô nhiễm làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm. Dựa trên việc thực hành tốt những tiêu chuẩn này, chúng tôi sẽ hướng nông dân trồng thanh long theo tiêu chuẩn Eurepgap.

    Chúng tôi sẽ tăng cường liên lạc và vận động bà con Việt kiều xúc tiến xuất khẩu thanh long. Đã có những Việt Kiều ở Canada về mua thanh long của Bình Thuận và xuất sang Mỹ.

    Vừa qua tỉnh Bình Thuận đã có những chuyến đi xúc tiến thương mại ở Trung Quốc. Thông qua bộ Ngoại giao, tỉnh Bình Thuận sẽ tiếp tục có những chuyến xúc tiến cho trái thanh long ở thị trường Đức, Pháp, Hà Lan, đặc biệt là thị trường Mỹ vào năm tới.

    Thanh long Bình Thuận: Cánh cửa xuất khẩu sang Mỹ đã mở

    NDĐT - Những năm gần đây, cây thanh long ở Bình Thuận đã giúp cho hàng nghìn người dân trên địa bàn có việc làm ổn định. Từ cây “xóa đói giảm nghèo”, thanh long sớm trở thành loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao. Giờ đây, sau hơn ba năm được tổ chức bán lẻ châu Âu cấp “hộ chiếu” gia nhập với tiêu chuẩn Eurep GAP, thanh long Bình Thuận có thêm cơ hội vào một thị trường lớn, uy tín của thế giới. Đó chính là thị trường nước Mỹ.

    Trở về sau chuyến khảo sát, tìm hiểu thị trường Mỹ, ông Trần Văn Nhựt, Giám đốc Sở Công Thương Bình Thuận vui mừng thông báo: Chuyến đi thực sự đã thu được thành công. Ngoài việc xúc tiến thương mại cho các sản phẩm của địa phương, mục đích chính là nghiên cứu, tìm hiểu, xem cch thức nhập khẩu thanh long như thế nào để tới đây đưa sản phẩm quả thanh long Bình Thuận sang thị trường nước này. Trước đó ngày 30-7-2008, Hoa Kỳ đã đồng ý cấp giấy phép nhập khẩu quả thanh long Việt Nam, và mới đây đại diện Cục kiểm dịch thực vật của Bộ Nông nghiệp Mỹ đã chính thức trao chứng chỉ đạt chuẩn Nhà đóng gói trái cây vào thị trường Hoa Kỳ cho Công ty TNHH Hoàng Hậu và Hợp tác x Thanh Long Hm Minh để chuẩn bị cho đợt xuất khẩu.

    Vậy là quả thanh long Bình Thuận đã được Chính phủ Mỹ cấp “visa” và dự kiến vào tháng 10, chuyến hàng thanh long đầu tiên sẽ xuất sang thị trường Hoa Kỳ. Đây không chỉ là tin vui của những hộ trồng thanh long mà cịn l tín hiệu mới cho mặt hàng rau quả Việt Nam. Ông Trần Văn Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội thanh long Bình Thuận kiêm Giám đốc Công ty TNHH Thanh Long Hoàng Hậu, doanh nghiệp được chọn xuất chuyến hàng thanh long đầu tiên sang Mỹ vào tháng 10, cho biết: Từ trước đến nay chúng tôi đã xuất sang các thị trường châu Á, Châu Âu... nhưng thị trường Mỹ là nơi mà nhiều doanh nghiệp thanh long ở Việt Nam muốn được góp mặt, bởi đây là thị trường tiêu thụ rất lớn và giá cả ổn định. Tới đây chúng tôi sẽ xuất chuyến hàng đầu tiên sang Mỹ để “thăm dò” thị trường và có kế hoạch cho thời gian tới.

    Chợ thanh long xuất khẩu.

    Chúng tôi đãtìm đến “thủ phủ” của cây thanh long ở Hàm Thuận Nam vào những ngày đầu tháng 9. Mặc dù mưa dầm mấy ngày liền nhưng dọc hai bên đường 1A dẫn xuống địa phận Hàm Thuận Nam, những đoàn xe đang tấp nập chở thanh long đến nhập cho hàng chục điểm thu gom và các doanh nghiệp, kịp đóng gói vận chuyển đi trong và nước ngoài. Cục kiểm dịch thực vật cấp giấy phép cho xuất khẩu thanh long là điều khiến không chỉ các nhà thu mua vui mừng mà hơn 20 nghìn nhà vườn thanh long trên địa bàn, trong đó các hộ ở huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam mà chúng tôi gặp đều rất phấn khởi và hy vọng vào tương lai của cây thanh long. Bà con nông dân Bình Thuận không chỉ vui vì giá bán thanh long tăng gấp nhiều lần so với bán trong nước, mà  hy vọng sẽ có cơ hội xuất hàng sang các thị trường mới, nhiều tiềm năng về sau này. Niềm vui này không còn là chuyện riêng của người trồng hay các doanh nghiệp kinh doanh thanh long mà là của cả ngành nông nghiệp cũng như của tỉnh Bình Thuận.

    Chị Minh Tâm, chủ doanh nghiệp thu mua thanh long ở Hàm Thuận Nam cho hay: Thị trường cũng như người Mỹ rất khó tính và yêu cầu rất cao về an toàn thực phẩm, nhưng quả thanh long Bình Thuận đã và đang được bảo đảm an toàn hơn từ khâu trồng cho đến các khâu đóng gói, bảo quản nên khi thanh long vào Mỹ sẽ trở thành mặt hàng được nhiều người ưa thích.

    Anh Nguyễn Thuận, chủ trang trại thanh long đạt tiêu chuẩn Eurep GAP, cũng là Chủ nhiệm HTX Thanh Long Hàm Minh có thâm niên chuyên về xuất khẩu thanh long, chia sẻ: Nhiều năm nay, dù chưa xác định thanh long của Bình Thuận sẽ có ngày lên đường sang Mỹ, nhưng chúng tôi vẫn thực hiện các biện pháp sản xuất an toàn và khuyến khích bà con bảo đảm quy trình đúng tiêu chuẩn Eurep GAP. Nay được cho phép vào Mỹ, nhiều nhà vườn nơi đây tiếp tục đầu tư cơ sơ hạ tầng, mở rộng diện tích để đáp ứng nhu cầu thị trường và ai cũng phấn khởi, tin tưởng vào chất lượng, uy tín của thương hiệu thanh long Bình Thuận.

    Trong chiến lược phát triển cho trái thanh long, ngoài các thị trường quen thuộc như Trung Quốc, Malaysia, Thailand, các nước châu Âu, Canada, Trung Đông..., Bình Thuận sẽ hướng đến hai thị trường lớn là Mỹ và Nhật Bản. Theo ông Ngô Minh Hùng, Phó giám đốc Sở Công thương Bình Thuận thì gần đây các doanh nghiệp Nhật Bản cũng rất quan tâm đến mặt hàng này. Mới nhất là chuyến thăm và làm việc tại Công ty TNHH thanh long Hoàng Hậu, các doanh nghiệp thành phố Osaka đ đặt vấn đề hợp tác đầu tư hệ thống xử lý hiện tượng ruồi đục quả bằng phương pháp nhiệt. Nếu được trang bị hệ thống xử lý hiện đại này, cùng với các chứng nhận vệ sinh theo tiêu chuẩn châu Âu của một số trang trại và các cam kết trồng thanh long an toàn từ các nhà vườn thì thanh long Bình Thuận sẽ sẵn sàng đi ra nhiều nước trên thế giới. Mới đây, Bộ Nông nghiệp Mỹ cũng đã cấp “một số-mã vùng” cho các vườn thanh long ở 11 xã của Bình Thuận chuyên canh cây thanh long.

    Trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Bình Thuận vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh: “Trái thanh long Việt Nam giờ đã có thêm thị trường mới là Hoa Kỳ. Do vậy Bình Thuận phải nắm lấy cơ hội này để xây dựng thương hiệu thanh long an toàn, chất lượng cao, xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Tây Âu, nâng cao thu nhập cho nông dân và góp phần làm giàu cho đất nước”.

    Chăm sóc thanh long xuất khẩu tại trang trại.

    Vào được thị trường Mỹ, trong tương lai thanh long Bình Thuận sẽ có “tấm hộ chiếu” để được đến với các khách hàng khó tính khác trên toàn thế giới. Tuy nhiên, cái khó khi xuất thanh long vào thị trường Mỹ là công tác vận chuyển. Nếu vận chuyển bằng đường hàng không thì gi cước quá cao, riêng đi Canada là sáu USD/kg, cịn đi Mỹ phải mất từ 7-10 USD/kg. Nếu vận chuyển bằng đường biển thì thời gian qu di, ít nhất 28 -40 ngy mới tới nơi, trong khi trái thanh long chỉ bảo đảm trong phòng lạnh có 21 ngày, qua 28 ngày sẽ bị hư hỏng 30%...

    Ngoài ra, tới đây các cơ quan chức năng tiếp tục tập huấn, hướng dẫn sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, kích thích tăng trưởng cho phép cũng như liều lượng sử dụng trong từng thời kỳ để phổ biến cho nông dân triển khai, hướng dẫn theo tiêu chuẩn Asean GAP, Viet GAP, nhất là chất lượng sản phẩm phải bảo đảm quy trình sản xuất thanh long an tồn, nghim ngặt trong quy trình khp kín.

    Cửa đã mở. Vài điều còn lại phụ thuộc vào tư duy, bản lĩnh hội nhập, sức mạnh cạnh tranh và chữ tín của chính chúng ta.

    * Theo báo cáo của  Sở Công thương tỉnh Bình Thuận, đến nay diện tích thanh long toàn tỉnh đạt xấp xỉ 10 nghìn ha, trong đó diện tích thu hoạch 8.993 ha, diện tích trồng mới 977 ha.

    * Tổng sản lượng năm 2008 dự kiến đạt 180 nghìn tấn, trong đó chủ yếu ở Hàm Thuận Nam với năng suất khoảng 150.000 tấn/năm.

     

    Hiện nay 98% nông dân tòan tỉnh đã ký cam kết sản xuất thanh long sạch, 123ha thanh long của tỉnh đã bảo đảm tiêu chuẩn toàn cầu, nhiều vùng trồng thanh long đang áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn Việt

    Lận đận thanh long sạch ở Bình Thuận

    Hầu hết người trồng không "mặn" với quy trình trồng thanh long sạch mà họ cho là nhiêu khê. Nên cả tỉnh Bình Thuận với khoảng 10.000 ha thanh long (của 20.000 hộ), chỉ có hơn 200 ha (của 3 cơ sở SX trái cây này) được cấp chứng chỉ vào thị trường châu Âu.

    Nở rộ trồng thanh long kiểu "gia truyền"

    Do thanh long chịu được hạn, sống dẻo dai trên đất khô cằn như ở Bình Thuận, lại nhanh cho trái (nhất là quả trái vụ) chi phí tăng gấp đôi so với 3 năm trước, hàng trăm hộ nông dân vẫn cứ lao vào trồng thanhlong. 
                Mỗi hộ nông dân có một kiểu trồng và chăm sóc thanh long khác nhau.    Đặc biệt, 100% hộ trồng đều sử dụng thuốc kích thích chất tăng trưởng lúc cây ở giai đoạn ra búp là “ga 3” và phân bón lá Thiên Nông. Trong đó “ga 3” thực chất là thuốc kích thích gồm hai loại, một là Gibber 10SP (hàng nội), loại kia có tên Pro gibb (SX từ nguyên liệu của Mỹ).

                 Theo ông Đặng Văn Tiến - Chủ tịch UBND xã Hàm Mỹ, mặc dù cơ quan chức năng ban hành hẳn một qui trình hướng dẫn kỹ thuật, nhưng nhìn chung l mạnh ai nấy làm, ai cũng có bí quyết riêng trong việc sử dụng chất kích thích, phân bón, trong khi thị trường lại có hàng chục hàng trăm chất kích thích tăng trưởng khác nhau; khó mà kiểm soát họ sử dụng thuốc nào, có đúng liều lượng, qui trình hay không.


                  Bởi vậy, cũng nói như ông Tiến, trái thanh long VN được nhập khẩu vào thị trường Mỹ là một tin vui cho bà con nông dân nhưng lãnh đạo chính quyền thì vừa mừng vừa lo. “Mừng là trái thanh long đã có thương hiệu, mỗi năm tại đây xuất bán trong và ngoài nước khoảng 10 ngàn tấn tươi, nhưng lo là nông dân địa phương vẫn còn lạm dụng chất kích thích tăng trưởng để tăng sản lượng nhưng chất lượng trái giảm, nhập khẩu vào các nước “khó tính” như Mỹ và EU mà vẫn còn kiểu làm ăn cẩu thả thì chỉ có... chết!”.

    Theo ông Tư Rô (QL.1, Phú Hưng), chủ một trong 30 công ty, DN, “nậu vựa” đóng chân trên địa bàn có nhiều năm trong nghề thu mua trái thanh long xuất khẩu, nếu người dân sử dụng thuốc kích thích đúng liều lượng, đúng qui trình thì không sao (vỏ trái vẫn dày đỏ, ruột trắng, tai cứng, tươi lâu, một trái cân nặng từ 3,5 lạng trở lên). 

    Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng sẽ sinh ra “dư lượng” trong trái với đặc điểm như trái chín không đều, màu xanh nhiều hơn màu đỏ, tai cong ra phía sau, trọng lượng thì “tăng vọt” hơn bình thường, cá biệt có trái to cỡ bình bt nặng tới 1 kg. Trong khi trái thanh long không sử dụng chất kích thích thì vỏ mỏng, tai yếu, ruột mềm và đặc biệt là màu sắc không đẹp, nặng chừng 3 lạng trở lại và thường bị xếp vào loại “hàng dạt”.

    Thanh long sạch: 2%

    Hàm Thuận Nam là một huyện có diện tích trồng thanh long lớn nhất tỉnh, năm 2007 có 4.880ha, năm nay đ ln tới 5.500ha (tăng gần 800ha với hàng chục trang trại, cơ sở thu mua tiêu thụ nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài). Để giữ vững thương hiệu cũng như ổn định phát triển sản xuất, theo ông Châu Đình Quang - PCT UBND huyện, địa phương đ tổ chức hng chục lớp tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc thanh long, không sử dụng quá liều thuốc bảo vệ thực vật và lạm dụng chất kích thích để tăng trưởng quả.


                 Theo đó, từ tháng 4 đến nay đã có trên 80% số hộ trồng thanh long đăng ký cam kết sản xuất theo hướng an toàn. Hiện nay, tại một số khu vực trồng thanh long trên địa bàn huyện đ hình thnh được các nhóm từ 5 đến 7 nông hộ liên kết, hợp tác hỗ trợ với nhau về các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, thông tin thị trường để cùng nhau SX và tiêu thụ thanh long sạch.

    Trong đó, HTX Thanh long Hàm Minh với 123ha được Tổ chức EurepGap (Thụy Sĩ) trao chứng chỉ danh giá “Thực hành nông nghiệp tốt và trái cây ngon” cách đây 2 năm.


               Ông phó chủ nhiệm HTX Hồ Trọng Huấn cho biết, phải chật vật lắm vì có đến 200 tiêu chuẩn mà tổ chức quốc tế đưa ra để bà con nông dân thử nghiệm, trong đó có 100 tiêu chuẩn phải thực hiện nghiêm ngặt. Nhờ vào quy trình SX nghiêm ngặt hiện nay mà Hàm Minh cùng 2 cơ sở khác là Công ty Thanh long Hoàng Hậu (80ha) và Trang trại Duy Lan (10,7ha) được EU cấp chứng chỉ chất lượng.


                Tuy nhiên, nếu cộng lại diện tích trồng thanh long của 3 đơn vị này theo qui trình GAP (an tồn) thì mới chỉ cĩ hơn 200ha, trong khi cả tỉnh Bình Thuận cĩ đến 10.000ha cây thanh long. Mặc dù chính quyền địa phương thỉnh thoảng họp hành, vận động đưa các nông hộ vào các nhóm liên kết nhỏ như nói ở trên để SX theo qui trình “thanh long an tòan” nhưng hầu hết người trồng vẫn chấp nhận cách làm truyền thống, nhỏ lẻ và trông mong vào sự may rủi của thị trường trong nước; ít ai muốn tiến tới cách làm ăn hợp tác bền vững và vươn xa. 

    "Nhạt" với thanh long sạch

    Như ông Nguyễn Thu (thôn Phú Sơn, Hàm Mỹ) trồng 2ha thanh long, mỗi năm thu hoạch từ 40-50 tấn trái tươi, hiện vẫn thích “đứng ngoài” hơn là vào trong các mô hình SX theo kiểu liên  kết. 


    Theo ông Thu, với “mô hình” cũng có cái hay nhưng cách làm việc kiểu khoa học hết sức “nhiêu khê” như phải theo dõi, ghi chép đồng ruộng hàng ngày, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu theo đúng qui trình, liều lượng bắt buộc thì không chỉ ông mà còn nhiều nông dân khác “không mặn”, không thích hợp. 


    Còn gia nhập vào các nhóm liên kết từ 5-7 nơng hộ để truyền bảo cho nhau qui trình kỹ thuật SX thanh long sạch thì hơi khó, vì ai cũng muốn giữ riêng cho mình bí quyết trồng và chăm sóc thanh long sao cho đạt sản lượng cao nhất.

     Trong khi đó, để trái thanh long sạch vào được thị trường nước bạn, cũng không dễ dàng gì. Ông Mai Văn Bình, GĐ Công ty TNHH TM-XNK Thanh long Kiều Nga (Bình Thuận) phn nn: "Mỗi năm phía Đài Loan có 4-5 lần trừ tiền do trái thanh long bị “ruồi đục trái”, nên mỗi container mất đi 500 USD. Nếu xuất thanh long VN vào thị trường Mỹ, bằng đường hàng không thì gi cước quá cao; vận chuyển bằng đường biển thì mất ít nhất 28 ngày, khi mà thanh long hư 30%”.


               Còn theo bà Đào Thị Kim Dung, GĐ Trung tâm nghiên cứu thanh long Bình Thuận, bạn hàng nước ngoài chưa hẳn hài lòng với trái thanh long sạch của Việt Nam. Bà cho biết: "Sau khi đi thị sát một trong 3 cơ sở SX trái thanh long sạch đạt tiêu chuẩn châu Âu ở Bình Thuận vào hai ngày 10/6 và 24/6 vừa qua, đại diện của Cơ quan kiểm dịch thực vật (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) yêu cầu chúng ta điều chỉnh một số qui trình, nhưng chưa chỉ cụ thể là qui trình nào”.

    NƯỚC MẮM PHAN THIẾT – SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Lịch sử

    Nước mắm Phan Thiếtthuộc loại "lão làng" vàđãcómặt ở hầu hết tại các thị trường trong nước. Nước mắm Phan Thiết đã có từ thời Phan Thiết còn tên là Tổng Đức Thắng (1809). Những nhà làm nước mắm khi đó đã làm được nhiều nước mắm và bán ở Đàng Ngoài.

    Thùng lều - loại thùng dùng để làm nước mắm Phan Thiết

    Cách làm

    Nguyên liệu

    Nước mắm Phan Thiết chủ yếu được làm từ cá cơm và muối hạt.

    Có nhiều loại cá cơm như cá cơm sọc tiêu, cơm than, cơm đỏ, sọc phấn, phấn chì, cơm lép... nhưng ngon nhất là cá cơm than và sọc tiêu. Cá cơm, xuất hiện từ tháng tư cho đến tháng tám âm lịch, là loại cá nhỏ, con to chỉ bằng ngón tay út hay bằng chiếc đũa, nhưng phân rã thành mắm nhanh, nên thời gian thành nước mắm cũng ngắn. Tuy nhiên, nhiều nhà làm nước mắm lâu năm cho biết chất lượng còn phụ thuộc vào thời gian đánh bắt cá, nhất là cá tháng tám, con nào cũng đều béo mập thì nước mắm mới ngon và đạt độ đạm cao nhất.

    Cách chế biến

    Ta chia làm 2 cách để phân biệt

    • Nước mắm làm bằng thùng ( cách làm của nước mắm Phú Quốc và các vùng khác )

    Cá cơm đánh bắt về được chọn lựa kỹ, bỏ những con to hay nhỏ quá hoặc không tươi. Khi muối, không rửa lại vì trước khi đem lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển. Người ta dùng loại thùng gỗ hình trụ gọi l thùng lều, cao 2 - 2,5 m, đường kính 1,5 - 2 m, dung tích từ 3-10 tấn để muối cá. Sở dĩ người ta phải dùng loại gỗ mềm như bằng lăng, mít, bờ lời để làm thùng là vì khi "niềng" lại bằng dây song, chạy quanh mặt ngòai thân thng, các mảnh gỗ được siết chặt vào nhau, không còn khe hở.

    Ở khâu muối cá, tỷ lệ được áp dụng là 10 cá 4 muối, hay 3 cá 1 muối. Hai thành phần đó được trộn chung cho thật đều tay nhưng không được làm nát cá. Sau đó cho cá vào thùng lều. Có khi người ta lại xếp một lớp cá, một lớp muối hạt. Khi nào đầy thùng thì phủ lên trên một lớp cá khô đã được kết lại như tấm chiếu, rồi dùng nhiều thanh củi cài chặt lại. Thợ muối cá còn đặt lên trên mấy hòn đá to, tròn trịa và nhẵn thín để nén lớp cá bên dưới xuống.

    Theo thời gian, chất nước từ cá ứ ra được dẫn ra ngoài qua một lỗ đục ở đáy thùng. Nước mắm không lấy một lần là dùng được mà phải lọc đi lọc lại. Cho nước đầu tiên thấm qua lớp cá rồi đi ra thùng hứng, làm như thế mỗi ngày một lần. Chừng năm hôm sau là nước "chín", tức đã thành nước mắm.

    • Nước mắm làm bằng lu ( người dân Phan Thiết vẫn áp dụng cách làm nước mắm bằng lu )

    Cách này chỉ khác nhau cơ bản với nước mắm bằng thùng ở chỗ , nước mắm làm bằng lu vẫn theo cách làm giống hệt nước mắm bằng thùng .Tuy nhiên , khác nhau ở cái thùng được thay bằng lu , thay vì để thùng trong nhà chờ thủy phân thì cách làm bằng lu là đem trực tiếp các lu ra ngoài nắng phơi trực tiếp.

    Phân loại

         Nước mắm có thể phân loại thành: "nước bổi", "nước đục" và "nước nhỉ". Nước bổi là nước muối, rửa cá lúc cá còn tươi. Nước đục là nước bổi đã đi qua lớp cá đã muối, màu nước đục nhưng vị đậm ngon. Nước ép, hay nước nhỉ, là nước đục đưa vào thùng mắm cái, đóng lù lại vài ba hôm rồi cho mắm rỉ ra từng giọt, phải mất mươi hôm mới lấy hết nước. Đây là tinh hoa của nghề làm nước mắm. Nước trong veo màu hổ phách toả ra mùi thơm phức, có độ đạm 30 độ. Người ta đánh giá chất lượng nước mắm bằng cách ngửi, nếm hay ăn thử.

    Nước mắm Phú Quốc

    Lịch sử

    Trước năm 1945 nhà thùng tập trung ở hai nơi là Dương Đông và Cửa Cạn. Năm 1945 ở Dương Đông có 75, Cửa Cạn có 19 và An Thới có 2 nhà Thùng. Từ năm 1946 một số nhà thùng bị chiến tranh tàn phá, hiện nay nhà thùng tập trung ở hai nơi là Dương Đông và An Thới.

    Thiết bị

    Nước mắm được sản xuất trong những thùng gỗ lớn, nó đóng vai trò như là một tác nhân lên men trong ngành sản xuất rượu bia nhưng thời gian lên men dài hơn, có khi đến 1 năm. Trước kia thùng đựng nước mắm thường làm bằng cây bời lời vì cây này mềm non khi niềng không có chỗ hở, hiện nay loại cây này khó kiếm nên người ta dùng vên vênchai. Thùng được niền bằng song mây có nhiều ở núi Ông Tám và Bắc Đảo.

    Nguyên liệu

    Bất cứ loại cá nào cũng có thể sử dụng để làm nước mắm, nhưng người sản xuất nước mắm Ph Quốc chỉ sử dụng duy nhất loại cá cơm làm nguyên liệu. Cá cơm có nhiều loại: Sọc Tiêu, Phấn Chì, Cơm Đỏ, Cơm Lép, Sọc Phấn, Cơm Than. Loại cá cơm cho nước mắm ngon nhất là Sọc Tiêu và Cơm Than. Người ta trộn 2 hay 3 phần cá với 1 phần muối rồi để đến 1 năm, càng để lâu hàm lượng đạm càng cao nhưng nước mắm ít thơm và màu bị sậm hơn. Người ta còn chôn nước mắm vài ba năm, lúc đó màu nước mắm thành đen gọi là nước mắm lú, dùng để chữa bịnh. Nếu dùng cá ươn thời gian sẽ mau hơn nhưng nước mắm không thơm và màu không đẹp.

    Một số thuật ngữ

    1. Nhà Thùng: nơi sản xuất nước mắm
    2. Thùng Gổ: Thùng để chứa cá dùng trong sản xuất nước mắm
    3. Nước mắm lú: nước mắm được chôn lâu năm dưới đất
    4. Độ đạm: hàm lượng nitơ tổng có trong một lít nước mắm
    5. Nước bổi: chất lỏng được tạo thành do sự phân hủy của cá

    DÂN TỘC CHĂM Ở VIỆT NAM

    Về mặt chủng tộc người Chăm (cùng với một số dân tộc Tây Nguyên) thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo là 1 bộ phận của nhóm lọai người Indorésien xưa kia cư trú rải rác từ Nam đèo Ngang đến Bình Thuận. Theo các sử liệu Trung Quốc, sau cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhưng bị đàn áp đẫm máu của Hai Bà Trưng  vào năm 192 TCN, lợi dụng lúc nhà hậu Hán suy yếu, 1 viên chức quận Tượng Lâm (phía Nam Thừa Thiên ngày nay) là Khu Liên đã lãnh đạo người Chăm nổi lên khởi nghĩa thắng lơi lập nên vương quốc Lâm Ap (xứ rừng) quốc hiệu Chămpa xuấthiện từ lúc nào không rõ chỉ biết rằng bia ký cổ nhất có nhắc đến tên này được khắc vào cuối TK VI, lâu nay nhiều người tưởng lầm cho rằng quốc hiệu này xuất hiện vào đầu TK IX sau một cuộc dời đô của người Chăm, Chămpa là tên 1 lòai hoa, miện Bắc gọi hoa Đại, miền Nam gọi hoa Sứ, dạng rút gọn nó là Chăm, biến âm là chàm, âm Hán Việt là Chiêm thành, rút gọn là Chiêm. Trong người Việt còn có tên gọi là Hời, giữ 2 thời kỳ Lâm Ấp và Chămpa còn có tên gọi là Hoàn Vương.

                Vương quốc Chămpa tồn tại từ TK II đến đầu TK XVII lãnh thổ kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận, hiện nay trên nước Việt Nam người Chăm cư trú ở 8 tỉnh thành trong đó trên 89% ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, số còn lại cư trú ở An Giang, Phú Yên, TP.HCM, Bình Định, Tây Ninh, Đồng Nai. Theo kết quả điều tra dân số thì tính đến ngày 1/4/1989 dân tộc Chăm có 98.970 người đứng thứ 14 trong số 54 dân tộc Việt Nam. Người Chăm ở Bình Thuận theo 2 tôn giáo: Bà la môn (Bà Chăm) và Hồi Giáo (Bà Ni). Tại 4 làng Xuân Quang, Xuân Hội, Tuần Giáo, Tuân Mục ở huyện Bắc Bình có 1 nhóm người “kinh cựu” ảnh hưởng phong tục Việt, người Chăm ở An Giang theo Hồi Giáo mới khỏang 15.000 người, ở Châu Đốc còn có một nhóm người được gọi là “Chà Và Kur” ở huyện Phú Châu. Họ là những người mang 2 dòng máu lai giữa người Mã Lai và ngườii Kmer, do sống gần người Chăm và có cùng tôn giáo nên họ hòa nhập vào cộng đồng tốt,. Vào TK XV sau những lần giao tranh Đại Việt thất bại một bộ phận chạy sang Campuchia. Đến cuối TK XVII họ đã xuôi theo dòng Mê Kông trở về. Vào năm 1940 do chiến tranh, một số chuyển lên sống định cư tại TP.Hồ Chí Minh, khu rạp Nacy (đường Trần Hưng Đạo), khu Nguyễn Văn Trỗi khoảng 5000 người.

    Như Hướng dẫn đã nói ở trên, người Chăm thuộc ngôn ngữ hệ Mã Lai đảo, họ có 2 bộ lạc Cau và Dừa, giữa 2 bộ lạc này thường xảy ra tranh chấp cho đến TK thứ II (sau công nguyên) một thủ lĩnh Chăm tên Khu Liên đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Hán và lên làm vua, bộ lạc Dừa mà sử ghi lại là nước Lâm Ap, sau đó người cháu là Phạm Phật đã thống nhất được 2 bộ lạc thành nước Chămpa, kinh đô lúc đó là Trà Kiệu cách Đà Nẵng 70km về phía Tây Nam, sử gọi là Sinhapura (thành Sư Tử) nằm bên bờ sông Thu Bồn nay thuộc xã Duy Sơn huyện Duy Xuyên – Quảng Nam. Vào giữa TK VIII phía Bắc Chămpa có nhiều biến động nên kinh đo chuyển vào Khánh Hòa  ngày nay, trung tâm là vùng Tháp Chăm Ponagar xây dựng vương triều Panduranga kéo dài 1 thế kỹ. Từ giữa TK IX kinh đô lại chuyển ra phía Bắc tại làng Đồng Dương nằm bên kia bờ sông Ly Ly là 1 nhánh của sông Thu Bồn cách cố đô Trà Kiệu 25 km về phía Nam có tên là Indrapura – Thành Phố Anh Sáng. Vương triều này còn gọi là vương triều Phật Giáo vì Phật Giáo trong giai đoạn này phát triển thành quốc giáo, lấn át An Giáo. Đồng Dương là nơi tập hợp cung điện và đền chùa chứ không tách ra như những vương triều trước, trong thời kỳ này sử Trung Quốc gọi là Chiêm Thành phiên âm từ chữ Phạn Champapuru.         

    Vào cuối TK X kinh đô Đồng Dương bị tấn công nhiều lần nên vào những năm 1000 thì dời về Đồ Bàn với trung tâm được đánh dấu là Tháp Cánh Tiên. Thành Đồ Bàn được xây dựng trên một gò đá ong thuộc huyện An Nhơn – Bình Định, nằm giữa cánh đồng mà 3 mặt Bắc Tây, Nam đều có núi án ngữ, phía Đông thông cửa biển thị Nại (Đầm Thị Nại). Vương triều kéo dài 5 thế kỷ với nhiều biến động và lãnh thổ bắt đầu bị thu hẹp dần. Trong thời kỳ này có 1 sự kiện nổi bật là vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân (1306). Vua Chế Mân đã đem 02 châu Ô, Lý (3/5) lãnh thổ dâng cho Đại Việt làm quà sính lễ. Hai châu này được đổi Thành Thuận, Thành Châu và Hóa Châu mà người dân gọi chung là Thuận Hóa. Sau khi Thành Đồ Bàn thất thủ vương quốc Chămpa bước vào giai đọan cuối cùng. Biên giới phía Bắc lùi vào tận đèo Cù Mông, kinh đô dời vào Khánh Hòa, đến TK XVII chuyển về vùng Phan Rang và đến khi nhà Nguyễn chiếm được Phan thiết thì Chămpa mất hẳn độc lập.

    Từ TK XIX nhất là vào thời Minh Mạng, người Chăm trở thành 1 thành phần dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

    Làng của người Chăm gọi là Plây, xung quanh không có cây cối hoặc chỉ có vài cây me vì họ cho rằng ma quỷ trú ngụ trên những cây đó. Nhà được quay về phía Nam (hướng của của người sống). Một gia đình thọat đầu cho xây dựng 1 căn nhà lớn cho cả nhà gọi là Thang yơ. Đến khi con gái lớn lấy chồng mọi người nhường căn nhà đó cho cô và cất 1 căn nhà khác cạnh bên gọi là Thang mưyân. Đến khi cô con gái thứ 2 lấy chồng, cô thứ nhất phải ra ở cạnh bên để nhường căn nhà cho cô em. Cô con gái út được hưởng căn nhà đó, cô con gái út phải có nhiệm vụ giữ Chick Atâu để cúng giỗ cho gia đình. Chichk Atâu là 1 cái giỏ tre trong đó đựng vật quý của gia đình.

    An uống: Người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận ăn bằng đũa. Người Chăm theo đạo Bàlamôn không ăn thịt bò vì bò l2 vật thiêng (bò thần Nađin). Người Chăm Hồi Giáo không ăn thịt heo vì đối với họ heo là vật dơ bẩn. Họ có món canh yabai nấu bằng lá rau rừng trộn thịt, bột gạo rồi khuấy đều, món cháo chua, bánh tót nhân chuối, bột nếp trộn nắn hình củ gừng chiên. Thức uống là rượu đế, người Chăm ở Châu Đốc có món càri nước dừa.

    Từ Ấn Độ, người Chăm tiếp thu nhiều tôn giáo: Phật giáo, Bàlamôn giáo và Hồi giáo. Nhưng ở chính quốc thì TKV, Phật giáo bị Bàlamôn lấn át dần dần đi đến tàn lụi, còn Hồi Giáo thì tuy đã có những dấu vết từ TK X nhưng phải đến cuối TK XV mới có nhiều người Chăm theo. Chính vì vậy mà nói đến ảnh hưởng Ấn Độ trong việc hình thành văn hóa Chăm thì Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất, Bàlamôn giáo (Brahmanism) là tôn giáo hình thành trên cơ sở kinh Veda do người Aryen từ phía Tây Bắc đưa vào. Đạo Bàlamôn tôn thờ Brahama (nghĩa là Đại Hồn) một ý niệm trù tượng của kinh Vêđa, Brahma là chúa tể các thần, nguồn gốc của vũ trụ , có quyền năng vô biên. Ngài hiện ở ba ngôi như thể thống nhất của một bộ ba vị thần tượng trưng cho 3 giai đọan của sự sống: Brahma (Thần sáng tạo), Visnu (Thần Bảo Tồn) và Siva (Thần Hủy Diệt). Sau khi đạo Phật lụi tàn trên đất An độ Bàlamôn giáo cải biên thành An Độ Giáo (Hinduism). Nguồn ảnh hưởng An Độ tuy đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành văn hóa Chăm nhưng nó không phải là tất cả. Kế thừa di sản phong phú của văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Chăm tất yếu còn là sản phầm tổng hợp của cả nguồn ảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa. Người Chăm sống trên dãi đất Miền Trung, giữa một bên là dãy Trường Sơn cao vút và bên kia là biển Đông sâu thẳm. Sự đối chọi đó của thiên nhiên đã tạo ra những sản vật đặc biệt như: Trầm Hương, Vàng... nhưng đồng thời sự thiếu hài hòa đó của thiên nhiên cũng tạo nên một miền khí hậu khắc nghiệt, bao nhiêu nước mưa rơi xuống núi đều trôi tuột ra biển cả khiến cho đất đai miền Trung trở nên hết sức khô cằn. Sống trong khung cảnh đó con người một mặt phải vật lộn với thiên nhiên và mặt khác giành giật với các láng giềng xung quanh, suốt dải đất Miền Trung còn để lại nhiều dấu tích của các công trình trị thủy mang lại màu xanh cho cây cối như các hệ thống dẫn nước, các đập nước, hồ chứa nước... người Chăm đã thuần dưỡng được giống lúa không cần nhiều nước gọi là “Lúa Chiêm” người Chăm vươn ra chiếm lĩnh biển khơi với nghề đánh cá. Trong quá trình tồn tại của vương quốc người Chăm cũng từng nhiều lần cướp bóc các buôn, sóc Khmer ở phía Nam, đánh lên vùng Tây Nguyên của người Thượng và vùng vẫy tiến ra Bắc, lấn chiếm vùng đất phía Nam Đèo Ngang của Giao Châu (sau này là Đại Việt). Chính cuộc sốngnhư vậy đã rèn luyện cho người Chăm trong lịch sử có 1 tính cách cứng rắn và cương nghị, thượng võ và cá phần hiếu chiến.

    Nói đến văn hóa Chăm không thể không nói đến các tháp Chăm, từ TK V thứ VI sử sách Trung Hoa đã phải công nhận người Chăm là bậc thầy trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gạch. Việc các Tháp Chăm được làm từ những viên gạch đỏ chồng khít lên nhau không thấy mạch hồ khiến  hình thành nên huyền thọai người Chăm xây tháp bằng gạch mộc, đẽo gọt lên đó rồi nung cả khối tháp trên ngọn lửa khổng lồ. Các chuyên gia Ba Lan khẳng định người Chăm đã dùng gạch nung sẵn gắn với nhau bằng vữa đất sét rồi sau đó toàn bộ tháp được nung lại. Một số nhà nghiên cứu thì nêu raq giả thuyết người Chăm dùng keo chiết từ thực vật (nhựa xương rồng + mật mía hoặc nhựa cây dầu rái để dán viên gạch lại với nhau. Những nghiên cứu gần đây cho thấy người Chăm đã đã sử dụng kết hợp một số biện pháp kỷ thuật khác nhau để xây tháp. Dùng những viên gạch có độ lõm ở mặt tiếp xúc nên khi xây nhìn từ phía ngoài vào trong đều không thấy vữa giữa các viên gạch còn ở giữa thì có lớp vữa dày, mài các viên gạch trong  nước cho thật khít vào nhau rồi xếp lại để cho bột gạch ở giữa tự kết dính dưới sức nặng của trọng lực của phần trên tháp, dùng các viên gạch có góc khuyết, góc lồi theo kiểu âm dương để khi xếp vào tự thân chúng tạo thành sự liên kết với nhau. Sự tinh tế của các tháp Chăm còn thể hiện ở vô số hình chạm khắc tỉ mỉ, chau chuốtdo nghệ nhân đục đẻo trực tiếp lên tường tháp. Việc đục đẻo phải được thực hiện sao cho tới đâu chính xác tới đó, tường gạch đã xây sẵn không thể vì một sai sót mà phá đi xây lại. Hòan toàn có lý khi H.Parmertier nhận xét rằng người Chăm chạm gạch như chạm gỗ, đẽo đá như đẽo đồ gỗ.

    Trong âm nhạc người Chăm còn có những bài hát giao duyên với những giai điệu mềm mại thướt tha giống như “Lý Con Sáo” của người Nam Bộ. Những bài ca u hoài sâu lắng của họ có thể bắt gặp trong hơi hướm những giai điệu vọng cổ Nam Bộ hoặc hò mái Nhì, mái Đẩy miền Trung. Nghệ thuật Chăm còn rất nổi tiếng thông qua những hoa văn, họa tiết trên nền vải thổ cẩm và nghề làm gốm thủ công. Về văn học dân gian, dân tộc Chăm còn được biết đến với những trường ca làm say mê lòng người. Múa Chăm cũng rất đặc biệt với các kiểu múa đội nước, múa quạt, múa trống, múa đạp lửa. Họ có nhiều nhạc cụ như đàn Kanhi, trống danai, kèn Saranai (lọai kèn có loa to, bằng gỗ, dài). Trai, gái tỏ tình với nhau thường dùng kèn Saranai. Đối với nhiều người Chăm âm nhạc và múa là linh hồn sống .

    Lễ cưới người Chăm chủ động là con gái, thường họ tổ chức những buổi lễ hát ban đêm. Nếu người con gái chọn người con trai cô sẽ mời anh ở lại hoặc là ngày hôm sau quay lại. Sau khi đồng ý, họ nhờ mai mối để tính tới chuyện thành hôn. Trong đòan mai mối phải có ông cậu và ông mai bà mối đến nhà đàng trai để hỏi cưới xin (lễ trầu cau). Sau đó họ chọn ngày làm lễ hỏi. Ngày đó thường là ngày tốt đầu tháng, sau đó nhà gái đem quà sính lễ (quần áo, bánh, trà, xôi rượu, thịt) và đặc biệt nhất là phải có một cái bánh bông lan do chính tay cô dâu làm đến nhà trai. Đêm đó 2 người ngồi bên nhau giữa ngọn đèn dầu, hôm sau họ mới được ra khỏi phòng để dự tiệc tiếp đãi bạn bè. Lễ kéo dài 03 ngày, đến ngày thứ 3 hai vợ chồng mới được ăn ở với nhau. Đối với người Chăm việc li dị cũng không khó khăn lắm và nhà gái có quyển đòi lại những gì họ đi cưới.

    Lễ tang người Chăm: người Chăm khi chết được đem thiêu, người ta để người chết dưới đất trong 1 cái chòi cách biệt và quàng người chết tại đó. Người thân cùng cúng kiếng với những ông Thầy Cả. Người ta đem quần áo đã chuẩn bị sẵn để mặc cho người chết, cho người chết ăn cơm rồi chọn ngày thiêu. Khi thiêu xác người chết được bỏ vào hòm, lễ thiêu được bắt đầu vào lúc sáng sớm, người thân chứng kiến lễ thiêu cũng là người châm lửa . sau khi đã thiêu xong, ông Thầy sẽ đập cái sọ người chết và lấy đủ 7 miếng xương trán, rửa bằng nước dừa rồi cho vào 1 cái hộp gọi là Klong. Kut là nghĩa địa chôn xương trán của người chết, là một khuôn viên rộng khoảng 4m2. Con cái thuộc họ mẹ sẽ được chôn trong cùng một Kút, để đưa xương vào Kut cách nhau 1 khỏang thời gian nhất định. Những người chết trước đó sẽ được người thân cất xương trán đâu đó để chò ngày nhập Kút. Trong làng có bao nhiêu dòng họ thì có bấy nhiêu Kút vì đó là những làng nô lệ không được tu sĩ làm phép nhập Kút. Đối với những người chết ngoài đường, chết không toàn thây hoặc trẻ em dưới 1 tuổi cũng không được nhập Kút. Những người trong dòng họ tổ chức 1 lễ tang chung cho tất cả người chết trong họ vào 1 ngay trong năm.

    Người Chăm Bàni khi chết được trong nghĩa địa gọi là Ghur khá xa làng và ở  trên một đồi cát. Vì họ quan niệm rằng xác người chết càng phân hủy nhanh càng tốt do đó người chết không có quan tài, chỉ đặt xác lên 1 tấm ván rồi bỏ xuống huyệt. Xác người chết được đặt san sát nhau trong Ghur, sau khi lấp cát lên, người tạ đặt 1 viên đá ở đầu và chân người chết. Có thể chôn xác con chồng lên xác mẹ, nhưng tại vị trí đó phải đăt thên 2 hòn đá mới cho người vừa chôn.

    NGƯỜI CHĂM Ở BÌNH THUẬN

    Bình Thuậnlà tỉnh có nhiểu dân tộc cư trú và thể hiện được sự yên bình, hòa thuận cũng như tên gôi và giúp cho Thành Phố Phan Thiết thêm khởi sắc trong sinh họat quần chúng, điển hình là trong việc bán buôn, giao lưu phục vụ du khách. Với hơn 30 dân tộc cư trú đông đảo nhất là 6 dân tộc : Việt, Chăm, Raglai, Tày và người Hoa. Bình Thuận luôn có nét đặc biệt, người Chăm ở đây đóng 1 vai trò quan trọng gây sự chú ý và hấp dẫn với khá nhiều khách du lịch trong những lần đầu đến tham quan TP. Phan Thiết.

    - Về kiến trúc: Kiến trúc của người Chăm xưa được xem là 1 tác phẩm nghệ thuật đặc trưng, nổi bất với những tháp xây bằng gạch đỏ rất bền vững, thanh thoát và thiên ngang trên ngọn đồi ca. Với kỹ thuật chạm khắc điêu luyện họ đã tạo nên những đường nét mạh khỏe, rõ ràng, giàu trí tưởng tượng và cũng rất trữ tình lãng mạng, người Chămpa xưa đã thể hiện các tượng thần , tượng vua, nữ thần, vũ nữ và các hoa văn đã gây ra sự chú ý và thán phục của du khách trong và ngoài nước đặc biệt là đối với những nhà nghiên cứu và khảo cổ học. Các tác phẩm này thể hiện sự nhận thức và thẩm mỹ của người Chămpa cổ rất đa dạng và phong phú.

    Các nhạc cụ, điệu múa, lời ca và kể cả trang phục...đều là những di sản đặc biệt của người Chămpa cổ, điển hình như tại nhà bà Nguyễn Thị Thềm là hậu duệ của dòng vua Chăm cuối cùng ở Thôn Tịnh Mỹ xã Phan Thanh, Huyện Bắc Bình cách TP.Phan Thiết 62km về phía Bắc. Bộ sưu tập di sản văn hóa hoàng tộc Chăm bao gồm những báu vật của vua Pô Klong Mơh Nai và 1 số ít của các vị vua Chăm vào những TK trước. Sưu tập có hơn 100 di vật nguyên gốc quý hiếm đủ loại hình và chất liệu khác nhau, đáng chú ý là những di vật bằng vàng như: vương miện, bông tai, vòng xuyến, bằng vải: áo bào, đôi hia của vua Pô Klong Mơ Nai và hoàng hậu Pô Bia Sơn khác với vương miện của vua Trung Quốc và Vua Việt có biểu tượng con rồng, vương miện của vua Chăm cóa biểu tượng là 2 con Ma Ka Ra quấn quýt, thể hiện uy quyền của nhà vua . vương miện của Hoàng Hậu cũng bằng vàng với hình dạng nhỏ hẹp, hoa văn trang trí nghiêm chỉnh và duyên dáng.

    Người giữ lại bộ sưu tập này là 1 người có uy tín trong cộng đồng người Chăm được tin yêu và được người Chăm gọi là “công chúa”, bà Nguyễn Thị Thềm qua đời vào năm 1995, một người cháu gái của Bà tên Nguyễn Thị Đào đã thừa kế di sản và bộ sưu tập.

    CÁC NGHĨA ĐỊA CHĂM

    Theo chiết lý Bà La Môn Giáo, người Chăm Bà La Môn (CBLM) hoả thiêu xác người chết, đem tro họ dổ xuống biển, sông, suối, ao, hồ. Theo các truyền thuyết, chỉ đến sau đới vua Pô Aloah (Khoảng TK XI) tro cốt của vua chúa mới được đem chôn trong tháp, của quý tộc chôn trong các lăng tẩm, còn các thứ dân vẫn rắc bỏ dưới nước. Dần dần, do nhu cầu tình cảm muốn giữ 1 phần di cốt của người chết sau hoả thiêu, kút đã xuất hiện.

    Kut: Đây chính là nghĩa địa – nơi chôn giữ chín mảnh xương trán củaq người chết xếp theo dòng tộc mẹ của người CBLM. Theo suy đoán có lẽ Kút xuất hiện từ thời vua Pô Kong Garai (1163 – 1217). Ơ Lăng Chăm Hữu Đức (Phước Hữu, Ninh Phước, Ninh Thuận), nơi có phế tích Pô Klong Halâu còn lại là đá kút, người Chăm gọi là Kút Klong Halâu. Kế đến là 1 Kút cổ nằm kề phía tây tháp Pôrêmê. Người bảo vệ tháp này cho biết dù đã khoá (không nhập cốt vào) từ xa xưa, những Kút này vẫn được người của 1 dòng tộc ở xã Phước Thái chăm sóc hàng năm. Được tạo dựng lâu đời, phần bị thất tự, phần thì các Kút cổ đều bị phân tán. Để giữ lại đá kút của những Kút cổ, mớ đây trung tâm nghiên cứu văn hoá Chăm Ninh Thuận đã đưa về cất giữ năm đá Kút cổ vô chủ.

    Kút thường được chọn đặt nơi vuông đất xa làng từ 1 – 2 km, nhưng khi làng mở rộng có Kút đã nằm lọt giữa làng. Kút Mu Kú Than của dòng họ Lưu Thị Pa Gaỉ¬ làng Hậu Sanh (Phước Hữu, Ninh Thuận) rộng không quá 250 m2 nằm ngay đầu làng. Ong Trương Thiệt 68 tuổi, con rể dòng tộc PaGa kể “Kút Mu KúThan” có từ lâu đời, khi mình đến đây ở rể đã thấy có rồi, hồi ấy nó chỉ tôn nền bằng 1 lớp đá. Cuộc sống khá dần lên, năm 1995 người trong tộc đã đậu tiền lại để xây tường thành, cổng ngỏ, tôn nền cao làm bậc đá đặt kút . riêng ông là phận con rể nhưng một khi qua đời, ông dẽ được gia đình hoả thiêu và chín mảng xương trán của ông sẽ được đưa về chôn dưới đá Kút ở Kút Nức Tân của dòng tộc Lưu Thị Cú Ai của Mẹ ông ở làng Vụ Bổn, xã Phước Nam “Đó là nơi mình trở về với Mẹ, cùng các anh em ruột của mình. Cũng như sau này các em mình”

    Kút của dòng tộc Kà Đạ ở làng Chăm Mỹ Nghiệp nằm cuối làng, kề khu dâncư và trường học , đây là   một Kút khá khang trang hiện đại, vị sư cà 78 tuổi của thá Pôrêmê nói “thời trước phần vì cuộc sống khó khăn ...’

    Người Chăm Bà La Môn không chôn di cốt của mỗi người thành một phần mộ trong Kút. Trên nẻn Kút vốn không rộng đó tối đa 500m2 – chổ đặt di  cốt là bệ rộng không quá 20m được định vị bởi  những viên đá Kút, mặt trên để trống or được tráng ximăng, lát gạch.dưới mỗi viên đá Kút là 1 hố nhỏ để đưa cốt chín mảnh xương trán nhập vào.

    Người ta không đưa cốt lẻ (một vài bộ) nhập Kút mà chờ cho đến khi trong dòng tộc có nhiều cốt mới rước sư cả làm lễ nhập Kút một lần. Trong suốt thời gian chờ nhập Kút có khi kéo dài gần 10 năm, cốt được đặt ở 1 nơi kín đáo và dể nhớ. Việc tìm kiếm đá Kút định vị chúng trên nền Kút cũng theo 1 triết lý. Viên đá giữa tượng trưng cho nữ thần của Kút (Pô Inư Nưgar Kút) được chọn lấy từ biển. Viên đặt ở hướng Tây dành cho nữ phái, bên dưới là hố đặt di cốt của phái nữ. Cầu cho sự sinh sản viên đá phải có phần dưới (mông) to tròn, mập mạp phải được tìm lấy từ sông Cái trong vùng. Còn viên đặt ở hướng Đông dành cho Nam phái, bên dưới là hố đặt di cốt của phái nam được tìm lấy từ ngọn núi cao nhất trong vùng. Cầu cho sự trường tồn tráng kiện, viên đá phải có phần giữa (ngực) nở nang. Không có ngày tảo mộ hàng năm, khi thấy Kút bị cỏ dại, cành cây che lấp (trong Kút thường được trồng cây để toả bóng mát) người trong tộc sẽ làm lễ xin phép thổ thấn rồi cùng nhau vào phát dọn. Lễ Katê là dịp mỗi nhà đơm quảy người quá cố. Việc xem xét để lập hay dời Kút là điều hệ trọng.

    KHÙN – RÁT:

    Người Chăm Bà Ni (Hồi Giáo bản địa) không hoả thiêu mà lại chôn cả thi thể người chết. Nghĩa địa của họ chung cho cả làng, trong đó phần của mỗi dòng tộc được xếp theo từng cụm. Khùn – rát (gherrăk) được nối bởi 2 từ ghur-đum (động cát) và răk (nấm mồ) nghĩa là những nấm mồ trên động (đụn) cát bởi người Chăm Bà Ni thường lập cư ở vùng ven biển.

    Khùn-rát của làng Phước Nhơn (Ninh Hải – Ninh Thuận) là vùng đất đầy rẫy nằm ở hướng Tây Bắc ở làng. Khi chúng tôi đến Khù-rát này sáng sớm thầy Mươm (imưm) Đạo Văn Trí đang ngồi bệt trên chiếu trải giữa Khùn-rát, may đồ đưa cốt cải táng 1 hài nhi 6 tháng tuổi. Người Chăm Bà Ni không phân biệt tuổi tác (như người Chăm Bà La Môn phải 15 tuổi trở lên mới được hoả thiêu, lấy xương trán nhập Kút, dưới 15 tuổi phải đem chôn rồi sau đó bỏ luôn mộ). Từ trẻ con đến người thượng thọ chết đều được chôn trực tiếp ở nghĩa địa dòng tộc .

    Làng Phước Nhơn được thành lập từ năm 1896, hiện có 6000 khẩu 16 dòng tộc vậy mà phần đất thật sự dành cho chôn cất chỉ chừng 3.500m2. người chết sau, con cháu có thể nằm chồng lên Ông Bà.                                 

    Mộ không có nấm mồ. Dấu hiệu để nhận biết là 2 viên đá táng đầu – chân đặt cách nhau dưới 1m , đầu luôn nằm ở hướng Bắc. Khoảng cách giữa 2 dãy mộ thường đủ để trải cái chiếu nhỏ ngồi cầu nguyện trong ngày tảo mộ. Việc chọn đá táng dựa vào những quy định: nếu người chết thuộc dòng tộc biển, đá phải được tìm lấy ở biển, nếu thuộc dòng tộc núi thì thì đá được tìm lấy ở núi hoặc những dòng sông nơi chân núi. Đá đẹp phải là những viên đá mịn, chẳn, tròn. Nếu người Chăm Bà La Môn đã cách tân, Kút bằng xây dựng tường thành, cổng ngỏ, nền bệ thì người Chăm Bà Ni cũng có những thay đổi. Viên đá  táng có thể là những viên đá tròn tự tìm với đủ kích cở màu sắc (đen, xám, nâu, trắng...), giờ đây lại có thể tạc đẻo để có những viên đá hoa cương tròn, hay “hiện đại” hơn là bằng xi măng đúc, tô rửa, sơn màu. Có người còn khắc vào đá táng tên tuổi ngày mất của người chết. Đi xa hơn nhiều người còn thay bằng những viên đá vuông (đúc bằng xi măng và ốp gạch men). Trên nền đỏ xanh, hàng ngàn viên đá với đủ màu sắc, kích cở vuông tròn nằm san sát nhau từng hàng, từng cụm. Khùn-rát thờ nay giống nghư bãi nấm kỳ ảo, sinh động, thanh thoát chứ không nhuốm vẻ âm u cô tịch.

    Người Chăm Bà Ni có ngày tảo mộ hàng năm. Vào ngày đó dân làng vào Khùn-rát làng. Lễ tảo mộ diễn ra vào cuối tháng tám Hồi lịch (khoảng tháng 11 dương lịch). Xong tảo mộ cũng là lúc vào đại lễ Ramưwan, mọi người, mọi nhà lại thêm 1 lần nữa cầu nguyện cho những người đã khuất.

    TỤC THỜ KUT CỦA NGƯỜI CHĂM BÀLAMÔN

    Người Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận theo hai đạo: Hồi giáo Bàni gọi là Cam Awal, khi chết xác được địa táng. Khu nghĩa địa cũng gọi là Ghur. Người Chăm theo đạo Bàlamôn gọi là Cam Ahier, khi người chết, xác được hỏa táng, khu nghĩa địa gọi là Kut. Ở người Chăm Bàlamôn, mỗi tộc họ phải xây dựng một nhà Kut chung để thờ các bậc tổ tiên quá cố của họ tộc mình. Nhà Kut còn được gọi là sang muk kei (có nghĩa là nhà tổ). Theo quan niệm của người Chăm Bàlamôn, họ tộc nào không có nhà Kut sẽ bị dân làng mỉa mai, chê cười cho là không có tổ tông.

    Việc xây dựng Kut do Po adhia thực hiện với nhiều nghi lễ phức tạp và tốn kém. Bài viết dưới đây xin trình bày đôi nét về tục thờ Kut của họ.


    1. Tục chọn đất dựng Kut

                Người Chăm quan niệm, khu đất dựng Kut có ảnh hưởng rất lớn đến sự hưng thịnh và phát triển

    của họ tộc; do vậy, trước khi dựng, người ta phải nhờ thầy Cả sư (Po adhia) chọn mảnh đất có phong thủy tốt. Theo cổ thư thì đất có phong thủy tốt gọi là tanưh mưbhak phải đảm bảo các yếu tố sau:

    - Cao về phía Tây, thấp về phía Đông (glaung pai, bien pur).

    - Có núi phía Nam, có sông phía Bắc (cơk mưnraung, kraung barak).

    - Đất có cỏ cây xanh quanh năm (tanưh mưda el).

    Đất có phong thủy tốt chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ để dựng Kut còn tùy thuộc vào chất đất tốt hay xấu. Để biết được đất tốt hay xấu Po adhia phải làm lễ khấn thần đất rồi mang 5 hũ cơm rượu mới rắc men bỏ vào 5 hũ nhỏ (hũ chao) đem chôn ở 5 điểm tại khu đất dự kiến chọn, theo thứ tự:

    - Đông Bắc (Esan), Tây Nam (Nailiti)

    - Đông Nam (Agrih), Tây Bắc (Bayap)

    - Và điểm trung tâm (Bathak Canar), có nghĩa là điểm giao nhau của hai đường chéo các điểm trên.
    Sau 3 ngày đêm, bốc lên, nếu hũ cơm rượu có màu đen, mùi hôi thối có nghĩa là đất xấu (tanưh tabung), coi như thần đất không đồng ý cho làm Kut. Trái lại, nếu cơm rượu có màu trắng, mùi thơm ngon, thì có nghĩa là đất tốt, coi như thần đất đồng ý và cho phép dựng Kut. Po adhia làm lễ cúng tạ ơn thần đất và tiến hành đổ nền (tuh ram). Nền Kut của người Chăm có hình chữ nhật, mặt Kut theo hướng Bắc.

               Tiếp theo Po adhia mang lễ vật đi thỉnh đất gò mối. Theo cổ thư, thì phải tìm cho được 5 gò mối có địa thế giống như 5 điểm đặt hũ cơm rượu. Trong thực tế, rất khó tìm được địa điểm như thế, nên Po adhia áp dụng phương châm pháp thuật cao không bằng mưu chước giỏi (Sunuw jai pak, glaung anngak bbwak di sunuw), chỉ lấy 5 điểm khác nhau trong một gò mối, mỗi điểm 3 cục, gói vào 5 miếng vải trắng đánh dấu điểm lấy rồi mang về chôn tại 4 điểm gốc của khu đất dựng Kut. Còn điểm trung tâm dành để chôn với biểu tượng người trụ trì (Po di) thể hiện sự sinh sôi nảy nở như con mối, con kiến. Sau đó Po adhia làm lễ tẩy uế khu vực đất để dựng Kut (Balih tanưh Kut).


    2. Tục dựng Kut

               Sau khi đã chọn đất dựng Kut xong, Po adhia tiến hành chọn hòn đá làm biểu tượng Kut. Theo cổ thư, Kut của người Chăm Bàlamôn có 3 biểu tượng chính và chọn đá theo tiêu chuẩn sau:

    - Patuw po di – biểu tượng chủ trì, dân gian còn gọi là biểu tượng bà Chúa Xứ (Patuw Po Inư Nưgar): Hòn đá này phải chọn ở biển, để thể hiện sự bao dung như biển cả.

    - Patuw likei có nhĩa là biểu tượng đàn ông, phải chọn đá trên núi, thể hiện “công cha như núi Thái Sơn”.
    - Patuw kamei có nghĩa là biểu tượng đàn bà, phải chọn đá ở sông để thể hiện “sữa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

    Các hòn đá ấy có hình bầu dục, không tì vết. Hòn đá Po di to và cao hơn 2 hòn đá kia. Nếu là họ thuộc dòng quý tộc, có chức tước trong xã hội, thì các biểu tượng đá được ghè đẽo và tạc hoa văn công phu và tinh tế.
                 Từ ngày khởi công xây dựng cho đến ngày hoàn thành phải mất 1 tháng, vì họ còn phải chọn những ngày tốt để thực hiện các nghi lễ liên quan. Người Chăm Bàlamôn thường làm lễ dựng Kut vào các tháng: 3,6,8,10, 11 lịch Chăm, nhưng tốt nhất là tháng 11 (bilan Pwix) – tháng mà cộng đồng người Chăm quan niệm là tháng dùng để làm lễ tấn phong cho đẳng cấp tu sĩ Bàlamôn (Pok paxeh).


                Được ngày giờ tốt, Po adhia làm lễ thỉnh biểu tượng về nơi chuẩn bị dựng. Họ dùng 3 cái chăn trắng làm võng khiêng 3 biểu tượng về, tiếp theo Po adhia làm lễ tẩy uế các biểu tượng.

    Đợi đến lúc đêm khuya thanh vắng, khoảng 1 giờ đến 4 giờ sáng, tiếng Chăm gọi là atuk krưh pak mưlam giờ mà cộng đồng người Chăm quan niệm là thiêng liêng nhất, để hạ giới làm việc với thượng giới; các loại thảo mộc ra hoa kết trái; các nhà Thiền sư (Po adhia) thiền định dùng lửa tâm đốt mọi điều ác, để thanh khiết hóa cái Tâm thì Po adhia bắt đầu làm lễ dựng các biểu tượng theo hướng Đông - Tây, trước hết là biểu tượng Po di ở giữa kèm theo 3 cục đất gò mối. Tiếp theo là biểu tượng đàn ông ở phía Đông và biểu tượng đàn bà ở phía Tây ở bên cạnh. Sau đó, các biểu tượng được thắp sáng bằng nến sáp ong. Po adhia làm lễ nhập hồn cho các biểu tượng (craih mưta yang) tức khai mắt thần, rồi dùng nước cát lồi (ia mu) tắm rửa cho biểu tượng, sau đó lau khô, phủ trang phục lễ. Tiếp theo, Po adhia cùng với Kadhar, Pajuw làm lễ tế biểu tượng, rồi họ múa mừng suốt đêm, xem như các biểu tượng đã được thần linh hóa và họ làm xong ngôi nhà tổ tiên.

    Dần dần, theo sự phát triển của con người và xã hội Chăm, kéo theo sự biến đổi mô hình Kut từ 3 biểu tượng đến 5,7…biểu tượng. Các biểu tượng này không chọn theo tiêu chuẩn biểu tượng chính. Họ chỉ chọn chung những hòn đá thiên nhiên, có hình bầu dục không có tì vết.

    Ngày nay, đã số Kut của mỗi tộc họ người Chăm Bàlamôn là 3, 5 hoặc 7 biểu tượng, gồm:

    - Mô hình Kut 3 biểu tượng dành cho tộc họ chỉ có một nam và một nữ, không có người chết xấu.
    - Mô hình Kut 5 biểu tượng dành cho các tộc họ có chức sắc Bàlamôn và người có chức tước trong xã hội. Biểu tượng này được đặt chung với biểu tượng chính về phía Đông.

    - Mô hình Kut 7 biểu tượng có hai biểu tượng đặt ngoài, do đó người Chăm Bàlamôn gọi là Kut lingiw hay còn gọi là Patuw lihin. Ngày nay, có tộc họ đặt 2 biểu tượng này chung với biểu tượng chính, nhưng phải có hòn đá chắn ngang để phân ranh giới. Tiếng Chăm gọi là Patuw cơng thành một dãy gồm 7 biểu tượng.

    3. Tục nhập hài cốt vào Kut (Ba talang tamư Kut)

                Người Chăm Bàlamôn sau khi qua đời phải làm đám hỏa táng nên gọi là Chăm cuh, nếu không họ quan niệm hồn người quá cố sẽ trở thành ma đói, rách rưới lang thang, sẽ bị quỷ dữ xúi giục về ám hại các thành viên trong dòng tộc. Sau lễ hỏa táng, Người Chăm Bàlamôn lấy 9 miếng xương trán (kể cả đàn ông và đàn bà) gọt tròn và mài nhẵn như đồng xu làm thủ tục rồi đưa vào Klaung để thờ tự qua các lễ: 30 ngày (patrip bak balan), mãn năm (patrip klauh thun) và lễ tiễn đưa (patrip palau). Qua 3 lễ trên mới đem hài cốt nhập Kut được. Tuy nhiên, việc đem hài cốt nhập Kut được tuyển chọn khá phức tạp theo các tiêu chuẩn sau:

    Tiêu chuẩn hài cốt được nhập Kut chính:

    1. Người đó không tật nguyền từ lúc sinh thời cho đến khi tắt thở.
    2. Không mắc các chứng bệnh: ho lao, hen suyễn, kinh phong…
    3. Lúc thở có người đỡ.
    4. Các trường hợp chết ngoài đường, ngoài sá, chết bất đắc kỳ tử, tự sát… hài cốt không được nhập Kut chính mà chỉ nhập vào Kut phụ (patuw lihin).
    5.  Trong tộc họ khi có số lượng hài cốt từ 15 đến 20 thì họ tổ chức lễ nhập Kut. Lễ nhập Kut do Po adhia chủ trì cùng các chức sắc kadhar, pajuw. Sau lễ nhập Kut, cả tộc họ kiêng cúng tế trong một năm. Đến khi làm lễ mở cửa Kut (pơh bbơng kut) mới được làm lễ cúng tế theo tín ngưỡng dân gian.
      Lễ nhập Kut là lễ nghi cuối cùng của các nghi lễ vòng đời. Sau lễ này cộng đồng người Chăm tin là linh hồn người quá cố đã về đến xứ sở tổ tiên (nau tơl nưgar muk kei). Từ đó, mỗi năm cả tộc họ chỉ cần cúng 5 mâm cơm, cặp gà, hoa quả.
    6. Đàn bà là người giữ vai trò lo việc cúng tế tổ tiên, đàn ông trong tộc họ đến với tư cách tham dự vì họ đã theo vợ. Đó cũng chính là do chế độ mẫu hệ của người Chăm Bàlamôn cho đến nay còn khá đậm nét.
                   Ngoài việc thờ cúng, Kut còn là nét đặc trưng để minh định ranh giới giữa các dòng tộc, tiện việc cưới theo luật tục - hôn nhân. Đó chính là nét đặc thù của chế độ mẫu hệ của tộc người Chăm Bàlamôn còn đậm nét đến ngày nay.

    BÀLAMÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM


    1. Bàlamôn giáo từ Ấn Độ và ba nguồn gốc của văn hoá Chăm

    Những người Ấn Độ đầu tiên đã theo đường biển mà đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên. Dấu vết của họ thấy cả ở vùng Óc Eo (An Giang), cả ở ven biển miền Trung và cả ở Luy Lâu (Hà Bắc). Họ mang theo cả Bàlamôn giáo lẫn Phật giáo. Nhưng tình hình đã thay đổi một cách cơ bản kể từ khi người Chăm lập quốc.

    Về mặt chủng tộc, người Chăm (cùng với một số dân tộc Tây Nguyên) thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo, là một bộ phận của nhóm loại hình lndonésien, xưa kia cư trú rải rác từ nam Đèo Ngang đến Bình Thuận. Theo các sử liệu Trung Quốc, sau cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhưng bị đàn áp đẫm máu của Hai Bà Trưng, vào năm 192, lợi dụng lúc nhà Hậu Hán suy yếu, một viên chức quận Tượng Lâm (phía nam Thừa Thiên ngày nay) là Khu Liên đã lãnh đạo người Chăm nổi lên khởi nghĩa thắng lợi lập nên vương quốc Lâm ấp (= xứ Rừng). Quốc hiệu Chămpa xuất hiện vào lúc nào không rõ, chỉ biết rằng bia kí sớm nhất có nhắc đến tên này được khắc vào cuối tk.Vl

    Sau khi lập quốc, người Chăm thoát khỏi ách đô hộ của Trung Hoa, liên hệ với Trung Hoa cũng hầu như không còn. Thay vào đó, người Ấn Độ đến ngày một nhiều hơn và, khác với Trung Hoa, họ không mang theo chiến tranh, vì vậy, nền văn hóa Ấn Độ được người Chăm vui vẻ tiếp nhận.


    Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Chăm phát huy mạnh mẽ trong khoảng từ tk.VII đến hết tk. XV, khi Chămpa chấm dứt sự tồn tại với tư cách quốc gia của mình. Trong từng ấy thế kỷ, ảnh hưởng này để lại lớn đến mức nhiều người chỉ nhìn thấy những yếu tố Ấn Độ trong văn hóa Chăm. Do vậy, nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ ở Việt Nam thì trước hết phải nói đến văn hóa Chăm và khu vực phía Nam vì chỉ có ở đây, ảnh hưởng đó mới bộc lộ mạnh mẽ và trực tiếp hơn cả.


    Từ Ấn Độ, người Chăm đã tiếp thu nhiều tôn giáo : Phật giáo, Bàlamôn giáo và Hồi giáo. Nhưng ở chính quốc thì từ tk.V, Phật giáo bị Bàlamôn giáo tấn công và dần dần đi đến tàn lụi, còn Hồi giáo thì tuy đã có những dấu vết từ tk.X, nhưng phải đến cuối tk.XV mới có nhiều người Chăm theo. Chính vì vậy mà nói đến ảnh hưởng của ấn Độ trong việc hình thành văn hóa Chăm thì Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất. Bàlamôn giáo (Brahmanism) là tôn giáo hình thành trên cơ sở kinh Veda do người Aryen từ phía Tây Bắc đưa vào. Đạo Bàlamôn tôn thờ BRAHMA (nghĩa là "Đại Hồn"), một ý niệm trừu tượng của kinh Veda. Brahma là chúa tể các thần, nguồn gốc của vũ trụ, có quyền năng vô biên. Ngài hiện ở ba ngôi như thể thống nhất của một bộ ba vị thần tượng trưng cho ba giai đoạn của sự sống : Brahma (thần sáng tạo), Visnu (thần bảo tồn) và Siva (thần phá hủy).

    Ngôi Brahma sáng tạo ra thế giới, tượng hình 4 mặt mà chỉ có ba thành hình, 4 tay cầm 4 phần kinh Veda, đầu có vòng hoa và râu rậm; khi thì cưỡi con thiên nga Hamsa, khi thì ngồi trên một bông sen mọc từ rốn của Visnu đang nằm trên mình con rắn Naga nổi bồng bềnh trên đại dương nguyên thủy (nghĩa là Brahma sinh ra từ chính mình).

    Ngôi Vinu bảo tồn vũ trụ, 4 tay cầm 4 lệnh bài là cái tù và, cái vòng, cái búa và cánh hoa sen tượng trưng cho bốn chất tạo nên vũ trụ; ngài khi thì cưỡi con chim thần Garuđa, khi thì có dạng nửa người nửa chim, khi thì nằm trên mình con rắn Naga.


    Ngôi Siva phá hủy thế gian, mang trong mình chức năng của thần chết, quyền hạn của thần thời gian, có vô vàn tên dữ tợn như Ugra (người tàn nhẫn), Rudra, Aghora (người khủng khiếp)..., ngài thường cưỡi con bò thần Nandin.

    Sau khi đạo Phật lụi tàn trên đất Ấn Độ, Bàlamôn giáo được cải biên thành Ấn Độ giáo (Hinduism). Nguồn ảnh hưởng Ấn Độ, tuy đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành văn hóa Chăm, nhưng nó không phải là tất cả. Kế thừa di sản phong phú của văn hóa Sa Huỳnh. Văn hóa Chăm tất yếu còn là sản phẩm tổng hòa của cả nguồn ảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa.


    Đặc trưng điển hình của nguồn bản địa là chất dương tính trong tính cách Chăm. Người Chăm sống trên giải đất hẹp miền Trung, giữa một bên là dãy Trường Sơn cao vút và bên kia là biển Đông sâu thẳm. Một bên cực dương và một bên cực âm. Sự đối chọi đó của thiên nhiên đã tạo ra những sản vật đặc biệt (như trầm hương, vàng,...); nhưng đồng thời sự thiếu hài hòa đó của tự nhiên cũng tạo nên một miền khí hậu khắc nghiệt, bao nhiêu nước mưa rơi xuống núi đều trôi tuột ra biển cả, khiến cho đất đai miền Trung trở nên hết sức khô cằn. Sống trong khung cảnh đó, con người phải, một mặt, vật lộn với thiên nhiên và mặt khác, giành giật với các láng giềng xung quanh. Suốt dải đất miền Trung còn để lại nhiều dấu tích của những công trình trị thủy mang lại màu xanh cho cây cối như các hệ thống dẫn nước hình kỉ hà, các đập nước, hồ chứa nước....; người Chăm đã thuần dưỡng được giống lúa không cần nhiều nước được gọi là "lúa Chiêm" (Chiêm Thành); người Chăm vươn ra chiếm lĩnh biển khơi với nghề đánh cá. Trong quá trình tồn tại của vương quốc mình, người Chăm cũng từng nhiều lần cướp bóc các buôn, sóc Khmer ở phía Nam, đánh lên vùng Tây Nguyên của người Thượng, và vùng vẫy tiến ra Bắc, lấn chiếm vùng đất phía nam Đèo Ngang của Giao Châu (sau này là Đại Việt). Chính cuộc sống như vậy đã rèn luyện cho người Chăm trong lịch sử một tính cách cứng rắn và cương nghị, thượng võ và có phần hiếu chiến (dương tính).

    Tuy mang bản chất dương tính, nhưng lại sống trong một vùng Đông Nam Á nông nghiệp, cho nên người Chăm không thể không hấp thụ những ảnh hưởng của văn hóa khu vực mà đặc trưng điển hình là thiên về âm tính trong cố gắng đạt đến sự hài hòa âm dương, với triết lí âm dương trong nhận thức và tục sùng bái sinh thực khí trong tín ngưỡng.


    Văn hóa Chăm bao gồm nhiều lĩnh vực, nhưng trong đó nổi bật nhất là kiến trúc và điêu khắc. Thành tựu nổi bật của điêu khắc và kiến trúc Chăm là kiến trúc đền tháp và điêu khắc trên đền tháp. Đền tháp ấy là đền tháp tôn giáo. Tôn giáo đóng vai trò cực kì quan trọng trong đời sống người Chăm, nó được vật chất hóa qua điêu khắc và kiến trúc. Qua kiến trúc và điêu khắc, ta sẽ tìm hiểu quan niệm tôn giáo của người Chăm.


    2. Những đặc điểm của kiến trúc Chăm

    Nói đến văn hóa Chăm không thể không nói tới các tháp Chăm. Tháp Chăm đứng sừng sững uy nghi trước sóng gió, chúng có mặt rải rác từ ven biển lên đến Tây Nguyên, suốt dọc miền Trung từ Bắc vào Nam - khắp những nơi nào có người Chăm cư trú.


    Thống kê cho biết hiện còn 19 khu tháp với 40 kiến trúc lớn nhỏ. Số lượng các khu phế tháp và các phế tháp Chăm do bom đạn tàn phá và hủy diệt là chưa thể xác định được. Theo khảo sát và thống kê của H. Parmentier vào năm 1904-1909, riêng lòng chảo Mĩ Sơn (Quảng Nam - Đà Nẵng) đã có tới trên 70 kiến trúc.

    Tháp Chăm được thừa nhận về độ tinh tế. B.Groslier trong cuốn Indochine, Carefour des arts (Paris. 1961) nhận xét : "Về cấu trúc, tháp Chăm đẹp hơn các đền tháp Khmer"; sở dĩ như vậy là vì "Chắc chắn là do họ (= người Chăm) giữ được ý thức về chất liệu (= gạch ) và biết tôn trọng bản chất của nó; trong khi đó, người Khmer có xu hướng dựng lên một khối bằng bất cứ vật liệu nào rồi chạm khắc lên đó. Nghệ thuật kiến trúc Chăm cân bằng, có nhịp điệu và sáng sủa hơn, nó tạo cho tháp Chăm một vẻ đẹp không thể bỏ qua". Từ những tk.V-VI, sử sách Trung Hoa đã phải công nhận người Chăm là bậc thầy trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gạch.

    Việc các tháp Chăm được làm từ những viên gạch đỏ chồng khít lên nhau không thấy mạch hồ khiến hình thành nên huyền thoại cho rằng người Chăm xây tháp bằng gạch mộc, đẽo gọt lên đó, rồi nung cả khối tháp trong một ngọn lửa khổng lồ. Các chuyên gia Ba-lan khẳng định rằng người Chăm đã dùng gạch nung sẵn gắn với nhau bằng vữa đất sét rồi sau đó toàn bộ tháp được nung lại. Một số nhà nghiên cứu thì nêu ra giả thuyết cho rằng người Chăm đã dùng keo chiết từ thực vật (nhựa xương rồng + mật mía, hoặc nhựa cây dầu rái) để dán các viên gạch lại với nhau. Những nghiên cứu gần đây cho thấy người Chăm đã sử dụng kết hợp một số biện pháp kĩ thuật khác nhau để xây tháp : Dùng những viên gạch có độ lõm ở mặt tiếp xúc, nên khi xây, nhìn từ phía ngoài và trong đều không thấy vữa giữa các viên gạch, còn ở giữa (nơi không nhìn thấy) thì có lớp vữa dày; mài các viên gạch trong nước cho thật khít vào nhau rồi xếp lại để cho bột gạch ở giữa tự kết dính dưới sức nặng trọng lực của phần trên tháp; dùng các viên gạch có hình dáng góc khuyết góc lồi theo kiểu âm dương để khi xếp vào tự thân chúng đã tạo nên sự liên kết với nhau.


    Sự tinh tế của các tháp Chăm còn thể hiện ở vô số những hình chạm khắc tỉ mỉ, trau chuốt do nghệ nhân đục đẽo trực tiếp lên tường tháp. Việc đục đẽo phải được thực hiện sao cho làm đến đâu chính xác tới đó; tường gạch đã xây sẵn không thể vì một sai sót mà phá đi xây lại. Hoàn toàn có lí khi H. Parmentier nhận xét rằng người Chăm chạm gạch như chạm gỗ, đẽo đá như đẽo gỗ.


    Về cấu trúc quần thể, các tháp Chăm tập hợp theo hai loại : Loại thứ nhất là các quần thể kiến trúc bộ ba gồm ba tháp song song thờ ba vị thần Brahma, Visnu, Siva. Loại thứ hai là các quần thể kiến trúc có một tháp trung tâm thờ Siva và các tháp phụ vây quanh. Loại này thường xuất hiện muộn hơn (khoảng tk. IX trở về sau); có những nơi trước đây là quần thể kiến trúc bộ ba về sau khi tu chỉnh được chuyển thành loại quần thể có một tháp trung tâm.

    Như vậy, qua sự phát triển của cấu trúc quần thể tháp, ta thấy quá trình du nhập Bàlamôn giáo từ ấn Độ vào Chămpa đã đi qua ba bước : a) ở Ấn Độ, Brahma được coi là chúa tể (vì vậy mà gọi là "Bàlamôn"!); vào Chămpa (giai đoạn I), cả ba vị thần đều được coi trọng như nhau (tháp bộ ba); c) sang giai đoạn II, người Chăm suy tôn Siva thành chúa tể (ngay cả những cụm tháp bộ ba còn giữ được thì tháp lớn và cao nhất cũng dành thờ Siva). Nguyên nhân của sự chuyển hướng này chính là do chất dương tính trong tính cách bản địa của văn hóa Chăm. Như vậy, thực chất, người Chăm đã biến Bàlamôn giáo thành Siva giáo.


    Vai trò của yếu tố bản địa còn thấy rõ qua hình dáng tháp. Về hình dáng, do bắt nguồn từ một loại kiến trúc Bàlamôn giáo Ấn Độ biểu tượng cho núi Mêru (một dãy núi thần thoại nơi trung tâm của vũ trụ, gồm nhiều đỉnh cao thấp khác nhau, các vị thần tuỳ theo đẳng cấp mà ngự trị ở các đỉnh khác nhau) gọi là sikhara, phần lớn tháp Chăm đều có dạng hình ngọn núi (sikhara có nghĩa là "đỉnh núi nhọn"); trên các tầng tháp có thể có các tháp con ở góc ứng với các ngọn núi nhỏ. Tuy kiến trúc hình núi có nguồn gốc từ truyền thuyết ấn Độ, nhưng với người dân Chăm, chúng lại là biểu tượng cho thiên nhiên miền Trung trùng điệp núi non và, do vậy, phản ánh đúng chất dương tính trong tính cách bản địa của văn hóa Chăm (núi = dương). Chất dương tính này còn bộc lộ đặc biệt rõ ở những tháp mô phỏng hình sinh thực khí nam (biến thể của tháp hình núi) mà ta có thể thấy qua lát cắt bổ đôi. Bên cạnh tháp chính hình ngọn núi, còn có thể gặp những kiến trúc phụ có mái cong hình thuyền - dấu hiệu đặc thù trong kiến trúc nhà cửa của cư dân Đông Nam Á. Đến đây, kiến trúc đền tháp Chăm mang đậm thêm ảnh hưởng của văn hóa khu vực.


    Như vậy, từ chỗ khởi đầu vay mượn dạng sikhara Ấn Độ, tháp Chăm đã đi đến chỗ hòa quyện và phối kết trong mình khá nhiều sáng tạo mang dấu ấn ảnh hưởng của tính cách bản địa Chăm và văn hóa nông nghiệp khu vực. Ta theo hình thức mà gọi các kiến trúc này là "tháp", nhưng người Chăm thì gọi chúng là kalăn, có nghĩa là "lăng": Hầu hết chúng đều mang tính chất lăng mộ thờ vua. Ngoài chức năng này, tháp Chăm còn là đền thờ thần bảo trợ của nhà vua. Chính vì mang chức năng lăng mộ và đền thờ nên nội thất tháp Chăm rất chật hẹp, nó chỉ có chỗ cho các pháp sư hành lễ chứ không phải là nơi cho các tín đồ hội tụ và cầu nguyện.

    3. Những đặc điểm của điêu khắc Chăm

    Trong các đền tháp Chăm, vị thần được thờ phổ biến nhất là SIVA và vật thờ phổ biến nhất là LINGA. "Linga" có nghĩa là sinh thực khí nam. Bởi lẽ cùng mang bản chất DƯƠNG TÍNH, sinh thực khí nam và thần Siva được đồng nhất với nhau. Do vậy, thờ linga cũng tức là thờ thần Siva. Điều này phù hợp với kết luận đã rút ra ở trên về khuynh hướng suy tôn Siva làm vị thần chúa tể trong quá trình phát triển của tháp Chăm.

    Thờ sinh thực khí, như đã nói, là tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp; càng nông nghiệp điển hình bao nhiêu thì tín ngưỡng này càng mạnh bấy nhiêu. Người du mục không có truyền thống thờ sinh thực khí; kinh Veda nói rằng những kẻ lấy linga làm thượng đế là kẻ thù của đạo giáo Aryen. ở ấn Độ, việc thờ linga vốn là tín ngưỡng của thổ dân Dravidien; sự xâm nhập của nó vào Bàlamôn giáo và việc đồng nhất linga với Siva chắc hẳn đã xảy ra vào thời kì hậu Veda.


    Người Chàm thuộc khu vực nông nghiệp, nghĩa là, từ trước khi Bàlamôn giáo xâm nhập, đã phải có tục thờ sinh thực khí rồi. Và miền Trung là vùng mang tính cách thiên về dương tính, cho nên dễ hiểu là tục thờ sinh thực khí nam (linga) sẽ phổ biến hơn. Về hình dáng, linga Chàm có ba loại :


    1) Một loại linga chỉ có một phần hình trụ tròn. Linga vào loại cổ nhất tìm được ở Óc Eo (An Giang) thuộc loại này. Linga loại này có khi gặp cả hàng chục cái được dựng thành hàng. Loại này ở Ấn Độ không thấy có. Nó mang dấu ấn đậm nét của tính cách bản địa Chàm.


    2) Loại linga thứ hai có cấu tạo hai phần. Phần trên vẫn là hình trụ tròn; phần dưới là một vật thể to hình tròn - ta gọi là biến thể 2A hoặc vuông - ta gọi là biến thể 2B. Trong biến thể 2A (kiểu này cũng không có ở ấn Độ), phần to tròn ở dưới mô phỏng cái cối giã gạo; toàn bộ linga là mô phỏng bộ chày cối - biểu tượng tín ngưỡng phồn thực điển hình của cư dân Đông Sơn. ở biến thể 2B, cái cối được thay thế bằng hình vuông phẳng dẹt mang ý nghĩa của triết lí âm dương vuông tròn. Như vậy, ở loại linga với hai phần này không chỉ có chất dương tính của tính cách bản địa Chàm mà còn có cả chất âm; nó là một tổng thể âm dương hài hòa - dấu ấn rất rõ ràng của truyền thống văn hóa nông nghiệp khu vực.


    3) Loại linga thứ ba có cấu tạo ba phần. Ngoài phần hình trụ tròn ở trên và phần hình vuông ở dưới (có thể mang dạng to dẹt hoặc nhỏ cao với cạnh bằng đường kính của hình trụ tròn ), loại linga này còn có một đoạn hình bát giác nằm giữa. Cấu trúc ba phần này phản ánh ảnh hưởng triết lí Bàlamôn giáo Ấn Độ :


    Phần hình vuông (âm tính) ở dưới ứng với thần Brahma sáng tạo, khúc hình bát giác ở giữa mang tính chuyển tiếp, ứng với thần Vishnu bảo tồn, còn phần hình trụ tròn (dương tính) ở trên ứng với thần Siva phá hủy.

    Trong loại hai và ba, phần hình vuông âm tính ở dưới được gọi là Yoni (sinh thực khí âm). Đáng chú ý là trong trường hợp này, linga (cả bộ hai phần âm-dương hoặc ba phần Brahma - Vishnu - Siva) đã không còn là linga theo nghĩa là "sinh thực khí nam" nữa; song nó vẫn cứ được gọi là "linga" (linga theo nghĩa rộng). Như vậy thấy rằng chất dương tính - tính cách bản địa Chăm - đã lấn át như thế nào .


    Khắp nơi, trong khu vực cư trú của người Chămpa dương tính, ta đều có thể gặp linga: ở trên bệ thờ trong tháp, ở vị trí có tính cách trang trí, ở cả trên đỉnh tháp (tháp Bà Nha Trang). Ngoài các linga thông thường, trong các đền tháp Chăm, ta còn gặp loại linga hình mặt người (gọi là mukhalinga). Đó là một khối tượng hình linga mà nửa phần trước tạc tượng phù điêu hình ông vua Chăm với những dấu hiệu rõ rệt của Siva như hình bò thần Nandin. Sự đồng nhất "Siva (thần ấn Độ) = Linga (tín ngưỡng phồn thực khu vực) = Vua (lãnh tụ dân tộc Chăm)" trong mukhalinga khiến cho sự hòa quyện ba yếu tố bản địa - khu vực - ấn Độ trên cơ sở tính cách bản địa dương tính đã đạt đến mức nhuần nhuyễn.


    Dòng dương tính và chất bản địa này không chỉ thể hiện bằng vô số tượng linga, mà còn thể hiện qua các tượng Siva. Trong số tượng hình người thể hiện ba vị thần thì các tượng Siva cũng chiếm đa số.Ẩơ nhiều pho tượng Siva, chất ngoại lai chỉ còn nơi tên gọi, người được thể hiện hoàn toàn là một người Chăm, với những đặc điểm nhân chủng Chàm điển hình (mặt vuông, mắt xếch, môi dày). Để nhấn mạnh tính cách dương tính, có pho tượng tạc hình đàn ông chưa đủ, đặt tên là Siva cũng chưa đủ, tác giả còn cho nhân vật Siva này cầm trong tay một linga. Rồi không chỉ thần dưới dạng người, mà cả thần dưới dạng động vật, thần voi Ganesa, cũng cầm linga trong tay luôn.


    Chất dương tính thậm chí còn thể hiện cả ở tượng phụ nữ. Ta có thể thấy rõ điều này qua tượng vũ nữ tạc ở bệ tượng Trà Kiệu (Quảng Nam - Đà Nẵng) - một pho tượng vào loại đẹp nhất của điêu khắc cổ Chămpa. Tượng tạc một cô gái với đầy đủ những đặc trưng nhân chủng Chàm (mặt vuông, mắt xếch, môi dày). Nhờ lối trang phục nhẹ nhàng, gần như khỏa thân, tượng thể hiện cái đẹp phụ nữ một cách dương tính, trực diện : bầu vú căng tròn, cặp đùi thon, hông rộng, những cổ tay tròn lẳn,...Động tác múa tạo nên một khối rất cân đối và chặt chẽ: Nửa thân dưới và hai chân khụy xuống khuỳnh rộng đưa sang trái; nửa thân trên và tay trái chìa xuống dưới đưa sang phải; đầu và tay phải co lại giơ lên cao đưa sang trái để trả lại thế quân bình. Động tác đổi hướng ấy không chỉ uyển chuyển mà còn đầy sức mạnh. Sở dĩ như vậy là vì cái đẹp của hình khối đó chính là cái đẹp của một thế võ: chân khuỳnh là thế đứng tấn, một tay che bên dưới là để tự vệ, tay kia co lại đưa lên cao là để chuẩn bị tấn công.

    Chất dương tính còn thể hiện cả ở chất liệu điêu khắc: tuyệt đại bộ phận các tác phẩm điêu khắc Chăm (linga, tượng Siva, tượng vũ nữ....) đều bằng đá. Trong khi người nông nghiệp khu vực thờ đất thì cho đến nay, dọc theo dải đất miền Trung núi nhiều đá lắm, từ Trị Thiên vào đến tận vùng Khmer Nam Bộ, người dân vẫn có tục thờ những hòn đá thiêng, đá có hình dạng đặc biệt (người Việt gọi những hòn đá ấy là Ông Đá, Ông Dàng, Bà Dàng; người Khmer gọi là Niết Tà).


    Bên cạnh dòng dương tính sục sôi với những Siva, những linga, những thế võ và chất liệu đá thì trong văn hóa Chăm lại còn có một dòng ÂM tính mạnh mẽ không kém với những bầu vú căng đầy, những tượng và hình tượng mẫu thần của quê hương xứ sở.



    Những bầu vú căng đầy không chỉ đập vào mắt từ ngực các vũ nữ Chàm, chúng còn được tạc thành từng dãy vú trang trí bao quanh các bệ tượng. Đó chính là biểu tượng của nữ thần Uroja (nghĩa là "vú phụ nữ" ) hay PôYan lna Nưgar - Bà chính là Mẹ Quê Hương Xứ Sở, là Quốc Mẫu của người Chăm ( Pô = ngài, Yan = thần, Ina = mẹ, Nưgar = xứ sở ). Người Chăm thờ Quốc Mẫu ( Pô Yan lna Nưgar) của mình ở tháp Bà (Nha Trang) dưới dạng hình ảnh phồn thực của một bà mẹ bản địa với bụng thon, vú căng tròn.


    Ban đầu tháp này vốn thờ một linga bằng vàng, linga đã bị những người từ biển vào tấn công và cướp đi, chỉ còn lại chiếc yoni; đến năm 965 người ta đã tạc pho tượng nữ thần Pô Nưgar ngồi trên toà sen bằng đá đen đặt lên yoni đó. Tượng là sự kết hợp của Mẹ Xứ Sở - Patao Kumay (Vua của Đàn bà). Stri Ratjnhi (Chúa của Phụ nữ), Muk Juk (Bà Đen) - với nữ thần Bhagavati hay Uma, vợ thần Siva.


    Cho dù xã hội Ấn Độ vốn theo phụ hệ thì xã hội Chăm từ xưa đến nay vẫn là mẫu hệ. Những ảnh hưởng của Bàlamôn giáo ấn Độ không thể thay thế được nếp tôn vinh người phụ nữ - Người Mẹ - trong truyền thống văn hóa ngàn đời của người Chăm và cư dân nông nghiệp Đông Nam Á. Ngày nay, ta vẫn gặp khắp nơi những Pô Ina Nưgar Humu Aram (Mẹ Xứ Rừng) ở Phan Rang, Pô lna Nưgar Humu Cavat (Mẹ Xứ Chim) ở Bình Thuận, Pô Ina Nưgar Humu Chanok (Mẹ Xứ Chài) ở Bà Rịa, Pô lna Nưgar Yathan (Mẹ Xứ Lau) ở Nha Trang, Thiên Yana Thánh Mẫu (Mẹ Trời) hay là Bà Chúa Ngọc ở điện Hòn Chén (Huế), Bà chúa Xứ ở núi Sam (Châu Đốc, An Giang), v.v. và v.v.


    Sự tồn tại song song của hai dòng âm và dương tính này chính là sản phẩm trực tiếp của sự song hành giữa một bên là dãy Trường Sơn cao vút với bên kia là biển Đông sâu thẳm trong thiên nhiên miền Trung.

    4. Sức mạnh bản địa hóa ảnh hưởng Bàlamôn giáo và Hồi giáo

    Như vậy, trong ba nguồn gốc của văn hóa Chăm, nguồn ảnh hưởng Ấn Độ có vẻ nổi bật nhất, nhưng thực chất thì nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng. Thực tế, có lẽ phần lớn người Chăm bình dân không hề biết đến các triết lí Bàlamôn giáo cùng các vị thần. Các truyền thuyết Ấn Độ xa lạ. Đó là việc của các tu sĩ Bàlamôn. Tu sĩ Bàlamôn thì chỉ đạo xây đền, tạc tượng theo những khuôn mẫu ấn Độ, còn người nghệ sĩ dân gian thì xây và tạc theo cảm hứng và những khuôn mẫu truyền thống của nhân dân mình.


    Từ chỗ cả ba vị thần Bàlamôn đều được dựng tháp thờ khi đạo này mới du nhập, dần dần chỉ có một mình Siva được đề cao bởi lẽ tính cách Siva phù hợp hơn cả với tính cách bản địa của người Chăm. Và trong Siva muôn mặt với hàng trăm tên, chỉ có Siva dưới dạng Linga hoặc với Linga được phổ biến bởi lẽ tục thờ cột đá như một dạng của tín ngưỡng phồn thực vốn là truyền thống lâu đời của người nông nghiệp. Cuối cùng, Siva thì được hình dung thành người Chăm (ngay cả con bò thần Nandin của Siva cũng được thể hiện dưới dạng con trâu quen thuộc; còn Linga thì ở chỗ này được thay bằng ông vua - anh hùng dân tộc Chăm, ở chỗ khác thì được thay bằng nữ thần Mẹ quê hương xứ sở. Thành ra trên thực tế, thần Siva cùng bạn bè, bộ hạ của ông với những lí lịch ấn Độ xa lạ chỉ còn tồn tại trong ý nghĩ của tầng lớp trí thức và tu sĩ Bàlamôn; đối với số đông người dân Chăm, thần Siva, tượng Linga,v.v.. chỉ là hình thức, còn ước vọng phồn thực và lòng sùng kính các nữ thần địa phương, các anh hùng dân tộc mới là nội dung. Đạo Bàlamôn xa lạ đã được người Chăm biến cải thành đạo bà chăm gần gũi; đạo Bà Chăm không còn là Bàlamôn giáo ấn Độ nữa mà chỉ có thể xem như một biến thể của nó.

    Ngoài đạo Bà Chăm - biến thể đạo Bàlamôn, ở Chămpa còn có cả đạo hồi (Islam). Du nhập vào Chămpa muộn hơn, với những giáo luật khắt khe vào bậc nhất, đạo Hồi do vậy cũng bị người Chăm cải biến nhiều hơn. ở những vùng đạo Hồi du nhập trước, nó trở thành một thứ tôn giáo khác hẳn, một biến dạng của đạo Hồi với tên gọi riêng của mình là đạo Bà Ni.


    Giáo luật đạo Hồi gồm 5 điều cơ bản : 1 - Biểu lộ đức tin vào : a) một thượng đế duy nhất là đức Allah, sứ mạng của giáo chủ Mahomet (571-632), c) việc phán xét cuối cùng; 2 - Cầu nguyện mỗi ngày 3 lần; 3 - ăn chay (nhịn ăn ban ngày trong tháng 9 (tháng Ramưwan); 4 - Bố thí 1/10 lợi tức hăng năm; 5 - Hành hương tới Thánh địa La Mecque.

    Khác với giáo luật, người Chăm Bà Ni tin vào Allah như một đấng tối cao nhưng không phải là duy nhất; họ vẫn thờ các vị thần trong tín ngưỡng truyền thống của mình và khu vực như Thần Mưa, Thần Núi, Thần biển... Họ vẫn thực hiện các nghi lễ nông nghiệp theo tín ngưỡng dân gian như lễ cầu xin thần Mẹ Xứ Sở (Rifa Nưgar), lễ cầu mưa (Yor Yang), lễ cầu thần Sóng Biển (Plao Pasah), lễ chặn dầu nguồn (Kap Hlâu Krong)...


    Người Chăm Bà Ni không cầu nguyện cả 3 lần mỗi ngày; không nhịn ăn ban ngày vào tháng Ramưwan như luật định mà chỉ có giáo sĩ nhịn ăn ba ngày đầu tháng thôi. Họ cũng không hành hương tới thánh địa La Mecque (người Chăm Hồi giáo ở Châu Đốc sau này cử đại diện đi hành hương).


    Lễ cắt da quy đầu (Khotan) cho con trai theo phong tục Hồi giáo nghiệt ngã được biến cải thành lễ Katat cho thiếu niên nam 15 tuổi và chỉ thực hiện một cách tượng trưng. Theo truyền thống âm dương hài hòa của văn hóa nông nghiệp khu vực, người Chăm lại đặt thêm ra lễ Karoh cho thiếu nữ đến tuổi dậy thì. Khác với xã hội Hồi giáo theo phụ hệ, người Chăm Bà Ni theo truyền thống mẫu hệ trong tổ chức gia đình, trong việc cưới xin. Cũng bởi vậy mà lễ Karoh (cho con gái) được coi trọng hơn lễ Katat (cho con trai).


    Lễ tang của người Chăm Bà Ni tổ chức theo tập tục Hồi giáo nhưng được bổ sung thêm bằng một loạt phong tục cổ truyền của cư dân Đông Nam Á như tục mở đường xuống âm phủ, tục ngăn ngừa sự quấy phá của vong hồn người chết, tục gửi lễ vật nhờ người chết mang xuống âm phủ cho người thân.

    TÌM HIỂU SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA DÂN TỘC CHĂM VÀ VIỆT

    Qua quá trình biến chuyển của lịch sử, dân tộc Chiêm (tức Chăm) và Việt (hay Kinh) đã dần dần trở thành những cư dân sống rất gần gũi nhau, cộng canh cộng cư với nhau. Ở nhiều vùng nông thôn, người Chăm và người Việt sống dựa lưng vào nhau trong mọi sinh hoạt để hỗ trợ cho nhau một cách thiết thực và thân tình.

    Nếu người Chăm chuyên sống về nghề ruộng rẫy, nghĩa là chỉ làm thuần nông thì người Kinh lại thạo những nghề trồng rau và buôn bán. Trong các vùng Chăm, chính người Kinh làm nhiệm vụ cung cấp rau sống và các hàng hóa, nhu yếu phẩm cho người Chăm, vì trước đây 50 năm người Chăm không bao giờ buôn bán và cũng không trồng rau. Hôm nay có sự đổi thay, người Chăm đã biết buôn bán (tuy chưa nhiều), hoặc vài gia đình biết trồng rau muống để kiếm sống. Ngay trong việc làm ruộng, có những việc trước đây người Chăm không bao giờ làm như gặt hái chẳng hạn, chỉ do người Kinh đảm đương. Chính sự phân công tự nhiên như vậy trong sinh hoạt hàng ngày đã khiến cho cư dân Chăm-Kinh xích lại gần nhau hơn, như một bổ sung tự nhiên trong cuộc sống.

    Một cuộc sống có sự tương hỗ hài hòa như thế sẽ tạo nên những luồng giao lưu và tiếp biến văn hóa về mọi mặt giữa hai dân tộc, từ văn hóa ăn uống, may mặc, kinh tế, âm nhạc, phong tục-tín ngưỡng đến giao lưu nhân chủng, tên họ, địa danh, và đặc biệt nhất là giao lưu ngôn ngữ. Một số yếu tố văn hóa ấy đã từng tiếp biến một cách nhuần nhuyễn, trở thành yếu tố văn hóa truyền thống, đến nỗi ta cứ tưởng vài nếp phong tục như là của chính ông cha ta để lại. Chỉ có nhà nghiên cứu mới tách bóc từng lớp văn hóa trong văn hóa của một dân tộc.(1)
     

    Trong khuôn khổ của một bài báo, tôi chỉ xin đơn cử một vài ví dụ để minh chứng cho các vấn đề giao lưu nói trên.


    1. Giao lưu ăn uống

    Trước đây người Chăm có nhiều món ăn rất lạ và sang trọng theo thực đơn của vua chúa, nhưng nay đã thất truyền. Không nên chê trách hiện tượng đó, vì trong cuộc sống kham khổ, không ai còn đủ thời gian và hứng thú để tìm hiểu và nấu nướng theo các thực đơn quí phái ấy. Nhưng thật đáng tiếc, nếu như người Chăm không bảo tồn được các món ăn rất đơn giản nhưng lại đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Tôi muốn nói đến các món canh rất đặc trưng của người Chăm như: canh măng non nấu với thịt gà, canh rau môn nấu với thịt trâu tơ, canh rau rừng nấu với loại ốc leo (abaw lingik), canh rau đắng nấu với thịt thỏ rừng, canh bầu cá trê… Những món ăn ngon lành đặc sắc như thế mà xem ra hôm nay ít gia đình còn lưu giữ được, như vậy con cháu chúng ta làm sao biết mà thưởng thức các món ăn truyền thống này?

    Ngày nay người Chăm có khuynh hướng nấu ăn theo kiểu người Kinh: thường nấu ngọt (trước đây chỉ biết và thích nấu chua), dùng món xào, chiên, và nước mắm (trước đây chỉ biết mắm nêm). Tuy nhiên, người Chăm vẫn còn lưu giữ được cái “gu” riêng: thịt nướng, thịt rừng, các món canh rau rừng nấu đặc sệt với chất bột gạo, và đặc biệt là cách nấu canh chua với gạo rang, loại ia mưnut…

    Trong giao lưu ẩm thực, chúng ta nhận thấy người Kinh, đặc biệt ở vùng biển và vùng nông thôn, thích ăn mắm nêm với cà dòn hay cà sống (thay vì mắm nước với cà muối chua), các món canh rau rừng nấu đặc theo kiểu Chăm (nhất là ở vùng Huế và Quảng Bình, Quảng Trị), ưa món cá nước ngọt kho tộ (đây là món ăn đặc trưng Chăm dùng cho các bà đẻ), các món lẩu cũng là loại món nấu canh chua đặc trưng của người Chăm). Người Kinh cũng thích dùng bánh tráng với cà sống mắm nêm (theo các vị Chăm hiểu biết, bánh tráng có xuất xứ từ địa phương Chăm (đặc biệt là Ninh Thuận). Hôm nay các nhà hàng hay chiều khách món thịt nướng là món ăn theo Đặng Nghiêm Vạn không thuộc truyền thống Việt, vì trên mâm cỗ ngày giỗ “vắng bóng thịt sống, nướng, tái”


    2. Giao lưu may mặc

    Trước đây phụ nữ Chăm ăn mặc theo truyền thống: áo dài may thẳng (không eo) như kiểu áo phụ nữ Mã Lai, mang váy (khăn) trắng, đội khăn “hluh” (hoặc khăn truyền thống). Thông thường áo dài chỉ vừa dưới đầu gối, bộ áo lao động thì có áo ngắn (kiểu áo dài Chăm cắt ngắn như áo bà ba), bịt khăn với đội nón (nón là yếu tố văn hoá chung), mang chăn (váy) đen. Nay, người phụ nữ Chăm đã cải biến cách ăn mặc của mình theo khuynh hướng của người Kinh:


    - Áo dài nắn eo rất sát theo đúng áo dài người Kinh (có người lưu ý rằng sự kiện này chỉ mới xảy ra vào thời Ngô Đình Diệm, khoảng năm 1957-58, khi chế độ độc tài này quyết đồng hóa dân tộc Chăm, nên cố ép phụ nữ phải bỏ y phục cổ truyền để mang y phục phụ nữ Kinh lúc dự lễ và một phụ nữ Chăm may áo dài giống kiểu người Kinh để đối phó). Cổ áo thì may kiểu “cổ thuyền” hay “cổ trái tim” chứ không theo truyền thống Chăm, độ dài thì chấm gót.
    - Lắm lúc áo dài lại mặc “com lê” (nguyên bộ), áo dài và chăn cùng màu chứ không mang chăn trắng.
    - Phụ nữ trẻ thì thích đội mũ, thay vì đội nón.

    - Hiện nay thiếu nữ Chăm có khuynh hướng mặc quần Tây “đóng thùng” (bỏ áo vào quần), và bình thường thì mang áo bộ (áo và quần cùng màu) chứ không mang áo màu hay áo trắng mặc váy đen như lúc sinh hoạt ở gia đình như xưa kia.

    Trong giao lưu ăn mặc, chúng ta nhận thấy áo dài phụ nữ Chăm và Kinh có nhiều nét tương đồng, chỉ khác nhau ở chỗ là áo dài Kinh có xẻ tà với nút bấm để mặc hay cởi được dễ dàng chứ không phải chui đầu như áo dài Chăm. Chính ở đặc điểm này mà người Chăm cho rằng áo dài Kinh, tuy giống áo dài Chăm nhưng lại có điều chỉnh nâng cao về mỹ thuật và tiện lợi (có eo, xẻ tà trông mỹ thuật và thi vị hơn, lúc mặc vào cởi ra lại thuận tiện hơn). Như vậy áo dài phụ nữ Kinh chắc có xuất xứ từ áo dài phụ nữ Chăm, sau đó được nâng cao về mặt thẩm mỹ và tính thực dụng.

    Tôi thấy sự nhận xét này không những có lý mà còn phù hợp với nhận xét của Đặng Nghiêm Vạn: “… lạ nhất, bộ y phục phụ nữ Kinh gồm có chiếc áo dài xẻ nách, chiếc quần trắng, dép đều là những yếu tố văn hóa ngoại nhập. Xưa các bà, các cô mặc áo dài tứ thân, yếm đào, váy đen. Duy chỉ chiếc nón là yếu tố văn hóa chung. Ấy vậy mà nay bộ y phục trên lại tượng trưng cho bản sắc Việt Nam”.(1)


    3. Giao lưu phong tục - tín ngưỡng

    Phong tục-tín ngưỡng là yếu tố văn hóa ăn sâu vào lòng dân tộc, thế mà với thời gian yếu tố ấy cũng có thể phai mờ và chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa ngoại nhập.


                Về phía dân tộc Chăm, người ta nhận thấy ảnh hưởng này ghi đậm dấu ấn vào phong tục tập quán của người Chăm:


    - Trong đám cưới, mặc dầu theo phong tục Chăm (nhất là người Chăm theo tôn giáo Bàni) rất khắc khe, một khi cô dâu đã chịu các lễ nghi tôn giáo rồi thì không được khoác áo khác ngay sau đó, nhưng trong thực tế, đa số cô dâu Chăm vẫn thích mua sắm (hoặc thuê) các áo cưới tạm thời để ra mắt bạn bè và tiếp khách trong tiệc mặn!
    - Sau ngày cưới, hiện nay có nhiều cặp vợ chồng trẻ muốn tách ra ăn ở riêng, cũng là hình thức để thoát khỏi ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ Chăm và mong muốn giảm quyền hạn phụ nữ trong gia đình.
    - Về nhà ở, trước đây người Chăm chỉ biết xây cất nhà theo kiểu truyền thống, cửa ra vào luôn hướng về phía Tây (hay Nam: Sang halam), không bao giờ được quay mặt về hướng Đông (trừ Sang tong là nhà khách của gia đình quyền quí). Nhưng hầu hết các nhà Chăm hiện nay đều xây theo phong cách hiện đại, quay mặt về hướng Đông cả! Đúng là tiện nghi lấn át tập quán cổ truyền!

    - Sự biến đổi cả những yếu tố ăn mặc của phụ nữ Chăm như đã nói trên đây cũng là một minh chứng cho sự giao lưu phong tục tập quán.

                 Về phía người Kinh, những yếu tố văn hóa sau đây đã được biến đổi:

    - Hiện nay, các cặp vợ chồng trẻ Chăm-Kinh (vợ Chăm chồng Kinh hay ngược lại) ngày càng đông trong việc chấp nhận làm đám cưới theo lễ nghi tôn giáo Chăm (nhất là Chăm Bàni).

    - Người Kinh theo chế độ phụ hệ và chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung Quốc (trọng nam khinh nữ), nhưng người Kinh ở miền Trung lại có xu hướng trọng nữ. Câu tục ngữ “Nam đầu nữ Út” thể hiện rõ ràng yếu tố văn hóa Chăm là khi cha mẹ về già phải ở với con gái út để được chăm sóc chu đáo hơn và tận tình hơn, vì thế mà nhiều gia đình miền Trung có chế độ gởi rể.

    - Về tín ngưỡng, chúng ta nhận thấy là việc đồng bóng cũng như việc thờ cúng đa thần của một số gia đình người Kinh cũng do ảnh hưởng từ văn hóa Chăm.


    4. Giao lưu về nhân chủng

                Qua quá trình di dân của người Chăm trước đây, cũng như người Kinh xuôi về phương Nam sinh sống, chắc chắn là có một số làng mạc Chăm không di cư vì nhiều lý do (trong đó phải kể đến lý do sinh kế) nên cứ sống đến đâu hay đến đấy. Như thế, trong quá trình sinh hoạt, hai cư dân Chăm-Việt chắc chắn có hiện tượng giao lưu nhân chủng qua việc cưới hỏi giữa hai dân tộc và một số người Kinh ở miền Trung chắc chắn có dòng máu của dân tộc Chăm. Trần Văn Tích nhận định rằng:


                “ Cuối đời Trần, ở cổ thành phủ Triệu Phong có thành Thuận Châu, tương đương với đất châu Ô của Chiêm Thành nhường cho nhà Trần. Như thế đồng hương Quảng Trị đã ra đời và lớn lên trên đất cũ người Chàm; chắc chăn không nhiều thì ít đều có mang những gien của Chế Mân, Chế Củ, Chế Bồng Nga….” (2)

    5. Giao lưu âm nhạc

    Giao lưu âm nhạc là một trong những giao lưu văn hóa được nhiều người chú ý đến. Trong quá trình lịch sử, chúng ta được biết là có nhiều nghệ nhân, vũ nữ và nhạc sĩ Chăm được người Đại Việt đưa đến Thăng Long, chẳng hạn vào năm 1044, với vua Lý Thái Tông, và năm 1202 với vua Lý Cao Tông. Theo Dương Quảng Hàm thì “vua Lý Cao Tông có sai người soạn ra nhạc khúc mới gọi là Chiêm Thành âm, tiếng sầu oán, thương xót nghe đến phải khóc”. Học giả này cũng đưa ra giả thuyết là “nhiều người cho rằng các lối ca Huế là do ta phỏng theo các ca khúc của người Chiêm Thành mà đặt ra” (3). Đào Duy Anh thì ghi “Ở miền Nam, kể từ khi chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất của Chiêm Thành, âm nhạc ở Bắc truyền vào đã chịu ngay ảnh hưởng của Chiêm Thành mà thành những khúc nhạc cung Nam mà người hay đem đối lại với các ca khúc cung Bắc. Những cung Nam như Nam ai, Nam bình, Nam xuân có vẻ trầm bi, oán vọng, hợp với tâm thuật của một dân tộc điêu tàn là dân tộc Chiêm Thành, cùng với cảnh non nước dịu dàng ở xung quanh kinh đô”.(4)


    6. Giao lưu văn học-nghệ thuật

    Trong quá trình sống cộng canh cộng cư với nhau, chắc chắn phải diễn ra nhiều giao lưu văn học-nghệ thuật giữa hai dân tộc. Tiếc rằng đề tài này ít nhà nghiên cứu để ý đến. Sau đây tôi xin đơn cử một vài ví dụ làm bằng cứ:


    - Về chuyện kể dân gian, chuyện kể “Ai mua hành tôi” (giống chuyện Vua Bếp của dân tộc Chăm), chuyện “Sự tích đá Vọng phu” (không khác mấy so với chuyện Nai Carau Caw Bhauw/đọc là Nai Charao Cao Phò của Chăm), “ Sự tích thành Lồi, Sự tích tháp Nhạn”…. có nguồn gốc từ những chuyện kể Chăm(5). Chuyện kể “Tấm Cám” cũng rất giống chuyện “Kam Mưlơk” của dân tộc Chăm. Ngược lại một số chuyện kể Chăm cũng bắt nguồn từ chuyện kể của người Kinh.

    - Về sử thi Chăm Pram Dit Pram Lak là một sử thi có xuất xứ từ sử thi Ramayana của Ấn Độ. Có một điều lạ là dị bản Pram Dit Pram Lak lại được tìm thấy trong sách Hán Nôm “Lĩnh Nam chích quái” (Lượm lặt chuyện lạ nước Nam) với tên gọi là Dạ Thoa vương về chuyện Chiêm Thành.(4)

    - Về nghệ thuật múa, từ xa xưa vũ nữ Chăm vẫn được ca tụng như những nghệ nhân múa điêu luyện. Cứ nhìn các hình tượng của các vũ nữ được khắc chạm trên các đền tháp còn lưu lại đến ngày hôm nay, chúng ta cũng có thể đánh giá nghệ thuật này đã phát triển đến mức nào! Triều đại nhà Lý, có hàng trăm vũ nữ và nghệ nhân Chăm được đưa về Thăng Long và được sử dụng trong cung đình nhà vua lúc bấy giờ. Ngày nay, các điệu múa quạt được vài đạo diễn triển khai trên sân khấu hiện đại đều bắt nguồn từ điệu múa Chăm, nếu ta đánh giá trên phong cách của nghệ thuật này.

    - Về nghệ thuật xây dựng, sử sách có đề cập đến bàn tay nghệ thuật của các kĩ sư Chăm trong việc xây dựng và tô điểm các chùa chiền cổ ở Thăng Long.

    7. Giao lưu về kinh tế

                Trong việc làm ăn hàng ngày, dĩ nhiên phải có những ảnh hưởng qua lại giữa hai dân tộc Chăm-Kinh. Tôi xin đơn cử :

    7.1. Về phía người Chăm

    - Đã nhận ảnh hưởng từ người Kinh trong việc buôn bán.

    - Bây giờ đã có một số gia đình Chăm tập trồng rau muống và một số rau của bản xứ (cà, dưa leo, quế…) cũng do ảnh hưởng phần nào của nông dân Kinh. Riêng các loại rau leo như: mồng tơi, bầu bí, mướp… người Chăm từ lâu rất thích trồng theo mùa mưa tại ruộng rẫy hay trong khuôn viên nhà ở.

    - Trước kia, người Chăm chỉ biết dùng “xe trâu” làm phương tiện chuyên chở, chỉ từ thập niên 50 trở đi, người Chăm mới chuyển sang dùng “xe bò” do sự tiện lợi của nó.


    7.2. Về phía người Kinh

    - Bằng dụng cụ tinh xảo của mình, kĩ thuật làm đất (ruộng hay rẫy) của người Chăm đã đạt mức độ rất cao. Một số cụ nông dân Chăm cho rằng lưỡi cày và bắp cày của người Kinh là tiếp nhận của Chăm.
    - Kĩ thuật xây đập và dẫn thủy nhập điền của người Kinh phần nào chịu ảnh hưởng của Chăm (đặc biệt là ở xứ Ninh Thuận, Bình Thuận).

    - Có nhiều cụ già cho rằng có lẽ xe bò đang được người Chăm và Kinh sử dụng hiện nay bắt nguồn từ chiếc xe trâu của người Chăm.

    - Theo nhiều nhà nghiên cứu, từ rất sớm – thế kỉ thứ IX – người Chăm đã biết lai giống lúa (loại lúa ngắn ngày – 3 tháng – và chịu hạn tốt như: Bà rên, Cây ối, lúa Chiêm, Ba trăng). Vì vậy Lúa Chiêm và lúa Ba Trăng (nghĩa là lúa ba tháng) mà miền Bắc đang làm là có xuất xứ từ dân tộc Chăm. Còn lúa Bà Rên, Cây Ối là loại lúa chịu hạn tốt cũng đang được một số người miền núi sử dụng.


    8. Giao lưu về họ tên

    Nếu chúng ta nhìn nhận có giao lưu về họ, tên thì đây là sự giao lưu một chiều: Người Chăm chịu ảnh hưởng rất nặng về họ và tên của người Kinh.


    - Về HỌ, như tác giả đã có dịp trình bày ở Tagalau4 là trước đây những người Chăm bình thường không có họ, chỉ có Hoàng tộc mới mang các họ chính thống: Ôn, Trà, Ma, Chế. Các họ mà người Chăm mang hôm nay như: Thành, Tài, Báo, Bá, Phú, Lộ, Thuận, Thông, Quách… và kể cả họ “Nguyễn” đều là những họ do vua Minh Mạng ban phát.

    - Về TÊN, trước đây người Chăm chỉ lấy những tên đặc trưng Chăm như: Mưng Thang Ôn, Mưng Thang Wa, Mưng Thang Muk (cho nữ), va Ja Thar Chay, Ja Thar Muk, Ja Plôi… (cho nam). Nay người Chăm thường lấy tên giống người Việt, có lẽ để con em mình được thuận lợi hơn khi đến trường (?), hay không phải bị mặc cảm tự ti dân tộc (?) hoặc còn có nhiều lý do khác nữa…


    9. Giao lưu về địa danh

    Tác giả đã có dịp lược qua một số địa danh ở các tỉnh miền Trung, đặc biệt là địa danh ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận để nhấn mạnh sự giao lưu văn hóa về nơi cư trú. (Xin xem thêm tuyển tập Tagalau các số 4, 5, 6)

    10. Giao lưu về ngôn ngữ

    Nói đến văn hóa của một dân tộc, trước hết phải nói đến ngôn ngữ-chữ viết của dân tộc đó, vì lời nói và chữ viết là linh hồn của một dân tộc. Một dân tộc có thể không có nhạc cụ riêng, không có phong cách nhà đặc trưng, không có trang phục đặc biệt, điều đó không quan trọng lắm; nhưng người ta không thể tượng tượng nổi một dân tộc không có ngôn ngữ đặc trưng của mình!

    Xét về giao lưu ngôn ngữ giữa hai dân tộc Chăm-Kinh, chúng ta nhận thấy trước đây – lúc tiếp xúc ban đầu với dân tộc Chăm – người Kinh có chịu ảnh hưởng một số ngôn từ, có thể là do giao lưu nhân chủng hay một vài lý do khác. Nhưng, ở thời cận đại và hiện đại, người Chăm chịu ảnh hưởng tiếng Việt là chính, ngày càng sâu đậm. Chúng ta thử xem xét mấy giao lưu sau đây thì rõ:


    10.1. Các từ Việt có nguồn gốc Chăm

    Ở vùng Thừa Thiên-Huế và Quảng Bình, Quảng Trị, đa số người địa phương sử dụng các từ: ni, mô, tê, ôn, mụ là những từ có xuất xứ từ ngôn ngữ Chăm. Ngày nay người Chăm vẫn dùng từ “ni” để nói là “đây”, “tê” để chỉ cái “kia”, “moh” để diễn giải ở “đâu” và “ôn mụ” để nói là “ông bà”.

    Còn ở những vùng cộng canh cộng cư với dân tộc Chăm, người Kinh mượn hẳn từ ngữ Chăm để diễn giải các dụng cụ đặc trưng Chăm mà người Kinh không có hoặc có nhưng không cùng đặc điểm đó. Ví dụ: từ cà rá (gốc Chăm: karah) để chỉ chiếc “nhẫn” có tra hột đen đặc biệt của người Chăm, từ cà tăng (gốc Chăm: ratơng) để chỉ một loại tấm đan tre để chắn lúa. Từ chà bang (gốc Chăm: cabbang) để chỉ vật bị tẻ ra làm đôi; từ chống tó’ (Gốc Chăm: patauk) để nói là “cây chống”; từ chà tay (gốc Chăm: catei) để chỉ dụng cụ thợ mộc dùng để “gò” cho miếng gỗ được đều đặn, vân vân…


    10.2. Các từ ngữ Chăm vay mượn tiếng Việt

    Những từ vay mượn đã được đồng hóa hẳn:

    - Ruw ri/đọc là rău ri: gốc Việt là rầu rĩ.

    - Bat nhơn bat ngai: gốc Việt là bất nhơn bất nghĩa

    Những từ vì lười sử dụng mà về sau mất gốc hẳn:

    - Lồng đèn (Chăm: gok mưnhưk).

    - Chùm ruột (Chăm: caramai).

    - Măng cụt (Chăm: mưkhut).

    - Khế (Chăm: hamia) vân vân và v.v…

    Những từ ngữ đang có nghĩa nhưng lại dùng tiếng Việt thay thế:

    - Cụm từ “ đi họp’’ (Chăm: nau nhaum) người Chăm vẫn hay dùng cụm từ “nao họp”.

    - Cụm từ “mười giờ” (Chăm: sa pluh tuk).

    - Cụm từ “cỏ voi” (Chăm: harơk limưn).

    - Từ “mực” (Chăm là: ia gawic).

    - Các danh từ rất thông dụng như: thứ hai, thứ ba, thứ tư… Một sinh viên nước ngoài đến nghiên cứu khảo sát tại Ninh Thuận kết luận rằng hầu hết người Chăm dưới 50 tuổi chỉ quen sử dụng từ Việt chứ không hiểu nghĩa Chăm: Som, Angar, But, Jip…

    Một số từ tương đồng:

    Ví dụ: trái mít (Chăm: bauh mit), trái ổi (bauh wix), trái lựu (bauh dalim), áo (aw), ruồi (rwai)…

    Hai câu hỏi được đặt ra ở đây là:

    - Một: các từ giống nhau như vậy có cùng nguồn gốc không?

    - Hai: nếu cùng nguồn gốc thì dân tộc nào chịu ảnh hưởng của dân tộc nào?

    => Có bộ phận không nhỏ người Chăm có thói quen không tốt là lười động não trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ, ta thích nương theo xu hướng tự nhiên là hay dùng rất nhiều từ phổ thông trong các cuộc nói chuyện hoặc họp hè, đặc biệt là khi nói ở loa phát thanh. Tôi đã không ít ngạc nhiên khi một người quen ở Hựu An (Phan Rí) nói với tôi câu này: “Mời thầy mư nhà nhum ia dừa giải khát”!

    Nói về giao lưu ngôn ngữ, tôi có một thắc mắc mong muốn trao đổi với những người đồng tộc:
    - Đảng và Nhà nước có ra Nghị quyết 5, với nội dung là “bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc”, liệu người Chăm có thực hiện Nghị quyết quan trọng này không?

    - Người Chăm có suy nghĩ gì trong khi vừa không thực hiện được Nghị quyết quan trọng của Đảng, vừa không làm tròn trách nhiệm của mình đối với ngôn ngữ dân tộc?


    Kết luận:

    Hai dân tộc sống gần gũi nhau, việc giao lưu và tìm hiểu bản sắc văn hóa là việc đương nhiên. Có giao lưu văn hóa mới có sự học hỏi kinh nghiệm quá khứ của nhau hầu phát triển và tiến bộ. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là chúng ta phải thấy trong sự giao lưu này dòng chảy của chánh lưu lúc nào cũng mạnh mẽ hơn dòng chảy của phụ lưu, nghĩa là trên thực tế hơn một thế kỉ qua, sự giao lưu có xu hướng diễn ra một chiều: văn hóa của dân tộc mạnh hơn sẽ cuốn hút văn hóa của dân tộc yếu hơn. Như vậy, muốn phát triển và tiến bộ, dân tộc nhỏ cần phải sáng suốt trong sự lựa chọn cái nào cần phải tiếp nhận như là sự bổ sung cho văn hóa dân tộc mình một cách hài hòa. Thông thường cái xấu dễ tiếp nhận hơn cái tốt, bởi vẻ ngoài của chúng có sức hấp dẫn hơn, lứa trẻ “dễ” học hơn.


    Hôm nay dường như rất ít thanh thiếu niên Chăm học được cái tốt của thanh thiếu niên Kinh, có lẽ vì khó học sao ấy (như học thật giỏi, lấy nhiều bằng cấp, có đạo đức tốt), nhưng khá dễ lây nhiễm thói hư tật xấu (như bê tha, chây lười, bỏ học, phá phách, rượu chè…). Đó là hai mặt tích cực và tiêu cực của vấn đề giao lưu văn hóa mà trong thực tế hôm nay, vấn đề này đã, đang và sẽ xảy ra. Vậy trách nhiệm của chúng ta trong việc bảo tồn văn hóa phải như thế nào mới là đúng mức?

    CÁC LỄ HỘI NGƯỜI CHĂM Ở BÌNH THUẬN

    1.     Lễ Hội Mbăng Katê: là 1 lễ hội quan trọng đối với người chăm, lễ hội được kéo dài 5 ngày liền của người Chăm theo đạo Bàlamôn. Có thể nói đây la tết còn để tưởng niệm các vị vua chúa, các bậc anh hùng có công, các bậc tổ tiên và thần linh, những người đã được thần thánh hoá như vua Klong – Garai, vua Pôrêmê. Lễ hội được tổ chức vào tháng 8 tháng 9 âm lịch (tức là đầu tháng 7 theo Chăm lịch) tại các đền tháp và tiếp theo đó chuyển về gia đình đồng bào Chăm tại tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận.

    Vào buổi tối trước ngày chính hội có nghi lễ với các nghi thức trang trọng trong nghạc lễ dân tộc và các vũ điệu cổ truyền.

                Lễ cúng được thực hiện vào trưa ngày chính hội, tiếp theo là lễ rước thần, tắm tượng, mặc áo, đội mũ cho tượng. Vào chập tối các nghi lễ kết thúc mọi người hưởng lộc và cùng nhau tham dự các tiết mục văn nghệ như trình diễn nhạc, ngâm thơ ca.

                Điều đặc biệt đáng lưu ý là trong lễ hội cũng có người dân tộc Raglai ở trên núi xuống dự hội, chia sẽ niềm vui với người chăm.

    2. Lễ hội Rija Nưgar: Là lễ hội Bà Po Nagar vào ngày 5 – 6 tuần đầu tháng giêng (lịch Chăm) khoảng tháng 10 dương lịch, người Việt gọi là lễ Cầu Yên. Lễ kéo dài khoảng 3 ngày đêm, dân làng làm Lễ Cầu Yên để tống tiển những điều xấu, không may  của năm cũ. Nghi lễ được tiến hành kúc chạng vạng tối, sau phần gnhi lễ là đến các tiết mục múa hát của dân tộc Chăm và trò chơi thả thuyền.

    Ngoài ra các người Chăm ở Bình Thuận thường xuyên tổ chức các lễ hội khác như: Lễ Cầu Đảo, lễ Đắp Đập, lễ Cấm Phòng...

    3. Lễ Chaben (Lễ tưởng niệm Đấng Mẹ): Diễn ra tại tháp Pô-Klong-Garai hoặc đền thờ Ponagar vào tháng 10 Chăm lịch.

    4. Lễ Jòn Jang (Lễ Cầu Đảo, cầu Thần Nông): diễn ra tại tháp Pô-Klong-Garai, Tháp Pôrêmê vào tháng 4 Chăm Lịch

    5. Lễ Đền Ơn Đáp Nghĩa Cha Mẹ: dân tộc Ragdai.

    TRƯỜNG DỤC THANH

    Kính thưa Quý Khách!

    Từ những năm đầu TKXX, Phan Thiết (PT) đã có hiện tượng tiên phong về doanh thương quy mô với ngành sản xuất nước mắm và họat động mở mang văn hóa quần chúng.

    Phong trào Duy Tân của cụ Phan Chu Trinh đề xướng có mặt rất nổi là thưng hội. Công ty sản xuất nước mắm Liên Thành đã hình thành 1906 do ông Nguyễn Trọng Lội sáng lập đến nay vẫn còn tồn tại. Đây là cơ sở kinh doanh đầu tiên của người Việt Nam có xu hướng dân tộc đã tồn tại được gần 100 năm. Khởi đầu Công Ty này có 1 mục đích ẩn dâu gây quỹ lợi nhuận nhằm bảo trợ Cách Mạng và giúp đỡ các nhà chí sỹ yêu nước họat động. Vào năm 1906 người Trung Hoa đã thao túng thị trường, nhất là thị trường lúa gại, còn nhưng tài nguyên khoáng sản thì do thực dân Pháp quản lý.

    Như tôi đã nói ở trên vào thời lúc bấy giờ để lập được 1 Công Ty để sản xuất buôn bán là 1 việc vô cùng khó khăn của người Việt Nam phải tính tóan và có chiến lược kinh doanh lập 1 công Ty sảng xuất nước mắm thực tế là không đụng chạm tới quyền lợi của của người Pháp, người Hoa, bởi vì họ không ăn nước mắm.

    Nguyên liệu chính để sản xuất ra nước mắm lại phụ thuộc vào biển khơi, không nằm trong đất liền, cá và muối không thuộc lãnh vực của người Pháp và người Hoa khống chế. Nhờ đó việc khuyếch trương công ty được dễ dàng thuận lợi, có thể nói đây là hình thức kinh doanh đặc sắc nhất vào thời bấy giờ của người dân Phan Thiết nói chung và công ty nước mắm Liên Thành nói riêng.

    Điều đó chứng tỏ giới sỹ phu yêu nước đã nhận thức đúng ngay cả Hồ Tá Bang đang làm quan mà cũng bỏ chức tham gia vào hình thức kinh doanh này. Công ty Liên Thành phát triển mau lẹ, chẳng những có tầm hoạt động ra khắp các tỉnh Miền Trung và các tỉnh Nam Bộ. Quỹ của Công ty đã giúp đỡ rất nhiều người có chí lớn xả thân phục vụ Cách Mạng đất nước. Theo ông Phạm Phú Hữu (giáo sư) cho biết Công Ty Liên Thành đã giúp cho ông Nguyễn Ái Quốc bảy đồng bạc để xuất ngoại.

    Lúc bấy giờ 1906 nhiệu nơi ở Trung Bộ do ảnh hưởng của phong trào Duy Tân mở ra rất nhiều trường khuyến học và dạy tân thơ. Ông Nguyễn Văn Xuân trong phong trào Duy Tân đã viết: “Vì Phan Thiết không có đủ người văn học nhưng thưà nhà kinh tế và vì địa phương có khả năng về kinh tế nên Công Ty Liên Thành bao trùm hết học vấn, thể dục...và Trường Dục Thanh đã ra đời.

    Trường được xây dựng vào năm 1907 cùng năm xây dựng Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở tại làng Thanh Đức nay là số nhà 39 đường Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, TP. Phan Thiết, sự hình thành của ngôi trường là để hưởng ứng phong trào Duy Tân do các Cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng, do các ông Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (2 người con của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong trào Duy Tân cũng là của nhà trường là: mở mang dân trí, gây thức phát triển dân tộc, đất nước. Đây là 1 trường tư có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất lúc bấy giờ ở Phan Thiết – Bình Thuận.

    Vào năm 1910 trên đường đi tìm phương cách cứu nước, nhà giáo Nguyễn Tất Thành sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh được cụ nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan Thiết và dừng chân dạy học tại Trường Dục Thanh. Lúc đó nhà trường có khoảng 60 học sinh và 7 thầy giáo giảng dạy các bộ môn: Hán văn, Pháp văn, thể dục thể thao, thầy giáo Thành dạy lớp nhì về Quốc Văn và Hán Văn. Ngoài những bài giảng dạy, thầy giáo Thành còn truyền bá lòng yêu quê hương đất nước cùng nòi giống tổ tiên cho học sinh, vào những lúc rảnh rỗi thầy Thành đã dẫn học sinh đi dã ngoại, ngoạn cảnh đẹp trong vùng như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiềng, đình làng Đức Nghĩa.

    Vào khoảng tháng 2 năm 1911 thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã giã từ Trường dục Thanh rời Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương di tìm con đường giải phóng dân tộc.

    Năm sau đó ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyễn vào Sài gòn, không còn người phụ trách, trường Dục Thanh đóng cửa vào năm 1912. ngôi trường Dục Thanh bị hư hỏng và dỡ bỏ từ lâu, nhưng trong số học sinh thầy Thành dạy năm xưa vẫn còn 4 người còn sống đó là 4 cụ: bác sỹ Nguyễn Quý Phầu, bác sỹ Nguyễn Kim Chi, cụ Từ Trường Phùng, cụ Nguyễn Đăng Lâu. Sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất hoà bình lập lại và nhân dân quanh vùng có nguyện vọng phục chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết ơn Bác Hồ kính yêu và để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau. Nhờ những kỷ niệm hện rỏ trong ký ức các cụ vị trí ngôi trường  và những thành phần kiến trúc bên trong , bên ngoài được hình thành qua các bản vẽ, trường được dựng lại vào năm 1978 – 1980, nhà Ngư được xây dựng vào năm 1906 và từ năm 1908 trở đi dùng làm nơi nộ trú cho học sinh cũng được khôi phục lại. Ngoạ Du Sào là ngôi nhà được xây dựng năm 1880 của cụ Nguyễn Thông vào những năm cuối đời cụ Nguyễn thông ở tại ngôi nhà này để ngâm thơ bình văn, luận bàn công việc với các sĩ phu yêu nước. Lúc ở trường Dục Thanh, thầy giáo Thành đọc sách và soạn vài ở Ngoạ Du Sào, ngôi nhà này nay đã được tu bổ lại. Cây khế và giếng nước nằm trong khuôn viên trường là những vất đã gắn bó với cuộc đời làm thầy của Bác Hồ ở Trường Dục Thanh bởi vì ngoài giờ học thầy Thành thường tưới nước và chăm sóc cây. Trường kỷ, bộ ván, án thư, 1 tủ đứng tráp văn thư, nghiên mài mực, ba ly nhỏ và 1 chiếc khay...tất cả những kỷ vật của trường từ xưa được cất giữ và bảo quản tốt. Bên cạnh khu di tích là Nhà Trưng Bày về cuộc đời hoạt động Cách Mạng của Bác Hồ cũng được xây dựng và khánh thành năm 1986 di tích Trường Dục thanh được Bộ văn Hoá Thông Tin xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia, quyết định số: 235/QĐ-BT ngày 12 – 12 – 1986.

    DINH VẠN THỦY TÚ

    Kính thưa Quý Khách!

    Dinh Vạn Thủy Tú (DVTT) toạ lạc trên đường Ngư Ông, phường Đức Thắng, TP. Phan Thiết là trong những Vạn cổ xưa nhất của nghề đánh cá ở Bình Thuận, DVTT được ngư dân trong vùng xây dựng vào năm Nhâm Ngọ (1762) để thờ Ngư Ong Nam Hải (Cá Voi), trong khuôn viên của Dinh còn có chính điện, nhà thờ Tiền Hiền, sân khấu Võ Ca được bố trí song song theo hình chữ Tam. Mặt chính của Dinh quay ra hướng Đông là hướng của biển cả.

    Lúc đầu mới xây dựng Vạn ở sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biển đã lùi xa ra ngoài cách đến 100m, khác với các Đình Làng nông nghiệp thờ Thành Hoàng của làng ở giữa làng (Thành Hoàng là những người có công lao to lớn với làng) thì Vạn và Dinh của ngư dân thường được xây sát bờ biển của các làng đánh cá. Ngư dân rất tôn thờ cá voi và tôn ông thành Thần

    DVTT là nơi lưu giữ xương cá voi nhiều nhất Việt Nam, từ ngày xây dựng đến nay Vạn chứa hơn 100 bộ xương cá voi (có bộ gần 200 tuổi) và nhiều loài cá khác cùng họ, trong đó những bộ xương to lớn được thờ phụng trang nghiêm. Trong khuôn viên của Vạn có 1 bãi đất rộng để mai táng những cá Ong “lụy” dạt từ biển khơi vào, mỗi lần mai táng xong sau 3 năm mới được thương cốt nhập tẩm theo phong tục địa phương. Cũng theo tục lệ ngư dân nào trông thấy “Ong” trước người ấy được làm con trưởng của Ong và người này phải lo làm đám tang chu đáo và để tang ông đủ 3 năm, tục lệ này cho thấy ngư dân đã xem cá Ong như người thân trong nhà.

    Trong DVTT còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá Hán Nôm liên quan đến nghề biển thể hiện trên nội dung thờ phụng, khám thờ, hoành phi, câu đối và trên bài văn khắc trên đại hồng chung. Đặc biệt ở DVTT là 1 trong những nơi còn lưu giữ sắc phong của các vị vua triều Nguyễn, dù trãi qua mấy trăm năm nhưng các sắc phong này được gìn giữ cẩn thận và còn nguyên vẹn như mới. Có tất cả 24 sắc phong của vua Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh,Duy Tân và Khải Định, riêng vua Thiệu Trị (1841 – 1847) trong thời gian 7 năm trị vì đã ban tặng cho DVTT 10 sắc phong, đây quả là 1 sự kiện hiếm thấy. DVTT đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1996.

    CÁ VOI Ở VIỆT NAM

                Theo tài liệu Mammals of the world của Michel Boorer: Cá Voi (lớp Cetaeea) chính là thú, hô hấp bằng phổi đã thích ứng để sống trong môi trường nước.

                Lớp chia ra 2 bộ:

                Bộ 1: Gồm cá Voi không có răng, miệng có một hệ thống sợi dài mắc vào hàm trên, các sợi khi miệng cá mở ra thì tạo ra thì tạo ra 1 hệ hống màn lọc mồi. Sở dĩ cần màn lọc này là vì cá Voi chỉ chuyên ăn có một thứ mồi duy nhất, đó là tôm Euphausia supberba sống phiêu sinh trong biển vùng cực Bắc & cực Nam. Khi ăn, cá Voi nổi lên mặt nước, miệng há thật to hớp nước cùng với tôm phiêu sinh, sau đó nó phun nước ra, tôm sẽ được các sợi của màn lọc giữ lại. Cứ 1 lần hớp nước và phu ra, nó lấy được 500kg tôm. Giống tôm này chỉ sống ở miền Cực, nên khi cá Voi theo tàu biển chuyển xuống miền nhiệt đới thì không còn thức ăn. Phiêu sinh vật biển nhiệt đới rất nghèo so với vùng Cực & không hề có tôm Euphausia suberba, cá Voi sẽ chết đói. Đó là trường hợp con cá Voi mà bộ xương còn lưu lại trong Đình Thần Thắng Tam (VŨNG TÀU).

                Bộ 2: Gồm cá Voi có răng, nhưng răng chỉ hiện diện ở hàm dưới. Đây là trường hợp con cá Voi Physéter australis trưng bày trong Thảo Cầm Viên (SG). Nhóm này cũng chỉ sống ở biển lạnh như biển Cực & biển Ôn Đới, vì mồi của nó là con mực khổng lồ Megateuthis australis chỉ sống ở vùng đáy sâu biển lạnh. Như thế những con cá Voi trôi dạt vào bở biển ở Việt Nam đều không sống thường xuyên tại đây, chúng chỉ là những con lìa đàn, theo tàu biển tới vùng nhiệt đới & sau một thời gian đói ăn trôi dạt vào bờ.

    CHÙA PHẬT QUANG

    Ngôi chùa có nhiều kỷ lục

    Xem hình

     

    Tọa lạc tại đường Trần Quang Khải (phường Hưng Long, TP.Phan Thiết), chùa Phật Quang được xây dựng vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 18. Theo lịch sử, đây là thời điểm những người Việt đầu tiên đến vùng đất Phan Thiết-Bình Thuận nên chùa Phật Quang đc xem là ngôi chùa lâu đời nhất của thành phố biển Phan Thiết.

    Với địa thế nằm giữa những đồi cát đặc trưng miền biển cực Nam Trung bộ, chùa Phật Quang còn gần gũi với người dân địa phương bằng tên gọi: Chùa Cát! Không chỉ là “cái nôi” Phật giáo của Bình Thuận, lịch sử hình thành của chùa Phật Quang còn gắn liền với những di sản văn hóa vô giá. Vừa có công xây dựng chùa, 3 vị Thiền sư người Trung Quốc là Ninh Dung, Thiết Huệ và Thiết Sắc còn để lại chùa chiếc Đại Hồng Chung lớn đúc từ năm 1750 và bộ kinh Pháp Hoa khắc gỗ đồ sộ và độc đáo. Mất 28 năm (từ 1706-1734) 3 vị Thiền sư mới khắc xong bộ kinh Pháp Hoa gồm 118 bản gỗ thị huyết với 600.000 con chữ và rất nhiều hình ảnh đức Phật thuyết pháp. Và bộ kinh vô giá này được xác lập kỷ lục “xưa nhất Việt Nam” vào ngày 2/1/2006.    

    Tiếp đó, vào ngày 7/11/2006, chùa Phật Quang còn nhận thêm một kỷ lục l ngôi chùa có “mõ Gia Trì lớn nhất Việt Nam”.Bản khắc cuối cùng của bộ kinh cũng ghi công của 6 người đứng ra quyên góp cúng tiền, người đứng ra in, nhiều người cúng cơm gạo và ghi cả công của 2 vị thiền sư cùng 12 phật tử khắc trong thời gian 28 năm mới hoàn thành.

    Đã 2 thế kỷ trôi qua bản khắc này vẫn còn nguyên vẹn và theo lời nhận xét của một số nhà nghiên cứu bản khắc khá tinh xảo, đẹp. Tất cả bản khắc này được cất giữ trong 1 hầm nhỏ nằm trong đại điện, do sự tình cờ các vị sư của của chùa đã phát hiện ra.

     

    Bộ kinh khắc gỗ Pho Hoa

    Mõ gia trì lớn nhất Việt Nam

    Trải qua rất nhiều lần trùng tu và sửa chữa, ngôi chùa cộng với nhiều nét kiến trúc đậm dấu ấn Phật giáo Trung Hoa với cổng tam quan, chùa tổ, chính điện, tháp chuông…chùa Phật Quang hôm nay vừa giữ lại những nét kiến trúc truyền thống, vừa mang những giá trị văn hóa Phật giáo lẫn miền biển đấy nắng gió. Lẫn giữa những nét đẹp của nghệ thuật chạm khắc độc đáo trong kiến trúc và trang trí, chùa Phật Quang còn hấp dẫn bởi những…cái nhất: chùa trang trí nhiều rồng nhất (166 con), trang trí nhiều hoa văn và phù điêu nhất, trong đó có những phù điêu trang trí khắc họa những thắng cảnh nổi tiếng của Phan Thiết và Việt Nam. Và mới đây nhất, vào ngày 24/10/2007, Công ty  Kỷ lục Vietkings đã trao kỷ lục chùa có “mõ Gia Trì lớn nhất Việt Nam”.

    Đại đức Thích Quảng Cao còn cho biết, hiện chùa đang giữ một rìu đá 3.500 năm tuổi (Bảo tàng Đồng Nai giám định) do một nông dân ở Đồng Nai tìm thấy và tặng lại cho chùa. Ngòai ra, ở chùa Phật Quang còn có khá nhiều pho tượng người bằng đất nung (chưa xác định được niên đại), mỗi tượng người một tư thế hết sức sống động y như đang biểu diễn các thế võ Thiếu Lâm.

    Từ năm 2000 đến năm 2005, thầy trụ trì Thích Huệ Tĩnh, đời thứ 44 phái thiền Lâm Tế đã tổ chức đại trùng tu chùa, đặt 15 vườn tượng Phật tích và nhiều cây kiểng ở sân chùa.

    Ngôi chính điện hai tầng và hai lầu chuông, trống nổi bật với các mảng ghép sành sứ về nhiều đề tài trên các phù điêu, hoa văn, hàng cột ..., đặc biệt là linh vật Rồng 5 móng được thể hiện trên các công trình ghép sành sứ từ nóc mái đến bao lam, cửa sổ, hàng cột ... với 22 loại.

    Thầy trụ trì cho biết hơn 48 tấn mảnh sành được chở từ miền Bắc vào, miền Nam ra, đã được nhóm thợ người Huế chủ lực lựa chọn sử dụng khoảng 2 tấn. Chính mảng ghép sành sứ mang tính mỹ thuật và kỹ thuật cao đã tôn ngôi chùa vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ kính theo phong cách kiến trúc Á Đông.

    Chùa có hai điện Phật được bài trí trang nghiêm. Tầng trên là điện Phật thờ đức Phật Thích Ca, hai bên vách tường có bộ tượng phù điêu Thập Bát La Hán. Điện Phật tầng dưới thờ bộ tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, hai vị Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí) và tượng Bồ tát Địa Tạng.

    Binh Thuan Nhung ky luc guinness Viet Nam.

    Quả chuông gia trì có đường kính 1,2m, cao 1m, nặng khoảng 400kg. Chuông do nhóm thợ người Quảng Nam thực hiện. Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam  được xác lập kỷ lục vào ngày 07-11-2006, trao giấy chứng nhận và cúp lưu niệm cho chùa Phật Quang - ngôi chùa có  Quả chuông gia trì lớn nhất Việt Nam trong Hội ngộ kỷ lục gia Việt Nam lần 6 chủ đề : Kỷ lục Phật giáo Việt Nam do Trung tâm phối hợp với Báo Giác Ngộ tổ chức.

    Cặp mõ gia trì ở điện Phật, mỗi chiếc cao 0,8m, ngang 0,92m, lm bằng gỗ mít lấy từ huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, do 3 người thợ ở Quảng Nam thực hiện trong 7 năm (1997-2004).

    Đại hồng chung chùa Phật Quang

    Chùa Phật Quangngày nay là một ngôi phạm vũ tráng lệ, đã được khánh thành vào ngày 05-3-2006 (nhằm ngày 06 tháng 2 năm Bính Tuất). Chùa được giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và các công ty du lịch trong nước và nước ngoài nên số du khách và Phật tử đến viếng chùa thật đông đảo mỗi ngày.

    Giữa không khí sôi động của một thành phố du lịch hôm nay, chùa Phật Quang vẫn trầm mặc và yên bình như hàng trăm năm qua nên thu hút rất đông tín đồ Phật tử và du khách khắp nơi tìm đến. Không chỉ thanh thản với những giây phút nghiêng mình bên đức Phật tại ngôi chùa xưa nhất, mà mọi người còn có dịp khám phá và chiêm ngưỡng những điều kỳ thú từ các di sản văn hóa vô giá cho đến lối kiến trúc của những tượng Phật và Bồ Tát xung quanh. Và sắp tới đây, khi chùa Phật Quang hoàn thành tòa Bảo Tháp Pháp Hoa cao 32m để thờ bộ kinh Pháp Hoa và “bộ sưu tập” 50.000 tượng Phật Di Lặc… không chỉ trở thành ngôi chùa với nhiều kỷ lục, mà chùa Phật Quang còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng mà mọi du khách không thể bỏ qua khi đến với thành phố biển xinh đẹp Phan Thiết!      

    MỘ CỦA CỤ NGUYỄN THÔNG

    Nhà thơ Nguyễn Thông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1827 tại làng Bình Thạnh, Tổng Thanh Hội Hạ, phủ Tân An, tỉnh Gia Định, là người học rộng tài cao tự là Hy Phần hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu là Độn am, ông nổi tiếng là 1 danh sĩ dưới triều vua Tự Đức. Vào năm 23 tuổi, Nguyễn thông thi đổ cử nhân, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (năm 1849) ông làm chức Bố Chánh và đã góp nhiều công lao vào việc khào duyệt lại “Bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục’.

    Khi quân Pháp chiếm mất 6 tỉnh Nam Kỳ ông đang giữ chức Đốc Học tại Vĩnh Long, ông tỏ ra là người có tinh thần bất khuất và đề cao các chiến sĩ chống Pháp dưới mọi hình thức. Phản đối sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn cũng như thực dân Pháp ông đem tất cả gia đình rời bỏ quê nhà ra ở đất Bình Thuận. Trong những năm ở đây ông đã chuẫn bị kế hoạch xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài, ông đã đi rất nhiều nơi trong tỉnh, đa phát hiện nhiều khu vực đất đai trù phú như khu vực sông La Ngà, Đức Linh, chính những điều mắt thấy tai nghe giúp ông viết được nhiều tác phẩm hay để lại cho đới sau: Ngoạ Du Sào Thi Văn Tập, Kỳ Xuyên Thi Văn Sao Lục, Độn Am Văn Tập, Kỳ Xuyên Công Độc, Dưỡng Chính Lục.

    Ngoài việc sáng tác thơ văn ông là người đầu tiên tập hợp dân “tị địa” lập ra “Đồng Châu Xã” để giúp người nhập cư sống có tổ chức, làm ăn sản xuất ổn định tại Bình Thuận , ông được xem là người có công với người dân Bình Thuận trong việc khuyến học, mở mang dân trí, đó là việc ông đã cùng 2 người con lập ra trường Dục Thanh, ông đã xem Phan thiết là que hương thứ 2 của mình.

    Nguyễn Thông mất vào ngày 27 tháng 8 năm Giáp Thân (7/7/1884), mộ của ông được xây cất ở dưới chân núi Cố (Ngọc Sơn), thôn Ngọc Lâm, xã Phú Hải – Phan Thiết. Khi còn sống Nguyễn thông thường hay tới đây, thấy vùng đất này đẹpnên đã có ý chọn làm nơi yên giấc ngàn thu. Nơi này có nhiều cây cối rậm rạp liền núi, cạnh biển có chim chóc tụ về quanh năm, đúng là 1 nơi sơn thủy hữu tình có phong thủy rất tốt.

    Ngôi mộ của ông được xây dựng giản dị thể hiện được cuộc sống, tấm lòng và đức tính của ông. Mộ có chiều dài 9,45m, rộng 6m35, phần chính có đắp nổi hình kỳ lân như những ngôi mộ xưa. Trên mộ có tấm bia đá khắc chữ Hán với nội dung là 1 bài văn bia do chính ông sáng tác, có ý nghĩa: Sau khi ta trăm tuổi  rồi, hồn phách còn nhớ đến núi này chăng , ho85c rốt cuộc cũng về chốn không có gì chăng? Điều đó không thể biết được. Còn như hoa rừng, tăng, biển, buồm ngư phủ, chòi tiều phu, vẻ lạ của khói mây thay đổi, hình thù của thuồng luồngchập chờn... Sau này cảnh đo có thể giúp cho cuộc sống thưởng ngoạn của đào nhân du khách vậy? “ Khu mộ của cụ Nguyễn Thông đâ được nhà Nước xép hạng là di tích lịch sử năm1999.

    Tháp Cổ Pô Sha Nư

    Kính thưa Quý Khách! Cách Lâu Ong Hoàng không xa chúng ta thấy 1 ngọn tháp nằm sừng sững trên ngọn đồi đó là tháp Chàm Poshanư. Tháp này còn có tên gọi là Phú Hải bởi vì tháp nằm trên  ngọn đồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải, cách trung tâm thành phố Phan Thiết 7 km về phí đông bắc được người chăm xây dựng trong thời gian cuối thế kỷ thứ VIII đến đầu TK IX.

    Di tích này thuộc phong cách nghệ thuật Hoà Lai cùng loại tháp Khmer thời Chân Lạp, tháp có hình vuông, nhều tầng, ba ngôi tháp hiện còn nằm trên 2 tầng đất quay mặt về hướng Đông. Hàng năm vào tháng Giêng Am Lịch các lễ hội Rija Nưga, Pô Mbăng Yang của người Chăm được tổ chức dưới chân tháp để cầu mưa và cầu xin những điều tốt lành.

    Nhóm tháp Pô – Sha – nư hiện nay gồm 3 tháp. Tháp chính A hơi nhích về phía Nam hai tháp phụ B hơi nhích về phía Bắc và C nhích về hướng Đông cạnh tháp A. Mục đích xây dựng nhóm tháp này của người Chăm xưa là để thờ thần Siva, một trong 3 vị thần sáng thế theo tín ngưỡng Bà La Môn được người Chămpa xưa tôn kính và sùng bái biểu hiện qua việc thờ Linga và Yoni ở trong tháp A (tháp chính)

    Vào thế kỷ XV người Chăm tiếp tục xây dựng một số đền tháp theo lối kiến trúc đơn giảng để thờ công chúa Pô –sha – nư là con của vua Para Chanh được nhân dân yêu quý về tài đức và tư cách thương thân lễ độ của bà dành cho nhân dân lúc bấy giờ.

    Những cuộc khai quật khảo cổ học từ năm 1992 – 1995 phát hiện được nhiều nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng mấy trăm năm qua cùng với gạch ngói và 1 số hiện vật trong dòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ XV, từ đây tháp có tên là Pô – sha – nư. Nhóm tháp Pô – sha – nư giữ được vị thế quan trọng trong số các di tích kiến trúc người Chăm Bình Thuận. Từ hình dạng kiến trúc kỹ thuật xây dựng, trang trí nghệ thuật trên thân tháp đều có những nét đặc thù.

    Tháp chính, từ trong lòng tháp lên đến đỉnh cao 15m, cạnh đáy mỗi bề gần 10m, 1 cửa chánh dài hướng về phía Đông là nơi cư ngụ của thần linh, có 3 cửa giả ở hướng Bắc, Tây, Nam. Trên vòm cuốn ở hướng Tây có những dãy chạm khắc dày đặc với những bông hoa và hình tượng lạ kỳ. Tháp có 4 tầng, càng lên cao càng thu nhỏ lại và giảm bớt những chi tiết kiến trúc của tầng dưới, trên đỉnh tháp có 4 cửa sổ hình tam giác hướng về 4 phía, bên ngoài xây bít kín, dưới mỗi cửa sổ gạch có 4 lỗ lớn để thông gió ra ngoài.

    Tháp phụ B nằm riêng nhích về hướng Bắc cao khoảng 12m, hình dáng kiến trúc gần giống như tháp chính A nhưng đơn giản hơn. Trước kia trong tháp thờ Bò Thần Nađin nhưng về sau không còn nữa, năm 1995 trong lúc khai quật dưới lòng đất người ta tìm thấy 1 bàn chân và tai bò bằng đá.

    Tháp phụ C chỉ còn lại với chiều cao hơn 4m, duy nhất có 1 cửa trổ về hướng Đông. Những chi tiết kiến trúc và trang trí nghệ thuật bên ngoài tháp đã bị thời gian bào mòn, chỉ còn lại một số đường nét chính.

    Nhóm tháp Pô-sha-nư cũng được dân cư ngụ tại các vùng lân cận thờ phụng. Trước khi đi biển họ đến đây cầu nguyện xin cho những chuyến đi của họ được bình yên. Di tích này đã được nhà nước cho tu bổ tôn tạo vào năm 1990 – 2000 và đã được hoàn chỉnh được xếp hàng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.

    Phế Tích Lầu Ông Hoàng     

    Nhìn sang bên phải trên 1 ngọn đồi, Quý Khách thấy 1 lô cốt bằng gạch đó chính là Phế Tích “Lầu Ong Hoàng”, đây là 1 địa danh do quần chúng gọi từ bao lâu , không chỉ là 1 nhà lầu bình thường. Vào năm 1911 một Ông Hoàng người Pháp là Công Tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và đi săn bắn. Công Tước tới những ngọn đồi lân cận Phan Thiết, thấy phong cảnh đẹp ông đã mua đấ xây dựng biệt thự để nghỉ ngơi vào những chuyến đi săn, du lịch. Công sứ Garnier đang cầm quyền đất Bình Thuận lúc bấy giờ đã đồng ý bán quả đồi Bà Nài cho ông Hoàng Pháp này.

    Ngày 21 tháng 2 năm 1911, biệt thự được khởi công xây dựng, gần 1 năm sau mới hoàn thành với diện tích 536m2, gồm 13 phòng, khu vực xây biệt thự cách nhóm đền tháp Pô-sha-nư gần 100m về phía Nam, trong khi vận chuyển vật liệu lên đồi để xây biệt thự người Pháp đã làm hỏng tường thành phía trước cửa chánh tháp. Biệt thự xây xong đầy đủ tiện nghi, đẹp, có máy phát điện dưới hầm, có hồ chứa nước mưa đủ để dùng trong 1 năm được coi là tân tiến và hiện đại nhất Phan Thiết lúc bấy giờ, kể từ đó nhân dân Phan Thiết gọi khu vực biệt thự là đồi “Lầu Ông Hoàng”. Tháng 7 năm 1917 công tước De Montpensier bán khu biệt thự này cho 1 chủ khách sạn người Pháp tên Prasetts, cùng thời điểm đó 1 người Pháp khác tên là Bell cho xây dựng khách sạn Ngọc Lâm ở ngọn đồi bên cạnh để phục vụ người Pháp. Năm 1923 chính phủ Pháp đã mua lại khu biệt thự này cho vua Bảo Đại , nhưng vì đường xá xa xôi nên vua Bào Đại cũng ít đến đây 1 thời gian sau nơi này đã xuống cấp và bị hư hỏng.

    Như tôi đã nói ở trên bởi vì Lầu Ong Hoàng được xây dựng trên ngọn đồi Bà Nài ở độ cao 40m so với mực nước biển nên đứng từ đây có thể quan sát toàn canh xung quanh. Chính vì vậy tháng 10/1946 thực dân Pháp đã biến nơi này thành đồn bót, làm nơi trú quân, gọi là “Đồn Lầu Ong Hoàng”. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1947 nơi đây đã diễn ra 1 trận đánh ác liệt của 1 tiểu đội  thuộc đơn vị Hoàng Hoa Thám do đồng chí Nguyễn Minh Châu chỉ huy đã tiêu diệt được nhiều lính Pháp, thu nhiều súng đạn đủ loại trong đó có 1 khẩu đại liên Vitke, 1 súng trung liên Bren và nhiều chiến lợi phẩm khác, từ đó người quen gọi chến thắng này là chiến thắng lầu Ong Hoàng, cho đến nay vì trài qua thời gian dài bị tàn phá bởi chiến tranh di tích chỉ còn lại nền đất như bây giờ.

    CUỘC ĐỜI NHÀ THƠ HÀN MẠC TỬ

    Nói đến Hàn Mạc Tử là nói đến một dòng thơ lãng mạn, hiện đại của Việt Nam, là người khởi xướng ra trường thơ loạn, trường thơ điên. Ông tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/09/1912 tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Ông có duyên với bốn chữ Bình: Ông sinh tại Quảng Bình, làm báo tại Tân Bình, có người yêu tại Bình Thuận và mất tại Bình Định.

    Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trầnlà các bút danh của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm. Ong cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sĩ này. Ong được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ “ Thức khuya” của mình lên một tờ báo.

    Vào năm 1932 bước vào đời làm việc tại Sở Đạc ĐiềnQuy Nhơn và vào năm ấy ông có người yêu đầu tiên là Hoàng Thị Kim Cúc, người gốc Huế. Nhưng vì tính tình nhút nhát nên ông chỉ dám bày tỏ tình cảm của mình qua bài thơ Hồn Cúc :

    “… Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá

    Dám ôm hồn Cúc ở trong sương …”

    Nhưng năm 1988 Kim Cúc bị tai nạn giao thông tại TPHCM, sau đó được đưa về Huế và mất tại đó. Có thể nói đám tang của bà lớn nhất ở Huế từ trước đến nay vì bà là Phó ban hướng dẫn TW gia đình Phật tử VN.

    Sau này, ông được hội Tây Du giới thiệu đi học nước ngoài nhưng vì bọn mật thám biết ông có quan hệ mật thiết với cụ Phan Bội Châu nên đã gạch tên trong danh sách du học. Chính vì vậy ông quyết định lên Sài Gòn lập nghiệp, năm đó ông được 21 tuổi.

    Lên Sài Gòn ông là phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy Mộng CầmPhan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

    Và bài thơ Phan Thiết ra đời :

    “ …Ta lang thang tìm đến chốn lầu trăng

    Lầu Ong Hoàng người thiên hạ đồn vang

    Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết

    Oi trời ơi ! Là Phan Thiết ! Phan Thiết

    Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi

    Ta đến nơi nường ấy vắng lâu rồi

    Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

    Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ

    Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng

    Ta vãi tung thơ lên tận sông hằng

    Thơ phép tắc bỗng kên rên thống thiết

    Hỡi Phan Thiết ! Phan Thiết!

    Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu

    Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”

    Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong, một căn bệnh nan y thời đó. Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn. Trong thời gian ông ở Quy Nhơn ông đã cho ra tập thơ Gái Quê. Và Mai Đình là người con gái ở Thanh Hóa, khi đọc tập thơ Gái Quê đã đem lòng yêu mến ông. Khi Hàn đang bệnh Mai Đình thường xuyên ra thăm và chăm sóc ông. Nhưng cùng thời gian này ông đang quen Ngọc Sương, là dì ruột của Mộng Cầm.

    “ Ta đề chữ Ngọc trên tàu chuối

    Sương ở bên thềm chảy mãi thôi”

    Nhưng hai mối tình này không đi sâu vào lòng Hàn Mạc Tử như mối tình ông dành cho Mộng Cầm. Khi Hàn mất Mai Đình đau đớn làm thơ với nội dung muốn chết theo Hàn nhưng vì còn bận kháng chiến, trả nợ với non nước nên với hẹn với Hàn rằng :

    “Bao giờ tổ quốc toàn thắng

    Là lúc tìm anh dưới suối vàng”

    Sau này kết thúc kháng chiến Mai Đình đã lập gia đình với một vị tướng trong QĐNDVN. Người này rất hiểu và trân trọng tình yêu của Mai Đình với Hàn Mạc Tử.

    Vào cuối cuộc đời, bệnh ông ngày càng nặng, người yêu thì chia xa, ông đau khổ về tinh thần lẫn thể xác. Chính vì thế mà nhà văn Trần Thanh Địch muốn an ủi bạn mình bằng cách giới thiệu cho Hàn Mạc Tử một người yêu thơ Hàn, nàng tên Thương Thương, người Huế, gọi Trần Thanh Địch bằng chú. Những bức thư tình Thương Thương  gửi cho Hàn hoàn toàn do Trần Thanh Địch tự phác họa ra. Hàn Mạc Tử cứ ngỡ mình đang yêu thật sự. Từ đó khoái cảm về mặt tinh thần mà sáng tác ra những vần thơ nổi tiếng.

    “Chiều nay tàn tạ hồn hoa

    Nhớ Thương Thương quá, xót xa tâm bào”

    Hàn Mạc Tửsáng tác vở kịch “ Quần Tiên Hội” có nhân vật chính là Thương Thương trong tưởng tượng. Khi anh của Thương Thương phát hiện, tức giận ngăn cấm và vở kịch đã bị bỏ dở nửa chừng. Sau khi Hàn mất có một người cùng cảnh ngộ như Hàn đã viết tiếp vở kịch này và được giới nghệ sĩ đồng tình.

    Ngày 20/09/1940bệnh của Hàn Mạc Tử ngày càng nặng. Ông được đưa vào bệnh viện phong Quy Hoà nhưng sau 52 ngày chữa trị ông đã qua đời. Khi ông mất không hề có một người thân nào bên cạnh mà chỉ có các y bác sĩ.

    Để tưởng nhớ một nhà thơ lớn của đất nước, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và một số văn nghệ sĩ đã dựng đài tưởng niệm ông với hình tượng một cây viết và quyển sách, đồng thời tại trại phong Quy Hoà vẫn còn giữ một phòng làm phòng lưu niệm nhà thơ Hàn Mạc Tử.

    Cuộc đời của Hàn được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dau ấn trong văn thơ của ông, có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ…

    Hoàng Cúc :

    Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá

    Dám ôm hồn Cúc ở trong sương

    Ngọc Sương :

    “Ta đề chữ Ngọc trên tàu chuối

    Sương ở bên thềm chảy mãi thôi”

    Mộng Cầm :

    Đi thăm Hàn Mạc Tử ở trại phong Quy Hoà, Hàn Mạc Tử trốn không gặp, gửi tặng thơ cho Mộng Cầm.

    “Chửa gặp nhau mà đã biệt ly

    Hồn anh theo dõi bước em đi

    Hồn anh sẽ quyện trong làn gió

    Lưu luyến bên em chẳng nói gì”

    Thương Thương :

    Thương Thương là cháu của Trần Thanh Địch (bạn thơ, rất thân với Hàn Mạc Tử). Trần Thanh Địch muốn an ủi bạn nên bày chuyện gửi thư cho Hàn Mạc Tử :Viết rằng Thương Thương rất yêu Hàn Mạc Tử (thực ra Thương Thương còn nhỏ : 12 tuổi)

    Hàn Mạc Tử xúc động viết tặng thơ :

      “Chiều nay tàn tạ hồn hoa

    Nhớ thương thương quá, xót xa tâm bào”

    Hàn Mạc Tử sáng tác vở kịch “Quần Tiên Hội” có nhân vật chính là Thương Thương trong tưởng tượng. Sau đó anh của Thương Thương tức giận ngăn cấm, vở kịch bị bỏ dở nửa chừng. Sau khi Hàn Mạc Tử mất, có một người cũng cùng cảnh ngộ như Hàn Mạc Tử đã viết tiếp vở kịch này và được giới nghệ sĩ đồng tình.

    Mai Đình :

    Giáo viên nữ công một trường tư thục, có cuộc sống sung túc, tinh thần thoải mái.

    “Tối ăn chè bưởi, học đờn ca

    Kẻ đến thưa cô, kẻ bẩm bà

    Có bữa ngâm thơ quên cả ngủ

    Quanh mình vây phủ đầy tiên nga”

    Mai Đình yêu Hàn Mạc Tử, khi Hàn Mạc Tử gặp đau thương, Mai Đình nhiều lần từ Sài Gòn ra Quy Nhơn thăm và an ủi Hàn Mạc Tử.

    Ngày Hàn Mạc Tử chết, Mai Đình đau đớn -> làm thơ , nội dung muốn chết theo Hàn Mạc Tử nhưng vì còn bận tham gia kháng chiến trả nợ với nước non nên hẹn với chàng :

    “Bao giờ tổ quốc ca toàn thắng

      Là lúc tìm anh dưới suối vàng.”

     Sau này Mai Đình lập gia đình với một vị tướng trong QĐNDVN. Người này rất hiểu và trân trọng tình   yêu của Mai Đình với Hàn Mạc Tử.

    Mai đình lúc trên 70 tuổi vẫn làm thơ cho Hàn Mạc Tử :

    “Em biết yêu em đã muộn màng

     Nỗi niềm thương nhớ dễ gì an

     Ghì trăng ôm gió tìm hương cũ

     Tóc trắng, tình xanh, mộng chửa tàn”

    Năm 2004, hãng phim truyền hình TPHCM ( TFS ) đã thực hiện bộ phim Hàn Mạc Tử để kỷ niệm ông. Một số bài thơ nổi tiếng đã được phổ nhạc vì tính lãng mạn của nó, một số bài được nhiều nhà phê bình đánh giá là hay và đưa vào sách giáo khoa bậc trung học như bài : Đây thôn Vỹ Dạ hay Mùa xuân Chín.

            MÙA XUÂN CHÍN

    Trong làn nắng ửng : khói mơ tan

    Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

    Sột soạt gió trêu tà áo biếc

    Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

                            ***

    Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

    Bao cô thôn nữ hát trên đồi

    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

    Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi

    Hổn hển như lời của nước mây

    Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc

    Nghe ra ý vị và thơ ngây…

                            ***

    Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

    Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

    Chị ấy năm nay còn gánh thóc

    Dọc bờ sông trắng nắng chang chang? 

        ĐÂY THÔN VỸ DẠ

    Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

    Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.          

    Gió theo lối gió mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay…

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?

                ***

    Mơ khách đường xa, khách đường xa,

    Ao em trắng quá nhìn không ra…

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,

    Ai biết tình ai có đậm đà.

    Ngoài ra nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có phổ nhạc bài Hàn Mặc Tử như sau :

    HÀN MẠC TỬ

    “Ai mua trăng tôi bán trăng cho

    Trăng nằm trên cành liễu đợi chờ

    Ai mua trăng tôi bán trăng cho

    Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò”

    Đường lên dốc đá nữa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ong Hoàng đó thửơ nào trăng Hàn Mạc Tử đã qua. Anh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng. Tiếng chim kêu đâu thương như nức nở dưới trời sương. Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ  bước chân người, tìm về giữa đêm buồn.

    Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phê nhân. Tiếc thay cho thân trai, một nửa đời chưa qua hết. Trách thay cho tơ duyên chưa thắm nồng đã vội tan. Hồn ngất ngây điên cuồng cho trời đất cũng tan thương mà khổ đau niềm  riêng.

    Hàn Mạc Tử xuôi về quê cũ dấu thân nơi nhà hoang. Mộng Cầm hỡi thôi đừng thương tiếc tủi cho nhau mà thôi. Tình đã lỡ xin một câu hứa kiếp sau ta trọn đôi. Còn gì nữa thân tàn xin để một mình mình đơn côi.

    Tìm vào cô đơn đất Quy Nhơn ghềnh đón chân chàng đến. Người xưa nào biết chốn xưa ngập đường pháo cưới kết hoa. Chốn hoang liêu tiêu sơ Hàn âm thầm ôm trăng vỡ. Khóc thương thân bơ vơ cho đến một buổi chiều kia. Trời đất như quay cuồng khi hồn phách vút lên cao. Mạc Tử nay còn đâu.

    Hàn Mặc Tử-nhà thơ có số phận kỳ lạ-Kỳ 1:Duyên kỳ ngộ với   nhà yêu nước

    Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có cuộc đời và số phận hết sức lạ kỳ. Trong hơn nửa thế kỷ qua, rất nhiều cuốn sách, bài báo viết về con người này nhưng dường như vẫn còn nhiều điều không thể nói hết. Nhân dịp Đài Truyền hình TP.HCM chiếu bộ phim Hàn Mặc Tử, Thanh Niên xin giới thiệu loạt bài tư liệu về nhà thơ này.

    Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh vào giờ thìn ngày 22/9/1912 tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Lúc còn nhỏ, chàng đã được người anh đầu là một người rất giỏi thơ Đường luật động viên, hướng dẫn làm thơ, nhờ thế chàng có thể sáng tác thành thạo thơ Đường từ rất sớm. Chính những bài thơ này đã dẫn dắt chàng gặp gỡ nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu. Và cuộc gặp gỡ định mệnh đó đã làm thay đổi cả cuộc đời chàng về sau.

            Ấy là vào năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc và đưa về Việt Nam xét xử. Nhưng dưới áp lực đấu tranh đòi ân xá của các tầng lớp nhân dân trong nước cũng như dư luận quốc tế, chúng phải đưa nhà yêu nước về giam lỏng ở Huế. Từ đó Phan Bội Châu trở thành Ông già Bến Ngự, sớm tối lấy văn thơ làm vui. Để giao lưu tâm tình với bạn hữu và những người đồng chí hướng, Phan Bội Châu mở ra Mộng Du thi xã, kêu gọi mọi người gửi thơ văn đến xướng họa. Lời kêu gọi của nhà yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi gửi về cho Mộng Du thi xã rất nhiều. Và trong số các bài thơ gửi đến, Phan Bội Châu đặc biệt tâm đắc với ba bài thơ của Hàn Mặc Tử. Chàng đã gửi đến ba bài thơ Đường luật có tên là Thức khuya, Chùa hoang và Gái ở chùa. Đó là vào khoảng năm 1931.

             Những bài thơ của chàng đã xoáy đúng tâm trạng nhà yêu nước. Phan Bội Châu đã họa lại ba bài thơ độc đáo này và cho đăng tất cả trên Báo Tràng An, một tờ báo có nhiều bạn đọc xuất bản ở Huế với lời đề dẫn: "Từ khi về nước đến nay, được nghe nhiều về văn thơ quốc âm, song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng, ấy là thỏa hồn thơ".

                Việc xướng họa thơ văn với nhà yêu nước Phan Bội Châu đã làm cho Hàn Mặc Tử, khi đó lấy bút hiệu Phong Trần, nổi tiếng ngay lập tức. Làng văn xôn xao trước sự xuất hiện đầy ấn tượng của một thi sĩ mới. Đặc biệt hơn nữa, tác giả còn được Phan Bội Châu tôn xưng là tiên sinh. Tiếp sau đó, Hàn Mặc Tử ra Huế để tìm thăm Phan Bội Châu. Đây là một việc làm hết sức nguy hiểm, vì thực dân Pháp sẽ chú ý đến tất cả những ai có mối quan hệ mật thiết với nhà yêu nước này. Sau cuộc gặp gỡ, Hàn Mặc Tử thường xuyên liên hệ thư từ với Phan Bội Châu, chàng còn gửi thơ của những người bạn khác ra cho ông. Mật thám Pháp sau một thời gian theo dõi, cuối cùng đã quyết định gạt tên chàng ra khỏi danh sách những người được bảo trợ sang Pháp du học. Tiếp đó, Sogny, Chánh sở mật thám Huế gửi công văn vào Quy Nhơn yêu cầu điều tra về chàng. Chánh sở mật thám Quy Nhơn là Véran gọi chàng lên tra hỏi nhiều lần làm cho gia đình hết sức lo lắng. Người anh đầu của chàng phải gửi thư ra Huế nhờ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, một người quen thân với gia đình chàng xưa nay, can thiệp với chính quyền thì chuyện mới êm.

                Không được đi du học, cuộc đời Hàn Mặc Tử rẽ sang một ngả khác. Từ đây, chàng bắt đầu bước chân vào con đường viết báo. Thời gian này, tình hình kinh tế nói chung rất khó khăn. Nạn thất nghiệp tràn lan. Chàng làm thêm công việc biên chép các tờ trích lục cũ cho Sở Đạc điền Quy Nhơn. Nhưng công việc này chỉ đem đến cho chàng một khoản tiền đủ để mua báo, giấy viết và tem thư gửi bài. Rồi xảy ra cơn bão lớn năm 1934 làm sập căn nhà của chàng đang ở. Nợ nần ập đến. Hàn Mặc Tử quyết định rời Quy Nhơn, vào Sài Gòn lập nghiệp bằng con đường làm báo chuyên nghiệp.

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 2: Nhà báo được nhiều chính khách.

    Tháng 7 năm 1934, từ Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử khăn gói lên đường vào Sài Gòn để làm báo theo lời thúc giục, rủ rê của mấy người bạn thân. Sau một thời gian lang thang chờ việc ở Sài Gòn, chàng được mời phụ trách trang văn chương cho tờ báo Trong khuê phòng...

           Chàng vừa sáng tác, vừa biên tập bài vở, lại kiêm luôn việc sửa bản in, vì thế thu nhập cũng khá. Nhưng chàng luôn cảm thấy áy náy vì tờ báo mang tên Trong khuê phòng mà nói chuyện văn chương thì có vẻ không ổn. Tuy thế, do chủ báo đối xử quá tử tế nên chàng cũng lấy làm vui. Nhưng có một lần, những người bạn của chàng viết bài gây sự với ai đó, bị công kích lại. Trên một tờ báo ở Sài Gòn, trong mục "Câu chuyện tầm phào" có bài viết mỉa mai "những trang nam tử lập nghiệp trong phòng the", ý nói nhóm làm báo Trong khuê phòng sống nhờ vào việc khai thác "thông tin khuê phòng", với nhiều câu mỉa mai rất dung tục khiến chàng bị sốc, không đến tòa soạn nữa. Chủ bút phải cử người tới nhà trọ của chàng lấy bài và an ủi mãi chàng mới trở lại làm việc.

                Ở Sài Gòn ít lâu chàng đã trở nên nổi tiếng. Nhiều chính khách kính nể và đến làm quen khi biết chàng từng có mối liên hệ với Phan Bội Châu và bị mật thám Pháp theo dõi. Từ đó chàng quan tâm hơn đến những thông tin chính trị. Chàng định làm một nhà cách mạng chăng? Từ những xướng họa với nhà yêu nước Phan Bội Châu, bỏ qua cả cơ hội quan trọng là sang Pháp du học đến chỗ giao du với các nhân vật chính trị không đơn thuần là những việc làm ngẫu hứng của một chàng thanh niên trẻ tuổi. Nhà báo De Lachevrotière, một nghị viên Pháp lai da màu rất thích tìm chàng để nói chuyện. Qua De Lachevrotière, chàng quen nhiều nhóm chính trị khác nhau. Một số nhóm còn bày tỏ thái độ chống Pháp. Tuy nhiên, lâu dần chàng cảm thấy chán nản khi nhận ra những nhóm chính trị này dù hô hào cách mạng nhưng họ chỉ là những con bài của Pháp mà thôi.  Đầu năm 1935, chàng về Huế, trong một đêm buồn lang thang trên bến sông Hương, chàng đã làm bài thơ Đêm khuya tự tình với sông Hương để tặng Phan Bội Châu với nhiều tâm sự ray rứt: "Bây giờ chỉ có đôi ta/Bao nhiêu tâm sự Hằng Nga biết rồi/Thuở nước non đến hồi non nước/Sông Hương đành xuôi ngược đông tây/Soi lòng chỉ có đám mây/Đám mây phú quý những ngày lao đao/Sao mặt sông xanh xao ra dáng/Sao tình sông lai láng khôn ngăn". Bài thơ được đăng trên báo Công Luận số ra ngày 2/3/1935. Nhiều câu chữ bộc lộ rất rõ ý hướng của chàng: "Mặc ai khanh tướng công hầu/Không thèm chung đỉnh, lưng bầu gió trăng/Sao trời đất đãi đằng ra thế/Sao mưa nguồn chớp bể luôn đêm", "Nhà ai khiêu vũ năm canh/Hơi men sực nức dưới thành đô xưa/Sao tức tối trôi bừa đi mãi/Chẳng buồn nghe cô lái thở than/Thuyền em đậu bến Hương giang/Chờ người quân tử lỡ làng tình duyên". Đêm khuya tự tình với sông Hương mang hơi hướng Trên dòng Hương giang của Tố Hữu. "Ô hay! Sóng chảy dạt dào/Chiếc thuyền vô định lạc vào bến mê". Hơi thơ tuy ủy mị hơn nhưng tình thơ cũng là thế. Hàn Mặc Tử nhìn thế sự bằng con mắt của một người muốn làm một cái gì để vỡ tung sự đè nén. Ngoài việc phụ trách trang văn chương cho tờ Trong khuê phòng, Hàn Mặc Tử còn viết cho khá nhiều báo nên kiếm được nhiều tiền nhuận bút. Ngoài báo tiếng Việt, chàng còn viết cho một số báo tiếng Pháp như Impartial, Opinion, La Lutte... Tuy nhiên chàng vẫn luôn thiếu trước hụt sau. Lãnh nhuận bút được bao nhiêu cũng bị bạn "mượn đỡ" mà không bao giờ có chuyện trả lại. Thậm chí quần áo cũng để cho bạn bè dùng chung. Mỗi lần từ Sài Gòn về đến Quy Nhơn chàng chỉ còn chiếc va-ly trống rỗng. Người em kế của chàng tên Nguyễn Bá Tín kể, có lần vào Sài Gòn thăm anh, chẳng những anh ấy không có tiền cho về xe mà còn xin tiền của em mình để tiêu nữa.

    Hàn Mặc Tử là một người sống rất vì bạn. Thời kỳ ở Quy Nhơn chưa vào Sài Gòn làm báo, ngôi nhà của chàng là nơi bạn bè tụ tập đến để chơi đùa, nói chuyện văn chương, chuyện trên trời dưới đất. Nhiều người ăn tại trong nhà chàng nhiều hơn ở nhà mình. Tuy nhiên có một điều đặc biệt, chơi hết lòng với bạn nhưng không bao giờ theo bạn chơi bời buông thả. Chàng nhất quyết không dính vào những thứ như gái, thuốc phiện. Hoàng Trọng Miên, một người bạn làm báo thân thiết với chàng tiết lộ: "Có cám dỗ anh Trí vào nếp sống buông thả nhưng tâm hồn anh trinh trắng quá, ngay cả đất Sài Gòn ăn chơi tội lỗi này cũng không cám dỗ anh sa ngã được"

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ-Kỳ 3:Thực hư quanh chuyện tình Mộng Cầm

    Hàn Mặc Tử quen Mộng Cầm trong thời gian phụ trách trang văn chương cho tờ Trong Khuê Phòng. Mộng Cầm là cháu gọi Bích Khê bằng cậu, vì "lây nhiễm tinh thần thơ văn" của ông cậu trẻ tuổi nên cũng tập tành làm thơ gửi đăng báo. Hàn Mặc Tử đã nhận được một số bài thơ như thế của Mộng Cầm gửi đến và từ đó làm quen với Mộng Cầm.

    Hai mươi năm sau ngày Hàn Mặc Tử mất, vào năm 1961, nhà thơ Nguyễn Vỹ, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Phổ Thông có tòa soạn tại Sài Gòn đã cử ông Châu Mộng Kỳ tìm gặp Mộng Cầm để thực hiện bài phỏng vấn về mối tình Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm. Nhờ mối quan hệ đặc biệt, ông Châu Mộng Kỳ là thầy dạy con riêng của chồng Mộng Cầm, nên bài phỏng vấn mới thực hiện được. Trước đó nhiều nhà báo đã bị từ chối. Trong bài trả lời phỏng vấn nói trên đăng ở tạp chí Phổ Thông số 63, ra ngày 15 tháng 8 năm 1961, Mộng Cầm đã phủ nhận hoàn toàn chuyện tình cảm giữa mình và Hàn Mặc Tử: "Một dịp thứ bảy đi chơi lầu Ông Hoàng, anh thổ lộ mối tình với tôi. Tôi có trả lời anh: Chắc là không thể đi đến chỗ trăm năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng. Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau, nhưng thật ra vì biết Hàn Mặc Tử mang chứng bệnh hiểm nghèo, không thể sống lâu được, ý tôi muốn một người chồng mạnh khỏe, tráng kiện... Tuy vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật một hai năm như thế. Trong thời gian này, có nhiều lần, Hàn Mặc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quảng Ngãi thăm nhà và trong nhiều bức thư anh đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi vẫn trả lời, nhưng luôn luôn ngụy biện để từ chối: Em thiết nghĩ chúng ta sống như thế này thanh cao hơn, tôn giáo bất đồng, chữ hiếu bắt buộc em phải nghe lời thân mẫu em".

    Bài phỏng vấn này đăng lên, Nguyễn Vỹ cho biết Mộng Cầm đã đọc và không có điều chi thắc mắc và ông kết luận "đã giải đáp dứt khoát một nghi vấn thường bị nhiều người xuyên tạc". Tuy nhiên với độc giả, bài trả lời phỏng vấn của Mộng Cầm đã gây sốc. Bởi mối tình Mộng Cầm - Hàn Mặc Tử đã được người đời nâng lên thành huyền thoại. Ngay cả Ngọc Sương, dì ruột của Mộng Cầm cũng phản đối. Rồi đến Quách Tấn, người đã ủng hộ việc Mộng Cầm đi lấy chồng khi hay tin Hàn Mặc Tử bị bệnh nan y cũng giận dữ trước lời phát biểu này. Quách Tấn viết: "Cuộc tình duyên giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, tôi biết rõ lắm. Nhưng tôi chỉ nói những gì có thể nói được, nói những gì có thể giúp cho bạn đọc hiểu thêm tâm hồn Tử, văn chương Tử mà thôi". Quách Tấn là người đã từng bênh vực việc Mộng Cầm đi lấy chồng làm cho nhà thơ Bích Khê giận ông mấy ngày. Nhưng ông vô cùng tức giận khi Mộng Cầm phủ nhận mối tình với Hàn Mặc Tử. Mộng Cầm đã nói thật hay nói dối ? Vì sao nàng lại phủ nhận mối tình này ? Thật ra, trong thời gian quen biết với Mộng Cầm, căn bệnh phong của chàng chưa bộc phát. Ngay cả chàng cũng không hề "cảm thấy", làm sao Mộng Cầm có thể "nhận ra". Rất dễ thấy rằng đó là những lời nói dối của một người con gái muốn quên quá khứ để bảo vệ hạnh phúc hiện tại. Một lý do rất thường tình và đáng thông cảm. Mối tình Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm đã được rất nhiều người gần gũi xác nhận. Trần Thanh Mại, một người bạn của chàng đã công bố những chi tiết của mối tình này trong cuốn sách Hàn Mặc Tử xuất bản năm 1942. "Ấy là câu chuyện một đôi trai tài gái sắc yêu nhau, câu chuyện muôn đời ấy mà! Người con trai là Hàn Mặc Tử, người con gái, ta cứ theo nhà thi sĩ mà gọi là Mộng Cầm đi, mặc cái tên thực của họ. Hai bên đã thề nguyền cùng nhau những lời mà ta hiểu là thiết tha đằm thắm lắm. Thường thường thì họ hay gặp nhau ở hai tỉnh: Qui Nhơn và Phan Thiết. Họ đưa nhau đi chơi bờ bể, họ đi viếng các danh lam thắng cảnh, nhất là lầu Ông Hoàng. Rồi họ xa nhau. Họ nhớ nhau, và tặng ảnh cho nhau. Họ coi như một cặp vợ chồng chưa cưới".

    Hàn Mặc Tử đã sáng tác nhiều bài thơ đầy nước mắt về mối tình này. Trong bài Muôn năm sầu thảm, chàng đã kêu tên nàng lên một cách thảm thiết: "Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm / Nhớ thương còn một nắm xương thôi". Bài Phan Thiết Phan Thiết, chàng nhắc tới những kỷ niệm xưa về lầu Ông Hoàng, nơi chàng và Mộng Cầm từng dạo chơi thuở nào: "Ta lang thang tìm tới chốn lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang/Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết/Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết!/Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi".

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 4: Hoàng Cúc - nàng thơ bí ẩn

    Hoàng Cúc là người liên quan đến bài thơ tình đẹp nhất trong kho tàng thơ ca Việt Nam: Bài thơ thôn Vỹ. Nàng tên thật là Hoàng Thị Kim Cúc, sinh ngày 5/12/1913, kém Hàn Mặc Tử 1 tuổi.

    Cũng như Hàn Mặc Tử, nàng phải theo gia đình vào Quy Nhơn sinh sống vì cha nàng là công chức, làm việc tại Quy Nhơn. Năm 1933, Tử vào làm cho Sở Đạc điền Quy Nhơn và quen Hoàng Tùng Ngâm - em thúc bá của Hoàng Cúc. Hoàng Tùng Ngâm sống trong ngôi nhà nhỏ cạnh nhà Hoàng Cúc, anh em bè bạn thường tụ tập để chơi đùa, bình phẩm văn thơ. Hoàng Cúc khi đó cũng đang tập tành viết báo làm thơ với bút hiệu Hoàng Hoa nữ sĩ nên cũng quen biết Hàn Mặc Tử. Với bản tính đa tình, Hàn Mặc Tử đã đem lòng si mê Hoàng Cúc. Chàng đã làm một số bài thơ tặng nàng như bài Vịnh hoa cúc, Trồng hoa cúc... Một số bài đã đến tay Hoàng Cúc qua Hoàng Tùng Ngâm. Hoàng Cúc biết rất rõ tình cảm của chàng. Rồi Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo. Sau một thời gian, chàng về lại Quy Nhơn. Lúc này gia đình chàng đã dời đến cách nhà Hoàng Cúc chỉ vài căn. Tình xưa dậy sóng trở lại. Giờ đây, chàng đã ít nhiều bạo dạn hơn trước. Hàn Mặc Tử sáng tác bài Hồn cúc: "Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường/Không dám sờ tay sợ lấm hương/Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá/Muốn ôm hồn cúc ở trong sương". Năm 1936, Hoàng Cúc theo gia đình về Huế sinh sống. Sau đó, nàng bắt đầu ăn chay trường, trở thành cư sĩ, sống cuộc đời lặng lẽ bí ẩn. Cũng trong năm đó, Hàn Mặc Tử in tập thơ Gái quê, là tập thơ mới đầu tiên kể từ khi chàng bỏ làm thơ Đường luật. Chàng mang theo một số tập Gái quê ra Huế. Và chàng đã gặp lại Hoàng Cúc trong một dịp hội chợ nhưng không dám tặng thơ cho nàng. Chàng cũng tìm đến Vỹ Dạ - nơi ở của Hoàng Cúc - nhưng chỉ đứng ngoài cổng một lúc rồi bỏ đi. Nhiều năm sau đó, giữa hai người không có liên lạc gì với nhau. Một hôm Hoàng Cúc nghe tin chàng bị bệnh phong, nàng liền gửi thư cho chàng. Và chàng đã cảm động sáng tác bài Đây thôn Vỹ Dạ gửi tặng nàng.

    Chuyện tình Hoàng Cúc - Hàn Mặc Tử cũng có những điều gây tranh cãi như trường hợp Mộng Cầm. Bởi Hoàng Cúc đã có lần công khai phủ nhận chuyện nàng có tình cảm với Hàn Mặc Tử. Đó là vào năm 1969, nhà thơ Quách Tấn, người bạn thân thiết của Hàn Mặc Tử đã viết một hồi ký lấy tên là Đôi nét về Hàn Mặc Tử đăng trên tạp chí Văn, trong đó có phần nói đến mối quan hệ giữa Hoàng Cúc và Hàn Mặc Tử. Quách Tấn cho rằng hai người không thành duyên nợ là do thân sinh của Hoàng Cúc chê Hàn Mặc Tử không xứng. Hoàng Cúc đã đọc được hồi ký này và ngày 15/3/1971, nàng gửi thư cho Quách Tấn để "nói lại cho rõ". Hoàng Cúc đã phản bác một số chi tiết nhỏ mà Quách Tấn nêu ra và cuối cùng nói về mối quan hệ của mình với Hàn Mặc Tử: "Hồi ấy tuy Tử ở gần nhà tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi. Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm cách để gặp, nhưng vẫn chưa toại nguyện..." Thế nhưng Quách Tấn kiên quyết bảo vệ lập trường của mình trong các chi tiết thể hiện việc Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc có yêu nhau: "Còn về những chi tiết trong cuộc tình duyên của Tử - Cúc, thì nhất định ký ức tôi không phản tôi, vì không có gì phức tạp khó nhớ. Việc Tử nhờ người đến dạm là việc có thật. Người ấy là nhà thầu khoán Bùi Xuân Lang ở Quy Nhơn, vừa thân với Tử, vừa quen với cụ Hoàng Phùng".

    Hiểu như thế nào về chuyện này? Theo chúng tôi, Hoàng Cúc ngày ấy là một thiếu nữ trẻ trung yêu đời, lại ít nhiều có tâm hồn văn chương thì việc đáp lại những tình cảm của một người như Hàn Mặc Tử là có thể xảy ra. Nhưng sau này cũng như Mộng Cầm, nàng đã cố gắng chôn chặt những điều thầm kín riêng tư vào cõi lòng. Là một người xa lánh cuộc đời để tìm đến cõi thiền, thì những chuyện tình cảm dù có cũng không thể phơi bày cho công chúng biết. Cho nên việc Hoàng Cúc phủ nhận chuyện có đáp lại tình cảm với Hàn Mặc Tử là điều dễ hiểu. Nguyễn Bá Tín cho biết tại nhà riêng của Hoàng Cúc, khi đã quy y, nàng vẫn "dành riêng một căn phòng ngày đêm hương hoa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt của anh mà cũng là tình đầu của chị".

    Mối tình Hàn Mặc Tử - Hoàng Cúc như là khói sương bảng lảng. Nàng thực sự là một nàng thơ hơn là một người tình để chàng có thêm thi hứng mà thôi.

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ-Kỳ 5: Đây thôn Vỹ Dạ-bài thơ nhiều

    Năm 1936, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn. Lúc này thân phụ Hoàng Cúc về hưu nên gia đình phải dọn về Huế. Cũng trong năm đó, chàng bắt đầu phát hiện những dấu hiệu của căn bệnh phong, nhưng chàng vẫn chưa quan tâm đến nó. Một thời gian rất lâu, căn bệnh mới phát mạnh.

    Năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc. Chi tiết trên là theo Nguyễn Bá Tín. Còn theo nhiều tác giả khác thì Hoàng Cúc không gửi ảnh mình mà gửi một tấm bưu ảnh có mây nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có khóm tre, có cả ánh trăng hoặc là ánh nắng chiếu xuống. Một thời gian sau, nàng nhận được thư của Hàn Mặc Tử. Kèm theo bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi tặng, Hàn Mặc Tử viết: "Túc hạ! Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay là một đêm trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm, muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc phận lắm rồi. Mong ơn trên xuống độ cho túc hạ thật đầy và mong rằng một mùa xuân nào đấy sẽ gặp lại được túc hạ cho phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ". Đây thôn Vỹ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng nhất của Hàn Mặc Tử trong tập thơ Điên. Bởi lúc này chàng đang trong thời kỳ bệnh tật, đau đớn điên cuồng cả thể xác lẫn tâm hồn. Thơ của chàng luôn luôn là những gào thét uất hận, nghẹn ngào. Bài thơ này, Nguyễn Bá Tín cho biết nguyên cái tựa ban đầu của nó là Ở đây thôn Vỹ Dạ. Nhưng về sau đã được biên tập lại, bỏ đi chữ Ở. Trong bài thơ, hình ảnh hàng cau được nhiều người khen ngợi, nhưng lại đem đến thắc mắc cho chính người được tặng thơ là Hoàng Cúc. Nàng đã không hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lại viết câu thơ "Sao anh không về chơi thôn Vỹ/Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên". Thôn Vỹ Dạ, nằm bên kia Đập Đá, cư dân ở đây phần lớn thuộc tầng lớp thượng lưu. Kế thôn Vỹ Dạ là thôn Nam Phổ, một thôn bình dân, sống bằng nghề trồng cau. "Mua vôi chợ Quán chợ Cầu. Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh". Cau Nam Phổ nổi tiếng khắp cả nước. Hằng năm đến mùa cau, già trẻ gái trai trong làng đều có thể trèo cau, hái cau để bán. Các cô gái Nam Phổ nổi tiếng trèo cau giỏi. Vì thế có câu "Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau". Những cô gái khuê các vùng Vỹ Dạ rất sợ bị xếp vào diện câu ví đó. Và vì thế ít ai chịu trồng cau ở Vỹ Dạ. Như vậy, thì vì sao Hàn Mặc Tử lại lấy hình ảnh cây cau như là một biểu tượng cho thôn Vỹ Dạ?

    Bài thơ cũng tạo ra rất nhiều sự khó hiểu đối với độc giả trong các chi tiết khác. Chẳng hạn mấy câu thơ "Mơ khách đường xa, khách đường xa. Áo em trắng quá nhìn không ra" và "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Ai biết tình ai có đậm đà?". Có nhiều ý kiến lý giải khác nhau, trong đó thậm chí có người cho rằng khổ thơ này chỉ những nàng kỹ nữ sông Hương như trên báo Giáo Viên Nhân Dân số tháng 1/1990. Theo ý kiến một số người, hình ảnh "áo trắng nhìn không ra" là do Hoàng Cúc mặc chiếc áo dài màu trắng mà tấm hình cũ quá nên Hàn Mặc Tử không thấy rõ. Còn "sương khói mờ nhân ảnh" thì Nguyễn Bá Tín cho rằng có thể là Hàn Mặc Tử muốn nói đến đời sống khói nhang cõi thiền của Hoàng Cúc. Ngày tháng ra đời của bài thơ cũng gây bàn cãi. Trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật số ra ngày 7/1/1990, tác giả Đào Quốc Toàn viết: "Bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ chỉ có thể được viết trong khoảng 1936-1937 chứ không thể viết vào năm 1939 được, bởi vì bài thơ này được Hàn Mặc Tử tập hợp lại ở tập Đau thương trong thời gian cuối 1937 đầu 1938. Tập thơ này gồm khoảng 50 bài thơ, lúc đầu lấy tên là Thơ điên".   

    Đây cũng là vấn đề khó làm sáng tỏ. Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ này trong thời điểm nào? Nếu căn cứ vào trí nhớ của Hoàng Cúc thì bài thơ ra đời vào năm 1939. Trong thư gửi cho Quách Tấn vào ngày 15/10/1971, Hoàng Cúc viết: “Vào khoảng hè 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử mắc bệnh nan y, và khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, để an ủi một tâm hồn đã vô cùng đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte-visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử mà không ký tên, rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ...".

    Hàn Mặc Tử-nhà thơ có số phận kỳ lạ-Kỳ 6:Mai Đình-tình thơ hay...

    Mai Đình thực ra không phải là một nàng thơ, cũng không phải là một người tình của Hàn Mặc Tử...Đúng nghĩa, nàng là một người bạn văn chương của chàng. Nàng gặp Hàn Mặc Tử khi chàng đã lâm trọng bệnh, xa lánh tất cả mọi người để về ẩn mình trong một cái chòi tranh ở Gò Bồi, cách thành Quy Nhơn khoảng 15 cây số.

    Mai Đình xuất thân trong một gia đình khá giả, nhưng mang trong mình dòng máu lãng mạn, nàng theo tiếng gọi bốn phương cất bước ra đi. Nhờ có nghề dạy nữ công gia chánh cho những gia đình giàu có nên Mai Đình kiếm kế sinh nhai khá dễ dàng. Nàng đã đặt chân đến nhiều vùng đất xa xôi, có khi qua tận Nam Vang. Năm 1937, Mai Đình đến Quy Nhơn. Trước đó nàng đã nghe danh Hàn Mặc Tử từ lâu. Là một người có cá tính mạnh mẽ, nàng không câu nệ, tìm cách giáp mặt chàng. Lần đầu tiên, Hàn Mặc Tử vì tự ti bệnh tật nên không chịu tiếp. Nàng bèn vào Nha Trang, thông qua Quách Tấn để "tiếp cận" chàng. Trong hồi ký của mình, Quách Tấn nhớ lại: "Gặp tôi, nàng không chút e lệ, ngồi nói chuyện như người quen biết đã lâu. Phê bình bài thơ Gái quê xong, nàng tỏ thật nỗi lòng đối với Tử: “Biết Tử mang bệnh ngặt nghèo, lòng tôi hết sức thương cảm. Tôi mong sao chia sớt được nỗi đau khổ của Tử một đôi phần”. Rồi nàng trách Mộng Cầm sao đành lòng bỏ Tử". Nàng gửi cho Quách Tấn bài thơ Biết anh để tặng Hàn Mặc Tử với những câu thơ thật mạnh dạn: "Còn anh em đã gặp anh đâu!/Chỉ cảm vần thơ có những câu/Âu yếm say sưa đầy cả mộng/Xui lòng tư tưởng lúc đêm thâu". Đây là bài thơ đầu tiên mở ra một tình bạn văn chương thú vị giữa hai người. Hàn Mặc Tử nhận được thơ, liền hồi âm nhưng Mai Đình đã đi khỏi Nha Trang. Chàng buồn rầu sáng tác bài Lưu luyến: "Chửa gặp nhau mà đã biệt ly/Hồn anh theo dõi bóng em đi/Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió/Lưu luyến bên em chẳng nói gì".

    Điều đặc biệt nhất trong mối quan hệ Mai Đình - Hàn Mặc Tử là nàng đã hành xử rất đúng với tinh thần văn chương: Tứ hải giai huynh đệ. Theo tài liệu của Trần Thanh Mại thì mùa hè năm 1938, Mai Đình từ biệt Quy Nhơn để vào Sài Gòn thu xếp công việc. Khi trở ra, Mai Đình đưa Hàn Mặc Tử một món tiền để lo thuốc thang và nói ý định của mình: sẽ ở lại trong cái chòi tranh cùng với chàng. Hàn Mặc Tử từ chối nhưng nàng mặc kệ, cứ ở đấy đi chợ nấu ăn, sắc thuốc cho chàng. Mai Đình không hề ngần ngại bệnh tật cũng như dư luận người đời.

    Hàn Mặc Tử từ chỗ không muốn gặp mặt đến xúc động trước việc làm của Mai Đình nên đã có nhiều câu thơ tặng nàng: "Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn/Đêm muộn xuống gieo vào muôn sóng mắt/Nàng, ôm nàng hai tay ta ghì chặt/Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!". Ngoài lo việc cơm nước thuốc thang cho chàng, thời gian còn lại nàng cùng chàng ngâm thơ vịnh cảnh. Hai tâm hồn thi sĩ sống bềnh bồng với những vần thơ như thế suốt một thời gian dài. Nhưng số tiền Mai Đình mang theo cũng đã hết. Nàng khuyên chàng vào Bệnh viện phong Quy Hòa để điều trị, nàng sẽ đi theo và ở luôn trong ấy để chăm sóc cho chàng. Nhưng Hàn Mặc Tử từ chối. Cuối cùng hai người phải từ giã nhau. Nàng lại cất bước giang hồ bốn phương. Lâu lâu, chàng lại nhận được cánh thư của nàng từ phương trời xa nào đó.

    Trong một lần ngồi buồn, chàng đem những từ ngữ trong bức thư nàng gửi xếp lại thành bài thơ. Đó là bài Thao thức với những câu thơ da diết: "Lạnh quá ánh trăng không sáng mấy/Cho nên muôn dặm ở ngoài kia/Em đang mong mỏi, em đang nhớ/Bứt rứt lòng em muốn trở về".

    Mối tình thơ kỳ lạ giữa Mai Đình và Hàn Mặc Tử cùng với việc Mai Đình chăm sóc cho Hàn Mặc Tử được Trần Thanh Mại công bố vào năm 1942, một năm sau ngày Hàn Mặc Tử mãi mãi ra đi. Nhưng câu chuyện trên đây không được gia đình Hàn Mặc Tử thừa nhận và Quách Tấn thì cho rằng Trần Thanh Mại đã hoàn toàn bịa đặt. Tuy nhiên, những tài liệu của Trần Thanh Mại công bố đã thuyết phục được không ít người. Có người cho rằng, trước đây giữa nhà thơ Quách Tấn và nhà phê bình Trần Thanh Mại xảy ra vụ kiện bản quyền thơ Hàn Mặc Tử, liên quan trực tiếp đến cuốn sách Hàn Mặc Tử mà Trần Thanh Mại xuất bản năm 1942, xuất phát từ mâu thuẫn này mà nhà thơ Quách Tấn đã nói như vậy chăng?

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ: Kỳ 7: Hình bóng giai nhân...

    Ai cũng biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong. Nhưng ngoài căn bệnh mà người ta cho rằng đã ảnh hưởng đến thơ của Tử, bật ra thành những lời gào thét uất hận, thì trong thơ Tử còn có những hình ảnh thật kỳ dị khó hiểu có thể liên quan đến một nguyên nhân khác. Chính người em ruột của Tử đã đặt vấn đề về một căn bệnh tâm thần mà Tử mắc phải. Có thể như thế được chăng?

    Trong thơ Tử có những hình ảnh thật kỳ dị, đôi lúc ma quái rùng rợn. Đến nỗi Hoài Thanh đã phải công nhận là: "Chính như lời Hàn Mặc Tử nói trong bài Thơ điên, vườn thơ của người rộng thinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh". Quả đúng như thế. Đọc thơ của chàng đôi lúc thấy sởn da gà: "Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ/Tiếng rú ban đêm rạng bóng mờ!/Tiếng rú lòng tôi xô vỡ sóng/Rung tầng không khí, bạt vi lô/Ai đi lẳng lặng trên làn nước/Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?/Mà sao ngậm cứng Thơ đầy miệng/Không nói không rằng nín cả hơi", "Lụa trời ai dệt với ai căng?/Ai thả chim bay đến Quảng Hằng?/Và ai gánh máu đi trên tuyết/Mảnh áo da cừu ngắm nở nang", "Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/Cho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngực/Cho hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức/Rồi bay lên cho tới một hành tinh/Cùng ngả nghiêng lăn lộn với muôn hình/Để gào thét một hơi cho rởn ốc".

    Quách Tấn đã nghe Hàn Mặc Tử kể lại những câu chuyện liên quan đến các hình ảnh người gánh máu đi trên tuyết và người ngồi khít cạnh tôi như sau: "Đêm ấy - theo lời Tử kể - vì tiết sắp sang đông nên bãi biển không một bóng người qua lại, mặc dù trời không lạnh và trăng sáng như ban ngày. Đêm tạnh hết sức, tạnh đến nỗi nghe cả tiếng chiêm bao! Cảnh trời thật mênh mông bát ngát. Lòng tôi lại mênh mông bát ngát bằng hai... Thân tôi chìm trong không gian vô tận và hồn tôi chìm trong cõi lòng rộng vô biên. Tôi có một cảm giác ngờm ngợp... Chợt nhìn lên trời thấy bóng trăng đã đứng đầu, và nhìn bên cạnh thấy một bóng người ngồi sát. Liền đó từ trong bóng người ngồi cạnh tôi, bước ra một bóng người thứ hai, đi từ từ ra biển và bước lững thững trên mặt nước... Rồi hai bóng đều biến mất và mặt biển đông lại thành tuyết sáng ngời dưới bóng trăng khuya. Thoạt hiện ra một người, thân vóc nở nang, mình khoác chiếc áo lông, vai khoác hai thùng thiếc đựng đầy nước óng ánh. Người ấy bước đi thì nước trong thùng tung ra và hóa thành huyết đổ lã chã trên tuyết. Người gánh máu đi lần vào bờ... Tôi khiếp quá hét lên thành tiếng, vụt đứng dậy, chạy một mạch về nhà. Vừa đến nhà, mệt quá, té nằm trước thềm, ngút hơi... Từ ấy cảnh tượng kia ám ảnh tôi mãi...". Quách Tấn viết tiếp: "Tử lại nói: Cảnh tượng người gánh máu đi trên tuyết khi trông thấy thì rùng rợn hơn cảnh tượng người ngồi bên cạnh tôi. Song về sau mỗi lần nghĩ lại, cảnh tượng người ngồi bên cạnh lại gây một cảm giác rùng rợn hơn".

    Đó là những trạng thái "xuất thần" mà hàng mấy chục năm, tất cả những người nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử không ai lý giải được nguyên nhân, kể cả Quách Tấn. Người ta chỉ cho rằng nó bật ra từ sự đau khổ nung nấu mà Tử phải gánh chịu mà thôi. Người em kế của Tử, sau nhiều năm lặng lẽ chiêm nghiệm, đã công bố một kết luận vào năm 1991: "Trong quá trình chung sống bên anh, tôi ghi nhận anh có hiện tượng suy nhược tâm thần, bệnh đó đã được nhiều người bạn tôi, chuyên khoa tâm lý sau này xác nhận là hiện tượng "névrose", một chứng rối loạn thần kinh nào đó, mà con người vẫn còn sáng suốt và rung cảm bén nhạy, vẫn làm chủ được trí óc mình".

    Nguyễn Bá Tín cho biết, có một tai nạn đã xảy ra đối với Tử vào lúc nhỏ, có thể ảnh hưởng đến tâm thần chàng về sau. Đó là lúc chàng khoảng 17-18 tuổi, suýt bị chết đuối ở biển Quy Nhơn. Sau khi thoát chết, Tử trở nên hoảng loạn khác thường. Từ đó chàng bỏ luôn thói quen tắm biển, sợ nước, ít hoạt động, hình thể gầy nhỏ đi. Nhiều biểu hiện làm cho gia đình sợ rằng Tử bị tâm thần, nhưng sau đó thấy chàng bình thường, thậm chí còn tập làm thơ nên cũng quên đi nỗi lo lắng. Tuy nhiên với Tử thì khác. Chàng quả quyết rằng trong cơn nguy biến đó, chàng đã được tận mắt thấy Đức Mẹ hiện ra. Đó là giây phút mà chàng run sợ đến ớn lạnh toàn thân. Sau này Tử đã sáng tác bài Ave Maria: "Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy/Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế/Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ/Giòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ". Chi tiết này càng củng cố cho nhận định của Nguyễn Bá Tín là đúng.

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 9: “Trường thơ loạn”

    Những vần thơ Chế làm ra đã khiến Tử kinh ngạc. Đọc thơ của Chế, Hàn Mặc Tử đã tìm ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên loạn.

    Quy Nhơn - Bình Định là vùng đất thiêng. Năm trăm năm trước, vùng đất này là chiến trường đẫm máu. Một vương triều sụp đổ, bao nhiêu chiến binh tử trận. Thành Đồ Bàn ngày nào còn lại một dãy gò sỏi mênh mông với những tháp Chàm đổ nát. Từ xưa, nhiều thi sĩ khi qua đây đã cảm xúc bật ra những vần thơ thống thiết. Vào những năm 1930 - 1945, Quy Nhơn - Bình Định bỗng trở thành vùng đất cực thịnh của văn chương nghệ thuật. Thật kỳ lạ, nơi đây tập trung toàn những thi sĩ tầm cỡ. Thuở ấy, có cậu học trò nhút nhát thích làm thơ tên là Phan Ngọc Hoan. Đắm mình trong không gian huyền hoặc của cõi Đồ Bàn, Hoan đã đặt cho mình cái tên Chế Lan Viên rồi khóc than người đã khuất bằng tập thơ Điêu tàn với những câu thơ thật lạ lùng: "Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận/Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang/Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận/Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn".

    Năm 1936, từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã gặp Chế Lan Viên. Chế tìm đến Tử như tìm đến một ông thầy dạy làm thơ. Thế nhưng những vần thơ của Chế đã khiến Tử kinh ngạc: "Chiều hôm nay bỗng nhiên ta lạc bước/Vào nơi đây thế giới vạn cô hồn/Hơi người chết tỏa đầy trong gió lướt/Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ xanh non/Trên một nấm mồ tàn ta nhặt được/Khớp xương ma trắng tựa não cân người/Tủy đã cạn nhưng vẫn đầm hơi ướt/Máu tuy khô còn đượm khí tanh hôi". Trước đó, Hàn Mặc Tử đã nghiên cứu rất kỹ về trường phái thơ tượng trưng của Pháp. Chàng mong muốn tạo ra một trường phái thơ cho riêng mình. Giờ đây Chế đã làm lóe lên trong đầu Tử cái mà lâu nay chàng đi tìm nhưng chưa thấy. Trước đó, khi Yến Lan hoàn thành bản thảo tập Giếng loạn, Tử đã mơ hồ nghĩ đến một thứ thơ "không giống ai". Bây giờ đọc thơ của Chế, Hàn Mặc Tử đã tìm ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên loạn. Vì vậy ngay trong ngày Chế Lan Viên và Yến Lan đem bản in đặc biệt của tập Điêu tàn đến cho chàng xem, chàng hồ hởi công bố ngay việc thành lập “Trường thơ loạn”.

    Từ đó, dưới ngọn cờ của chủ soái Hàn Mặc Tử, các thành viên trong “Trường thơ loạn” say sưa sáng tác. Có những đêm cả bọn đem chăn màn ra bờ biển ở lại suốt đêm để thả hồn theo những vần thơ kỳ dị. Thơ của các thi sĩ “Trường thơ loạn tràn ngập trăng, hồn, máu, bóng ma, sọ người, xương cốt, tinh tủy... Tất cả say sưa bước chân vào cái thế giới rùng rợn đó. Nếu Hàn Mặc Tử thích thú với hồn để viết "Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút/Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta/Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt/Như mê man chết điếng cả làn da" thì Chế Lan Viên lại khoái... sọ người hơn: "Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại/Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta/ Để những giọt máu đào còn đọng lại/Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ/Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ/Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô".

    Việc nhóm thơ Bình Định cho ra đời “Trường thơ loạn” khiến văn thi hữu khắp nơi bàn tán xôn xao. Nhiều người hoan nghênh nhưng cũng không ít người chê bai. Hoài Thanh kể: "Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm ! Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: Thơ gì mà rắc rối thế! Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc gì, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!". Đặc biệt Xuân Diệu là người ghét cay ghét đắng những vần thơ điên của Tử. Hoài Thanh kể tiếp: "Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử khi viết đoạn này: Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”.

    Đúng là những vần thơ điên của các thi sĩ này đã gây sốc cho nhiều người. Nhưng thật ra đó chỉ là một cách giải quyết sự bế tắc trong tư tưởng của mình mà thôi. Hàn Mặc Tử đã dẫn dắt các thi sĩ sáng tác khá nhiều những vần thơ kỳ dị cho đến lúc chàng rời bỏ cuộc đời vào năm 1941. Sang năm 1942, đến lượt Bích Khê cũng vĩnh viễn ra đi. “Trường thơ loạn” từ đó tan rã.

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 10: Căn bệnh phong và ...

    Nguyên nhân khởi phát căn bệnh phong của Hàn Mặc Tử được nhiều sách báo dẫn lại như sau: Một hôm từ Sài Gòn ra Phan Thiết thăm Mộng Cầm, chàng được Mộng Cầm dẫn đi dạo chơi lầu ông Hoàng..

    Đến lúc chiều tối trở về, băng qua cánh đồng thì gặp cơn mưa giông. Cả hai chạy vào trú trong một căn chòi bên đường. Mưa mỗi lúc một lớn, trời tối đen như mực. Từ trong căn chòi, hai người nhìn ra bên ngoài thấy có những quả cầu lửa màu xanh dưới đất vùn vụt bay lên. Những quả cầu lửa chớp tắt liên tục. Đồng thời lại nghe tiếng rền vang ầm ầm như ai lăn thùng sắt trên đường đá. Hai người rất hoảng sợ, ngồi ôm nhau run rẩy trong căn chòi. Một lúc trời quang mây tạnh, bước ra khỏi nơi trú mưa thì mới biết mình đang ở cạnh một ngôi mộ ai mới chôn. Trở về Sài Gòn ít hôm, Tử thấy ngứa ngáy khó chịu trong người. Một thời gian thì nổi lên những vết đỏ như đồng xu ở trên lưng, sau lan dần ra khắp người. Căn bệnh phong xuất hiện từ đó. Những thông tin này đăng tải lên kèm với lời phê phán việc Mộng Cầm bỏ Tử đi lấy chồng trong lúc Tử bị căn bệnh quái ác hành hạ khiến Mộng Cầm hết sức day dứt. Theo quan niệm dân gian trước nay, thì căn bệnh phong phát ra do người ta nhiễm phải hơi dưới ngôi mộ mới bốc lên trong lúc mưa giông. Nhiều người tin điều đó là có thật nên càng trách Mộng Cầm nhiều hơn, rằng nàng đã gián tiếp đưa chàng đến chỗ bệnh tật rồi lại vội vã bỏ ra đi. Tuy nhiên, ngay từ thời ấy, khoa học đã chứng minh căn bệnh phong do loại vi trùng có tên là Hansen gây ra. Chính khi Hàn Mặc Tử nhập bệnh viện phong Quy Hòa, bệnh viện Quy Nhơn đã làm xét nghiệm cho chàng và tìm ra vi trùng Hansen trong cơ thể chàng. Nhưng có một điều gây khó hiểu cho nhiều người là việc phát bệnh của Tử lại có những chi tiết trùng hợp với quan niệm dân gian nói trên. Nguyễn Bá Tín cho biết, chính Hàn Mặc Tử đã kể với bà mẹ về chuyện mắc mưa giông trong nghĩa địa: "Mẹ tôi linh cảm có chuyện chẳng lành. Bà vặn hỏi mãi thì anh kể chuyện có hôm cùng người bạn đi chơi Phan Thiết, gần tối băng qua cánh đồng, thì gặp phải cơn mưa giông dữ dội...". Ngay cả Mộng Cầm cũng thừa nhận có chuyện như vậy. Hãy đọc đoạn đối thoại giữa Châu Hải Kỳ và Mộng Cầm trên tạp chí Phổ Thông số ra ngày 15/8/1961:

    "Như vậy xin lỗi bà, bà có đi lầu ông Hoàng và có gặp mưa không?  - “Tôi nhận có đi chơi lầu ông Hoàng với Hàn Mặc Tử, có gặp mưa, có ngồi ở nghĩa địa, nhưng không phải vì đó mà Hàn Mặc Tử bị phong như anh Quách Tấn đã viết. Nếu Hàn Mặc Tử bị phong sao tôi không hề hấn gì cả? Hai người cùng ngồi núp mưa một chỗ kia mà!".

    Song song với câu chuyện trên, có một câu chuyện hoang đường khác cũng liên quan đến căn bệnh phong, được truyền tụng trong dân gian thời ấy. Đó là sự báo thù của những người chiến bại ở thành Đồ Bàn khi xưa. Sự báo thù chỉ nhắm vào những thanh niên đẹp trai, học giỏi. Lời đồn đại này làm cho người dân thành phố Quy Nhơn thời ấy luôn sống trong hồi hộp lo âu. Lâu lâu ở thành Quy Nhơn, thấy vắng bóng một thanh niên khỏe mạnh, đẹp trai là mọi người hiểu anh ta vừa phát bệnh phong, phải đi trốn. Lời đồn này đã có từ xa xưa, trở thành một truyền thuyết lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người dân Bình Định, đặc biệt là Quy Nhơn, bao giờ cũng nơm nớp lo sợ sự báo thù ghê gớm của một giống người Hời. Và thật thú vị, cũng chính những truyền thuyết này là chất men sáng tạo cho những nhà thơ điên của thành Quy Nhơn. Chế Lan Viên cùng với Yến Lan thường lang thang bên những tháp Chàm đổ nát để tưởng nhớ về những người Hời huyền thoại đó. Trong bài thơ Trên đường về, Chế Lan Viên viết: "Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi". Hàn Mặc Tử cũng đã từng viết: "Mà vì đâu những tháp Hời kiêu ngạo/Hằng muôn năm sống mãi dưới sương đêm".

    Điều đáng tiếc nhất, là Hàn Mặc Tử, một người rất Tây học, nghiên cứu đủ thứ về văn minh phương Tây, từ thi ca cho đến triết học, lại không chịu tin vào Tây y. Chàng cũng bắt chước theo những người ít học khác khi biết mình bị mắc bệnh phong là tìm một nơi hoang vu vắng vẻ để lẩn trốn chính quyền, lẩn trốn người quen rồi chạy chữa bằng những thứ thuốc của các lang băm. Cho đến cuối cùng, khi đã kiệt quệ sức lực thì mới chịu vào bệnh viện. Và vì thế nên mọi chuyện đã trở nên quá muộn màng.

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 11: Những câu thơ đầy ma lực

    Những năm 1938 - 1939, Tử đau đớn dữ dội bởi bệnh tật, nhưng trước mặt bạn bè chàng cố kìm nén. Chàng chỉ gào thét trong thơ: "Trời hỡi! bao giờ tôi chết đi /Bao giờ tôi hết được yêu vì/Bao giờ mặt nhật tan thành máu/Và khối lòng tôi cứng tợ si", "Tôi vẫn còn đây hay ở đâu/Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu/Sao bông phượng nở trong màu huyết/Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu".

    Lúc này, sau một thời gian chữa chạy bằng đông y, chẳng những căn bệnh phong cùi không thuyên giảm chút nào mà ngược lại còn làm thân thể chàng ngày một tiều tụy đi vì những tác dụng phụ của thuốc.

    Mặt khác, thông tin về việc chàng bị mắc bệnh phong đã đến tai chính quyền địa phương. Do đó, chàng phải liên tục thay đổi chỗ ở để tránh sự truy đuổi gắt gao của Sở Vệ sinh công cộng thành phố Quy Nhơn. Cuối cùng, gia đình tìm thuê cho chàng được một nơi ở khá kín đáo trong khu lao động nghèo nằm bên cồn cát trắng ven biển. Đó là một túp lều tranh mà theo Hoài Thanh kể là rách nát đến độ phải lấy giấy báo và bao thư che những chỗ dột trên mái nhà.  Trong thời kỳ bệnh tật, Tử sáng tác được ba tập thơ là Thơ điên, Xuân như ýThượng thanh khí. Nhưng có điều đặc biệt là, những câu thơ của chàng cứ tiến dần đến chỗ rối rắm khó hiểu theo tiến triển bệnh tật. Nhiều câu thơ đọc lên nghe rất hay nhưng độc giả hầu như không ai hiểu tác giả muốn nói gì. Tuy nhiên, theo lời Quách Tấn thì, điều lạ lùng là dù rối rắm khó hiểu như thế nhưng thơ Tử được người đời chuyền tay nhau đọc thuộc lòng, đọc như đọc kinh, không hiểu gì cũng đọc thuộc làu làu. Như thể thơ của chàng lúc đó có một ma lực gì. Hoài Thanh cũng xác nhận điều lạ lùng này: "Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mặc Tử đâu phải chuyện dễ. Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu, bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vị giáo chủ".

    Chúng ta biết rằng, lúc Hàn Mặc Tử còn sống, chàng chỉ mới xuất bản được mỗi một tập Gái quê vào năm 1936, khi chàng còn khỏe mạnh và có tiền. Còn phần lớn thơ chàng làm ra trong thời kỳ bệnh tật này thì đến với người yêu thơ qua cách người này cho người khác mượn sổ thơ để chép tay. Thơ của Tử không chỉ làm thích thú những cô cậu học sinh trung học vốn mơ mộng mà còn lan tỏa ra nhiều giới khác. Và thật đáng ngạc nhiên, nó còn lay động đến cả giới tu hành. Có một nữ tu trẻ đẹp chừng mười bảy mười tám tuổi ở ngôi chùa Liên Tôn gần đó, vì ái mộ thơ Tử nên đã không ngần ngại căn bệnh phong cùi gớm ghiếc, ghé vào căn chòi để thăm chàng. Về sau chàng đã đưa ni cô vào trong thơ của mình với những tình cảm khá đặc biệt.

    Một điều nữa, không những ma lực có ở trong lời thơ Tử mà còn nằm trong chính con người Tử khi chàng cất giọng đọc thơ. Yến Lan kể: "Nếu ai đã có lần nghe anh ngâm thơ thì mới cảm thấy hết cái cảm giác kỳ lạ lần đầu bắt gặp: nôn nao, nôn nao. Và cộng với lời thơ, gây nên một không khí mông lung. Chúng tôi như bị dồn vào thế giới nào có suối, có đồi, có bóng dáng những cuộc hành hương, và nhạc điệu cung văn, đồng bóng".

    Yến Lan, Chế Lan Viên, Hoàng Tùng Ngâm, Trần Kiên Mỹ... là những người bạn thân thiết thường ghé thăm chàng để an ủi chàng, một tâm hồn quá khổ đau lúc này như chàng viết: "Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh/Hơn hết u buồn của nước mây/Của những tình duyên thương lỡ dở/Của lời rên xiết gió heo may". Bạn bè đã được nghe chàng đọc những vần thơ như chảy ra từ xương tủy. Yến Lan kể tiếp: "Anh đã biến thành những chuỗi dài đau khổ, cao thấp chen nhau như từng tia lửa bùng lên, như mảnh lụa tươi vàng bị xé vụn. Anh đã lấy xác thịt minh họa cho lời thơ. Có khi chúng tôi chảy nước mắt. Còn anh, anh đã thành một người say. Các lần ngâm thơ của anh đều diễn ra như thế vì những bài thơ ấy đều là những bài xót xa nhất. Đặc biệt là hôm anh ngâm bài Thánh nữ đồng trinh Maria. Xáo trộn trong đau thương, còn có nỗi trìu mến hân hoan kỳ lạ".

    Hàn Mặc Tử đã đắm mình trong cái không gian vừa đau thương vừa bay bổng đó để làm ra những vần thơ khiến người đời say đắm cho đến lúc chàng phải bước chân vào trại phong Quy Hòa vào ngày 20/9/1940.

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 12: Cái chết được báo trước

    Căn bệnh phong không phải là căn bệnh có thể làm chết người một cách nhanh chóng. Đó là căn bệnh chủ yếu làm cho con người bị tàn phế. Một bệnh nhân cùng nhập viện với Tử vào lúc ấy, ở cùng phòng bệnh với Tử tên là Nguyễn Văn Xê vẫn tiếp tục sống thêm 55 năm nữa sau khi Tử qua đời, cho đến năm 1995 mới mất. Có lẽ Tử cũng biết điều đó vì anh rể của Tử hồi đó là y tá trong Bệnh viện Quy Nhơn và Tử cũng là người có trình độ hiểu biết cao. Nhưng Tử vẫn luôn luôn nghĩ về cái chết.Tử đã đoán trước được cái ngày mình sẽ ra đi. Trong bài Trút linh hồn chàng viết: "Máu đã khô rồi, thơ cũng khô/Tình ta chết yểu tự bao giờ/Từ nay trong gió, trong mây gió/Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ". Đó là một lời tuyên bố chắc chắn. Từ khi viết bài thơ này cho đến lúc Tử ra đi là khoảng thời gian khá xa và Tử mất là vì bệnh kiết lỵ. Thế nhưng chàng vẫn viết: "Ta trút linh hồn giữa lúc đây/Gió sầu vô hạn nuối trong cây/Còn em sao chẳng hay gì cả/Xin để tang anh đến vạn ngày". Em ở đây là ai? Có lẽ cả Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình lẫn Thương Thương và nhiều hình bóng giai nhân khác. Tất cả những nàng thơ ấy, lúc này đều đã rời xa chàng. Cách đó một thời gian, chàng đã tạm biệt Thương Thương theo lời đề nghị của người anh ruột nàng là Trần Tái Phùng: "Than ơi! Hỡi! Biệt ly chan chứa/Tưởng cùng em vui thú hưởng tiêu dao/Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa/Cả đau thương dồn dập xót tâm bào".

    Lúc này, nhiều câu thơ Tử làm ra cứ như lời tiên tri về cái chết của mình. Đây không phải là đặc điểm của những bài thơ thuộc Trường thơ loạn như đã nói trước đây. Bởi chẳng hạn trong Điêu tàn, Chế cũng có dùng những từ ngữ để chỉ sự chết chóc nhưng tuyệt nhiên ta không thấy bóng dáng thần chết ở đâu mà chỉ là biểu hiện của triết lý thơ điên loạn mà thôi. Còn một số câu thơ Tử viết về cái chết thì lại khác. Ý thơ rất là "gở". Chẳng hạn Tử viết: "Ta còn trìu mến biết bao người/Vẻ đẹp xa hoa của một thời/Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng/Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi".  Khoảng giữa tháng 9/1940, Tử nhắn Quách Tấn từ Nha Trang ra Quy Nhơn gặp chàng. Lúc này chàng đã được làm xét nghiệm và người ta đã phát hiện ra vi trùng Hansen trong cơ thể chàng. Tử di ngôn lại cho Quách Tấn lo giữ gìn tài sản văn chương của chàng, sau này chàng chết đi thì tùy theo đó mà xử lý. Rồi chàng nhập bệnh viện phong. Nhập viện để chữa trị căn bệnh phong nhưng chàng coi như mình sắp đi vào cõi chết. Vì sao vậy?

    Trong Duyên kỳ ngộ, nhân vật Nàng có nói: "Sao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt/Rên không thôi và nức nở cả ban đêm". Quả đúng như vậy thật. Ly biệt và chết chóc luôn có mặt trong thơ Tử vào thời gian sau này: "Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt/Mộng có thành là mộng ở đầu hôm", "Không ai trang điểm má đào/Cho ta say chết đêm nào đêm nay"... Quách Tấn cho biết, viết thư cho bạn, Tử hay nói về cái chết: "Đó là ngưỡng cửa phải bước qua để đi đến cõi vĩnh hằng". Cũng trong vở kịch thơ độc đáo này, có một đoạn thơ làm cho nhiều người ngạc nhiên vì nó rất giống những gì xảy ra sau này. Đó là khi nhân vật Chàng sắp sửa chia tay nhân vật Nàng, đã thốt ra lời than khóc: "Một mai kia ở bên khe nước ngọc/Với sương sao anh nằm chết như trăng/Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc/Đến hôn anh và rửa vết thương tâm". Theo hồi ức của người bạn đồng bệnh Nguyễn Văn Xê của Tử thì Tử mất vào ngày 11/11/1940 trong cô đơn lặng lẽ, không có bất kỳ một người thân nào bên cạnh. Ngay buổi chiều ngày 11/11/1940, tang lễ được tiến hành một cách đơn giản. Nơi Hàn Mặc Tử yên nghỉ nằm bên cạnh con suối, về mùa mưa nước thường dâng đầy bờ. Điều này y như câu thơ trên mà chàng đã viết trước đó rất lâu.

    Chàng đã nằm lại bên "khe nước ngọc" đó cho đến gần 20 năm sau mới được gia đình đưa đi nơi khác. Năm 1959, gia đình Tử cùng với người bạn thân là Quách Tấn tiến hành tìm một mảnh đất khác cho chàng. Sinh thời chàng rất thích cảnh Đèo Son nhưng vì ở đó đang là khu quân sự thuộc chính quyền Sài Gòn nên đành phải tìm đến Gành Ráng. Ngày 13/1/1959, Tử được cải táng về Gành Ráng.

    Như vậy là, một đời thơ dữ dội của nhà thơ có số phận lạ kỳ Hàn Mặc Tử đã kết thúc. Chàng đã được thỏa mãn cái ước ao mà ngày nào vị phó soái của Trường thơ loạn Chế Lan Viên từng viết: "Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo".

    Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ cuối: Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc

    Trong loạt bài này, chúng tôi đã sử dụng bút danh Hàn Mặc Tử cho nhà thơ. Tuy nhiên cũng xin đưa ra đây vấn đề tranh cãi hai bút danh này cho bạn đọc tham khảo. Vì đây là một cuộc tranh cãi thú vị.

    Cho đến nay, những nhà sưu tầm, nghiên cứu, những người quan tâm vẫn phân thành 2 "trường phái" khác nhau: Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử. Vì thế các cuốn sách, bài báo in ra cũng chia làm 2 nhóm: nhóm Mặc và nhóm Mạc.

    Những "đại biểu tiên phong" cho "trường phái Mạc" có thể kể: Giáo sư Hoàng Như Mai, Giáo sư Văn Tâm, nhà sưu tầm Phạm Xuân Tuyển. Phạm Xuân Tuyển đã làm một bản thống kê những tài liệu sử dụng chữ Mạc như sau: Báo Người Mới trong các số chuyên đề về Tử năm 1941, Trần Thanh Mại trong cuốn sách viết về Tử năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam năm 1942, Phó tiến sĩ Phùng Quý Nhâm trên Kiến Thức Ngày Nay số 47, giáo sư Hà Minh Đức trong Tổng tập Văn học Việt Nam số 27, giáo sư Lê Đình Kỵ trong Thơ Mới - Những bước thăng trầm - 1993, giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong tập Thơ tình yêu - 1995, giáo sư Hà Vinh - Khoa tiếng Việt - Đại học Tổng hợp Hà Nội trong Tạp chí Văn Học - 1995, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh - Phó tiến sĩ Trần Đăng Xuyền trong sách Những bài văn hay và khó - 1995...

    Còn những người theo "trường phái Mặc" gồm những ai? Có lẽ hai người quan trọng nhất là Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ và Quách Tấn, bạn thân nhà thơ. Nguyễn Bá Tín đã dùng Mặc trong hai cuốn sách quan trọng của mình, cuốn Hàn Mặc Tử anh tôi - 1991 và Hàn Mặc Tử trong riêng tư - 1994.

    Quách Tấn cũng dùng Mặc trong Bóng ngày qua - 2000. Những người khác có thể kể: Chế Lan Viên trong Tuyển tập Hàn Mặc Tử - 1987, Lữ Huy Nguyên trong Hàn Mặc Tử thơ và đời - 1994, Trần Thị Huyền Trang trong Hàn Mặc Tử hương thơm và mật đắng, Vương Trí Nhàn trong Hàn Mặc Tử - Hôm qua và hôm nay...    Nguyễn Bá Tín cho biết, bút danh Hàn Mặc Tử đã có trước, còn bút danh Hàn Mạc Tử chỉ là bạn bè đặt cho để trêu đùa: "Có nhiều hôm anh ngồi thừ trên chiếc ghế mây, nhìn qua bức mành tre sáo trước cửa, đợi chị Cúc đi ngang qua, trông anh đến thiểu não. Chị Cúc biết điều đó, về sau kể với con gái chị Như Lễ rằng: Nghĩ tội nghiệp anh quá. Bạn bè đến chơi trông thấy anh ngồi buồn bã như kẻ thất tình, nên thường trêu cợt anh là con người sau bức rèm lạnh và gọi đùa anh là Hàn Mạc Tử. Chữ Hàn ở đây có nghĩa là lạnh và chữ Mạc không dấu là bức màn. Hai chữ Hàn Mạc là bức rèm lạnh. Anh chỉ cười, không nói gì, cũng không để ý đến nữa. Mãi về sau khi anh qua đời còn nhiều người vẫn tưởng lầm bút hiệu của anh là Hàn Mạc Tử". Ông Tín cho biết, Tử vốn rất ngưỡng mộ triết gia Mặc Dịch thời Chiến Quốc, nổi tiếng chủ trương thuyết Kiêm ái, nên anh cũng tự nhận thuộc môn phái Mặc Dịch, thương yêu hết mọi người. Chữ Mặc Tử có ý nghĩa là môn đồ Mặc Dịch. Chữ Mạc Tử thì không có ý nghĩa gì. Chữ Hàn Mặc Tử nói lên ý nghĩa một thi sĩ nghèo nàn, nhưng tình thương rộng rãi bao la.

    Quách Tấn thì kể tỉ mỉ hơn và có phần khác Nguyễn Bá Tín. Quách Tấn cho biết, khi mới bước vào làng thơ, Tử lấy bút danh là Minh Duệ Thị. Sau đổi là Phong Trần. Tử nổi tiếng với bút danh Phong Trần nhờ cuộc xướng họa thơ văn lịch sử với Phan Bội Châu. Khi Quách Tấn quen thân Tử, Quách Tấn chê bút danh Phong Trần không hợp với Tử. Vì thế Tử đổi qua bút danh Lệ Thanh. Bút danh này đã gắn chặt với tập thơ Lệ Thanh Thi Tập của Tử. Nhưng được ít lâu Quách Tấn lại chê. Tử lại đổi qua Hàn Mạc Tử. Quách Tấn lại chê nữa. Khi đó Tử nổi nóng. Quách Tấn liền gợi ý: "Đã có rèm thì thêm bóng trăng vào. Hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng?". Nghe vậy, Tử thêm "bóng trăng" là dấu á trên đầu chữ a nên chữ Mạc thành ra Mặc. Từ đó bút danh đổi nghĩa từ kiếp rèm lạnh ra anh chàng bút mực. Bút danh này khiến Tử rất thích và dùng luôn.

    Lời giải thích trên đây nghe cũng thật có lý nhưng mấy chục năm nay vẫn không thuyết phục được những người theo "trường phái Mạc", cho nên cuộc tranh cãi này chưa biết bao giờ kết thúc nếu không tìm được bút tích của chính nhà thơ để chứng minh ai đúng ai sai.

    Đồi Cát Bay Mũi Né

    Kính thưa Quý Khách! Bây giờ xe của chúng ta sẽ chuyển bánh đưa Quý khách vượt qua chặng đường rất đẹp song song với bờ biển khoảng 22km để đến khu du lịch ở Mũi Né- Hòn Rơm, từ trên xe quý vị sẽ thấy vẻ đẹp của biển Phan thiết xen lẫn với những rặng dừa Hàm Tiến thật nên thơ, trữ tình, lãng mạn. Trước khi đến Mũi Né xe của đoàn chúng ta sẽ đi quả xã Hàm Tiến, quý vị sẽ thấy bãi đá Ong Địa nằm ở ven biển với những tảng đá có hình thù ngộ nghĩnh, trông giống như cái bụng tròn, to lớn của Ong Địa vì vậy mà người ta gọi là “Bãi đá Ong Địa”, nơi đây còn có 1 Miếu thờ Ong Địa nằm ở ven biển.

    Đến Mũi Né quý vị không chỉ được ngụp lặn nô đùa cùng sóng biển và làn nước trong xanh xen lẫn với cát biển trắng xoá mà quý vị sẽ cảm nhận được thêm 1 điều lý thú và ấn tượng khi trông thấy thắng cảnh độc đáo nhất của Mũi Né đó là những đồi cát tưởng dài như vô tận mà người dân địa phương gọi là “đồi cát bay” hay “đồi cát di động”. Đây quả là những đồi cát cổ quý giá với những đường cong tuyệt mỹ, những vân cát sống động, những đồi cát vàng mịn xen lẫn với những đồi đất đỏ tươi dưới áng nắng mặt trời tạo nên một bức tranh tuyệt mỹ, nhìn xa trông giống như một đụn rơm vì vậy mà người ta đã gọi nơi đây là Hòn Rơm. Khi đặt chân lên đồi cát quý vị sẽ cảm nhận được sự mênh mông của cát như 1 sa mạc, như lạc vào thế giới chỉ toàn là cát, thiên nhiên ở đây gần như hoang dã, những xoáy cát không 1 dấu chân người và những gốc cây trơ trọi. Quý vị sẽ tận mắt chiêm ngưỡng những đồi cát tuỵêt đẹp luôn thay hình đổi dạng tùy theo ánh sáng, độ gió thổi và những trận mưa, có khi đồi cát bốc lên thành những sóng cát mênh mông, có lúc đồi cát lại lung linh như 1 làn sương mờ ảo. Vào mùa nắng gió bấc thổi cát bay lên liên tục làm biến dạng, không bao giờ gặp lại hình dáng củ. Và từ bao năm qua những đồi cát này đã trở thành đề tài nghệ thuật của nhiều nghệ sỹ nhiếp ảnh. Thời khắc chiêm ngưỡng đồi cát thú vị và hấp dẫn là lúc bình minh ló dạng hoặc lúc hoàng hôn. Từ trên đồi cát quý vị sẽ thấy toàn bộ cảng Mũi Né được bao phủ bởi biển xanh 1 cách hài hoà tạo nên bức tranh hoang sơ và hữu tình mà không nơi nào có được. Tối đến Mũi Né sáng rực hẳn lên bởi đoàn thuyền đánh cá rực sáng choang nối đuôi nhau trải dài hàng chục cây số, có lúc nhìn ra biển quý khách sẽ có cảm tưởng như dưới nước có hàng ngàn ngôi sao sáng.

    Mũi Névề đơn vị hành chánh là 1 phường của thành phố Phan Thiết. Các giả thuyết tại sao vùng này có tên Mũi Né, có người cho rằng: vào mùa gió tây Nam thổi mạnh ở khu vực bãi trước nên những tàu bè đánh cá phải đâu vào bãi sau để tránh gió. Mũi đất để tàu bè tránh gió nên người ta gọi là Mũi Né. Còn 1 già thuyết khác: đêy là vùng đất cuối cùng của người Chăm, nơi đây có 1 công chúa chăm tên Nà Ní đã dựng một cái am nhỏ để sống đến cuối đời mình. Hiện nay cái am đó vẫn còn, người dân ở đây gọi là “Am Bà Giáng” có nghĩa là ‘Bà Trời’.

    Từ năm 1997, Mũi Né có 2 công ty liên doanh: một hợp tác xã và một công ty nước ngoài cùng với 20 cơ sở tư nhân cở vừa và nhỏ hợp thành một mạng lưới khai thác du lịch với nhiều loại hình khá đa dạng như: tắm biển, lái ca nô, lướt ván, lữa trại, trượt cát... phụ vụ cho đủ mọi đối tượng từ người dân bình thường, học sinh, sinh viên cho đến khách nước ngoài.

    Thắng Cảnh Bàu Sen (Bàu Trắng)

    Tại thôn Hồng Lâm, xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình (nằm trong tuyến dã ngoại Hòn Rơm kéo dài). Bàu Trắng là Hồ nước ngọt cách Phan Thiết khoảng 65km về hướng Đông Bắc. Hình thành khá lâu đời, bàu này nằm ở giữa vùng đồi cát mênh mông xen lẫn nhiều khóm cây rừng thấp. Bàu có nhiều bông sen nên cũng có nhiều người gọi là “Bàu Sen”. Dân gian xưa gọi là Bàu Ông, Bàu Bà vì bàu chia làm 2 phần được cách ngăn bằng một ngọn đồi (và con đường đất đá đỏ mới mở rộng băng ngang qua). Nước trong hồ họt và trong. Từ xa nhìn thấy một màu xanh mát dịu phủ lên những đồi cát trắng. Dù là một bàu nước do thiên nhiên tạo thành nhưng vì giữa vùng khô và nước biển mặn, dân gian vẫn tỏ lòng biết ơn do bàu cung cấp nguồn nước quý nuôi sống con người và các loài vật ở đây trong những ngày nắng hạn. Bàu này có nhiều loài cá lớn, hấp dẫn nhân dân trong vùng thả câ, kể cả những người thích đi câu từ xa tìm đến. Sáchxưa viết: “Hồ trắng có 2 hồ, hồ trên và hồ dưới, ở phía Tây Nam huyện Hòa Đa, phía tây Ba Động (địa danh củ, PCS). Hồ trên chu vi 8 dặm lịch, hồ dưới chu vi 22 dặm lịch, nước trong ngọt, bốn mùa không tăng không giảm. Phía Tây Bắc là động cát, phía Tây Nam là chân rừng, trên bờ phía Nam có đền thờ Chúa động”

    Nơi sâu nhất của bàu Trắng là 19m, cạn dầ về phía bờ. Quanh bờ có nhiều bông sen, mùa hè sen nở rộ, tô điểm thêm cho vùng cát trắng những màu sắc rực rỡ. Bàu Trắng là nơi có nguồn nước ngọt tự nhiên duy nhất  ở xã  Hòa Thắng, như một bàu sữa lớn nuôi nhân dân ở vùng này. Từ xa xưa, chung quanh Bàu Trắng có nhiều làng thôn của người Chăm sinh sống, đã sử dụng nước trong hồ. Người Chăm đã dựng đềnn thờ nữ thần Po Nagar về phía Nam Bàu Trắng.  Về sau ngôi đền bị sụng đổ nhưng dấu tích vẫn còn.

    Vào năm 1867, cụ Nguyễn Thông đi ngang qua, thấy cảnh đẹp kỳ lạ, đã gọi là Hồ Trắng, và làm nhiều bài thơ vịnh để ca ngợi, trong đó có bài “Quá Bình Nhơn sa mạc” (qua bãi cát Bình Nhơn) và “Bạch Hồ nhàn hành” (dạo chơi Hồ Trắng). Về nguồn nước mát quanh năm, Bàu Trắng làm dịu đi không khí nóng bỏng của đồi cát mênh mông và làm cho cát ẩm ướt, đi không lún chân, cát ít tung bay như nhiều đồi cát khác, vì thế cả đồi cát ở đây được coi là kỳ diệu, một thắng cảnh tuyệt vời hiếm có, vừa hùng vĩ vừa dịu dàng.

    Đền Thờ Vua Pô – Klong – Mơh-nai

    Kính thưa quý du khách! Theo tín ngưỡng người Chămpa, việc thờ phụng có 2 hình thức cơ sở được thể hiện vào 2 thời kỳ khác nhau có liên quan đến sự thăng trầm của vương quốc này. Nay tỉnh Bình Thuận lưu lại di tích khiến cho  du khách chú ý.

    1.     Từ TK XVIItrở về, người Chămpa lập đền háp cao để thờ, được xây dựng bằng kỹ thuật kiến trúc khá đặc biệt trong đó họ dùng chất kết dính bền chặt thật lạ lùng. Cả ngàn năm sau các nhà nghiên cứu khi khảo sát tìm hiểu phải đau đầu. Song song với kỹ thuật kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật phô diễn tư tưởng cũng được thể hiện một cách tinh vi có giá trị cao, sư kiện ày chứng tỏ người Chămpa cổ có được nền văn minh vượt trội.

    2.     Từ TK XVIIvề sau này, đất nước Chămpa suy yếu, diệt vong kỹ thuật kiến trúc điêu khắc bị thất truyền.

                Nhu cầu thờ phụng theo tín ngưỡng vẫn còn thúc đẩy, người Chămpa không đủ khả năng xây dựng đền tháp nên chuyển cách xây dựng theo kiến trúc đền thờ thấp và rộng sử dụng vật  liệu gỗ, ngói và vôi như người Việt với hình dạng tương đồng với ngôi chùa Việt lúc bấy giờ. Đền thờ vua Pô-Klong_Mơ-Nai tiểu biểu cho lối kiến trúc thờ phụng mới này.

                Đền thờ được người Chănpa xây dựng trên đỉnh đồi cát Lương Bình, xã Lương Sơn về phía Nam cách huyện lỵ Bắc Bình 15km và TP. Phan Thiết khoảng 50km về phía Bắc. Vua Pô-Klong-Mơ-Nai là 1 trong những vị vua cuối cùng của vương quốc Chămpa trước khi vương quốc này tan rã. Ong lên ngôi vào khoảng đầu TKVXVII đến năm 1627 nhường ngôi lại cho con rễ là Pô-Klong-Ga-Hul.

                            Theo các nhà khoa học Pháp lịch sử ChămpaTK XIX đền thờ Ông gồm 5 gian gọi là điện thờ, 5 gian thờ được bố trí theo hình chữ T gồm có 3 dảy 3 gian dùng để thờ phụng. Gian giữa thờ tượng vua Pô-Klong-Mơ-Nai gian bên phải thờ tượng thứ phi người Việt (là công chúa con của 1 vị chúa Nguyễn) cùng một số tượng Kút con của vua và thứ phi. Bên trái là gian thờ bà Hoàng Hậu Chăm Pô-bia-sơn vở cả của vua cùng 1 số tượng Kút con của Bà này. Dãy nhà trước gồm 2 gian lớn để trống dùng làm nơi sửa sắm lễ vật và tổ chức các nghi lễ bên ngoài trước khi vào đền thờ.

                Tượng vua Klong-Mơ-Nai được các nghệ thuật Chăm tạc từ khối đá xanh xá, bằng 1 nghệ thuật điêu khắc tinh xảo pho tượng phô diễn nhà vua đang ngự ở tiền đình đầu đội vương miện trang nghiêm. Đây là 1 trong những pho tượng chăm có kích thước lớn còn tồn tại nguyên vẹn cho đến ngày nay, các tượng hoàng hậu và thứ phi cùng số tượng Kút cũng đều chạm khắc công phu, tỉ mỉ, rất tiếc pho tượng bà thứ phi người Việt bị kẻ gian đập phá mất phần đầu và 1 phần thân. Tượng đã được khôi phục lại những phần hư hỏng. Hàng năm, cá gia đình hậu duệ nhà vua và đồng bào Chăm tổ chức nhiều lễ nghi tại đền thờ. Lớn nhất là lễ hội Katê vào tháng 7 Chăm lịch. Trong lễ hội long trọng này có nghi thức ca múa hát theo truyền thống phong tục tập quán Chăm. Vào dịp lễ này tượng vua được đội vương miện thật bằng vàng, mặc áo đại lễ, tượng hoàng hậu và thứ phi cũng được mặc áo đội mão sau thủ tục “mộc dục”

                Đền thờ vua Pô-Klong-Mơ-Nai đã từng bị cháy vào cuối thế kỷ XIX sau đã được người Chăm khôi phục lại nhiều lần và tiếp tục thờ phụng. Lần khôi phục sau cùng vào năm 2001. đền thờ đã được Nhà Nước xếp hạng di tích lịch sử-nghệ thuật cấp quốc gia năm 1991.

    CỔ THẠCH – CHÙA HANG

    Kính thưa Quý Du Khách!

                Chùa Cổ Thạch cũng gọi là Chùa Hang vì đây là 1 ngôi chùa cổ nằm trong hang động trên đồi núi Cổ Thạch ở độ cao 64m. Đây là 1 danh lam thắng cảnh của tỉnh Bình Thuận, 1 tuyến du lịch thu hút nhiều khách từ thành phố Hồ Chí Minh.

                Đối với các tăng ni phật tử thì Cổ Thạch Tự là 1 ngôi chùa cần phải đến viếng và nằm trong danh sách các chùa phải đi hành hương hàng năm vào dịp đầu xuân. Chùa Cổ Thạch tại bờ biển xã BìnhThạnh cách trung tâm thành phố Phan Thiết 105km về hướng Bắc do thiền sư Bảo Tạng lập trong hang đá vào giữa TK XIX.

                Đường lên chùa được xây bậc, lan can hai bên chùa đắp rồng, trên núi đá nhỏ sát bờ biển có tượng Quán Thế Am, cạnh chùa là bãi đá Cà Được nhiều màu sắc chạy dọc theo bờ biển gần 1km.

                Toàn cảnh xung quanh Chùa Hang thật tuyệt mỹ, có nét buồn man mác quyến rũ những ai muốn thoát cảnh hồng trần. Cổ Thạch là 1 vùng núi đá rộng gồm hàng vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng nguyên khối như ngôi nhà , có tảng giống chiếc bàn đá, nhiều tảng úp chồng lên nhau tạo nên những điểm dã ngoại khá lý thú cho những ai thích khám phá và có máu phưu lưu mạo hiểm.

                Sự yên tĩnh hoang sơ của rừng núi Cổ Thạch là những yếu tố tự nhiên thu hút sự chú ý của những vị chân tu từ nhiều thế kỹ trước. Nhiều am chùa lần lượt hình thành nối tiếp nhau trải rộng trên trên một ngọn đồi bao quát chừng 4ha. Sau cổng tam quan là khu chính điện có những tảng đá dựng cao vút, tiếp theo là nhà Tổ, gác chuông, lầu trống, nhà thiền, từ đường...Mỗi hang ngách có 1 vị trí riêng do các thế hệ nhà sư trước đây và sau này quy định chẵng hạn như: Hang thờ vị Tổ sư khai lập chùa (sư Bảo Tạng) có tượng nhà sư cùng nhiều bài của những nhà sư khác đã góp công lao xây dựng chùa, hang thờ Phật Chuẩn Đề là hang có tượng Phật 18 tay cùng nhiều tượng cổ khác, hang Tam Bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ có kích thước và niên đại khác nhau. Cổ Thạch Tự còn lưu giư nhiều di sản văn hoá lịch sử Hán Nôm như: Liễn, Hoành Phi, Câu Đối và Đại Hồng Chung, Trống Cấm có niên đại từ đầu thế kỹ XIX.

                Hàng chục năm qua Cổ Thạch Tự do hoà thượng Thích Minh Đức trụ trì đã được xếp hạng di tích thắng cảnh cấp quốc gia năm 1993.

    9 kỷ lục của Bình Thuận

    Binh Thuan xac lap 9 ky luc VN

    Mũi Né - nơi có đồi cát thay đổi hình dạng tự nhin nhiều nhất VN.

    Nhân kỷ niệm Ngày Du lịch Bình Thuận (24-10), tối 23-10, tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) đ khai mạc Đêm hội tôn vinh kỷ lục VN và ngành du lịch Bình Thuận do Công ty cổ phần Kỷ lục VIETKINGS tổ chức.

    Đêm hội đã xác lập tỉnh Bình Thuận có 9 kỷ lục VN gồm: “Địa phương có diện tích trồng thanh long nhiều nhất VN”; “Địa phương có nhiều resort - hotel nằm dọc biển nhiều nhất Việt Nam”; “Phan Thiết - địa phương có thương hiệu sản xuất nước mắm đầu tiên tại VN”; Chùa Phật Quang (Phan Thiết) - “Ngôi chùa có mõ gia trì bằng gỗ lớn nhất VN”; "Đồi cát Mũi Né - đồi cát thay đổi hình dạng tự nhiên nhiều nhất VN”; “Bãi đá có hình dạng và màu sắc nhiều nhất VN” - bãi đá Cổ Thạch nằm ở xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong; Công ty cổ phần nước Khoáng Vĩnh Hảo - “Doanh nghiệp đầu tiên nuôi trồng tảo Spirulina ở VN”; “Lễ hội nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân lớn nhất VN” của cộng đồng người Hoa ở TP. Phan Thiết và “Rồng Xanh dài nhất VN” - con rồng có chiều dài 49 mét, màu xanh lá cây, được làm cách đây hơn 100 năm.

    TỔNG QUAN VỀ TỈNH NINH THUẬN

    Ninh Thuận là tỉnh duyên hải nam trung  bộ. Phía bắc giáp Khánh Hoà , tây giáp Lâm Đồng , nam giáp Bình Thuận và đông giáp biển đông.Với diện tích : 3.360 km(2003). Dân số : 546.100 người (2003)

    Tỉnh ly :Thanh Phố Phan Rang. Các huyện :Ninh Hải ,Ninh Phước ,Ninh Sơn , Bác Ái. Các dân tộc :Kinh , Chăm , Hoa , Cơ ho , Raglai. Địa hình có 3 dạng: Miền núi , đồng bằng và ven biển.

    Ninh Thuận nam trong khu vực khô hạn nhất nước, khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là khô nóng , gió nhiều và bốc hơi mạnh nhưng không có mùa đông. Có thể nói Ninh Thuận là tỉnh nóng nhất Việt Nam.khi hậu nước ta là nhiệt đới gió mùa hàng năm chịu ảnh hưởng 2 luồng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam.khi gió Đông Bắc thổi từ phía bắc vào đến đèo Hải Vân thì bị chặn lai nên ko thể mang mưa vào. Còn gió Tây Nam thì thổi từ Vịnh Thái Lan vào duy chuyển ngang qua Ninh Thuận nhưng do địa hình thấp nên ko thể chặn gió lại nên đã duy chuyển đến Lâm Đồng đo có các ngọn núi cao như cao nguyên Di Linh và Cao nguyên Lâm Viên nên đã chắn gió lại và gây mưa ở khu vực này. Vì vậy lượng mưa ở Ninh Thuận hàng năm khoảng 1000 mm/năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.Nông nghiệp được phát triển rất tốt do hệ thống đập Đa Nhim nên các vùng sản xuất chuyên canh nho, tỏi, thuốc lá, bông vải, chăn nuôi gia súc gia cầm. Có các ngư trường lớn nên ngư nghiệp khá phát triễn .Tỉnh Ninh Thuận nằm ngay giao điểm của 3 trục giao thông chiến lược là đường sắc Bắc Nam , Quốc Lộ 1A, Quốc lộ 27 và nằm sát sân bay Thành Sơn cách TP Nha Trang 105 km , Đà Lạt 110 km và TPHCM 350 km.

    Du lịch Ninh Thuận là 1 bức tranh hài hoà giữa đồng bằng đồi núi và biển đang được đầu tư và xây dưng , các điểm du lich như :Ninh chữ, Cà Ná, Tháp cổ Pôklông Giarai……..sẽ đáp ứng các loại hình du lịch : tắm biển ,nghỉ dưỡng , leo núi săn bắn , tham quan.

    Ninh Thuận là mảnh đất có bề dày lịch sử , giàu truyền thống văn hoá mang đậm màu sắc dân tộc , trải  qua bao biến đổi của lịch sử các dân tộc ở nay vẫn gìn giữ và tôn tạo và làm phong phú thêm kho tàng văn hoá nghệ thuật của mình . Các lễ hội như : Katê , Cha bun , Rija Nưga , Jòn Jang , Đền Ơn Đáp Nghĩa Cha Mẹ …

    TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA TỈNH NINH THUẬN

    Ninh Thuận là vùng đất còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác với nhiều điểm du lịch nổi tiếng như: Làng Dệt Mỹ Nghiệp , Tháp Hoà Lai , Bãi Biển Ninh Chữ  , Tháp chàm Pôklông Giarai , Vịnh Vĩnh Hy , Nước suối Vĩnh Hảo …………..

    11    Cái nhất của Ninh Thuận :

    -          Bãi biễn Ninh Chữ ,Cà Ná lá 1 trong 9 bãi được phong là đẹp nhất nước

    -          Vịnh Vĩnh Hy là 1 trong 4 Vịnh đẹp nhất nước : Văn Phong , Vĩnh Hy , Hạ Long…..

    -          Là vùng khô hạn nhất nước ta lượng mưa hàng năm thấp nhất

    -          Tỉnh có đơn vị hành chánh ít nhất

    -          Đồng bào Chăm đông nhất

    -          Có Làng Gốm Cổ Nhất Đông Dương

    -          Diện tích ruộng muối lơn nhất

    -          Đàn cừu lớn nhất

    -          Giống tỏi thơm nhất

    -          Những con đường gần nhau nhất (quốc lộ 1A , xe lửa va đường biễn gần nhau nhất khoảng 5m)

    Với những đặc sản nổi tiếng như : Bánh Xèo Miền Trung ,  Nho , Táo , Tỏi……..

    Ninh Thuận là 1 tỉnh còn rất nhiêu tiềm năng chưa được khai thác và trong tương lai du lịch Ninh Thuận sẽ được đầu tư và sẽ phát triển mạnh mẽ .

    DÂN TỘC CHĂM

    (xem từ trang 40 đến trang 53)

    LỄ HỘI NGƯỜI CHĂM Ở NNH THUẬN

    v  Lễ MiJanưgar: là lễ hội đền bà Ponagar, vào ngày 5,6 tuần đầu tháng giêng lịch Chăm ( khoảng tháng10 dương lịch )

    v  Lễ Po Mbang Yang: là lễ mở cửa đền miếu thần, tổ chức ngày thứ 3 đầu tuần tháng giêng lịch Chăm. Là lễ đầu tiên trong năm cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

    v  Lễ Ban Katê: còn gọi lễ mừng lúa mới, tổ chức khi thu hoạch mùa xong. Là lễ hội lớn nhất của người Chăm, vừa mang tính tôn giáo, tín ngưỡng dân gian liên quan đến sản xuất nông nghiệp, vừa là lễ tổ chức ở các tháp lớn, gồm nhiều lễ vật dâng cúng như: xôi, hoa quả, thịt gà, lễ dâng y ở miếu thờ ( Danok ), ngoài ra còn có ca múa mừng thần trong tiếng nhạc cổ truyền. Sáng hôm sau là lễ hội rước y phục của nhà vua từ miếu thờ lên tháp. Sau đó làm lễ mở cửa tháp, mặc áo cho các tượng vua, và các vũ nữ trong bộ áo cổ truyền trình bày các điệu múa dân gian.

    v  Km 1538: cầu Kiều Liên.

         Có nhiều cát trắng dùng làm thủy tinh, đoạn này thấy xuất hiện dãy núi cát trắng dài hơn 10 km trên một diện tích khoảng 7 km2, trữ lượng hơn 100 triệu tấn. Khu vực này có tên gọi là Thủy Triều nên gọi là cát trắng Thủy Triều, nguồn khoáng sản có giá trị của tỉnh Khánh Hòa.

    qKm 1529: cầu Suối Giang

    qKm 1528: xã Công Hải

    qKm 1525: cầu Cây Đa

    Km 1524: cách Mỹ Thanh: ranh giới tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa. Thuộc xã Cam Thịnh Đông là xã đầu tiên của Khánh Hòa.

    Thưa Quý  du khách còn bây giờ bên phải Quý khách là Làng Dệt Mỹ Nghiệp nổi tiếng của tình Ninh Thuận.

                 Cách thị xã Phan Rang khoảng 7 km về phía Nam. Tại quốc 1A gặp ngã 3 Mỹ Hiệp, tại trung tâm Phước Dân huyện Ninh Phước quẹo phải vào khoảng 3 km. Qua khỏi cánh đồng lúa là đến làng. Người ta dệt theo phương pháp cổ truyền, khung cưởi, con thoi. Sản phẩm là ví tay, ba lô, khăn, chăn, quần áo… bán lẽ tại chỗ và chở về Tp. HCM và các nơi khác để bán. Đây cũng là nghề truyền thống của người Chăm. Ngày xưa họ phải trồng bông, se sợi, nhuộm bằng lá hoặc vỏ cây rừng. Hoa văn chân chó, chim cút, hoa mắt gà, hoa sao… thường thấy ở khăn choàng dây đeo lưng, trang phục phụ nữ. Con chim thần, rồng đất là những hoa văn dành riêng cho các vị chức sắc.

    v  Km 1875: trồng bắp và trồng bông cải

    qTới cầu Giác Đan: rẽ phải vào mũi Dinh ( có ngọn hải đăng )

    qKm 1563: cầu Hộ Tại

    qKm 1562: cầu Bình Quí, xã Long Thành huyện Ninh Phước

    qKm 1558: cầu Đạo Long bắt qua sông Dinh

    qTừ làng Mỹ Nghiệp đi khoảng 7 km về phía Nam là ta đến thị xã Phan Rang.

                 Thưa qúi khách đoàn ta sắp tiến vào Thị Xả Phan Rang.Qúi khách đã trông thấy gì ở hai bên đường không ạ vâng vườn nho trong lịch trình ngày về chúng ta sẽ có dịp ghé vào tham quan vườn nho vậy tôi xin khất lại khi nào chúng ta tham quan tôi se cung cấp cho qúi khách mọi thông tin về trồng và tiêu thị nho ở nước ta. xin giới thiệu với du khách về Thị xã Phan Rang (quê hương của vị tổng thống Nguyễn Văn Thiệu).

                Nằm bên bờ sông Cái, khu vực Phan Rang có nhiều người Chăm sinh sống. Phan rang có đặc sản nho nổi tiếng. Tại trung tâm thị xã có 1 ngã 3 quẹo trái để đi Đà Lạt 110 km. Đồng bằng Phan Rang ngày nay được trù phú là nhờ công trình thủy điện Đa Nhim.

    Thị xã Phan Rang nằm bên bờ sông Cái có khoảng 50.000 người, có đặc sản nho nổi tiếng. Nằm trên giao điểm của 3 trục  giao thông chiến lược là đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 1A, đường số 11 lên Đà Lạt. Phan Rang cách Đà Lạt là 110 km, cách Tp. HCM hơn 350 km, cách Hà Nội là 1832 km.

                  Từ ngã rẽ trái chúng ta đi bên đường Độc Lập ngang thị trấn cũ của Phan Rang gọi là thị trấn Phan Rang Tháp Chàm, hai bên đường có nhiều cơ quan đầu não của Ninh Thuận, nhiều kiến trúc mới hiện đại. Đây cũng là con đường chính của thị xã Phan Rang.

    Từ Phan Rang đến Nha Trang khoảng 105 km ta đi dọc theo quốc lộ 1A. Từ thị xã Phan Rang đi tới khoảng 7 km ta nhìn về phía bên phải trên đồi cao ta thấy 1 tháp Chàm đó chính là tháp Chàm Poklong Giarai. Theo truyền thuyết thì tháp này đặt dưới sự chỉ huy của vua Poklong Giarai trong cuộc thi tài xây tháp với đại thần Pôctam, kẻ không phục vua lúc đó, nhà vua đã thắng trong cuộc thi này. Về sau người dân tộc Chăm tạc tượng Ngài và thờ trong tháp này, từ đó tháp mang tên là tháp Chàm Poklong Giarai.

                 Từ Thị xã Phan Rang theo QL27 đoàn ta sẽ vào khu du lịch Suối Nước Nóng Mỹ Á. Thuộc xã Ninh Tân, huyện Ninh Sơn ,tỉnh Ninh Thuận.Nằm cạnh QL27

                 Đây là nhà máy khai thác và chế biến nước suối. Nguồn nước khóang là mạch ngầm được khai thác tự nhiên , cách phía sau nhà máy khoảng 5km trong khu rừng, cách ly với khu dân cư để bảo đảm tính vệ sinh. Du khách vào đây có thể tắm nước nóng trong những hồ lớn trong xanh , nhiệt độ khoảng 3500c , một điểm du lịch khá lý tưởng , ở đây còn có nhà hàng ăn uống lịch sự, nghỉ ngơi hít thở không khí trong lành.

    Km 1561 : Ngã 3 Cà Đú, có trạm cân xe và núi Cà Đú.

    Km 1548:khu tháp Hoà Lai.

    Tháp Hòa Lai

    Tháp Hòa Lailà một trong những cụm tháp cổ Chăm Pa, gồm có ba tháp hiện nằm ở làng Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Được đánh giá là một trong những di tích cổ nhất và đẹp nhất hiện còn.

    Tháp Hòa Lai là một khu di tích lớn, nằm trên vùng đất cao nhất của một cánh đồng dài và rộng ở phía bắc thành phố Phan Rang–Tháp Chàm, cả khu di tích được xây dựng trong một khoảnh đất chữ nhật kéo dài theo hướng đông – tây, dài 200 mét, rộng 125 mét. Ngoài ba ngôi tháp, còn vết tích của nhiều kiến trúc phụ khác như tường gạch bao phía đông, tháp cổng, gian nhà dài ở khu sân ngoài và nhiều công trình nhỏ khác nhau

    Tháp trung tâm hiện chỉ còn phần thân và một bộ phận của tầng thứ nhất nhỏ hơn hai ngôi tháp hai bên, nhưng lại được xây dựng cẩn thận hơn và còn giữ lại nhiều hình trang trí hơn, theo các nhà nghiên cứu vào cuối thế kỷ 19, người Pháp và quan chức địa phương đã cho phá phần trên của tháp trung tâm để lấy gạch lát con đường cái quan tức là quốc lộ 1 bây giờ đi qua đó. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, tháp trung tâm đã bị sụp đổ luôn tầng thứ nhất chỉ còn lại phần nền

    So với tháp trung tâm, tháp phía bắc cao hơn về mặt bằng và về chiều cao, cũng như tháp trung tâm, phần nền của tháp bắc được trang trí tương tự. Riêng về tháp nam, so với ba ngọn tháp thì đây là tháp lớn nhất và còn nguyên vẹn nhất, tuy nhiên một số chi tiết trang trí trên mặt tường đang còn ở dạng phác thảo, về cơ bản tháp nam giống với hai tháp kia nhưng lại khác ở điểm trong cách bố cục và trang trí các chi tiết, các trụ ốp được đặt gần nhau hơn và mặt giữa trụ ốp hẹp hơn, cửa giả rộng hơn nhưng lại không có hình người đứng bên trong

    Ba ngôi tháp còn lại ở Hoà Lai, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu mỹ thuật, là những kiến trúc tháp thành công nhất, đẹp nhất của Chăm Pa. Toàn bộ thân tháp là một khối lập phương khoẻ nhô lên từ một phần bệ vuông và đỡ cả một hệ thống các tầng nhỏ hơn. Trang trí hoa văn bên ngoài mặt tháp chỉ giới hạn ở vòm cửa, ở các trụ ốp, ở bộ diềm mái. Trang trí ở tháp Hoà Lai vừa mang tính chức năng - nhấn mạnh ấn tượng cho các thành phần cấu trúc đỡ vừa phô bày vẻ đẹp của các hoa văn

    Yếu tố đặc trưng tiêu biểu nhất của tháp Hoà Lai là những vòm cửa tò vò trùm lên trên cửa ra vào, các cửa giả và các ô khám của các tầng, vành của cửa vòm được phủ kín bằng những hoa văn hình là cuộn, vọt ra từ miệng của quái vật Kala trên đỉnh. Khoảng tường giữa hai trụ ốp cũng được phủ bằng các hình chạm khắc hoa lá. Phần trên của từng và bộ diềm mái là một hoa văn tràng hoa chạy dài và hình các thần điểu Garuda đang xoè cánh. Một trong những nét rất đặc biệt của tháp Hoà Lai là tường tháp không thẳng đứng mà lại hơi choãi ra về phía trên

    Tháp được xây dựng ở thế kỷ 9, trong giai đoạn phong cách Hoà Lai, hiện là một trong những cum tháp Chăm cổ nhất hiện còn

    CHÙA TRÙNG SƠN

    Chùa Trùng Sơn tọa lạc trên núi Trùng Sơn, tục danh là núi Đá Chồng. Vào đầu thế kỷ thứ 19, Tổ sư Huệ Khánh ở chùa Phước Quang tỉnh Phú Yên vào khai sơn với cơ sở chủ yếu dựa vào các yếu tố của hang đá thiên nhiên có sẵn. Thời gian sau Hòa Thượng Trí Thắng từ Phú Yên vân du đến thôn Dư Khánh được Hòa Thượng Chơn Niệm cung thỉnh lưu lại chùa Trùng Khánh cùng hành đạo, Hòa thượng tìm đến chùa Trùng Sơn lập thất tịnh tu.

    Do quá trình hành đạo, trước sự khẩn thiết yêu cầu, thỉnh nguyện của thiện nam tín nữ Phật tử nên Hòa Thượng Trí Thắng rời chùa Trùng Sơn về sáng lập chùa Thiên Hưng làm cơ sở để hành đạo. Từ thời gian này trở đi chùa Trùng Sơn vắng bóng trụ trì và chịu sự quản lý xem như một chi nhánh của chùa Trùng Khánh. Kế đó Tổ đình chùa Trùng Khánh đã cung thỉnh Hòa Thượng Trùng Chơn hiệu Tín Trung tiếp tục công việc trù trì tại chùa. Sau khi Ngài Trùng Sơn viên tịch được xây tháp thờ tại khuôn viên phía Nam chánh điện. Kế đến Ngài là Ngài Phạm Dõi pháp danh Tâm Mạnh. Sau đó, Ngài Tâm Mạnh viên tịch chùa thiếu hẳn Tăng trụ trì, Tổ đình Trùng Khánh phải quản lý trông coi cho đến năm 1993 mới mời được Đại đức Thích Thiện Thọ, pháp danh Tâm Trường, thế danh Nguyễn Văn Cừu chính thức về đảm nhiệm công việc trụ trì. Vì vắng bóng trù trì quá lâu nên ngôi chùa bị xuống cấp trầm trọng. Đại đức Thiện Thọ đã vận động Phật Tử đứng ra tiến hành trùng tu lại ngôi chánh điện vào năm 1995, đến năm 1996 tiếp tục xây dựng hậu Tổ và năm 1997 tiến hành xây dựng các tịnh cốc và hồ chứa nước. Qua quá trình tôn tạo, ngôi chùa đã phần nào trang nghiêm, hội đủ các yếu tố của ngôi già lam thắng tích.

    Cấu trúc không gian chánh điện được xem là khu vực trung tâm nhất. Với không gian Phật điện được tôn trí Tam Thế gồm : Di Đà, Quan Âm, Thế Chí bằng xi măng nhủ vàng đứng, phần dước tôn trí tượng Bổn Sư theo thế ngồi tĩnh tọa.

    Phía sau Phật điện là hậu Tổ với bàn thờ tôn trí tượng Bồ Đề Đạt Ma Tổ sư, các long vị của Chư Hòa Thượng trụ trì hữu công. Hai bên là bàn thờ Tiên linh, các Phật tử quá vãng được ký tự tại chùa. Phía trái chánh điện là tháp của cố Hòa thượng đệ tam trụ trì và phía phải chánh điện là phòng khách, phòng tăng và trai đường. 

    Đi theo từng bậc thang, ta sẽ bắt gặp các tịnh thất được tận dụng từ các bọng hang do thiên nhiên kiến tạo, từ đó mở tầm nhìn rộng tòan bộ không gian vùng ven biển Ninh Thuận, thu vào trong tầm mắt là biển Ninh Chữ, kia là Đầm Nại và hòn Đỏ Mỹ Tân ẩn hiện, mới thấy hết vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên ban phát cho Ninh Thuận.


     

    Chùa Trùng Sơn là một trong những thắng tích đẹp của Ninh Thuận nối liền với cụm du lịch Ninh Chữ cần được quan tâm và tôn tạo. Có như thế chúng ta mới khai thác một cách triệt để khả năng tiềm ẩn du lịch của vùng biển Ninh Hải đang còn nhiều tiềm năng phong phú và độc đáo, chưa thật sự được chú ý phát triển./.
     

    Vịnh Vĩnh Hy

    Vịnh Vĩnh Hy nằm cách trung tâm thị xã Phan Rang - Tháp Chàm 42 km theo hướng đông bắc, thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải (Ninh Thuận). Đầu năm 2000, khu du lịch vịnh Vĩnh Hy được đưa vào khai thác, đến nay được đánh giá là tuyến du lịch sinh thái lý tưởng nhất khu vực Nam Trung Bộ.

    Trước khi vào vịnh, du khách sẽ được tận mắt ngắm cảnh hoang sơ quyến rũ của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa, nơi có hệ sinh thái rừng khô hạn đặc trưng hiếm thấy nhất ở nước ta với nhiều sinh vật phong phú và tận hưởng bầu không khí trong lành của núi rừng ở độ cao hơn 1.000m so với mặt biển. Từ đỉnh núi này, nhìn về hướng đông, vịnh Vĩnh Hy vẫn còn vẻ đẹp nguyên sơ mà thiên nhiên đã tạo nên, được ví như một nàng tiên nằm yên ắng bình lặng, được các dãy núi hùng vĩ bao quanh, che chở.

    Đưa du khách chinh phục vịnh Vĩnh Hy là những chiếc tàu du lịch được thiết kế rất độc đáo. Đáy tàu làm bằng một loại kính trong suốt. Du khách chỉ cần ngồi trên tàu chiêm ngưỡng những rặng san hô nhiều màu sắc rực rỡ như những cánh hoa dưới lòng đại dương. Tại đây, có rất nhiều bãi dừng chân. Trước tiên là bãi Bà Điên, du khách có thể vừa tắm biển, vừa thử sức mình leo lên những vách núi uy nghiêm. Và đến bãi Đá Tròn, du khách có thể tự mình sưu tập những đồ vật lưu niệm miễn phí từ thiên nhiên, đó là những viên đá nhiều màu sắc bị sóng biển xói mòn trông rất lạ mắt... Càng đi sâu vào vịnh, du khách còn có dịp chứng kiến những cánh tay khỏe khoắn của ngư dân tung lưới đánh bắt cá thu, giống cá đặc trưng khu vực miền Trung và hưởng niềm vui tự tay thả mồi cho những con tôm hùm sinh sống trên các bè trôi.

    Đêm xuống, nhìn ra vịnh, ngọn đèn sáng nhấp nhô từ những chiếc tàu đánh cá của ngư dân, trông xa xa như một thành phố trên biển. Khách du lịch có thể nghỉ ngơi trên các nhà sàn, vui chơi, nhảy múa và thưởng thức rượu cần cùng bà con dân tộc Raglai sống quanh vịnh Vĩnh Hy

                Vườn quốc gia Núi Chúa

    Vườn quốc gia Núi Chúalà một vườn quốc gia tại huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam được thành lập vào năm 2003 theo Quyết định số 134/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 9 tháng 7 năm 2003

    Vườn quốc gia Núi Chúa thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, giáp với tỉnh Khánh Hòa. Ở vị trí cực đông của Nam Trung Bộ, nơi tiếp giáp giữa vùng Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, có toạ độ từ 11°35'25" đến 11°48'38" vĩ bắc và 109°4'5" đến 109°14'15" kinh đông, giới hạn phía bắc là ranh giới giáp tỉnh Khánh Hòa. Nếu dựa trên địa hình tự nhiên cả quần thể vùng núi thì ranh giới phía bắc phải đến 11°52'27" tại Mũi Xốp thuộc Hòn Một ngay cửa vịnh Cam Ranh, như vậy chiều bắc nam sẽ là khoảng 33km và tổng chiều dài đường bờ biển sẽ đến 57 km.

    Khu vực Núi Chúa có ba mặt giáp biển. Ngay phía bắc là phần dưới của vịnh Cam Ranh thuộc xã Cam Lập thành phố Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa, Phía đông và nam là biển Đông với các xã Vĩnh Hải và Nhơn Hải thuộc huyện Ninh Hải. Phía nam là đầm Nại, phía tây giới hạn bằng chính quốc lộ 1A.

    VQG Núi Chúa nằm trong miền Trường Sơn Nam thuộc địa đới Kontum, có tuổi địa chất cách đây hàng triệu năm, được cấu tạo chủ yếu trên nền địa chất vững chắc của khối magma xâm nhập và phún xuất xen kẽ nhau với 3 loại đá mẹ đặc trưng là: Andelit, đá Liparit (Riolit) và Granite chiếm chủ yếu ở khu vực này. Ở ven rìa khối núi là trầm tích đệ tứ nguồn gốc biển và đầm lầy biển. Trên cơ sở nền đá mẹ này, quá trình phong hoá hình thành đất có các loại đất chính như sau:

    • Đất bạc màu trên đá Magma acid và cát: Có hầu hết ở các vùng đồi, núi thấp, phân bố ở độ cao dưới 700m. Loại đất này được hình thành trên sản phẩm của đá mẹ magma acid và cát nên đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng, có nhiều kết von và đá ong trong đất cũng như trên mặt, có độ chua cao, dể thoát nước và nghèo chất dinh dưỡng. Trong quá trình phong hoá bào mòn thì đây chính là loại đất dễ xói mòn và rửa trôi nhất trong khu vực và là một trong những nguồn cung cấp sản phẩm cát tích tụ ở chân đồi núi.
    • Đất xám nâu vàng bán khô hạn: Có phân bố ở vùng bán sơn địa, cũng được hình thành trên đá mẹ magma acid và phù sa cổ thuộc vùng khí hậu khô hạn. Đất có màu xám đen đến nâu xám, có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mặt có nhiều sỏi sạn và đá lộ đầu (tỉ lệ đá lộ đầu có nơi tới 50-60%), hàm lượng dinh dưỡng thấp, chua, khô. Nhóm đất này phân bố chiếm gần hết diện tích của khu núi chúa, có thành phần cơ giới nhẹ, đất khô, lẫn nhiều đá.
    • Đất vàng đỏ trên đá mẹ magma acid: Phân bố ở nhiều độ cao khác nhau, nhưng thường tập trung nhiều ở vùng núi cao > 700 m có độ chia cắt và độ dốc lớn, tầng đất khá dày, có thành phần cơ giới nhẹ, chua, nghèo mùn và chất dinh dưỡng và khả năng giữ nước kém.
    • Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Phân bố ở các vùng sườn, dông, đỉnh vùng đồi, núi có độ dốc lớn, đất bị bào mòn, rửa trôi mạnh, tầng đất mỏng < 50 cm, tỉ lệ đá lẫn và lộ đầu khá cao (từ 50-70%), nghèo chất dinh dưỡng, chua và khô, thảm thực vật rừng nghèo nàn (chủ yếu là cỏ và cây bụi,...). Phân bố rìa đông bắc.
    • Đất cát: phần ven biển phía đông nam và đông còn có đất cát điển hình vùng ven biển, phân bố dọc bờ biển, kéo dài từ phía bắc xuống phía nam, trừ những đoạn có núi ăn lan ra biển, tạo thành những bãi cát có diện tích khá lớn.
    • Đất phù sa: Phân bố hẹp, chỉ có ở một số suối lớn, địa hình bằng phẳng như ở suối Đông Nha ở phía tây nam và ở Vĩnh Hy, xã Vĩnh Hải. Đất không được bồi tụ, phẫu diện đất chưa phân hoá thành các tầng đất rõ rệt.
    • Đất mặn đầm lầy: Phân bố khu vực quanh đầm Nại, xung quanh núi Quít xã Tri Hải.

    Trên phạm vi khu vực nhỏ, về mặt địa mạo thì khu vực VQG Núi Chúa thuộc dãy núi khối tảng vòm Núi Chúa, kéo dài theo huớng bắc đông bắc-nam đông nam, giới hạn về phía nam là đứt gãy Krongpha - Phan Rang, phái tây bởi đứt gãy Cam Ranh - Phan Rang. Khối núi này là kết quả của hoạt động kiến tạo nâng tạo núi nhiều lần thời kỳ Miocene và Pliocene. Hoạt động nâng tạo vòm và san bằng ở các thời kỳ khác nhau đã tạo nên các bậc địa hình gần giống như bậc địa hình ngày nay. Với các bề mặt san bằng Miocene giữa ở độ cao khoảng 850-1040m, Miocene muộn 700 - 850m, Pliocene sớm 500 - 650m, Pliocene giữa 300 - 350m và Pliocene muộn 150 - 200m. Các bề mặt này phát triển bao quanh bề mặt Miocene giữa gần như ở trung tâm, thấp và trẻ dần theo các hướng. Khối núi này, sau pha nâng đầu Miocene muộn, vẫn tồn tại như một đồng bằng đồi cao khoảng 170 - 200m, cho tới Pliocene giữa, khối núi đã đạt độ cao 600-650m, và các pha nâng sau đó đã đưa độ cao thêm 300-400m nữa. Kèm theo các hoạt động nâng thì khối núi cũng bị bóc mòn mạnh và lộ ra các khối đá xâm nhập như khối đá xâm nhập thuộc phức hệ Cà Ná. Cho tới nay các quá trình xâm thực, đổ lở và bóc mòn vẫn còn đang phát triển mạnh.

    Ở phạm vi rộng hơn, cho cả vùng Phan Rang liền kề thì Phan Rang thuộc kiến trúc hình thái kiểu đồng bằng tích tụ rìa vòng tân kiến tạo.. Đồng bằng được hình thành từ kết quả của sụt lún kèm theo bóc mòn, là nơi giao nhau của các hệ thống đứt gãy Cam Ranh-Phan Rang, Krongpha-Phan Rang, địa hình bị hạ thấp và bóc mòn nhiều. Giới hạn phía bắc chính là khối Núi Chúa. Xem xét tổng thể thì khu vực Phan Rang bị giới hạn xung quanh bởi các khối núi tảng cao hơn hình thành một dạng bồn trũng khép kín chỉ hở ra mặt phía Đông là biển. Từ các hoạt động tân kiến tạo hình thành địa hình ngày nay ở các khu vực lân cận VQGNC và tại ngay khu vực Núi Chúa, về mặt địa hình, VQGNC có các đặc điểm sau đây:

    • Khu vực Núi Chúa là một khối núi khá liền lạc, nhìn từ ảnh vệ tinh thì Núi Chúa có hình dạng như một con rùa có đầu quay về phía Nam, đuôi là phần nhô ra của mũi Xốp thò vào vịnh cam Ranh như đang từ biển bò lên đất liền. Khối núi này có nhiều đỉnh ở các độ cao khác nhau, mà đỉnh cao nhất là đỉnh núi Cô Tuy có dộ cao 1.039m.
    • Địa hình thấp dần từ trung tâm ra, phần phía bắc và tây có độ dốc lớn hơn phía nam và phía đông. Phía tây và tây nam địa hình bị chia cắt do có các khối núi nhỏ tạo thành các thung lũng sườn núi theo hướng đông bắc-tây nam; còn phía bắc, đông và đông nam địa hình ít bị chia cắt, thấp dần từ đỉnh núi ra biển
    • Địa hình có độ cao dưới 300m: phân bố phía đông và nam và các khu vực ở phía bắc giáp biển, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc dưới 200.
    • Địa hình có độ cao từ 300-700m: phân bố phía tây và tây nam, địa hình bị chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng và sườn vách dốc trên 200, cho đến 350.
    • Địa hình có độ cao trên 700m: phân bố phần trung tâm, có nhiều đỉnh núi ở các độ cao khác nhau, bị ngăn cắt bởi các thung lũng, có độ dốc từ 200 đến 400.

    Xa hơn về phía tây nam là đồng bằng nhỏ Phan Rang, bao bọc xung quanh bởi các khối núi cao. Cả khu vực Núi Chúa-Phan Rang gần như hình thành dạng địa hình lòng chảo, ngăn cách ở phía bắc, tây và nam là các khối núi có địa hình cao trên 500m cho đến trên 1000m. Ở hai đầu phía bắc và nam bị chặn lại bởi các khối núi ăn lan ra biển có cao độ trung bình 500-700m.

    Khu vực VQG Núi Chúa nằm lọt hoàn toàn trong khu vực khí hậu ven biển miền trung thuộc vùng khí hậu Nam Trung Bộ với đặc điểm là khô hạn cao trong toàn bộ chế độ mưa-ẩm, mà đặc điểm này liên quan đến vị trí bị che khuất của vùng này bởi các vòng cung núi bao bọc phía bắc, tây và nam với hai luồng gió mùa chính. Trong vùng khí hậu khô hạn này thì khu vực Phan Rang được coi là trung tâm khô hạn nhất nước, với lượng mưa trung bình năm dưới 700mm, có những năm dưới 500mm.

    Mùa mưa ở khu vực này đến muộn so với các vùng khác và kết thúc cũng sớm hơn, bắt đầu khoảng tháng 9 - 10 và kết thúc khoảng tháng 12. Gió mùa Đông Bắc không ảnh hưởng nhiều đến khu vực nên không cung cấp thêm lượng ẩm vào mùa gió mùa đông bắc, còn gió mùa Tây Nam vào mùa mưa thì lại bị các khối địa hình cao hơn ở vị trí bên trong hứng gần hết lượng ẩm mà gió mùa tây nam mang lại và chỉ có tác dụng vào gần cuối mùa gió mùa Tây Nam. Do vị trí tiếp giáp như vậy lượng mưa tại khu vực Núi Chúa có thể đạt xấp xỉ 1000mm hoặc hơn so với trung tâm khô hạn Phan Rang-Mũi Dinh chỉ đạt 650-750mm/năm.

    Châe độ nhiệt của khu vực mang những nét đặc trưng của chế độ nhiệt miền Nam, không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 260C, nhiệt độ tháng lạnh nhất không xuống thấp hơn 230C (cho địa hình thấp, đồng bằng) (Bảng 3.1), nền nhiệt độ các tháng trong năm khá ổn định theo kiểu chuyển tiếp khí hậu xích đạo – nhiệt đới. Các yếu tố cực trị về nhiệt có thể thấy qua các trị số cực tiểu như nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể đạt 14-150C ở đồng bằng và giảm thêm theo độ cao.

    Độ ẩm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên nên độ ẩm trung bình chỉ khoảng 80%, trong các tháng mùa mưa thì cũng chỉ đạt khoảng 85%, trong các tháng mùa khô, độ ẩm tối thấp tuyệt đối có thể xuống dưới 20-25%.

    Theo Luận chứng Khoa học của VQG Núi Chúa (4), tính toán các chỉ số nhiệt và mưa hàng tháng thì khu vực này có 9 tháng khô, 4 tháng hạn và 2 tháng kiệt và được xếp vào loại khô hạn nhất ở Việt Nam. Chỉ số khô hạn X = 9 . 4 . 2

    Hệ thống dòng chảy – thủy văn: Với địa hình là một khối núi nhỏ độc lập như vậy nên hệ thống thủy văn sông suối trong khu vực này có đặc trưng là dòng chảy ngắn, nhỏ và lưu lượng thay đổi theo mùa, diện tích lưu vực cho từng dòng chảy không lớn.

    Nhìn chung khu vực VQGNC không có suối lớn, chỉ có một số suối nhỏ, ngắn đến mùa khô gần như không có nước. Các suối có dòng chảy đáng kể như suối Nước ngọt, Suối Nước giếng, Suối Kiền Kiền, suối Đông Nha, suối Lồ ồ, suối Đá. Các suối trên đều bắt nguồn từ trên núi cao chảy ra biển đông.

    ·         Suối Đồng Nha : bắt nguồn từ phía nam Núi Chuá chảy xuống đầm Nại, qua địa bàn các xã Phương Hải, Tri Hải và Nhơn hải, chiều dài = 11km, diện tích lưu vực =37 km, dòng chảy chuẩn qo = 0,193 ¬m3/giây.

    ·         Suối Nước Ngọt 3: bắt nguồn từ núi Ông, núi Chúa Anh, diện tích lưu vực = 33,7 ha dòng chảy chuẩn qo = 0,115 m3/giây và lưu lượng wo = 5,52.106 m3.

    ·         Suối Kiền Kiền : bắt nguồn từ Núi Chúa chảy về hướng tây thuộc địa bàn xã Lợi Hải. diện tích lưu vực = 22 km2, dòng chảy chuẩn qo = 0,115 m3/giây, lưu lượng wo = 3,63.106 m3.

    ·         Suối Nước Ngọt 1 : ( bãi cấp ) bắt nguồn từ phía bắc Núi Chúa chảy về hướng đông ra biển Bình Tiên ở bãi Cấp, diện tích lưu vực = 19,5 km, dòng chảy chuẩn q0 = 0,102 m3 /giây, w0 = 3,22.106m3.

    Ngoài ra trong vùng đệm còn có một số sông suối nhỏ khác, có lưu lượng không đáng kể, về mùa khô hầu như khô kiệt không có nước.

    Thủy văn: Do địa hình hiểm trở, độ dốc cao 10 – 25o nên đã hình thành hệ thống suối trong vùng với mật độ khe suối 0,7km/km2. Trong khu VQG có các suối với diện tích lưu vực nước lớn như: Suối Nước Ngọt, Suối Kiền Kiền, Suối Đông Nha.

    Hầu hết các suối trên đều bắt nguồn từ các khu vực núi cao chảy ra biển Đông. Ngoài ra, VQG Núi Chúa có khoảng hơn 40 km bờ biển trong đó có một số bãi cát và cồn cát nhỏ, và có một hồ nước nhỏ trên núi Đá Vách, ở gần biển khu vực Vĩnh Hy có nước ngọt tồn đọng quanh năm, là nơi có khá nhiều thực vật thân thảo, cây bụi và động vật: thú, lưỡng thê, bò sát sinh sống.

    Thủy triều trong khu vực mang tính bán nhật triều không đều, trong ngày có hai lần triều lên và hai lần triều rút. Độ lớn của thuỷ triều trong kì nước cường khoảng 2 – 3,5m.

    Sóng biển: Từ tháng 1 – 4: Hướng thịnh hành là Tây – Tây Nam, độ cao trung bình 1 – 1,1m, cực đại khoảng 2m; Từ tháng 10 – 12: Hướng thịnh hành là Đông Bắc, độ cao trung bình khoảng 1,2m, cực đại khoảng 2,5m. Nhiệt độ trung bình của nước biển trong các tháng trên 250C, Độ mặn trung bình của nước biển từ 31 – 33%.

    Tháp Po Klong Garai

    Tháp Po Klong Garailà tên gọi chung cho một cụm tháp Chàm hùng vĩ và đẹp nhất còn lại ở Việt Nam. Tháp Pô Klong Garai là một tổng thể gồm ba tháp: tháp chính (cao 20,5m), tháp lửa (cao 9,31m), tháp cổng (cao 8,56m). Công trình này có trình độ kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc đạt đến đỉnh cao. Tháp đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1979.

    Tháp Poklong Garai nằm trên đồi Trầu, thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thành phố Phan Rang-Tháp Chàm 9km về phía Tây Bắc, được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 (thời vua Shihavaman, người Việt gọi là Chế Mân) để thờ vua Po Klong Garai (1151-1205), vị vua đã có nhiều công lớn trong việc cai trị đất nước.

    Có một truyền thuyết liên quan đến tháp Poklong Garai kể rằng ngày xưa ở Play Chakling[1] có hai ông bà tên Ôn Paxa và Muk Chakling dù đã cao niên nhưng chưa có con. Một lần ra biển mò cua bắt ốc ông bà thấy có một đứa bé đang trôi trên bọt nước bèn đem về nuôi và đặt tên là Karit.

    Karit lớn lên trở thành một cô gái xinh đẹp, nết na nên được nhiều người quý mến. Một hôm, Karit cùng cha vào rừng hái củi. Trời nóng nực, hai cha con khát nước nhưng chung quanh lại không có sông suối. Bỗng Karit thấy một tảng đá bên trên đọng ít nước trong, liền đến uống. Lạ thay nàng uống đến đâu nước trong đá tràn ra đến đó. Nhưng khi nàng đi gọi cha đến uống thì chẳng thấy giọt nước nào.

    Sau dạo đó Karit có thai và rồi sinh ra một cậu bé đã xấu xí lại rất hắu ăn. Ông bà đặt tên cho cậu là Jatol. Karit không chịu nổi lời đàm tiếu là gái chửa hoang nên bỏ đi để con lại cho ông bà nuôi. Đứa bé càng lớn càng xấu xí, mình lại đầy ghẻ chốc nên chẳng mấy đứa chịu chơi chung. Khi ông bà mất, cậu cũng vừa khôn lớn. Cậu cùng bạn là Po Klonchanh đi buôn trầu. Một hôm trên đường về, Jatol thấy mệt nên nghỉ ở tảng đá bên đường. Pô Klonchanh về trước rồi đem cơm ra cho bạn. Khi trở lại Pô Klonchanh thấy có hai con rồng trắng đang liếm mình Jatol. Po Klonchanh chạy đến thì hai con rồng biến mất và lạ thay Jatol đã trở thành một thanh niên tuấn tú, khôi ngô khác thường. Điềm lạ đó dần lan ra khắp miền và rồi đến tai vua Nuhol, người đang quản thủ Iaru[2]. Được biết Jatol sẽ là một vị thiên tài xuất chúng, vua Nuhol cho vời Jatol đến. Thấy đúng như lời đồn đại vua đã giữ Jatol lại và gả công chúa Thakol cho.

    Năm 1167, vua Xulika ở thành Balcribanơi[3] băng hà mà không có người nối ngôi. Biết Jatol là một nhân tài, quần thần đã cho voi trắng rước về nối ngôi. Jatol lên làm vua, xưng là Po Klong Garai. Sau 5 năm, ông dời đô ra Bal Hangâu. Bấy giờ, Panduranga[4], quê hương của ông bị quân Chân Lạp thường xuyên đánh phá. Pô Klong Garai phải mang quân vào Panduranga tiếp sức và dẹp loạn. Theo sử liệu Chăm thì vào năm Sửu, Chăm lịch, vua Po Klong Garai từ Balcribanơi vào Panduranga xem địa thế để xây tháp kỷ niệm thuở hàn vi của mình. Khi đến vùng Balhul thì bị tướng Hakral người Miên đang cai quản hạt này ngăn cản. Vua Po Klong Garai không muốn xảy ra cuộc đổ máu vô ích nên thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xây xong trước sẽ thắng. Biết khó đánh thắng vua Pô Klong Garai bằng sức mạnh quân sự, Hakral đã chấp thuận. Vua Po Klong Garai xây tháp trên đồi Balhla, còn tướng Hakral xây ở vùng Balhul[5]. Kết cục, bên vua Pô Klong Garai hoàn thành trước, tướng Hakral thua cuộc đành rút quân về.

    NINH THUẬN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU

    Nguyễn Văn Thiệusinh tháng 11 năm 1924 (âm lịch) nhưng để phù hợp với phong tục thường dùng của người Việt Nam cho thêm ngày tháng vào ngày sinh với ý nghĩa điều này sẽ có may mắn hơn[1] nên đổi thành 5 tháng 4 năm 1923, tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, huyện Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận, trong một gia đình chủ đất nhỏ, sinh sống bằng nghề đánh cá ven biển[2] Ông có hai người anh: Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Văn Kiểu. Nguyễn Văn Hiếu thời Đệ nhị Cộng hòa được bổ làm đại sứ ở Ý còn Nguyễn Văn Kiểu làm đại sứ ở Đài Loan.[3]

    Học hết lớp 9 ở quê nhà ông lên Sài Gòn để học nghề ở Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị. Sau đó, ông Thiệu được người anh cả Nguyễn Văn Hiếu giúp đưa vào học trong một trường dòng của Pháp[1] trường công giáo La Mã Pellerin tại Huế. Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ông hoàn thành khóa học và quay trở về nhà. Trong ba năm Nhật Bản chiếm đóng, ông làm ruộng cùng với cha mình. Quan điểm của ông Thiệu về chủ nghĩa dân tộc ngày càng gia tăng cùng với sự bại trận của Nhật Bản và sự quay lại của quân đội PhápĐông Dương[2].

    Binh nghiệp

    Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945, ông tham gia lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh đứng đầu[2][1][4]. Ông cùng các đồng chí của mình được huấn luyện trong những khu rừng trống bằng gậy tre vì họ không có súng trường. Năng lực quản lý của ông sớm được công nhận, sau đó được bổ nhiệm trở thành một người đứng đầu huyện[2]. Nhưng sau chưa đến một năm, ông bắt đầu thất vọng, "Tôi biết rằng Việt Minhcộng sản, trả lời trong một cuộc phỏng vấn, ông nói: "họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai" [4]. Ông bí mật vào Sài Gòn, với sự giúp đỡ của anh trai Nguyễn Văn Hiếu ông được nhận vào học Trường Hàng hải.[1] Sau một năm, ông được phong hàm sĩ quan, nhưng ông từ chối làm việc trên một con tàu khi phát hiện ra những ông chủ người Pháp có ý định trả lương cho ông thấp hơn lương của tất cả sĩ quan Pháp. Ông đã hoàn toàn từ bỏ ý định về một cuộc sống trên biển. Rồi Nguyễn Văn Thiệu chuyển đến học khóa đầu tiên tại Trường Sĩ quan Việt Nam, sau trở thành Trường Võ bị Đà Lạt[2]. Tháng 6 năm 1949, ông tốt nghiệp với quân hàm Thiếu úy, tham gia binh nghiệp trong lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Cùng năm đó, ông đến Pháp học ở Trường bộ binh Coetquidan.

    Trong những trận đánh chống lại Việt Minh, ông Thiệu nhanh chóng kiếm được danh tiếng vì sự dũng cảm và có năng lực chỉ huy [2]. Với chính sách chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam nên người Pháp điều ông ra Bắc.

    Năm 1951, ông kết hôn với con gái của một người hành nghề y thành đạt gốc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Thị Mai Anh. Bà là một tín đồ Công giáo Roma. Sau đó ông đã cải đạo, theo tôn giáo của vợ.[1] Ông bà Thiệu có ba người con: một gái, Nguyễn Thị Tuấn Anh và hai trai, Nguyễn Quang Lộc và Nguyễn Thiệu Long.

    Năm 1954, với quân hàm thiếu tá và chỉ huy một tiểu đoàn, Nguyễn Văn Thiệu đã dẫn đầu một cuộc tấn công vào ngôi làng quê hương mình, nổ mìn đánh bật lực lượng Việt Minh ra khỏi ngôi nhà ông đã từng trải qua tuổi thơ. [2].

    Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1955 ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với quân hàm Trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Đến năm 1962, ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh, hàm Đại tá.

    Tham gia đảo chính và trở thành quốc trưởng

    Năm 1963, ông tham gia lực lượng đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính, ông được phong hàm Thiếu tướng.

    Khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện "chỉnh lý", nắm quyền lãnh đạo chính quyền, ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng sau đó được cử giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng. Năm 1965, ông được thăng Trung tướng. Cũng năm này, chính phủ của Thủ tướng Phan Huy Quát đã giải tán và trao quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Hội đồng Quân lực. Hội đồng tướng lĩnh đã bầu ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương. Ông trở thành quốc trưởng và tướng Kỳ trở thành thủ tướng của chính phủ mới.

    Thành lập Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam

    Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quan sát bản đồ Đông Á

    Năm 1967, dưới sự hậu thuẫn từ phía Mỹ và lực lượng đảng Dân chủ do chính ông thành lập, Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm tổng thống, tuyên bố thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam, với 38% số phiếu. Ông giữ chức này cho đến khi chính thể Đệ nhị Cộng hòa sắp sụp đổ vào cuối tháng 4 năm 1975 (Xem Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975). Thời kỳ này chính phủ Việt Nam Cộng Hòa càng lệ thuộc vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nhiều hơn cả chính phủ tiền nhiệm của Ngô Đình Diệm. Ông đã tập trung quyền lực vào ngành hành pháp trong khi làm suy yếu quyền lập pháp của quốc hội.

    Năm 1969, Tổng thống Thiệu kêu gọi hòa bình bằng cách đề nghị bầu cử bao gồm cả lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng phó Tổng thống Kỳ đã cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào để Liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều rất nguy hiểm. [5] Cũng trong năm này, Nguyễn Văn Thiệu đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở tòa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa ra Bắc để đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[6]

    Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống. Sau cố gắng bất thành của Nguyễn Văn Thiệu trước kia nhằm gạt hẳn Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi cuộc đua, trong kỳ này Dương Văn Minh rút lui không tham gia tranh cử và Nguyễn Cao Kỳ cũng từ chối ra tranh cử nên cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên. Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu đạt được 94% số phiếu.[7]

    Năm 1973, sau khi ký kết Hiệp định Paris, Mỹ triệt thoái hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam. Một thời gian ngắn sau đó Hoa Kỳ cũng cắt giảm hầu hết các kinh phí viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khiến khả năng quân sự của chính quyền bị suy giảm nặng. Tháng 3 năm 1975, sau khi Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột) bị quân đội chính qui miền bắc đánh chiếm và quân đội miền nam phản kích thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra lúng túng rồi quyết định rút bỏ Cao nguyên Trung phần. Sai lầm chiến lược đó đã đưa đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi các tỉnh Tây Nguyên và bị Quân giải phóng miền Nam tấn công gây thiệt hại nặng. Sau đó các tỉnh duyên hải miền Trung cũng thất thủ.

    Vài tuần cuối cùng trước khi cuộc chiến kết thúc, ông Thiệu lui vào trong dinh tổng thống ngày càng nhiều hơn, ngày càng ít nói chuyện với các cố vấn hơn, ngay cả với cố vấn cao cấp Mỹ người mà ông đã duy trì trong nhiều năm hiếm khi thấy ông trong những ngày tháng tư. Trước khi ông từ chức, một quan chức cấp cao mỹ đã hỏi tổng thống phản ứng thế nào trước những thất bại của quân đội, ông nói: tôi biết nên làm thế nào đây?. Khi các lực lượng quân sự của Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng Miền Nam Việt Nam sắp giành được chiến thắng, ông từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, 9 ngày trước khi Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện. Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay làm tổng thống.

    Lưu vong

    Đêm 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. Khi ông rời bỏ đất nước ra đi, khắp Sài Gòn, từ dân chúng đến giới báo chí lúc đó xôn xao tin đồn rằng Nguyễn Văn Thiệu đã đem theo 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia ra nước ngoài. Sau đó, ông đến Anh định cư. Ông sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại và qua đời vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.

    Vào năm 1992, ông đã lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng ít lâu sau ông lại có ý muốn tham gia vào các cuộc thảo luận hòa giải dân tộc, điều này đã làm một số người cực đoan tức giận [2], còn tướng Trần Văn Đôn nhận xét qua hồi ký của mình (xuất bản năm 1997) thì ông Thiệu là người thức thời với chủ trương đối thoại với người trong nước.

    VƯỜN NHO PHAN RANG

    Nholà một từ để chỉ loại quả mọc trên các cây dạng dây leo thân gỗ hoặc để chỉ chính các loài cây này. Các loài cây này thuộc về họ Vitaceae. Quả nho mọc thành chùm từ 6 đến 300 quả, chúng có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ-tía hay trắng. Khi chín, quả nho có thể ăn tươi hoặc được sấy khô để làm nho khô, cũng như được dùng để sản xuất các loại rượu vang, thạch nho, nước quả, dầu hạt nho. Trong tiếng Trung, nó được gọi là葡萄(bồ đào) và khi người ta nói đến rượu bồ đào tức là rượu sản xuất từ quả nho.

    Tuy nhiên, các loài nho dại lại bị coi là một loại cỏ dại gây nhiều phiền toái, do chúng che phủ các loài thực vật khác với tốc độ tăng trưởng rất nhanh của mình.

    Nho bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ Lepidoptera phá hại - xem thêm tại Danh sách các loài cánh vẩy phá hại nho.

    Hiện có rất nhiều loài nho đang tồn tại, chúng bao gồm:

    ·         Vitis vinifera, loài nho dùng để sản xuất rượu vang ở châu Âu. Có nguồn gốc ở châu Âu lục địa.

    ·         Vitis labrusca, loài nho dùng để ăn tươi và sản xuất nước nho tại Bắc Mỹ, đôi khi cũng dùng để sản xuất rượu vang. Có nguồn gốc ở miền đông Hoa KỳCanada.

    ·         Vitis riparia, loài nho hoang dại ở Bắc Mỹ, đôi khi được dùng sản xuất rượu vang hay làm mứt. Có nguồn gốc ở miền đông Hoa Kỳ, kéo dài về phía bắc tới Quebec.

    ·         Vitis rotundifolia, nho muxcat hay nho xạ, được sử dụng làm mứt và rượu vang. Có nguồn gốc ở miền đông nam Hoa Kỳ, từ Delaware tới vịnh Mexico.

    ·         Vitis aestivalis, giống Norton (AKA Cynthiana) được dùng để sản xuất rượu vang.

    ·         Vitis lincecumii(còn gọi là Vitis aestivalis hay Vitis lincecumii), Vitis berlandieri (còn gọi là Vitis cinerea thứ helleri), Vitis cinerea, Vitis rupestris: Được sử dụng để lai ghép nhằm tạo ra các giống nho chống chịu bệnh, dưới dạng thân ghép (thân rễ).

    ·         Vitis arizonica, một loài nho vùng sa mạc ở miền tây nam Hoa Kỳ, chịu được sự chênh lệch nhiệt độ lớn. Có thể dùng sản xuất rượu vang.

    ·         Vitis californica, một loài nho quan trọng đối với công nghiệp sản xuất rượu vang của California vì các thân ghép của chúng có khả năng chịu dịch bệnh và thời tiết lạnh. Có nguồn gốc ở CaliforniaOregon.

    ·         Vitis vulpina, loài nho chịu sương muối. Có nguồn gốc ở vùng Trung Tây nước Mỹ kéo dài về phía đông tới vùng bờ biển thuộc bang New York.

    Hiện nay, người ta đã tạo ra nhiều giống nho để trồng; chủ yếu là các giống của V. vinifera.

    Các loài nho lai ghép cũng tồn tại, chủ yếu là lai ghép giữa V. vinifera và một trong các thứ (biến chủng) của V. labrusca, V. riparia hay V. aestivalis. Các giống lai ghép có xu hướng ít nhạy cảm với sương muối và dịch bệnh (đáng chú ý là các loài rệp hại rễ nho), nhưng rượu vang sản xuất từ chúng có thể có mùi vị chua đặc trưng của labrusca.

    Diện tích trồng

    Theo số liệu của FAO, 75.866 km² trên thế giới được dùng để trồng nho. Khoảng 71% sản lượng nho được dùng sản xuất rượu vang, 27% để ăn dưới dạng quả tươi và 2% làm nho khô.

    Cánh đồng nho

    Danh sách dưới đây liệt kê 11 quốc gia sản xuất rượu vang nho hàng đầu thế giới với diện tích trồng nho tương ứng cho việc sản xuất rượu vang:

    ·         Tây Ban Nha 11.750 km²

    ·         Pháp 8.640 km²

    ·         Italy 8.270 km²

    ·         Thổ Nhĩ Kỳ 8.120 km²

    ·         Hoa Kỳ 4.150 km²

    ·         Iran 2.860 km²

    ·         Romania 2.480 km²

    ·         Bồ Đào Nha 2.160 km²

    ·         Argentina 2.080 km²

    ·         Trung Quốc 1.780 km²

    ·         Australia 1.642 km²

    Nguồn: FAO, Organisation Internationale de la Vigne et du Vin (pdf), Australian Wine and Brandy Corporation.

    Rượu vang đỏ

    Các nhà nghiên cứu, chẳng hạn như Marty Mayo, đã so sánh khẩu phần dinh dưỡng ở các quốc gia phương Tây và đã phát hiện ra rằng mặc dù người Pháp có xu hướng ăn nhiều chất béo động vật hơn, nhưng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở người Pháp lại khá thấp. Họ gọi hiện tượng này là nghịch lý‎ Pháp. Nhiều người cho rằng nguyên nhân là người Pháp tiêu thụ nhiều rượu vang đỏ hơn. Các chất có trong quả nho đã làm nồng độ cholesterol trong cơ thể thấp hơn và vì thế làm chậm lại quá trình tích lũy trong động mạch. Các hợp chất như resveratrol (chất chống ôxi hóa polyphenol) đã được tìm thấy có trong nho và chúng có liên quan đến việc phòng chống ung thư, các bệnh tim mạch, làm suy hóa các bệnh liên quan đến thần kinh và các bệnh tật khác. Các bác sĩ không khuyến cáo dùng nhiều rượu vang đỏ, nhưng việc sử dụng từ 3-4 cốc trong một tuần là có lợi cho sức khỏe và được khuyến khích [cần chú thích].

    Mặc dù nhiều người nhận thức một cách sai lầm rằng các loại nho đỏ là có lợi hơn cho sức khỏe, trên thực tế tất cả các loại nho có màu khác cũng đem lại các lợi ích đáng kể. Tuy nhiên, rượu vang đỏ đem lại một số lợi ích cho sức khỏe mà không thấy có ở rượu vang trắng, do nhiều chất có lợi cho sức khỏe được tìm thấy ở lớp vỏ quả nho, mà chỉ có vang đỏ mới được lên men bằng cả vỏ quả.

    Một nhận thức sai lầm khác là người ta cho rằng rượu vang trắng được sản xuất từ các giống nho có vỏ màu xanh. Trên thực tế, nó có thể được sản xuất từ bất kỳ giống nho nào. Vang đỏ được sản xuất từ các giống nho vỏ đỏ, nhưng sự tạo màu là kết quả của việc thêm cả vỏ vào trong quá trình ngâm ủ (lên men).

    Các loại nho khô

    Nho khôlà bất kỳ loại quả nho được làm khô nào. Nho khô Zante (currant) hay còn gọi là nho Hy Lạp, là nho khô của vùng Zakynthos, tên gọi này là sự sửa đổi sai lạc của từ trong tiếng Pháp raisin de Corinthe (nho Corinth). Nho sultana (nho xuntan) nguyên thủy là nho khô sản xuất từ một giống nho không hạt có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng hiện nay nó được dùng để chỉ bất kỳ thứ nho khô nào được xử lý‎ bằng hóa chất để giống như nho sultana truyền thống.

    Chất chiết từ hạt nho

    Hạt nho có chứa các procyanidolic oligomer, viết tắt là PCO. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận là các PCO củng cố các mạch máu và cải thiện sự lưu thông máu. Các chất chiết từ hạt nho có thể giúp chống lão hóa, giảm các bệnh tim mạch, cản trở các tế bào ung thư, giảm bớt các triệu chứng dị ứng và trạng thái căng thẳng của mắt cũng như giúp phòng chống một số bệnh da liễu. Trong các nghiên cứu gần đây, các chất chiết từ hạt nho cũng có chức năng giảm bớt xellulit (một chứng bệnh do mỡ lồi ra hạ bì, tạo thành các vệt lồi lõm trên da) và hạ thấp mức cholesterol và huyết áp. Các chất chiết từ hạt nho có ở ba dạng sau: lỏng, viên nén và viên nang.

    Nho không hạt

    Nho không hạt là một đặc điểm được đánh giá cao khi đem dùng ở dạng quả tươi và các giống không hạt hiện nay đã chiếm một tỷ lệ áp đảo trong số các giống nho trồng để ăn quả tươi. Do việc trồng nho có thể bằng các cành giâm, cho nên việc không có hạt không tạo ra vấn đề cho việc tái sinh sản nho. Tuy nhiên, nó là vấn đề cho những người nhân giống, họ hoặc phải sử dụng các giống có hạt làm cây mẹ hoặc lấy ra các phôi mầm từ sớm trong quá trình phát triển bằng các kỹ thuật nuôi cấy mô.

                Con dê

                Trong các vật nuôi thì dê là loài có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị biểu tượng cao. Nó thể hiện vai trò gần gũi và quan trọng, tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng, tích cực tới đời sống văn hóa của người Việt Nam.

                Do được thuần dưỡng từ rất sớm, sử dụng phổ biến, liên tục, lâu dài, mang giá trị vật chất đa dạng và mật thiết, nên dê cũng tạo ra giá trị tinh thần phong phú, ảnh hưởng sâu rộng đến tâm linh và đời sống văn hóa nghệ thuật của người Việt Nam. Nó là một trong sáu con vật nuôi thông dụng nhất (lục súc: dê, gà, chó, lơn, ngựa, trâu) và một trong ba thứ lễ vật đặc biệt để cầu cúng, tế dâng thần thánh (tam sinh: dê, lơn, bò). Trong sự kết hợp thiên can với địa chi để tính thời gian và chu kỳ phát triển, dê nhập hệ can chi 12 con vật, là biểu tượng chi Mùi – một chi quan trọng, mang những ý nghĩa triết lý và nhân văn sâu sắc. Giờ Mùi kéo dài từ 13 – 15h, thời gian mở đầu buổi chiều, con người vừa ăn trưa xong, đang thanh thản nghỉ ngơi và sung mãn bước vào tuổi lao động mới (giờ Mùi là theca dê bởi sau khi cỏ lá bị dê ăn thì vào giờ này cũng có sức tái sinh mạnh nhất). Tháng Mùi là tháng 6 âm lịch, thời tiết sáng sủa nhất trong năm, cây cối tươi tốt, ra hoa kết trái nhiều nhất, và con người cũng vừa thu hoạch xong vụ chiêm, dồi dào sinh lực. quan niệm xưa cho rằng người sinh năm dê (tuổi Mùi) thường mưu trí, nhiệt tìn, năng động, tài giỏi, thành đạt và gặp nhiều may mắn, hạnh phúc trong đời.

                Câu ca dao: “Người ta tuổi mùi

    Riên tôi ngậm ngùi mang lấy tuổi thân”

    Ngôn ngữ là nền tảng của đời sống tinh thần và văn hóa con người. trong ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh dê xuất hiện khá đa dạng, sinh động, hấp dẫn và đầy ngụ ý. Chúng ta gặp “dê” (dương) ở nhiều lĩnh vực ngôn từ: tự nhiên và xã hội, lý thuyết sách vở và giao tiếp thực tiện. “Máu dê” ở nhiều lĩnh vực ngôn từ: tự nhiên và xã hội, lý thuyế sách vở và giao tiếp thực tiễn. “Máu dê” thể hiện bản tính thích chinh phục người khác giới…con dê mạnh nhất sẽ là dê đầu đàn, được quyền với tất cả “tam cung lục viện”, được quyền truyền lại giống khỏe mạnh.

                Dê vốn được dùng phổ biến làm thực phẩm và dược liệu nên tên nó cũng được đặt cho nhiều loài thực vật – nhất là những cây trồng để ăn và chế thuốc: cây tiết dê, cỏ móng dê, cà dái dê, cây sừng dê, dương tử ô, dương đề, tỏa dương,… thực ra dê rất ngây thơ hiền lành và đem lại nhiều lợi ích vô cùng. ở những xứ lạnh miền núi xa xôi, nếu không có thịt dê, sữa dê, áo da dê, người ta không thể qua mùa đông. Một số làn gmạc nhỏ ở vùng núi tuyết cao, dê còn được ngủ cạnh người để truyền sức nóngh cho người trong những đêm đông giá rét đệm rơm, không đủ ấm.

                Chuyên Bá Lý Hề với năm tấm da dê là một câu truyện không thể bỏ sót khi nhắc tới giá trị bất ngờ của năm tấm da dê: Bá Lý Hề người nước Ngu, làm chức Đại Phu. Nước Ngu bị nước Tần diệt, Hề bị bắt. vì không chịu làm nô lệ, Hề đi tốn, lại bị nườc Sở bắt. Hề phài làm việc chăn bò. Tần Mục Công biết Hề là ngưười có tài muốn đem vàng bạc châu báu chuộc ông để mời giúp việc nước. Có người can rằng: Đừng nên đem trọn lễ để chuộc, làm như vậy thì vua Sở sẽ biết Bá Lý Hề  là người tài giỏi, tội gì mà thả ra. Vua Sở sẽ dùng tài của Bá Lý Hề làm cho nước mạnh dân giàu. Chi bằng ta đem một ít lễ vật rất nhỏ gọi là cho có vậy thôi. Như vậy vua Sở sẽ nghĩ ông ta không có giá trị mấy mà thả cho về.

                Tần Mục Công nghe lời, đem 5 tấm da dê xin chuộc. Vua Sở thấy lể vật đạm bạc, cho rằng giữ anh chàng ấy, cũng chẳng làm được tích sự gì, nên nhận lễ vật thả người. Tần Mục Công chuộc được Bá Lý Hề đem về, phong ngay làm Tướng Quốc và ông Tướng Quốc này làm cho nước Tần thành giàu mạnh một thời và được mệnh danh là “Ngũ Cổ Đại Phu”, nghĩa là ông Tướng Quốc năm bộ da dê.

                Ba loại dê chính là Sơn Dương, Miên Dương và Linh Dương. Trong dân gian, khi nói đến dê, phần nhiều để chỉ Sơn Dương. Thời kỳ giao vĩ từ mùa thu cho đếnb kập xuân tháng tư, dê đẻ từ một đến 4 con. Dê con độ hai tháng bắt đầu rời mẹ và chỉ một năm sau là trưởng thành. Thịt dê ăn bổ, sữa dê tốt hơn sữa bò . Lông dê dùng làm bút lông, da dê chế biến găng tay, ví và nhiều vật dụng khác. Giống Sơn Dương, Miên Dương nguyên thủy hoang dại nhưng về sau thành dê nhà, dê nuôi nên chủng loại biến hóa rất nhiều. Tùy địa phương thủy thổ  mà biến dạng, nhưng nước nào cũng có giống dê đặc biệt riêng của địa phương mình.

                Riêng về giống Linh Dương có sừng đen, nhọn, cong ra đằng sau, rất cứng, đẹp, được coi là một vị thuốc quý để chữa lui cơn sốt. Dê là giống vật cho con bú. Dê con lúc bé hay quỳ gối dưới bụng mẹ để bú, người xưa cho là một động vật biết tri ân, biết cảm tạ mẫu ân. Vì thế, lúc làm lễ cúng tế thiên địa quỷ thần người ta hay tế dê là để tỏ lòng báo đáp ân huệ của Trời Đất, tạo hóa.

                Dê thuộc hỏa tính dương, vì thế lúc mùa đông gá rét, người miền núi thích ăn thịt dê để chống khí lạnh. Thịt dê quý hiếm, giá đắt nên có kẽ gian tham đánh lừa bán thịt chó giả làm thịt dê để được giá cao. Vì thế mới có câu “Treo đầu dê bán thịt chó”. Dê rất sợ nước, sợ mưa và sợ ẩm ướt. Nếu chuồng dê không cao ráo sạch sẽ thì dê hay bị chứng bệnh phong thấp và chết ngất. Theo Trung Y, người ốm hoảng hốt thất thần, sùi bọt mép, la hét như dê kêu gọi là chứng “dương vựng” hay bị trúng Dương Điều Phong”.

                Xưa nay, dê vẫn được coi là con vật tốt. Chữ Tường trong “Kiết Tường” là may mắn tốt đẹp cũng do chữ Dương biến hóa. Trong tôn giáo, đạo Cơ Đốc hình dung loài người rất dễ bị lạc đường, cũng giống như cừu, dê và phải được cảm hóa bằng tôn giáo, để cho con chiên lạc nẻo biết lối trở về, nên đạo Gia Tô tự xưng là kẻ chăn chiên.

                Trong Trung Dược có vị thuốc “Dương Ai” sinh ra trong dạ dày của dê, hình tròn, lớn nhỏ khác nhau, không nhất định. Truyền thuyết nói rằng vật ấy do dê ăn Bách Thảo mà kết thành nên cũng được gọi là “Bách Thảo Đơn”

                Theo sách tướng, người tuổi dê rất nho nhã , hiền lành. Có việc gì cũng làm chu đáo nếu cần. Có chí cầu tiến, giao thiệp dễ dãi. Tính nhẫn nại, lắm khi kiên cường và không lộ, nên nếu chỉ nhìn bề ngoài  rất dễ lầm . Trong hôn nhân, tuổi Dê  kỵ tuổi Tý (chuột), Ngưu (trâu), Tuất (chó), mà thích hợp với tuổi Não n(mèo), Hợi (heo). Theo mệnh tướng học thì trong ngũ quan “Dương nhãn” là mắt dê, nghĩa là tròng hơi đen có lẫn ít vàng nhạt, thần không rõ. Những người có mắt dê này dù nhận gia tài để lại cũng không hưởng thụ được. Tuổi già nghèo khổ, nên phải cần tu tâm dưỡng tánh. Người có “Dương Khẩu” là mồ dê, có 2 vành môi mỏng dính, khóe môi trễ xuốngh. Lúc uống nước táp như chó là tường bần tiện và hung ác> “Hồ Dương Tỵ” là mũi dê lớn. Lan Đài Đình Úy cũng lớn. Sơn căn không lộ thì sống lâu, giàu có của cải rất nhiều. Sách Châu Công giải mộng nói rằng, mộng thấy dê lợn cắn nhau là khẩu thiệt, mộng thấy giết dê là hung, mộng dê mẹ đẻ dê con là đại kiết.

                Chuyện xưa kể lại rằng: Ông Bái Công khi còn làm chức nhỏ, nằm mộng, thấy đuổi theo một con dê bẻ sừng và đuôi dê đứt rời khỏi mình dê. Tỉnh dậy nhờ người đoán chiết tự giải rằng: chữ Dương là dê bỏ hai sừng và đuôi đi, còn lại là chữ Vương, nghĩa là Vua. Về sau, Bái Công khởi binh đánh Tần, diuệt Sở, lên làm Vua tức là vua Hán Cao Tổ.

                Ở nước ta, ăn thịt dê xuất phát từ thời Nguyễn Hoàng, sau một lần thắng trận, đã khao quân binh, đãi tướng bằng thịt dê. Nhưng tại sao là thịt dê? Theo tài liệu để lại, khi hành quân Nguyễn Hoàng luôn đem theo một đàn dê vì cho rằng dê dễ quản lý, dễ nuôi ở những vùng đất khô cằn, tuy ăn kham khổ, nhưng sữa dê vẫn là nguồn cung cấp dinh dưỡng quý giá cho người già, trẻ em, người bệnh.. Và đạc biệt là khi trộn sữa dê với mật ong hoặc cây chuối hột giã nhuyễn trị được vết phỏng do súng đạn gây ra.

                Đến thời vua Minh Mạng, nhà vua cho xây dựng hệ thống các món thịt dê theo 3 nhóm: nhã thực, thanh thực và tẩy thực.

                Ngày xưa, trước khi làm thịt dê 2, 3 ngày, người ta cho dê ăn thang thuốc “Dương Xuân” hoặc cho Dê uống rượu, rồi cùng nhau rượt đánh cho dê ra mồ hôi rồi làm thịt sẽ không còn mùi hôi của dê nữa. Ngày nay, theo dân hay ăn thịt dê cho rằng: dê ở Phan Rang là ngon nhất. Người ta chọn những con dê  có màu nâu từ ức trở xuống đến lông chân và dê từ 9 – 11kg là lý tưởng nhất.

    VỊNH VĨNH HY – BÃI BIỂN BÀ ĐIÊN

    Vịnh Vĩnh Hy là một điểm du lịch lịch sinh thái lý tưởng mới được phát hiện, là một trong bốn vịnh đẹp nhất Việt Nam. Vịnh là một phẩm vật trời đất ban tặng, với các dãy núi cao chót vót, những hang động kỳ bí, với làn nước trong xanh của biển cả, còn mang đậm nét hoang sơ. Nằm cách bãi biển Ninh Chữ 40km đường ô tô. Qua cầu Tri Thủy ngược hướng Đông Bắc. Băng qua những cánh đồng muối, đến với vườn quốc gia Núi Chúa, là khu rừng chịu hạn nhất khu vực Đông Nam Á, với những đoạn đèo quanh co phong cảnh không thua kém gì Đèo Ngoạn Mục.

                Quý khách sẽ lên tàu tại Vịnh Vĩnh Hy khởi đầu cho chuyến thám hiểm. Sau 15” đi tàu du lịch khách có cảm giác lạc vào vùng sóng nước kỳ bí, vách đá sừng sững như còn nguyên vẹn, uy nghiêm, thần bí như những câu chuyện thần thoại đang ẩn phía bên trong hang động. Đến khu vự Đầm Đăng là nơi ngư dân Vĩnh Hy tập trung đánh bắt cá Thu ảo (giống cá đặc trưng chỉ có ở miền Trung).

                Nếu Quý Khách tham quan bằng tàu đáy kính, với hình dáng thanh thoát, nhẹ nhàng, chứa đầy gió biển mang lại cho du lịch khách cảm giác thoải mái khi xem san hô Vịnh Vĩnh Hy. Tại Khu Bảo Tồn biển Vĩnh Hy có 307 loài san hô quý hiếm đặc biệt tại đây có 50 loài san hô mới được phát hiện ở Việt Nam, hình thành một thế giới san hô đủ màu sắc và được xếp vào trong những vùng có nhiều chủng loại san hô nhất khu vực Đông Nam Á và được bào vệ nghiêm ngặt. Tàu đưa Quý Khách đến bãi Bà Điên là điểm dừng chân của chuyến thám hiểm. Đây là bãi tắm tuyệt đẹp, những con sóng chỉ lăn tăn vỗ vào bờ cộng với nước biển trong xanh. Chung quanh được bao bọc bởi các dãy núi đá, những phiến đá nhấp nhô có thể ngả lưng hoặc ngắm biển từ trên cao.

    Các dịch vụ ở Ninh Thuận ( Mã đt 0683):


    1. Khách sạn Sài Gòn Ninh Chữ

    Địa chỉ: Thị trấn Khánh Hải, Ninh Hải, Ninh Thuận

    Điện thoại: 3876000 Fax: 3876008

    3.     Khách sạn Ninh Thuận

    4.     Địa chỉ: Đuờng 21 tháng 8, Tp. Phan Rang Tháp Chàm, Ninh Thuận

    5.     Điện thoại: 383 6712/ 382 7100 Fax: 3822 142

    6.     3. Khách sạn Cà Ná

    7.     Địa chỉ: Bãi biển Cà Ná, H. Ninh Phước, Ninh Thuận

    8.     Điện thoại: 3861 320/ 3861 616 Fax: 3863 120

    9.     4. Nhà hàng Hoa Thiên Lý

    10.  Địa chỉ: 19 - 20 Hải Thượng Lãn Ông, Tp. Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận

    11.  Điện thoại: 822 242

    12.  5. Nhà hàng Phương Nam

    13.  Địa chỉ: 279 Ngô Gia Tự, Tp. Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận

    14.  Điện thoại: 823 920

    15.  6. Khách sạn Hồ Phong

    16.  Địa chỉ: 363 Ngô Gia Tự, Tp. Phan Rang-Tháp Chàm, Ninh Thuận

    17.  Điện thoại: 920333 Fax: 837717

    18.  7. Khách sạn Thống Nhất

    19.  Địa chỉ: 343 Thống Nhất, Tp. Phan Rang Tháp Chàm, Ninh Thuận

    20.  Điện thoại: 3822 943 Fax: 3827 201

    21.  8. Khách sạn Hữu Nghị

    22.  Địa chỉ: 398 Thống Nhất, Tp. Phan Rang Tháp Chàm, Ninh Thuận

    23.  Điện thoại: 3920 434/ 383 6405 Fax: 3920 43

    24.  9. Cty Du lịch Ninh Thuận

    25.  Địa chỉ: 626 Thống Nhất, Tp. Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận

    26.  Điện thoại: 3836 405/ 3822 721 Fax: 3820 091/ 822 722

    27.  10. Cơm gà Ninh Thuận .Khi tới Phan Rang du khách sẽ có dịp thưởng thức món cơm gà Ninh Thuận. Có hai tiệm nổi tiếng: Cơm gà Ðức ở số 11 Nguyễn Thái Học chỉ bán vào buổi sáng và Cơm gà Hải Nam ở số 17 Lê Hồng Phong gần sát bên chợ Phan Rang bán suốt ngày .

    TỔ CHỨC LỬA TRẠI

    MỞ ĐẦU LỬA TRẠI

    Mở đầu lửa trại là một thời khắc rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả đêm lửa trại.

    Trong chương trình lửa trại có ghi cụ thể ngày giờ thực hiện lửa trại; thế nhưng nên có sự nhắc nhở lại vào buổi chiều và báo trước từ 5 đến 15 phút trước khi diễn ra lễ trại để các tiểu trại có sự chuẩn bị chu đáo hơn.

    Hiệu lệnh tập trung ra vòng tròn được báo lên (hiệu còi, hiệu kèn, lời mời gọi...), các tiểu trại nhanh chóng đến cùng lúc (có thể đi thành hàng từng đơn vị trong im lặng và trật tự, nhưng có khi cũng vừa chạy vừa hô tiếng reo của đơn vị mình. Từng đơn vị đứng vào vị trí đúng qui định của quản trò đã hướng dẫn trước, đoạn tất cả im lặng đợi lời khai mạc của Trại trưởng (tùy theo chương trình mà lời khai mạc có khi trước, trong hoặc sau khi châm lửa).

    Trong đêm tối, ánh sáng dường như được tắt hết, đèn pin chỉ bật lên khi rất cần, tất cả đều hết sức giữ im lặng triệt để trước giờ khai mạc lửa trại.

    Sau lời khai mạc, quản trò điều khiển đêm lửa trại. Tất cả theo lệnh của quản trò: gọi lửa, châm lửa, nhảy lửa, ngồi quây quần bên lửa, hát múa, vui chơi... Quản trò trở thành linh hồn của đêm lửa.

    Lễ châm lửa cũng rất quan trọng. Có nhiều hình thức châm lửa như: làm chuột lửa từ trên cao xuống, dùng đuốc châm, dùng dây điện trở... (xem phần các cách khai lửa, châm lửa).

    Giới thiệu mẫu một chương trình khai mạc lửa trại thông thường:

    Mở đầu lửa trại:

    Gọi lửa: (âm thanh, trống chiêng, tiếng hú).

    Quản trò hô: Ơ này anh em ơi! Nào về đây ta cùng nhau quây quần, để đền bù những lúc sương khuya trong đêm đen bầu trời mịt mùng.

    Cử tọa cùng đáp: Trong đêm đen bầu trời mịt mùng.

    Quản trò hô: Ơ này anh em ơi! Nào về đây ta cùng đốt lửa hồng, nào chúng ta hát, ta ca, cao cao bên lửa hồng bập bùng.

    Cử tọa đáp: Cao cao bên lửa hồng bập bùng.

    (diễn ra hoạt cảnh lửa trại: thần bóng tối, thần ánh sáng).


    Nếu tổ chức lửa trại truyền thống - thì diễn hoạt cảnh Lạc Long Quân Âu Cơ:

    Gọi lửa: (âm thanh, trống chiêng, tù và, tiếng reo).

    Quản trò hô: Hú... hú... Hỡi những con người can đảm, dũng mãnh của các bộ tộc, hú... hú...

    Hỡi đồng bằng của quốc tổ Long Quân và Âu Cơ, hú... hú...

    Hỡi những người can đảm của Trường Sơn bất khuất, của biển Đông hùng vĩ cùng về đây mừng lửa (các đội đốt đuốc và nối thanh hàng chạy về vị trí đốt lửa trại).

    Cử tọa đáp bằng tiếng reo: Hú... AAA... (tiếng reo của đơn vị trại) cùng chạy về theo từng đội và nối thành vòng tròn - mỗi người chuẩn bị một cây đuốc và đồng loạt châm lửa vào đống củi (có thể mời đại biểu danh dự châm lửa).

    Nhảy lửa: (múa trăn hoặc nhảy lửa).

    Hát các bài gọi lửa, nhảy lửa, múa trăn...

    Khai mạc lửa trại: Lời khai mạc của trại trưởng súc tích, ngắn gọn, nêu lên tinh thần chủ đề trại, tinh thần của các tiểu trại... và một số nội dung cần thông báo.

    NỘI DUNG CHÍNH

    Đây là phần quan trọng nhất của đêm lửa trại, bao gồm các hoạt động tùy theo chương trình đề ra cho phù hợp với từng chủ đề lửa trại:

    - Các hoạt động mà tất cả người chơi có thể tham gia chung như: Hát, nhảy múa, trò chơi, tiếng hô, tiếng reo...

    - Các kịch ngắn, các màn ảo thuật, các câu chuyện ngắn...

    - Các tiết mục dự thi giữa các đội: thi hóa trang vui, thi văn nghệ...

    Chú ý: Bằng mọi cách phải đạt được mục đích đã đề ra của đêm lửa trại và phải lưu ý đến người tham dự về nhiều phương diện như: sở thích, trình độ... Để ý đến cả địa điểm tổ chức.

    Quản trò đừng nên luôn luôn bắt buộc người dự đứng lên ngồi xuống, hô reo... sẽ gây sự nhàm chán mệt mỏi cho người dự và phiền phức cho mọi người. Rất giản dị, không nhiều lời, tránh những khoảng thời gian chết, quản trò chịu trách nhiệm về nhịp điệu lôi cuốn đêm sinh hoạt lửa trại bằng khả năng của mình.

    Nếu là lửa trại nhằm phục vụ cho các chương trình khác như: khai mạc, bế mạc, tổng kết, huấn luyện... thì trong nội dung chính này phải có chương trình riêng lồng ghép vào sao cho uyển chuyển, linh hoạt... không nên gượng ép.

    LỄ TÀN LỬA

    Lửa trại cần được bắt đầu trong không khí đầy âm thanh và hào hứng, tàn lửa kết thúc trong sự luyến tiếc và trào dâng cảm xúc.

    Theo mỗi nhịp điệu của chương trình và nhìn vào ngọn lửa, ta sẽ rõ cuộc lửa trại sắp kết thúc. Sau khi hoàn tất các hoạt động trong chương trình trại, tổng kết và tặng quà lưu niệm, quản trò mời toàn thể người tham dự tiến sát vào vòng lửa hơn. Quản trò bắt nhịp để tất cả cùng hát bài ca “Tàn lửa” và những bài hát chia tay. Im lặng trong giây lát, trại trưởng kết thúc và chúc mọi người một đêm yên lành, một giấc ngủ ngon (ở đây, quản trò thường kể 1 câu chuyện ý nghĩa, một lời dặn dò động viên thấm thía, ân cần và gần gũi). Tất cả chia tay trong im lặng, về lại đơn vị mình.

    GIỚI THIỆU MỘT SỐ KỊCH BẢN LỬA TRẠI

    Đây là một số kịch bản lửa trại đã được sử dụng trong các hội trại toàn quốc hoặc tại Thành phố Hồ Chí Minh (đã có chỉnh sửa lại cho phù hợp với khuôn khổ một tập sách). Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh, bạn đọc có thể ứng dụng một phần, hoặc cải biên thêm để xây dựng thành một chương trình Lửa trại phù hợp nhất với mình.

    LỬA TRẠI KHAI MẠC HỘI TRẠI TRUYỀN THỐNG HÙNG VƯƠNG

    NHÂN VẬT

    - Lạc Long Quân

    - Âu Cơ

    - 30 diễn viên múa

    ĐẠO CỤ

    - Ngọn đuốc chính dành cho Lạc Long Quân

    - 10 ngọn đuốc lồ ô (dành cho đại biểu cùng châm lửa)

    - 30 ngọn đuốc

    Cảnh nhà Rông Tây Nguyên, phía trước là đống củi lửa trại. Ánh sáng lung linh, khói tỏa nhẹ, không gian im lặng. Đội múa đừng trước nhà sàn; phía trước là vòng tròn của các đơn vị tham dự lửa trại (chưa đốt lửa).

    Tiếng hú dài, tiếng trống chiêng nổi lên.

    Tiếng gọi vọng: Ơ này anh em ơi! Về đây ta cùng đốt lửa hồng! Để đền bù những lúc sương khuya, trong đêm đen bầu trời mịt mùng.

    Đáp: Trong đêm đen bầu trời mịt mùng.

    Tiếng gọi: Ơ này anh em ơi! Về đây cùng nhau ta quây quần, nào cùng hát ca, cao cao bên lửa hồng bập bùng.

    Đáp: Cao cao bên lửa hồng bập bùng (tiếng hú)

    Tiếng trống chiêng nổi lên 3 hồi. Lạc Long Quân và Âu Cơ xuất hiện (Lạc Long Quân đứng bên dưới và Âu Cơ ngồi trên nhà sàn). Âm nhạc Tây Nguyên nổi lên, tốp múa thể hiện trên nền tiết tấu khỏe mạnh thể hiện sức sống của núi rừng và cuộc sống của thời nguyên sơ. Lạc Long Quân nói trên nền nhạc:

    Hỡi con Rồng cháu Tiên

    Từ mọi miền Tổ quốc

    Của xứ sở Long Quân - Âu Cơ muôn đời rộng mở

    Các thần dân ta về đây từ núi non hiểm trở

    Từ biển xa, biên đảo, sóng thần

    Đã không quản đường dài, sóng dữ

    Cùng về đây góp bàn tay dựng nước Văn Lang

    Gọi: Hỡi những thần dân đất Việt! Hu ra...

    Đáp: Hu ra, hu ra, hu ra...

    (nhạc múa bài Đêm Lam Sơn)

    (Đọc trong nền nhạc):

    Đất của ta rừng vàng biển bạc

    Vương quốc của ta hoa nở bốn mùa

    Trai gái của ta vui sống bên nhau

    Giữa đất trời sáng bừng lên ngọn lửa

    (Ngọn đuốc được thiết kế từ trên cao chạy ngay xuống tầm tay của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân hô to: Ta truyền giao hùng khí Văn Lang của 4000 năm dựng nước và giữ nước cho tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh, để tiếp tục nâng cao đuốc trí tuệ soi đường cho sự nghiệp lập thân kiến quốc, cho Việt Nam dân cường nước thịnh song hành với cường quốc năm châu (mời đại diện lên châm ngọn đuốc truyền thống).

    Lạc Long Quân: Nổi trống lên hỡi những chàng trai cô gái con Lạc cháu Hồng. Hỡi những bộ tộc Bách Việt kiên cường bất khuất.

    Lúc này 4 diễn viên cùng đánh trống, đánh chiêng, tù và... và mọi người cùng reo vang.

    Âu Cơ: Hỡi những bộ tộc Việt

    Những con yêu của mẹ Âu Cơ

    Các con về đây để tế cáo đất trời cầu cho quốc thái dân an

    Để chào mừng cho hào khí Văn Lang

    Thiên vạn niên trường tồn vĩnh cửu

    Các thần dân hãy mau về đây, mau về đây!

    Nhạc nổi lên.

    Lúc này toàn trại cùng nhảy múa theo bài hát “xưa mẹ Âu Cơ” (Đội múa làm mẫu, toàn bộ trại sinh múa theo).

    Kết thúc bài múa, Âu Cơ truyền dạy: Các bộ tộc Việt hãy lắng nghe lời huấn dụ của Tổ phụ Long Quân.

    Long Quân: Bên ngọn lửa rực cháy đêm nay, trong niềm tự hào của hồn thiêng sông núi, các thần dân về đây trong tình yêu Tổ quốc, dệt những bài ca cho đất nước nở hoa. Mỗi con dân nước Việt hãy nhớ những ngày đấu tranh gian khổ dựng nước và giữ nước của cha ông để nung lên ngọn lửa tâm hồn.

    Giữ đỏ thắm trong lòng dân nước Việt

    Lửa trái tim, của chân lý niềm tin

    Lửa nghìn đời bất diệt thiêng liêng

    Hãy bái lạy tổ tiên sông núi

    (tất cả cùng cúi lạy và hô: hu ra)

    Hãy hát mừng Tổ quốc nở hoa

    Hãy hát mừng lửa hồng soi sáng.

    Con đường vinh quang đang đón chờ tất cả chúng ta (lúc này nhạc nổi lên những bài múa nhảy lửa, tất cả cùng tham gia theo hướng dẫn của Long Quân, Âu Cơ và nhóm múa).

    Khi nhảy lửa xong, tất cả cùng ngồi quanh vòng lửa, im lặng.

    Sau đó chuyển sang phần nghi lễ khai mạc Hội trại truyền thống Hùng Vương (có chương trình riêng, phần này do Ban tổ chức trại điều hành).

    CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM LỬA TRẠI “BỐN THẾ HỆ CÙNG HÒA CHUNG BƯỚC TIẾN”

    Phân công: Quản trò, quản ca, quản lửa và người đọc lời vọng

    Một số người cùng tham gia công tác thi đua

    Số lượng tham gia múa lửa là 50 người, có đuốc và tự hóa trang.

    Thành phần: Các tiểu trại đều tham gia và chọn cho đơn vị mình một tiếng reo thật ý nghĩa.

    BỐ TRÍ:

    Xếp củi theo mô hình nón.

    Thiết kế 4 dây lửa từ 4 hướng chạy về nơi đống củi (có 4 người phụ trách chuột lửa của 4 hướng).

    CHƯƠNG TRÌNH CHI TIẾT

    - Khi có lệnh tập họp của BTC, toàn thể trại sinh tập trung, đội hình múa lửa cầm đuốc (chưa châm lửa) quì vòng tròn bên trong đống củi.

    - Chuẩn bị tiến hành lửa trại đèn điện đều được tắt hết.

    - Ngay sau khi bóng tối bao trùm, tiếng reo của các đơn vị cùng hòa nhịp. Sau đó tất cả cùng im lặng.

    - Lúc này người thuyết minh bắt đầu đọc lời gọi lửa (xem sau phần chương trình). Khi đọc đến đoạn “cờ tự do... thắm đỏ”, 4 người phụ trách chuột lửa từ 4 hướng dẫn lửa cho chạy xuống đống củi cùng một lúc; ngọn lửa bừng cháy lên.

    - Tất cả cùng reo vang, lúc này đội hình múa lửa đứng lên cầm đuốc đi theo hình xoắn ốc, đi vào đống lửa đã bừng sáng và khi đến hết lời gọi lửa thì đội hình này đã tự châm đuốc và đi trở ra đứng thành vòng tròn như cũ (có người hướng dẫn đi).

    - Quản trò và quản ca bắt nhịp những bài hát gọi lửa, nhảy lửa.

    - Mời đại biểu lên có vài lời khai mạc lửa trại.

    - Tiếp theo là nội dung chính của lửa trại:

    Thi hoạt cảnh bốn thế hệ.

    Thi văn nghệ chào mừng

    Kịch vui

    Múa hát sinh hoạt cộng đồng

    - Sau khi hoàn tất nội dung chính, quản trò làm công tác khen thưởng và linh hoạt mời đại diện lãnh đạo lên trao đổi câu chuyện lửa tàn (xem phần cuối chương trình). Lúc này toàn bộ trại sinh ngồi quây quần bên nhau tay trong tay, vai kề vai, im lặng. Khi kết thúc câu chuyện lửa tàn những bài hát chia tay được quản ca bắt nhịp vang lên. Các trại sinh lần lượt về đơn vị mình.

    + Lời gọi lửa

    “Ôi Tổ quốc, vinh quang Tổ quốc

    Ngàn muôn năm dân tộc ta ơi!”.

    Đất nước Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, bom đạn, khói lửa bao phủ khắp xóm làng. Bao gian khổ hiểm nguy vẫn không thể nào ngăn cản được người dân Việt Nam đứng lên cầm súng giết giặc với ngọn lửa căm hờn rực cháy trong tim.

    “từ khi có Đảng cuộc đời bừng sáng”

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ kính yêu, nhân dân ta đã liên tiếp lập nên nhiều chiến công hiển hách, phi thường mà đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam - mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập - tự do - ấm no - hạnh phúc.

    Cách mạng tháng Tám là kết tinh những truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của một dân tộc có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Biết bao xương máu đã đổ xuống tô thắm màu cờ Tổ quốc. Hàng triệu đồng bào chiến sĩ đã nằm lại trên mảnh đất thân yêu này để đem lại cuộc sống yên bình cho dân tộc hôm nay.

    “Ôi tiếng của ông cha thuở trước

    Xin hát cùng non nước hôm nay”.

    Ngày 2-9-2005, mừng 60 năm đất nước nở hoa, tận trong sâu thẳm trái tim của mỗi chúng ta, hãy thắp sáng lên ngọn lửa quật cường mà cha ông đã một thời hun đúc. (Lúc này lửa chạy từ 4 phía vào bừng sáng đống củi khi đọc xong 4 câu thơ sau).

    “Cờ tự do bay rợp chiến đài

    Bốn phương trời đỏ rực tương lai

    Dậy lên hỡi những linh hồn trẻ

    Máu của con tim nhuộm thắm đời”.

    (Tiếp theo đội hình nhảy lửa theo hình xoắn ốc tiến vào thắp lửa vào đuốc).

    Hôm nay đây nhân kỷ niệm 60 năm ngày Quốc khánh 2/9, chúng ta hãy cùng thắp sáng lên ngọn lửa cách mạng - ngọn lửa của những năm tháng không thể nào quên Chúng ta tự hỏi phải làm gì cho đất nước tươi đẹp hơn, để sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn. Phải làm gì đất nước ta vươn lên trên tầm thời đại, xứng đáng con Lạc cháu Hồng?

    “Nếu được làm hạt giống của mùa sau

    Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa

    Vui gì hơn làm người lính đi đầu

    Trong đêm tối tim ta là ngọn lửa”.

    (Quản ca bắt những bài hát nhảy lửa, đội hình múa lửa nhảy lửa.

    + Câu chuyện lửa tàn:

    (Toàn bộ trại sinh im lặng, tay trong tay, vai kề vai cùng quây quần bên lửa tàn. Quản trò có thể mượn một câu chuyện từ các tuyển tập sống đẹp, tâm hồn cao thượng... để nói về giá trị của tình đoàn kết keo sơn, giá trị của tình bạn... trong cuộc sống.


    CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM LỬA TRẠI “HỘI QUÂN” TỔ CHỨC

    Phân công đóng các vai

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    Dẫn chương trình

    Quản lửa

    Quản ca

    Quản trò

    Trưởng Trạm một

    Trưởng Trạm hai

    Trưởng Trạm ba

    Trưởng Trạm bốn

    KỊCH BẢN

    Bốn thành viên ban tổ chức đứng ở 4 trạm qui định trước.

    Bốn đội chia làm 4 quân đoàn, mỗi quân đoàn chọn tên một vị anh hùng trong trận ĐBP, các đội hóa trang thành những người lính Điện Biên.

    - Xuất phát.

    - Quân đoàn được 4 thành viên BTC dẫn dắt chạy qua 4 trạm (trạm 1 lấy đuốc; trạm 2 lấy vải vụn, tìm đuốc; trạm 3 lấy dầu; trạm 4 lấy lửa châm đuốc) chạy về điểm tập kết.

    - Trại trưởng đóng vai tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Tôi kêu gọi toàn thể cán bộ chiến sĩ:

    Phải nhận rõ vinh quang được tham dự vào trận lịch sử này.

    Phải có một quyết tâm giết giặc rất cao.

    Phải nắm phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.

    Phải vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn.

    Hợp đồng chặt chẽ.

    Chiến đấu liên tục.

    Tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Điện Biên Phủ giành đại thắng cho chiến dịch.

    Giờ ra trận đã đến”.

    - Các trại sinh hô to: “Quyết chiến, quyết thắng”.

    - Đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Nào tất cả chúng ta cũng châm ngọn đuốc nhiệt tình của tuổi trẻ, ngọn đuốc của khí thế bừng bừng đang sục sôi cuồn cuộn”. (Trại trưởng và cả vòng tròn châm đuốc thổi bùng lên ngọn lửa trại).

    - Trại phó bước ra thay lời trại trưởng: “Nào, hỡi các quân đoàn về đây hội quân, chúng ta hãy lần lượt giới thiệu về quân đoàn của mình để rồi sau đêm nay chúng ta sẽ lao vào cuộc chiến một mất một còn với quân xâm lược”.

    - Tổ trưởng tổ một (dẫn toàn tổ tiến về vị trí trung tâm): “Tôi Phan Đình Giót đại diện toàn quân đoàn xin quyết tâm chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, nào các đồng chí, lên đường”.

    Tổ 1 diễn hoạt cảnh xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng Phan Đình Giót.

    - Tổ trưởng tổ hai: “Tôi Bế Văn Đàn đại diện toàn quân đoàn xin quyết tâm chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, nào các đồng chí, lên đường”.

    Tổ 2 diễn hoạt cảnh xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng Bế Văn Đàn.

    - Tổ trưởng tổ ba: “Tôi Nguyễn Hoàng Nô đại diện toàn quân đoàn xin quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, nào các đồng chí, lên đường”.

    Tổ 3 diễn hoạt cảnh xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng Nguyễn Hoàng Nô.

    - Tổ trưởng tổ bốn: “Tôi Tô Vĩnh Diện đại diện toàn quân đoàn xin quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, nào các đồng chí, lên đường”.

    Tổ 4 diễn hoạt cảnh xây dựng hình tượng anh hùng Tô Vĩnh Diện.

    - Trại phó bước ra: “Cám ơn tất các anh, các đồng đội thân yêu, các chiến sĩ can trường. Tất cả chúng ta đây, sau đêm nay ra trận, dầu có hi sinh xương máu thì chúng ta vẫn quyết tâm “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

    Quản trò, quản ca cho các bạn hát, múa, chơi trò chơi quanh đám lửa.

    - Tàn lửa, phút tĩnh tâm. (Toàn bộ trại sinh tay trong tay quây quần bên nhau, lắng đọng. Trại trưởng nói vài lời kết thúc).

    (Sau phút tĩnh tâm các bạn lần lượt im lặng trở về lều, chuẩn bị trò chơi đêm).


    CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM LỬA TRẠI “TIẾNG PHÁO MỪNG CÔNG”

    TỔ CHỨC

    Chuẩn bị các vật dụng:

    - Chuẩn bị một số bong bóng trong hậu trường làm tiếng pháo.

    - Căng dây chuột lửa theo hình phi đạn.

    - Phục trang cho các nhân vật.

    Phân vai:

    Chọn 1 người đóng vai tướng Đờ Cát phục trang áo lính lê dương.

    Chọn 1 người đóng vai chiến sĩ Điện Biên phục trang áo ghi lê trấn thủ.

    Chọn 1 nữ đóng vai thiếu nữ Tây Bắc phục trang áo dân tộc.

    Cùng các anh chị hỗ trợ âm thanh hậu trường.

    KỊCH BẢN CHI TIẾT

    Tiếng gió lồng lộng (hậu trường) tướng Đờ Cát hoang mang đi qua lại trong phòng, chợt hét lên:

    - Hãy tiến lên, hãy chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, (bần thần). Không, không, nước Pháp chúng ta không thể thua một quốc gia non yếu như Việt Nam thế này được.

    Một tiếng pháo nổ vang (Hậu trường) Đờ Cát thất hồn nhìn về phía cửa. Bỗng có một giọng nói của một chiến sĩ kháng chiến:

    - Hãy đầu hàng, các người đã bị bao vây.

    Người chiến sĩ đi vào dẫn giải Đờ Cát, khí thế rất hồ hởi. (dẫn Đờ Cát ra sau hậu trường). Một thiếu nữ dân tộc chạy ra, hô to:

    - Ôi thắng rồi, chúng ta thắng rồi phải không các anh.

    (Hậu trường reo vang).

    Thiếu nữ (giọng xúc động): “Vậy là bản mường Tây Bắc đã trở về những giây phút thanh bình rồi phải không các anh?”

    Người chiến sĩ lúc nãy đi ra, vừa đi vừa nói giọng bồi hồi, lắng đọng:

    - Đúng vậy, cuối cùng chúng ta đã lấy lại những gì thuộc về chúng ta, sau 56 ngày đêm gian lao khổ nhọc chúng ta đã thành công, chúng ta hãy ăn mừng chiến thắng này đi.

    Người chiến sĩ đổi giọng, hồ hởi reo lên:

    - Này anh em ơi.

    - (Hậu trường): Ơi!

    Người chiến sĩ: “Hãy thắp lên lên những ngọn pháo để mừng cho độc lập, mừng cho tự do, mừng cho ngày phá tan xiềng xích, thoát ách nô lệ, vì ngày mai tươi sáng hãy thắp lên đi các bạn ơi”.

    Người chiến sĩ khoác vai cô thiếu nữ tay giơ cao thành hình tượng. Hậu trường làm tiếng nổ, đốt chuột lửa, chính thức bước vào đêm lửa trại. Sau đó chào khán giả đi vào hậu trường.

    + Lời dẫn

    Quản trò xuất hiện và nói:

    “Kính thưa các anh chị, đã 50 mươi năm trôi qua kể từ ngày giải phóng Điện Biên, nhưng âm vang của chiến thắng ấy vẫn còn mãi trong tim mỗi người dân Việt Nam, thôi thúc chúng ta hành động. Thanh niên chúng ta hôm nay hãy góp sức cho đời để xây dựng đất nước ngày một đẹp tươi, giàu mạnh, sao cho xứng đáng với truyền thống của cha anh ta. Xin trân trọng kính mời - trại trưởng hội trại lên tuyên bố khai mạc đêm lửa trại”.

    + Tổ chức các hoạt động lửa trại: Theo phân công như bản kế hoạch tổ chức lửa trại.

    + Lửa trại: Sau khi kết thúc phần nội dung chính của lửa trại, quản trò đọc lời lửa tàn hoặc mời đại diện BTC lên tổng kết “câu chuyện lửa tàn”.

    Kết thúc, trại sinh lần lượt về đơn vị mình.

    + Sơ đồ bố trí, thực hiện lửa trại.

    CHƯƠNG TRÌNH ĐỐT LỬA TRẠI HỘI CỒNG CHIÊNG

    GỒM CÁC NỘI DUNG

    1.     Gọi lửa

    2.     2. Nhảy lửa.

    3.     3. Sinh hoạt cộng đồng.

    4.     4. Trò chơi nhỏ.

    5.     5. Phút sinh hoạt lửa tàn.

    6.     6. Chuyển lửa về từng tiểu trại, tổ chức sinh hoạt giao lưu.

    NỘI DUNG CHI TIẾT

    (trong suốt quá trình của đêm lửa trại, tiếng chuông trống luôn luôn vang lên theo hướng dẫn của Quản trò).

    + Gọi lửa:

    Chọn 1 người hóa trang thanh già làng, 1 người hóa trang thành thần lửa.

    Sau khi chương trình chính diễn ra: Công bố giải của các phần thi xong, Quản trò điều khiển tất cả các trại sinh tiến ra khu vực, sinh hoạt lửa trại. Các trại sinh chạy ra tập hợp thành một vòng quanh đống củi. Già làng ra dấu hiệu và hú một tràng dài (đã được báo trước) tất cả các tiểu trại đều hú theo:

    - Già làng: “Hỡi dân làng ơi!”

    - Các bạn đáp theo: “Ơi”

    - Già làng: “Hỡi trai làng ơi, thôn nữ ơi!”

    - Các bạn đáp theo: “Ơi”

    - Già làng: ”Trong không khí tưng bừng lễ hội, mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên. Ta già làng người đứng đầu buông làng Điện Biên, kêu gọi các con về cùng mừng vui. Ồ ô! Ồ ô”.

    - Các bạn đáp theo: “Ồ ô! Ồ ô”

    Già làng đi quanh đống củi, làm điệu bộ cầu khấn:

    - Già làng: “Giàng ơi! Giàng ơi”

    - Các bạn đáp theo: “Giàng ơi! Giàng ơi”

    - Già làng: “Ô hô! ô hô” hoặc “À ha! à ha”...

    - Già làng: “Lửa ơi! Lửa ơi! Hãy mau xuất hiện”

    - Các bạn đáp theo: “Lửa ơi! Lửa ơi! Hãy mau xuất hiện”

    - Già làng: “Lửa mang cho ta sức mạnh”

    - Các bạn đáp theo: “Sức mạnh”

    - Già làng: “Lửa mang cho ta hơi ấm”

    - Các bạn đáp theo: “Hơi ấm”

    - Già làng: “Lửa cho ta xích lại gần nhau”

    - Các bạn đáp theo: “Xích lại gần nhau”

    - Già làng: “Thần Lửa! Thần Lửa”

    - Các bạn đáp theo: “Thần Lửa! Thần Lửa”

    - Già làng: “Hãy mau xuất hiện”

    - Các bạn đáp theo: “Hãy mau xuất hiện”

    Thần Lửa xuất hiện, tay cầm ngọn đuốc sáng, cất tiếng to rõ: “Ha, ha, ha. Ta đã đến rồi đây!”

    - Già làng: “Ô hô! ô hô” hoặc “À ha! à ha”...

    - Các bạn đáp theo: “Ô hô! ô hô” hoặc “À ha! à ha”...

    - Thần Lửa: “Ta là thần Lửa, ta đến và đem văn minh cho loài người đây. Lửa... Lửa... Lửa hãy cháy lên”

    (lúc này thần Lửa châm lửa vào củi).

    “Cháy mãi... cháy mãi... để muôn loài được gần nhau hơn”

    (lúc này vòng tròn hú lên một hồi dài và ngồi sát lại bên nhau).

    “Ngọn lửa của ta... ánh sáng của ta sẽ sưởi ấm muôn loài. Hỡi loài người hãy cùng ta vui múa hát đêm nay”.

    + Hát - Múa:

    - Vòng tròn cùng hát cùng múa bài: (làm theo động tác của già làng, thần Lửa)

    “Lửa cháy, cháy lên...”

    “Lửa trại đêm nay lung linh...”

    - Khi bài múa hát kết thúc thì ném đuốc vào đống lửa.

    + Sinh hoạt cộng đồng và múa hát các bài múa hát tập thể:

    - Lúc này quản trò, quản ca cho chơi những trò chơi nhỏ.

    - Quản lửa phải lưu ý thiết kế lúc nào cần bùng lửa để tạo hiệu ứng ánh sáng

    - Quản trò lưu ý trò chơi cuối cùng phải tập hợp lại vòng tròn.

    + Phút sinh hoạt lửa tàn:

    - Tất cả phải im lặng và tịnh tâm lại, nắm chéo tay, cùng hát bài “giờ chia tay” sau lời vọng.

    - Lời vọng: “Lửa đã tàn dần, tàn dần. Nhưng ngọn lửa ấy vẫn sáng và cháy mãi mãi trong lòng chúng ta. Ngày hôm nay được sống trong hòa bình, được cầm tay nhau bên ánh lửa thiêng liêng, chúng ta hãy cùng nhớ đến những người anh hùng đã hy sinh cho mảnh đất này, cho quê hương này”.

    - Bắt bài hát cuối cùng: Giờ chia tay.

    - Chú ý: Trong suốt quá trình diễn ra đêm lửa trại, quản lửa và quản ca phải thường xuyên chủ động và để ý tới ngọn lửa, cũng như tâm trạng của các trại sinh trong lúc đang sinh hoạt, để có thể đẩy lên cao trào hoặc hạ xuống.

    CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM LỬA TRẠI VUI ÁNH LỬA THIÊNG

    TỔ CHỨC

    Ban tổ chức:

    - Chuẩn bị củi, các vật dụng tạo lửa màu, tiếng động...

    - Dây thép, vải vụn và các vật dụng khác... (hóa trang thần Bóng Đêm, thần Ánh Sáng).

    - Xăng, dầu hôi, dây điện và dây điện trở để thắp lửa

    - Âm thanh, ánh sáng, micro...

    - 40 đuốc, chuẩn bị vật dụng múa sạp, nhạc, rượu cần...

    Các tiểu trại:

    - Theo hướng dẫn của Ban tổ chức: tập hợp đầy đủ, đúng giờ, chọn 1 tiếng reo cho tiểu trại mình.
    - Mỗi tiểu trại cử người tham gia đội múa lửa.

    - Mỗi tiểu trại chuẩn bị 1 tiết mục hóa trang vui mang chủ đề “Tình bạn” (không quá 3 phút - có thuyết minh).

    CHƯƠNG TRÌNH LỬA TRẠI

    1.     Hoạt cảnh ánh sáng của lửa

    2.     Nhảy lửa

    3.     Sinh hoạt cộng đồng

    4.     Trò chơi nhỏ, hóa trang

    5.     Phút sinh hoạt lửa tàn

    - Thông báo cho toàn thể trại sinh chuẩn bị tập trung. Đội hình nhảy lửa chuẩn bị theo hướng dẫn (tất cả các khâu phải được kiểm tra trước).

    - Quản trò hô tiếng vọng: “ớ này anh em ơi”, toàn thể trại sinh đồng loạt hô vang đáp lại “ơi...”, nhạc nổi lên bài “Nối vòng tay lớn”.

    - Khi đã hình thành 1 vòng tròn quanh đống lửa, quản trò lại hô: “ớ này anh em ơi!”, tất cả cùng đáp lại “ơi!...” sau đó im lặng. Người quản ca bắt đầu lời vọng: “Nếu thế gian không có ánh mặt trời thì cả vũ trụ này sẽ sống ra sao? Ôi! Kinh khủng quá...”.

    - Thần Bóng Đêm xuất hiện: “(hahaha)! Ta là thần Bóng Đêm (hahaha!). Nơi nào có ta nơi đó mãi mãi sẽ sống trong màn đêm u tối, nơi đó sẽ lạnh lẽo chết chóc, bầu trời sẽ đen tối và loài người sẽ mãi mộng mị, ngu si (hahaha!); thế gian này là của ta, bóng đêm là của ta, không ai có thể xua đuổi ta được... (hahaha!). Ta chính là chúa tể của muôn loài!”

    - Thần Ánh Sáng xuất hiện: (lúc này dây điện được cắm vào và ngọn lửa tự nhiên bùng lên). “Này! Thần Bóng Đêm kia, nhà người đã đến giờ đền tội (thần Bóng Tối làm động tác run sợ, mệt mỏi dần và nằm xuống một chỗ). Ta là thần Ánh Sáng, ta đem văn minh đến cho loài người đây. Lửa, lửa, lửa, hãy cháy lên, cháy mãi, cháy mãi để muôn loài được gần gũi nhau hơn (vòng tròn càng lúc càng ngồi gần lại). Ngọn lửa của ta, ánh sáng của ta sẽ sưởi ấm lòng người. Hỡi loài người! Hãy cùng ta múa hát thâu đêm bên ánh sáng bập bùng của ngọn lửa. (Đội hình múa lửa đã sẵn sàng - tay cầm đuốc tiến vào, tất cả đều có lửa).

    - Hát múa lửa trại.

    - Khi ngọn lửa đã thắp lên, đội hình múa lửa đã múa xong, quản trò tiếp tục hô tiếng reo. Cả vòng tròn đáp lại. Nhạc nổi lên những bài hát sinh hoạt cộng đồng. (múa theo quản trò).

    - Quản trò hô: “ánh lửa” - Trại sinh đáp: “tình bạn”

    - Quản trò hô: “tay đâu” - Trại sinh đáp: “tay đây”.

    - Quản trò cho chơi trò chơi “ánh lửa tình bạn”.

    - Múa sạp và uống rượu cần.

    - Chương trình hóa trang theo chủ đề “Tình bạn” của các đơn vị.

    - Xen kẽ là các trò chơi nhỏ.

    - Lời lửa tàn (do quản trò nói. Tất cả trại sinh ngồi xuống tại chỗ).

    “Các bạn thân mến! Lửa đã tàn dần, nhưng ánh sáng của ngọn lửa vẫn mãi soi trong tim chúng ta. Tiếng hát nồng nàn, tiếng cười hồn nhiên vô tư của đêm nay không còn nữa. Chỉ còn chăng là ánh sáng bập bùng của ngọn lửa soi trên những gương mặt bạn bè.

    Trong giây phút sâu lắng này, chắc rằng bạn cũng như tôi, ai ai cũng đều xúc động, luyến tiếc, nhớ nhung và ai cũng muốn nói với nhau rằng: Hãy nhớ mãi, hãy trân trọng, hãy khắc sâu trong tim chúng ta những kỷ niệm khó quên tại trại.

    -          Múa chia tay. Kết thúc đêm lửa trại.

    CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM LỬA TRẠI “LẠC LONG QUÂN - ÂU CƠ”

    CHUẨN BỊ

    Ghe 60 đuốc nhỏ, 1 cây đuốc lớn, dây kẽm chuột lửa, củi, xăng dầu, dây điện, dây mayso, âm thanh.

    Ổn định đội hình tập trung thành chữ S (đội hình 60 thành viên 30 nam, 30 nữ được hóa trang theo con rồng cháu tiên).

    CHƯƠNG TRÌNH LỬA TRẠI

    + Lời dẫn truyện

    (Bài hát: “Đất nước lời ru”)

    “Từ ngàn xưa có một vùng đất hoang sơ lượn mình bên bờ biển Đông, quanh năm có ánh mặt trời sưởi ấm, một vùng đất trù phú bao la với những dòng sông hiền hòa, những ngọn núi cao ngất trời. Nhưng cuộc sống thật sự bắt đầu khi Lạc Long Quân và nàng Âu Cơ kết duyên vợ chồng, kỳ diệu thay Mẹ Âu Cơ thai nghén. Từ Mẹ một bọc trứng nở thành 100 con, 100 người con cùng dòng máu Lạc Rồng, trăm con nên nghĩa đồng bào.

    Đất nước trù phú bao la khai phá dựng xây là ước vọng của cha, là niềm tin của mẹ, là khát vọng của con cháu Lạc Rồng “50 con xuống biển, 50 con lên rừng”, người miền ngược kẻ miền xuôi nhưng anh em một nhà mãi mãi khắc ghi dòng giống Lạc Hồng.

    Hơn 4000 năm với bao thăng trầm lịch sử, lúc thiên thuận nhân hòa, lúc thiên tai địch họa, nhưng máu Lạc Hồng vẫn thắm trang sử vẻ vang.

    Đêm nay hội lớn những người con đất Việt từ khắp mọi miền Tổ quốc cùng hội tụ về đây, cùng thắp lên ngọn lửa của dòng máu Lạc Hồng.

    Nào, hãy thắp lên ngọn lửa của con cháu Lạc Hồng; nào, hãy đem ngọn lửa từ biển khơi nối với đất liền như tình anh em ta ngàn đời bền vững”.

    - Chuột lửa được thắp sáng và bắn ra ghe để đốt vào ngọn đuốc lớn.

    - Đội hình chữ S múa theo động tác kéo lưới bài hát “Hồ trên núi” để ghe chở đuốc vào bờ.

    - Bài hát “Hồ trên núi”

    - Chấm dứt bài hát và ghe chở đuốc vào bờ. Đánh 3 hồi trống giục.

    - Sau 3 hồi trống thì bài hát “Xưa mẹ Âu Cơ” được nổi lên.

    - Đội hình chữ S múa động tác chuyền đuốc, cho đến người cuối cùng và bài hát “Xưa mẹ Âu Cơ” chấm dứt, thì một hồi trống nổi lên.

    - Nhạc tiếp tục nổi lên bài “Việt Nam minh châu trời Đông”.

    - Đội hình chữ S chuyển thành hình xoắn ốc cho đến hết bài hát.

    - Bài hát chấm dứt

    Đội hình xếp thành vòng tròn quanh đống củi.

    LỜI GỌI LỬA

    Hãy sáng lên cho ấm thêm tình bạn. Hãy sáng lên cho những đôi vai xích lại gần nhau, cho những nhịp tim cùng chung nhịp đập bạn bè

    Hãy rực lên lửa ơi. Cho bạn bè biết rằng nơi đây bên bờ biển Đông ngàn đời sóng vỗ có triệu triệu con người sinh ra từ dòng máu Tiên Rồng. Nơi đây đã thấm bao máu đào và nước mắt vì “nhân nghĩa” vì chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

    (Lúc này đội hình vòng tròn ngồi xuống, đuốc đưa ra phía trước).

    Hãy bùng lên lửa ơi, hãy sáng lên lửa ơi. Những người con của Thành phố hôm nay đang dang tay chào đón các bạn, những người con từ khắp mọi miền tổ quốc cùng hội tụ, về đây với sức mạnh của niềm tin.

    (Lúc này dùng dây điện châm qua dây điện trở cho lửa được thắp sáng lên).

    Hãy cháy, cháy mãi ngọn lửa đêm nay như tâm hồn Việt Nam nhân nghĩa tự tin, như tình bạn của trại hè thanh niên đời đời bền vững.

    - Ơi này anh em ơi!

    (Vòng tròn đồng thanh đáp lớn “Ơi” và nhảy lên)

    - Bài hát nhảy lửa nổi lên. Đội hình nhảy lửa múa theo 2 bài hát.

    - Khi bài hát múa lửa chấm dứt các trại sinh nối thành vòng tròn lớn. Hát “thanh niên tình nguyện” và hát múa một số bài hát tập thể. Các trại chuẩn bị lồng đèn, lúc này lồng đèn được và nến được phát cho toàn bộ trại sinh, thắp sáng lên theo nhạc của bài hát.

    - Phần dạ hội hóa trang

    - Lời lửa tàn.

    CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM LỬA TRẠI “VÌ MỘT THẾ GIỚI NGÀY MAI”

    CHUẨN BỊ

    - Các tiểu trại chuẩn bị chương trình văn nghệ và hóa trang.

    - BTC chuẩn bị lửa trại và các vật dụng dùng trong chương trình lửa trại.

    CHƯƠNG TRÌNH

    - Hiệu triệu bằng băng reo.

    - Sinh hoạt trò chơi tạo không khí (trên nền nhạc “Vì một thế giới ngày mai”).

    - Nghi thức khai mạc

    - Tuyên bố lý do - Giới thiệu đại biểu

    - Gọi lửa bằng sân khấu hóa (thần Lửa và thần Bóng Tối).

    + Lời vọng:

    “Hỡi các con cháu của Niềm tin và sự sống!

    Quỷ dữ đang hoành hành, chúng là bất hạnh của mỗi nhà, là lòng đố kỵ, là sự ngờ vực trong cộng đồng, là chiến tranh giữa các dân tộc.

    Đêm tối - Bóng đen bao trùm - bao phủ và dồn nén. Chúng ta sẽ hoảng sợ và rút lui đến đâu hỡi các bạn? Cội nguồn của chúng ta không biết sợ bóng đen!

    Hỡi thần Mặt trời hãy đốt cháy cả dãy núi Olympus hùng vĩ, hãy đem tới đây ánh sáng, và truyền thống ngọn lửa Olympus để loài người tỉnh ngộ, giúp họ có sức mạnh, niềm tin và chiến thắng.

    Kìa hỡi loài người, hỡi các bạn! Ánh sáng đang đến, hãy đốt cháy lên, đốt cháy lên ngọn lửa thiêng liêng bất diệt. Hãy xua tan đêm tối, xua tan quỷ dữ và đem lại cho trái đất tiếng hát, niềm vui và nụ cười hòa bình.

    Nào các bạn, hãy hát lên đi, hãy múa lên đi đón chào ánh sáng của ngọn lửa vĩnh cửu từ đỉnh Olympus hùng vĩ. Hãy nắm tay nhau hát, múa mừng ánh sáng soi rọi con đường mà chúng ta đã chọn”.

    (Mọi người đang im lặng thì trên ngọn cây phía xa xuất hiện một đốm lửa lao về phía đống củi, ngọn lửa bùng cháy lên kết thúc phần khai lửa).

    - Đống củi được đốt lên nhờ chuột lửa.

    - Tập thể cùng hát và nhảy lửa.

    - Trưởng ban tổ chức phát biểu chúc mừng

    - Hô băng reo chào mừng các đội

    - Múa tập thể

    - Tiểu phẩm vui tự giới thiệu về tiểu trại

    - Thi văn nghệ (xen kẽ). Thi tài trí

    - Vũ hội

    - Kết thúc (tàn lửa)

    + Lời vọng:

    “Lửa đã tàn dần, tàn dần nhưng ánh sáng của lửa vẫn mãi soi trong tim chúng ta. Tiếng hát nồng thắm, tiếng cười trong trẻo hồn nhiên vô tư của đêm nay không còn nữa, chỉ còn ánh lửa bập bùng soi trên những gương mặt thân thương. Trong giây phút sâu lắng này, không ai nói lên hai chữ “chia tay”... nhưng chúng ta phải trở về với cuộc sống và công việc của mình, và chúng ta sẽ kể lại cho mọi người nghe về đêm nay. Tôi tin rằng những điều kỳ diệu của đêm nay sẽ là khởi đầu cho những điều tốt đẹp nhất của ngày mai”.

    Mỗi trại sinh được phát 1 cây nến nhỏ, tất cả cùng đốt lên và nghe trại trưởng nhận xét về một ngày trại đã qua, cùng nghe các bạn trại sinh nói về tâm nguyện của mình. Sau đó cùng nhau hát các bài hát chia tay.

    - Kết thúc phần tàn lửa, kết thúc lửa trại.

    Một phút tĩnh tâm, xong mọi người đứng dây về tiểu trại của mình nghỉ ngơi (im lặng, không ồn ào).

    CHƯƠNG TRÌNH LỬA TRẠI GIAO LƯU VĂN HÓA

    CHUẨN BỊ

    -          Các vật dụng để đốt lửa trại và chơi trò chơi.

    CHƯƠNG TRÌNH

    Phần I: Gọi lửa

    - Ổn định đội hình, tập trung thành 2 vòng tròn lớn đồng tâm.

    (Chú ý: Đội hình có thể hình thành chữ U hoặc chữ C cùng hướng ra biển).

    - Đội hình nhảy lửa tập kết sẵn bên ngoài.

    - Khai mạc hoạt cảnh: “Hình ảnh ngư dân với biển cả”.

    4 nữ cầm tay nhau múa hình tượng sóng biển (trang phục áo bà ba tay cầm dải khăn)

    Dẫn chuyện:

    “Chúng ta tự hỏi nếu thế gian này không có lửa và nước thì mọi người sẽ sống ra sao? Lửa sưởi ấm con người và nước làm dịu đi cơn khát.

    Chúng ta đang muốn nói về biển.

    Biển mênh mông ngàn khơi sóng vỗ.

    Biển dạt dào những con sóng lặng yên.

    Biển có lúc dịu êm nhưng cũng lắm khi giận dữ, cồn cào. Thế nhưng đối với ngư dân thuyền là nhà, biển cả là quê hương.

    (Lúc này xuất hiện 1 ngư dân (áo bà ba, đầu quấn khăn, tay cầm 1 cây đuốc và 1 gùi lưới) di chuyển ra sân và múa cùng sóng biển, sau đó châm lửa. Lửa bắt đầu cháy dần.)

    Chúng ta đang đến với đảo xa. Có con chim én bay về mang lời biển hát ru. Sóng xô lưới con thuyền mau xa bờ đến với đảo. Cuộc sống của ngư dân bây giờ chưa hẳn như mơ, nhưng đã qua rồi những đêm thao thức, cuộc sống khá dần lên như đang hứa hẹn những mùa bội thu tôm cá.

    Đội hình nhảy lửa tay cầm đuốc xuất hiện và bắt đầu xuất hiện quanh đống lửa, vừa chạy vừa múa lửa.

    - Nhạc nổi lên bài “Lửa trại vui”, “Lửa trại”...

    - Kết thúc bài này cả đội hình múa lửa cùng tiến vào đống lửa và ném đuốc vào đống lửa chung, sau đó di chuyển vào trong.

    Dẫn chuyện:

    “Chúng ta xin cảm ơn ngọn lửa. Lửa đem đến cho ta sức mạnh vô biên, sức mạnh của trí tuệ, của nền văn minh hiện đại. Lửa là nguồn sống của con người, là dịp để chúng ta thắt chặt vòng tay thân ái, khắc ghi những kỷ niệm khó quên của những ngày lễ hội”.

    Quản trò: Bắt chung cho vòng tròn hát bài “Hành trình nối vòng tay lớn”.

    Phần II: Sinh hoạt giao lưu

    - Giao lưu với khách mời.

    - Biểu diễn 1 số tiết mục văn nghệ.

    - Tổ chức 1 số trò chơi.

    GIỚI THIỆU 1 SỐ TRÒ CHƠI

    1. Đua thuyền trên cát

    - Chọn ra 4 đội (nam - nữ) mỗi đội 10 người tạo thành 1 chiếc thuyền đua.

    - 4 đội đua 2 vòng. Đội nào về nhất thắng cuộc.

    2. Thi chọi gà:

    - Chọn ra 2 đội (mỗi đội 10 người) xếp thành 2 hàng ngang đứng đối diện nhau và điểm số từ 1 - 10. Các bạn cùng số của 2 đội sẽ đứng đối diện nhau từng đôi một.

    - Sau khi có lệnh của quản trò, hai bên phải lò cò 1 chân tiến đến gần nhau và dùng 2 tay đẩy nhau. Bên nào bỏ chân xuống đất hoặc bị ngã là thua điểm. Đội nào còn nhiều gà hơn sẽ thắng.

    3. Con tàu tìm báu vật

    - Các bạn chia thành 3 nhóm (mỗi nhóm 2 người) đứng hàng dọc làm đoàn tàu, người đứng sau lấy khăn bịt mắt người đứng trước, người cuối cùng không được bịt mắt là người trưởng tàu. Mỗi nhóm đều được để trước 1 vật dụng cách xa từ 10-20m. Các nhóm có thể thông báo với nhau từng ám hiệu để người trưởng tàu điều khiển.
    - Nếu trưởng tàu đập lên vai trái người đứng trước, các bạn lần lượt làm giống nhau thì tàu sẽ rẽ trái.
    - Ngược lại tàu sẽ rẽ phải.

    - Nếu trưởng tàu đập cả 2 tay lên vai thì tàu sẽ đi thẳng. Luật chơi: tàu nào tìm được báu vật trước thì tàu đó thắng.

    4. Cỡi ngựa kéo co:

    - Người chơi được chia ra 2 đội số lượng bằng nhau (10 người 1 đội) tạo thành 5 ngựa (1 người làm ngựa và 1 kỵ sĩ). Chuẩn bị thêm 1 sợi dây thừng.

    Cách chơi:

    - Mỗi đội cử 5 ngựa - 5 kỵ, ngựa cõng người kỵ sĩ. Người kỵ sĩ sẽ cầm dây kéo co. Đội nào kéo đối phương qua mức quy định sẽ thắng.

    Luật chơi: Ngựa không được cầm dây. Khi kéo nếu kỵ sĩ bị ngã xem như bị loại.

    Phần III: Phút lửa tàn

    Cả vòng tròn ổn định để nghe lời vọng của phút lửa tàn. (cả vòng tròn cùng ngồi xuống).

    CHƯƠNG TRÌNH “ÁNH LỬA TÌNH BẠN”

    TỔ CHỨC CHUẨN BỊ

    Ban tổ chức:

    - Chuẩn bị củi, các vật dụng tạo lửa màu, tiếng động v.v...

    - Dây thép, vải vụn... các vật dụng khác.

    - Xăng dầu, dây thun, dây diện và dây điện trở để thắp lửa và con chuột lửa có dây thun, kéo chạy ngược lên.
    - Âm thanh, ánh sáng

    Các trại sinh:

    - Mỗi trại sinh chuẩn bị 1 cây đuốc và 1 cây nến.


    - Mỗi nhóm chọn 1 tiếng reo, 1 tiết mục văn nghệ giới thiệu nhóm mình với chủ đề “tình bạn”.

    CHƯƠNG TRÌNH CỤ THỂ

    - Thông báo cho toàn thể trại sinh chuẩn bị tập trung. Đội hình được chia làm 4 nhóm, cầm đuốc đứng ở 4 góc (có hình vẽ minh họa).

    - Quản trò hô tiếng vọng: “Ớ! này anh em ơi!” toàn thể trại sinh đồng loạt hô vang đáp lại “ơi...”. Đồng thời nhạc nổi lên bài “Nối vòng tay lớn”.

    - Đội hình múa lửa từ 4 góc tiến vào bên trong tạo thành vòng tròn quanh đống củi. Khi đi cũng hát to bài “Nối vòng tay lớn”.

    - Khi đã thành một vòng tròn quanh đống củi, quản trò tiếp tục hô “Ớ... này anh em ơi!”. Cả vòng tròn đáp lại “ơi...” và người quản ca bắt đầu đọc lời gọi lửa.

    - Lời lửa tàn vừa đến đoạn “Hãy thắp lên! Hãy đốt lên...” thì người quản lửa lúc này châm điện cho dây điện trở nóng lên và làm cháy sáng đống củi, lửa bừng lên.

    - Khi ngọn lửa đã bừng lên và đã được thắp lên thì quản trò tiếp tục hô tiếng vọng và tập thể đáp lại như ở phần trên.

    - Lúc này Quản ca bắt nhịp bài “ánh lửa tình bạn” vòng tròn múa bài nhảy lửa quanh đống lửa. Đến cuối bài hát thì tất cả cùng ném đuốc vào đống lửa.

    - Kết thúc bài nhảy lửa quản trò xuất hiện giữa vòng tròn hô to tiếng vọng và cho tập thể cùng tham gia trò chơi “Ánh lửa tình bạn”.

    Nội dung: - Quản trò hô: “Ánh lửa”.

    - Vòng tròn đáp: “Tình bạn”

    - Quản trò hô: “Tay đâu”

    - Vòng tròn đáp: “Tay đây”

    Quản trò cho vòng tròn choàng vai nhau và cùng chơi trò chơi “Ánh lửa tình bạn”.
    - Kết thúc trò chơi quản ca tổ chức cho tập thể hát múa một số bài hát sinh hoạt cộng đồng, múa hát tập thể.
    - Sau những phút sinh hoạt cộng đồng, quản ca cho tập thể ngồi xuống và bắt đầu chương trình sinh hoạt trong đêm lửa trại.

    - Hai nội dung được xen kẽ với nhau: 1 tiết mục văn nghệ giới thiệu về mình với bạn bè, được xen kẽ với tiết mục hóa trang.

    - Xong phần thi quản ca cho tập thể tham gia trò chơi ghép tim (có hướng dẫn cụ thể).
    - Tiếp tục Quản ca cho tập thể cùng ngồi xuống, cùng hát một số bài hát tập thể về tình bạn “Ngồi bên nhau”, “Hỏi tên”, “Nụ cười hồng”...

    - Lúc này Quản lửa có trách nhiệm cho lửa tàn dần.

    - Quản trò mời các nhóm trưởng lên thắp nến về chuyển lửa cho toàn thể trại sinh.
    - Quản trò mời các trại sinh cùng im lặng (1 phút tĩnh tâm) để nghĩ lại những gì đã qua trong đợt huấn luyện.
    - Sau những phút giây lắng đọng quản trò bắt đầu đọc lời lửa tàn.

    - Quản lửa có trách nhiệm dập tắt ngọn lửa.

    - Sau lời lửa tàn mọi người nắm tay nhau, tay phải chéo lên tay trái, hát bài “Giờ chia tay”.
    - Khi bài chia tay chấm dứt, các đơn vị cầm ngọn nến đã được thắp sáng đưa về từng nhóm, hợp thành những vòng tròn nhỏ để sinh hoạt riêng.

    + Lời gọi lửa: (để tham khảo)

    Lửa là nguồn sống của con người, giúp con người thoát khỏi đời sống nguyên sơ. Từ cuộc sống săn bắt hái lượm con người đã biết dùng lửa để sưởi ấm, để nướng chín thức ăn, tránh thú dữ và hợp quần sau những lúc chiến thắng, săn bắt thú rừng. Nhờ đó, lửa là sản phẩm thiêng liêng vừa là khởi điểm cho những hoạt động văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của người sơ khai.

    Ngày nay, tuy đời sống đã văn minh nhưng mỗi khi trở về sống với thiên nhiên mọi người vẫn đợi chờ ánh lửa khi đêm xuống.

    Đối với tuổi trẻ của chúng ta, Lửa trại đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa không thể thiếu được, mà còn là một nghi thức thiêng liêng, một phần của linh hồn trại.

    Vui bên ánh lửa, để thấy nếu thế gian này không có mặt trời thì cả vũ trụ này sẽ ra sao? Và nếu, mỗi chúng ta không có tình bạn thiêng liêng thì cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết nhường nào.

    Hãy thắp lên, hãy đốt lên ngọn lửa trong mỗi trái tim chúng ta. Hãy để cho ngọn lửa cháy lên, cho tình bạn mãi mãi được dâng cao, được in sâu trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

    + Lời lửa tàn: (để tham khảo)

    Lửa đã tàn dần, tàn dần, nhưng ánh sáng của lửa vẫn mãi mãi soi trong tim chúng ta. Tiếng hát nồng thắm, tiếng cười hồn nhiên vô tư của đêm nay không còn nữa. Chỉ còn chăng là ánh sáng bập bùng của lửa soi trọn vẹn trên những gương mặt thân thương.

    Trong giờ phút sâu lắng này, chắc rằng bạn cũng như tôi, ai ai cũng đều xúc động luyến tiếc, nhớ nhung và ai ai cũng muốn nói với nhau rằng: Hãy nhớ mãi, hãy trân trọng, hãy khắc sâu trong tim mỗi chúng ta những kỷ niệm khó quên tại trại hè này.

    Tôi tin rằng kỷ niệm nơi đây sẽ là hành trang, đầy tự tin khó quên trên bước đường đi tới của mỗi bạn.

    Những giây phút vui bên nhau qua rồi, chỉ còn lại trong tim là nỗi nhớ, chỉ còn lại trong tim là kỷ niệm (tạm biệt nhé) bạn ơi! Xin được chúc các bạn lời chúc sức khỏe và hạnh phúc.

     Hướng dẫn trò chơi đêm lửa trại: (để tham khảo)

    * Trò chơi: “Ánh lửa tình bạn”

    Quản trò mời tất cả các bạn trong vòng tròn choàng vai nhau. Khi quản trò hô: “Ánh lửa” thì vòng tròn đáp lại: “tình bạn”. Quản trò hô lớn: “Lửa nhấp nhô, nhấp nhô”, cả vòng tròn đáp lại: “lửa nhấp nhô, nhấp nhô” 3 lần, đồng thời nhún lên nhún xuống. Quản trò hô tiếp: “Lửa lắc lư, lắc lư” thì vòng tròn đáp lại: “lửa lắc lư, lắc lư” 3 lần đồng thời làm động tác lắc qua, lắc lại. Quản trò hô: “Lửa thổi qua phải”. Cả vòng tròn cùng nhắc lại 3 lần và cùng nghiêng về bên phải. Khi quản trò hô: “Lửa thổi qua trái”, “lửa thổi tới trước”, “lửa thổi ra sau”. Khi quản trò hô: “lửa bừng sáng” thì cả vòng tròn cùng nhảy lên và hô: “Lửa bừng sáng (3 lần), lúc này cả vòng tròn vung tay lên cao quá đầu.

    Mục đích trò chơi: Tạo sự đoàn kết thân ái giữa các trại sinh.

    * Trò chơi: “Đi tìm nửa trái tim của bạn”.

    Quản trò dùng giấy màu cắt khoảng 10 trái tim khác màu nhau, sau đó cắt trái tim ra thành làm 2 và nhiều dạng khác nhau. Quản trò xáo trộn các nửa trái tim với nhau sau đó phát cho 20 người của các nhóm. Một hồi còi nổi lên, những người có trong tay nửa trái tim sẽ đi tìm nhau và ghép lại cho khớp mẫu cắt và giới thiệu lý lịch ngắn gọn của bạn mình vừa tìm được. 3 trái tim nào tìm nhanh nhất và giới thiệu về nhau dí dỏm, thông minh nhất, vui nhất sẽ được nhận quà của BTC.
    Mục đích trò chơi: Tạo sự quen biết, hòa đồng, kết tình, thân ái giữa các nhóm với nhau.

    ÂM THANH - TIẾNG ĐỘNG - NHẠC CỤ TRONG LỬA TRẠI

    Các tiết mục tham gia chương trình lửa trại càng đơn giản gọn nhẹ và tự nhiên bao nhiêu thì càng cuốn hút người chơi bấy nhiêu. Chính vì lẽ đó, người tổ chức cần khuyến khích cho trại sinh tham gia với tinh thần “trở về cội nguồn”, hòa mình với thiên nhiên.

    Do vậy, dù ngày nay đã có rất nhiều phương tiện hiện đại nhưng cũng nên sử dụng những công cụ giản đơn để tạo nên một đêm lửa trại.

    Ở trại, những dụng cụ sau đây giúp ta thực hiện âm thanh - tiếng động trong lửa trại: Mấy mẩu gỗ cứng đủ cỡ, còi, túi nilông nhỏ (thổi lên túm lại đập như pháo), tù và, kèn tây, sáo, chuông, xe đạp, nhạc ngựa, lục lạc, chuông con, vải cũ (để xé), phèng la, chai đựng nước, tôn mỏng, bi đông nước trong có sỏi, sạn... (xem hình vẽ).
    Đây là đại cương mấy cách làm tiếng động hậu trường:

    MƯA

    + Mưa nhỏ:

    Lấy chổi tre quét lên giấy báo.

    Vò giấy gói đồ nhè nhẹ.

    Cho sạn lên mặt trống rồi cầm trống mà sàn.

    + Mưa lớn có gió:

    Bóp tròn hai quả bóng bằng giấy gói đồ rồi vo tròn chúng trên tay mạnh mẽ (lúc mạnh lúc nhẹ).

    + Mưa đá:

    Cho những hòn sạn nhỏ rơi trên mặt kiếng.

    SẤM SÉT

    - Lấy tấm tôn mỏng treo lên rồi dùng tay hoặc cột dây vào dưới tấm tôn mà rung nhẹ hay mạnh tùy lúc để làm sấm sét.

    - Treo một tấm thứ hai bên cạnh và dùng dùi có bọc vải đập mạnh vào giữa để làm sét đánh.

    - Dùng trống lớn mà đánh thì giống hơn.

    - Có thể đánh vào đáy nồi cũng được song hai cái dùi phải bọc vải cho êm kẻo nồi thủng.

    BÃO

    Làm giả tiếng gió bằng cách thổi qua ống loa.

    CHỚP

    - Nếu ở sân khấu thì lắp sẵn đèn trắng hai bên rồi thỉnh thoảng bật tắt.

    - Ở lửa trại thì có thể làm một ống bễ lò rèn trong đó đốt sẵn mồi lửa và ủ trấu (vỏ thóc), ống thổi nối liền ở ngoài xa, lúc làm chớp thổi vỏ trấu cháy lòe bay lên (có thể làm bằng than vụn hay thứ gì cháy nhạy mà không thành lửa).

    ĐÁM CHÁY

    Cho đèn đỏ rực và làm tiếng động như có mưa lớn, vò giấy bóng kính bắt chước tiếng lửa nổ.

    NÚI LỞ - ĐỘNG ĐẤT - TUYẾT RƠI

    Làm như tiếng sấm và vò giấy bóng kính, hoặc nâng cao những bó củi, tảng đá, để rơi xuống đất, hay có thể dùng phèng la rung nhè nhẹ ở xa.

    SAO ĐỔI NGÔI

    Lấy một cây sào nhỏ hay thanh sắt đầu buộc bông có thấm cồn, đốt lên rồi phất nó qua lại (đèn tắt).

    CHIM CHÓC

    Nhờ tài bắt chước tiếng chim của một thành viên.

    Cho nước vào một cái chén con như chén đựng gạo chim ăn, rồi tìm một ống thổi.

    Thổi bằng ống bán sẵn.

    NGỰA ĐI

    Lấy 2 trái dừa khô gõ vào nhau theo nhịp đi, nếu không có dừa dùng những hộp tròn bằng gỗ gõ cũng được.

    Nếu muốn làm tiếng ngựa đi trên đất cát thì bọc vải vào gáo hay gỗ rồi gõ theo nhịp đi.

    NGỰA KÉO XE

    Cho thêm vào trong cái mõ gỗ hay vỏ dừa khô vài vòng xích sắt làm như hàm thiết và buộc vào mỗi tay một cái nhạc ngựa để nó kêu khi tay cử động.

    TIẾNG SÚNG BẮN

    Đánh vào trống.

    Cột đũa vào ống bơm, đặt ngửa xe đạp lên quay bánh sau cho chạy rồi dí đầu đũa vào làm súng liên thanh.

    XE LỬA

    Kê tấm tôn lên rồi lấy 2 cây chổi chà đập trên đó.

    Dùng tay nắm nện trên trốc thùng phuy không.

    TÀU ĐIỆN

    Kéo lê xích sắt trên một tấm tôn.

    TIẾNG MÁY NỔ

    Lấy que gỗ hay tre cột vào hộp sắt vuông rỗng rồi dí vào bánh xe đạp như kiểu làm tiếng súng liên thanh.

    XE HƠI BẮT ĐẦU CHẠY

    Đẩy một chiếc patin chạy trên tấm gỗ ép kê cao một bên.

    SUỐI CHẢY

    Dùng nilông trắng, hai người hai đầu sân khấu rung lên cho nilông động

    ÁO KHOÁC LỬA TRẠI

    Thường thường để tránh lạnh về đêm, người ta hay quàng chiếc mền trên người để dự lửa trại, tiện thì có tiện nhưng nhiều khi bất lợi như trong trường hợp trời mưa, hoặc ẩm ướt.

    Vì thế, thông thường những người hay đi cắm trại luôn luôn chuẩn bị cho mình một cái áo choàng để dùng trong sinh hoạt lửa trại. Áo này không cần mẫu mã nhất định mà tùy theo sở thích cá nhân, nó có thể là một cái mền cắt thủng 1 lỗ ở giữa để chui đầu vào được, nó có thể là một áo choàng dài tới chân, màu sắc tùy nghi, trên áo thường được thêu hay đính vào các kỷ niệm, dấu hiệu các trại mà người đó từng tham dự.

    Thông lệ này rất hay và đáng được khuyến khích.

    BĂNG REO - TIẾNG REO TRONG LỬA TRẠI

    Xin giới thiệu một số băng reo - tiếng reo dùng trong sinh hoạt lửa trại.

    LỬA TRẠI

    Người điều khiển (NĐK): Lửa bếp

    Cử tọa (CT) : A! A! A!

    NĐK : Lửa đốt nhà

    CT : Ô - Ô – Ô

    NĐK : Lửa lò

    CT : A! A! A!

    NĐK : Lửa giết chóc

    CT : Ô - Ô – Ô

    NĐK : Lửa pháo bông

    CT : A! A! A!

    NĐK : Lửa căm thù

    CT : Ô - Ô – Ô

    NĐK : Lửa trại

    CT : Hoan hô - hoan hô - hoan hô

    LỬA
    NĐK : Ai tàn phá

    CT : Lửa

    NĐK : Ai thiêu hủy

    CT : Lửa

    NĐK : Ai soi sáng

    CT : Lửa

    NĐK : Reo mừng sự ấm áp nuôi dưỡng và soi sáng của lửa

    CT : Hoan ca - hoan ca - hoan ca

    NHÓM LỬA

    NĐK : Hãy nhóm lên

    CT : Ngọn lửa (tay trái đưa ra trước mặt, tay phải chỉ vào lòng bàn tay)

    NĐK : Lửa hận thù

    CT : Dập ngay (bàn tay trái úp, bàn tay phải đập mạnh lên lưng bàn tay trái)

    NĐK : Lửa hờn căm

    CT : Dập ngay (chân phải dậm xuống đất hai lần)

    NĐK : Lửa yêu thương

    CT : Ta cùng nhóm lên - Ah!

    Sau đó bắt đầu hát: “Ngọn lửa trái tim”, “lửa trại”...

    ĐUỐC SÁNG

    NĐK : Đuốc sáng

    CT : Soi chân lý (tay phải nắm lại như cầm đuốc, xoay mình một vòng)
    NĐK : Thắp sáng
    CT : Những niềm tin (hai tay để chéo lên ngực)
    NĐK : Khơi gợi
    CT : Những khát vọng (hai tay vung lên cao)
    NĐK : Vươn đến
    CT : Những tầm cao (hai tay nắm lại và tất cả cùng hô vang: “Chiến thắng! chiến thắng! chiến thắng!”).
    Cùng nhau bắt bài hát về lửa...

    HOAN HÔ ÁNH LỬA

    NĐK : Lửa vui
    CT : Hoan hoan hô
    NĐK : Lửa vui
    CT : Bùng bập bùng
    NĐK : Lửa vui trong đêm nay, bừng sáng!
    CT : Ố, à (hai tay giơ cao, nhanh)
    NĐK : Sáng soi trong đêm mịt mù
    CT : Ố, à (hai tay giơ cao, nhanh)

    BẮT BÀI HÁT “LỬA TRẠI”

    NĐK : Thắp đuốc
    CT : Thắp đuốc (ngón trỏ trái làm đuốc, ngón trỏ phải làm lửa chạm vào nhau)
    NĐK : Đuốc sáng
    CT : Đuốc sáng (năm ngón tay bàn tay trái bung ra)
    NĐK : Châm vào củi
    CT : Châm vào củi (Nhón gót - tư thế châm vào đống củi)
    NĐK : Bùng lên sáng
    CT : Bùng lên sáng (động tác quì, hai tay vung lên cao như lửa)
    NĐK : Sáng tràn lan
    CT : Huy hoàng, huy hoàng, huy hoàng (vỗ tay, nhảy lên, cùng hát bài về ngọn lửa)

    SÁNG - TỐI

    NĐK : Trăng
    CT : Sáng (dang hai tay, lòng bàn tay úp lại)
    NĐK : Mây
    CT : Bay (xoay mình sang phải rồi trái)
    NĐK : Gió
    CT : Thổi (nghiêng mình sang phải rồi trái)
    NĐK : Sấm
    CT : Ầm (khom người xuống)
    NĐK : Mưa
    CT : Rơi (đập hai tay xuống đất)
    NĐK : Tối
    CT : Khiếp sợ (hai tay bịt mặt, gục đầu)
    NĐK : Sáng
    CT : Ah (đứng phắt dậy - vỗ tay - hoan hô)

    MỪNG LỬA THIÊNG

    NĐK : Lửa nấu ăn
    CT : A! Chúng ta nhóm lửa
    NĐK : Lửa hận thù
    CT : Ồ! Chúng ta dập tắt
    NĐK : Lửa tình yêu
    CT : A! Chúng ta nhóm lửa
    NĐK : Lửa chiến tranh
    CT : Ồ! Chúng ta dập tắt
    NĐK : Lửa thiêng
    CT : A (Hai tay xua trên đầu, sau cùng hô to: Hoan hô)

    NỔI LỬA LÊN

    Tất cả : U... u... u... u...
    NĐK : Nổi lửa lên
    CT : Xua tan bóng đêm
    NĐK : Nổi lửa lên
    CT : Nối vòng tay lớn
    NĐK : Nổi lửa lên
    CT : Nối vòng tay lớn
    Cùng hát “Vui ánh lửa trại”

    NỔI LỬA LÊN ĐI

    NĐK : Ơ nào anh chị em ơi!
    CT : Ơi!
    NĐK : Nổi lửa lên đi
    CT : Xua tan ngại ngần
    NĐK : Nổi lửa lên đi
    CT : Cho con tim hơi ấm
    NĐK : Nổi lửa lên đi
    CT : Nối liền con tim
    NĐK : Nổi lửa lên đi
    CT : Cho yêu thương tràn đầy
    Cùng hát “Gọi lửa”

    CÁCH XẾP CỦI LỬA TRẠI

    Có nhiều cách xếp củi để đốt lửa trại: Kiểu tăm xe, kiểu hình nón, kiểu tứ diện (củi chó), kiểu lục lăng, củi cây đinh liệu...

    HÌNH TĂM XE

    Củi được xếp theo hình tăm xe, nghĩa là tất cả củi để dưới đất nhưng có một đầu chống lên nhau đầu kia hướng ra ngoài tạo thành hình tăm xe, dùng lối này ít tốn củi nhưng lửa không cháy cao được.

    HÌNH NÓN

    Là kiểu sắp xếp củi trên đầu chụm lại và dưới chân loe ra; củi nhỏ và khô ở nòm, củi lớn ở ngoài.

    HÌNH TỨ DIỆN

    Là kiểu xếp một hình nón ở giữa bằng củi nhỏ và khô, bên ngoài xếp thành hình vuông 2 củi ngang 2 củi dọc cứ thế mà chồng lên nhau bọc lấy hình nón, cao dần lên cho khuất chỏm hình nón, nhớ để chỗ châm lửa về phía gió thổi.

    HÌNH LỤC LĂNG

    Xếp hình nón ở giữa như trên, bên ngoài bao bọc bằng củi lớn xếp hình tam giác cân, xéo nhau cao lên.

    HÌNH BÁT GIÁC

    Như kiểu tứ diện song các hình vuông xéo nhau chia thành tám cạnh.

    CÂY ĐINH LIỆU

    Là hình thức tổ chức lửa trại lớn; ở thành thị thì có thể là cây bông, pháo xì hoa từ gốc đến ngọn (cao khoảng 3-4 mét trở lên) cho cháy lâu hàng giờ để vừa xem vừa ăn uống, vui chơi trò chuyện với nhau. Ta có thể làm cây đinh liệu bằng cách xếp đống lửa trước bằng cả thân cây (không chặt nhỏ) cao từ 2 đến 5 mét. Kiểu này hay xếp thành hình nón và cần đến 6 tới 10 cây cao đều nhau, cây cần khô và có nhựa như cây thông hoặc thuộc loại dễ cháy. Muốn cho cây cháy ngay và sáng rực từ đầu đến chân, ta có thể phết nhựa thông, nhựa chai vào suốt quanh thân cây. Nhớ đừng quên xếp củi hình lục lăng hay bát giác ở dưới cùng để giữ lửa.

    CÂY ĐÈN HIỆU

    Là hình thức tổ chức lửa trại lớn, ta dùng 1 cây cao và cắm pháo bông từ đầu đến chân cho cháy sáng hàng giờ để thay thế cho việc đốt lửa trại (dạng này chỉ dùng cho những nơi người ta cấm không cho đốt lửa trại). Chúng ta có thể làm cây đèn hiệu bằng cách xếp, cả thân cây cao từ 3 đến 5 mét theo kiểu hình nón và dùng từ 5 đến 7 cây là vừa. Ta nên dùng cây dễ cháy như thông chẳng hạn. Muốn cho tất cả cây cùng cháy rực lên ta dùng nhựa thông phết một lớp mỏng ngoài thân cây, nhưng dù sao muốn nó cháy lâu ta cũng phải xếp 1 đống củi hình tứ giác, lục lăng hay bát giác ở giữa để giữ lửa.



    Ngoài ra còn có một cách nữa là cho cát vàng khô vào một chậu hoặc lon, sau đó đổ dầu hôi vào, đánh diêm ném lên cát là cháy, khi hết dầu ta chỉ cần đổ thêm dầu là lửa lại bừng sáng.

    Cách này thường làm để trong lòng đống củi để khi trại trưởng châm lửa là nó bắt liền, nếu không có cát thì để ống dầu hôi nhưng nhúng giẻ rách, tránh đổ dầu ở ngoài vào khi lửa không cháy và vì thế nên chuẩn bị củi lửa và đầu trước.

    Trong khi làm các kiểu xếp củi trên đây, ta nên nhớ phải để một chỗ hổng để châm lửa vào; nếu dự trù cách khai lửa không bằng cách châm đuốc thì phải tiên liệu nơi bắt lửa đầu tiên, ở đó ta nên để một ít dầu hỏa hay nhựa thông để lửa dễ bắt.

    CÁCH TẠO MÀU CHO LỬA

    Trong đêm lửa trại nhiều khi cũng cần đến việc sử dụng các cách làm màu cho lửa để tăng phần hào hứng cho đêm lửa trại.

    Làm khói: Ném vào đống lửa đang cháy rực rỡ một ít cỏ tươi hay lá tươi.

    Làm sáng rực: Ném vào lửa từng nắm rơm khô hoặc giấy cắt nhỏ.

    Làm lửa màu đỏ: Ném vào lửa một nắm bột màu đen.

    Làm lửa xanh lục: Ném vào lửa một nắm bột sulfate de cuivre.

    Làm lửa vàng: Ném vào lửa một nắm muối to hay nhựa.

    Làm lửa xanh lơ: Ném vào lửa giấy bạc nhũ trắng.

    Làm lửa nổ: Ném hạt nhãn khô, cắt ống lồ ô bịt kín ném vào.

    CÁCH LÀM ĐUỐC

    Dù có hiện đại đến bao nhiêu đi chăng nữa thì trong đêm lửa trại vẫn cần phải có ánh lửa bập bùng của ngọn đuốc và củi lửa trại. Vì vậy, để chuẩn bị tốt cho đêm lửa trại, đầu tiên chúng ta nên lưu ý đến công việc làm đuốc. Có các cách thường làm sau đây:

    Dùng nhựa thông, nhựa tràm, nhựa chai nấu lên cho lỏng rồi lấy các cây gậy vừa tầm tay từ 60 đến 80cm, nhúng đầu gậy vào nhựa khoảng 15cm, sau đó để cho hơi khô và lấy vải hoặc giấy báo bọc xung quanh 1 lần, sau đó tiếp tục nhúng vào nhựa nhiều lần.

    Lấy ống sữa bò đóng lên một cây gậy trong có đổ cát vàng khô; lúc sắp đốt đổ dầu lửa vào cho ướt hết thì thôi, đến khi cần quẹt diêm lên là cháy.

    Lấy ống tre, nứa khô cho nhựa chai vào trong; ở ngoài quấn giấy xanh đỏ cho đẹp. Nhớ làm cái che tay cho khỏi bị nóng. Khi đốt lên là cháy.

    Lấy ống tre xanh tươi trong đổ dầu lửa, rồi lấy vải thấm vào làm bấc đốt lên là cháy.

    Dùng ống tre chẻ đầu thành 6-8 phần đều nhau, đặt lon sữa bò vào và dùng dây kẽm cột lại. Bằng cách này dầu sẽ không đổ ra ngoài.

    LÀM CHUỘT LỬA

    Chuột lửa là một công cụ cho việc châm lửa. Có nhiều cách để chế tạo chuột lửa, tùy sáng kiến của mỗi người: hoặc từ trên cao chạy xuống, hoặc từ dưới thấp chạy lên cao rồi mới xuống đống lửa.

    TỪ TRÊN CAO CHẠY XUỐNG

    - Căng dây kẽm đến thân cây hay một điểm cao và có độ dốc vừa phải, đầu dây kẽm (phía đống lửa) chúng ta nối bằng một đoạn dây nilon ngắn để sau khi cháy thì dây đứt, không gây trở ngại cho việc trình diễn.

    - Lấy lon sữa bò, lon bia... cho giẻ tẩm dầu vào, lấy dây kẽm làm thành một cái quai. Dùng tim đèn nối dài (hay vải se lại thành sợi) cột vào lon.

    - Treo lon lên điểm cao nhất của sợi dây kẽm, cố định bằng dây thun, thòng dây tim xuống cho vừa tầm.

    - Khi đốt dây thun đứt, lon lửa sẽ trôi theo độ dốc xuống đống lửa.

    TỪ DƯỚI CHẠY LÊN:

    Nguyên tắc thì vẫn trượt theo dây nhưng một bên thì nhờ trọng lượng, một bên thì nhờ dây thun đàn hồi. Loại chuột lửa này chúng ta để cho hộp lon nằm ngang và làm hai khoen bằng dây kẽm để dễ dàng trượt theo dây hướng dẫn.

    Từ một góc nào đó, dùng dây thun tạo lực đàn hồi để bắn mồi lửa lên cao, có sẵn mồi lửa, từ đó chuột sẽ chạy xuống đống củi.

    KỂ CHUYỆN LỬA TRẠI

    Có những lúc người ta cần yên lặng, giờ phút ấy nếu để trôi qua trống rỗng sẽ làm hỏng cả cuộc vui. Tương trợ cho thời gian “gay cấn” này chúng ta nên kể chuyện.

    Những câu chuyện kể có những tác dụng rất lớn: giáo dục, tuyên truyền đến người nghe một cách tế nhị, khéo léo, giúp mỗi người tự chiêm nghiệm và rút ra bài học cho mình.

    Quan trọng nhất là phải khéo léo khi chọn câu chuyện để kể sao cho thích hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng, tùy lúc tùy nơi... nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.

    Muốn vậy người kể chuyện phải chuẩn bị một số câu chuyện, theo những đề tài nhất định. Những câu chuyện này có thể sưu tầm trong tủ sách “Học làm người”, “Cổ học tinh hoa”, “Quà tặng của cuộc sống”...

    CHƯƠNG TRÌNH LỬA TRẠI

    MỞ ĐẦU LỬA TRẠI

    Mở đầu lửa trại là một thời khắc rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả đêm lửa trại.

    Trong chương trình lửa trại có ghi cụ thể ngày giờ thực hiện lửa trại; thế nhưng nên có sự nhắc nhở lại vào buổi chiều và báo trước từ 5 đến 15 phút trước khi diễn ra lễ trại để các tiểu trại có sự chuẩn bị chu đáo hơn.

    Hiệu lệnh tập trung ra vòng tròn được báo lên (hiệu còi, hiệu kèn, lời mời gọi...), các tiểu trại nhanh chóng đến cùng lúc (có thể đi thành hàng từng đơn vị trong im lặng và trật tự, nhưng có khi cũng vừa chạy vừa hô tiếng reo của đơn vị mình. Từng đơn vị đứng vào vị trí đúng qui định của quản trò đã hướng dẫn trước, đoạn tất cả im lặng đợi lời khai mạc của Trại trưởng (tùy theo chương trình mà lời khai mạc có khi trước, trong hoặc sau khi châm lửa).

    Trong đêm tối, ánh sáng dường như được tắt hết, đèn pin chỉ bật lên khi rất cần, tất cả đều hết sức giữ im lặng triệt để trước giờ khai mạc lửa trại.

    Sau lời khai mạc, quản trò điều khiển đêm lửa trại. Tất cả theo lệnh của quản trò: gọi lửa, châm lửa, nhảy lửa, ngồi quây quần bên lửa, hát múa, vui chơi... Quản trò trở thành linh hồn của đêm lửa.

    Lễ châm lửa cũng rất quan trọng. Có nhiều hình thức châm lửa như: làm chuột lửa từ trên cao xuống, dùng đuốc châm, dùng dây điện trở... (xem phần các cách khai lửa, châm lửa).

    Giới thiệu mẫu một chương trình khai mạc lửa trại thông thường:

    Mở đầu lửa trại:
    Gọi lửa: (âm thanh, trống chiêng, tiếng hú).
    Quản trò hô: Ơ này anh em ơi! Nào về đây ta cùng nhau quây quần, để đền bù những lúc sương khuya trong đêm đen bầu trời mịt mùng.
    Cử tọa cùng đáp: Trong đêm đen bầu trời mịt mùng.
    Quản trò hô: Ơ này anh em ơi! Nào về đây ta cùng đốt lửa hồng, nào chúng ta hát, ta ca, cao cao bên lửa hồng bập bùng.
    Cử tọa đáp: Cao cao bên lửa hồng bập bùng.
    (diễn ra hoạt cảnh lửa trại: thần bóng tối, thần ánh sáng).

    Nếu tổ chức lửa trại truyền thống - thì diễn hoạt cảnh Lạc Long Quân Âu Cơ:
    Gọi lửa: (âm thanh, trống chiêng, tù và, tiếng reo).
    Quản trò hô: Hú... hú... Hỡi những con người can đảm, dũng mãnh của các bộ tộc, hú... hú...
    Hỡi đồng bằng của quốc tổ Long Quân và Âu Cơ, hú... hú...
    Hỡi những người can đảm của Trường Sơn bất khuất, của biển Đông hùng vĩ cùng về đây mừng lửa (các đội đốt đuốc và nối thanh hàng chạy về vị trí đốt lửa trại).
    Cử tọa đáp bằng tiếng reo: Hú... AAA... (tiếng reo của đơn vị trại) cùng chạy về theo từng đội và nối thành vòng tròn - mỗi người chuẩn bị một cây đuốc và đồng loạt châm lửa vào đống củi (có thể mời đại biểu danh dự châm lửa).
    Nhảy lửa: (múa trăn hoặc nhảy lửa).
    Hát các bài gọi lửa, nhảy lửa, múa trăn...
    Khai mạc lửa trại: Lời khai mạc của trại trưởng súc tích, ngắn gọn, nêu lên tinh thần chủ đề trại, tinh thần của các tiểu trại... và một số nội dung cần thông báo.

    NỘI DUNG CHÍNH

    Đây là phần quan trọng nhất của đêm lửa trại, bao gồm các hoạt động tùy theo chương trình đề ra cho phù hợp với từng chủ đề lửa trại:

    - Các hoạt động mà tất cả người chơi có thể tham gia chung như: Hát, nhảy múa, trò chơi, tiếng hô, tiếng reo...

    - Các kịch ngắn, các màn ảo thuật, các câu chuyện ngắn...

    - Các tiết mục dự thi giữa các đội: thi hóa trang vui, thi văn nghệ...

    Chú ý: Bằng mọi cách phải đạt được mục đích đã đề ra của đêm lửa trại và phải lưu ý đến người tham dự về nhiều phương diện như: sở thích, trình độ... Để ý đến cả địa điểm tổ chức.

    Quản trò đừng nên luôn luôn bắt buộc người dự đứng lên ngồi xuống, hô reo... sẽ gây sự nhàm chán mệt mỏi cho người dự và phiền phức cho mọi người. Rất giản dị, không nhiều lời, tránh những khoảng thời gian chết, quản trò chịu trách nhiệm về nhịp điệu lôi cuốn đêm sinh hoạt lửa trại bằng khả năng của mình.

    Nếu là lửa trại nhằm phục vụ cho các chương trình khác như: khai mạc, bế mạc, tổng kết, huấn luyện... thì trong nội dung chính này phải có chương trình riêng lồng ghép vào sao cho uyển chuyển, linh hoạt... không nên gượng ép.

    LỄ TÀN LỬA

    Lửa trại cần được bắt đầu trong không khí đầy âm thanh và hào hứng, tàn lửa kết thúc trong sự luyến tiếc và trào dâng cảm xúc.

    Theo mỗi nhịp điệu của chương trình và nhìn vào ngọn lửa, ta sẽ rõ cuộc lửa trại sắp kết thúc. Sau khi hoàn tất các hoạt động trong chương trình trại, tổng kết và tặng quà lưu niệm, quản trò mời toàn thể người tham dự tiến sát vào vòng lửa hơn. Quản trò bắt nhịp để tất cả cùng hát bài ca “Tàn lửa” và những bài hát chia tay. Im lặng trong giây lát, trại trưởng kết thúc và chúc mọi người một đêm yên lành, một giấc ngủ ngon (ở đây, quản trò thường kể 1 câu chuyện ý nghĩa, một lời dặn dò động viên thấm thía, ân cần và gần gũi). Tất cả chia tay trong im lặng, về lại đơn vị mình.

    CHỦ ĐỀ LỬA TRẠI

    Để cho buổi lửa trại có ý nghĩa, chúng ta nên hướng chương trình theo một chủ đề nào đó.

    Đề tài đặt ra phải khai thác triệt để những năng khiếu, sáng kiến và hiểu biết của trại sinh, phải phù hợp với chủ đề trại. Quản trò trên cơ sở đó cần phải sắp xếp chương trình và các tiết mục cho mạch lạc và đúng lịch trình, các bài ca, tiếng reo, vũ điệu... cho thật gắn bó nhuần nhuyễn với chủ đề.

    Ví dụ:Nếu là buổi lửa trại kỷ niệm ngày thành lập đơn vị, chúng ta nên xoay quanh chủ đề truyền thống đơn vị, gắn liền với việc giáo dục và phát huy. Nếu là kỷ niệm danh nhân văn hóa lịch sử thì nên chọn đề tài liên quan đến cuộc đời sự nghiệp của nhân vật đó...

    Việc chọn đề tài cho đêm lửa trại không khó, cái khó là làm sao phát huy được hết nguồn nhân lực sẵn có trong trại sinh để chương trình hấp dẫn, lôi cuốn người tham gia.

    HÌNH DÁNG VÒNG TRÒN SINH HOẠT LỬA TRẠI

    Cách cấu tạo hình dáng vòng tròn sinh hoạt lửa trại được xếp thành 2 loại: Vòng tròn kín và vòng tròn hở (nghĩa là vòng tròn bị đứt quãng).

    Thông thường loại thứ nhất hay được ưa chuộng vì người ta cho rằng, theo bẩm tính, những người dự cuộc dù ở địa vị nào, ở bất kỳ thời đại nào, tại nơi nào cũng muốn họp thành một vòng tròn kín quanh đống lửa. Luật lệ tự nhiên này không chịu một ngoại lệ nào khác nữa. Hơn thế nữa, nó phù hợp cho các hoạt động thi đua cũng như thực hiện các trò chơi một cách tốt nhất cho mọi người cùng tham gia.

    VỊ TRÍ VÒNG TRÒN SINH HOẠT LỬA TRẠI

    Ban tổ chức nên chọn khu đất trống trải, xa các khu rừng thưa, không có tán cây và tàn cây thấp dễ bắt cháy; tương đối bằng phẳng, nền đất không trũng và ẩm ướt. Cần dọn sạch lá cây rụng và các cành gỗ mục từ buổi chiều khi đốt lửa trại. Địa điểm cũng không nên quá gần khu vực dựng lều trại của các đội nhóm và Ban tổ chức, nhưng nếu được, càng gần khu vực có nguồn nước càng tốt. Cần khảo sát thật kỹ khu vực đốt lửa trại để ngừa các loại bom mìn và chai lọ, dây thép gai... còn sót lại sau chiến tranh.

    Nếu lửa trại dự kiến có qui mô lớn (từ 200 trại sinh trở lên), có thể tận dụng ngay những gốc cây to bị mục hoặc đã đốn từ lâu để làm điểm trung tâm. Nên xin phép, liên hệ trước tại các nơi này.

    VỊ TRÍ ĐỐNG LỬA TRẠI

    Đống lửa luôn luôn ở giữa vòng tròn để các đội nhóm cùng tổ chức được các nghi thức gọi lửa, đốt lửa và nhảy lửa, sau đó cũng để diễn ra các sinh hoạt bên lửa.

    Riêng “sân khấu” văn nghệ sẽ uyển chuyển xoay vòng theo vị trí ngồi của mỗi đội tham dự. Nhưng hay nhất là “sân khấu” ở hẳn một phía, thuận tiện cho khán giả, trong đó có quan khách, Ban tổ chức, Ban giám khảo... có thể quan sát chung để chấm điểm và đề phòng những bất trắc rủi ro.

    Nên chú ý chọn vị trí sao cho trục khán giả - sân khấu luôn vuông góc với hướng gió để tránh bị tạt khói gây ngộp và tàn lửa gây phỏng.

    Đống lửa trong đêm lửa trại có 3 tác dụng: Sưởi ấm - soi sáng - gây bầu khí ấm áp. Vì thế, đêm lửa trại có thành công hay không phần lớn là do khâu chuẩn bị củi đốt, hình thức chất củi và kỹ thuật duy trì ngọn lửa khi to khi nhỏ, khi sáng rực khi dịu mờ.

    Củi dự trữ được xếp bao quanh thành một vành đai quanh đống lửa, vừa có tác dụng sấy sẵn nếu cành cây còn tươi, lại vừa đề phòng củi đang cháy lăn ra hoặc tro than bắn vào vòng sinh hoạt.

    Củi dự trữ là củi to, thân dài khoảng một mét trở lại tùy qui mô đống lửa lớn hay nhỏ, cũng đừng quên phải có nhiều cành nhỏ, khô giòn để mồi thêm khi cần làm đống lửa bùng lên rực sáng. Củi có thể được nhặt trong khu vực cắm trại, có thể được mua sẵn nhưng hay nhất là mỗi trại sinh mang theo góp vào. Tuyệt đối không dùng vỏ xe và các vật liệu nhựa gây khói đen và khét.

    Y PHỤC KHI SINH HOẠT LỬA TRẠI

    Y phục mặc khi dự lửa trại không được bừa bãi, lôi thôi, không mặc áo quần đi ngủ và cũng không mặc lễ phục chỉnh tề (ngoại trừ khi có yêu cầu của Ban tổ chức).

    Thể thức ngồi là vòng tròn kín quanh lửa, người nọ cạnh người kia, cùng nhảy múa ca hát nhất loạt theo sự điều khiển của quản trò, như vậy chắc chắn sẽ tạo được bầu không khí thân mật, những sắc thái đồng nhất để tạo nên một đêm lửa trại thật ấm cúng và sảng khoái cho tất cả mọi người.

    Điều này cũng rất quan trọng đối với sự thành công của một chương trình lửa trại.

    CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

    CHUẨN BỊ CHƯƠNG TRÌNH

    Thông báo chủ đề và những yêu cầu cụ thể cho từng tiểu trại và cá nhân trong quá trình chuẩn bị và tổ chức lửa trại.

    Bố trí thời gian cho các tiểu trại chuẩn bị trước khoảng 24 giờ nếu trại 1 ngày, trại nhiều ngày phải thông báo trước.

    Thu thập các tiết mục đăng ký của các đơn vị (nội dung phải bám theo chủ đề) để tiện cho công tác biên tập và dàn dựng kịch bản chương trình lửa trại.

    Phân công các tiểu trại tham gia các hoạt động chuẩn bị phục vụ lửa trại (quần áo, y phục hóa trang, tiếng reo, đuốc, nhảy lửa, trò chơi, hóa trang...).

    Lên kịch bản và dàn dựng chương trình lửa trại tùy theo qui mô của lửa trại.

    Chú ý:Đảm bảo thời gian để các đơn vị chuẩn bị và tập dợt nhằm tránh tình trạng có những sáng tác tức thời cẩu thả vào giờ chót, gọi là góp mặt cho có vị.

    Chương trình lửa trại phải được chuẩn bị trước nhưng phải giữ bí mật cả về nội dung và hình thức để tạo sự ngạc nhiên lý thú cho người tham dự.

    BAN ĐIỀU HÀNH GỒM

    + Quản trò: được xem là người “giữ linh hồn” của đêm lửa trại.

    Nhiệm vụ:

    Phối hợp với Ban chỉ huy trại để xây dựng chủ đề, chương trình, kịch bản... đêm lửa trại.

    Bố cục và sắp xếp chương trình lửa trại, bố trí các hoạt động vui chơi như: các hội thi, băng reo, bài hát, tiết mục xen kẽ thời gian trống trong chương trình lửa trại.

    Kiểm tra, nhắc nhở, đôn đốc chương trình đảm bảo đúng thời gian, tiến độ.

    Dẫn giải, giới thiệu chương trình, lấp thời gian trống bằng những sinh hoạt cộng đồng.

    Chủ động mời đại biểu, quan khách, trại sinh cùng tham gia sinh hoạt lửa trại.

    Cắt bỏ những tiết mục không phù hợp.

    + Quản ca:là người phụ trách phần hát, nhảy múa, âm thanh tiếng động trong đêm lửa trại. Đây là người hoạt náo chứ không nhất thiết phải là người hát hay.

    Nhiệm vụ:

    Phối hợp với quản trò để điều khiển chương trình lửa trại.

    Chọn bắt các bài hát phù hợp với nội dung: mở đầu, nhảy lửa, gọi lửa, trại ca, băng reo khen, chê, chúc mừng, mời gọi, hoan hô, cám ơn, hát đuổi, hát bè, hát to, hát nhỏ, hát tàn lửa...

    Thúc đẩy cao trào sinh hoạt ca hát hoặc điều chỉnh sự lắng đọng cần thiết theo chủ đề, yêu cầu của đêm lửa trại.

    + Quản lửa:

    Nhiệm vụ:

    Chịu trách nhiệm chính về các hoạt động có liên quan đến củi lửa. Phải biết kỹ thuật chất củi cho lửa cháy đều, kể cả đặc tính của cây và số lượng củi cần thiết để hoàn tất đêm lửa trại mà không bị củi thừa hay thiếu...

    Chọn vị trí, hướng gió, bảo vệ những bãi cỏ, nền xi măng, sắp xếp củi, tăng giảm ngọn lửa, chuột lửa, lửa điện, màu lửa... thu dọn lửa đề phòng hỏa hoạn, kết thúc phải trả lại nguyên trạng như trước khi tổ chức lửa trại.

    CÁC HÌNH THỨC LỬA TRẠI

    Tùy theo sự khác biệt về hình thức, nội dung và nhất là tinh thần của mỗi lửa trại, chúng ta có thể phân loại lửa trại như sau: Lửa trại họp đoàn, lửa trại kết thân, lửa khai mạc, lửa trại truyền thống, lửa trại chủ đề, lửa dặm đường, lửa trại nghệ thuật, hoa lửa...

    Tùy điều kiện, lửa trại có thể tổ chức trong nhà, bày ra các mô hình giả lửa trại như: điện, nến, que củi xếp theo mô hình lửa trại.

    Căn cứ vào mục đích, số lượng người tham gia, chúng ta có thể phân loại như sau:

    LỬA TRẠI HỌP ĐOÀN

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Sinh hoạt riêng của tiểu trại, chi hội, đội nhóm...

    Sinh hoạt trước đêm có lửa trại chính thức hoặc lửa trại tổng kết: quây quần, thân ái, tin tưởng...

    NỘI DUNG

    Sinh hoạt nhẹ nhàng: trò chơi, ca hát cộng đồng, rút kinh nghiệm những việc làm, hoạt động trong ngày, thống nhất những dự tính công việc và hoạt động cho những ngày tiếp theo. Nếu chuẩn bị cho trại tổng kết thì nêu những ưu khuyết điểm để rút kinh nghiệm, trao đổi...

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Sau mỗi ngày hoạt động, kéo dài khoảng từ 30 phút đến 45 phút.

    LỬA TRẠI KẾT THÂN

    (lửa trại tiếp xúc, giao lưu)

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Tổ chức giữa các đơn vị còn xa lạ để biết hơn về nhau.

    Tổ chức giữa các đơn vị kết nghĩa.

    Sinh hoạt giữa các trại sinh trong cùng đơn vị trại.

    NỘI DUNG

    Sinh hoạt làm quen.

    Giới thiệu nét đặc trưng của các đơn vị với nhau.

    Hoạt động giao lưu chung - liên kết hoạt động.

    Trao quà lưu niệm tập thể, cá nhân.

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Ngay đêm đầu tiên gặp gỡ, kéo dài khoảng từ 45 phút đến 60 phút.

    LỬA KHAI MẠC

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Khai mạc một đợt trại dài ngày như trại huấn luyện, trại sinh hoạt, trại hè...

    Ra mắt Ban chỉ huy trại, trại sinh của các đơn vị.

    Chính thức nhập trại hoạt động.

    Hình thức: Trại huấn luyện, trại dài ngày.

    NỘI DUNG:

    Gọi lửa, nhảy lửa, sinh hoạt truyền thống.

    Châm đuốc khai mạc.

    Nghi lễ chào cờ.

    Nghi thức khai mạc.

    Trại trưởng nói chuyện (ngắn gọn, súc tích, đúng chủ đề)

    Để đơn giản bớt phần tổ chức, trong một hội trại dài ngày có thể kết hợp lửa trại giao lưu (đã nói ở phần trên) và lửa trại khai mạc vào một đêm, phần giao lưu, tiếp xúc, làm quen... được tiến hành trước và sau là phần khai mạc ngắn gọn nhưng cũng mang tính chất trang trọng, thân ái, đoàn kết, vui vẻ...

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Từ 1 giờ 30 phút trở lên.

    LỬA TRẠI TRUYỀN THỐNG

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Giáo dục truyền thống nhân các ngày kỷ niệm, ngày truyền thống.

    NỘI DUNG

    Lời dẫn chuyện, sinh hoạt truyền thống, gọi lửa châm đuốc truyền thống, nhảy lửa.

    Tái hiện lịch sử, truyền thống qua các hoạt cảnh lửa trại.

    Giao mỗi tiểu trại chuẩn bị các đề tài nhỏ trong kịch bản tổng thể nhằm tạo hiệu ứng giáo dục trong mỗi trại sinh.

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Từ 1 giờ 30 phút trở lên.

    LỬA TRẠI CHỦ ĐỀ

    (lửa trại tuyên truyền)

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Tạo không khí chủ động, hấp dẫn hơn trong sinh hoạt, bằng các nội dung tọa đàm, thảo luận, hoạt động xoay quanh một hay nhiều chủ đề.

    NỘI DUNG:

    Gọi lửa, nhảy lửa, châm lửa trại.

    Gợi ý chủ đề để mọi trại sinh tham gia.

    Phổ biến chủ đề để các trại sinh chuẩn bị: Lịch sử - công tác xã hội - Phòng chống tệ nạn xã hội...

    Tổ chức kết nạp Đoàn viên, Hội viên, ra mắt các Đội Thanh niên tình nguyện, Đội công tác xã hội, các CLB Đội, nhóm...

    Lời căn dặn của trại trưởng trước khi kết nạp.

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Từ 1 giờ 30 phút trở lên.

    LỬA DẶM ĐƯỜNG

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Bồi dưỡng tinh thần, nâng cao khí thế sau một ngày hành quân mệt nhọc, gặp gỡ sau một ngày hành quân cắm trại.

    NỘI DUNG

    Sinh hoạt thư giãn, ca hát, chuyện trò trao đổi câu chuyện trên đường hành quân.

    Mỗi thành viên góp chương trình một cách tự nhiên.

    Trao đổi rút tỉa kinh nghiệm cho ngày mai, cho tương lai.

    Người phụ trách nói lời tàn lửa, chúc mọi người ngủ ngon.

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Thông thường từ 45 phút đến 1 giờ.

    LỬA TRẠI NGHỆ THUẬT

    NỘI DUNG:

    Lửa trại thông tin cổ động

    Liên hoan hát dân ca

    Liên hoan ca kịch, tiểu phẩm

    Sáng tác văn thơ, hội họa

    Âm nhạc, hợp xướng

    Liên hoan các nhóm, ban nhạc, ca khúc chính trị...

    Lửa trại loại này khó thành công vì phải kết hợp được nhiều yếu tố tiến sang lãnh vực nghệ thuật sân khấu. Đơn giản và dễ thành công nhất là những tuồng điệu bộ, những bản dân ca, những điệu vũ dân tộc, kể cả đọc sách ngâm thơ... đã được các tiểu trại tập dợt thành thạo từ lâu và để dành riêng cho loại lửa trại đặc biệt này.

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Khoảng 1 giờ 30 trở lên.

    LỬA HOA

    (dành cho thiếu nhi)

    NỘI DUNG

    Phụ trách hát, kể chuyện.

    Các em hóa trang thành những con thú dễ thương, bông hoa đẹp diễn cảnh theo nội dung từng bài hát, câu chuyện...

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Khoảng 45 phút đến 1 giờ.

    LỬA TĨNH TÂM

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Làm cho tinh thần của đoàn thể thêm gắn bó, sắt son.

    Suy ngẫm những điều hay dở trong cuộc sống mà mình đã trải qua để rút ra những điều tốt đẹp cho cuộc sống và cho mọi người.

    NỘI DUNG

    Trại trưởng có lời dẫn cho đêm lửa trại tĩnh tâm.

    Chuẩn bị 1 ngọn nến cho mỗi người, 1 nhóm từ 3 đến 5 người.

    Một nhóm lửa nhỏ cho nhóm người, phân đội, tiểu trại.

    Một đống lửa trại cho 1 chi hội, tiểu trại...

    Tất cả im lặng mặc tưởng bên đống lửa trại, ngọn lửa như ánh sáng chân lý soi rọi những điều hay dở trong lòng mỗi người, tất cả mọi trại sinh cùng suy ngẫm, mặc tưởng trong im lặng (tĩnh tâm khoảng 10 phút).

    Sau đó các trại sinh sẽ nói lên những cảm nghĩ từ đáy lòng mình, những suy gẫm rút ra từ cuộc sống, từ những điều hay và chưa hay để hướng đến cái tốt đẹp chân, thiện, mĩ.

    Suy ngẫm nhắc nhở lại tôn chỉ mục đích của đoàn thể.

    Trại trưởng giải thích những băn khoăn, làm thông suốt tư tưởng trước khi kết nạp Đoàn - Hội.

    ĐỐI TƯỢNG

    Dành cho những người hoạt động nhiều năm trong phong trào thanh thiếu niên và các đối tượng chuẩn bị kết nạp Đoàn, Hội.

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Lửa được tổ chức vào đêm khuya, không gian tĩnh lặng (khoảng 30 phút đến 45 phút), khi tàn lửa trại chính thức.

    Chú ý:Lửa tĩnh tâm chỉ có lời dẫn chuyện, phút mở đầu và tâm sự, nhắc nhở định hướng khi phút kết thúc của trại trưởng, không có nghi thức khai mạc, bế mạc, không có những sinh hoạt sôi nổi.

    Lửa tĩnh tâm là phương pháp giáo dục Tâm, Đức, Trí, xuất phát từ tâm niệm của mỗi người, là hình thức giáo dục và tự giáo dục cao trong các loại hình lửa trại.

    LỬA TRẠI TỔNG KẾT

    (dùng cho kết thúc một ngày trại)

    MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA

    Tái hiện lại các hoạt động lửa trại, tạo ấn tượng mạnh về các kỷ niệm tại đất trại để tạo mối dây liên kết mọi trại sinh, mọi đơn vị trước khi kết thúc cuộc trại.

    Phát huy nét riêng, sở trường, khả năng tháo vát sáng tạo của trại sinh, của mỗi đơn vị từ các chủ đề tại đất trại.

    NỘI DUNG:

    Gọi lửa, nhảy lửa.

    Từng đơn vị tự thiết kế và tự giới thiệu về nét đặc trưng của đơn vị mình (chương trình tự giới thiệu có hóa trang).

    Mỗi đơn vị có một chương trình tham gia, tùy yêu cầu từ 10 đến 15 phút (hợp ca, đồng ca, múa, kịch, tấu hài, hóa trang văn, thơ, nhạc, kịch...).

    Sinh hoạt chung toàn trại.

    Lời tổng kết của trại trưởng về những ấn tượng khó quên nơi đất trại như nhật ký trại...

    Các đơn vị chia tay về trại nghỉ, có thể sinh hoạt nhẹ, tâm sự, nói chuyện nhưng không tổ chức sinh hoạt ồn ào, náo động...

    THỜI GIAN TỔ CHỨC

    Từ 1 giờ 30 trở lên.

    KINH NGHIỆM TỔ CHỨC

    Tùy từng lứa tuổi, các đêm lửa trại nên được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng nhu cầu tinh thần và thích hợp với điều kiện tâm sinh lý của từng đối tượng.

    - Lứa tuổi thiếu nhi: Hình thức Hoa Lửa, chỉ nên kéo dài 45 phút đến 1 giờ; gồm nhiều tiết mục múa hát có xen kẽ trò chơi nhỏ, có bánh kẹo cho thêm phần vui nhộn, kết thúc tối đa vào lúc 22 giờ để đảm bảo sức khỏe.

    - Lứa tuổi thanh niên: Lửa trại kéo dài từ 1 giờ trở lên (tùy theo nội dung và hình thức lửa trại mà chọn thời gian cho phù hợp). Có gọi lửa và nhảy lửa; phần văn nghệ có ca, múa, kịch, hoạt cảnh... xen kẽ các trò chơi. Kết thúc tối đa lúc 23 giờ.

    Riêng lửa tĩnh tâm nên bắt đầu sau 23 giờ.

    - Hình thức Lửa dặm đường: thường dành cho các đội nhóm, các đối tượng tham quan, du lịch, dã ngoại... nếu thích có thể kéo dài qua đêm không ngủ; không cần gọi lửa và nhảy lửa; có thể tổ chức trong nhà, trên sân thượng, ngoài vườn trên bãi biển... phần văn nghệ hoàn toàn tự phát, chính yếu là trò chuyện chia sẻ theo từng chủ đề; có thể có làm bánh, nướng thịt, lùi khoai và bắp ngô... ăn uống vui vẻ với nhau.

    Trong 3 hình thức nêu trên, dạng Lửa trại là thông dụng nhất vì nó có thể bao gồm các loại lửa khác tùy theo chương trình nội dung và mục đích ý nghĩa của từng cuộc trại. Hơn nữa, kỹ thuật tổ chức một đêm lửa trại đòi hỏi nhiều chi tiết phức tạp, nên chúng ta cần đi sâu tìm hiểu dạng này. Một khi đã từng trải qua một đôi lần tổ chức lửa trại, các bạn sẽ có kinh nghiệm hơn để thực hiện dạng Hoa lửa và Lửa dặm đường.

    Tóm lại tuy có những hình thức lửa trại khác nhau nhưng tất cả đều có một yêu cầu duy nhất, đó là nội dung và đề tài trong đêm lửa trại. Khi tổ chức cần chú trọng đến mục đích yêu cầu của chương trình lửa trại mà có sự chuẩn bị cho phù hợp cả về nội dung và hình thức. Đặc biệt nên chú trọng đến đối tượng sinh hoạt của đêm lửa trại.

    CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

    CHUẨN BỊ CHƯƠNG TRÌNH

    Thông báo chủ đề và những yêu cầu cụ thể cho từng tiểu trại và cá nhân trong quá trình chuẩn bị và tổ chức lửa trại.

    Bố trí thời gian cho các tiểu trại chuẩn bị trước khoảng 24 giờ nếu trại 1 ngày, trại nhiều ngày phải thông báo trước.

    Thu thập các tiết mục đăng ký của các đơn vị (nội dung phải bám theo chủ đề) để tiện cho công tác biên tập và dàn dựng kịch bản chương trình lửa trại.

    Phân công các tiểu trại tham gia các hoạt động chuẩn bị phục vụ lửa trại (quần áo, y phục hóa trang, tiếng reo, đuốc, nhảy lửa, trò chơi, hóa trang...).

    Lên kịch bản và dàn dựng chương trình lửa trại tùy theo qui mô của lửa trại.

    Chú ý:Đảm bảo thời gian để các đơn vị chuẩn bị và tập dợt nhằm tránh tình trạng có những sáng tác tức thời cẩu thả vào giờ chót, gọi là góp mặt cho có vị.

    Chương trình lửa trại phải được chuẩn bị trước nhưng phải giữ bí mật cả về nội dung và hình thức để tạo sự ngạc nhiên lý thú cho người tham dự.

    BAN ĐIỀU HÀNH GỒM

    + Quản trò: được xem là người “giữ linh hồn” của đêm lửa trại.

    Nhiệm vụ:

    Phối hợp với Ban chỉ huy trại để xây dựng chủ đề, chương trình, kịch bản... đêm lửa trại.

    Bố cục và sắp xếp chương trình lửa trại, bố trí các hoạt động vui chơi như: các hội thi, băng reo, bài hát, tiết mục xen kẽ thời gian trống trong chương trình lửa trại.

    Kiểm tra, nhắc nhở, đôn đốc chương trình đảm bảo đúng thời gian, tiến độ.

    Dẫn giải, giới thiệu chương trình, lấp thời gian trống bằng những sinh hoạt cộng đồng.

    Chủ động mời đại biểu, quan khách, trại sinh cùng tham gia sinh hoạt lửa trại.

    Cắt bỏ những tiết mục không phù hợp.

    + Quản ca:là người phụ trách phần hát, nhảy múa, âm thanh tiếng động trong đêm lửa trại. Đây là người hoạt náo chứ không nhất thiết phải là người hát hay.

    Nhiệm vụ:

    Phối hợp với quản trò để điều khiển chương trình lửa trại.

    Chọn bắt các bài hát phù hợp với nội dung: mở đầu, nhảy lửa, gọi lửa, trại ca, băng reo khen, chê, chúc mừng, mời gọi, hoan hô, cám ơn, hát đuổi, hát bè, hát to, hát nhỏ, hát tàn lửa...

    Thúc đẩy cao trào sinh hoạt ca hát hoặc điều chỉnh sự lắng đọng cần thiết theo chủ đề, yêu cầu của đêm lửa trại.

    + Quản lửa:

    Nhiệm vụ:

    Chịu trách nhiệm chính về các hoạt động có liên quan đến củi lửa. Phải biết kỹ thuật chất củi cho lửa cháy đều, kể cả đặc tính của cây và số lượng củi cần thiết để hoàn tất đêm lửa trại mà không bị củi thừa hay thiếu...

    Chọn vị trí, hướng gió, bảo vệ những bãi cỏ, nền xi măng, sắp xếp củi, tăng giảm ngọn lửa, chuột lửa, lửa điện, màu lửa... thu dọn lửa đề phòng hỏa hoạn, kết thúc phải trả lại nguyên trạng như trước khi tổ chức lửa trại.

    MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC LỬA TRẠI CHO THANH THIÉU NIÈN

    Hoạt động lửa trại nhằm tới việc giáo dục và huấn luyện ngay trong lúc vô tư vui chơi và nghỉ ngơi thư giãn. Nó chẳng những tạo sự giao hòa giữa con người và vạn vật, mà còn là dịp nhằm làm phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát, năng khiếu nghệ thuật, khả năng giao tiếp, ứng xử...

    Bên ánh lửa bập bùng kỳ ảo của đêm lửa trại, tất cả mọi người, từ người năng động đa năng hay người quen sống khép kín, còn mặc cảm kém tài, đều có thể hòa nhập với nhau trong những trò chơi nhỏ lý thú, hát những bài ca sinh hoạt, hoặc trình diễn những tiết mục văn nghệ bỏ túi đôi khi hết sức buồn cười nhưng lại thấm thía sâu xa...

    Thật là sung sướng sau mỗi ngày hoạt động hoặc họp bạn vui chơi hết mình, giờ đây, cá nhân mỗi người cũng như cả tập thể đội, nhóm được cười đùa ca hát thoải mái.

    Còn gì hơn quanh đống lửa trại được nghe những mẩu chuyện lịch sử hào hùng của dân tộc, những truyền thống tự hào của quê hương, đoàn thể và của đội nhóm mình thông qua lời kể rưng rưng cảm động của những người đi trước.

    Cũng có khi nhân bầu khí khoáng đạt bên đống lửa, anh em có thể đóng góp thẳng thắn cho nhau trong tinh thần yêu thương và cảm thông, qua những vở hài kịch châm biếm dí dỏm.

    Như vậy, những đêm lửa trại vừa giúp phát triển các khả năng tự nhiên, lại vừa gợi mở và nuôi dưỡng một cách âm thầm một chiều sâu nhân bản trong lòng tất cả mọi người.

    Tùy từng lứa tuổi, các đêm lửa trại được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng nhu cầu tinh thần và thích hợp với điều kiện tâm sinh lý của từng đối tượng.

    NGUYÊN TẮC CĂN BẢN

    Lửa trại vốn là tổng hợp của 3 yếu tố:

    - Lửa - khung cảnh - con người, cũng là mang ý nghĩ giáo dục theo tinh thần nguyên thủy: Văn minh - thiên nhiên - chiến thắng - ấm cúng - tâm sự - nghỉ ngơi (tránh các hoạt động phi văn hóa, phản giáo dục).

    - Lửa trại cần tránh nơi đông đúc, ồn ào để mọi thành viên có thể tự do bộc lộ khả năng, ý kiến...

    - Lửa trại phải tổ chức cho các thành viên đều được tham gia, tránh sự thụ động chỉ ngồi xem, hưởng thụ.

    - Lửa trại có những nguyên tắc thực hành để đảm bảo được ý nghĩa: diễn tả được những tình cảm, công việc của những người cùng quây quần xung quanh đống lửa.

    - Lửa trại không phải là sân khấu văn nghệ mà là cuộc hội họp, gặp gỡ, trao đổi quanh lửa của các bạn bè vào buổi tối. (Ngoại trừ trường hợp tổ chức Lửa trại nghệ thuật).

    - Nên tập trung tới lửa trại toàn bộ những người chung sống ở đất trại, trong cùng đội nhóm, nếu không lửa trại sẽ mất đi ý nghĩa của nó, hoặc biến thành một cuộc biểu diễn văn nghệ đơn thuần.

    - Tôn trọng tinh thần của khung cảnh. Đừng làm điều gì không ăn nhịp với cảnh sắc tinh thần của tập thể để mất đi phần thích thú, bổ ích, tao nhã.

    - Lửa trại phải diễn ra vào ban đêm, không phải vào lúc còn sáng và cũng không bắt đầu còn tranh tối tranh sáng. Lửa trại là chỗ sáng nhất của đêm tối, qui tụ mọi nhãn quang của những người ngồi chung quanh bởi tối trời, bởi giá lạnh, bởi nỗi hãi sợ hay tình thân ái.

    - Lửa trại phải là công việc chung cuối cùng trong ngày hoạt động và cũng là công việc cá nhân cuối cùng. Tham gia lửa trại chính là lúc mỗi người nghỉ ngơi, di dưỡng tinh thần, bù lại mọi cố gắng trong ngày làm việc đầy đủ, sinh động, đây cũng là lúc tĩnh tâm tưởng niệm, lúc tâm tình cởi mở.

    - Có thể dùng những phút cuối cùng của đám than hồng trong đêm tối để làm lễ tĩnh tâm cho một vài trại sinh sau lễ lửa tàn.

    NGUYÊN TẮC THỰC HÀNH

    - Chuẩn bị địa điểm đốt lửa trại thật chu đáo; lối đến vòng lửa, lối ra về, củi lửa, chỗ ngồi, chương trình... Hãy kiểm tra chặt chẽ, có phương án dự trù cũng như cần tập dợt, tổng duyệt một số các tiết mục quan trọng trong đêm lửa trại.

    - Luôn luôn tìm tòi sáng tạo những cái mới nhằm giúp cho người tham gia cảm thấy háo hức trông chờ những điều mới lạ và vì vậy họ sẽ nhập cuộc một cách sôi nổi hào hứng.

    - Hòa hợp nhịp điệu toàn cuộc với sức lửa cháy. Bắt đầu với sự im lặng triệt để, rồi cường độ của các hoạt động tăng dần cùng sức lửa cháy và nhiệt lượng của lửa. Lên đến độ cao nhất bắt đầu giảm dần hoạt động ăn khớp với sức lửa tàn. Gần cuối không còn những kịch hùng khí, những trường hùng ca, những tiếng reo hò náo động mà phải là những gì thúc giục gợi trầm suy tưởng.

    - Trong đêm lửa trại, những gì lôi cuốn nên để vào lúc khởi đầu, những gì nhộn nhịp huy hoàng vào giữa cuộc và những gì mang lại cảm xúc sâu lắng vào lúc lửa gần tàn.

    - Những hoạt động trong đêm lửa trại cần hướng đến những giá trị chân thiện mĩ, vui vẻ, hứng khởi về tinh thần.

    - Trong sinh hoạt lửa trại nên nói đến điều tốt, cái đẹp; nêu lên những gương sáng, có ích lợi về giáo dục hơn là nêu những gương xấu, tính xấu. Tránh những loại âm nhạc hoặc trò chơi không phù hợp.

    - Giữ bí mật chương trình cả về nội dung và hình thức để gây ấn tượng cho người người tham gia. Không ai có thể đoán biết lễ khai mạc sẽ là hình thức nào, lửa sẽ được châm theo kiểu nào, các đội sẽ trình bày những tiết mục nào, tiếng reo gì...

    NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ LỬA TRẠI


    PHẦN I: LỬA TRẠI VUI

    NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA LỬA TRẠI

    NGUỒN GỐC

    Trong cuộc sống nguyên thủy, ngẫu nhiên con người phát hiện ra lửa từ tiếng sét trên trời cao trong những đêm giông tố bão bùng. Và một ngày kia, vô tình họ cọ xát những viên đá vào nhau; tia sáng bừng lên và tạo ra lửa. Lửa trở thành nguồn sống của con người, giúp con người thoát khỏi đời sống nguyên sơ. Từ cuộc sống săn bắt, hái lượm, con người đã biết dùng lửa để sưởi ấm, nướng chín thức ăn, tránh thú dữ và hợp quần “bầy” sau những lúc săn bắt thú rừng, những lúc chiến thắng. Nhờ đó, lửa là sản vật thiêng liêng, vừa là khởi điểm cho những sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người sơ khai.

    Ngọn lửa bừng sáng... bóng tối và cái lạnh đáng sợ lùi dần, đám dã thú sợ hãi và con người trở nên khổng lồ trước chúng. Ngọn lửa bùng lên... ngạc nhiên trong cái nhìn linh thiêng, cho con người cái ý nghĩa hãy đến với nhau, giúp sức và chia sẻ sự khó nhọc, tương trợ và cùng xây đắp tinh thần trước mỗi khó khăn. Rồi cũng từ đó cuộc sống “bầy, đàn” thêm ý nghĩa hơn lên; họ muốn nói, muốn hát cho nhau nghe, họ muốn múa, muốn nhảy để cảm tạ thiên nhiên cũng như biểu thị sự chiến thắng trước thiên nhiên.

    Con người giờ đây đã biết sử dụng lửa để ăn chín, xua đuổi thú dữ, sưởi ấm, sum họp sau mỗi ngày lao động. Họ đã biết tổ chức lễ hội, mừng chiến thắng...

    Lửa xua đi lạnh lẽo, bóng tối, sợ hãi... những sinh hoạt cộng đồng của các bộ tộc người nguyên thủy đã được tái hiện bên ánh lửa. Họ tâm sự, trao đổi kinh nghiệm sau ngày lao động vất vả; họ diễn tả lại những công việc họ làm một ngày... Cứ thế, cứ thế từ thế hệ này đến thế hệ khác không ngừng nghỉ...

    Trong truyền thuyết Việt Nam có vua Lửa - có các lễ hội liên quan đến lửa: lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, có tục cúng thần Lửa, thần Rừng, thần Núi và thần Sự Sống...

    Trên thế giới, trong thần thoại Hy Lạp có thần Prômêtê đã đánh cắp lửa Trời cho nhân loại, chấp nhận sự trừng phạt của thần Dớt, đem lửa cho con người để xua đi mông muội, u tối...

    Gần đây nhất, các thương đội sau một ngày vất vả, khi đêm xuống họ quây quần bên nhau quanh đống lửa kể cho nhau nghe những câu chuyện vui buồn và đôi khi họ còn diễn lại các vai hào hiệp trong các câu chuyện thần thoại xa xưa, vừa canh lũ cướp, vừa chống lại cái lạnh của núi rừng, sa mạc... mang hơi ấm sẻ chia.

    Nước ta từ xưa có một tục lệ rất hay là đêm giao thừa cả gia đình cùng quây quần bên lò nấu bánh để canh lửa chờ năm mới đến, trong thời gian này họ ôn lại hình ảnh của những người quá cố trong gia tộc, những người thân xa quê hương như hướng về cội nguồn, tổ tiên.

    Ý NGHĨA

    Từ đó lửa có ý nghĩa tượng trưng cho sự văn minh, chân lý, lẽ phải, cái thiện, xua đuổi cái ác, biểu tượng của sự đấu tranh cho chân lý; trở thành những tín ngưỡng thiêng liêng, những nghi lễ, nghi thức truyền thống (thờ thần Lửa, lửa thiêng Olempic, lửa truyền thống, lửa vĩnh cửu tôn vinh tinh thần các anh hùng liệt sĩ...), lửa còn biểu tượng cho khát vọng chiến thắng, cho sức trẻ, cho sự vươn lên của con người.

    Ngày nay lửa được sử dụng trong sinh hoạt trại là hình thức sinh hoạt văn hóa, là nghi thức thiêng liêng trong khai mạc, bế mạc các hoạt động mang tính cộng đồng rộng lớn như trong các kỳ Đại hội TDTT - Olempic...

    Khi sinh hoạt về đêm, lửa trại làm cho con người và khung cảnh thiên nhiên thêm hòa quyện; tình thân ái thêm đậm đà, kỷ niệm được khắc sâu, tinh thần đoàn kết, tinh thần đồng đội thêm thắm thiết, tâm hồn cao thượng, nhân ái được truyền đi trong mỗi con người; tình yêu quê hương đất nước được khơi dậy, xua đi những bận rộn toan tính đời thường để sống hồn nhiên thanh thản với mọi người và thiên nhiên.

    Mọi người có thời gian tĩnh tâm:

    + Để chiêm nghiệm cuộc sống của mình trong thời gian qua, để sống đẹp hơn cho đời, làm cho tất cả thành viên hiểu biết nhau hơn, để thành tâm nhắc nhở những việc chưa hay, tuyên dương những điều tốt đẹp trong sinh hoạt và cuộc sống.

    + Để vui thân ái sau một ngày trại bằng lời ca, tiếng hát, bằng nhiều điệu múa hân hoan trong giọng nói tiếng cười hồn nhiên và sảng khoái.

    + Để kết đoàn trong vòng tay kết chặt, để tạo cho nhau niềm cảm mến và khắc lại những kỷ niệm không phai.

    + Để truyền đi lòng cao thượng và đọng lại trong mỗi trái tim lòng nhân ái.

    + Để từng lá cây, ngọn cỏ, tiếng sóng vỗ bờ, những ngôi sao trên cao và không gian bao la bên ngọn lửa mang lại cho mọi người những mối giao hòa bất tận.

    TỔ CHỨC TRÒ CHƠI

    TRÒ CHƠI CẢM GIÁC

    1. MÙ DẪN MÙ

    Thể loại:        Trò chơi cảm giác,vận động nhẹ.

    Rèn luyện:     nhận định chính xác môi trường xung quanh bằng thính giác và xúc giác.

    Giáodục:      Tương trợ, sẳn sàng giúp đỡ nhau và cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:      2 người bị bịt mắt,từ điểm khởi hành cách điểm tới 3m, với thời gian 1 phút và khi tiếng còi khởi hành, 2 người mù dẫn nhau về điểm tới và chạm vào 1 bức tường hay 1 vật gì đó ở điểm tới.Cặp nào chạm được vật ở điểm tới trước thời gian qui định, được kể là thắng.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động để dẫn vào chiều sâu lắng sau đó và có sự tranh đua trong khi chơi.

    Vậtdụng:      02 cái khăn để bịt mắt.

    Lưuý:           Nhớ dọn dẹp các vật dụng nguy hiểm xung quanh khu vực chơi, quản trò nhắc nhở các đội viên đứng ở nơi qui định.

    2. TÀU ĐI TRONG SƯƠNG MÙ

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vận động mạnh ngoài trời, người tham dự  mỗi đội khoảng 08 người.

    Rènluyện:     Nhận định chính xác môi trường, linh động và tương trợ nhau.

    Giáodục:      Nhanh nhẹn, hiểu ý nhau và tương trợ với nhau một cách đắt lực.

    Luậtchơi:   Mỗi hàng  01 đội là một chiếc tàu. Đội trưởng là tài công. Tất cả bịt mắt, trừ đội trưởng, người sau đặt tay trên vai người trước.

                         Từ mức khởi hành đến mức tới là 5m, trên khoảng đường này đặt một số chướng ngại vật (càng khó càng hay).

                         Tiếng còi khởi hành, các tàu di chuyển, tài công không được đụng vào tàu mình, chỉ được quyền ra lệnh: quẹo phải, trái, lùi lại, tiến lên vv... Tàu nào đụng vào chướng ngại vật là  thua còn Tàu nào đến đích trước là thắng.

    Mục đích:      Gây bầu khí sôi động, có sự tranh đua trong khi chơi, tạo sự đòan kết với nhau trong hàng đội.

    Vật dụng:      Số khăn tương ứng với mỗi đội, các vật dụng làm chướng ngại vật.

    Lưu ý:           Nhớ dọn dẹp các vật nguy hiểm xung quanh khu vực chơi, các chướng ngại vật không bén nhọn.

    3. TRUYỀN TIN

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vận động nhẹ trong phòng và ngoài trời, khôảng 08 người tham dự.

     Rènluyện:    Nhận định chính xác các cử điệu từ người khác.

    Giáodục:       Tương trợ nhau,phải có sự nhanh nhẹn và hiểu ý nhau trong lời nói và hành động.

    Luậtchơi:      Đứng thành từng đội và mỗi đội  cử 01 người đến Qt nhận bản tin, rồi trở về đứng cách những người của đội mình 1,5m  và truyền laiï bản tin đó bằng cử điệu  mà không được nói, cũng như không được nhép miệng. Đội nào nhận được bản tin và thực hiện theo bản tin trước là thắng.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động để dẫn vào chiều sâu lắng sau đó.

    Vậtdụng:      Các vật dụng của các bản tin.

    Lưuý:           Không nên nói những lời khó hiểu và khó thực hiện.

    4. TÌM SỐ NHÀ

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vận động nhẹ trong phòng, khỏang 08 người tham dự.

    Rènluyện:     Sự quan sát, ghi nhớ các sự vật.

    Giáodục:      Dùng các giác quan để nhận ra các sự vật hiện tượng.

    Luậtchơi:      Cho  những dự chơi đứng quan sát 3 phút. Sau đó đi ra xa 3m rồi bịt mắt lại. Có còi hiệu mỗi người đi lần về chỗ để các hình, tìm lấy 1 hình, sờ kỹ rồi nói hình đó mang số mấy.Ai nói sai bị phạt.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động, linh hoạt trong khi chơi.

    Vậtdụng:      Lấy giấy cát tông hay giấy croquis cắt làm 6 hoặc 10 hình khác nhau. Mỗi hình có ghi 1 số: từ 1-10.

    Lưuý:           Có thể áp dụng vào việc dạy giáo lý bằng việc cắt những hình biểu tượng như: chim bồ câu, con chiên, đồng tiền...  rồi ghi những câu Kinh Thánh (ngắn gọn vào đó). Thí dụ: hình con chiên thì ghi câu: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta”. Đồng tiền: “Của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa, của César trả cho César”.

    5. BAY TRONG SƯƠNG MÙ

    Thể loại:        trò chơi cảm giác, vận đông nhẹ trong phòng lớp, hay vòng tròn.

    Rènluyện:     Nhận định chính xác môi trường chung quanh và sự nhanh nhẹn.

    Giáodục:      Sự cố gắn nổ lực nhanh lẹ, chính xác.

    Luậtchơi:      Vài người làm máy bay bị bịt mắt, dang tay làm cánh. Để vài đồ vật (tương ứng với số máy bay) trên bàn, hay trong 1 vòng tròn nhỏ, làm mục tiêu cho máy bay đáp.

                         - 5 người ngồi rải rác cố định là 5 ngọn núi cản trở đường bay.

                         - Các máy bay quan sát địa hình 2 phút với 5 ngọn núi (3 phút với 8 ngọn núi).

                         - Sau đó ra khỏi phòng, nghe hiệu còi, các máy bay cùng lúc bay vào: không đụng núi, không đụng nhau.

                         - Khi bay, miệng ngậm lại hum...um...”.

                         Máy bay nào đáp xuống mục tiêu an toàn (bắt lấy 1 đồ vật): Thắng.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động và có sự tranh đua.

    Vật dụng:      Số khăn để bịt mắt, đồ vật

    6. MƯỜI NGƯỜI NHƯ MỘT

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vân động nhẹ ngoài trời, mỗi đội khỏang 08 người.

    Rènluyện:     Nhận thức chính xác môi trường xung quanh.

    Giáodục:      Tương trợ và kế thừa lẫn  nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:      Hàng đội có số người bằng nhau, đứng ngang nhau ở vạch xuất phát, đội trưởng đứng sau cùng. Tất cả bịt mắt, 2 tay để trên vai người trước, đội trưởng không bịt mà cách vạch xuất phát 10m, vẽ 1 đường làm mức đến. Đặt một số vật trở ngại.

                         Hiệu còi xuất phát, các đội bắt đầu đi tới, theo lệnh  đội trưởng. Đội trưởng ra lệnh bằng cách (không được nói) đánh vai phải người trước (quẹo phải), đánh vai trái (quẹo trái), đánh 2 vai (đi thẳng). Người này chuyền cho người kia, để người đi đầu bết phải quẹo hay đi thẳng. Cả đội không được đụng vào chướng ngại vật, các đội không được đụng nhau. Đội nào đến đích trước là thắng.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động, đòan kết với nhau .

    Vậtdụng:      các khăn để bịt mắt, các chướng ngại vật. 

    7. TRONG BÓNG TỐI

    Thểloại:        Trò chơi thính giác, vận động nhẹ, khỏang 20 người tham gia.

    Luâtchơi:      Tất cả tản mát ngoài sân rộng, mỗi người một khăn quàng để bịt mắt.

                         QT vừa thổi còi vừa di chuyển từ từ về 1 điểm nào đó. Mỗi người phải đi theo tiếng còi. Ai đến trước: Thắng.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động, di chuyển đội hình.

    Vậtdụng:      khăn.

    8. NỐI LỬA

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vận động nhẹ trong phòng.

    Rènluyện:     nhân định chính xác môi trương xung quanh bằng thính giác và xúc giác.

    Luậtchơi:      Đứng thành vòng tròn. Hai người bịt mắt đứng cách xa nhau. Mỗi người cầm 1 cây nến, nhưng 1 người cầm nến cháy 1 người cầm nến chưa cháy.

                         Khi nghe hiệu còi, 2 người tiến lại gần nhau để mồi nến cho nhau, làm sao cho lửa đừng tắt, mà lại mồi được lửa. Vòng tròn ủng hộ bằng cách vỗ tay dồn dập hoặc thưa thớt tuỳ lúc.

                         Qt có thể mời mỗi đội cử 2 người lên thi đua. Cứ 2 người cửa mỗi đội được mồi nến 3 lần. Sau đó, căn cứ vào số lần mồi được nến cháy mà tính thứ tự nhất, nhì, ba, tư.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động.

    Vậtdụng:      2 cái khăn, 2 cây nến.

    9. BỊT MẮT BẮT BỒ

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài trời, khỏang 30 người tham gia.

    Rènluyện:     Nhận định chính xác môi trường xung quanh các giác quan.

    Giáodục:      Nhận ra đối phương bằng các giác quan.

    Luậtchơi:      1 người bịt mắt đứng giữa. Vòng tròn vừa đi vừa hát. Hết bài, mọi người đứng lại im lặng. Qt dẫn người bịt mắt đến trước một người nào đó. Người bịt mắt được quyền  hỏi 3 câu, những không được hỏi tên.

                         Người được hỏi phải trả lời theo câu hỏi, nhưng có thể đổi giọng. Còn người bịt mắt đoán tên, nếu đúng thì người đó ra thay thế người bịt mắt, nếu sai, phải tiếp tục.

                         Có thể thay đổi nhiều cách, như cho người bịt mắt sờ 2 bàn tay, hoặc 2 bàn chân, rồi đoán tên.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động để đẫn vào chiều sâu lắng sau đó.

    Vậtdụng:      1 cái khăn.

    10. BÓI RA THÚ VẬT

    Thểloại:        Trò chơi cảm giác, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài trời.

    Rènluyện:     Nhận định chính xác các sự vật hiên tượng bằng các giác quan.

    Giáodục:

    Luậtchơi:      Đứng thành vòng tròn. Một người làm thầy bói đi xa khỏi vòng một lát.

                         Qt cho mỗi người chọn 1 con vật khác nhau. Sau đó gọi thầy bói vào cho quan sát vị trí của các bạn 1 phút, rồi bịt mắt lại và ngồi ở giữa vòng tròn.

                         Thầy bói nói tên 1 con vật (thí dụ: gà) ai chọn con vật đó phải bắt chước kêu tiếng của con vật đó (thí dụ: cù tát). Thầy bói sẽ nói tên của người đó.

                         Nếu đúng thì người đó ra làm thầy bói. Trò chơi tiếp tục. Nếu sai, thầybói nói tên một con vật khác, và bói xem ai.

    Mụcđích:      Gây bầu khí sôi động để dẫn vào chiều sâu lắng sau đó.

    Vậtdụng:      1 cái khăn.

    TRÒ CHƠI GÂY BẦU KHÍ

    1. XIN MỜI

    Thể loại:        Trò chơi gây bầu khí,  có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     sự nhanh nhẹn

    Luật chơi:     QT: Xin mời, xin mời

                         TC: mời ai, mời ai

                         QT: mời những người có đeo đồng hồ (ai có đeo đồng hồ đổi chỗ nhau).

    Mục đích:      Để làm quen, kết thân.

    2. XÉ NHÁP 1

    Thể loại:        Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:     QT: Nháp đâu, nháp đâu

                         TC: Nháp đây, nháp đây

                         QT: Xé nháp

                         TC: Ah!

    Mục đích:      Gây bầu khí vui vẻ  sôi động.

    3. XÉ NHÁP 2

    Thể loại:        Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:       QT: Nháp đâu, nháp đâu

                            TC: Nháp đây, nháp đây

                            QT: Xé (tay làm cử điệu xé giấy)

                            TC: Reẹt

                            QT: thổi

                            TC: Phù

    Mục đích:      Gây bầu khí vui vẻ trước khi chơi.

    4. ĐOÀN KẾT  

    Thể loại:        Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:        QT: Đoàn kết, đoàn kết.

                            TC: Kết mấy, kết mấy.

                            QT: Kết 5 (Năm người tụm lại thành một nhóm)

    Mục đích:                     Gây bầu khí vui vẻ trước khi chơi,  để kết thân, hay để chuyển sang trò chơi khác.          

    5. HOA NỞ

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:        Sự nhanh nhẹn

    Luật chơi:        QT: Hoa nở, hoa nở.

                            TC: mấy cánh, mấy cánh.

                            QT: Hoa nở  7 cánh. (Bảy người tụm lại thành một nhóm)

     Mục đích:                    Gây bầu khí vui vẻ trước khi chơi,  để kết thân, hay để chuyển sang trò chơi khác.          

    6. BÃO THỔI

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:       Sự nhanh nhẹn, linh động

    Luật chơi:        QT: Bão thổi, bão thổi.

                            TC: Thổi ai, thổi ai.

                            QT: Thổi những ai mặc áo trắng (Những người mặc áo trắng đổi chỗ nhau)

    Mục đích:                     Gây bầu khí sinh động trước khi chơi,  để kết thân, hay để chuyển sang trò chơi khác.    

    7. BẮN TÊN

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:        QT. Bắn tên, bắn tên.

                            TC: Tên chi, tên chi.

                            QT: Tên Tâm, Tên Tâm (Ai tên Tâm hô tiếp: Bắn tên...)

    Mục đích:                     Gây bầu khí sinh động trước khi chơi, và để kết thân     

    Vật dụng:

    8. TÔI THƯƠNG

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:        QT: Tôi thương, tôi thương.

                            TC: Thương ai, thương ai.

                            QT: Thương Tâm tương tư  (Thương ai phải nói tên người đó liền với hai tĩnh từ cùng vần đầu của tên).

    Mục đích:                     Gây bầu khí sinh động trước khi chơi, và để kết thân.

    9. NẾU... THÌ...

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:        QT: Nếu A đứng thì B quỳ.

                            B: Nếu B quỳ thì C hát.

                            C: Nếu C hát thì D múa.

                            D: ...

    Mục đích:                     Gưây bầu khí sinh động trước khi chơi.

    10. THƯƠNG NGƯỜI HÀNG XÓM

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:       Sự nhanh nhẹn

    Luật chơi:        Đứng thành vòng tròn. QT đến 1 người nào đó  bất kì hỏi:

                            QT: Bạn Thuỷ có thương 2 người bên cạnh không?

                            Thuỷđáp: Không dám thương đâu.

                            QT: Vậy bạn thương ai?

                                        Thuỷ: Thương Hằng với Trinh kìa.

    Chúý:             Người được QT hỏi phải nói tên của 2 người nào đó, trừ 2 người bên cạnh. Hai người được nêu tên và 2 người bên cạnh đổi chỗ nhau. Trong khi đó QT nhanh chân lấp vào một chỗ và 1 trong 4 người trên không có chỗ, người đó thay thế QT tiếp tục trò chơi. Trò chơi tiếp tục với tốc độ nhanh hơn mới hào hứng.

    Mục đích:                     Gây bầu khí sinh động trước khi chơi.

    11. KHÔNG DÁM ĐÂU

    Thể loại:          Trò chơi gây bầu khí, có nhiều người tham dự.

    Luật chơi:        QT: Bạn Quyền là người giỏi nhất ở đây.

                            Quyên: Không dám đâu.

                            TC: Vậy chớ ai?

                            Quyên: Bạn Tuyền là người giỏi nhất ở đây.

                            Tuyền: Không dám đâu.

                            TC: Vậy chớ ai?

                            Tuyền: Bạn Cúc...

    Mục đích:                     Gây bầu khí sinh động trước khi chơi, để kết thân hay để biết tên.

    TRÒ CHƠI LÝ LUẬN

    1. AI LÀM GÌ Ở ĐÂU?

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, có nhiều người tham dự trong vòng tròn ở trong phòng hoặc ngoài trời.

    Rèn luyện:     Ghi nhớ sự việc.

    Luật chơi:Qtcho trò chơi để tìm bắt 1 người, người này bị phạt làm cái máy cassette. Qt mang máy đi phỏng vấn từng người, máy cassette chỉ ghi câu trả lời mà thôi.

                         * Người thứ I hỏi: anh là ai?

                         * Đến người thứ II hỏi: hôm qua anh làm gì?

           * Đến người thứ III: ở đâu?

           * Đến người thứ IV: với ai?    ....

           Sau đó, mở máy cassette, phát lớn cho mọi người nghe những câu trả lời liên tục. Qt có thể đặt thêm nhiều câu hỏi dí dỏm như vậy, nhưng mọi người đặt 1 câu hỏi thôi, để rồi sẽ có câu trả lời ráp nối ngộ nghĩnh. Mục đích gây chú ý và tập phản ứng nhanh.

    Mục đích:      Tạo sự vui vẻ sinh động.

    Lưu ý:          Nghiêm cấm những câu trả lời vượt ra khỏi bầu khí sinh hoạt.

    2. VĂN TIÊN

    Thể loại:        Trò chơi lý luận đối đáp, áp dụng cho hai nhóm tham dự trong phòng hay ngoài trời.

    Rèn luyện:     suy nghĩ ngay đến câu mình cần khi đối phương còn đang đối.

    Giáo dục:      giúp nhau nhanh lẹ trong suy nghĩ.

    Luật chơi:     Chia làm 2 phe, mỗi phe có 1 người điều khiển để “nhắc tuồng”. Qt đứng giữa làm trọng tài.

                         PheA: Vân Tiên cõng mẹ trở ra, gặp phải ông già cổng mẹ trở vô.

                         Phe B:Vân tiên cõng mẹ trở vô, gặp phải cái bồ cõng mẹ trở ra.

                         Đối đáp liên tục, chỉ cần thay đổi vần “à” hoặc “ồ”. Để cho sinh động Qt có thể chỉ phe nào thì phe đó đọc, Qt có thể chỉ phe A hoặc B đọc liên tiếp 2, 3 lần, rồi tới chỉ phe kia.

    Mục đích:      tạo bầu khí vui vẻ, sôi động để dẫn vào những bước tiếp theo.    

    Lưu ý:          Nênđưa vào trò chơi tên các vị thánh: Annà, Phaolồ, ông Philatô...

                         Phe nào bí, hoặc nói không thống nhất sẽ thua.

    3. ĐÂY LÀ CHIẾC CHÌA KHOÁ

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, áp dụng một cho nhóm người ở trong phòng hoặ ngoài trời.

    Rèn luyện:     Nhớ một cách chính xác và tập trung cao độ.

    Giáo dục:      Trước một cảnh ngộ nào tài chính vẫn tập trung

    Luật chơi:      Qtđến trước 1 người và đọc từng câu.

                         Người đó lặp lại đúng từng chữ của câu đó.

                         1. Đây là chiếc chìa khoá.

                         2. Đây là chiếc chìa khoá mở cửa phòng ngủ của ông tôi.

                         3. Đây là sợi dây buộc chiếc chìa khoá mở cửa phòng ngủ của ông tôi.

                         4. Đây là con chuột cắn đứt sợi dây buộc chiếc chìa khoá mở cửa phòng ngủ của ông tôi.

                         5. Đây là con mèo vật chết con chuột cắn đứt sợi dây buộc ... của ông tôi.

                         6. Đây là con chó cắn con mèo vật chết con chuột cắn đứt ... của ông tôi.

                         7. Đây là con gà đá con chó cắn con mèo vật chết con chuột cắn đứt ... của ông tôi.

                         * Qt nói càng lúc càng nhanh và có thể ra cử điệu để gây chia trí người kia.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động.       

    Lưu ý:          Khi Qt nói kết thúc (hết) thì người kia không phải lặp lại.

    4. CON BÒ VÀNG

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, áp dụng cho nhiều nhóm mỗi nhóm ít nhất 04 người.

    Rèn luyện:     Tác phong nhanh nhẹn.

    Giáo dục:      Sống lời Chúa.

    Luật chơi:      Cốt truyện XH 32, 1-6 nên quảng diễn rõ.

                         . Qt ra lệnh cho mỗi đội hoá trang 1 con bò vàng, thời gian 5 phút. Đội nào xong thì kiệu con bò và ca hát nhảy múa, đến trình diện Qt.

                         Cáchchấmđiểm: 2 cách chấm điểm.

    1.     Đội nào không làm bò vàng, hay hoá trang dở nhất, sẽ về nhất. Lýdo: trung thành với Gia

    2.     vê, không thờ bò.

                         2. Đội nào hoá trang đẹp nhất, thành công nhất, ca hát nhảy múa đúng kiểu tế thần sẽ về nhất.

                         * Sau đó Qt đừng quên nhắc nhở về lòng trung thành với Thiên Chúa.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động, bất ngờ.     

    Vật dụng:      Vận dụng những vật dụng có màu vàng để hóa trang.

    5. TẬP LÀM VĂN

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, vận động nhẹ trong phòng hoặc ngoài trời. áp dụng cho nhiều nhóm, mỗi nhóm (đội) khoảng 08 người trở lên.

    Rèn luyện:     Tạo cho những thành viên trong nhóm có sáng kiến.

    Giáo dục:      Biết uyển chuyển trước một vấn đề đặt ra trước.

    Luật chơi:      Hàng đội. Qt ra lệnh cho mỗi đội hợp bàn với nhau, thời gian 5 phút. Mỗi đội làm một câu văn bằng “tên” của những người trong đội mình. Câu văn phải vừa hay vừa có ý nghĩa.

                         Khi trả bài, tất cả ngồi vòng tròn, nhưng ngồi theo đội. Mỗi đội ngồi theo thứ tự “câu văn”. Từng người trong đội đứng lên đọc tên của mình, và người này liên tục với người kia sao cho mọi người nghe có cảm giác như thế 1 người đọc câu văn đó.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động.       

    6. THI VÀO HÀN LÂM VIỆN

    Thể loại:     Trò chơi lý luận, áp dụng cho 2 phe trong phòng hoặc ngoài trời.

    Rèn luyện:     Nhanh, thông minh, biết vận dụng từ thường dùng.

    Giáo dục:      Nhớ lại tất cả những từ ghép.

    Luật chơi:      Chia 2 phe. Qt ra 1 chữ. Mỗi phe lần lượt tìm thêm 1 chữ để ghép vào chữ của Qt. Phe nào bí: thua.

                         Ghép vô nghĩa: thua.

                         Thí dụ: Qt ra chữ “nhà” – Nhà thờ – nhà tu – nhà thương.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động.       

    Lưu ý:          Khi đọc thì cả đội đồng thanh đọc, không lặp lại từ đã đọc trước đó, cho khoảng thời gian suy nghĩ.

    7. ÔN NGỮ VỰNG

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, áp dụng cho nhóm càng đông càng tốt, trong phòng hoặc ngoài trời.

    Rèn luyện:     Thông minh, nhanh, vận dụng từ ghép.

    Giáo dục:      Nhớ và thêm vốn từ ghép.

    Luật chơi:      Vòng tròn. Qt nói 1 chữ, và chỉ vào một người. Người này nói thêm 1 chữ để ghép vào chữ của Qt cho có ý nghĩa.

                         Rồi Qt chỉ người thứ 2, người thứ 2 nói 1 chữ để ghép vào chữ của người thứ 1 cho có ý nghĩa.

                         Rồi Qt chỉ người thứ 3...

                         Thídụ: Qt nói “Hoà”.

                         Ngườithứ1: Hoà Bình.

                         Ngườithứ2: Bình an.

                         Người thứ 3: An lành.

                         Người thứ 4: Lành mạnh.

                         ... Qt cứ tiếp tục chỉ người mới. Khi nào thấy khó tìm chữ để ghép thì Qt đổi chữ khác.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động.       

    Vật dụng:     

    Lưu ý:          Không lặp lại từ đã đọc, cho khoảng thời gian suy nghĩ.

    8. THẦY BÓI BÁ CHÁY!

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, vận động nhẹ trong phòng.

    Rèn luyện:     Trí nhớ, tên và vật có liên quan.

    Luật chơi:      Một thầy bói, 1 phụ tá. Thầy bói và phụ tá đồng ý với nhau trước một ước hiệu:

                         - Vật để trước mặt phụ tá, thì nói “Thầy ơi xong rồi”.

                         - Vật để bên trái phụ tá: “Mời thầy xong rồi”.

                         - Vật để bên phải phụ tá: “Xin mời xong rồi”.

                         - Người phụ tá lấy 3 đồ vật: 1 để trước mặt, 1 để bên trái, 1 để bên phải.

                         Thầy bói đi ra xa khỏi đó. Phụ tá mời 1 người nào đó đến chỉ 1 trong 3 đồ vật. Sau đó phụ tá mời thầy bói vào bằng ước hiệu trên. Thầy bói vào chỉ đúng đồ vật mà người chỉ trước.

                         Để khỏi ai nghi ngờ, phụ tá phải dời chỗ nhưng vẫn để 3 đồ vật đúng vị trí ước hiệu.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động.       

    9. NGƯỜI TÙ NGHIỆN THUỐC LÁ

    Thể loại:        Trò chơi lý luận, áp dụng cho nhiều nhóm ở ngoài trời, mỗi nhóm từ  04 người tham dự  trở lên.

    Rèn luyện:     Nhân cách, lối sống cho giới trẻ

    Giáo dục:      Sự tế nhị khi gặp người đau khổ, bệnh tật.

    Luật chơi:      Quảng diễn trò chơi: có 1 người tù vừa vượt ngục, anh ta đã chạy vào khu vực của chúng ta (đặt ranh giới hạn định). Công an nhờ các bạn tìm giúp và đưa về đây. Đặc điểm nhận dạng chỉ biết rằng anh ta rất ghiền thuốc. Vậy mỗi đội hãy tìm xem anh ta ở đâu và khuyến dụ anh ta về đây, đội nào đem anh ta về đây sẽ được thưởng.

                         Nên biết, không được xúc phạm nhân phẩm anh ta, mà chỉ được hỏi khéo cách nào để đoán biết anh ta là tù vượt ngục, và khuyến dụ đem về.

                         Qt đã đặt sẵn 1 người, trong túi có 1 gói thuốc và 1 hộp quẹt,  có thể đang hút thuốc. Anh này ở 1 nơi nào đó trong khu vực đã định sẵn.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ, sôi động.       

    TRÒ CHƠI PHẢN XẠ

    1. HUẾ – SÀI GÒN – HÀ NỘI

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phònh hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự  khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện các động tác.

    Luậtchơi:      Huế: Ngồi, tay chống nạnh.

                         Sài-gòn: Đứng rùn chân, tay chống nạnh.

                         Hà-Nội: Đứng thẳng, tay xuôi, tư thế nghiêm.

                         Qtvừa nói vừa làm cử điệu, tất cả làm theo, nhưng làm theo lời Qt nói chứ không làm theo cử điệu của Qt. Ai làm sai sẽ có hình phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không làm theo hành động.

    2. TÔI BẢO

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Phân biệt sự khác nhau để thực để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện các động tác.

    Luậtchơi:      Qt bảo gì, tất cả phải làm như vậy, nhưng khi nào có từ (tôi bảo) mới làm, không có từ “tôi bảo” thì không làm, ai làm sẽ bị phạt. Thí dụ:

                         Qt: Tôi bảo mọi người hát: bốn phương trời...

                         Tc: hát “Bốn phương trời”

                         Qt: thôi (vẫn tiếp tục hát)

                         Qt: tôi bảo thôi (ngưng ngay)

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không làm theo hành động.

    3. CON CÒ, CON BÒ, ÔNG LÒ

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Sự  phân biệt  khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Con cò: đứng 1 chân, người hơi khom, tay phải để trên trán làm mỏ cò, tay trái để đàng mông làm đuôi cò.

                         Con bò: khum người, 2 tay chạm đất, gối thẳng làm con bò.

                         Ông lò: 2 tay vòng tròn phiá trước, rùn 2 gối làm hỏa lò.

                         Qt nói “con cò” và làm cử điệu con cò, mọi người lặp lại và làm đúng cử điệu con cò. Qt nói tiếp “Con bò”, “Ông lò” và làm cử điệu theo lời nói. Khi mọi người đã quen, Qt ra luật: “tôi nói 1 đàng, làm một nẻo, tất cả làm theo lời tôi nói, chớ đừng làm theo việc tôi làm. Ai làm sai sẽ có hình phạt”.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

    4. LỄ PHÉP 1

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:  Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Chào cô: tay phải vẽ ½ vòng tròn, từ vai trái vòng xuống khỏi chân phải.

                         Chào thầy: khoanh tay + cúi đầu.

                         Chào cụ: chụm 2 tay trước ngực, cúi đầu.

                         Chào xếp: chào kiểu lính.

                         Qt đi đến 1 người nào đó trong vòng tròn vừa nói vừa làm cử điệu, nhưng nói khác làm khác. Người đó phải làm theo lời nói của Qt, chứ không làm theo cử điệu của Qt. Ai làm sai, mời ra giữa vòng.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

    5. LỄ PHÉP 2

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Chào anh: giơ tay mặt thẳng lên trời.

                         Chàoem: giơ tay trái thẳng lên trời.

                         Chào anh em: giơ cả 2 tay lên trời.

                         Qt nói khác làm khác, ai làm sai lời nói của Qt sẽ bị phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

    6. AI LÀ VUA? AI LÀ VỊT? AI LÀ VOI?

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác phản xạ.

    Luậtchơi:      Vòngtròn: Qt chỉ vào 1 người và nói: Ai là vua? Người đó đáp: Ta là vua!, và giơ tay phải thẳng lên trời. Trong khi đó, 2 người hai bên qùi xuống, cung tay theo kiểu “cúc cung” và nói “muôn tâu bệ hạ”.

                         Qtchỉ 1 người hỏi: Ai là vịt? Người đó miệng kêu cạp cạp cạp, 2 bàn tay đưa lên ngang mặt làm mỏ vịt. Trong khi đó, người bên phải cong tay phải sát nách, đưa cùi chỏ ra nhịp nhịp làm cánh vịt. Còn người bên trái thì đưa tay trái ra làm y như trên.

                         Qt chỉ 1 người hỏi: Ai là voi? Người đó làm cử điệu con voi. Trong khi đó người bênphải xoè bàn tay phải ra, đặt ngay tai mình và nhịp nhịp làm tai voi, còn người bên trái thì dùng bàn tay trái làm tai voi.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

    7. BẮN SƯ TỬ

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác phản xạ.

    Luậtchơi:      Qt đến 1 người, đưa tay phải lên làm súng bắn “đùng, đùng”

                         Người đó giơ 2 tay ngang mặt, cùi chỏ sát mình, đáp “gừ gừ”

                         Nếu Qt làm ngược lại “Gừ gừ”, thì người đó phải bắn “đùng đùng”. Ai làm sai bị phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

                          “Le plus beau métier d’homme est le métier d’unir les hommes”.

                         Antoine de St. Exupéry.

    8. NÓI MỘT ĐÀNG LÀM MỘT NẺO

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói để thực hiện hành động.

    Luậtchơi:      Tất cả nói cái Qt chỉ, và chỉ cái Qt nói. Ai sai bị phạt, Thí dụ:

                         Qtnói: Đây là con mắt của tôi (tay Qt chỉ lỗ mũi).

                         Tc: Đây là lỗ mũi của tôi (tay chỉ con mắt).

                         Qt: Đây là cái đầu của tôi (chỉ đít).

                         Tc: Đây là cái đít của tôi (chỉ đầu).

    Mụcđích:      Làm sôi động, vui tươi, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

    9. NGƯỜI – SÓI – SÚNG

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác phản xạ.

    Luậtchơi:      Tập trung thành vòng tròn.

                         Người: đứng tư thế nghiêm.

                         Sói: 2 tay đưa ngang 2 tai, xoè ra làm tai sói.

                         Súng: tay phải đưa ra làm súng

                         Luậtchơi: Qt đến 1 người nào đó:

                         - Nếu Qt làm súng thì người đó làm người.

                         - Nếu Qt làm người thì người đó làm sói.

    - Nếu Qt làm sói thì người đó làm súng

                         Qtlàm càng lúc càng nhanh, ai làm sai sẽ bị phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi.

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không theo hành động.

    10. SÚNG – SÓI – NGƯỜI

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, khỏang 08 người tham dự  trở lên.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động với người đối diện.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác phản xạ.

    Luậtchơi:      Từng 2 đội đều nhau, hoặc những người dự chơi chia làm 2 phe bằng nhau. Đứng 2 hàng đối nhau nhưng quay lưng vào nhau.

                         Súng: đưa 2 ngón tay phải ra trước.

                         Sói: mỗi bàn tay 2 ngón chiả ra trên đầu.

                         Người: đứng khoanh tay.

                         Luậtthắngthua: Súng bắn chết sói – Sói  làm hại người – Người   bẻ gãy súng.

                         * Khi Qt thổi 1 tiếng còi. 2 phe quay mặt vào nhau. Mỗi người làm 1 trong 3 cử điệu (súng – sói – người). Qt theo luật trên mà phân ai thắng ai thua.

                         * Thi đấu như vậy 5 lần để phân thắng bại. Có thể phân thắng bại theo đội, dựa vào tỉ số thắng thua của mỗi lần.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, có sự tranh đua.

    11. PHE ĐỐI LẬP

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự trái ngược để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Tất cả chia làm 01 phe đối lập với Qt, hoặc chia làm 02 phe: Hữu – Tả, phe Tả là phe đối lập. Qt hay phe Hữu nói những gì thì phe Tả nói ngược lại. Thí dụ:

                         Qt: Bàn tay.  – Phe Tả: Bàn chân.

                         Qt: Đầu gối.  – PheTả: Cùi cho

                         Qt: Thiên Chúa.  – PheTả: ma quỉ.

                         Qt: Các thánh nam.  – PheTả: các thánh nữ.

                         Qt: Tóc dài.  – PheTả: tóc ngắn

                         Qt: Tóc em dài em đi trong nắng.

                         * Phe Tả: Tóc anh ngắn anh đi trong mưa.

                         - Qt: Tóc em thưa em đi trong gió.

                         * PheTả: tóc anh không có anh đi vô chùa.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Làm ngược lại với người đối diện nhưng phải chính xác.

    12. VỖ ĐẦU – XOA BỤNG

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự trái ngược để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Vỗđầu: tay phải vỗ đầu theo nhịp:1= xuống; 2 = lên.

                         Xoabụng: tay trái xoa bụng theo hình tròn: 1= ½ vòng; 2= ½ vòng còn lại.

                         Qt bắt 1 bài hát, mọi người vừa hát vừa tay phải vỗ đầu, tay trái xoa bụng hết bài hát, hát trở lại nhưng đổi tay: tay trái vỗ đầu, tay phải xoa bụng.

                         * Lưuý: Vỗ đầu và xoa bụng theo nhịp bài hát. Vỗ đầu và xoa bụng cùng 1 lúc nhưng vỗ đầu cho ra vỗ đầu, xoa bụng cho ra xoa bụng.

                         *Ai làm sai, mời ra giữa sẽ có hình phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Quản trò nên giải thích và làm nháp trước.

    13. BẠN ƠI HÃY LÀM

    Thể loại:        Trò chơiphản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Lắng nghe để thực hiện động tác.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      “Bạn ơi hãy làm, như thế này bạn nhé, đừng có làm sai, có chi mà bạn ngại”. Qt đọc từng câu và làm cử điệu, mọi người lặp lại vừa đọc vừa làm y như Qt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    14. SÍP – SÁP

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự trái ngược để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện đúng.

    Luậtchơi:      Đứng thành vòng tròn, Qt chỉ vào một người và nói “síp” hoặc “sáp”

                         *Nếu Qt nói “síp” thì người được chỉ phải nói lớn tên của người bên phải, nếu nói “sáp” thì phải nói tên của người bên trái. Ai nói sai, ra thế Qt và trò chơi tiếp tục.

                         *Khi mọi người khá quen, ít ai nói sai, Qt có thể đổi lại:

    -          Síp nói tên người bên trái

    -          Sáp nói tên người bên phải

    *Ai nói sai, có hình phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Qt luôn có sẵn một số trò chơi hình phạt, và biết sử dụng nó đúng lúc.     

    15. BẠN HAY TÔI

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói để thực hiện đúng.

    Luậtchơi:      Ngồi vòng tròn:

                         . Qt nói “trái” thì mỗi người lấy tên của người bên trái làm tên của mình.

                         . Qt nói “phải” thì mỗi người lấy tên của người bên phải làm tên của mình.

    ·         Khi Qt nói Phải (hoặc Trái), liền theo đó Qt gọi tên ai thì người mang tên mới đứng lên.

    ·         Ai sai thì phạt.

    ·          Có thể Qt nói Phải, hoặc Trái, rồi sau đó Qt gọi 1 vài tên. Ai mang tên mới đó đổi chỗ nhau. Sau khi đổi chỗ, Qt nói “Phải” “Trái” lại, và những người “đổi chỗ” phải là tên của 2 người 2 bên mình mới tới.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, và để kết thân.

    Lưuý:           Làm theo lời nói của Qt.

    16. LƯỢM  MANNA  I

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự khác nhau để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Đứng vòng tròn. Tất cả vừa nói vừa làm theo Qt.

                         . “Manna trên trời”: 2 tay đưa lên trời.

                         . “Manna dưới đất”: 2 tay hạ xuống đất.

                         . “Ta hốt Manna”: khum xuống, 2 tay đưa ra, rồi hốt vào.

                         . “Ta cho vào miệng”: Tay phải đưa vào miệng.

                         . “Ta nuốt Manna”: Tay phải vuốt từ miệng xuống ngực.

                         *Khi mọi người đã quen. Qt làm một đàng, nói một nẻo. Tất cả làm theo điều Qt nói, đừng bắt chước điều Qt làm.

                         *Ai làm sai, ngồi xuống, đợi trò chơi hình phạt kế tiếp.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Vậtdụng:     

    Lưuý:           Làm theo lời nói, không làm theo hành động.

    17. EM HỌC TOÁN LỚP 3

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     lắng nghe các số  điếm để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Vòng tròn. Qt ôn tập những số chia chẳn cho 3: 3, 6, 9, 12, 15...

                         *Qt cho đếm số theo thứ tự 1, 2, 3, 4... mỗi người đếm lớn tiếng số của mình, nhưng những ai trúng nhằm số chia chẳn cho 3 (như 3, 6, 9, 12...) thì không được đếm số mà phải vỗ tay.

                         Thí dụ: 1 –2 *  4 – 5 * 7 – 8 - * - 10...

                         *Những ai đếm sai số của mình: Chết. Còn những ai trúng số chia chẳn cho 3, vừa đếm số vừa vổ tay: chết.

                         *Ai chết, ngồi xuống. Mỗi lần có người chết, Qt bắt đầu  lại, và chỉ đếm số với những người còn sống. Theo kinh nghiệm, cuối cùng chỉ có 3 người còn sống.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Vậtdụng:     

    Lưuý:           Làm theo lời nói một cách chính xác và linh động.

    18. SỐNG – CHẾT – THIÊN ĐÀNG – HOẢ NGỤC

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:        Phân biệt sự khác nhau của lời nói để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Tập trung thành vòng tròn. Tất cả làm và nói theo Qt:

    ·         “Sống” =  chạy tại chỗ

    ·         “Chết” =  đứng im

    ·         “Thiên đàng” = nhảy lên đưa tay cao chữ Vị trí

    ·         “Hoả ngục” = ngồi đời tay bó gối.

       *Khi đã quen, Qt nói một đàng, làm một nẻo. Tất cả làm theo điều Qt nói, chớ đừng bắt chước điều Qt làm.

    *Ai làm sai, ngồi xuống chờ đợi hình phạt sau. Khi đã có 1 số đông người bị phạt, có thể phạt bằng trò chơi:

    “Thiên đàng hoả ngục hai quê,

        Ai khéo thì nhờ, ai vụng thì sa,

       Hằng đêm nhớ Chúa nhớ cha,

    Đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn,

    Linh hồn phải giữ linh hồn,

    Để trong giờ chết được lên Thiên Đàng”.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Làm theo lời nói một cách chính xác và linh động.

    19. KỂ CHUYỆN HÈ

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:        Phân biệt sự khác nhau của lời nói để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Qt kể rằng: Tôi thấy các bạn đi dạo chơi trong những ngày nghỉ hè, tôi thấy các bạn chơi giả xe hơi, xe lửa vv...

                         *Mỗi lần Qt nói “tôi thấy” thì tất cả bắt chước làm cử  điệu, nếu Qt không nói “tôi thấy” thì không được làm.

                         . Qt nói “tôi thấy”, ai không làm: phạt

                         . Qt không nói “tôi thấy”, ai làm: phạt.

                         **(Đây là 1 cách ôn tập trò chơi, nên Qt cố nêu lên nhiều trò đã chơi).

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Làm theo lời nói một cách chính xác và linh động.

    20. CÁC DẤU CÂU

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự khác nhau của lời nói để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói và hành động để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Tập trung thành vòng tròn (đứng), tất cả vừa nói vừa làm theo Qt:

    -          Dấuchấm: Chấm chân phải 1 cái (.)

    -          Haichấm: Nhảy dậm 2 chân, xoay người dọc (:)

    -          Dấuphẩy: Mũi chân phải ngoáy 1 cái (,)

    -          Chấmhỏi: Mũi chân phải ngoặc 1 vòng rồi dậm 1 cái (?)

    -          Mởngoặckép: Nhảy 2 chân lên trước (“)

    -          Đóngngoặckép: Nhảy 2 chân ra sau (”)

    *Sau đó, Qt làm 1 đàng nói một nẻo. Tất cả phải làm theo điều Qt nói, chớ đừng làm theo cái Qt làm. Ai sai ngồi xuống, chờ  sẽ bị phạt.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Làm theo lời nói một cách chính xác và linh động, mà không làm theo hành động.

                         A vaincre sans péril, on triomphe sans gloire.

    21. LỜ ĐI

    Thể loại:        Trò chơi phản xạ, vận động nhẹ trong phòng hay ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:     Phân biệt sự khác nhau của lời nói để thực hiện hành động.

    Giáodục:      Chú ý vào lời nói để thực hiện động tác.

    Luậtchơi:      Ngồi vòng tròn. Qt gọi tên ai thì người đó “lờ đi”, nhưng người bên phải của người đó thưa “có tôi”.

                         *Ai sai (cả người được gọi người bên phải họ) thì phạt.

                         *Có thể Qt gọi tên ai, người đó giơ tay lên nhưng không nói gì. Còn người bên phải họ đáp “có tôi”.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, vui vẻ

    Lưuý:           Làm theo lời nói một cách chính xác và linh động.

    TRÒ CHƠI PHẠT

    01. BƠM XE

    Thể loại:        Trò chơi phạt, vận động nhẹ trong phòng hoặc ngoài tròi,áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Luật chơi:        Những người bị phạt ngồi xổm. Qt đứng trước mặt họ, ra tác động giả “bơm xe”. Khi Qt bơm “phù phù” thì xe từ  từ đứng lên. Khi Qt “xì xì” thì xe từ từ xẹp xuống. Nhanh chậm tuỳ Qt.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    Vật dụng:

    Lưu ý:          Làm thật đều.

    02. GỘI ĐẦU CHO NHAU

    Thể loại:        Trò chơi phạt ngoài trời, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Luật chơi:      Dành cho nhiều người bị phạt. Những người này đứng thành 2 hàng đối diện nhau.

                         Mỗi hàng mang 1 tên dầu gội đầu. Thí dụ: hàng 1: Camay; hàng 2: Palmovie.

                         * Nếu Qt  nói “Camay” thì hàng 1 vò đầu hàng 2.

                         * Nếu Qt  nói “Palmovie” thì hàng 2 vò đầu hàng 1.

                         * Nếu Qt nói “May” thì không ai được vò đầuai cả.

                         Ai sai thì ngồi xuống đợi hình phạt tiếp.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    Vật dụng:

    Lưu ý:          Không được vò mạnh, chủ yếu làm xù tóc.

    03. VỊT ĐẺ – GÀ ẤP – DIỀU XỚT

    Thể loại:        Trò chơi phạt ngoài trời theo vòng tròn, hình phạt dành cho số đông người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Luật chơi:      Những người bị phạt đi vòng tròn (ở trong), làm cử điệu trong khi mọi người vừa nói vừa vỗ tay (mỗi chữ vỗ 1 cái):

                         “Vịt đe đe đe, Vịt đe đe đe, vịt đẻ.

                         Gà ấp ấp, Gà ấp ấp, gà nở.

                         Diều xớt xớt, Diều xớt xớt, gà đá”.

                         Cử điệu:

                         *Vịt đe đe đe: 2 tay trên hông, 2 chân rùn gần sát đất, đi kiểu vịt.

                         * Vịt đẻ: sà đít xuống.

                         * Gà ấp: 2 tay úp trên đầu, đi như trên.

                         * Gà nở: 2 tay mở rộng ra trên đầu.

                         * Diều xớt: 2 tay dang ra làm cánh, đi rùn chân, nhưng cao hơn kiểu vịt đi.

                         *Gà đá: chân phải đá người trước.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    04. BÙ LON

    Thể loại:        Trò chơi phạt trong phòng hoặc ngoài trời, hình phạt dành cho số đông người bị phạt từ các trò chơi khác.

    0Luật chơi:    Những người bị phạt ra ngồi ở giữa vòng, quay lưng vào nhau, mặt hướng về mọi người. Những người này chỉ được trả lời: “Bù lon” cho bất cứ câu hỏi nào của mọi người đặt ra. Những người ở vòng ngoài được tự do hỏi.

                         Thí dụ: hỏi: Bạn ăn cơm với gì?

                         *  Trả lời: Bù lon.

                         * Hỏi: Bạn tặng cho người yêu bạn cái gì?

                         * Trả lời: bù lon.

                         Hoặc có thể đặt cho mỗi người 1 tên như : Xơ dừa, cái lu, máng heo, xà beng... và đặt những câu hỏi vừa thích hợp vừa vui cười. Thí dụ hỏ: Bạn ăn cơm bằng gì?

                         * Trả lời: máng heo.

    -          Bạn xỉa răng bằng gì?

    -           Xà beng.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, gây cười,  giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    05. XAY LÚA

    Thể loại:        Trò chơi phạt, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Rèn luyện:    

    Giáo dục:

    Luật chơi:      Tất cả đọc thuộc cây này: “Xay thóc – nhọc mệt – hết hơi – ai ơi – giúp tôi – một tí.”

                         Cử điệu: đứng, 2 tay đưa ra, kéo vào như tư thế xay lúa. Tay đưa ra, miệng đọc “xay” tay kéo vào miệng đọc “thóc”.

                         Qt ra 1 hiệu còi, tất cả vừa đọc vừa làm cử điệu. Lần 1 chậm, lần 2 nhanh hơn, lần 3 nhanh nữa. Lần 6, 7 thật nhanh. Lần 8 chậm dần ... và chậm dần đến khi đọc khao khao không ra tiếng và 2 tay rã rời thì thôi.

                         “Thiếu tinh thần thì tình thương không thể được chứng minh và thiếu sự chứng minh này thi không thể có sự tin tưởng” (Don Bosco)

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    06. ĐUA TÔM

    Thể loại:        Trò chơi phạt, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Luật chơi:      Đặc tính của tôm là đi lùi. Chơi cá nhân. Mỗi người là một con tôm. Những con tôm đứng ngang nhau ở mức khởi hành, cách mức tới 5m. Mỗi người khum sâu xuống, 2 bàn tay nắm lấy cổ chân, gối phải thẳng.

                         Có tiếng còi, tôm đi lùi về mức tới. Tôm nào về trước là thắng.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    Vật dụng:

    07. VỖ ĐẦU – XOA BỤNG

    Thể loại:        Trò chơi phạt, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Rèn luyện:    

    Giáo dục:

    Luật chơi:      *Vỗ đầu: tay phải vỗ đầu theo nhịp 1= xuống; 2 = lên.

                         * Xoa bụng: tay trái xoa bụng theo hình tròn: 1= ½ vòng; 2= ½ vòng còn lại.

                         Qt bắt 1 bài hát, mọi người vừa hát vừa tay phải vỗ đầu, tay trái xoa bụng hết bài hát, hát trở lại nhưng đổi tay: tay trái vỗ đầu, tay phải xoa bụng.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    Vật dụng:

    Lưu ý:          Vỗ đầu và xoa bụng theo nhịp bài hát. Vỗ đầu và xoa bụng cùng 1 lúc nhưng vỗ đầu cho ra vỗ đầu, xoa bụng cho ra xoa bụng.

                         Ai làm sai, mời ra giữa sẽ có hình phạt.

    08 TẬP NÓI NHANH:

    Thể loại:        Trò chơi phạt, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Luật chơi:      Người bị nói nhanh, không lộn, không vấp câu nào “một hột vịt, lượm, luộc, lột, lũm.”

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    Vật dụng:

    09. BÀ CÕNG CHÁU

    Thể loại:        Trò chơi phạt, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác theo hàng ngang.

    Luật chơi:      Những người dự chơi đứng chống nạnh, cúi mình xuống, co 1 giò lên. Qt đặt khăn quàng trên lưng.          Dự chơi cờ từ mức khởi hành đến mức tới (hay cò 1 vòng) sao cho khăn không rơi xuống đất.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    10. BÒ LÚC LẮC – BÒ NHÚNG GIẤM

    Thể loại:        Trò chơi phạt, áp dụng cho những người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Luật chơi:      Mọi người đứng, chống nạnh.

                         Lúc lắc: lúc – lắc mông qua phải.

                         Lúc – lắc mông qua trái.

                         Nhúng giấm: nhúng – rùn sâu chân xuống.

                         Giấm – đứng thẳng lên.

                         * Khi Qt nói “Bò lúc lắc. Bò bò bò” TC lúc lắc 3 cái, vừa lúc lắc vừa nói lúc lắc, lúc lắc, lúc lắc.

                         * Qt nói: “bò nhúng giấm. Bò bò bò” TC nhún xuống đứng lên 3 lần, vừa nhún vừa nói: nhúng giấm, nhúng giấm.

                         Tuỳ Qt nói bao nhiêu tiếng “bò” thì phải làm bấy nhiêu lần lúc lắc hay nhúng giấm.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    Vật dụng:

    11. DÀNH PHẦN

    Thể loại:        Trò chơi phạt ngoài trời theo vòng tròn, hình phạt dành cho số đông người bị phạt từ các trò chơi khác.

    Rèn luyện:    

    Giáo dục:

    Luật chơi:      Nếu 10 người thì dùng 9 chiếc dép, tức là số dép ít hơn số người 1 chiếc.

                         -Những người này đứng vòng tròn, quay mặt ra, nắm tay nhau.

                         - Số dép sắp hình tròn sau lưng những người này.

                         - Tất cả hát 1 bài nào đó, bất thần, Qt thổi một tiếng còi, đang khi những người này di chuyển theo chiều kim đồng hồ.

                         - Nghe tiếng còi, mỗi người cố gắng ngồi xuống trên 1 chiếc dép. Ai không ngồi trên 1 chiếc dép thì bị loại.

                         - Loại 1 người, phải bỏ đi 1 chiếc dép, để giữ cho số dép ít hơn số người là 1.

                         - Trò chơi tiếp tục cho đến khi còn lại 1 người. Người đó chiến thắng.

    Mục đích:      Tạo bầu khí vui vẻ sinh động, giúp cho các thành viên này chơi tốt hơn.

    TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG MẠNH

    1. DÀNH PHÚC ÂM

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Phân biệt sự  khác nhau của lời nói mà thực hiện hành động.

    Giáodục:    Chú ý vào lời nói mà hành động một cách nhanh nhẹn và chính xác.

    Luậtchơi:   Chia làm 2 phe đều nhau. Với mỗi phe 5 người thì đặt ở giữa 5 quyển sách tượng trưng 5 cuốn Phúc Âm. Từ chỗ để 5 Phúc Âm cách xa mỗi phe 3m.

                       * Qt đứng giữa, ngoài đường chạy của 2 phe. Khi Qt hô “Phúc Âm” thì mỗi người cố chạy đến dành cho được 1 Phúc ÂÂm. Qt có thể hô: “Phúc Âm”,“Phúc lành”, “Phúc đức”... Ai di động chân sẽ thua.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    03 cuốn sách.

    2. CHIÊN TA THÌ  NGHE TIẾNG TA

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Phân biệt sự  khác nhau của tiếng kêu mà thực hiện hành động.

    Giáodục:    Chú ý vào lời nói mà thực hiện một cách nhanh nhẹn và chính xác.

    Luậtchơi:   Chơi theo hàng đội, mỗi đội chọn 1 con vật. Trừ đội trưởng, tất cả đội viên bịt mắt. Qt chỉ cho các đội trưởng đi cách xa nơi đó 5m, các đội trưởng đứng lộn xộn nhau. Qt thổi một tiếng còi, mỗi đội trưởng kêu tiếng của con vật đội mình. Các đội viên nghe tiếng đội trưởng kêu ở đâu thì tìm về nơi ấy và xếp hàng nghiêm chỉnh. Đội nào xong trước là thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    03 cuốn sách.

    3. BỒ CÂU TRẮNG và  BỒ CÂU ĐEN

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Phân biệt sự  khác nhau của  lời nói mà thực hiện hành động.

    Giáodục:    Chú ý vào lời nói mà thực hiện một cách  chính xác và nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Chia thành 2 phe, 01 phe làm bồ câu trắng 01 phe làm bồ câu đen. 2 phe đứng đối diện nhau, cách nhau 2m. Sau lưng mỗi phe có 1 lằn mức cách đó 2m. Qt đứng giữa 2 phe. Khi Qt hô bồ câu trắng thì phe bồ câu trắng rượt đánh chạm tay vào người của phe bồ câu đen. Khi Qt hô Bồ câu đen thì ngược lại.

                       * Qt hô bồ câu vàng, xám, đen... ai nhốm chân thì bị loại.

                  * Không được vượt qúa lằn ranh phía sau.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn để vẽ đường.

    4. TRUYỀN PHÁN

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có  khoảng 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng kế thừa lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Chơi theo hàng đội. Mỗi đội ngồi thành 1 vòng tròn và mỗi đội có 1 cục phấn.

                       * Khi Qt thổi 1 tiếng còi:

    - Mỗi đội cử 1 người cầm phấn qua đội khác cố gạch dấu thập (+) vào vòng tròn của họ.

    - Trong khi đó những người còn lại của mỗi đội bắt 1 bài hát, được quyền vỗ tay, nghiêng qua lại, chứ không được dùng 2 bàn tay che vòng tròn.

    - Khi người kia gạch được dấu (+) rồi, thì cầm phấn chạy về đội mình đưa cho người thứ 2. Người thứ 2 tiếp tục như người thứ 1, và như thế tiếp tục cho hết cả đội.

       - Kết thúc, đội nào ít dấu (+) nhất là thắng đội nào nhiều dấu (+) nhất là thua.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn viết.

    5. THỎ CÓC THI ĐUA

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý vào tiếng còi mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Số người chẵn, 1 người làm thỏ, 1 người làm cóc.

                       *  Thỏ: đứng chống nạnh.

                       *  Cóc: ngồi chống nạnh.

                       - Mức khởi hành cách mức tới 4m.

                       - Khi Qt thổi 1 tiếng còi thì Thỏ bước.

                       * 1 bước dài tối đa có thể, còn cóc thì nhảy 2 cái dài tối đa có thể.

                       .* Ai đến mức trước thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:     Phấn viết

    6. TÌM DÉP

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người (04-08 đội) tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý vào tiếng còi mà tương trợ và sẵn sàng thừa kế lẫn nhau để thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   1. Tập trung thành vòng tròn. Mọi người gom dép lại để giữa vòng tròn, trộn dép lộn xộn. Bắt đầu một bài hát, đang khi hát vỗ tay, mọi người di chuyển theo chiều kim đồng hồ. Bất thần Qt thổi 1 tiếng còi, mỗi người chạy vào xỏ chân vào dép rồi chạy về chỗ cũ, không được dùng tay. Người sau cùng sẽ bị phạt.

                       2. Hàng đội. Tập họp hàng dọc.

                       * Gom dép của cả đội, để lộn xộn, cách xa người thứ I của đội 3m. Số người mỗi đội bằng nhau.

                       * Có tiếng còi, người thứ I của mỗi đội chạy đến xỏ chân vào dép mình, rồi chạy về đánh vào người thứ II, người thứ II chạy lên... cứ thế tiếp tục cho hết cả đội.

                       * Đội nào xong trước thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:     Dép

    7. SĂN CỌP

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện: Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý để thực hiện một cách nhanh nhẹn để tranh đua với đối phương.

    Luậtchơi:   1 người làm thờ săn, 1 số người làm cọp. Thợ săn rượt đuổi cọp, đánh vào người cọp bất cứ chỗ nào: cọp chết, ngồi xuống tại chỗ.

              * Nếu cọp chạy không kịp, để khỏi bị đánh chết, thì cọp đưa tay phải vòng xuống chân phải (co chân phải lên), rồi ngược tay lên, khum đầu xuống, bóp mũi. Làm như thế, thợ săn không được quyền đánh cọp.

              * Trong thời gian 3 phút, cọp nào chết sẽ bị phạt, cọp nào còn sống sẽ được thưởng.

              * Đội nào xong trước thì thắng.

    Mụcđích:Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    8. ĐUA XÍCH LÔ

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, khoảng 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   . 3 người làm thành 1 xích lô.

                       . 2 người đứng sát nhau, choàng tay trên vai, chân phải của người này cột với chân trái của người kia. 2 chân bị cột này co lên.

                       . Người thứ ba, lái xích lô, đứng sau 2 người kia, 2 tây cầm 2 chân bị cột của họ làm cần lái.

                       . Nhiều chiếc xích lô sẵn sàng ở mức khởi hành, cách mức tới 4m, đợi còi hiệu xuất phát.

                       . Chiếc nào đến đích trước: thắng.

                       . Chiếc nào lật giữa đường: thua

                       . Những chiếc đụng nhau: thua.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:     Dây cột cho mỗi đội.

    9. VƯỢT LẦY

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, khoảng 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:  Tương trợ và sẳn sàng giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

                       *Lưu ý:cần sự nhẫn nại và tinh thần đồng đội. Càng tham càng dễ chết.

    Luậtchơi:   Tập trung thành hàng đội. Mỗi đội phải vượt qua 1 vùng đất sình lầy 5m, với điều kiện: chân không được đụng đất, tay không được chấm đất, chỉ được mỗi người 1 đôi dép.

                  Cách thực hiện: cả đội ngồi xuống theo hàng dọc. Chân trên quai dép. Người cuối của đội co chân lên, tay lấy chiếc dép đó chuyền lên cho người đầu của đội. Người đầu đặt chiếc dép đó, về trước 3 tấc, rồi bước 1 bàn chân lên dép đó. Mọi người trong đội từ từ bước lên 1 chân. Người cuối tếp tục lấy 1 chiếc lấy nữa (như lần trước) để chuyền lên cho người đầu... cứ thế tiếp tục cho đến khi cả đội vượt qua vùng lầy.

    Mụcđích:    Làm sôi động, tinh thần đòan kết và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:     Dép

    10. BÁN NHÀ

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn và chính xác.

    Giáodục:    Chú ý vào lời nói mà thực hiện một cách  chính xác và nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Tập trung thành vòng tròn. Qt cho đếm số và mỗi người mang 1 con số, số đó là số nhà của mình:

                       Qt: Bán nhà, bán nhà

                       TC: Số mấy, số mấy?

                       Qt: 3, 5, 8, 10, 15....

           * Ai mang những số đó phải chạy đổi chỗ nhau. Trong khi đó, Qt coi nhà nào trống thì nhào vô thêm, như thế sẽ có 1 người không có nhà. Người đó tiếp Qt và tiếp tục rao bán nhà.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    11. CHIM VỀ TỔ

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, trên dưới 04-08 người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn và đúng cách.

    Giáodục:    Chú ý vào lời nói mà thực hiện kịp thời và nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Các dự chơi đứng ở mức khởi hành, co một chân, 2 tay để trên đầu. Khi còi hiệu xuất phát, các dự chơi cò đến mức tới, rồi lại cò về mức khởi hành.

                       * Ai về sớm nhất là thắng cuộc.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn viết.

    Lưuý:  Quản trò nên giải thích và làm nháp trước.

                      “Lạy Chúa, xin ban cho con các linh hồn còn tất cả những gì khác, xin Ngài hãy lấy đi” (Don Bosco).

    12. THỔI CÒI TRỘM

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh bằng thính giác và xúc giác.

    Giáodục:    Chú ý, tập trung một cách  linh hoạt  để bắt người thổi còi trộm.

    Luậtchơi:   Đứng vòng tròn. Một dự chơi ở giữa vòng, bịt mắt, đeo còi ở phiá sau lưng. Mọi người thi nhau đến thổi còi, sao đừng cho bị người này đánh trúng. Ai bị đánh trúng sẽ thế người này. Người đeo còi được quyền di chuyển, tay quơ lung tung, đụng ai, người đó phải thế chỗ.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, vui tươi.

    Vậtdụng:   

    13. CHÚA Ở ĐÂU ?

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh bằng mắt.

    Giáodục:    Chú ý, tập trung quan sát mọi tạo vật để biết có Chúa.

    Luậtchơi:   Đang sinh hoạt hứng thú. Qt ra lệnh cho giải tán, với điều kiện mọi người phải chạy 1 vòng trong khu vực nào đó do Qt ấn định. Khi trở vào, tập hợp lại vòng tròn.

                       * Qt hỏi từng người: Em thấy những gì trên quãng đường đã chạy qua?

                       * Chắc chắn các em đua nhau kể đủ thứ. Nhưng 1 điều không ai thấy đó là Chúa, Chúa ở đâu ? Khắp nơi. Sau đó bắt hát 1 bài ca giáo lý nào đó về tạo dựng.

                       + Có thể áp dụng trò chơi này vào việc dạy giáo lý.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, tập quan sát.

    14. ĐUA RÍT

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, khoảng 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Đứng thành hàng đội, có số người đều nhau. Mỗi đội làm thành 1 con rít. Cả đội ngồi, người sau để 2 chân lên đùi người trước và kẹp lấy eo của họ. Rít di chuyển bằng những bàn tay. Mức khởi hành cách mức tới 5m.

                       * Có tiếng còi, những con rít bắt đầu bò. Rít nào đứt khúc thì chết. Rít nào về đến mức trước thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, với tinh thần đòan kết và có sự tranh đua.

    Lưuý:  Trò chơi này dành cho nam. Cần có tinh thần đồng đội. Muốn đi nhanh và không đứt khúc, cần có 1 người điều khiển, hô “1, 2 – 1, 2”: 1 chống tay đẩy tới, 2 kéo tay đặt lên trước. Rập và đều là đi nhanh thôi.

    15. ĐUA TÔM

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý tập trung nghe tiếng còi mà thực hiện nhanh nhẹn và đúng cách.

    Luậtchơi:   Đặc tính của tôm là đi lùi. Chơi cá nhân. Mỗi người là một con tôm. Những con tôm đứng ngang nhau ở mức khởi hành, cách mức tới 5m. Mỗi người khum sâu xuống, 2 bàn tay nắm lấy cổ chân, gối phải thẳng.

              * Có tiếng còi, tôm đi lùi về mức tới. Tôm nào về trước là thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự tranh đua.

    16. GIÁN ĐIỆP – PHẢN GIÁN

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý tập trung mà thực hiện nhanh nhẹn và đúng luật.

    Luậtchơi:   Một người làm phản gián, tất cả còn lại làm gián điệp. Phản gián đứng ở đầu sân, các gián điệp đứng ở cuối sân, cách nhau 5m.

              * Phản gián đứng quay lưng về phía gián điệp. Phản gián đếm: 1, 2, 3, 4, 5 rồi quay lại xem ai đang di chuyển hay đang cử động thì gọi tên người đó. Người được gọi tên ngồi xuống, kể là chết.

              * Trong khi phản gián đếm 1, 2, 3, 4, 5 thì các gián điệp được quyền tiến lên về phía phản gián. Khi phản gián quay lại thì mọi người đứng im. Gián điệp tiến đến gần phản gián, ai tới trước thì đánh vào vai phản gián rồi chạy nhanh về mức khởi hành. Phản gián được quyền rượt người đó đánh lại nếu đánh kịp thì phản gián thắng, nếu không thì người kia thắng. Trò chơi bắt đầu lại.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự tranh đua, khéo léo.

    17. CHẠY SAO THOÁT?           

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý tập trung mà thực hiện một cách khéo léo, nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Đứng thành vòng tròn, và  ở giữa vẽ 1 vòng tròn nhỏ 4 tấc đường kính. Đếm số  từ 1 đến hết. Mỗi người mang 1 số.

                       * Qt gọi 1 số nào đó bất kì, người mang số đó nhanh chân chạy vào đứng ở vòng tròn nhỏ. Còn 2 người 2 bên phải làm sao giữ người đó lại, nếu để họ thoát thì 2 người phải vào giữa làm kiệu khiêng người đó về.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự khéo léo nhanh nhẹn.

    Vậtdụng:     Phấn vẽ vòng tròn.

    18. THẰN LẰN CỤT ĐUÔI

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, cho trên dưới 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý tập trung mà thực hiện một cách khéo léo, nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Đứng thành hàng đội, với số người đều nhau. Mỗi người có 1 cái khăn vắt vào lưng quần ở phiá sau để làm đuôi. Hai đội đứng đối diện cách nhau 3m. Khi có hiệu còi, 2 bên xáp lại vừa cố giựt đứt đuôi bên kia, vừa lo bảo vệ đuôi của mình. Sau 3 phút, còi thổi kết thúc. Bên nào ít bị đứt đuôi thì thắng.

                       * Liền đó, hát và ra cử điệu bài:“Hai con thằn lằn con”.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự khéo léo nhanh nhẹn trong tinh thần đồng đội.

    Vậtdụng:    Khăn cho các đội.

    19. LƯỢM  MANNA 

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, cho trên dưới 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Chú ý tập trung mà tương trợ lẫn nhau một cách khéo léo, nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:   Đứng vòng tròn (kết trò chơi: Hàng đội) Qt tung một nắm “tăm gỗ” lên, tăm rơi xuống đất, Qt thổi còi. Mọi người đua nhau lượm Manna (tăm gỗ) bằng cách dùng ngón tay giữa và ngón áp út (ngón tay đeo nhẫn) của bàn tay trái, rồi đặt tăm vào tay phải.

                       * Sau 3 phút, Qt thổi còi, mọi người đứng lên. Mỗi đội gom số tăm lượm được lại, đếm xem được bao nhiêu.

                       * Đội nào nhặt được nhiều tăm nhất thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự khéo léo nhanh nhẹn trong tinh thần đồng đội của sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Tăm để làm Manna.

    20. GẬY BAY

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân  rộng, cho trên dưới 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:     Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:      Chú ý tập trung mà tương trợ lẫn nhau một cách khéo léo, nhanh nhẹn.

    Luậtchơi:      Sân rộng (bãi biển). Đứng thành hàng đội, đều nhau. Mỗi đội có 1 cái gậy. Cách mức khởi hành 20m để trước mỗi đội có đóng 1 gậy làm dấu “đích”.

              *Tiếng còi xuất phát. Người thứ I của mỗi đội cầm gậy chạy vòng qua đích rồi chạy về.

              * Người thứ I về đến đội, người thứ II tiếp lấy gậy, rồi cả 2 cầm gậy đó chạy vòng qua đích và trở về đội.

              . Người thứ III tiếp lấy gậy đó và cả 3 cùng chạy qua đích và trở về đội...

              Cứ thế cho đến người cuối cùng của đội. Cả đội cùng cầm gậy đó chạy vòng qua đích, rồi trở về vị trí cũ, tập họp. Đội nào xong trước thắng.

              * Qt lưu ý cách tổ chức của mỗi đội vì có người.

    Mụcđích:      Làm sôi động, phấn khởi, và có tinh thần đồng đội trong sự tranh đua.

    Vậtdụng:      Cây để làm gậy cho các đội.

    21. NGƯỜI BA CHÂN

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ lẫn nhau một cách khéo léo, nhanh nhẹn và cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Qt cho một băng reo để có nhiều cặp, mỗi cặp 2 người. 2 người này làm sao chỉ có 3 chân chạm đất mà thôi. Theo lệnh Qt, những người 3 chân này thi nhau đi đến đích, điểm đã vạch sẵn, ai tới trước thắng.

                       * Số người, số chân theo lệnh Qt:

                       * Tất cả làm theo lệnh Qt:

                       - 1 người 3 chân – 2 người 3 chân –

                       3 người 3 chân – 5 người 6 chân –

                       8 người 20 chân...

                       * Qt kiểm lại đủ số người tụm lại và đủ số chân chạm đất theo như lệnh đã ra. Nhóm nào thiếu, hoặc dư (cả người lẫn số chân) thì bị phạt.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn viết

    22. ĐƯỜNG ĐI KHÓ

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng hay bãi biển, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ lẫn nhau một cách nhanh nhẹn và cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Chia làm 2 phe. Qt vẽ 1 đường ngoằn nghèo rồi gom tất cả giày dép lại, xếp đều trên đường cong queo đó.

                       * Mỗi phe trú đóng ở mỗi đầu của đường ngoằn nghèo đó. Nghe hiệu còi, 2 người đầu tiên của 2 phe đi nhanh (không được chạy) bằng cách 2 chân 2 bên con đường. Giáp mặt nhau thì dừng lại đánh “tù tì” (búa, kéo, bao). Ai thắng đi tiếp, ai thua ra khỏi đường ngay. Trong khi đó, 1 người khác của phe thua khởi hành ngay để chặn bên thắng lại, đánh “tù tì” tiếp.

                       - Mỗi người của mỗi phe chỉ được ra chiến đấu 1 lần mà thôi.

                       -  Bên nào lọt vào ranh giới địch trước thắng.

                       - Bên nào hết quân trước là thua.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn viết.

    23. VỪA ĂN CƯỚP VỪA LA LÀNG

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:        Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tập trung chú ý và linh hoạt.

    Luậtchơi:   1 người làm “cảnh sát” điều tra xem ra thổi còi. Người này đi khuất xa một lúc. Qt mời 1 người nào đó trong vòng tròn dùng kim băng ghim dây còi vào cổ áo phía sau lưng, để còi thòng xuống lưng. Sau đó gọi cảnh sát vào, để tìm xem ai trong vòng đang giữ còi.

    * Qt khéo léo di chuyển mặt đối mặt với cảnh sát, khi cảnh sát ngó lơ, Qt xe lưng cho 1 người nào đó thổi còi, rồi Qt nhanh nhẹ di chuyển chỗ khác và tỏ vẻ ngạc nhiên.

    *        Cuối cùng cảnh sát phát giác, chính Qt là người “vừa ăn cướp vừa la làng”.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi, vui tươi.

    Vậtdụng:    Phấn viết.

    24. VĂN SĨ TỔNG HỢP

    Thể loại:   Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân rộng, khoảng trên dưới 04-08 đọâi tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh mà thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng kế thừa lẫn nhau một cách linh hoạt.

    Luậtchơi:   Đứng thành hàng đội, với số người đều nhau, đứng ngang nhau. Mỗi đội có 1 tờ giấy trắng và 1 cây bút để cách đội 3m.

                  * Nghe hiệu còi, người thứ I của mỗi đội chạy lên, viết vào tờ giấy (1 chữ) rồi chạy về đánh tay người thứ II của đội mình; người thứ II chạy lên viết “1 chữ”, rồi chạy về đánh tay người thứ III ... cứ thế cho hết những người trong đội.

                  * Mỗi người chỉ được viết 1 chữ nhưng gom cả đội lại thành 1 câu có ý nghĩa.

           * Đội nào xong trước và có ý nghĩa hay là thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn viết, viết, giấy.

    25. ĐỒNG THANH TƯƠNG ỨNG

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân rộng, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:    Tập trung chú ý để lắng nghe, nhận định chính xác và tìm nhau.

    Giáodục:    tinh thần đoàn kết, hòa đồng, dạn dĩ.

    Luậtchơi:   Qt viết tên 1 số bài hát vào 1 số giấy: Mỗi mảnh giấy ghi tên 1 bài hát, 1 bài hát ghi vào 5, 7 mảnh giấy. Số mảnh giấy có tên bài hát bằng số người chơi.

                  * Tất cả đứng vòng tròn. Qt tung giấy lên. Mỗi người lượm 1 mảnh và xem coi bài gì. Rồi ngậm miệng dùng âm a ê bài hát đó. Vừaa ê bài hát đó, vừa đi tìm nhau, những ai cùng 1 bài hát thì nắm tay nhau.

                  * Những ai lẻ loi sẽ bị phạt.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua và ôn tập lại các bài hát.

    Vậtdụng:    Viết, giấy.

    26. THEO NGÔI SAO

    Thể loại:   Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân rộng, có nhiều người tham đự tham dự.

    Rèn luyện:   sự quan sát, nhận định chính xác, nhanh nhẹn, khéo léo.

    Giáodục:    Tập kiên nhẫn và tinh thần kỷ luật, sự trung thực.

    Luậtchơi:   Mỗi người là 1 nhà đạo sĩ. Tất cả đứng ngang nhau ở mức khởi hành. Qt đứng ở mức tới cách có 10m, quay mặt về các đạo sĩ. Qt một tay cầm 1 ngôi sao, tay kia cầm 1 khăn xám.

                       * Khi ngôi sao xuất hiện (Qt đưa ngôi sao lên cao) thì các đạo sĩ tiến lên (bước đi không chạy). Khi ngôi sao bị mây che khuất (Qt hạ ngôi sao xuống, và phất khăn xám trên cao) thì các đạo sĩ dừng lại. Thấy ai còn tiến bước, kể cả nhúc nhích tay chân thì Qt gọi tên người đó. Người đó phải trở về mức khởi hành bắt đầu lại.

                       * Ai tiến đến ngôi sao trước nhất: thắng

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    01 cái khăn, 01 ngôi sao.

    Lưuý:(cần sự khéo léo, nhanh tay của Qt).

    27. TẮT LỬA

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân rộng, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   óc quan sát, phản xạ nhanh, chính xác

    Giáodục:    Tập vâng phục, chấp hành kỷ luật.

    Luậtchơi:   Đứng thành vòng tròn. Mỗi người vẽ 1 vòng tròn nhỏ quanh chỗ mình đứng, làm nhà ở.

         * Khi nghe hiệu còi, báo hiệu trời tối, dân chúng hay bỏ nhà đi chơi đêm (mọi người đi cách xa đó 10m).

                  * Trong khi đó, Qt xoá đi 1 vòng tròn nhỏ (khi về, đứng vào vòng nào cũng được).

                  * Khi nghe Qt hô “Tắt lửa”, mọi người chạy về đứng vào 1 căn nhà nhỏ, ai không có nhà thì vào giữa giúp Qt xoá thêm 1 vòng tròn nhỏ nữa, và trò chơi bắt đầu lại. Mỗi lần xoá thêm 1 vòng tròn.

                  * Ai không có nhà sẽ được giúp đỡ bằng một trò chơi khác.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Phấn viết.

    28. VẬT TRIỀU CỐNG

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân rộng, khoảng 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   óc quan sát và sáng tạo, tìm kiếm một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Viết sẵn một số vật “cống”, mỗi vật vào 1 mảnh giấy (chữ khá lớn), rồi bỏ vào 1 hộp nhỏ.

                       * Tất cả ngồi vòng tròn theo đội. Một người làm “Hoàng Đế” ngồi giữa. Mỗi đội cử 1 sứ thần đại diện đứng trước mặt “Hoàng Đế”.

                       * Hoàng Đế rút 1 mảnh giấy giơ cho các sứ thần xem. Sau đó Hoàng Đế vỗ tay, các sứ thần chạy về đội mình báo cho đội mình biết vật cần tìm để sứ thần triều cống.

                     * Đội nào đem trước sẽ được 1 điểm. Sau 5 lần, đội nào nhiều điểm thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Giấy, viết, hộp.

    29. MÒ KIM ĐÁY BIỂN

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân rộng, khoảng 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận định chính xác môi trường chung quanh bằng sự quan sát và thực hiện một cách nhanh nhẹn.

    Giáodục:    Tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm trong tinh thần đồng đội.

    Luậtchơi:   Đứng thành hàng đội, có số người bằng nhau. Các đội đứng ngang nhau. Mỗi đội có 1 cái bao để cách đó 5m.

                       * Lần I:Người đầu tiên của mỗi đội nghe hiệu còi, chân đi dép (giày) chạy đến cái bao của đội mình, cởi dép bỏ vào bao, rồi chạy về đánh tay người kế tiếp, và đi về chỗ sau cùng của đội; những người kế tiếp của đội cũng làm như thế.

                       * Lần II: Khi mọi người của đội đã bỏ dép vào bao rồi, thì người thứ I chạy lên lục trong bao tìm đôi dép của mình, mang vào cẩn thận rồi chạy về đánh tay người kế tiếp... cứ thế cho đến khi cả đội đã có đủ dép và xếp hàng nghiêm chỉnh. Đội nào xong trước, hát lên 1 bài thì đội đó thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Bao, dép (giày).

    30. KỊCH SĨ TÀI BA

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân,  khỏang 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   vận dụng óc tưởng tượng, thực tập khả năng diễn tả bằng lời nói và cử chỉ, điệu bộ.

    Giáodục:    tập bạo dạn.

    Luậtchơi:   Qt dùng một số mảnh giấy, ghi vào mỗi mảnh 1 tác động. Thí dụ: Mẹ ru con, người say rượu, bé cầu nguyện, linh mục làm lễ vv... Rồi xếp lại bỏ vào hộp để ở giữa. Tất cả ngồi vòng tròn. Qt tuần tự gọi mỗi đội cho 1 người lên bốc 1 mảnh giấy, rồi vừa đi vừa bắt chước động tác của nhân vật ghi trong giấy. Đi hết 1 vòng về chỗ. Qt mời 1 người của đội khác, cũng làm như trong giấy.

                       * Có thể gọi một lúc 2, 3 người.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi,vui cười.

    Vậtdụng:    Giấy, viết, hộp.

    Lưuý:         Chỉ bắt chước động tác đã ghi sẵn chứ không được nói gì. Ai nói, ai cười bị phạt.

    31. KHÉO BÒ

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, ngoài sân,  khỏang 04-04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận  định chính xác môi trường xung quanh bằng thính giác và xúc giác.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng kế thừa lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Chia làm 2 phe: A, B.

                       * Phe A đứng vòng tròn, quay lưng vào nhau, nắm tay nhau, chân dang ra (bàn chân người này vừa chạm bàn chân người kia), mắt nhắm.

                       * Phe B đứng trong vòng, tìm cách bò khéo ra ngoài, sao cho phe A không chạm vào người.

                       * Những người phe A không được rời tay nhau, không được mở mắt, có thể vung tay, hay bất thần ngồi xuống.

                       * Sau 3 phút, đổi lại, phe A vào trong vòng, phe B đứng vòng tròn nắm tay nhau như trên cũng 3 phút.

                       * Tổng kết:Phe nào bò ra được nhiều nhất thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi,vui cười và có sự tranh đua.

    32. LONG XÀ QUYẾT ĐẤU

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng (bãi biển),  khỏang 02 - 04-08 đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận  định chính xác môi trường xung quanh với tinh thần đồng đội.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng kế thừa lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Chia làm 2 đội, 1 đội làm Rồng, 1 đội làm Rắn. Người sau ôm  chắc bụng của người trước. 2 đội cách xa nhau 5m. Khi có hiệu còi, đầu Rồng vừa có bổn phận bảo vệ đuôi, vừa tìm bắt đuôi Rắn. Đội Rắn cũng vậy.

                       * Đang thi đấu, nghe lệnh còi, đầu đổi làm đuôi, đuôi đổi làm đầu.

                       - Đội nào bị đứt khúc: thua

                       - Đuôi đội nào bị bắt: thua.

                       * Trong khuôn khổ buổi sinh hoạt, có thể vẽ hình vuông hay chữ nhật và cho đi theo đường đã vẽ sẵn, nhớ buộc phải quẹo vuông góc. Người sau nắm vạt áo phía sau của người trước. Đầu đội này bắt được đuôi đội kia thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua, phấn đấu.

    33. THOÁT CHẠY

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng, có nhiều người tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận  định chính xác môi trường xung quanh với tinh thần đồng đội.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng cùng nhau chu toàn trách nhiệm.

    Luậtchơi:   Đứng vòng tròn. Một quả bóng mủ nhỏ vừa cầm tay. Một người đứng giữa ném bóng.

                       * Qt ra hiệu còi, người đứng giữa cầm bóng tung lên cao 3m, khi bóng rớt xuống vào người đứng giữa bắt được thì Qt thổi hiệu còi thứ II.

                       * Trong khi nghe hiệu còi thứ I, mọi người cố chạy ra xa; nghe hiệu còi II, mọi người phải đứng lại tại chỗ.

                       Và người đứng giữa cầm bóng cố ném cho trúng một người nào đó

                       (họ có thể uốn mình để né tránh). Nếu trúng, người đó vào thay.

                       Nếu hụt, người ném bóng tiếp tục, và trò chơi bắt đầu lại.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua.

    Vậtdụng:    Trái bóng nhỏ.

    34. ĐUA NGỰA

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng, có 02 hay nhiều đội tham dự.

    Rèn luyện:   sự khéo léo, nhanh nhẹn của tập thể.

    Giáodục:    Tinh thần đồng đội, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm để vượt đến đích.

    Luậtchơi:   Chianhóm: 3 người – 02 người làm Ngựa, 01 người cỡi: người thứ I đứng thẳng, người thứ II: 2 tay vịn vài người thứ I, 02 chân thẳng, mình cúi sâu làm Ngựa. Người thứ III ngồi lên lưng người thứ II, mặt quay lại, phía sau, miệng ngậm cán muỗng cà phê, trên muỗng cà phê có để 1 trái pingpong (hay 1 quả trứng). Người cỡi không được dựa lưng người thứ I, cũng không được dùng tay vịn vào bất cứ ở đâu.

                       * Tiếng còi khởi hành, các con ngựa bắt đầu chạy về điểm tới cách đó 5m. Ngựa nào tới đích trước, còn nguyên vẹn, không té, không rớt quả banh, không dựa lưng: thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua trong tinh thần đồng đội.

    Vậtdụng:    Trái banh pingpong nhỏ, muỗng, trứng.

    35. SẤP NGỬA

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng, có 02 hoặc nhiều đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận  định chính xác môi trường xung quanh  bằng việc lắng nghe và thực hiện với tinh thần đồng đội.

    Giáodục:    Tương trợ và sẳn sàng kế thừa lẫn nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm để vượt đến đích.

    Luậtchơi:   Chia thành hai đội đều nhau, xếp hàng dọc, đứng quay lưng vào nhau. Trước mặt mỗi đội có  

                        vạch 1 đường dài làm giới hạn.

                       *1 đội “sấp”, 1 đội “ngửa”

                       * Qt tung đồng bạc cắc lên, rơi xuống đất nếu là sấp, Qt hô “sấp”, nếu là ngửa thì hô

                       “ngửa”.

                       - Sấp: đội sấp chạy về đường giới hạn, đội ngửa quay lại đuổi theo, cố vỗ vào lưng. Ai bị vỗ vào lưng: chết

                       - Ngửa: đội ngửa chạy, đội sấp đuổi.

                       * Ai chết bị loại. Bắt đầu lại với số người còn sống. Cuối cùng đội nào chết hết: thua.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua trong tinh thần đồng đội.

    Vậtdụng:    đồng bạc cắc.

    36. DĨA BAY

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng, có nhiều đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận  định chính xác môi trường xung quanh và thực hiện với tinh thần đồng đội.

    Giáodục:    Tương trợ nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm để vượt đến đích một cách nhanh chóng

    Luậtchơi:   Ấn định mức khởi hành (trái đất) và mức tới (là 1 hành tinh nào đó).

                       *Mỗi đội đứng vòng tròn, quàng 2 tay lên vai nhau thật chặt, làm dĩa bay.

                       * Dĩa bay di chuyển bằng cách vừa quay tròn vừa đi tới hành tinh.

                       - Nghe hiệu còi, các dĩa bay bắt đầu di chuyển đến hành tinh đã định, rồi bay về trái đất (điểm khởi hành).

                       - Đang di chuyển, nghe hiệu còi thì đổi vòng quay.

                       - Các dĩa bay không được đụng nhau. Dĩa bay nào về đến trái đất trước, mà không có hư hại gì thì thắng.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua trong tinh thần đồng đội.

    37. CÓC THA MỒI

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng, có nhiều đội tham dự.

    Rèn luyện:   Nhận  định chính xác môi trường xung quanh và thực hiện với tinh thần đồng đội.

    Giáodục:    Tương trợ  và sẳn sàng kế thừa lẫn nhau , cùng gánh vác trách nhiệm để vượt đến đích một cách nhanh chóng.

    Luậtchơi:   Tập trung thành vòng tròn, ngồi theo đội, số người mỗi đội bằng nhau.

                       * Vẽ 1 vòng tròn đường kính 1m ở giữa. Rồi đặt rải rác vào đó một số khăn quàng tương ứng với số người chơi (mỗi người 1 cái).

                       * Tất cả ngồi chồm hổm, tay trên hông. Nghe tiếng còi, người thứ I của mỗi đội nhảy như cóc đến vòng tròn (để khăn quàng). Rồi khum xuống, 2 gối chạm đất, dùng miệng tha mồi (cắn lấy 1 khăn quàng), rồi nhảy về chỗ. Người thứ II nhảy lên, làm như trên...

                       * Đội nào tha đủ mồi trước thì  thắng. Đội nào có người té là thua.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua trong tinh thần đồng đội.

     Vậtdụng:   Khăn quàng.

    38. THI ĐUA CỨU TRỢ

    Thể loại:      Trò chơi vận động mạnh, sân rộng, có nhiều nhiều đội tham dự.

    Rèn luyện:        Nhận định chính xác môi trường xung quanh và thực hiện với tinh thần đồng đội.

    Giáodục:    Tương trợ lẫn nhau , cùng gánh vác trách nhiệm để  tìm kiếm một cách nhanh nhất.

    Luậtchơi:   Qt quảng diễn nội dung: Bão lụt miền Trung. Cảnh màn trời chiếu đất. Kêu gọi cứu trợ.

                  *Mỗi đội là 1 nhóm cứu trợ, có bổn phận cung ứng bất cứ thứ gì nạn nhân đòi hỏi.

                       * Qt là nạn nhân, đòi hỏi những gì có ở khu vực sinh hoạt, hay chính nơi các bạn sinh hoạt.

                       * Thí dụ: nước cuốn mất của tôi 1 chiếc giày, hãy cho tôi chiếc giày.

                       * Gió thổi đứt của tôi 1 nút áo, hãy cho tôi 1 nút áo.

    - Đội nào đem tới trước nhất được 1 điểm kết thúc, đội nào nhiều điểm nhất: thắng.

    - Qt có thể đòi hỏi cái khó tìm hơn như 10 sợi tóc bạ, 2 con chí hoặc 1 vật vui hơn như 1 hàm răng giả.

    Mụcđích:    Làm sôi động, phấn khởi và có sự tranh đua trong tinh thần đồng đội.

    Vậtdụng:    Các vật dụng để làm vật cứu trợ.

    38. ĐUỔI BẮT

    Chuẩn bị:    sân rộng, có khoảng từ 20-25 người tham dự.

    Rèn luyện: nhanh trí, tháo vát, dai sức. 

    Luậtchơi:   Đây là trò chơi bài hát đuổi bắt từng 2 người trong 1 vòng tròn.

    1. Đưa ra 2 người, 1 chạy, 1 rượt, cùng phát xuất 1 lượt đầu nhịp mạnh.

    2. Vòng tròn nắm tay giang rộng để có thể chạy đuổi dễ dàng .

    3. Người bị đuổi chạy theo đường nào, người đuổi phải chạy theo đường đó, không được chặn đầu, hoặc chạy tắt ngang.

    4. Bài hát được hát hai hoặc ba lần tuỳ theo qui định, mỗi lần nhanh hơn.

    5. Hát xong mà người đuổi không bắt được coi như thua, còn nếu người bị đuổi bị bắt thì phải đuổi người khác.

    Lưu ý: Quản trò có thể sáng kiến một loại hình khác tương tự như vậy với điều kiện chạy (nhảy từng bước) theo nhịp, miễn bước được xa là có thể thắng.

    NỘI DUNG CHI TIẾT TRÒ CHƠI “ VẬN ĐỘNG TRƯỜNG”

    STT

    NỘI DUNG

    TRÒ CHƠI

    SỐ LƯỢNG THAM GIA

    DIỄN TIẾN TRÒ CHƠI

    CÁCH TÍNH ĐIỄM

    SV HỖ TRỢ

    Nam

    Nữ

    01

    Bước Chân Thần Tốc

    (Vượt lên phía trước)

    03

    03

    Khoảng cách chặng đường thi đấu , từ điễm A ( XP) đến điểm B ( KT) dài 20m . Đội hình thi đấu xen kẽ nam nữ .Hai chân đứng trên hai miến g gỗ 15cm x 3m .Ngón cái – trỏ hai bàn chân kẹp giữ cố định hai dây , hai tay đồng thời giữ dây điều khiển . Khi có hiệu lệnh cả đội đồng loạt di chuyển sao cho khéo léo nhịp nhàng từ điểm A về đến điểm B.

    Chia bảng thi đấu loại trực tiếp. Mỗi đợt thi đấu  4 đội / bảng . Chọn đội nhất bảng đấu vòng chung kết xếp hạng.

    02

    02

    Cô tấm ngày nay

    00

    02

    Mỗi đội sẽ được nhận một rổ gồm đậu trộn lẫn với gạo hoặc thóc . sau thời gian 10 phút hai “cô tấm “ của đội nào lựa được nhiều đậu và gạo riêng từng loại thì đội đó sẽ chiến thắng

    Các đội thi cùng lượt – sau thời gian 10 phút sẽ có trọng tài đong khối lượng của từng đội để xác định đội chiến thắng

    05

    03

    Ngôi Nhà Chung

    Khônghạn chế

    Không hạn chế

    Với thời gian chuẩn bị hai phút , các đội phác thảo ý tưởng xây dựng bằng cách cõng . đùng đình…. Toàn đội đứng trên tấm Ballet nhựa

    1m *1,6m khi cả đội đứng vững  chân không còn chạm đất , thời gian sẽ được tính . Khi có thành viên chân chạm đất , té ngã trò chơi kết thúc

    Chia bốn bảng thi đấu chọn đội đầu bảng đấu vòng trung kết . Ngôi nhà nào xây dựng trên nhiều thành viên nhất , sáng tạo , thời gian trụ lâu thì thắng cuộc

    04

    04

    Giúp bạn vượt khó

    04

    02

    Một dãi dây được gắn những chiếc chuông theo hình zích zắc . Mỗi đội 6 người , một người chỉ huy 5 người còn lại

    Khi có hiệu lênh từng người sẽ di chuyển trong tư thế bị bịt mắt . Người chỉ huy sẽ là người hướng dẫn từng thành viên di chuyển sao cho không làm chuông rung lên. Sau 5 phút đội nào di chuyển được nhiều lần và có số điểm cao nhất  thì sẽ  chiến thắng

    Chia làm nhiều đội không hạn chế Mỗi lần di chuyển thành công được tính 10 điểm .

    Mỗi lần làm chuông rung lên sẽ bị trừ 1 điểm   . Đích cuối cùng là những bảng nghề nghiệp mà người chơi được nhận

    03

    NỘI DUNG CHI TIẾT KHU VỰC TRÒ CHƠI “ DÂN GIAN ”

    STT

    NỘI DUNG

    TRÒ CHƠI

    SL

    THAM GIA

    DIỄN TIẾN TRÒ CHƠI

    CÁCH TÍNH ĐIỂM

    SV

    HỖ TRỢ

    Nam

    Nữ

    01

    NHẢY BAO BỐ

    TẬP THỂ

    04

    04

    Mỗi cặp bao bố được may dính liền nối hai cái . từ điểm A (xuất phát ) đến điểm B có khoảng  cách 10 m . Các thành viên trong đội được bố trí tại hai điểm(A và B ), mỗi điểm 4 thành viên . khi trò chơi bắt đầu , lượt nhảy đầu tiên gồm 4 thành viên (2 nam 2 nữ ) bước vào bao bố đồng loạt cùng thực hiện động tác nhảy đến điểm B . Sau đó chuyển cho 4 thành viên còn lại thực hiện động tác nhảy lại điểm A .

    Chia làm 4 đợt  nhảy . mỗi đợt 4 đội chọn đội nhất ở mỗi đợt vào đấu vòng chung kết xếp hạng .

    03

    02

    BỊT MẮT ĐẬP HEO
     

    Tự do

    Tự do

    Heo đất được bố trí trên dây cách vạch xuất phát 2m . người chơi trong tư thế bị bịt mắt , tay trái cầm dùi .quay 180 tiến về phía trước thực hiện động tác đập ( 01 Lần)

    Thi tự do, đập bể heo đất sẽ được nhận mộ phần quà.

    02

    03

    GÁNH NƯỚC VỀ LÀNG

    02

    02

    Khoảng cách từ điểm A (xuất phát ) đến điểm C dài 20m . Lần lượt từng thành viên trong đội , khi có hiệu lệnh sẽ di chuyển đến điểm B nhận lấy đôi  gánh di chuyển trên cầu khỉ đến điểm C ,  Dùng xô múc nước và chuyển nước về làng ( di chuyển ngược lại ) trên cầu khỉ sao cho nước không đổ ra ngoài . về đến điểm A đổ nước được gánh về vào thùng . Lần lượt thành viên tiếp theo thực hiện tương tự cho đến khi hết thời gian .

    Mỗi đợt 02 đội thi đấu.Thời gian thi đấu mỗi đợt 5 phút . đội nào gánh được nhiều nước nhất thì thắng cuộc

    Lưu ý: Khi thực hiện trò chơi nếu té ngã trên cầu  khỉ thành viên tiếp theo thực hiện tiếp theo .

    02

    04

    ĐI CÀ KHEO TẬP THỂ

    01

    01

    Vạch xuất phát (A ) cách vạch kết thúc (B) khoảng cách 15m .khi có hiệu lệnh thành viên nam xuất phát di chuyển trên cà kheo đến điểm B . sau đó chuyển cà kheo , thành viên nữ thực hiện tương tự về lại điểm A

    Mỗi bảng đấu loại gồm 04 đội . cho đội nhất bảng vào thi đấu vòng chung kết xếp hạng .

    02

    05

    ĐẨY GẬY

    01

     

    Vòng tròn thi đấu có đường kính 4 mét ba vạch thi đấu bố trí trong vòng tròn tại ba điểm O- A –B . Gậy tre dài 2m4 , khi có hiệu lệnh ; tư thế kẹp gậy dùng sức đãy ngã đối phương

    Chia bảng đấu  loại trực tiếp . Chọn vận  động viên thắng vào thi đấu vòng trong

    02

    TRÒ CHƠI BÃI BIỂN

    Nội dung:
    1. Kéo co:- Dụng cụ: Dây thừng dài, buộc 01 mảnh vải đỏ làm dấu.
    - Cách chơi: chia đội khoảng 10 người (5 nam 5 nữ), tổ chức thi kéo co chọn đội thắng. Nếu có nhiều đội thì tổ chức thi đối kháng, vào chung kết.

    2. Nhảy bao bố:
    - Dụng cụ: bao vải, bao bố, dây nilong...
    - Cách chơi: Chia đội nhảy bao bố từ vạch xuất phát về đích (có thể nhảy đơn hoạc nhảy đôi), và nhảy bao bố tiếp sức. ĐỘi nào về trước thắng cuộc.

    3. Đua ghe ngo:
    - Cách chơi: Thường thì chia làm 3,4 đội (nhiều hơn thì chia lm nhiều đợt đua). Các đội ngồi xếp hàng xen kẽ nam nữ, người sau gác chân lên đùi người trước. Khi có hiệu lệnh xuất phát, tất cả các đội di chuyển về đích ở mực nước biển, lưu ý chỉ được dùng tay và mông để di chuyển. Đội nào bị đứt giữa đường, phải ngừng lại, ráp đoàn lại rồi mới dược đua tiếp. Đội nào có người cuối cùng cán đích trước đội đó chiến thắng.

    4. Giọt máu cứu người:
    - Dụng cụ: Thau nhựa, nước biển, chai nhựa (thủy tinh)
    - Cách chơi: Mỗi đội có 3 người chơi, đứng theo 3 vị trí được quy định bằng các dây nilon. Khi có hiệu lệnh xuất phát, người 1 lấy nước biển từ thau nhựa bằng miệng, chạy đến chỗ người 2, nhả nước vào tay người 2, người 2 giữ và chạy đến chỗ người 3, truyền nước cho người 3, người 3 giữ và chạy đến vị trí chai cuat mình, cho nước vào chai. Sau 5 phút, đội nào có mực nước trong chai cao hơn đội đó sẽ thắng,

    5. Bước chân thần tốc:
    - Dụng cụ: đôi hia (2 miếng gỗ có dây buộc vào chân người chơi)
    - Cách chơi: Mỗi đội chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm khoảng 3,4 người có nam có nữ và đứng ở 2 đầu. Khi có hiệu lệnh, nhóm 1 phải di chuyển trên đôi hia đến vị trí của nhóm 2, nhóm 2 nhận lấy buộc vào chân và di chuyển về đích. Đội nào về đích trước và cịn đủ người là thắng.


    6. Truy tìm ngọc bu:
    - Dụng cụ: thau nhựa, bột mì, kẹo (kẹo được trộn vào thau có bột mì, ko thể thấy kẹo nằm ở dưới)
    - Cách chơi: Chơi theo hình thức đối kháng.
    Khi nghe hiệu lệnh, bạn nam cùng bạn nữ chạy đến vị trí thau nhựa nâng thau nhựa lên cho bạn nữ. Bạn nữ, không được dùng tay, chỉ được dùng miệng mò tìm 1 viên kẹo trong thau bột (chú ý, bạn nữ không được đụng tay đến thau bột, chỉ được dùng miệng). Sau khi đã mò tìm được viên kẹo, ngậm chạy về đích đưa cho trọng tài, và cặp thứ 2 tiếp tục chạy lên để mò tìm kẹo. Đội nào tìm đủ 10 viên kẹo trước, đối đó sẽ thắng.

    7. Vũ điệu tình nồng:
    - Dụng cụ: bong bóng (nhiều), dây thun, dây nilon.
    - Cách chơi: Chơi tập thể.
    Mỗi đội có 5 cặp (tùy theo số lượng cụ thể), nam và nữ, cột chân vào nhau theo thế 2 người 3 chân (cột chân bằng dây nilong). Mỗi cặp được cột 3 cái bong bóng vào mắt cá chân ở vị trí thấp (3 bong bóng ở 3 chân). Tất cả các cặp đứng vào 3 ô vuông (tròn) mà BTC đ vạch sẵn. Khi có hiệu lệnh, các cặp sẽ tìm cách để đạp bể bong bóng của các cặp khác, không được di chuyển ra ngoài vòng tròn hay ô vuông đã định. Cặp nào của đội nào còn bong bóng trên chân thì đội đó thắng.
    Quy định: - Không được cột bong bóng quá cao, không được cột trước mu bàn chân, không được đạp vào chân đối thủ (nhất là các bạn nữ), không được để đứt dây ni long ở giữa chân của mỗi cặp. Đội nào vi phạm, loại khỏi cuộc chơi.

    8. Đá bóng tình yêu:
    - Dụng cụ: khung thành, bóng đá, dây nilon.
    - Chơi theo cặp nam nữ, cột chân theo thế 2 người 3 chân. Mỗi đội có 5 cặp cùng thi đấu (như bóng đá mini). Sau 5 phút, không đội nào ghi được bàn thắng thì cho đá luân lưu).

    9. Rước nàng về dinh:
    - Dụng cụ: Bong bóng, dây thun cột, rổ đựng.
    - Cách chơi: Mỗi đội chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm có 2 nam 1 nữ. Chơi đối kháng.
    Sau khi có hiệu lệnh, 3 người trong 1 nhóm sẽ thay nhau thổi bong bóng, xong, bạn nữ cầm bong bóng trên tay, ngồi lên 2 đôi tay đan chéo của 2 bạn nam, 2 bạn nam khiêng bạn nữ về đích, trên đường phải vượt qua các chướng ngại vật. Chướng ngại vật 1: bước qua dây; chướng ngại 2: luồn dưới dây; chướng ngại 3: luịn dưới dây thấp hơn. Chuớng ngại 2 và 3 thiết kế sao cho khi đến chướng ngại 2, 2 nam phải quỳ xuống để qua, cịn khi đến chướng ngại 3, 2 nam phải ngồi xuống để qua. Tuyệt đối khi về đến đích cả 3 người không được chạm vào dây của chướng ngại vật. Về đích, người nữ cho quả bóng vào rổ của đội mình. nhóm khác tiếp tục.
    Sau 5 pht, đội nào có số bong bóng nhiều hơn sẽ thắng.

    10. Vượt trận địa: (Trò chơi team)
    - Dụng cụ: bong bóng, dây thun cột, thanh tre,
    - Cách chơi: BTC đào sẵn các địa đạo trên cát (dài khoảng 4m, sâu 0,5m), đặt các thanh tre ở trên làm rào. Mỗi đội khoảng 6 người chơi. Khi có hiệu lệnh xuất phát, 6 người thổi bong bóng, cột bằng dây thun, sau đó nằm sấp duỗi thẳng chân, 2 tay người sau bám cào 2 chân người trước đồng thời buộc bong bóng vào chân của người trước. Cả đội phải nắm chặt chân nhau và di chuyển bằng cách trườn trên cát (như các chiến sĩ khi vượt qua các bi mìn) theo con đường BTC đ vạch ra, phải chui xuống địa đạo, không để thanh tre chạm vào người. Khi người cuối cùng về đến đích tháo bong bóng cho vào ô của đội mình và quay về lại vạch xuất phát theo đường cũ. Đội nào kết thúc phần thi trong thời gian ngắn nhất sẽ giành phần thắng.
    ---> Cái tài của người chỉ huy sẽ giúp ích rất nhiều cho đội trong trò chơi này.


    11. Chung sức: (Trị chơi Team)
    - Dụng cụ: mi đội có 10 ống nhựa (loại lớn, cứng), 1 miếng ván, và 2 thanh tre.
    - Cách chơi: tấm ván được đặt trên 10 ống nhựa. Mỗi nhóm khoảng 6 người cùng ngồi trên tấm ván. Khi có hiệu lệnh, 2 bạn sẽ dùng 2 thanh tre để chống đẩy di chuyển miếng ván, 2 bạn ngồi sau chuyển những ống nhựa cho 2 bạn ngồi trước đặt vào cho tấm ván di chuyển về đích. Game này đòi hỏi các thành viên trong đội phải phối hợp hết sức nhịp nhàng để di chuyển tấm ván về đích, từ người chèo đầu, đến 2 người phía sau và 2 người phía trước.
    (Có thể kéo dài trị chơi bằng cách cho mỗi nhóm mang một vật gì đó về đích, sau đó nhóm thứ 2 tiếp tục di chuyển mang những miếng ghép cịn lại về để hoàn thành bức tranh hay khẩu hiệu. Đội nào hoàn thành trước sẽ giành chiến thắng, tính thời gian trong trường hợp có nhiều đội).

    12. Heniken ghép hình: (Trị chơi Team)
    - Dụng cụ: Thùng nhựa loại lớn, nước đá, các miếng ghép được tháo ra thành nhiều mảnh, dép khổng lồ (thiết kế cho 2 người cùng mang đứng đối diện nhau).
    - Cách chơi: Chơi đối kháng.
    Mỗi đội có 3,4 cặp nam nữ, mang dép khổng lồ đứng đối mặt vào nhau. Khi có hiệu lệnh, cặp thứ 1 di chuyển sao cho nhịp nhàng đến thùng đá có những mảnh ghép, thị tay vô thùng đá lạnh và lấy ra mỗi người một miếng ghép (lưu ý phải lấy đúng miếng ghép của đội mình), sau khi lấy đựoc di chuyển tiếp về tấm bảng của đội mình ghép hình vừa tìm được. Xong, cặp thứ 2 tiếp tục cho đến khi hoàn thiện bức tranh. Đội nào hoàn thành xong bức tranh trong thời gian sơm nhất sẽ chiến thắng.
    ---> Game này mang tính phối hợp nhịp nhàng giữa các đồng đội và sức chịu đựng trong thùng đá lạnh.

    13. Tình đồng đội:(Trò chơi Team)
    - Dụng cụ: Các chướng ngại vật bằng dây, bằng các vòng tròn, chuông leng keng.
    - Cách chơi: Một bạn sẽ đứng trên cao, tay cầm một mảnh của mô hình trái tim, các thành viên còn lại đứng ở phía sau, đan tay vào nhau. Khi có hiệu lệnh, thành viên đang đứng trên cao sẽ ng tự do ra đằng sau, có các đồng đội của mình đang sẵn sàng nâng đỡ. (Hình tượng người chiến sĩ bị bắn và được đồng đội cứu chữa). Các đồng đội sẽ di chuyển (khiêng) thành viên bị thương đến các chường ngại vật, đưa thành viên này qua các chướng ngại vật như vòng tròn nhỏ, các lưới mạng nhện, sao cho không được để thành viên chạm vào các chướng ngại vật, nếu chạm vào chuông sẽ rung lên. Sau khi đã vượt qua hết các chướng ngại vật, di chuyển thành viên đến vị trí để đặt trái tim. Xong thì nhóm thứ 2 tiếp tục. Đội nào ghép xong hình trái tim trước đội đó thắng. Có thể kết hợp các trò chơi team building.
    --> trị chơi này đòi hỏi tinh thần đồng đội cao, tự tin vào các đồng đội của mình, đoàn kết sẽ chiến thắng.

    TEAM BUILDING

    Gửi kèm theo ảnhGửi kèm theo ảnhMẠNG NHỆN
    1.Nội dung:
    -Đưa tất cả các thành viên của đội qua mạng nhện độc, trong thời gian nhanh nhất.
    2.Luật:
    -Mỗi ô trên mạng nhện không được qua quá 2 lần
    -Không chạm vào mạng nhện làm rung chuông (phát tiếng chuông);
    3.Điểm
    -Tính thời gian (+100,+90,+80,+70)
    -Mỗi lần vi phạm luật -5/lần;
    3.Ý nghĩa trò chơi:
    -Lập kế hoạch trong nhóm:phân công như thế nào trong nhóm
    -Thông tin trong nhóm: trao đổi,tranh cải của các thành viên khi thực hiện trò chơi
    -Xây dựng niềm tin

    Gửi kèm theo ảnh
    QUA THUNG LŨNG CHẾT:
    Nội dung:
    -Dùng 7 thanh gổ cho trước đưa toàn đội sang một bãi lầy, sao cho không có thành viên nào rơi xuống bãi lầy trong thời gian nhanh nhất.
    - Đem toàn bộ 7 thanh gỗ cùng sang bờ bên kia với đội.
    Luật:
    -Khi thực hiện không có thành viên nào rơi xuống bãi lầy
    -Chỉ được đứng lên 7 thanh gỗ cho trước.
    Điểm:
    - Tính thời gian hoàn thành.
    - Tính số lỗi vi phạm khi bị rớt và cham vào khung cầu ( -10đ/lỗi)
    Ý nghĩa trò chơi:
    - Thảo luận trong nhóm.
    - Giải quyết khó khăn của cả nhóm.
    - Phất hiện các cá nhân trong nhóm
    - Cách sử dụng nguồn lực hợp lý nhất của nhóm.
    Trò chơi di chuyển trái bóng được khách rất thích thú.
    Yêu cầu: Cả nhóm di chuyển trái banh nỉ ( tennis) và cho vào chiếc sọt bằng nhựa cách chừng 3 m hoặc cả nhóm cùng nhau di chuyển đến một nơi nào đó chừng 10 m.
    Mục tiêu: Tạo nên sự phối hợp nhóm một cách khéo léo.

    ĐIỆP VỤ GIỮA KHÔNG GIAN:

    Nội dung yêu cầu :
    - Toàn đội sẽ hội ý hợp sức để lấy được chiếc "đĩa bay" ra khỏi "tên lửa" mà không để xãy ra một va chạm nhỏ nào giữa hai vật - với thời gian nhanh nhất.
    Gợi ý và luật chơi :
    - Vì nhiệm vụ được thực hiện giữa không gian nên "Phi hành gia - chuyên viên kỹ thuật" không được tiếp đất kể từ khi tiếp cận mục tiêu.
    - Lưu ý "trọng lượng" của "đĩa bay" và "sức bền" của thành viên thực hiện.
    - Được phép thay đổi "Chuyên viên" giữa chừng hay tiến hành lại từ đầu - không trừ thời gian.
    Điểm :
    - Tính thời gian hoàn thành.
    - Điểm + cho sự nhịp nhàng - đẹp (được tính bởi "đài kiểm soát - khán giả")
    Ý nghĩa trò chơi:
    - Thảo luận trao đổi ý tưởng và ý thức vai trò Team Leader.
    - Phân bổ nguồn lực và hợp sức vì nhiệm vụ chung.
    - Thường xuyên quan tâm đến tình hình thời sự là kỹ năng cần thiết của nhân viên thời hiện đại.
    - Có góc nhìn dí dỏm về các vấn đề xã hội.
    Yêu cầu nội bộ (dành cho BTC):
    - Chọn thời điểm để tung ra nhiệm vụ một cách bất ngờ nhất.
    - "HDV-MC" được chuẩn bị sẵn những hình ảnh, nội dung cũng như kiến thức liên quan về việc phóng vệ tinh VINASAT-1 ngày 19/04 vừa qua.
    - Tùy theo tình hình "sung sức" của khách, có thể chuẩn bị hơn thêm số lượng... "đĩa bay"
    - Chú ý dự phòng một tiết mục "giao lưu nhẹ" để tiến hành việc hoán đổi người trong trường hợp có đội bị thiếu thành viên hoặc số lượng nam nữ không đồng nhất.

    TẬP KIẾM SỐNG

    -          Đối tượng: dành cho doanh nhân là hợp nhất.
    - Cách chơi: Chia thành đội hoặc nhóm để chơi (số lượng không hạn chế - 2 đội trở lên). BTC sẽ dùng xe đưa các đội đến một đại điểm du lịch (Phan Thiết, Đà Lạt, Nha Trang...) Mỗi đội sẽ được BTC cấp cho một nguồn kinh phí xác định (số lượng ko nhiều), Tòan bộ tài sản của các đội sẽ bị BTC tịch thu trong lúc chơi.
    Với số tiền mà BTC đã cung cấp, các đội dùng ý tưởng, sức mạnh tập thể để làm sao đó tồn tại nơi mình đang đứng trong 2-3 ngày mà ko có sự trợ giúp nào khác: tự tìm chổ ăn, tự tìm chổ ở. Ngoài ra các đội phải làm sao đó mua đủ số lượng đặc sản của đại phương, đến một điểm du lịch (chụp ảnh làm chứng) đó theo yêu cầu của BTC. Sau 2-3 ngày các đội tập trung lại tại đại điểm tập trung, kiểm tra quân số, kiểm tra xem số đặc sản đã đủ theo yêu cầu của BTC hay chưa, kiểm tra số tiền còn lại. Đội nào đáp ứng đủ, số tiền còn lại nhiều nhất đội đó sẽ chiến thắng.
     


    Paintball - Sức mạnh đồng đội
    Khái niệm về Paintball:
    Paintball là một trò chơi được dân Việt Nam biết đến qua các hình ảnh trong phim Hông Kông với

    các đội mặc quần áo quân đội và bắn nhau,súng sẽ bắn ra màu và người chơi nào trúng màu coi như bị loại ra khỏi trận địa.

    Xem phim và tưởng tượng mãi cho đến 1 ngày tôi có dịp được tham gia chơi paintball thực thụ với 1 đoàn khách từ các nơi như Việt Nam,Laos,Thailand,Campodia... cùng một tập đoàn tụ hội về trong chương trình huấn luyện định kì của công ty về kỷ năng làm việc theo nhóm,tinh thần đồng đội (Teambuilding Workshop) tại Pattaya.
    Cũng gần giống với sự tưởng tượng của tôi về Painball, sân để tổ chức trò chơi được thiết kế riêng biệt với những công sự, lô–cốt, chướng ngại để cho các đội thực hiện phương án phòng thủ và tấn công đối phương.
    Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ ngọn cờ màu đỏ và bằng mọi cách tấn công đội kia để dành được ngọn cờ vàng của họ. Chúng tôi cần thảo luận vầ chiến lược để hoàn thành nhiệm vụ này và phân công các thành viên trong cùng team thực hiện.
    Mỗi thành viên được trang bị”tận răng”: nào là áo giáp liền quần giống như áo của phi công ,mắt nạ che kín tử cổ trở lên với lưới sắt và kính,mỗi dội có khăn quàng cổ theo màu cờ để phân biệt và bảo vệ vùng cổ và không thể thiếu súng hơi với những viên bi đạn
    Người phụ trách trò chơi thông báo về luật chơi ,các điều kiện nhằm đảm bảo an toàn cho người chơi,khoản cách an toàn để đảm bảo không làm đau bạn cùng chơi,và cảnh báo hết sức cẩn thận với paintball vì ở cự ly gần đạn có thể để vết bầm cho người trúng đạn.
    “Các bạn có 50 viên đạn và chỉ bị bắn trúng 3 lần là out”

    Trò chơi của chiến thuật và tinh thần đồng đội:
    Bắt đầu vào trận,chúng tôi quyết định áp dụng chiến thuật tấn công nhanh,2 toán quân sẽ bọc sâu 2 bên sườn đối phương,một toán bảo vệ ngọn cờ.Còn bên kia áp dụng chiến thuật phòng thủ,trấn giữ những lô cốt quan trongvà chờ cơ hội phản công…Họ chờ cho đối phương hết đạn hay bị thay ra ngoài để phản công.Dù ai cũng biết chỉ là trò chơi,nhưng khi vào trận thật ai cũng hồi hộp và khẩn trương ,cả 2 bên đều dàn trận ra.Tôi cùng toán với 1 đồng nghiệp từ Campuchia và được giao nhiệm vụ bảo vệ lô cốt giữa,có điều kiện thì dâng cao và quan trọng nhất là bắn mở đường cho 2 toán 2 cánh thọc sâu vào trận tuyến bên kia,tạo cơ hội đến với ngọc cờ vàng.
    Còi hiệu bắt đầu ,cả 2 bên đều tuân thủ đúng chiến thuật đã định..Tạch tạch..tạch.. súng nổ vang trời..các toán quân bắt đầu giằng co nhau từng lô cốt
    “Á…” có người trúng đạn “Go back”…trọng tài yêu cầu chiến sĩ bị thương phải lui về đại bản doanh của mình.Vẫn chưa thể hạ được tuyến phòng vệ đầu tiên của đối phương..toán bên phải của đội vàng bắt đầu trườn trên bãi cỏ để áp sát lô cốt tuyến phòng vệ đầu tiên,tôi và Mark thay phiên nhau bắn để bảo vệ đồng đội trườn đến đối phương còn 3m…2m.. tạch..bị trúng đạn “Go back” Vậy là chiếm được trận tuyến đầu tiên,từ đây nhanh chóng chúng tôi kiểm soát được trận địa..

    Bên kia bắt đầu thay đổi chiến thuật,họ tập trung hỏa lực về phía cánh trái,nơi mà chúng tôi vừa chiếm được với quyết tâm đẩy bậc chúng tôi ra khỏi lô cốt ấy,bên tôi bị bắn trúng khá nhiều,có 2 người phải ra khỏi trận ,cả trận bắt đầu thay đổi,mất người buộc chúng tôi dồn sức bảo vệ cho cánh trái..nơi mà chúng tôi tấn gần nhất đến với ngọn cờ của đối phương.
    Bên cánh phải tiến lên đi,đội trưởng ra hiệu..1 đồng đội của tôi bắt đầu men lên,tất cả 2 đội đều quan tâm đến lô cốt bên trái,tạo ra khoản trống gần như không người,chạy.. anh ta chạy thật nhanh qua được 2 hàng rào bảo vệ của đối phương ..còn 1 vòng vây nữa là đến được lá cờ vàng…đối phương phát hiện ra rồi..bảo vệ anh ấy…tất cả chuyển hướng để bảo về người vừa chạy lên trên..tạch..Go back.. lại chưa được.. cả 2 bên giằng co quyết liệt.
    Bên tôi có 4 người hết đạn phải ra ngoài..lui về phòng thủ nhanh. Đối phương bắt đầu phản công họ đã chiếm được lô cốt ban đầu,đang áp sát vào ngọn cờ đỏ…lại có them người hết đạn…cố thủ thôi.Tất cả cục diện đã thay đổi hoàn toàn,đội vàng gần như sống dậy,họ tấn công cả 2 cánh,lui dần…và lại them 1 người bên tôi bị loại…Thua rồi..họ đã chiếm được cờ và đang chạy về đích.Trọng tài ra hiệu kết thúc trận đấu.
    Cả người nhức và mệt lử,tôi bị trúng đạn bên mạn sườn,gần như tất cả 2 đội đều trúng đạn,bắt đầu rút kinh nghiệm,sự tuân thủ đúng chiến thuật và thông tin trong đội khi diển ra trận đánh được thực hiện như thế nào…các thay đổi trong quá trình đánh được truyền đi ra làm sao…Và những bài học về sự hổ trợ nhau đều lần lược được đúc kết lại sau trận đánh.
    “Khi bạn tấn công, sau lưng bạn luôn cần có đồng đội hổ trợ bạn – có như vậy bạn mới có cơ hội đến gần với ngọn cờ và chiếm được nó,trong công việc cũng vậy”
    Bài học đúc kết được cho tất cả mọi người sau trò chơi cứ quanh quẫn trong tâm trí mỗi người..Rời khu trò chơi,trong ánh mắt ai cũng sáng lên vì niềm tin vào đồng đội và sức mạnh của tập thể,ánh dương chiều bắt đầu le lói trên bầu trời Pattaya…Hẹn gặp lại Pattaya với những thử thách mới.




    (Game dạng như đưa nước về nguồn vậy)
    Mỗi thành viên của đội có một đoạn TRE đã chẻ đôi ra khoảng 50cm. Với các khúc tre đó mỗi đội phải làm sao để đưa nước từ điểm lấy nước là Bãi Biển vào thùng chứa nước của đội mình (cách mép biển khoảng 10-15m). Đội nào đưa nước vào thùng nhiều nhất sau thời gian quy định của BTC đội đó sẽ giành chiến tháng (số điểm do BTC quyết định).
    Hình minh họa dưới chỉ mang tính tương tự thôi.


    ĐỐ VUI

    1. Một chú mèo đang ở dưới đáy một cái giếng sâu 20 mét. Mỗi ngày, mèo ta leo lên được 5 mét. Và mỗi đêm, chú ta trượt xuống 4 mét.
    Mèo ta sẽ phải mất bao nhiêu ngày để leo lên được miệng giếng?
    16 ngày.


    2. Nghĩ nhanh: Có một tàu điện đi về hướng nam. Gió hướng tây bắc. Vậy khói từ con tàu sẽ theo hướng nào?
    Tàu điện không có khói


    3. Làm thế nào để không đụng phải ngón tay khi bạn đập búa vào một cái móng tay?
    Cắt móng tay xong rùi lấy búa đập.


    4. Nếu bạn nhìn thấy con chim đang đậu trên nhánh cây, làm sao để lấy nhánh cây mà không làm động con chim?
    Chịu khó đợi nó bay đi rùi lấy nhánh cây.


    5. Cái gì luôn ở phía trước bạn, mà bạn không bao giờ nhìn thấy?
    Tương lai của bạn.


    6. Nắng lửa mưa dầu tôi đâu bỏ bạn
    Tối lửa tắt đèn sao bạn bỏ tôi.
    Cái nón


    7. Trên vì nước, dưới vì nhà,
    Lòng này ai tỏ cho ta hỡi trời.
    Cái máng xối


    8. Có ba quả táo trên bàn và bạn lấy đi hai quả. Hỏi bạn còn bao nhiêu quả táo?
    2 quả mà bạn cầm đó.


    9. Bố mẹ có sáu người con trai, mỗi người con trai có một em gái. Hỏi gia đình đó có bao nhiêu anh em?
    7 anh em.


    10. Con số lớn nhất có duy nhất hai chữ số?
    9 mũ 9.
    11. Có hai bình rộng miệng đựng đầy nước. Làm sao để cho tất cả nước vào trong một cái chậu mà vẫn biết nước nào của bình nào(không được cho cả bình hay bất kỳ dụng cụ đựng nước nào vào chậu) ?
    Bỏ 2 bình vào tủ lạnh cho đông lại sau đó đổ ra thau.


    12. Một kẻ giết người bị kết án tử hình. Hắn ta phải chọn một trong ba căn phòng: phòng thứ nhất lửa cháy dữ dội, phòng thứ hai đầy những kẻ ám sát đang giương súng, và phòng thứ ba đầy sư tử nhịn đói trong ba năm. Phòng nào an toàn nhất cho hắn?
    Phòng có sư tử. ( Vì nhịn đó lâu quá nên chít hết rùi).


    13. Cái gì đen khi bạn mua nó, đỏ khi dùng nó và xám xịt khi vứt nó đi?
    Than.


    14. Bạn có thể kể ra ba ngày liên tiếp mà không có tên là thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật?
    Hôm qua, hôm nay, ngày mai.


    15. Tại sao sư tử ăn thịt sống?
    Vì nó không biết nấu ăn.
    16. Bạn làm việc gì đầu tiên mỗi buổi sáng?
    Mở mắt ra.


    17. 2 người một lớn, một bé đi lên đỉnh một quả núi. Người bé là con của người lớn, nhưng người lớn lại không phải cha của người bé, hỏi người lớn là ai?
    Mẹ


    18. Bạn có "chiêu" nào để có thể thức trắng 7 ngày mà vẫn không thiếu ngủ?
    Thì ngủ vào bảy đêm đó.


    19. Tôi có 4 cái chân, 1 cái lưng, nhưng không có cơ thể. Tôi là ai?
    Cái ghế.


    20. Có hai người chơi bi-da trong một cửa hàng. Họ chơi 5 ván và mỗi người thắng 3. Sao lại thế?
    Tại họ chơi chung 1 cửa hàng chớ đâu co chơi với nhau.
    21. Đố bạn chuột nào đi bằng 2 chân?
    Chuột Mickey.


    22. Đố bạn vịt nào đi bằng 2 chân?
    Vịt nào cũng đi bằng 2 chân.
    23. Sở thú bị cháy ,đố bạn con gì chạy ra đầu tiên?
    Con người.


    24. Một con hổ bị xích vào gốc cây, sợi xích dài 30m. Có 1 bụi cỏ cách gốc cây 31m, đố bạn làm sao con hổ ăn được bụi cỏ?
    Hổ đâu có ăn cỏ.


    25. Trong một năm tháng nào có 28 ngày.
    Tháng nào cũng có 28 ngày.


    26. Nhà Nam có 4 anh chị em, 3 người lớn tên là Xuân, Hạ, Thu. Đố bạn người em út tên gì?
    Tên Nam.


    27. Đố bạn khi Beckham thực hiện quả đá phạt đền, anh ta sẽ sút vào đâu?
    Vào quả bóng.


    28. Cái gì tay trái cầm được còn tay phải có muốn cầm cũng không được?
    Cùi chỏ tay phải.


    29. Cái gì người mua biết, người bán biết, người xài không bao giờ biết?
    Cái quan tài.


    30. Tại sao khi bắn súng người ta lại nhắm một mắt?
    Vì nhắm 2 mắt không thấy đường để bắn.


    31. Bạn đang ở trong một cuộc đua và bạn vừa vượt qua người thứ nhì . Vậy bây giờ bạn đang ở vị trí nào trong đoàn đua ấy?
    Thứ nhì.


    32. Cũng trong một cuộc đua, bạn vừa chạy qua người cuối cùng. Vậy bạn đang ở vị trí nào?
    Bạn ở ngoài cuộc đua.


    33. Con mèo nào cực kỳ sợ chuột?
    Đô rê mon.


    34. Có con chuột lại cực kỳ sợ mèo. Con chuột nào vậy?
    Chuột nào cũng sợ mèo


    35. Người đàn ông duy nhất trên thế giới có…sữa là ai?
    Ông Thọ.


    36. Cái gì có kích thước bằng con voi nhưng chẳng nặng gram nào cả?
    Cái bóng của con voi.


    37. Con mèo có gì mà không bất kỳ con vật nào có?
    Con mèo con.


    38. Tôi có cả một hàm răng nhưng không có cái miệng nào cả? Tôi là ai?
    Cái lược.


    39. Các loài hoa.
    1. Hoa gì hẹn đến ngày sau( mai)
    2. Hoa gì lại mọc trên đầu hùng kê( mào gà)
    3. Hoa gì nghe tiếng mà ghê( súng)
    4. Hoa gì sắc trắng cận kề ơn trên( huệ)
    5. Hoa gì thơm ngát về đêm(Quỳnh)
    6. Hoa gì sống cạnh bùn phèn không dơ(sen)
    7. Hoa gì nhiều tuổiđể thờ (vạn thọ)
    8. Hoa gì báo hiệu đến giờ thu sang(Cúc)
    9. Hoa gì sớm nở tối tànPhù dung
    10. Hoa gì được sánh vào hàng tôn vươngMẫu đơn
    11. Hoa gì e thẹnbên đường Mắc cỡ
    12. Hoa gì đến thì thường tốt tươi Phượng
    13. Hoa gì theo ánh mặt trờiHướng dương
    14. Hoa gì xinh đẹp đồng thời lắm gaiHồng
    15. Hoa gì ngàn dặmđường dài thiên lý
    16. Hoa gì thơm ngát sánh tàimôi em. Hàm tiếu

    CÁC BÀI HÁT SINH HOẠT
    1. NỐI VÒNG TAY LỚN

    Rừng núi dang tay nối lại biển xa, ta đi vòng tay lớn mãi để nối san hà, mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bão tố quay cuồng trời rộng, vòng tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam.

    ĐK:       Cờ nối gío đêm vui nối ngày, dòng máu nối con tim đồng loại, mừng tình người trong ngày mới. Thành phố nối thôn xa vời vợi, người chết nối linh thiêng vào đời và nụ cười nở trên môi.

                Từ Bắc vô Nam nối lại nắm tay, ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi, vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn nắm tay nối liền, biền xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.

    ĐK:       Cờ nối gío đêm vui nối ngày, dòng máu nối con tim đồng loại, mừng tình người trong ngày mới. Thành phố nối thôn xa vời vợi, người chết nối linh thiêng vào đời và nụ cười nở trên môi.

    2. ANH EM TA VỀ

                Anh em ta về cùng nhau ta sinh hoạt này 1-2-3-4-5. Anh em ta về cùng nhau ta quây quần này 5-4-3-2-1. Một cầm tay chắc nhé, hai quay nhìn nhau đi, ba cầm tay chắc nhé không muốn ai chia lìa., bốn nhớ rằng chúng ta bốn biển một nhà, 5 giữ mãi tình này trong câu ca.

    3. ĐỒNG DAO 2000

                Đường thế giới rất bao la, đường hòa bình đã đến rồi, năm 2000 ta đi tới đuờng tương lai quanh ta rộng lối. Dù bảo tố với mưa giông, đường gập ghềnh không xoá nhoà , bao tâm  hồn xanh như lá cùng hân hoan với quê nhà.

    4. NHẢY LỬA

                Lửa cháy cháy lên ươm nồng biết bao hy vọng, lửa cháy lên ôi bập bùng ánh lửa hồng reo. Lửa bập bùng tí tách tí tách, lửa hừng hực cháy sáng cháy sáng, lửa vui cùng ta.    Lửa cháy cháy lên vỗ tay  vỗ tay cho đều, cùng hát hát lên ôi  rộn ràng khúc ca tuổi xanh Lửa bập bùng tí tách tí tách, lửa hừng hực cháy sáng cháy sáng, lửa vui cùng ta

    5. TIẾNG CHÀY TRÊN SÓC BOM BO

                Lửa bập bùng, tiếng chày khua cắc cum cum cụp cum. Cum cụp cum, cum cụp cum, cắc cum cum cụp cum. Đuốc lồ ô bập bùng lên ánh lửa, sóc bom bo rộn rã tiếng chày khua. Bồng con ra võng để đong đưa, giã gạo ban đêm vì ngày bận làm mùa. Cách mạng cần nhiều gạo để đánh Mỹ. Sóc bom bo sẵn có cối chày đây. Người bombo sẵn có đôi bàn tay. Với tình yêu nước và thù giạc ngày ngày.

                Ê ! … còn nhớ ngày xưa. Người dân bombo cái bụng không no khố chăn chẳng lành

                Ê ! … được sống tự do. cơm áo lành no dân làng bom bo nhớ ơn giải phóng.

                Nhớ người chiếnsĩ ngày đêm không nghỉ. Tìm diệt giặc Mỹ giải phóng cho dân mình

                Nay dẫu còn gian khổ mồ hôi ta đổ làm nương phá rẫy giữ lấy quê hương. Người hậu phương tiếp lương gùi đạn. Ta bên bạn là bạn bên mình, cùng đồng tình là giặc thua ta. Tiếng nói ríu ra lời ca trong vắt nhìn trong đôi mắt. Đều thấy mỗi người một nụ cười tin chắc tương lai. Tiếng cười vui đẩy lùi đêm vắng vẻ. Có ai đi về phí a những hàng cây hàng cây, mời vô đây cùng nghe khúc nhạc hay. Khúc nhạc đêm nay là nhịp đệm bằng chày.

    6. CHIA TAY

    a)     Chia tay: Gặp nhau đây rồi chia tay, ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây, niềm hăng say còn  chưa phai, đường trường sông núi hẹn mai ta sum vầy.

    b)    Chia tay: Lúc thú vui này lòng còn quyến luyến anh em chúng mình, lúc thú vui này lòng mình những muốn anh em thấu tình, rời tay nhau nhớ lâu nhé, tình anh em chớ quên nhé. Tình anh em nhớ nhau tuy xa mà hoá ra gần.

    7. ĐỒNG ĐỘI

    Chúng tôi ngồi kề vai bên nhau trăng treo trên đầu súng, ánh lửa hồng bừng soi đêm thâu, làn khói che sương mờ. Bạn tôi đang mơ, mơ làng quê yêu dấu có con kênh đào lú xanh hai mùa mát cánh đồng. Còn tôi đang mơ, mơ người tôi yêu dấu, cách xa muôn trùng mà lòng không xa.

    Chúng tôi nằm đầu gối trên tay nghe chim kêu ngoài bãi. Mắt đưa nhìn trời sao lung linh chuyện mãi qua đêm dài. Bạn tôi cho hay sau ngày xong chiến đấu sẽ đi nông trường sớm hôm trên đồng lái máy cày. Còn tôi mong sao, bao ngày tôi đang sống sẽ không bao giờ mờ nhạt mai sau.

    Giữa khu rừng ngàn năm âm u nơi biên cương chùa tháp. Chúng tôi thường đổi trao suy tư, cùng thắp ngọn lửa hồng. Cùng chia cho nhau bao hiểm nguy gian khó giữa cơn mưa rừng, nhũng khi lưng tựa vách chiến hào. Nhiều khi vui sao đang hành quân chiến đấu lá thư quê nhà chuyền tay cho nhau.

    8. NĂM ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC XE TĂNG

    Năm anh em trên một chiếc xe tăng như năm bông hoa nở cùng một cội như năm ngón tay chung một bàn tay đã xung trận cả năm người như một. Vào lính xe tăng anh trươc anh sau , cái nết ở ăn mỗi người một tínhy. Nhưng khi hát ta hoà cùng một nhịp. Một người đau ta tất cả quên ăn . Năm anh em mỗi đưa một quê đã lên xe ấy là cùng một hướng. Nổ máy lên ta một da xung phong trước quân thù lòng chỉ biết có tiến cônng.

    Năm anh em ta có năm cái tên ấy khi lên xe không còn tên riêng nữa, trên xác pháo một ngôi sao màu lửa. Năm quả tim chung nhịp đập rộn ràng. Một con đường đất đỏ như son, một rừng xanh bạt ngàn hy vọng, một ý chí bay qua đầu ngọn súng. Một niềm tin quyết thắng trong trận này.

    9. NGỒI LẠI BÊN NHAU

    Ngồi lại bên nhau này bạn thân ơi, ngồi lại bên nhau cùbng hát ca. bạn bè thân yêu cách xa lâu rồi, giờ ngồi bên nhau hát ca vui đùa truyền lại cho nhau hơi ấm bạn bè.

    Ngồi lại bên nhau kể chuyên nhau nghe, chuyện buồn chuyện vui chuyện chúng ta, về ngày xa xưa ở bên ngôi trường, về ngày hôm nay với bao ước vọng, cầm chặt  tay nhau ta bước vững vàng.

    ĐK: Nhớ những lúc gắn bó bên nhau hôm nay hôm nào, nhớ ánh mắt trao nhau nụ cười, nhớ tiếng nói tiếng hát thiết tha trong đời và nhớ những ngấn nước mắt của ngày chia tay ta xa nhau. Hãy thắp sáng trong tim ban bè, những ước muốn với bao hy vọng, những sóng gió bão tố có nhau trong đời. Và hãy gắn sống xứng đáng cho nhau.

    10. MÙA HÈ XANH

    Tựa đàn chim tung bay trên nhũng nhịp cầu tre, mùa hè xanh xôn xao nâng bước chân ta về. Đường làng quê tiếng ve như gọi mời say mê. Ngoài bờ đê tiếng ve như gọi mời say mê, ngoài bờ đê có con trâu già nằm ngủ mê.

    Mùa hè xanh long lanh trong mắt đàn trẻ thơ, trường làng vui cho em trang sách mới i tờ. Từ đồng sâu có hay những giọt mồ hôi rơi. Để màu xanh vút lên trên ruộng đồng ngát hương.

    Mùa hè xanh, mùa hè xanh. Bao yêu thương ơi mùa hè xanh vấn vương. Đi muông phương lưu luyến tình quê hương. Trong tim ta ơi mùa hè xanh thiết tha, vang câu ca trên những chặng đường xa.

    11. TANG TÌNH:

                Tang tang tang tình tang tính, ta ca ta hát vang lên, hát lên cho đời vui sướng, hát lên cho quên nhọc nhằn. Cùng nhau ta ca hát cho át tiếng chim trong rừng, cho tiếng suối reo phải ngừng cho rừng xanh đón chờ ta.

    12. CÙNG CƯỜI LÊN

                Cười lên đi cho hàm răng rớt xuống, vui ca lên cho lưỡi thêm dài ra, ta vỗ tay cho bàn tay gãy đôi, ta hát ca cho toàn thân rã rời.

                Cùng cười lên ha…ha..ha. cùng cười lên cho rớt cái răng, răng rớt xuống vai vai rớt xuống rún, rún rớt xuống chân, chân đá lên tay, tay gắn răng vào.

                Cười lên đi cho răng vàng sáng chói, ta ca vang cho lưỡi thêm dài thêm, ta vỗ tay cho bàn tay gãy đôi, ta múa ca cho toàn thân rã rời.

    13. HÁT TO HÁT NHỎ

                Ta hát to hát nhỏ nhỏ nhỏ rồi mình ngồi kể chuyện nhau nghe. Ô ố ô- ô ố ồ, ta vui ca hát hát cho vui đời ta.

    14. HỌP ĐOÀN

                Nào về đây ta họp đoàn cùng nhau cuộc đời gian khó có lúc nào thảnh thơi

    15. RA MÀ XEM

                Ra mà xem, congì nó ngồi trong hang, nó đưa cái lưng ra ngoài ấy là con có, con cóc nó ngồi trong góc, nó đưa cái lưng ra ngoài ấy là cóc con. Ra mà xem con gì nó ngồi trong xó nó đưa cái tai ra ngoài ấy là con cho, con chó nó ngồi trong xó, nó đưa cái lưng ra ngoài ấy là chó con. Ra mà xem, con gì nó ngồi nó nghỉ, nó đưa cái lưng ra ngoài ấy là khỉ con.

    16. HÒ YÊU NƯỚC

                Đèo cao “dô ta” thì mặc đèo cao “dô ta”. Nhưng lòng yêu nước  “dô ta” còn cao hơn đèo, dô hò, dô hò là hò dô ta. Anh em “dô ta”. Hăng hái hò reo “dô ta” vượt sông vượt núi “dô ta” vượt bao nhiêu đèo “dô ta” dô ta là hò dô ta dô ta.

    DANH SÁCH KHÁCH SẠN PHAN THIẾT (Đã xếp hạng)

    STT

    Tên DN

    Địa chỉ

    ĐT

    Fax

    Số Phòng

     

    Khu vực Phan Thiết

           

    1

    KS Công Nhi

    76 Tuyên Quang

    3829333

    3827799

    20

    2

    DNTN Hoàng Hà - Ngọc Anh

    278A Thủ Khoa Huân, PT

    3827070

    3833023

    19

     

    KS Hoàng Hà

           

    3

    DNTN Sinh Tài

    03 Phan Huy Chú

    3814454

    3815488

    14

     

    KS Sinh Tài

           

    4

    Cty TMDV-ĐT Romana

    Phú Hải

    3741320

    Anh Thi: 0918.312.842

    3741281

    97

     

    Khu vực Hàm Tiến - Mũi Né

           

    5

    DNTN DV DL Đất Mũi

    10 Nguyễn Đình Chiểu

    3847693-3847094

    3847692

    29

    6

    Cty TNHH TM DL EDEN
    ( Sea Lion Beach Resort & Spa )

    12 Nguyễn Đình Chiểu

    3743391

    3743394

    145

    7

    KDL Hawaii

    40 Nguyễn Đình Chiểu

    3847732

     

    9

    8

    KDL Thái Hoà

    56 Huỳnh Thúc Kháng

    3847320

    3847879

    18

    9

    DNTN Suối Tiên-Mũi Né

    60 Nguyễn Đình Chiểu

    3741013

    3741013

    18

    10

    DNTN DL Ngọc Thành

    96 Nguyễn Đình Chiểu

    3847387

     

    8

    11

    Cty TNHH Trung Sơn
    KDL Mũi Né Thế Kỷ 21

    Nguyễn Đình Chiểu
    (Đang ngừng để XD)

    3847.461

    3847232

    77

    12

    Khách Sạn Hướng Dương

    241 Nguyễn Đình Chiểu

    3847450-3847979

    3847450

    12

    13

    DNTN Kim Ngân

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847046

     

    11

    14

    Cty TNHH Eco
    KDL Sailing Club

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847440

    3847441

    37

    15

    Hải Gia

    72A Huỳnh Thúc Kháng

    3847555

     

    30

    16

    DNTN DL Rạng Đông

    Nguyễn Đình Chiểu

    3848645

     

    26

    17

    Cty TNHH Thuỳ Dung
    KDL Minh Tâm

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847832

    3847832

    15

    18

    Nhà Nghỉ Xuân Uyên

    78 Nguyễn Đình Chiểu

    3847476

     

    8

    19

    Nhà Nghỉ Hồng Di

    70 Nguyễn Đình Chiểu

    3847014

     

    14

    20

    DNTN Thiên Thảo
    KDL Thiên Hà - Thiên Thảo

    Mũi Né

    3849099

    3848002

    26

    21

    DNTN Suối Hồng

    Mũi Né

    3849173

     

    13

    22

    Lữ quán TN Song Hiền

    Mũi Né

    3836012

     

    15

    23

    Khu nghỉ mát Thuỳ Dương

    Hòn Rơm

    3849176

    3849667

    24

    24

    Cty TNHH TMDL Thiên ý

    Hòn Rơm

    3849693

     

    57

    25

    Bãi nghỉ mát Biển Cát

    Hòn Rơm

    3849321

     

    10

    26

    DNTN DL Sóng Biển Xanh

    Hòn Rơm

    3849313

     

    27

    27

    KDL Thanh Thanh

    Hòn Rơm

    3849389

     

    11

    28

    DNTN Kim Hồng Thủy

    Suối Nước

    3836003

     

    30

    29

    Cty TNHH DL Đông Hải

    Suối Nước

    3836014

     

    26

    30

    DNTN Hai Hoa

    Hòn Rơm

    3849319

     

    12

    31

    Điểm nghỉ mát Dương Biển

    Hòn Rơm

    3849090

    3848002

    8

    32

    Cty TNHH DL Tiến Đạt

    Nguyễn Đình Chiểu

    3743127

    3847988

    50

    33

    DNTN DV DL Trường Hải

    Long Sơn, Suối Nước

    3836026

    387602758

    11

    34

    DNTN SXTMDL Nghệ Vinh - TPHCM
    Bãi biển du lịch Sông Lam

    Hòn Rơm

    3836036

    3836036

    38

    35

    DNTN Ngọc Thảo

    Long Sơn, Suối Nước

    3836045

    3836045

    20

    36

    Sunny Beach

    64-66 Nguyễn Đình Chiểu

    3741.366

    3741.029

    52

    37

    Califonina Mũi Né

    98B Nguyễn Đình Chiểu

    3743.207

    3743.209

    25

    38

    Thanh Thi

    Long Sơn, Suối Nước

    2240.441

       

    39

    Hòn Rơm Đông

    Long Sơn, Suối Nước

    3836.028

     

    25

    40

    Hải Đăng

    Long Sơn, Suối Nước

    3836.016

     

    38

     

    Khu vực Tiến Thành - HTNam

           

    41

    KDL Thiên Thành

    Tiến Thành

    3846115

     

    8

    42

    DNTN Vĩnh Lộc

    Tiến Thành

    3846266

     

    16

    43

    KDL Sao Mai

    Tiến Thành

    3846346

    846344

    53

    44

    DNTN Bình Yên

    Thuận Quý

    6683018

     

    15

    45

    KDL Honey Moon

    Hàm Thuận Nam

     

    683071

     

    46

    KDL Đá Nhảy

    Hàm Thuận Nam

    6682026

     

    8

    47

    KDL Bàu Mai

    Hàm Thuận Nam

    6683034

     

    50

    48

    Cty TNHH TMDL Hiếu Hà
    KDL Xóm Chài

    Tiến Thành

    3846444

    A.Trạng GĐ: 0908175627

    846488

    31

     

    Khu vực Lagi - Hàm Tân

           

    49

    DNTN Ngọc Anh

    Bình Tân - Lagi

    3566999

     

    28

    50

    Cty TNHH Suối Dưá

    Tân Phước - Lagi

    3872345

     

    12

    51

    Cty TNHH Hàm Tân TKỷ 21
    KDL Mỏm Đá Chim

    Lagi

    3874458

    874463

    97

    52

    KDL Phạm Hoàng

    Tân Thắng - Hàm Tân

    Chưa HĐ

     

    8

    53

    Khu nhà nghỉ Bình Thắng

    Tân Đức - Hàm Tân

    3556222

    556223

    10

     

    Khu vực Tuy Phong

           

    54

    Cty TNHH Lặn Biển Vnam
    KDL Scuba

    Tuy Phong

    3853919

    853918

    15

             

    1476

     

    Cty TNHH Suối Cát

    Tiến Lợi - Phan Thiết

    3721.009-3729.038

       
     

    KDL TàCú

    HTN

    3867.484
    3869.337 (kế toán)
    Tâm-Dũng

    869.112

     
     

    Cty Golf&CLB Golf

    01 Tôn Đức Thắng

         
     

    Cty Du lịch Bình Thuận

    15 Nguyễn Du

         

    DANH SÁCH KHÁCH SẠN BÌNH THUẬN (chưa xếp hạng)

    STT

    Tên DN

    Địa chỉ

    ĐT

    Fax

    Số Phòng

    Tối thiểu

         

    341

     

    Khu vực Phan Thiết

           

    1

    Khách sạn Bảo Duy

    38 Trần Hưng Đạo

    3825,658

    3822,084

    14

    2

    Khách sạn Hoàng Anh

    5A Trần Hưng Đạo

    3823,179

     

    15

    3

    Khách sạn Hiếu Nam

    110 Trần Hưng Đạo

    3828,257

    3828,257

    15

    4

    Khách sạn Tây Hồ

    225-227 Trần Hưng Đạo

    3821,710

    3822,635

    24

    5

    Nhà nghỉ Kim Sơn

    02-04 Nguyễn Tri Phương

    3820,828

    3818,789

    14

    6

    Khách sạn Minh Yến

    74 Nguyễn Huệ

    3825,687

     

    13

    7

    KS Phú Gia

    Tôn Đức Thắng

    3825322

     

    18

     

    Khu vực Hàm Tiến

           

    8

    DNTN Vườn Nhỏ

    48 Nguyễn Đình Chiểu

    3847012

    3847377

    24

    9

    DNTN Ngọc Bích

    52 Nguyễn Đình Chiểu

    3847032

     

    20

    10

    DNTN Biển Đá

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847282

    3816219

    18

    11

    DNTN DL Giấc Mơ

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847612

     

    6

    12

    DNTN DL Hiệp Hoà

    80 Nguyễn Đình Chiểu

    3847046

     

    7

    13

    HTX DV Du Lịch Mũi Né

    Mũi Né

    3848502

    3849230

    61

    14

    DNTN Tia Nắng

    82 Nguyễn Đình Chiểu

    3847788

    847790

    18

     

    Khu vực Mũi né

           

    15

    DNTN Thiên Trang

    Long Sơn

    3836033

    3849188

    40

    16

    Cty TNHH DL Thùy Trang

    Hòn Rơm

    3849196

    3848002

    25

    17

    Nhà nghỉ Sơn Dung

    87B Huỳnh Thúc Kháng

    3743133

     

    9

    17

    Cộng

           
     

    Một sao

         

    460

     

    Khu vực Phan Thiết

           

    1

    Khách sạn Trung Dũng

    46 Trần Hưng Đạo

    3831349

    3831350

    32

    2

    Khách sạn Khánh Hùng

    177 Trần Hưng Đạo

    3832043

    3831953

    28

    3

    Khách sạn Phan Thiết

    276 Trần Hưng Đạo

    3818266

    3821695

    23

    4

    Khách sạn Hải Vân

    102B Thủ Khoa Huân

    3823783

    3832028

    14

     

    Khu vực Hàm Tiến

           

    5

    DNTN DL Biển Trời MNé
    KDL Sunsea

    50 Nguyễn Đình Chiểu

    3847700

    3847701

    12

    6

    DNTN DL Lan Nở
    SeaBreeze

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847373

    3847430

    16

    7

    Nhà hàng Bóng mát (Shades)
    Chi nhánh Cty TNHH Bàn Tính

    98A Nguyễn Đình Chiểu

    3743.236

    3743.235

    9

    8

    Cty TNHH DL Mai Khanh
    KDL Mai Khanh - Gia Trang

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847177

    3847002

    13

    9

    DNTN Nhân Hoà

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847371

    3847398

    30

    10

    Cty TNHH Hoàng Yến
    KDL Canary

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847258

    3847338

    30

    11

    Cty CP KS Ngọc Sương

    94 Nguyễn Đình Chiểu

    3847515

    3847580

    14

    12

    DNTN Thúy Thuý

    Nguyễn Đình Chiểu

    3847537

     

    10

    13

    DNTN Nhà nghỉ Bảo Quỳnh

    Nguyễn Đình Chiểu

    3741007

    3847376

    18

    14

    Cty TNHH DVDL Biệt Thự Chàm

    Nguyễn Đình Chiểu

    3741234

    3741147

    14

     

    Khu vực Mũi Né

           

    15

    Cty TNHH DL Biển Nam
    KDL Biển Nam

    Hòn Rơm

    3849337

    3849729

    40

    16

    Cty TNHH Long Sơn
    KDL Hòn Rơm 1

    Hòn Rơm

    3848539

    3849026

    26

    17

    KDL Hòn Rơm 2- Cty DL BT

    Hòn Rơm

    3849170

    3849178

    38

    18

    DNTN DV DL Biển Đông

    Long Sơn, Mũi né

    3836042

    3836043

    48

     

    Khu vực Tiến Thành

           

    19

    Cty TNHH Hoàng Khang
    KDL Hòn Giồ

    Tiến Thành

    3846135

    3846134

    30

    20

    Cty TNHH TM-DV Huỳnh Tấn
    Khách sạn, Nhà hàng Huỳnh Tấn

    Tân Nghĩa, Hàm Tân

    3877.111

    3877.222

    15

     

    Hai sao

         

    1006

     

    Khu vực Phan Thiết

           

    1

    Khách sạn Lâm Kiều

    105 - 107 Trần Hưng Đạo

    3831107

    3830252

    35

    2

    Khách sạn Phương Hưng

    166 Trần Hưng Đạo

    3825091

    3825300

    45

    3

    Khách sạn Bình Minh

    Lê Lợi

    3823344

    3823354

    91

    4

    Khách sạn Nhật Linh

    337 Lê Lợi

    3831141

    3823473

    38

    5

    Khách sạn Cà Ty

    40 Phan Bội Châu

    3818801

    3816619

    41

    6

    Khách sạn 19/4

    Từ Văn Tư

    3825687

    3829640

    80

    7

    DNTN TM-DV Phương Thảo
    KS Phương Thảo

    392 Trần Hưng Đạo

    3720073

    3720076

    20