trang Blog

gaomenTham gia: 02/06/2010
  • thanh toán quốc tế
    Kinh Tế
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    thanh toán quốc tế

    MỞ ĐẦU
     
    Q
    uá trình tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức.Sau gần một thập niên duy trì nền kinh tế bao cấp, Việt Nam đang nỗ lực bắt kịp trình độ phát triển chung của Thế Giới và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong lĩnh vực kinh tế. Trong xu hướng hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài. Sau khi gia nhập ASEAN vào năm 1995 và AFTA vào năm 1996, Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC năm 1998. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, sau quá trình đàm phán kéo dài và căng thẳng, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
    Việt Nam luôn khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu. Chính phủ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thúc đẩu quá trình sản xuất hàng hóa phục vụ cho mục đích xuất khẩu, mang tính cạnh tranh cao, phát triển việc xuất khẩu các dịch vụ thương mại. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị hiện đại, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm phát triển hoạt động sản xuất trong nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
    Trong điều kiện kinh tế thị trường,các quan hệ kinh tế cũng như ngoại thương phát triển nhanh chóng.Tuy nhiên gắn liền với sự phát triển đó là nhiều khó khăn và thử thách mà Việt Nam cần phải vượt qua.Một điều phải thừa nhận là các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch vụ thanh toán đa dạng, góp phần phát triển hoạt động giao dịch giữa các công ty.Nhận thức được tầm quan trọng của việc thanh toán trong hợp đồng ngoại thương,các bên ký hợp đồng luôn lựa chọn phương thức thích hợp nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp phát sinh tranh chấp.
    Hiện nay có nhiều hình thức thanh toán trong thương mại quốc tế như nhờ nhu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ…Trong số đó tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.Khoảng 11-15% giao dịch trong thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng giá trị hàng năm là một nghìn tỉ đô la Mỹ.Vì tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán thông dụng nhất hiện nay, khối lượng thanh toán ngày càng rộng lớn,do đó phòng thương mại quốc tế Paris (International Chamber of Commerce) đã ban hành quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (uniform customs and practice for documentary credit) để các bên xuất khẩu và nhập khẩu, các ngân hàng có liên quan đến nghiên cứu và áp dụng, nhằm tránh những hiểu lầm đáng tiếc có thể xãy ra.
     


     
    NỘI DUNG
     
    A PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
    I/ KHÁI NIỆM
    Tại điều 2, UCP 600 “Credit means any arrangement, however named or described, that is irrevocable and thereby constitutes a definite undertaking of the issuing bank to honour a complying presentation”
    “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp.”
    * Giải thích thuật ngữ : Về cách gọi trong thực tế ta gặp rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ về phương thức thanh toán tín dụng :
    Bằng tiếng Anh : Letter of Credit (viết tắt là L/C hoặc LC); Credit; Documentary Credit (viết tắt DC hoặc D/C)
    Bằng tiếng Việt : Tín dụng thư, Thư Tín dụng, Tín dụng chứng từ hoặc sử dụng các từ viết tắt : l/C, LC, DC, D/C.
    Cho dù cách gọi là gì thì bản chất của nó vẫn phải tuân thủ nội dung điều 2 của UCP 600, phổ biến hơn cả vẫn là thuật ngữ L/C
     
    II/ CÁC BÊN THAM GIA
    ·        Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant for L/C): Là người nhập khẩu hàng hóa , người mua, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc ngân hàng phát hành trả tiền cho người thụ hưởng L/C.
    ·        Người thụ hưởng L/C (Beneficiary of L/C): còn được gọi là người hưởng lợi hay người hưởng, là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà người thụ hưởng có thể là người xuất khẩu (exporter), người bán (seller), người kí phát hối phiếu (drawer), người thắng thầu (contractor) hoặc bất cứ người nào khác mà người xuất khẩu chỉ định .
    ·        Ngân hàng phát hành (Issuing Bank/ Opening Bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho người yêu cầu. Ngân hàng được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận và được qui định trong hợp đồng. Nếu không có sự thỏa thuận trước thì nhà nhập khẩu có quyền lựa chọn ngân hàng phát hành .
    ·        Ngân hàng thông báo ( Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà xuất khẩu.
    ·        Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành.
    ·       Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu. Đối với L/C có giá trị tự do thì bất kỳ ngân hàng nào đều có thể trở thành ngân hàng được chỉ định. Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của ngân hang cố định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ.
     

    Nominated Banks

    Ngân hàng được chỉ định
     
    1/ Confirming bank
    Ngân hàng xác nhận
    2/ Paying bank
    Ngân hàng trả tiền
    5/ Deferred undertaking Bank
    Ngân hàng trả chậm
    3/ Negotiating bank
    Ngân hàng chiết khấu
    4/ Accepting bank
    Ngân hàng chấp nhận
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     

    III/ NGHĨA VỤ CÁC BÊN THAM GIA
    1/  Ngân hàng mở hay phát hành thư tín dụng:
     
    v    Kiểm tra đơn và phát hành L/C:
    ¾   Kiểm tra đơn và soạn thảo L/C:
    Sau khi hoàn thành đơn mở L/C, khách hàng luôn mong đợi ngân hàng cung cấp dịch vụ hiệu quả và nhanh chóng. Để hạn chế sự chập trể,ngay sau khi nhận được đơn mở L/C, ngân hàng cần kiểm tra những nội dung liên quan đến phát hành L/C bao gồm:
    § Tên, địa chỉ, tư cách và chữ ký của người yêu cầu
    § Tên và địa chỉ đầy đủ của người thụ hưởng
    § Bảo đảm hạn mức L/C và các biện pháp bảo đảm tín dụng
    § Thời hạn hiệu lực của giấy phép nhập khẩu và hàng hóa có nằm trong hạn ngạch nhập khẩu hay không
    § Quy định về quản lý ngoại hối có cho phép không
    § Kiểm tra về tình trạng của người hưởng lợi, nếu cần
    §  Nếu điều kiện giao hàng là FOB hoặc CFR…, thì người yêu cầu có phải cung cấp chứng từ bảo hiểm hàng hóa chỉ ra rằng người hưởng lợi bảo hiểm là theo lệnh của NHPH hay không?
    § Đối chiếu các chỉ thị giữa đơn với L/C
    § Chọn ngân hàng thông báo ở nước nhà xuất khẩu
    § ấn định số của L/C
    § Phát hành L/C
    Phương thức phát hành L/C:
    Cho đến nay,L/C được phát hành bằng các phương thức sau:
    §       Phát hành bằng thư qua đường bưu điện
    §       Phát hành bằng điện: Telex,Fax và Swift
    §       Phát hành kết hợp: bằng thư và bằng điện
    v    Trách nhiệm của NHPH:
    + Trả ngay, trả chậm hoặc chấp nhận bởi NHPH.
    + Trả ngay bởi NHđCĐ nhưng NHđCĐ này đã không trả tiền.
    + Trả chậm bởi NHđCĐ và NHđCĐ này đã không cam kết trả chậm hoặc đã cam kết trả chậm nhưng không trả tiền khi đến hạn.
    + Chấp nhận bởi NHđCĐ và NHđCĐ này không chấp nhận hối phiếu ký phát đòi tiền nó hoặc đã chấp nhận, nhưng không trả tiền khi hối phiếu đến hạn hoặc chiết khấu bởi NHđCĐ và NHđCĐ này đã không chiết khấu.
         + NHPH cam kết hoàn trả cho NHđCĐ khi NHđCĐ đã thanh toán hoặc chiết khấu đối với xuất trình phù hợp và chuyển giao các chứng từ cho NHPH. Việc hoàn trả tiền cho xuất trình phù hợp đối với tín dụng có giá trị chấp nhận hoặc trả chậm là vào thời điểm đến hạn, cho dù NHđCĐ đã trả tiền trước hoặc đã mua trước khi đến hạn hay không. Sự cam kết hoàn trả tiền của NHPH cho NHđCĐ là độc lập với sự cam kết của NHPH đối với người thụ hưởng.
     
    2/ ngân hàng thông báo:
    a)    Tại sao phải thông báo L/C qua ngân hàng:
    Nhiều người cho rằng, L/C là cam kết của NHPH đối với người thụ hưởng, do đó, NHPH cần gửi trực tiếp L/C cho người thụ hưởng mà không cần qua một ngân hàng nào nhằm giảm chi phí. Về mặt lý thuyết là có thể được, nhưng thực tế, để đảm bỏa an toàn cho người thụ hưởng tránh nhận 1 L/C giả gây hậu quả nghiêm trọng, thì nhất thiết L/C phải thông báo qua 1 ngân hàng. Mục đích chuyển L/C cho nhà xuất khẩu thông qua NHTB là để xác minh tính chân thật bề ngoài L/C. Khi L/C được chuyển đến NHTB phải xác minh tính chân thật của L/C trước khi thông báo cho nhà xuất khẩu. Quy tăc các định tính chân thật của L/C:
    -        L/C phát hành bằng thư; xác minh chữ ký
    -        L/C phát hành bằng điện telex: xác minh kháo mã testkey
    -        L/C phát hành thư bằng điện SWIFT: xác minh swift code
    b)    quy tắc chọn NHTB:
    1.                 NHTB phải luôn luôn do NHPH chỉ định và thường là chi nhánh hay ngân hàng đại lý của NHPH.
    2.     Cơ sở để NHPH chỉ định NHTB:
    -        Căn cứ vào đơn mở L/C của người yêu cầu, nếu có.
    -        Nếu trong đơn không quy định, thì NHPH được quyền chọn NHTB.
    3.                 L/C được thông báo qua ngân hàng nào, thì các sử đổi L/C cũng phải được thông báo qua ngân hàng đó.
    4.                 Nếu NHTB thứ nhất không có quan hệ khách hàng với người thụ hưởng, thì NHPH phải chỉ định NHTB thứ 2. Nếu NHPH không chỉ định, thì NHTB thứ nhất được chọn NHTB thứ 2 có quan hệ khách hàng với người thụ hưởng để thông báo L/C, tuy nhiên, nếu NHTB thứ 2 có sai sót, thì không vì thế mà NHTB thứ nhất phải chịu trách nhiệm của NHTB thứ 2 là tương đương với ngân hàng thứ nhất.
    5.                 Nếu 1 ngân hàng không phải là một NHXN, chỉ thực hiện thông báo L/C hay sử đổi L/C thì không chịu bất kỳ trách nhiệm nào phải thanh toán hay chiết khấu chứng từ L/C.
    6.                 Nếu ngân hàng được yêu cầu thông báo L/C nhưng quyết định từ chối, thì phải thông báo không chậm trể quyết định của mình cho NHPH.
    c)    Quy tắc thông báo l/c và sửa đổi l/c
    1. L/C có giá trị thực hiện:
    - nếu L/C hoặc sửa đổi L/C chuyển bằng thư và xác minh đúng chữ ký, thì L/C sử đổi có giá trị thực hiện.
    - nếu l/c hoặc sửa đổi L/C chuyển bằng điện( telex hoặc swift) và xác minh đúng khóa mã, đúng swift codevaf không có ghi chú gì thêm, thì l/c hoặc sử đổi L/C có giá trị hiện thực. Do đó, sẽ không có văn bản xác nhận gửi đến bằng thư nữa. Trường hợp, nếu có văn bnar xác nhận gửi đến bằng thư, thì văn bản bằng thư sẽ không có giá trị hiện thực, và NHTB không có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu văn bản bằng thư với văn bản bằng điện.
    2. thông báo sơ bộ:
    Nếu L/C hoặc sửa đổi L/C chuyển bằng điện chân thật nhưng có ghi chú:
    - “ mọi chi tiết gửi sau” hoặc
    - “văn bản xác nhận bằng thư mới là văn bản có giá trị hiện thực”
    àthì bức điện như vậy gọi là: “thông báo sơ bộ L/C hay sử đổi L/C”- có giá trị thực hiện, mà chỉ là thông báo để biết là có một l/c hay sửa đổi L/C sẽ được phát hành. Sauk hi đã thông báo sơ bộ, NHPH không được chậm trễ, và có nghĩa vụ không hủy ngang phải phát hành 1 L/C hay sửa đổi L/C có giá trị thực hiện với các điều khoản không được mâu thuẩn với thông báo các sơ bộ đã gửi. Như vậy, một thông báo sơ bộ về việc phát hành L/C hoặc sửa đổi L/C chỉ được gửi đi khi NHPH đã sẵn sàn phát hành một L/C hoặc sửa đổi L/C có giá trị thực hiện.
    3. thông báo vô hiệu ( không có giá trị thực hiện)
    Có thể gặp phải một số sơ báo có khóa mã, nhưng nội dung lại không đưa ra cam kết sẽ phát hành một L/C sau đó,
     * vd một sơ báo có câu;
    -“ đây đơn thuần chỉ là thông tin, không có gia strij thực hiện, do đó, chúng tôi không chịu trách nhiệm nếu L/C này không được mở”.
    -“ xin lưu ý rằng, chúng tôi chỉ sơ báo theo yêu cầu của khách hành, do đó, không chịu trách nhiệm về L/C có được mở hay không”.
    Đối với sơ báo loại này, thì ngân hàng gửi sơ báo được miễm trách nếu l/c chính thức không được phát hành và khi thông báo cho người hưởng, NHTB ghi chú rõ:” đây chỉ là thông báo sơ bộ, không có giá trị thực hiện và l/c chính thức có thể không được mở.”
     4. Trách nhiệm kiểm tra tính chân thật L/C của NHTB:
     + NHTB phải kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C hoặc sử đổi L/C. Bất kỳ L/C hoặc sửa đổi L/C nào không xác minh được tính chân thật bề ngoài thì phải lien lạc ngay với NHPH để làm rõ. NHTB có thể không thông báo những L/C loại này cho đến khi xác minh tính chận thật của nó, còn nếu muốn thông báo hoặc theo yêu cầu của khách hàng, thì trong thông báo phải ghi rõ ràng là chưa xác minh được tính chân thật, nên L/C nó chưa có giá trị hiện thực.
       + Nếu NHTB nhận được những chỉ thị không hoàn chỉnh hoặc không rõ ràng về thông báo hay sửa đổi L/C, phải liên lạc ngay với NHPH để làm rõ.
    5.Trách nhiệm chuyển nguyên văn L/C cho người thụ hưởng:
    NHTB phải chuyển chính xác và đầy đủ các điều kiện và điều khoản của L/C hoặc sửa đổi L/C đã nhận được cho người thụ hưởng mà không cần có lời dịch hay lời giải thích nào.NHTB có trách nhiệm về các sai sót trong quá trình giao dịch, hoặc giải thích các thuật ngữ chuyên môn, không chịu trách nhiệm về khả năng giao hàng của người hưởng, khả năng thanh toán của người yêu cầu …,hoặc bất cứ hậu quả xấu phát sinh nào liên quan đến giao dịch L/C.
    d) những điều cần phòng ngừa khi thông báo l/c
    1. nếu có 1 nghi ngờ nào vầ tính chân thật của người thụ hưởng, NHTB phải điện ngay cho NHPH và phát biểu quan điểm của mình vầ người thụ hưởng.
    2. phải thận trọng quan tâm đến các l/c nhận được từ ngân hàng không có quan hệ đại lý, đặc biệt là từ ngân hàng không quen biết .
    3. một số NHPH l/c, nhưng lại không quan tâm đến dẫn chiếu quy tắc áp dụng điều chỉnh giao dịch l/c, người thụ hưởng phải được thông báo cụ thể điều này cùng lúc với việc thông báo l/c. Nếu một l/c không dẫn chiếu bất kỳ một quy tắc điều chỉnh nào, thì các bên lien quan sẽ phải tuân thủ duy nhất các điều khoản quy định trong l/c không trái với pháp luật, nghĩa là các điều khoản trong l/c sẽ là tối thượng.
    3/ ngân hàng xác nhận:
    v    Xác nhận ( confirmation):
    Là một cam kết chắc chắn, không hủy ngang của một ngân hàng (NHXN) bổ sung vào sự cam kết của NHPH để thanh toán hoặc chiết khấu bộ chứng từ xuất trình phù hợp. Như vậy, một L/C xác nhận được đảm bảo “hai lần” cho người hưởng lợi.
    Trong trường hợp nhà xuất khẩu muốn có sự bảo đảm chắc chắn được thanh toán, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH. Muốn được xác nhận, NHPH phải trả phí rất cao và thường phải đặt cọc, mức đặt cọc có thể tới 100% giá trị của L/C.
    Về lý thuyết, NHXN phải là một ngân hàng lớn có uy tín, tuy nhiên, trong thực tế thì người thụ hưởng có thể chỉ định NHXN, nếu không chỉ định, thì NHPH sẽ tự chọn, và NHTB thường được đề nghị là NHXN. Đôi khi L/C được thông báo bởi ngân hàng này, nhưng lại được ngân hàng khác xác nhận.
    Thông thường “yêu cầu xác nhận” được ghi trong một “ Thư yêu cầu” nhưng cũng có thể ghi trực tiếp lên L/C vào mục “Các điều kiện khác - Other Conditions” hoặc mục “Ghi chú - Remarks” . Mẫu thư của NHPH gửi NHTB yêu cầu xác nhận L/C như sau :
    Một ngân hàng được đề nghị xác nhận L/C, nếu đồng ý thì phải thông báo quyết định của mình đồng thời cho NHPH và người thụ hưởng; nếu không đồng ý thì phải thông báo ngay cho NHPH biết.
     
    v    Trách nhiệm của NHXN:
    + Trả ngay, trả chậm hoặc chấp nhận bởi NHXN.
    + Trả ngay bởi NHđCĐ nhưng NHđCĐ này đã không trả tiền.
    + Trả chậm bởi NHđCĐ và NHđCĐ này đã không cam kết trả chậm hoặc đã cam kết trả chậm nhưng không trả tiền khi đến hạn.
    + Chấp nhận bởi NHđCĐ và NHđCĐ này không chấp nhận hối phiếu ký phát đòi tiền nó hoặc đã chấp nhận, nhưng không trả tiền khi hối phiếu đến hạn và chiết khấu bởi một NHđCĐ khác, nhưng NHđCĐ này đã không chiết khấu.
         + NHXN cam kết hoàn trả cho NHđCĐ khi NHđCĐ đã thanh toán hoặc chiết khấu đối với xuất trình phù hợp và chuyển giao các chứng từ cho NHXN. Việc hoàn trả tiền cho xuất trình phù hợp đối với tín dụng có giá trị chấp nhận hoặc trả chậm là vào thời điểm đến hạn, cho dù NHđCĐ đã trả tiền trước hoặc đã mua trước khi đến hạn hay không. Sự cam kết hoàn trả tiền của NHXN cho NHđCĐ là độc lập với sự cam kết của NHXN đối với người thụ hưởng.
    v    NHXN cần xem xét:
     
    Việc xác nhận L/C tao nên một cam kết không hủy ngang của NHXN về nghĩa vụ thanh toán L/C giống như NHPH. Do đó, trước khi xác nhận cần xem xét:
     - Không xác nhận những L/C mà không có dẫn chiếu: “L/C là đối tượng điều chỉnh của UCP 600”. Nếu gặp L/C loại này thì trước hết phải gửi thư yêu cầu bằng điện đến NHPH để hỏi xem có áp dụng UCP600 hay không. Nếu NHPH trả lời là không thì thông báo L/C cho nhà xuất khẩu nhưng phải lưu ý là ngân hàng “không chịu trách nhiệm gì” nghĩa là L/C không có sự xác nhận của NHTB.
     - Không bao giờ xác nhận nếu không có sự yêu cầu của NHPH. Tương tự, một L/C có thể hủy ngang không bao giờ được xác nhận.
     - Khi xác nhận L/C, ngân hàng phải tin tưởng rằng NHPH có khả năng hoàn trả các khoản tiền thanh toán L/C. Phải tin tưởng vào sự ổn định chính trị ở nước NHPH và về quy chế ngoại hối cho pháp NHPH chuyển tiền hoàn trả các khoản thanh toán L/C.
     - Khi được yêu cầu xác nhận một L/C có các điều kiện rõ ràng, có thể nhận được tiền hoàn trả ngay, đồng thời thu được phí xác nhận thỏa đáng, thì cần lưu ý các trường hợp : NHPH là ngân hàng chưa được biết hoặc chứa đựng các yếu tố rủi ro, hoặc số tiền quá lớn.
     - Chúng ta cần chú ý là, rủi ro hoàn toàn thuộc về NHXN và quyết định cuối cùng có nên xác nhận L/C hay không là tùy thuộc vào khả năng phân tích của ngân hàng.
     
    4/ Ngân hàng được chỉ định:
    v    Chỉ định và nội dung chỉ định:
    Là việc NHPH chỉ định một ngân hàng khác (NHđCĐ) thay mặt mình tiếp nhận, kiểm tra và thực hiện thanh toán hay chiết khấu bộ chứng từ xuất trình phù hợp. Nói cách khác, NHđCĐ là ngân hàng tại đó L/C có giá trị thanh toán và chiết khấu.
    NHPH chỉ định cho NHđCĐ thực hiện các nội dung sau:
    + Trả tiền ngay cho người thụ hưởng nếu L/C quy định.
    + Chấp nhận hối phiếu nếu L/C quy đinh.
    + Cam kết trả chậm nếu L/C quy định.
    + Chiết khấu hối phiếu hoặc các chứng từ nếu L/C quy định.
    v    Trách nhiệm của NHđCĐ:
    ·       trừ khi NHđCĐ là NHXN, thì việc ủy quyền thanh toán, chiết khấu sẽ không ràng buộc NHđCĐ bất cứ nghĩa vụ nào phải thanh toán hoặc chiết khấu, trừ khi có sự đồng ý rõ ràng của NHđCĐ là sẽ thanh toán hoặc chiết khấu và sự đồng ý của NHđCĐ đã được thông báo cho người thụ hưởng.
    ·       bằng cách chỉ định một ngân hàng chấp nhận hối phiếu hoặc cam kết trả chậm, nghĩa là NHPH đã ủy quyền cho NHđCĐ này trả trước hoặc mua một hối phiếu đã được chấp nhận hoặc cam kết trả chậm và trả tiền khi đến hạn.
    ·       việc chỉ tiếp nhận hoặc kiểm tra và gửi chứng từ bởi NHđCĐ( không phải là NHXN) sẽ không tạo ra trách nhiệm cho NHđCĐ phải thanh toán hoặc chiết khấu, và cũng không cấu thành việc thanh toán hoặc chiết khấu.
    ·       khi NHđCĐ quyết định rằng xuất trình là phù hợp và thanh toán hoặc chiết khấu, thì phải chuyển giao chứng từ đến NHXN hoặc NHPH.
    ·       khi NHđCĐ hành động theo chỉ định, quyết định rằng xuất trình là không phù hợp, thì có thể từ chối thnah toán hoặc chiết khấu.
    ·       khi NHđCĐ hành đọng theo chỉ định, quyết định từ chối thanh toán hoặc chiết khấu, thì phải gửi một bản thông báo riêng về quyết định đó cho người xuất trình.
    ·       NHđCĐ hành đọng theo chỉ định, sau khi gửi thông báo từ chối thanh toán có thể gửi trả chứng từ cho người xuất trình vào bất cứ thời gian nào.
     
    IV/CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG TRONG GIAO DỊCH L/C
    Trong phương thức thanh toán ứng trước và ghi sổ, ngân hàng chỉ đơn thuần thực hiện chức năng chuyển tiền trên danh nghĩa người mua và nhân tiền trên danh nghĩa người bán. Trong nhờ thu các ngân hàng tham gia xử lý chứng từ do người bán gửi đến và hành động với vai trò đại lý của người bán.Ngoại trừ vai trò là đại lý và chức năng giám sát, trong cả ba phương thứ nêu trên, cá ngân hàng không có bất kỳ cam kết, trách nhiêm hay nghĩa vụ nào. Tuy nhiên trong phương thức L/C các ngân hàng đã tham gi chủ động và tích cực hơn nhiều, theo đó các ngân hàng thực hiện trả tiền theo cam kết của mình. Trong phương thức L/C có ba mối quan hệ hợp đồng được hình thành:
    ·       Hợp đồng 1,bao gồm quan hệ hợp đồng giữa người mau và người bán.Được thể hiện bằng các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán,bao gồm các chi tiết liên quan đến số lượng và chất lượng hàng hóa, cơ sở giá cả, ngày gửi hàng và ngày dự kiến hàng tới đích.Ngoài ra, trong hợp đồng mua bán, còn có điều khoản quy định về phương thức thanh toán.Nếu người mua và người bán đồng ý chọn phương thức L/C thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản trong hợp đồng mua bán.
    ·       Hợp đồng 2, bao gồm quan hệ hợp đồng giữa nhà nhập khẩu( người làm đơn mở L/C ) và ngân hàng phát hành L/C. Mối quan hệ hợp đồng này được thể hiện bởi tất cả hoặc bất cứ một trong các loại hợp đồng sau đây giữa nhà nhập khẩu và ngân hàng phát hành L/C:
    §       Các điều kiện và điều khoản thể hiện trong đơn mở L/C được ký bởi người mua gửi ngân hàng phát hành.
    §       Các điều kiện và điều khoản chung được ký bởi nhà nhập khẩu về biện pháp bảo đảm tín dụng, trong đó có điều khoản thể hiện việc thế chấp số hàng hóa liên quan cho ngân hàng phát hành L/C
    §       Các điều khoản và điều kiện quy định trong bất kỳ thủ tục nào được ký bởi nhà nhập khẩu, trên cơ sở đó, ngân hàng phát hành L/C trên danh nghĩa của người mua
    ·       Hợp đồng 3, bao gồm quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và nhà xuất khẩu. Mối quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên , nhưng lại là một nghĩa vụ hợp đồng độc lập của ngân hàng phát hành thể hiện cam kết của ngân hàng phát hành đối với nhà xuất khẩu và là cơ sở để thanh toán khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp.
    Cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành là hoàn toàn độc lập với với hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán( quan hệ hợp đồng 1) và độc lấp hoàn toàn với quan hệ hợp đồng giữa nhà nhập khẩu với ngân hàng phát hành ( quan hệ hợp đồng 2). Ngoài ra cam kết của ngân hàng cũng hoàn toàn độc lập với bất kỳ hợp đồng cơ sở nào liên quan đến hàng hóa/dịch vụ và các hoạt động khác.
     
    V/ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ:
    1.     L/C là hợp đồng kinh tế hai bên:
    Trong thực tế L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là ngân hàng phát hành và nhà xuất khẩu. vì mọi yêu cầu và chỉ thị của nhà nhập khẩu đã do ngân hàng phát hành đại diện, do đó tiếng nói chính thức của nhà nhậpp khẩu không được thể hiện trong L/C
    2.     L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa:
    Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C. trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng này
       Như vậy, L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi nghĩa vụ và quyền lợi của các bên có liên quan đến L/C.
    3.     L/C chỉ chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ:
    Các ngân hàng, chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết địng xem trên bề mặt chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không.
    Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao, do đó, chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả tiền, là căn cứ để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đi nhậ hàng của nhà nhập khẩu
       Khi chứng từ xuất trình phù hợp thì ngân hàng phát hành phải thanh toán vô điêu kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao khônmg hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ.
    4.     L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẻ của bộ chứng từ:
    Vì giao dịch L/C chr bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ, nên yêu cầu tuân thủ chặt chẻ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. để được thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp,tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu.
    5.     L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo?
    Xét về giác độ là công cụ thanh toán và phòng ngừa rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, thì L/C có ưu điểm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác. Chinh vì vậy mà phương thức này đã tồn tại phát triển như ngày nay. Tuy nhiên trong thực tiễn thương mại quốc tế, do diễn biến của thị trường, giá cả v.v. mà L/C có thể bị lạm dụng trở thành cônh cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán và là công cụ để gian lận và lừa đảo.
    Từ bản chất của L/C là chỉ giao dịch bằng chứng từ và khi kiểm tra chứng từ lại chỉ xem xét trên bề mặt, chứ không xem xét tính chất “bên trong của chứng từ ”, chính vì điều này mà không ít các tranh chấp xảy ra về tính chất tuân thủ chặt chẽ của chứng từ. Trong thực tế, lập được một bộ chứng từ hoàn hảo không có bất cứ sai sót nào là một việc làm không hề dễ chút nào, hơn nữa, giữa “phù hợp” và “sai sót”lại có gianh giới thật mong manh, tùy thuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm, động cơ của những người liên quan. Ngoài ra, do tính chất độc lập của L/C với hợp đồng, nên bộn lừa đảo có thể lợi dụng không gian giao hàng hoặc giao hàng không đúng, nhưng vẫn lập bộ chứng từ phù hợp để thanh toán. Thực tế trên thế giới đã xảy ra không ít trường hợp như thế.  
     
     
    B THƯ TÍN DỤNG
     
    I/ TÍNH CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA THƯ TÍN DỤNG
    ·                   L/C là phương tiện chủ yếu của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Do đó nếu không có L/C hoặc L/C hết thời hạn hiệu lực thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ không thể áp dụng.
    ·       L/C là văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người xuất khẩu.L/C được mở ra theo đơn mở L/C của người nhập khẩu mà đơn xin mở L/C lại căn cứ vào hợp đồng ngoại thương. Tuy nhiên khi ngân hàng đã phát hành L/C thì L/C đó hoàn toàn độc lập với hợp đồng, có nghĩa là ngân hàng chỉ có nghĩa vụ thanh toán cho người xuất khẩu khi người xuất khẩu thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản và điều kiện được quy định trong L/C đó chứ ngân hàng không cần biết đến hợp đồng ngoại thương như thế nào.
    ·       L/C là cơ sở pháp lý cho việc thanh toán, nó ràng buộc các bên hữu quan tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có trách nhiệm thực hiện theo điều lệ và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ đã dẫn chiếu.
     
    II/ NỘI DUNG THƯ TÍN DỤNG
    1.     Số hiệu L/C ( Credit Number):
    Mỗi L/C đều có số hiệu riêng chia làm 5 nhóm:
    §       Ký hiệu mã số thị trường
    §       Ký hiệu mã số ngân hàng mở L/C
    §       Ký hiệu mã số nhân viên
    §       Ký hiệu năm mở L/C
    §       Ký hiệu và số L/C
    Ví dụ 025.18.31.08 IL/C 0001
     Tạo thuận tiện trong việc trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịch thanh toán và ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán.
    2.     Ðịa điểm phát hành L/C:
    Ðịa điểm mở thư tín dụng là nơi ngân hàng mở phát hành thư tín dụng để cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Ðịa điểm này có ý nghĩa quan trọng, vì nó liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng, để giải quyết những bất đồng xảy ra (nếu có).
    Phản ánh 4 đặc trưng:
    §       Ngày có hiệu lực về sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng;
    §       Ngày ngân hàng mở L/C chấp nhận chính thức đơn xin mở L/C của người yêu cầu;
    §       Ngày bắt đầu thời hạn hiệu lực của L/C;
    §       Ngày để nhà xuất khẩu kiểm tra xem nhà nhập khẩu có thực hiện mở L/C như ghi trong hợp đồng hay không.
    Khi mở L/C người yêu cầu mở phải xác định cụ thể loại L/C. Mỗi loại L/C khác nhau quy định quyền lợi và nghĩa vụ những người liên quan tới thư tín dụng cũng khác nhau.
    5.     Tên, địa chỉ của những người liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ :
    §       Các thương nhân:Người yêu cầu, người thụ hưởng
    §       Các ngân hàng: Ngân hàng phát hành,ngân hàng xác nhận,ngân hàng thông báo, ngân hàng được chỉ định…
    §       Các cơ quan, tổ chức: Bộ thương mại, phòng thương mại và công nghiệp, cơ quan hải quan, công ty bảo hiểm…
    6.     Số tiền, loại tiền, khối lượng và đơn giá( Credit Currency and Amout):
    Số tiền phải được ghi vừa bằng số và bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải ghi cụ thể, chính xác. Không nên ghi số tiền dưới dạng một con số tuyệt đối, vì như vậy sẽ có thể khó khăn trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán. Cách tốt nhất là ghi một số lượng giới hạn mà người bán có thể đạt được.Để tránh nhẩm lẫn khi viết đơn vị tiền tệ nên tham chiếu tiêu chuẩn ISO về ký hiệu tiền tệ.
    7.     Thời hạn hiệu lực và địa điểm xuất trình của thư tín dụng:
    Là thời hạn mà ngân hàng phát hành cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều quy định của L/C.
    Thời hạn của L/C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C.
    Việc xác định thời hạn hiệu lực của L/C phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
    §       Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian phù hợp và không trùng với ngày giao hàng . Thời gian hợp lý này được tính tối thiểu bằng tổng số ngày cần thiết để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập.
    §       Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn của L/C
    §       Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng hóa cho nhà nhập khẩu một thời gian hợp lý.
    8.     Thời hạn trả tiền của thư tín dụng (Date of Payment):
    Liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền về sau (trả chậm). Ðiều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng thương mại đã ký kết.
    Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng (nếu trả tiền ngay) hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực (nếu trả chậm). Trong trường hợp này, cần lưu ý là hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng.
     
     
    9       Thời hạn giao hàng:
    Ðược ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng mua bán ngoại thương quy định. Ðây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao xong hàng cho bên mua, kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực.
    Thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của thư tín dụng. Nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngày thì ngân hàng mở thư tín dụng cũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín dụng cũng được kéo dài thêm một số ngày tương ứng.
    10  Những nội dung liên quan tới hàng hoá:
    Tên hàng,số lượng,trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu… cũng được ghi cụ thể trong nội dung thư tín dụng.
    11  Những nội dung về vận chuyển giao nhận hàng hoá:
    Theo FOB, CIF, CIP, CRF,…nơi giao hàng, nơi gửi hàng, phương thức vận tải, phương thức giao hàng,…Điều này tùy thuộc vào khả năng giao hàng của nhà xuất khẩu và khả năng nhận hàng của nhà nhập khẩu, phương thức vận chuyển,…Nếu những nội dung trên khó bảo đảm thì nhà xuất khẩu có quyền đề nghị điều chỉnh L/C.
    12  Các chứng từ mà người hưởng lợi phải xuất trình:
    Ðây cũng là một nội dung rất quan trọng của thư tín dụng. Bộ chứng từ thanh toán là căn cứ để ngân hàng kiểm tra mức độ hoàn thanh nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá của người xuất khẩu để tiến hành việc trả tiền cho người hưởng lợi.
    Ngân hàng mở thư tín dụng thường yêu cầu người hưởng lợi đáp ứng những yếu tố liên quan tới chứng từ sau đây:
    + Các loại chứng từ phải xuất trình: căn cứ theo yêu cầu đã được thoả thuận trong hợp đồng thương mại
     
    Thông thường một bộ chứng từ gồm có:
    Hối phiếu thương mại (Commerial Bill of Exchange)
    Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice)
    Vận đơn hàng hải (Ocean Bill of Lading)
    Chứng nhận bảo hiểm (Insurance Policy)
    Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin)
    Chứng nhận trọng lượng (Certificate of quality)
    Danh sách đóng gói (packing list)
    Chứng nhận kiểm nghiệm (Inspection Certificate)
    +Số lượng bản chứng từ thuộc mỗi loại
    + Yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ
    13 Sự cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng:
    Ðây là nội dung ràng buộc trách nhiệm mang tính pháp lý của ngân hàng mở thư tín dụng đối với thư tín dụng mà mình đã mở.
    Ví dụ: phần cam kết trong một thư tín dụng thường được diễn đạt như sau:
    “Chúng tôi cam kết với những người ký phát hoặc người cầm phiếu trung thực rằng các hối phiếu được ký phát và chiết khấu phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng này sẽ được thanh toán khi xuất trình và các hối phiếu được chấp nhận theo điều khoản của tín dụng sẽ được thanh toán.”
     
    III/ PHÂN LOẠI THƯ TÍN DỤNG:
    1.     L/C có thể hủy ngang (Revocable L/C )
    Là loại L/C mà ngân hàng mở L/C có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại L/C này ít được sử dụng.
    2.     L/C không hủy ngang (Irrrevocable L/C)
    Là loại L/C không hủy ngang, tức là sau khi mở L/C đã gửi L/C cho ngưởi xuất khẩu thì không được sửa đổi, bổ sung hay hủy ngang nó trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như không có sự đồng ý của các bên liên quan.
    3.     L/C không hủy ngang có xác nhận ( Confirmed Irrevocable L/C)
    Là loại L/C không hủy ngang, được một ngân hàng khác có uy tín và thế lực tài chính hơn ngân hàng mở L/C, ngân hàng này gọi là ngân hàng xác nhận đứng ra bảo đảm thanh toán cho người hưởng lợi khi người hưởng lợi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ mà ngân hàng mở L/C không có khả năng thanh toán.
    4.     L/C chuyển nhượng ( Transferable L/C)
    Là loại L/C không hủy ngang trong đó quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ đuợc chuyển nhượng một lần,chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.
    5.     L/C giáp lưng ( Back to back L/C)
    Là loại L/C mở dựa vào một loại L/C khác có nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình dựa vào L/C gốc để mở một L/C khác cho người cung cấp L/C sau gọi là L/C giáp lưng.
    6.     L/C tuần hoàn ( Revolving L/C)
    Là loại L/C không hủy ngang trong đó quy định rằng khi L/C đã được sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hiệu lực của L/C thì nó tự động lại có giá trị như cũ và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất giá trị hợp đồng.
    7.     L/C thanh toán dần dần ( Deferred L/C)
    Là loại L/C không hủy ngang, trong đó ngân hàng mở L/C cam kết với người xuất khẩu sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định cụ thể trong L/C đó.Đây là lại L/C trả chậm từng phần.
    8.     L/C có điều khoản đỏ ( Red clause L/C)
    Là một sự ủy quyền của ngân hàng mở L/C đối với ngân hàng chiết khấu ứng trước một khoản tiền cho người hưởng lợi có thêm nguồn vốn giao hàng cho L/C đã mở.Theo L/C này, người hưởng lợi có thể đòi một khoản tiền nhất định của L/C trước khi giao hàng. Khi người hưởng lợi đã nhận được một khoản tiền nhất định của L/C này thì trong tương lai, khi xuất trình chứng từ giao hàng tới ngân hàng chiết khấu, số tiền đó sẽ được trừ vào số tiền hàng xuất và người hưởng lợi chỉ nhận được số tiền bằng số tiền của hóa đơn trừ đi số tiền đã ứng trước theo điều khoản đỏ.
    9.     L/C có điều khoản T.T.R ( Telegraphic Transfer Reimbursement)
    Là loại L/C thông thường nhưng trong L/C có quy định cho phép ngân hàng phục vụ người hưởng lợi sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ phù hợp với những điều đã quy định trong L/C thì được phép điện đòi ngân hàng mở L/C hay một ngân hàng chỉ định trong L/C. Loại này rất có lợi cho người hưởng lợi vì được thanh toán tiền ngay khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ cho ngân hàng được chỉ định.
    10.L/C dự phòng ( Standby L/C)
    Theo tài liệu số xuất bản 515 của ICC:
    L/C dự phòng là loại L/C ( hoặc một thỏa thuận tương tự, dù được gọi hoặc miêu tả bằng cách nào) theo đó ngân hàng phát hành cam kết với người hưởng:
    §       Trả một khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C đã vay hoặc ứng trước
    §       Thanh toán các khoản nợ của người xin mở L/C, hoặc
    §       Bồi hoàn những thiệt hại do người xin mở L/C không thực hiện được nghĩa vụ của mình
    Loại L/C này thường do ngân hàng của người xuất khẩu mở L/C cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ các khoản chi phí thiệt hại trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người nhập khẩu.
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
    C/ QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ:
     
    I/  L/C có giá trị tại NHPH(available with Issuing bank)

    Nhà xuất khẩu

    Exporter
     
    Ngân hàng chuyển chứng từ(Remitting bank)
    Ngân hàng thông báo
    Advising bank
    Ngân hàng phát hành L/C(Issuing bank)
    Nhà nhập khẩu
    Importer
    (4)Thông báo L/C
    Advise L/C
    (5)Giao hàng
    Shipment of good
    (2)Đơn mở L/C
    Apply L/C
    (8)Đòi tiền
    Retirement
    (6’)Bộ chứng từ
    (3)Phát hành L/C
    Issue L/C
    (7)Trả tiền(qua NH)
    (6’)Bộ chứng từ
    (6)xuất trình
    (1)Hợp đồng ngoại thương(Sales contract)
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     

    Giải thích sơ đồ:
     
    (1) Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức L/C.
    (2) Căn cứ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương,nhà nhập khẩu làm đơn theo mẫu gửi đến ngân hàng phục vụ mình,yêu cầu ngân hàng này phát hành một L/C cho nhà XK hưởng.
    (3) Căn cứ vào đơn mở L/C,Nếu đồng ý,NHPH lập L/C và thông qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà XK để thông báo L/C cho nhà xuất khẩu.
    (4) Khi nhận được L/C, NHTB thông báo L/C cho nhà xuất khẩu.
    (5) Nhà XK kiểm tra L/C ,nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hành giao hàng,nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi,bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương.
    (6) và(6’) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lạp bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình (thông qua NHTB hoặc một ngân hàng khác) cho NHPH để được thanh toán.
    (7) NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ,nếu thấy xuất trình phù hợp thì cho tiến hành thanh toán;nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ và nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK.
    (8) NHPH đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi đã nhận được tiền và chấp nhận thanh toán.
     
    Ghi chú:
    Việc thể hiện hai ngân hàng là ngân hàng phát hành và ngân hàng chuyển chứng từ trong sơ đồ trên không có nghĩa là hai ngân hàng này phải hoàn toàn khác nhau, mà nhằm mục đích làm rõ:
    ·          Nghiệp vụ thông báo L/C và việc chuyển chứng từ thanh toán là hai nghiệp vụ độc lập nhau. Nghĩa là ngân hàng thông báo L/C không nhất thiết đồng thời phải là ngân hàng chuyển chứng từ.
    ·          Trong thực tế ngân hàng thông báo L/C thường đồng thời là ngân hàng chuyển chứng từ thanh toán.
     
    L/C có giá trị tại ngân hàng phát hành bao gồm hai trường hợp:
     
    Thứ nhất,là loại L/C trực tiếp, quy định người hưởng chỉ được xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng phát hành để được thanh toán. Ngân hàng phát hành không thanh toán cho ai ngoài người hưởng.L/C như vậy có điều khoản thanh toán quy định: “ Available with Issuing Bank by…”
    Thứ hai,L/C có chỉ định ngân hàng được chỉ định (không phải ngân hàng xác nhận), nhưng ngân hàng này không thực hiện chức năng được ủy quyền, mà đon thuần chỉ là ngân hàng chuyển chứng từ cho ngân hàng phát hành, nghĩa là bộ chứng từ được thanh toán tại ngân hàng phát hành.
     
     
     
     
     
     
     
    II/  L/C có giá tri tại NHđCĐ(available with nominated bank)

    Nhà xuất khẩu

    Exporter
     
    NHTB
    (Advising bank)
    Nhà nhập khẩu
    Importer
    NHPH L/C
    Issuing bank
    NHđCĐ
    (Nominated bank)
    (1)Hợp đồng ngoại thương(Sales contract)
    (8)Đòi tiền
    Retirement
    (6)Xuất trình
    Presenting
    (4)Thông báo L/C(Advise L/C)
    (3)Phát hành L/C(Issue L/C)
    (7’)Hoàn trả(reimbursement)
    (7)xuất trình(Presenting)
    (2)Đơn mở L/C
    Apply L/C
     
     
    (6’)Nhận tiền
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     

    CHÚ THÍCH:Các bước từ (1) –(5) giống như trường hợp L/C có giá trị tại NHPH.

    (5)Giao hàng

    (Shipment of good)
     
     
     
     
     
     
     
     



     
    Giải thích sơ đồ:
    Các bước từ (1) –(5) giống như trường hợp L/C có giá trị tại NHPH.
    (6) và(6’) Sau khi giao hàng, nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình cho NHđCĐ để được thanh toán.
    (7)và (7’)  NHđCĐ xuất trình chứng từ cho NHPH và đòi hoàn trả.
    (8) NHPH đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi đã được nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
    Ghi chú:
     
    Việc thể hiện hai ngân hàng là ngân hàng thông báo và ngân hàng được chỉ định trong sơ đồ trên không cò nghĩa là hai ngân hàng này phải hoàn toàn khác nhau, mà nhằm mục đích làm rõ:
    ·          Việc thông báo L/C và việc được ủy quyền thanh toán hay chiết khấu L/C là hai nghiệp vụ độc lập nhau. Nghĩa là ngân hàng thông báo không nhất thiết đồng thời là ngân hàng được chỉ định.
    ·          Trong thực tế, ngân hàng thông báo thường đồng thời là ngân hàng được chỉ định. Như vậy một ngân hàng chỉ đơn thuần thực hiện thông báo L/C thì không trở thành ngân hàng được chỉ định, một ngân hàng thông bào L/C lại được chỉ định thanh toán hay chiết khấu L/C thì đồng thời là ngân hàng thông báo và ngân hàng được chỉ định.
     
    ĐƠN YÊU CẦU PHÁT HÀNH L/C
    Để thanh toán được bằng L/C, thì người nhập khẩu phải viết đơn yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C. Căn cứ để viết đơn gồm:
    ¾     Mẫu in sẵn của ngân hàng
    ¾     Hợp đồng thương mại đã ký
    ¾     UCP 600 và ISBP 681
     
    Ngân hàng phát hành cần lưu ý khi nhận đơn mở L/C:
    1.     Phải ngăn ngừa việc người nhập khẩu đưa các tài liệu của hợp đồng cơ sở, hóa đơn báo giá và các chứng từ tương tự làm một bộ phận cấu thành bắt buộc của L/C.
    2.     Không đưa quá nhiều chi tiết vào L/C vì như vậy sẽ bất lợi cho các bên. L/C càng dài, càng chi tiết thì càng dễ bị lỗi, bị nhiễu khi truyền điện, gậy phức tạp, nhầm lẫn cho người hưởng cũng như người mở và cả cho ngân hàng
    3.     Tùy theo đối tượng khách hàng mà ngân hàng phát hành đưa ra mức ký quỹ hợp lý từ 0 đến 100% giá trị của L/C.
    Hiện nay các ngân hàng quy định tỷ lệ ký qũi ( 100%; dưới 100% hoặc không cần ký quĩ) đối với doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào:
    - Uy tín thanh toán của doanh nghiệp
    - Mối quan hệ của doanh nghiệp đối với ngân hàng
    - Số dư ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp
    - Công nợ của doanh nghiệp nhập khẩu
    - Tính khả thi trong phương án kinh doanh hàng nhập khẩu của đơn vị nhập khẩu
    * Cách thức ký quĩ:
    - Nếu số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng lớn hơn số tiền ký quĩ, ngân hành sẽ trích từ tài khoản tiền gửi chuyển sang tài khoản ký quĩ. Phòng nhập khẩu trực tiếp làm phiếu chuyển khoản nội dung ký quĩ mở L/C sau đó sẽ chuyển sang Phòng Kế toán để thực hiện
    - Nếu số dư tài khoản tiền gửi nhỏ hơn số tiền ký quĩ, giải quyết bằng hai cách sau:
    + Mua ngoại tệ để ký quĩ
    + Vay ngoại tệ để ký quĩ.
    4.     Đơn mở L/C là một hợp đồng kinh tế giữa nhà nhập khẩu và ngân hàng phát hành, nó bắt đầu có hiệu lực kể từ khinga6n hàng phát hành chấp nhận đơn mở L/C
     
    D/ NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI LỰA CHỌN HÌNH THỨC THANH TOÁN BẰNG L/C ĐỐI VỚI NGƯỜI NHẬP KHẨU / NGƯỜI MỞ L/C
    1. Trước khi mở L/C, người mua cần thỏa thuận cụ thể với người bán về các khoản thanh toán, lịch giao hàng, phương tiện giao hàng, và các chứng từ cần xuất trình.
    2. Người mua phải nhận thức rằng L/C không phải là hình thức thanh toán an toàn tuyệt đối vì ngân hàng chỉ giao dịch trên chứng từ chứ không biết đến hàng hóa. Nếu chứng từ phù hợp với các điều kiện, điều hoản của L/C thì người mua phải trả tiền mặc dù hàng hóa đã giao không đúng với hợp đồng.
    3. Đảm bảo chắc chắn là L/C phù hợp với hợp đồng
    4. Các điều kiện của L/C phải đảm bảo ngắn gọn, dễ hiểu, không nên đưa vào L/C các nội dung quá chi tiết và các quy cách kỹ thuật quá phức tạp.
    5. Trong quá trình giao dịch nếu có nghi ngờ, Quý khách hàng nên liên hệ ngay với NHNT để phối hợp xử lý.
    6. Người mua cầm xem xét để tránh rủi ro do biến động tỷ giá ngoại tệ.
     
     
    KẾT LUẬN
     
    Qua những nội dung trên, ta thấy phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu Hầu hết mọi giao dịch thương mại quốc tế đều được đảm bảo an toàn khi sử dụng hình thức này. Các qui định của L/C đều phải tuân thủ UCP 500 qua đó tạo được sự chặt chẽ, nhất quán trong giao dịch thương mại quốc tế.
    Trong các giao dịch xuất khẩu
    Nếu lựa chọn và sử dụng đúng, L/C có thể đem lại nhiều lợi ích và đặc biệt là sự an toàn cần thiết cho người xuất khẩu – đảm bảo là người nhập khẩu sẽ phải thanh toán tiền. Tuy nhiên, để có được các lợi ích này, người xuất khẩu nhất thiết phải thực hiện theo đúng các nguyên tắc và các qui định.
    Các lợi ích đối với người xuất khẩu:
    -   Ngân hàng thưc hiện thanh toán đúng như quy định trong thư tín dụng kể cả việc người mua có muốn trả tiền hay không.

    - Người mua không được từ chối thanh toán vì bất cứ lý do gì.

    - Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa

    - Thanh toán bằng thư tín dụng được thực hiện nhanh hơn so với nhờ thu
    - Khi chứng từ được chuyển đến ngân hàng phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm).
    - Khách hàng có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng.
    Trong các giao dịch nhập khẩu:

    Nếu lựa chọn và sử đúng, L/C có thể đem lại nhiều lợi ích và đặc biệt là sự an toàn cần thiết cho người nhập khẩu – đảm bảo là người xuất khẩu sẽ phải thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, để có được các lợi ích này, người nhập khẩu nhất thiết phải thực hiện theo đúng các nguyên tắc và các qui định.
     
    Các lợi ích đối với người nhập khẩu:

    - Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền.
    - Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả những gì theo qui định trong L/C để đảm bảo việc người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền).
    Như vậy, phương thức L/C đã dung hòa được lợi ích và rũi ro giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu,đây là ưu điểm vượt trội của phương thức này.
     
    Như vậy, phương thức L/C đã dung hòa được lợi ích và rũi ro giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, đây là ưu điểm vượt trội của phương thức này. Chính vì vậy, hiện nay phương thức này được sủ dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế
     
     
    thanh toán quốc tế