trang Blog

geoen_scorpiusTham gia: 04/07/2009
  • Những điều kiện và tiền đề của sự ra đời triết học Mác
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Những điều kiện và tiền đề của sự ra đời triết học Mác

    Sự hình thành triết học Mác là một tất yếu của lịch sử, một hiện tượng hợp quy luật. Nó là kết tinh của tất cả những giá trị cao quý nhất của triết học, văn học, khoa học của nhân loại. Đồng thời, cũng dựa trên những tiền đề cần thiết về mặt kinh tế, xã hội, khoa học đạt được thời đó. Có thể nói, triết học Mác ra đờiif là bước ngoặt cách mạng, là đỉnh cao trong sự phát triển lý luận triết học, vừa là sự tiếp thu, kế thừa biện chứng những di sản triết học và khoa học của nhân loại. Nói cách khác, sự hình thành và phát triển của triết học Mác không nằm ngoài dòng lịch sử chung của tư duy khoa học và văn hóa thế giới.

    Những năm 30 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bắt đầu đi vào những giai đoạn phát triển mới. Đặc biệt là những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh trở thành lực lượng kinh tế thống trị của Anh, Pháp và một phần ở Đức. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm bộc lộ những mâu thuẫn bên trong vốn có của nó và biểu hiện xã hội là cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân chống các nhà tư bản. Nhiều phong trào đấu tranh của công nhân đã trở thành khởi nghĩa vũ trang. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước tư bản phát triển đã đặt ra một nhu cầu khách quan là phải có một vũ khí lý luận sắc bén phản ánh được một cách khoa học quá trình vận động của cách mạng của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước tư bản Tây Âu những năm 30-40 còn mang tính tự phát, thiếu tổ chức, do đó cấp thiết đòi hỏi phải có một vũ khí lý luận khoa học. Mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt đã dẫn tới các phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Tây Âu vào những năm 40 càng chứng tỏ vai trò lịch sử của giai cấp tư sản về cơ bản đã hết. Và khi giai cấp công nhân trở thành kẻ thù số một của giai cấp tư sản thì giai cấp tư sản lại thỏa hiệp với giai cấp phong kiến để đàn áp giai cấp công nhân. Như vậy, các học thuyết kinh tế tư sản trước đây có giá trị khoa học thì nay bị các lý luận gia tư sản khuôn theo mục đích chính trị của giai cấp tư sản cầm quyền nên không còn giá trị khoa học nữa. Vì thế, triết học Mác ra đời đã phản ánh đúng đắn lịch sử khách quan phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân toàn thế giới. Và với sự ra đời của triết học Mác, giai cấp công nhân đã tìm thấy ở đó sức mạnh và vũ khí tinh thần của mình. “Cũng giống như triết học thấy giai cấp công nhân là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình. Triết học Mác ra đời như một học thuyết khoa học đã dẫn dắt phong tròa công nhân đi từ tự phát đến tự giác.

    Tiền đề kinh tế xã hội là hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác nhưng đó chỉ là những tiền đề khách quan đặt ra các nhu cầu lịch sử và tạo khả năng cho việc giải quyết các nhu cầu đó. Triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung không phải là một trào lưu biệt phái, nó không tách rời khỏi văn minh nhân loại. Nền văn minh đó, trực tiếp là những trào lưu tư tưởng và lý luận ở châu Âu thế kỷ XIX: triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Triết học cổ điển Đức có vai trò quan trọng về mặt lý luận đến sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của C.Mác và Ăngghen. C.Mác đã sử dụng những tư tưởng cách mạng phép biện chứng của Heghen để luận giải những khát vọng dân chủ - cách mạng của mình. Nhưng hai ông cũng phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm của Hêghen trong học thuyết về “ý niệm tuyệt đối”. Trên cơ sở đấu tranh, phê phán chủ nghĩa duy tâm, giải phóng phép biện chứng của Hêghen khỏi tính chất thần bí, C.Mác và Ăngghen đã xây dựng nên phép biện chứng duy vật – hình thức cao nhất của phép biện chứng. Một đại biểu khác của trong triết học cổ điển Đức có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành quan điểm triết học của C.Mác và Ăngghen là Phoiơcbách. Những tư tưởng triết học duy vật và vô thần của Phoiơcbách tạo tiền đề lý luận quan trọng trong bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản của C.Mác và Ăngghen. Tuy C.Mác và Ăngghen chịu ảnh hưởng của triết học Phoiơcbách nhưng C.Mác và Ăngghen đã tiếp thu ở đó một cách có phê phán. Như vậy, sự ra đời của triết học Mác dựa trên nền tảng là phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơcbách. Ngoài ra, nó còn là sự tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của nhân loại.

    Ngoài tiền đề về kinh tế xã hội và tiền đề về lý luận, sự ra đời của triết học Mác còn gắn với tiền đề về khoa học tự nhiên. Cuối XVIII đầu XIX, sự phát triển của khoa học tự nhiên chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn khoa học tự nhiên lý luận. Khoa học này đòi hỏi phải chuyển phương pháp siêu hình, máy móc sang phương pháp biện chứng, nghĩa là trình bày sự phát triển của tự nhiên như một quá trình vận động, liên hệ, thống nhất. Và ba phát minh lớn đã có ý nghĩa đối với sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng: định luật bao rtoanf và chuyển hóa năng lượng, học thuyết tế bào, học thuyết tiến hóa. Phát minh thứ nhất cho phép vạch ra được mối liên hệ thống nhất giữa các hình thức vận động khác nhau của thế giới vật chất. Phát minh thứ hai chứng minh cho sự thống nhất, sự phát triển từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp. Phát minh thứ ba giải thích tính chất biện chứng của sự phát triển phong phú, đa dạng của các giống loài trong tự nhiên.

    Như vậy, sự ra đời của triết học Mác không phải là kết quả của sự suy tư cá nhân mà là sự suy tư mang tầm vóc đúc kết và khái quát lịch sử thời đại.