trang Blog

HonTham gia: 21/12/2010
  • XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ - CON
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ - CON

    XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ - CON

    *******

       

    1.     Dữ kiện vật chất về quan hệ cha mẹ - con

    2.     Dữ kiện pháp lý về quan hệ cha mẹ - con

    MỤC I: QUAN HỆ CHA MẸ - CON RUỘT

          I.           Xác định quan hệ cha mẹ - con ruột như là quan hệ tự nhiên

                                 1.           Yếu tố sinh học

                                 2.           Yếu tố xã hội học

       II.           Xác định quan hệ cha mẹ - con ruột như là quan hệ pháp lý

    A.   Xác định quan hệ cha mẹ - con ngoài thủ tục tư pháp

                                                         1.           Bằng chứng chung

                                                         2.           Không có giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh có nội dung không đầy đủ

                                                         3.           Con sinh ra từ hôn nhân

                                                         4.           Con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng

    B.    Xác định quan hệ cha mẹ - con ruột bằng con đường tư pháp

                                                         1.           Các loại kiện cáo

                                                         2.           Thụ lý

                                                         3.           Chứng cứ

                                                         4.           Hiệu lực của việc xác định quan hệ

    MỤC II: QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI - CON NUÔI

          I.           Xác lập quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi

                               A.           Điều kiện xác lập

                                                         1.           Điều kiện liên quan đến người nuôi

                                                         2.           Điều kiện liên quan đến người được nuôi

                                                         3.           Điều kiện liên quan đến quan hệ giữa người nuôi và người được nuôi

                                B.           Thủ tục

                                C.           Hiệu lực

                                                         1.           Quan hệ với gia đình của người nuôi.

                                                         2.           Nhận con ruột, nhận cha mẹ ruột

       II.           Chấm dứt việc nuôi con nuôi

    1.     Điều kiện và thủ tục

    2.     Hiệu lực


                Mỗi người luôn có một người cha và một người mẹ. Quy tắc này đã có giá trị ngang với một định đề toán học, trong suốt thời kỳ mà sự sinh sản diễn ra một cách tự nhiên, cho đến khi khoa học giới thiệu các phương pháp sinh sản nhân tạo và vô tính. Lai lịch của cha mẹ của một người là một phần lai lịch của bản thân người đó. Trong đa số trường hợp, con biết lai lịch của cha và mẹ của mình; nhưng cũng có trường hợp con không biết hoặc không biết rõ. Song, dù biết hay không, sự tồn tại của cha và mẹ là chắc chắn, ở một điểm nào đó trong không gian và trong thời gian.   

                Quan hệ cha mẹ- con là mối liên hệ pháp lý giữa một người (gọi là con) và một người khác (gọi là cha hoặc mẹ). Một sự kiện tự nhiên, thuần túy vật chất,  được luật ghi nhận và chi phối, nên trở thành một sự kiện pháp lý.    

       

            1. Dữ kiện vật chất về quan hệ cha mẹ-con  

    TOP

                 Sự sinh sản tự nhiên và sự sinh sản nhân tạo. Sự sinh sản, trong suy nghĩ phù hợp với truyền thống, là một sự việc có nguồn gốc tự nhiên và ý chí: sự phối hợp xác thịt giữa một người đàn ông và một người đàn bà và ý thức của hai người về về khả năng ra đời của một đứa trẻ từ sự phối hợp đó[1]. Từ hơn ba mươi năm nay, những tiến bộ của khoa học còn cho phép người đàn ông và nhất là người đàn bà có thể quyết định khi nào nên cho một đứa trẻ thành thai.

                Các thành tựu của sinh học và y học hiện đại làm hình thành khả năng sinh sản độc lập với quan hệ xác thịt tự nhiên - sinh sản nhân tạo bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Ðặc biệt, trong mấy năm trở lại đây, sau những thành công của các thí nghiệm về nhân bản vô tính có đối tượng là động, thực vật, người ta bắt đầu suy nghĩ đến khả năng nhân bản vô tính có đối tượng là con người. Giả sử một người được tạo ra không phải từ sự phối hợp giữa trứng của một người đàn bà và tinh trùng của một ngườìi đàn ông, ta sẽ phải nói rằng có những người không có cha và không có mẹ một cách tuyệt đối: không phải vì cha mẹ đã mất đi hoặc không rõ lai lịch mà vì cha mẹ không tồn tại. Tất cả những người làm luật ở các nước đều có xu hướng đặt sự nhân bản vô tính người ra ngoài vòng pháp luật, do sự đe dọa của loại tác nghiệp khoa học này đối với đạo đức và cả đối với tương lai của loài người.

                Luật thực định Việt Nam không có quy định gì về việc xác lập quan hệ cha mẹ-con trong trường hợp sinh sản nhân tạo: theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 63 khoản 2, việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định; song, cho đến nay, các quy định ấy vẫn chưa được được ban hành. Riêng sự nhân bản vô tính có đối tượng là con người chỉ là đề tài thời sự phổ thông ở Việt Nam, chưa được đặt ra trên lĩnh vực pháp lý.           

            2. Dữ kiện pháp lý về quan hệ cha mẹ-con   

    TOP

                Sự đa dạng về nguồn gốc của quan hệ. Dựa vào đặc điểm pháp lý của mối quan hệ chung sống của cha và mẹ luật của nhiều nước xếp các nguồn gốc của quan hệ cha mẹ-con vào ba nhón chính: quan hệ chính thức, quan hệ tự nhiên và quan hệ nuôi dưỡng. Quan hệ chính thức là quan hệ cha mẹ-con xác lập trong điều kiện cha và mẹ là vợ và chồng hợp pháp; quan hệ tự nhiên là quan hệ cha mẹ-con xác lập trong điều kiện giữa và và mẹ không có quan hệ vợ chồng hợp pháp; quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ cha mẹ-con trong điều kiện người được gọi là cha hoặc mẹ (nuôi) không sinh ra người được gọi là con (nuôi).

                Luật Việt Nam hiện hành không phân biệt con sinh ra từ hôn nhân và con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng ngoài hôn nhân hoặc con nuôi: tất cả các con đều phải được cha mẹ đối xử bình đẳng và đều được pháp luật thừa nhận có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong quan hệ với cha mẹ. Thế nhưng, luật hiện hành chỉ xây dựng các quy tắc chung về nội dung của quan hệ cha mẹ-con chứ không có các quy tắc chung cho việc xác định các quan hệ đó. Ðặc biệt, các quy định liên quan đến việc suy đoán về sự tồn tại của mối quan hệ cha mẹ-con ruột chỉ được áp dụng trong trường hợp con được sinh ra từ quan hệ hôn nhân và nói chung, được sinh ra từ quan hệ xác thịt giữa hai người có quan hệ hôn nhân với nhau, dù quan hệ hôn nhân được xác lập trước hay sau khi con thành thai. Nói rõ hơn, nguyên tắc bình đẳng giữa các con chỉ được áp dụng một khi quan hệ cha mẹ-con đã được xác định. Chính về phương diện xác định quan hệ cha mẹ- con, trong luật thực định Việt Nam có sự phân biệt tùy theo những người sinh con có hay không có quan hệ hôn nhân hợp pháp[1]. Việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi, về phần mình, luôn chịu sự chi phối của những quy định riêng, phù hợp với tiïnh chất của quan hệ đó.

                Xác định quan hệ cha mẹ-con ruột, suy cho cùng, là việc giải quyết vấn đề bằng chứng về quan hệ cha mẹ-con ruột. Nói rõ hơn, để xác định quan hệ cha mẹ-con ruột, ta phải trả lời câu hỏi: liệu một người xác định nào đó có phải là cha (hoặc mẹ) ruột của một người xác định nào đó khác ?  

    MỤC I. QUAN HỆ CHA MẸ-CON RUỘT  

    TOP

                Ðặt vấn đề. Việc làm rõ quan hệ cha mẹ-con ruột không chỉ cần thiết trong trường hợp có tranh cãi về tư cách cha, mẹ, con của một người. Một người nào đó đến cơ quan công chứng và tự xưng rằng mình là con ruột của một người đã chết và di sản đang được thanh toán; cơ quan công chứng phải kiểm tra tư cách con của người tự xưng đó trước khi người này tham gia vào việc thanh toán di sản. Cha giao kết hợp đồng cho mượn một tài sản; đến ngày lấy lại tài sản, cha gọi điện thoại cho người mượn nói rằng sẽ có con của mình đến nhận lại tài sản; tất nhiên, người mượn chỉ có thể yên tâm giao tài sản khi biết chắc rằng người nhận đích thực là con của người cho mượn...     

                Các cách thức xác định quan hệ cha mẹ-con ruột, tùy theo tính chất, có thể được xếp vào hai nhóm chính: xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ tự nhiên và xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ pháp lý.

            I. Xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ tự nhiên

                Với tính cách là quan hệ tự nhiên, quan hệ cha mẹ-con có thể được xác định dựa vào một trong hai yếu tố: sinh học và xã hội học.

                1. Yếu tố sinh học  

    TOP

                Thành thai và sinh sản. Trong quan niệm truyền thống, con ruột của cha và mẹ là con do người mẹ sinh ra từ một bào thai do người mẹ cưu mang và bào thai đó là kết quả của sự phối hợp xác thịt của cha và mẹ. Giả sử ngày sinh của con được xác định; làm thế nào để xác định ngày thành thai của con ? Luật viết chưa trả lời câu hỏi này. Trước khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, một số văn bản lập quy của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử có ghi nhận các quy tắc về việc suy đoán khoảng thời gian mà trong khoảng thời gian đó người phụ nữ có thể mang thai. Các quy tắc ấy không giống nhau[1] và hầu như không được áp dụng một cách phổ biến trong thực tiễn 

                Y học truyền thống, về phần mình, ghi nhận rằng trong đa số trường hợp, khoảng cách về thời gian giữa thời điểm thành thai và thời điểm sinh là chín tháng. Bài toán về xác định  quan hệ cha mẹ-con bằng dữ kiện sinh học được tục lệ giải quyết khá đơn giản: cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới cho một cô gái và một chàng trai vào ngày rằm tháng Giêng;  người chồng chết trong một tai nạn vào ngày 29 tháng Tư; người vợ sinh con vào đêm 30 tháng Chạp. Vậy, con thành thai vào khoảng tháng Ba, nghĩa là trong thời kỳ hôn nhân; kết luận: đó là con chung của người vợ và người chồng đã chết.            

                Trường hợp sinh sản nhân tạo. Nhắc lại rằng luật Việt Nam chưa có các quy tắc liên quan đến việc xác định quan hệ cha mẹ-con trong trường hợp sinh sản nhân tạo. Tuy nhiên, thực tiễn có xu hướng thừa nhận rằng:

                1. Nếu sự thụ tinh là kết quả sự phối hợp giữa các yếu tố vật chất của vợ và chồng, thì trẻ sinh ra có cha và mẹ là chồng và vợ đó, người mang thai hộ chỉ đóng vai trò người hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của trẻ ấy;

                2. Nếu vợ hoặc chồng không cung cấp được yếu tố vật chất của chính mình cho việc thụ tinh, thì lai lịch của người cung cấp yếu tố bổ khuyết không được công bố cho vợ và chồng biết, cũng như bản thân người cung cấp yếu tố bổ khuyết không biết lai lịch của vợ và chồng muốn có con bằng con đường thụ tinh nhân tạo. Con được sinh ra coi như có cha và mẹ ruột là người chồng và người vợ đó.  

                2. Yếu tố xã hội học  

    TOP

                Danh xưng, thái độ và dư luận. Giả thiết được hình dung như sau: một người thứ ba đứng trước hai người - A và B. Nguyễn Văn A giới thiệu với người thứ ba rằng Nguyễn Văn B là con ruột của mình. Người thứ ba ghi nhận sự tồn tại của mối quan hệ cha-con giữa hai người đối diện không chỉ thông qua lời giới thiệu mà còn qua thái độ cư xử của hai người đối với nhau. Ta nói rằng sự tồn tại của quan hệ cha mẹ-con được xác định nhờ những biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ ấy.

                Một cách tổng quát, quan hệ cha mẹ-con được xác định về phương diện xã hội, như là kết quả của sự hội tụ của ba yếu tố:

                - Danh xưng. Con của một người mang họ của người đó. Thông thường, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân mang họ cha. Con sinh ra từ quan hệ chung sống như vợ chồng cũng thường mang họ cha, trừ trường hợp những người chung sống như vợ chồng chấp nhận tập tục của cộng đồng dân tộc ít người mà họ có xuất xứ, theo đó, con sinh ra phải mang họ mẹ. Con của một người phụ nữ độc thân thường mang họ của chính người phụ nữ đó.       

                - Thái độ. Mang chung một họ chưa đủ. Các đương sự phải cư xử với nhau như cha-con, mẹ-con. Việc cha, mẹ cư xử với tư cách đó trong quan hệ với con thể thiện một cách chung nhất qua việc cha mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, gầy dựng tương lai của con. Việc con cư xử với tư cách đó trong quan hệ với cha mẹ thể hiện một cách chung nhất qua việc con tỏ ra kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡîng, tuân theo lời khuyên của cha mẹ.

                - Dư luận. Cuối cùng, quan hệ cha mẹ-con chỉ có giá trị nếu quan hệ đó được thừa nhận bởi gia đình và xã hội, bởi bất kỳ người thứ ba nào cũng như bởi quyền lực công cộng: ông bà gọi cha mẹ đến để góp ý về cách giáo dục con; nhà trường gọi cha mẹ đến để họp bàn về việc học của con; Tòa án gọi cha mẹ đến để tham gia vào vụ án hủy hoại tài sản của người khác mà con chưa thành niên là thủ phạm;... Trong tất cả những trường hợp đó, người thứ ba cũng như quyền lực công cộng thừa nhận quan hệ cha mẹ-con chỉ trên cơ sở ghi nhận sự hội tụ của những yếu tố xã hội đặc trưng của quan hệ ấy.

            II. Xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ pháp lý                 

    Việc xác định quan hệ cha mẹ-con về phương diện pháp lý chịu sự chi phối của những quy tắc đặc thù, được xây dựng tùy theo việc xác định được thực hiện trong hay ngoài thủ tục tư pháp.

                A. Xác định quan hệ cha mẹ-con ngoài thủ tục tư pháp  

    TOP

                1. Bằng chứng chung

                Giấy khai sinh

                Khái niệm. Giấy khai sinh là chứng thư hộ tịch được lập nhằm ghi nhận các yếu tố đặc trưng của sự kiện một người nào đó, xác định, được sinh ra. Trong đa số trường hợp, trên giấy khai sinh, tên họ của cha và mẹ được ghi nhận.  

                Giá trị chứng minh của giấy khai sinh đối với quan hệ cha mẹ-con ruột. Không một văn bản nào trong luật viết Việt Nam hiện hành quy định rằng giấy khai sinh là bằng chứng về quan hệ cha mẹ-con ruột. Tuy nhiên, thực tiễn giao dịch vẫn thừa nhận việc sử dụng giấy khai sinh để chứng minh quan hệ ấy trong nhiều trường hợp. Trong suy nghĩ lành mạnh phù hợp với tâm lý của dân cư, giấy khai sinh là bằng chứng về việc có một người được sinh ra; người này có cha và mẹ lần lượt được ghi tên ở các mục tương ứng trong giấy khai sinh. Ngay cả trong trường hợp những người được khai là cha và mẹ của đứa trẻ không có đăng ký kết hôn hợp lệ, thì tư cách cha và mẹ cũng có thể được chứng minh bằng cách dựa vào các ghi tiết được ghi nhận trên giấy khai sinh[1].  

                Song, dù trong trường hợp nào, đó không phải là bằng chứng tuyệt đối về sự tồn tại của quan hệ cha mẹ-con[1].  Một người có giấy khai sinh thực, ghi rõ tên họ của người cha, người mẹ, luôn có thể được một người khác nhận là con mình bằng cách đưa ra những chứng cứ khác. Có nhiều khả năng: con được trao nhầm cho một người mẹ khác sau khi sinh ra, đánh tráo trẻ em, nhặt được trẻ bị bỏ rơi và khai rằng trẻ đó là con của mình,...

                Mặt khác, người xuất trình giấy khai sinh với tư cách là người có tên ở mục tên họ trẻ mới sinh không hẳn là chính người có tên đó. Hoàn toàn có khả năng một người sử dụng giấy khai sinh của một người khác. Trong trường hợp có tranh cãi về sự giống nhau giữa người tự xưng là người có tên trên giấy khai sinh và người mà việc sinh được ghi nhận bằng giấy đó, thì chính người tự xưng là có tên trên giấy khai sinh hoặc người đại diện phải chứng minh sự giống nhau. Thông thường, nếu sự tranh cãi liên quan đến trẻ nhỏ, thì sự giống nhau được chứng minh bằng các yếu tố xã hội; nếu sự tranh cãi liên quan đến trẻ sơ sinh, thì sự giống nhau được chứng minh bằng mọi phương tiện được thừa nhận trong luật chung (người làm chứng, tuổi xương,...); nếu sự tranh cãi liên quan đến người đã trưởng thành, thì sự giống nhau được chứng minh bằng chứng minh nhân dân và các yếu tố xã hội (nếu có).  

                Cuối cùng, một khi đã xác định được sự giống nhau giữa người có tên trên giấy khai sinh và người tự xưng là được khai sinh theo giấy đó, thiì việc chứng minh quan hệ cha me-con ruột, trong những trường hợp đặc thù, còn phải được củng cố bằng các bằng chứng khác, đặc biệt là bằng các yếu tố sinh học và yếu tố xã hội học. Việc xác định các yếu tố sinh học, yếu tố xã hội học có khi còn bao hàm cả việc chứng minh sự giống nhau giữa người được nhận là cha, mẹ với người có tên trên giấy khai sinh ở cột cha, mẹ, cũng như với người cung cấp các yếu tố vật chất tạo thành yếu tố sinh học của quan hệ cha mẹ-con. Trong điều kiện không có tranh chấp, người thứ ba có quan tâm có thể ngừng đưa ra các yêu cầu chứng minh một khi cảm thấy rằng quan hệ cha mẹ-con ruột đã được làm rõ đối với mình.

                2. Không có giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh có nội dung không đầy đủ 

    TOP

                Các trường hợp cần chứng minh quan hệ cha mẹ-con ruột. Các trường hợp này khá đa dạng trong thực tiễn. Có thể hình dung hai trường hợp điển hình: khi cần lập khai sinh trễ hạn hoặc đăng ký lại khai sinh cho một người và khi cần xác định một người nào đó có quyền hưởng di sản của người chết với tư cách là con ruột và là ngườìi thừa kế theo pháp luật được gọi ở hàng thứ nhất của người chết.    

                Giải pháp của luật. Luật có quy định (song khá đơn giản) về bằng chứng của quan hệ cha mẹ-con ruột trong trường hợp cần lập khai sinh quá hạn: phải có người khai sinh và người này phải nộp một hồ sơ có thành phần giống như trong trường hợp đăng ký khai sinh đúng hạn. Vậy nghĩa là đối với cơ quan đăng ký hộ tịch, lời khai của người khai sinh, giấy chứng sinh (nếu có ghi tên họ cha và mẹ) và lời khai của người làm chứng có giá trị chứng minh về quan hệ cha mẹ-con. Tất cả các lời khai ấy thực ra đều dựa vào các yếu tố sinh học. Ðiều này hợp lý, bởi đối với trẻ sơ sinh không thể có yếu tố xã hội học của quan hệ cha mẹ-con.

                Trong trường hợp giấy khai sinh không ghi tên, họ của cha, mẹ, thì quan hệ cha mẹ-con có thể được xác định thông qua thủ tục nhận con cho cha mẹ. Thực ra rất khó hình dung trong thực tiễn sự phổ biến của trường hợp nhận con cho cha mẹ ngoài thủ tục tư pháp trong điều kiện cha và mẹ có quan hệ vợ chồng hợp pháp[1]. Có thể nói rằng nhận con cho cha mẹ là cách xác định chủ yếu cho quan hệ cha mẹ-con ngoài giá thú.            

                Giải pháp của thực tiễn. Thực tiễn hầu như không có giải pháp nguyên tắc áp dụng cho tất cả các trường hợp cần chứng minh quan hệ cha mẹ-con ruột ngoài thủ tục tư pháp, trong điều kiện không có giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh không đầy đủ. Dẫu sao, giấy khai sinh chỉ được yêu cầu xuất trình trong một số trường hợp tiếp xúc với các thủ tục hành chính. Trong đời sống dân sự, quan hệ cha mẹ-con ruột được thừa nhận một khi có đủ các yếu tố xã hội học của quan hệ đó.

                3. Con sinh ra từ hôn nhân  

    TOP

                a. Khái niệm

                Con chung của vợ và chồng. Gọi là sinh ra từ hôn nhân, con mà ở thời điểm thành thai hoặc ở thời điểm được sinh ra, có cha và mẹ ràng buộc với nhau bởi quan hệ hôn nhân. Thực ra, khái niệm này còn rất chật hẹp. Cứ hình dung các giả thiết sau đây:

                - Con thành thai trong thời kỳ tiền hôn nhân nhưng chỉ được sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt (do ly hôn, do có người chết), cũng là con chung của vợ chồng.

                - Con thành thai bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo trong ống nghiệm sau khi hôn nhân chấm dứt do cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ đều chết cũng là con chung của vợ chồng. Trường hợp thứ hai này chỉ được dự kiến như một giả thiết trường lớp, thực tiễn giao dịch Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp này; nhà chức trách, về phần mình, có vẻ như chưa sẵn sàng cho phép tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm một khi tác giả của các yếu tố vật chất cần thiết cho sự thụ tinh đã chết.

                Con chung của những người trở thành vợ chồng.. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 63 khoản 1, đoạn chót, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng. 

                b. Bằng chứng về con sinh ra từ hôn nhân

                Bằng chứng sinh học. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 63 khoản 1, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Hẳn khi xây dựng điều luật đó, người làm luật chỉ liên tưởng đến sự sinh sản tự nhiên. Nếu con thành thai vẫn do sự phối hợp của các yếu tố vật chất của cha và mẹ, nhưng sự phối hợp diễn ra trong ống nghiệm và thai được cấy, nuôi dưỡng trong thân thể của một người phụ nữ khác, thì con không thể được coi chung của vợ và chồng, nếu cha và mẹ chấm dứt quan hệ hôn nhân do cha hoặc mẹ chết trong thời kỳ thai tăng trưởng ? Ðúng ra phải quy định rằng gọi là con chung của vợ và chồng, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc thành thai trong thời kỳ ấy: sự thành thai có thể diễn ra trên thân thể của người mẹ, nhưng cũng có thể diễn ra ở ngoài thân thể đó, nhờ sự hỗ trợ của các biện pháp y học.

                Bằng chứng sinh học được sử dụng như thế nào trong trường hợp đặc thù mà người vợ thành thai trong thời kỳ hôn nhân trước, nhưng lại sinh con trong thời kỳ hôn nhân sau ? Nếu ta cho rằng yếu tố thành thai trong thời kỳ hôn nhân là yếu tố quyết định của sự suy đoán, thì con sinh ra sẽ là con chung của hai người trong cuộc hôn nhân trước; còn nếu yếu tố sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là yếu tố quyết định, thì con sinh ra sẽ là con chung của hai người trong cuộc hôn nhân sau. Thực tiễn ghi nhận rằng một khi cuộc hôn nhân sau được xác lập chỉ trong một thời gian ngắn sau khi chấm dứt cuộc hôn nhân trước, thì thường sự mang thai của người vợ trong thời kỳ hôn nhân trước là kết quả của sự quan hệ xác thịt của người này với người trở thành chồng trong quan hệ hôn nhân sau.... Dẫu sao, bằng chứng sinh học trong trường hợp này hầu như chỉ mang tính chất phụ: việc xác lập quan hệ hôn nhân sau sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các bằng chứng thuyết phục hơn về quan hệ cha mẹ-con dựa vào giấy khai sinh và yếu tố xã hội.          

                Giấy khai sinh. Người khai sinh thường là người cha, mà cũng có thể là một người thứ ba. Trong hầu hết các trường hợp, người chồng có tên trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn sẽ được khai là cha của đứa trẻ. Công luận, về phần mình, thường coi giấy khai sinh và giấy chứng nhận kết hôn như là bằng chứng thuyết phục về quan hệ cha-con ruột, ngay nếu như, do nguyên nhân gì đó, công luận không chứng kiến được sự đối xử giữa các đương sự theo cung cách của cha và con.  

                Sự phối hợp giữa các bằng chứng. Giả sử con có giấy khai sinh ghi rõ tên họ của cha và mẹ, được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, được cha mẹ đối xử theo đúng các tiêu chí xử sự đặc trưng của mối quan hệ cha mẹ-con ruột và mối quan hệ ấy được gia đình và xã hội ghi nhận và tôn trọng. Có thể tin rằng bằng chứng về quan hệ cha mẹ-con ruột trong giả thiết là hoàn hảo và tư cách cha, mẹ, con của các đương sự không thể bị tranh cãi,... trừ trường hợp có ai đó chứng minh được rằng đã có việc đánh tráo trẻ lúc mới sinh ra.       

                4. Con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng  

    TOP

                Khái niệm. Gọi là con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng, con có cha và mẹ không kết hôn với nhau. Tình trạng không kết hôn của cha mẹ khá đa dạng. Có hai trường hợp đáng chú ý trong thực tiễn, ở góc độ xác định quan hệ cha mẹ-con ruột ngoài thủ tục tư pháp.

                - Trường hợp thứ nhất: cha mẹ sống chung như vợ chồng, không vi phạm các điều kiện về nội dung kết hôn, nhưng lại không đăng ký kết hôn. Có một thời, thực tiễn xét xử xây dựng khái niệm hôn nhân thực tế trong các nỗ lực đồng hóa loại quan hệ này với quan hệ hôn nhân chính thức, nhằm tạo điều kiện cho những người xác lập quan hệ vợ chồng trong thời kỳ thuộc địa và chiến tranh mà không đăng ký kết hôn được hưởng các biện pháp bảo vệ của luật dành cho người mang tư cách vợ, chồng hợp pháp. Nhưng sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, khái niệm hôn nhân thực tế đã bị loại bỏ.  

                - Trường hợp thứ hai: cha mẹ kết hôn trái pháp luật và hôn nhân bị hủy. Luật chỉ nói rằng quyền lợi của con được giải quyết như khi ly hôn, như ta đã biết.

                Trong cả hai trường hợp đó, thực tiễn dường như vẫn có xu hướng xác định quan hệ cha mẹ-con của các đương sự theo các tiêu chí được chấp nhận cho quan hệ cha mẹ-con gắn với quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ðặc biệt, nếu con sinh ra hoặc thành thai trong thời kỳ chung sống của hai người, thì thực tiễn thừa nhận đó là con chung của vợ và chồng. Ta nói rằng con ngoài giá thú trong hai trường hợp đó là con ngoài giá thú một cách ngoại lê. Ngoài hai trườìng hợp đó, con ngoài giá thú được gọi là con ngoài giá thú theo nghĩa hẹp. Sau đây chỉ nói về con ngoài giá thú theo nghĩa thứ hai.        

                a. Bằng chứng thông thường về quan hệ cha mẹ-con ngoài giá thú theo nghĩa hẹp

                Giấy khai sinh và yếu tố xã hội học. Việc khai sinh cho con ngoài giá thú cũng được thực hiện theo cùng một thủ tục như việc khai sinh cho con sinh ra từ hôn nhân: người khai, giấy chứng sinh hoặc người làm chứng... Tuy nhiên, độ tin cậy của các lời khai về lai lịch cha, mẹ của con ngoài giá thú không được bảo đảm tốt như trong trường hợp con sinh ra từ hôn nhân. Có thể nghĩ rằng trong mọi trường hợp, các chi tiết về người mẹ thường có độ chính xác cao; còn các chi tiết về người cha của con ngoài giá thú, được ghi nhận trong khai sinh, thì chưa hẳn: không loại trừ khả năng một người được khai là cha của một đứa trẻ là do sáng kiến của người mẹ hoặc người khai, người được khai là cha của đứa trẻ hoàn toàn không biết việc mình được gán cho tư cách đó.

                Nói chung, nếu giấy khai sinh có ghi tên họ cha và người có tên trên giấy đó cư xử công khai với tư cách cha của người được khai sinh theo giấy đó, thì quan hệ cha-con ruột ngoài giá thú coi như được chứng minh. Trái lại, nếu giấy khai sinh có ghi tên họ cha, nhưng người được gọi là cha lại không biết và luôn cư xử với người được khai sinh như một người không có quan hệ huyết thống, thì giấy khai sinh, tự nó, không thể coi là bằng chứng thuyết phục về quan hệ cha-con ruột. Nhiều lắm, đó chỉ có thể là một trong các manh mối truy tầm chứng cứ.

                Trong trường hợp hai người cư xử với nhau như cha và con, nhưng giấy khai sinh của người được gọi là con lại không ghi nhận tên họ cha, thì về mặt xã hội, quan hệ cha-con ruột vẫn có thể coi như đã được chứng minh hoàn hảo. Ðể cho quan hệ đó được thừa nhận về mặt pháp lý, người được gọi là cha chỉ cần tiến hành thủ tục khai nhận con ngoài giá thú.          

                b. Nhận con ngoài giá thú

                Trường hợp nhận con ngoài giá thú. Nhận con ngoài giá thú là một thủ tục hành chính cho phép một người nhìn nhận một người khác là con của mình trong điều kiện không có tranh chấp và người được nhận là con không có giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh không ghi lai lịch của cha, mẹ[1]. Thủ tục này được ghi nhận tại Nghị định 83-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch, nhưng lại không được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. 

                Thủ tục. Người xin nhận cha, mẹ phải nộp một hồ sơ cho UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được gọi là con. Hồ sơ gồm có (Nghị định số 83/CP ngày 10/10/1998 Ðiều 48):

                - Giấy khai sinh của con;

                - Sổ hộ khẩu gia đình của con;

                - Chứng minh nhân dân của người khai nhận;

                - Các giấy tờ cần thiết khác chứng minh quan hệ cha-con, mẹ-con.

                Trong trường hợp con đang được người khác nuôi dưỡng, thì việc nhận con phải được sự đồng ý của người nuôi dưỡng đó. Nếu người được nhận là con từ đủ 9 tuổi trở lên, thì còn phải có sự đồng ý của người đó.

                Trong trường hợp một người mà tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác, không thể đến UBND khai nhận người khác là con mình, thì đơn được thay thế bằng văn bản có xác nhận của hai người làm chứng về nguyện vọng nhận con của người đó.

               Sau khi nhận đủ giấy tờ cần thiết, UBND tiến hành xác minh và niêm yết công khai việc xin nhận con tại trụ sở UBND trong thời hạn 7 ngày (Nghị định đã dẫn Ðiều 50). Trong trường hợp cần xác minh thêm, thì thời hạn kéo dài không quá 7 ngày.

                Trong trường hợp không có đủ cơ sở để công nhận việc khai nhận con, thì UBND mời người khai nhận đến để thông báo về việc từ chối đăng ký (Nghị định đã dẫn, Ðiều 51). Lý do từ chối phải được ghi rõ bằng văn bản. Người bị từ chối có quyền khiếu nại.

                Néu xét thấy có đủ cơ sở để công nhận việc khai nhận con, thì UBND thông báo cho các đương sự về ngày đăng ký khai nhận con. Khi đăng ký, các đương sự phải có mặt. Nếu người khai nhận ở trong tình trạng bệnh tật hiểm nghèo, thì người thân thích hoặc người được ủy quyền của người đó có thể thay mặt người đó để đăng ký. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc cha mẹ nhận con; cán bộ hộ tịch tư pháp ghi nhận sự việc vào Sổ đăng ký nhận cha, mẹ, con.     

                Nhận cha mẹ. Người không rõ cha, mẹ có thể tiến hành khai nhận cha, mẹ một khi việc xác định quan hệ cha mẹ-con đã rõ ràng đối với các đương sự. Giống như trường hợp nhận con ngoài giá thú, cách xác lập quan hệ này, trong trường hợp không có tranh chấp, cũng được ghi nhận trong Nghị định số 83-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch và cũng không được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Thực ra, quy định cho phép con nhận cha mẹ ngoài thủ tục tư pháp là không cần thiết, bởi:

                - Trong trường hợp cha, mẹ được thừa nhận còn sống và chấp nhận, thì đó là việc cha, mẹ nhận con đúng hơn là con nhận cha, mẹ;

                - Trong trường hợp cha, mẹ được thừa nhận còn sống và không chấp nhận hoặc cha, mẹ đã chết, thì việc con nhận cha, mẹ ngoài thủ tục tư pháp là không thể được vì không đủ chủ thể giao dịch.  

           B. Xác định quan hệ cha mẹ-con ruột bằng con đường tư pháp. 

                1. Các loại kiện cáo 

    TOP

                Các loại kiện cáo có thể được xếp vào ba nhóm lớn: kiện từ phía người tự xưng hoặc được gọi là cha (mẹ),ì kiện từ phía người tự xưng hoặc được gọi là con và kiện từ phía người thứ ba có quyền và lợi ích liên quan.

               a. Kiện từ phía người tự xưng hoặc được gọi là cha (mẹ)  

                Người tự xưng là cha (mẹ). Người tự xưng là cha của một người khác có thể yêu cầu Tòa án xác định rằng mình là cha ruột của người đó. Nếu người được yêu cầu xác định là con đang mang tư cách con của một người cha khác, thì yêu cầu này bao hàm yêu cầu kép: 1. Thừa nhận rằng con đó là con chung của người tự xưng và người đang được coi là mẹ của con đó; 2. Bác tư cách cha của người mà người con đó đang gọi là cha.

                Người tự xưng là mẹ của một người khác có thể yêu cầu Tòa án xác định rằng mình là mẹ ruột của người đó. Nếu người được yêu cầu xác định là con đang mang tư cách con của một người mẹ khác, thì yêu cầu này bao hàm yêu cầu thừa nhận rằng có sự đánh tráo trẻ lúc mới sinh hoặc có việc nhận trẻ bị thất lạc làm con.  

                Những người tự xưng là cha và mẹ của một người khác có thể yêu cầu Tòa án xác định rằng họ là cha và mẹ của người đó. Nếu người được yêu cầu xác định là con đang có cha, mẹ khác, thì yêu cầu bao hàm việc thực hiện quyền đòi lại con do người khác nhận nhầm.     

                Người được xác định là cha mẹ. Ngườìi đang mang tư cách cha của một người khác có quyền yêu cầu Tòa án xác định rằng mình không phải là cha của người đó. Nếu người yêu cầu đang có vợ và người vợ đồng thời mang tư cách mẹ của người con đó, thì yêu cầu bao hàm yêu cầu xác định rằng con đó là con ngoài giá thú của người mẹ.   

                Trái lại, hầu như khó có thể hình dung trong thực tiễn Việt Nam  việc một người đang mang tư cách mẹ của một người khác yêu cầu Tòa án xác định rằng mình không phải là mẹ của người đó; càng không thể hình dung việc những người đang mang tư cách cha và mẹ của một người lại cùng nhau yêu cầu Tòa án xác định mình không phải là cha mẹ của người đó. Thường, ngay cả khi biết rằng một người nào đó thực ra không phải là con của mình, người mẹ vẫn chấp nhận duy trì quan hệ mẹ con; và trong điều kiện người mẹ chấp nhận duy trì quan hệ mẹ-con, thì người cha thường sẽ không tìm cách chối bỏ quan hệ cha-con. Nói chung, việc cha và mẹ đồng loạt yêu cầu xác định mình không phải là cha, mẹ của một người không bị luật cấm; nhưng quyền yêu cầu đó chỉ có ý nghĩa lý thuyết trong khung cảnh của đạo đức Việt Nam.û      

                b. Kiện cáo từ phía người tự xưng hoặc được gọi là con

                Người tự xưng là con. Người tự xưng là con của một người khác có thể yêu cầu Tòa án xác định mình là con của người đó. Vấn đề khá tế nhị:

                - Nếu người khác đó là một người đàn ông và người tự xưng là con đang mang tư cách con chung của hai người khác nữa, thì yêu cầu này bao hàm một yêu cầu kép: 1. Bác bỏ tư cách của người đang là cha của người yêu cầu; 2. Thừa nhận quan hệ xác thịt ngoài giá thú của người đang là mẹ và người được yêu cầu xác định là cha.

                - Nếu người khác đó là một người đàn bà và người tự xưng là con đang mang tư cách con chung của hai người khác nữa, thì yêu cầu này bao hàm việc xác định có một vụ đánh tráo trẻ mới sinh hoặc nhặt con rơi và nhận làm con ruột. 

                Người được gọi là con. Thực ra, luật không thừa nhận một cách rõ ràng việc một người được gọi là con yêu cầu Tòa án xác định mình không phải là con của người mình đang gọi là cha, mẹ. Tuy nhiên do con có quyền xin nhận cha, mẹ mà không có trường hợp ngoại lệ, việc một người đang mang tư cách con của một người khác xin nhận một người khác nữa làm cha hoặc mẹ cho phép nghĩ rằng nếu Tòa án xác định người được yêu cầu xác định là cha (mẹ) đích thực là cha (mẹ) của người yêu cầu, thì người đang là cha (mẹ) của người yêu cầu sẽ mất tư cách đó.

                Luật viết có vẻ còn khá đơn giản và chắc chắn sẽ được tiếp tục hoàn thiện để giải quyết nhiều vấn đề tế nhị mà đạo đức đặt ra. Một số quy định hơi thiên về bảo vệ lợi ích của con, khiến cho việc bảo đảm sự cân đối giữa lợi ích của con và lợi ích của cha mẹ có thể bị thử thách: con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ không đòi hỏi có sự đồng ý của cha (Luật  hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 65 khoản 2).       

       

                c. Kiện cáo từ người thứ ba

                Kiện cáo vì lợi ích của đương sự. Theo Luật hôn nhân và gia đình nằm 2000, Ðiều 66:

                1. Mẹ, cha hoặc người giám hộ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.

                2. Viện kiểm sát, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự. 

                3.Cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình  yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự:

                A. Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

                B. Hội liên hiệp phụ nữ;

                4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.     

                Từ các quy định dẫn trên, có thể nhấn mạnh rằng việc kiện cáo theo sáng kiến của người thứ ba và được thực hiện vì lợi ích của đương sự trong quan hệ cha mẹ-con ruột chỉ được chấp nhận trong trường hợp người hưởng có lợi ích là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự. Người đã thành niên và có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc chỉ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải tự mình yêu cầu. 

                Thực tiễn ghi nhận rằng sự can thiệp của Viện kiểm sát và các cơ quan khác thường xảy ra trong trường hợp người được coi là cha, mẹ cố tình không thừa nhận con mình hoặc người được coi là con cố tình không thừa nhận cha, mẹ mình, nhằm trốn tránh các nghĩa vụ của cha, mẹ, con đối với người không được thừa nhận.   

                Ðiều quan trọng: luật chỉ cho phép người thứ ba yêu cầu xác định con cho cha, mẹ hoặc cha, mẹ cho con. Người thứ ba không có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đang được coi là cha, mẹ của một người khác không phải là cha, mẹ của người khác đó.      

                Kiện cáo vì lợi ích của bản thân. Trong khung cảnh của luật thực định, quyền nhận cha mẹ hoặc quyền nhận con, cũng như quyền phủ nhận tư cách cha, mẹ, tư cách con là các quyền gắn liền với nhân thân của người có quyền. Trừ những người được luật liệt kê, có vẻ như không ai khác có thể thực hiện quyền đó, thay cho người có quyền.

                Tuy nhiên, có trường hợp người thứ ba lại có lợi ích gắn liền với các việc kiện liên quan đến quan hệ cha mẹ-con của người khác. Ví dụ điển hình là người thừa kế của một bên trong quan hệ cha mẹ-con ruột bị tranh cãi. Có thể hình dung: Cha chết để lại hai con ruột; một con kiện yêu cầu Tòa án xác định người đồng thừa kế còn lại không phải là con của người chết. Ta thấy ngay lợi ích của vụ án: nếu thắng kiện, người yêu cầu sẽ được hưởng trọn di sản...

                Theo BLDS Ðiều 639, những quyền của người chết sẽ được di chuyển cho người thừa kế. Nhưng, đó phải là những quyền chuyển giao được. Quyền được cấp dưỡng, quyền hưởng trợ cấp hưu trí, quyền bầu cử, ... là những quyền gắn liền với nhân thân của con người và không thể được chuyển giao. Khi xây dựng các chế định quyền nhận cha, mẹ, quyền nhận con, người làm luật không xác định  tính chất có thể hoặc không thể chuyển giao của các quyền ấy. Theo một quan điểm nào đó, thì mọi quyền đều chuyển giao được, nếu không có quy định cấm của người làm luật. Vậy, do không có quy định cấm của người làm luật, các quyền nhận cha mẹ, quyền nhận con có thể được thực hiện, sau khi người có quyền chết, bởi người thừa kế.    

                Trường hợp cha, mẹ yêu cầu bác bỏ tư cách mẹ, cha của người khác.  Liệu một người mẹ hoặc một người cha có quyền yêu cầu Tòa án xác định rằng người đang là cha hoặc đang là mẹ không phải là cha hoặc mẹ của con mình ? Ta có thể trả lời ngay: có trong những trường hợp do luật quy định. Thực vậy, ta biết rằng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 200 Ðiều 66 khoản 1, mẹ, cha của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi có quyền yêu  cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con. Hẳn, khi xây dựng điều luật, người làm luật chỉ quan tâm đến trường hợp con có mẹ mà chưa tìm được cha hoặc có cha mà chưa tìm được mẹ. Tuy nhiên, câu chữ của điều luật cũng cho phép mẹ, cha yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con cả trong trường hợp con đang có cha hoặc đang có mẹ. Chỉ cần thỏa mãn điều kiện của luật: con trong vụ án là con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà mất năng lực hành vi... Cần có thời gian để đánh giá tác động về mặt xã hội của giải pháp này.

                2. Thụ lý.  

    TOP

                Nguyên tắc. Các nguyên tắc xác định phạm vi đối tượng tranh chấp về quan hệ cha mẹ-con ruột có vẻ rất thoáng trong luật thực định Việt Nam: bất kỳ người nào không được nhận là cha hoặc mẹ của một người đều có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 64); bất kỳ người nào không được nhận là con của một người đều có quyền yêu cầu Tòa án xác định người ấy là cha hoặc mẹ của mình (Ðiều 65). Có thể hiểu rằng trong suy nghĩ của người làm luật sự thật về quan hệ cha mẹ-con ruột luôn phải được tôn trọng và được tạo điều kiện để làm rõ.    

                Trường hợp người được nhìn nhận hoặc không được nhìn nhận đã chết. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 65 khoản 1, con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết. Có thể tự hỏi: thế thì liệu cha mẹ có hay không quyền nhận con, ngay cả trong trường hợp con đã chết ? Người được nhận là cha, mẹ của một người có hay không quyền yêu cầu xác định người khác đó không phải là con mình, ngay cả trong trường hợp người sau này đã chết ?

                Có cơ sở để tin rằng khi xây dựng khoản 1 Ðiều 65, người làm luật quan tâm chủ yếu đến khía cạnh đạo đức của quyền nhận cha mẹ. Tất nhiên, nếu được thừa nhận là con của một người đã chết, người yêu cầu sẽ là người thừa kế theo pháp luật được gọi ở hàng thứ nhất của người chết. Tuy nhiên, trong suy nghĩ phù hợp với tâm lý dân cư, việc một người có quan tâm đến di sản của một người khác khi xin nhận mình là con ruột của người sau này, là một việc bình thường.      

                Trái lại, sẽ rất không bình thường, trong khung cảnh của đạo đức hiện đại, việc một người xin nhận là cha hoặc mẹ của một người khác đã chết do có quan tâm đặc biệt đến di sản của người sau này; cũng như việc một người xin xác định mình không phải là cha, mẹ của một người khác đã chết do không muốn nhận di sản mà người sau này để lại, một di sản hầu như chỉ có nợ mà không có tài sản.

                Có lẽ, nếu người xin nhận con hoặc xin phủ nhận quan hệ cha mẹ-con ruột xuất phát từ mong muốn bảo vệ những giá trị đạo đức của quan hệ, thì quyền yêu cầu của người được có thể vẫn được thừa nhận trong trường hợp con đã chết, nhờ nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật. Nếu không có mong muốn đó, thì việc áp dụng tương tự pháp luật phải bị loại trừ.     

                Trường hợp con có giấy khai sinh và các yếu tố xã hội phù hợp với nội dung của giấy khai sinh. Giả thiết được hình dung như sau: cha và mẹ có đăng ký kết hôn hợp pháp; con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân và có giấy khai sinh được lập hợp lệ, trên đó có ghi đầy đủ tên họ của cha và mẹ; quan hệ cha mẹ-con ruột tồn tại vững chắc và được xã hội ghi nhận, thừa nhận; một ngày nọ, một người thứ ba (một người đàn ông chẳng hạn) xuất hiện và yêu cầu Tòa án xác định đứa con ấy là con ruột của mình. Trong khung cảnh của luật thực định, loại tranh chấp này không thể bị Tòa án từ chối. Thế nhưng, liệu có trường hợp nào trong đó, người tranh chấp không được thúc giục bởi động cơ nào ngoài động cơ phá rối gia đình của người khác ? Cha, mẹ và con đang sống hạnh phúc; một người lạ mặt phát đơn yêu cầu Tòa án xác định con ấy là con của mình; người lạ mặt thua kiện do không xuất trình được các bằng chứng thuyết phục; nhưng, sau mấy lần ra trước Tòa án để đối chất, cha và mẹ đã để cho nỗi ngờ vực giết chết tình cảm của mình đối với nhau; cuối cùng, gia đình tan vỡ và đó mới chính là điều mà người lạ mặt mong muốn chứ không phải là việc thừa nhận quan hệ cha-con, bởi, thực ra, người này không phải là cha của đứa con ấy.         

                Ngay cả trong trường hợp giữa một người và một người khác đúng là có quan hệ cha mẹ-con ruột về mặt sinh học, thì việc thừa nhận rằng quyền nhận con, nhận cha mẹ được thực hiện mà không có giới hạn có thể dẫn đến những hậu quả không hay về mặt xã hội và đạo đức. Lấy lại ví dụ vừa nêu và giả sử thêm: người đàn ông lạ mặt ấy chỉ là một tên sở khanh và đứa con ấy là kết quả của một vụ lừa dối của người đó đối với người đàn bà; khi biết người đàn bà mang thai, người đó biến mất; một người đàn ông khác xuất hiện và cưu mang người đàn bà; hai người kết hôn và đứa con được người đàn ông khai sinh như là con chung của mình và người đàn bà; đứa con lớn lên trong sự thương yêu của hai người và quan hệ cha mẹ-con ruột được xã hội thừa nhận; một ngày nọ, người cha thật trở lại và yêu cầu Tòa án xác định mình là cha ruột của đứa trẻ. Trong khung cảnh của luật thực định, Tòa án phải thụ lý và nếu có đủ bằng chứng thuyết phục về mặt sinh học, Tòa án phải thừa nhận quan hệ cha-con ruột cho người cha thật và đứa trẻ. Nhưng tương lai của đứa trẻ và của mối quan hệ giữa người mẹ và chồng của mình sẽ ra sao ?...           

                Ðáng lý ra, nên thiết lập một số giới hạn đối với các nguyên tắc được nêu trên đây. Ví dụ, một khi con có giấy khai sinh ghi rõ tên cha mẹ, cha mẹ có đăng ký kết hôn hợp lệ và các yếu tố xã hội học của quan hệ cha mẹ đều có đủ, thì quan hệ cha mẹ-con không thể bị tranh cãi bởi một người thứ ba.  Có thể với giải pháp ấy, thì trong một vài trường hợp, sự thật về quan hệ cha mẹ-con ruột sẽ không có điều kiện bộc lộ. Tuy nhiên, không thể không thừa nhận rằng có những sự thật mà việc bộc lộ sẽ gây tác hại về mặt xã hội lớn hơn nhiều so với những thiệt hại mà việc giấu kín sự thật ấy có thể gây ra. Nói cách khác, có khá nhiều trường hợp có sự xung đột lợi ích giữa quyền nhận con, quyền nhận cha mẹ với quyền được sống bình yên (một cách chính đáng) của con người và đặc biệt quyền được phát triển ổn định và lành mạnh của trẻ em, thì các quyền sau này cần được ưu tiên bảo vê[1]û.    

                3. Chứng cứ  

    TOP

                Trách nhiệm chứng minh. Luật chỉ quy định rõ trách nhiệm chứng minh trong trường hợp người được luật suy đoán là cha, mẹ có đăng ký kết hôn hợp lệ: người có đăng ký kết hôn (đặc biệt là người chồng) mà không muốn thừa nhận đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con mình thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 63 khoản 2)û. Trong các trường hợp khác, có vẻ như người yêu cầu Tòa án (nguyên đơn) phải chứng minh cơ sở của những yêu cầu của mình: người yêu cầu Tòa án xác định mình là con, là cha (mẹ) hoặc không phải là cha (mẹ) của một người khác phải cung cấp được bằng chứng thuyết phục về việc mình là con, là cha (mẹ) hoặc không phải là cha (mẹ) của người khác đó. 

                Ðối tượng chứng minh. Luật cũng chưa có quy định cụ thể về đối tượng chứng minh cho từng loại yêu cầu. Thực tiễn, về phần mình, có xu hướng tập trung các đối tượng chứng minh vào hai nhóm: 1. Nhóm các dữ kiện cho thấy rằng giữa người đàn ông và người đàn bà có quan hệ tình cảm gắn bó trong thời gian thành thai của người được gọi là con; 2. Nhóm các dữ kiện cho thấy có mối liên hệ nhân quả giữa quan hệ đó và sự thành thai của người được gọi là con.

                Trong trường hợp việc thành thai là do quan hệ xác thịt ngoài ý muốn, thì cần phải chứng minh rằng thời điểm xảy ra quan hệ đó nằm trong khoảng thời gian mà người phụ nữ mang thai người được gọi là con. Nếu người chồng cho rằng con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải là con mình, thì phải chứng minh rằng không thể có quan hệ xác thịt giữa chồng và vợ trong thời kỳ người vợ mang thai đứa con. Nếu một người được xác định là cha của một đứa con ngoài giá thú, thì người yêu cầu xác định phải chứng minh rằng có quan hệ xác thịt giữa người đó và người mẹ trong thời gian người mẹ mang thai và chính quan hệ đó dẫn đến việc mang thai.  

                Phương tiện chứng minh. Tất cả các phương tiện chứng minh được thừa nhận trong luật chung về chứng cứ trong tố tụng dân sự đều có thể được sử dụng: lời khai của người làm chứng, giấy tờ, thư từ có liên quan, kết quả xét nghiệm y học, sinh học,...  

                4. Hiệu lực của việc xác định quan hệ  

    TOP

                Hiệu lực ngược thời gian và tương đối. Giả sử quan hệ cha mẹ-con ruột được xác định hoặc bị phủ nhận theo đúng yêu cầu. Các đương sự trong mối quan hệ bị tranh cãi, tùy trường hợp, sẽ được thừa nhận là con, là cha (mẹ) hoặc không phải là cha (mẹ) của một người khác. Phù hợp với quan hệ sinh học, quan hệ cha mẹ-con ruột sẽ được xác định hoặc bị phủ nhận kể từ ngày con được sinh ra.  Các hệ quả pháp lý cần thiết sẽ phát sinh:

                - Nếu quan hệ cha mẹ-con ruột được xác lập, thì giữa các đương sự coi như có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau kể từ ngày con được sinh ra

      - Nếu quan hệ cha mẹ-con ruột bị phủ nhận, thì giữa các đương sự coi như không có các quyền đối với nhau

                Thế nhưng, trong khung cảnh của luật thực định, các quan hệ cha mẹ-con ruột được xác định hoặc bị phủ nhận bằng con đường tư pháp không có giá trị tuyệt đối: quan hệ đó có thể lại bị phủ nhận hoặc được xác định lại một khi có bằng chứng ngược lại thuyết phục hơn được đưa ra trong khuôn khổ một vụ án khác.               

    MỤC II.  QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI-CON NUÔI

                Khái niệm. Quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi là quan hệ ràng buộc một người vào một hoặc hai người khác, những người có liên quan không có mối liên hệ huyết thống với nhau như cha mẹ-con ruột, nhưng người nuôi được xem như cha mẹ của người được nuôi, dù không sinh ra người được nuôi; người được nuôi, về phần mình, coi người nuôi như cha mẹ ruột. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 67 khoản 1, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.   

            I. Xác lập  quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi  

    TOP

                Việc nuôi con nuôi chỉ có thể được xác lập do sự bày tỏ ý chí của người nuôi và người được nuôi hoặc người đại diện của người được nuôi.

                A. Ðiều kiện xác lập

                1. Ðiều kiện liên quan đến người nuôi  

    TOP

                Nuôi chung hoặc nuôi cá nhân. Người nuôi trước hết phải là thể nhận: không có chuyện một người là con nuôi của một pháp nhân, một hộ gia đình hoặc tổ hợp tác. Ðó có thể là vợ và chồng hoặc một cá nhân. Về mặt lý thuyết, cá nhân đang có vợ (chồng) có thể nhận con nuôi mà không cần có sự tham gia hoặc sự đồng ý của vợ (chồng)[1]; tuy nhiên, thực tiễn hầu như không ghi nhận được trường hợp này.

                Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 69, người nuôi phải.Có đầy đủ năng lực hành vi; có tư cách đạo đức tốt; có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

                Nếu vợ và chồng cùng nhau nhận con nuôi, thì từng người một phải thỏa mãn các điều kiện trên đây (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 70).            

                Người nuôi có thể có hoặc không có con ruột. Một người hoặc một cặp vợ chồng có thể nhận một hoặc nhiều người làm con nuôi (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 67 khoản 1).    

                2. Ðiều kiện liên quan đến người được nuôi  

    TOP

                Lợi ích của người được nuôi. Luật dùng cụm từ phù hợp với đạo đức xã hội để thiết lập tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc nuôi con nuôi. Ðạo đức xã hội là một khái niệm rất rộng. Có thể tin rằng trong suy nghĩ của người làm luật, việc nuôi con nuôi được cho phép với điều kiện trên cơ sở quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi được xác lập, người con nuôi có được môi trường sống lành mạnh để phát triển về thể chất, trí tuệ và nhân cách; điều đó sẽ có tác dụng tích cực trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội. Luật nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác (Luật hôn nhân và gia đình nằm 2000 Ðiều 67 khoản 3).        

                Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật làm con nuôi (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 67 khoản 2).

                Ðược nuôi bởi nhiều người. Ðược nuôi nhiều lần. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 68 khoản 2, một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng. Ðiều đó có nghĩa rằng nếu người nuôi chung sống như vợ chồng với một người khác mà không đăng ký kết hôn, thì người được nuôi chỉ có thể là con nuôi của một trong hai người.  

                Nhận xét quan trọng: luật chỉ đòi hỏi rằng ở một thời điểm nhất định nào đó, một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng; luật không cấm một người làm con nuôi nhiều lần. Bởi vậy, một người đã từng là con nuôi của một người hoặc của cả hai vợ chồng vẫn có thể là con nuôi của một người khác hoặc của cả hai người khác là vợ chồng, sau khi quan hệ nuôi con nuôi trước đây chấm dứt.  

                Ðiều kiện về tuổi tác. Theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 68 khoản 1, người được nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống. Cá biệt, người trên 15 tuổi cũng có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn.

                3. Ðiều kiện liên quan đến quan hệ giữa người nuôi và người được nuôi.  

    TOP

                Khoảng cách về tuổi tác. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 69 khoản 2, người nuôi phải hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên. Nếu vợ và chồng cùng nhận con nuôi, thì cả vợ và chồng đều phải hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên. Quy định này, cũng như quy định về tuổi kết hôn, được áp dụng mà không có ngoại lệ. 

                Vấn đề quan hệ thân thuộc. Có thể hình dung: một người có gia đình, nhưng lại có con riêng trước khi kết hôn; không muốn để lộ chuyện ấy trước công luận, người này bàn với vợ (chồng) nhận con riêng của mình làm con nuôi của vợ và chồng. Quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi trong giả thiết không phù hợp (một phần) với định nghĩa về nuôi con nuôi được ghi nhận ở trên. Tuy nhiên, không thể nói đó là quan hệ trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. 

                Dẫu sao, tục lệ khó có thể chấp nhận việc nuôi con nuôi dẫn đến việc đảo lộn thứ tự tôn ti thiết lập do quan hệ thân thuộc: một người dưới 15 tuổi mang vai vế chú, cậu hoặc cô, dì họ của một người trên 35 tuổi không thể trở thành con nuôi của người sau này.     

                B. Thủ tục  

    TOP

                Khác với luật của nhiều nước, việc nhận con nuôi trong luật Việt Nam được thực hiện theo thủ tục hành chính chứ không phải thủ tục tư pháp.

                Nộp hồ sơ. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 72, việc nhận con nuôi phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ tịch. Trong trường hợp cả cha mẹ nuôi và con nuôi đều có quốc tịch Việt Nam và việc nhận con nuôi được thực hiện tại Việt Nam, thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là UBND xã, phường, thị trấn nơi cư  trú của người nuôi hoặc của người được nuôi (Nghị định số 83/CP ngày 10/10/1998 Ðiều 35).

                Theo Ðiều 36 Nghị định đã dẫn; người xin nhận con nuôi phải nộp đơn xin nhận con nuôi; đơn phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi người nhận con nuôi công tác hoặc của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người nhận nuôi, về tư cách đạo đức cũng như về việc thỏa mãn các điều kiện khác để được phép nhận con nuôi[1]. Kèm theo đơn xin nhận con nuôi phải có các giấy tờ sau đây:

                - Giấy khai sinh và chứng minh nhân dân của người nhận con nuôi;

                -  Sổ hộ khẩu gia đình của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi (tùy theo người nuôi hoặc người được nuôi có đăng ký thường trú tại nơi đăng ký việc nuôi con nuôi);

                - Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi.

                Ngoài ra, Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 71 khoản 1, Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ ruột của người đó; nếu cha, mẹ ruột đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ, thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ.

                Nếu người được nhận nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì việc nuôi con nuôi còn phải có sự đồng ý của người đó (Ðiều 71 khoản 2). Tuy nhiên, luật lại không đòi hỏi rằng sự đồng ý đó phải được ghi nhận bằng văn bản. Có lẽ, trước khi tiến hành thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, đại diện UBND sẽ trực tiếp hỏi người được nuôi và nếu người này đồng ý, thì sự đồng ý sẽ được ghi nhận trong một biên bản.

                Xem xét hồ sơ.  Theo Nghị định số 83-CP ngày 10/10/1998 Ðiều 37, sau khi nhận đủ hồ sơ, UBND phải tiến hành xác minh việc xin nhận con nuôi. Trong trường hợp người được nhận làm con nuôi có nguồn gốc không rõ ràng (nghĩa là không xác định được cha, mẹ), thì UBND phải tiến hành niêm yết công khai việc xin nhận con nuôi tại trụ sở UBND, đồng thời thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 7 ngày.

                Trong trường hợp một bên hoặc các bên không có đủ các điều kiện nhận con nuôi hoặc làm con nuôi, thì UBND từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản (Luật hôn nhân và gia đình năm 200 Ðiều 73); nếu cha, mẹ ruột, người giám hộ và người nhận nuôi con nuôi không đồng ý, thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật (cùng điều luật).

                Trong trường hợp mọi điều kiện cần thiết cho việc nuôi con nuôi đều hội đủ, thì UBND thông báo cho bên giao và bên nhận con nuôi biết về ngày đăng ký (Nghị định đã dẫn Ðiều 37). Trong hạn 7 ngày kể từ ngày thông báo[1], nếu bên giao, bên nhận và con nuôi không đến đăng ký việc nhận con nuôi mà không có lý do chính đáng, thì UBND hủy việc xin đăng ký nhận con nuôi và thông báo cho các đương sự biết (cùng điều luật). Nếu sau đó, các bên vẫn muốn tiến hành việc nuôi con nuôi, thì phải bắt đầu lại các thủ tục (cùng điều luật).

                Ðăng ký và giao nhận. Tại lễ giao nhận con nuôi, bên giao, bên nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi phải có mặt (Nghị định đã dẫn Ðiều 38). Bên giao, bên nhận con nuôi phải cùng ký tên vào Sổ đăng ký nhận nuôi con nuôi và và biên bản giao nhận con nuôi. Chủ tịch UBND ký và trao cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận, giải thích cho bên nhận nuôi và con nuôi về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình (cùng điều luật).                     

                C. Hiệu lực

                Do hiệu lực của việc nuôi con nuôi, người con trở thành một thành viên trong gia đình của cha mẹ nuôi kể từ ngày việc nuôi con nuôi được đăng ký; song, so với con ruột của người nuôi, con nuôi là một thành viên không đầy đủ. Ngược lại, con nuôi bảo tồn tất cả các quan hệ giữa mình và gia đình cha mẹ ruột.  

                1. Quan hệ với gia đình của người nuôi.  

    TOP

                Quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, người được nuôi trở thành con nuôi của người nuôi và gọi là sau này là cha (mẹ) nuôi. Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình (Ðiều 74): cha mẹ có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; con có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe lời khuyên bảo của cha mẹ;...[1] Trong trường hợp cha mẹ nuôi chết, con nuôi là ngườìi thừa kế được gọi theo pháp luật ở hàng thứ nhất (BLDS Ðiều 679 khoản 1); ngược lại, nếu con nuôi chết, thì cha mẹ nuôi là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của con nuôi, bên cạnh cha mẹ ruột của con nuôi.  

                Nhắc lại rằng việc kết hôn giữa cha (mẹ) nuôi với con nuôi bị cấm trong luật Việt Nam.

                Quan hệ giữa người được nuôi và các thành viên khác trong gia đình của người nuôi. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, người được nuôi hoàn toàn không có quan hệ gì với các thành viên khác của gia đình người nuôi: người được nuôi không phải là anh, chị, em của con ruột của người nuôi, không phải là cháu nội của cha mẹ của cha nuôi, không phải là cháu ngoại của cha mẹ của mẹ nuôi. Thông thường, nếu người nuôi có vợ (chồng), thì vợ và chồng cùng đứng ra nhận con nuôi; nhưng, nếu chỉ có vợ hoặc chồng đứng ra nhận con nuôi, thì người được nuôi không phải là con nuôi của người còn lại.    

                Các giải pháp trên đây dẫn đến một vài hệ quả đáng chú ý.

                - Việc kết hôn giữa người được nuôi và những người thân thuộc của người nuôi không bị cấm bởi luật viết. Cần lưu ý rằng do con nuôi của vợ không nhất thiết cũng đồng thời là con nuôi của chồng mà trong trường hợp người được nuôi là nữ và cuộc hôn nhân ràng buộc người nuôi chấm dứt, thì chồng cũ của người nuôi có thể kết hôn với con nuôi của vợ cũ. Không chắc đây là giải pháp mà người làm luật mong muốn: giải pháp ấy không phù hợp với tục lệ truyền thống.

                - Người được nuôi không thể thế vị người nuôi để nhận phần di sản mà người nuôi được hưởng của cha mẹ, nếu còn sống.   

                Họ, tên, dân tộc của con nuôi. Trên nguyên tắc, việc nuôi con nuôi không đương nhiên có tác dụng thay đổi họ của con nuôi theo họ của người nuôi. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 75, cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (tức UBND) quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Tuy nhiên, nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì việc thay đổi họ, tên phải được sự đồng ý của người đó. Suy lý ngược: 1. Nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên không đồng ý việc thay đổi họ, tên của mình, thì con nuôi mang họ, tên cũ; 2. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi mất năng lực hành vi chỉ cần có sự đồng ý và yêu cầu của cha, mẹ nuôi.      

                Trái lại, có vẻ như người được nuôi đương nhiên có dân tộc của người nuôi kể từ ngày được nhận làm con nuôi. Theo BLDS Ðiều 30 khoản 2, người thành niên có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc theo cha, mẹ ruột trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác. Nếu dân tộc của con nuôi không thay đổi theo dân tộc của cha, mẹ nuôi, thì cần gì phải xác định lại ? Luật, về phần mình, lại không nói rằng người nuôi cần phải yêu cầu để con nuôi được thay đổi dân tộc theo dân tộc của mình...

                2. Nhận con ruột, nhận cha mẹ ruột  

    TOP

    Không ảnh hưởng đến quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, việc một người được nhận làm con nuôi của một người khác không cản trở việc người con nuôi xin xác định cha mẹ ruột của mình. Ngược lại, người không được nhận là cha, mẹ ruột của con nuôi có quyền yêu cầu Tòa án xác định mình là cha, mẹ ruột của con nuôi ấy. Trong mọi trường hợp, quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi không bị ảnh hưởng bởi kết quả giải quyết của Tòa án liên quan đến quan hệ cha mẹ-con ruột.    

            II. Chấm dứt việc nuôi con nuôi

                1. Ðiều kiện và thủ tục  

    TOP

                Các trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, việc nuôi con nuôi có thể chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

                1. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

                2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi.

                3. Cha, mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Ðiều 67 hoặc khoản 5 Ðiều 69 của Luật hôn nhân và gia đình (nghĩa là có hành vi phi đạo đức đối với con nuôi hoặc có hành vi phạm tội liên quan đến các mối quan hệ gia đình hoặc đến người chưa thành niên và đã bị kết án).   

                Người có quyền yêu cầu. Việc chấm dứt quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi không đương nhiên, dù tất cả các yếu tố của trường hợp được luật dự kiến đều hội đủ. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 77:

                1. Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ ruột, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi.

                2. Viện kiểm sát, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại các điểm 2 và 3 trên đây.

                3. Cơ quan tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Ðiều 76 của Luật này (tức là các điểm 2 và 3 ghi ở mục trên đây):

                    a. Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

                    b. Hội liên hiệp phụ nữ.  

                4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trườìng hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Ðiều 76 của Lật này (tức là các điểm 2 và 3 ghi ở mục trên đây).    

                2. Hiệu lực  

    TOP

                Hiệu lực tuyệt đối và hiệu lực tương đối. Khi quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt, thì giữa các đương sự không còn quan hệ cha mẹ-con. Người con có thể trở thành con nuôi của người khác. Giữa người nuôi và người được nuôi không còn các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con.

                Nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, thì Tòa án ra quyết định giao người đó cho cha, mẹ ruột hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 78 khoản 1).

                Con nuôi được quyền lấy lại các tài sản riêng của mình (Ðiều 78 khoản 2); nếu có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi, thì được hưởng một phần tài sản trích từ khối tài sản chung đó, theo thỏa thuận giữa các đương sự; nếu không thỏa thuận được, thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

                Trong trường hợp con nuôi được đổi tên, họ, thì sau khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, cha, mẹ ruột hoặc chính người được nuôi có thể yêu cầu được lấy lại họ tên cũ (Ðiều 78 khoản 3). Cần nhấn mạnh rằng con nuôi chỉ có thể lấy lại họ, tên cũ chứ không được mang họ tên mới khác.          

                Thế nhưng, việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa những người đã từng có quan hệ cha me nuôi-con nuôi vẫn bị cấm (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ðiều 10 khoản 4). Ta nói rằng, trong những trường hợp được luật dự kiến, việc chấm dứt nuôi con nuôi chỉ có hiệu lực tương đối trong quan hệ giữa người từng nuôi và người từng được nuôi.        


    PreviousIndexNextHome

    XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ - CON