trang Blog

Salem tímTham gia: 10/04/2011
  • HÔN NHÂN CỦA DÂN TỘC K
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    HÔN NHÂN CỦA DÂN TỘC K'HO Ở LÂM ĐỒNG

    Đề tài:

    HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI K’HO TỈNH LÂM ĐỒNG

    MỞ ĐẦU


    1. Lý do chọn đề tài
    2. Lịch sử vấn đề
    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
    4. Phương pháp nghiên cứu
    5. Đóng góp của đề tài
    6. Bố cục đề tài


    CHƯƠNG 1:

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN


    1.1. Các khái niệm
    1.1.1. Khái niệm hôn nhân

    1.Theo Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, 2006, tr 461:

     Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng.

     2. Theo từ điển bách khoa Wikipedi:

    Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội và/hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ.

    3. Sách chuyên luận, các bài báo khoa học
    a. Theo Thomas Barfield, The Dictionary of Anthropology, 1999, tr 304.
            Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và như thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia đình mới.
    b. Theo Emely A. Schultz, Robert H. Lavend, Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh, Nxb. Chính trị quốc gia, 2001, tr. 306.
             Mỗi nền văn hóa có định nghĩa riêng về hôn nhân, nhưng không nơi nào hôn nhân lại đồng nghĩa với quan hệ tính giao. Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con cháu.
    Một hôn nhân mẫu bao gồm: (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ; (2) quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên; (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra; (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họhàng bêchồng.
             “Hôn nhân là mối quan hệ ràng buộc giữa những người khác giới hoặc cùng giới với nhau, được cộng đồng hoặc pháp luật nơi họ sinh sống thưà nhận là vợ chồng


    1.1.2. Khái niệm về các loại hình hôn nhân
    1.1.2.1. Nội hôn tộc người

    Tập tục quy định hôn nhân chỉ được tiến hành trong nội bộ một nhóm người nhất định trong xã hội (bộ lạc, đẳng cấp, vv.). Dưới xã hội nguyên thuỷ, thị tộc, bào tộcngoại hôn. Còn bộ lạc bao gồm một số bào tộc và thị tộc là nội hôn. Trừ trường hợp cá biệt, để giữ tài sản lại cho thị tộc, tập tục cho phép nội hôn trong phạm vi thị tộc. Trong thời kì tan rã sâu sắc của xã hội nguyên thuỷ, cá biệt ở một bộ phận cư dân người Arập, người Uzơbêch (Uzbek), người Tuarêch (Tuareg), người Bantu (Bantu), có hiện tượng nội hôn tông tộc (bao gồm một nhóm thị tộc). Điều này là do xu hướng muốn giữ lại tài sản cho những người thân thuộc cùng huyết thống. Hôn nhân được tiến hành giữa con cái của các anh chị em theo dòng bố, cá biệt theo dòng mẹ. Còn hôn nhân trong nội bộ một đẳng cấp thì là điển hình cho chế độ đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ. Ở Việt Nam, thời nhà Trần, có tập tục quy định HNNT trong hoàng tộc để gìn giữ ngôi vua cho dòng họ Trần.

    1.1.2.1. Ngoại hôn dòng họ

    Những đôi trai gái khác dòng họ kết hôn với nhau.
    1.2. Tọa độ văn hóa của người Cơ ho Lạch
    1.2.1. Vị trí địa lý, địa hình tỉnh Lâm Đồng

    Tỉnh Lâm Đồng nằm trên cao nguyên cao nhất của Tây NguyênLâm Viên - Di Linh (cao 1500 mét so với mặt nước biển). Phía bắc Lâm Đồng giáp tỉnh Đăk LăkĐăk Nông, phía đông giáp Khánh HòaNinh Thuận, phía nam là tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai và phía tây là tỉnh Bình Phước.

    Phía bắc tỉnh là dãy núi Yang Bông có đỉnh cao 1749 mét. Dãy núi phía nam có đỉnh Đan Sê Na cao 1950 mét, đỉnh Lang Bian cao 2163 mét, Hòn Giao cao 1948 mét. Phía nam hai dãy núi là cao nguyên Lang Biang, trên đó có thành phố Đà Lạt ở độ cao 1475 mét. Phía đông và nam tỉnh có cao nguyên Di Linh cao 1010 mét, địa hình khá bằng phẳng và đông dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà.[1]

    Tỉnh lị của Lâm Đồng là thành phố Đà Lạt.

    1.2.2. Tình hình dân số, mật độ phân bố dân cư của tỉnh Lâm Đồng nói chung và dân tộc K’ho nói riêng

    1.2.2.1. Dân số, mật độ phân bố dân cư của tỉnh Lâm Đồng

    Lâm Đồng là một trong những tỉnh có số lượng dân tộc thiểu số khá đông, thuộc nhiều bộ tộc khác nhau như là: Người Cơ Ho, người Mạ, Ra Glai... Đáng kể nhất là người Cờ Ho, họ là dân tộc có số dân đông nhất so với các dân tộc khác. Họ định cư ở nhiều vùng khác nhau của Lâm Đồng, tập trung đông nhất là ở huyện Di Linh. người Kơ-ho lại chia ra thành nhiều chi họ khác nhau như: họ người Srê, họ người Jrài...

    Dân số tỉnh Lâm Đồng là 1.145.587 người (theo số liệu năm 2004). Mật độ dân số: 115 người/km², bao gồm:

    Thành phố Đà Lạt: 188.467 người – mật độ: 469 người/km²

    Thành phố Bảo Lộc: 153.362 người – mật độ: 659 người/km²

    Huyện Lạc Dương: 28.159 người – mật độ: 18 người/km²

    Huyện Đơn Dương: 89.717 người – mật độ: 144 người/km²

    Huyện Đức Trọng: 160.371 người – mật độ: 144 người/km²

    Huyện Lâm Hà: 149.219 người – mật độ: 93 người/km²

    Huyện Bảo Lâm: 107.561 người – mật độ: 71 người/km²

    Huyện Di Linh: 154.000 người – mật độ: 92 người/km²

    Huyện Đạ Huoai: 34.841 người – mật độ: 68 người/km²

    Huyện Đạ Tẻh: 45.291 người – mật độ: 89 người/km²

    Huyện Cát Tiên: 40.014 người – mật độ: 92 người/km²

    Huyện Đam Rông, mới thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2005, có dân số là 30.633 người

    Tổng số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 535.568 người. (Theo số liệu thống kê năm 2004, nguồn: [1])

    Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Lâm Đồng là 1.186.786 người

    1.2.2.2. Dân số, mật độ phân bố dân cư dân tộc K’ho

    Theo tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1989, dân tộc Cơ Ho có trên 82.917 người, đến 1 tháng 4 năm 1999 có 128.723 người[1]. Địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc này là tỉnh Lâm Đồng, bao gồm nhiều nhóm địa phương như Cơ Ho Srê, Cơ Ho Chil, Cơ Ho Nộp, Cơ Ho Lạch, Cơ Ho String và Cơ Ho Cờ Dòn.

    Cơ Ho Srê là nhóm có dân số đông nhất trong các dân tộc Cơ Ho.
    • Nhóm Cơ Ho Chil (ngày 1 tháng 4 năm 1989) có khoảng 18.000 người. Trước đây, họ cư trú rải rác trên vùng núi cao thuộc thượng lưu sông Krông Knô (Bắc và Tây-Bắc cao nguyên Lang Biang). Nhưng do sống du canh, du cư, nên từ lâu, họ đã di chuyển xuống phía Nam (vùng Bắc và Đông- Bắc thành phố Đà Lạt) kế cận với địa bàn cư trú của nhóm Cơ Ho Lạt, người Chu Ru và Raglai. Hiện nay, họ cư trú trên địa bàn các huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương, Đơn Dương và vùng phụ cận thành phố Đà Lạt...
    • Nhóm Cơ Ho Lạt cư trú tập trung ở Xã Lát và một số vùng thung lũng xung quanh thành phố Đà Lạt. Do có điều kiện tiếp xúc, giao lưu lâu dài với người Kinh, nên đời sống kinh tế nhóm này có những tiến bộ nhất định so với các nhóm Cơ Ho Dòn, Nộp, Chil...
    • Nhóm Cơ Ho Nộp cư trú phía Nam Di Linh, ven đường số từ Di Linh đi Phan Thiết. Do quá trình giao lưu văn hóa xã hội lâu đời với các dân tộc anh em ở Bình Thuận, nhất là người Chăm, nên người Cơ Ho Nộp còn lưu giữ một số yếu tố văn hóa của các dân tộc đó như tục ăn trầu, và trồng trầu, cau xung quanh địa điểm cư trú của mình.
    • Nhóm Cơ Ho Cờ Dòn cư trú ở miền núi phía Đông-Nam Di Linh, gọi là vùng Gia Bắc, kế cận với địa bàn cư trú của người Cơ Ho Nộp, tập trung đông nhất tại xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh.
    • Nhóm Cơ Ho T'ring cư trú rải rác ở Khánh Hòa, Lâm Đồng.

    1.2.3. Tình hình phát triển kinh tế và các đặc điểm văn hóa của người K’ho

    Lâm Đồng có diện tích trồng Trà lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên một phần lớn doanh thu của tỉnh là nhờ vào phát triển du lịch và xuất khẩu cà phê.

    Ước tính GDP/người năm 2010 là: 19.000.000 đồng)

    Mạ, K’ho là 2 dân tộc sinh sống lâu đời trên đất Lâm Đồng. Dân tộc Mạ có khoảng 25.237 người, cư trú chủ yếu ở vùng trung và hạ lưu sông Đồng Nai, gồm các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Dân tộc K’ho có khoảng 112.723 người, sống chủ yếu ở Di Linh, Đức Trọng, Lạc Dương, bao gồm các nhóm địa phương Chill, Lạch, Srê, Nộp...

    Dệt vải là nghề truyền thống nổi tiếng của người Mạ và K’ho. Bông vải được trồng trên rẫy lúa, sợi nhuộm bằng các loại màu tự nhiên lấy từ cây rừng hoặc cây trồng. Dụng cụ dệt thô sơ, hoa văn trang trí với những mô-típ cổ truyền như: khỉ, hổ, dao, xà gạt, mũi tên, chóe rượu cần, cối giã gạo với sản phẩm dệt thường là khố, váy, tấm đắp.

    Tiểu kết: Lâm Đồng là một tỉnh có đông các dân tộc thiểu số sinh sống như K’ho, người Mạ, Ra Glai, …. Mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc . Hôn nhân của người K’ho mạng những nét riêng mà dân tộc khác không có. Việc nghiên cứu về  hôn nhân của người K’ ho sẽ cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quan về lễ nghi, hình thức trong hôn nhân của người K’ho.

    CHƯƠNG 2:

    TRUYỀN THỐNG VÀ NGHI LỄ TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI CƠ HO LẠCH Ở TỈNH LÂM ĐỒNG

    1.3. Truyền thống hôn nhân

    1.3.1. Chế độ mẫu hệ - truyền thống hôn nhân của người K’ho

    Trong xã hội truyền thống của người Cơ Ho đã tồn tại hai hình thức gia đình theo chế độ mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Người phụ nữ đúng vai trò chủ động trong hôn nhân, sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đình hiếm muộn thì người phụ nữ vẫn có thể ở nhà chồng), con cái tính dòng họ theo mẹ, con gái là người thừa kế.

    1.3.2. Độ tuổi kết hôn:

     Độ tuổi kết hôn của người Cơ Ho thường là:

    Nữ : 16 - 17 tuổi

    Nam: 18 - 20 tuổi.

    1.3.3. Điều cấm kỵ trong hôn nhân của người K’ho

    Tập tục cổ truyền của người Cơ Ho tuyệt đối cấm kỵ việc kết nôn giữa những người có cùng một dòng họ, nhất là ở cùng một địa phương. Con chú, con bác, con dì, không được lấy nhau.

    Trái lại, con cô, con cậu từ hai phía có thể có quan hệ hôn nhân với nhau theo luật tục. Sau khi vợ chết, người chồng có thể kết hôn với người em gái của vợ. Và ngược lại, nếu chồng chết, người vợ góa có thể kết hôn với người em trai của chồng nếu đôi bên ưng thuận. Hôn nhân của người Cơ Ho dựa trên cơ sở sự ưng thuận giữa hai bên trai gái, cha mẹ không quyết định. Theo xu thế phát triển quá trình giải thể các gia đình lớn chuyển dần sang gia đình nhỏ đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là ở những vùng kinh tế phát triển hơn hoặc ở gần đường giao thông lớn, đô thị.

    1.3.4. Các nghi lễ hôn nhân
     1.3.4.1. Lễ ăn hỏi

    Sau khi đôi trai gái đã tìm hiểu rõ về nhau. Họ bàn bạc và thống nhất với nhau hẹn ngày gặp mặt hai họ. Theo phong tục “bắt chồng” của người K’ho, nhà gái sẽ phải chuẩn bị một số lễ vật cho nhà trai. Trong ngày gặp đó nhà trai sẽ  đưa ra điều kiện “thách cưới”. Nếu nhà trai chấp nhận người con gái kia và nhà gái đồng ý những điều kiện mà nhà trai đã nêu ra thì coi như buổi lễ ăn hỏi đã thành công, khi đó nhà trai sẽ nhận một phần lễ vật, phần còn lại sẽ nhận tiếp vào ngày sắp cưới được hai bên định sẵn. Ngược lại, nếu nhà trai không đồng ý chấp nhận người con gái này làm con dâu hay nhà gái không thể đáp ứng những diều kiện “thách cưới” thì họ nhà trai sẽ không cho lấy và cũng sẽ không nhận bất cứ một lễ vật nào.

    Về mặt sính lễ bây giờ đã thay đổi khác trước, họ không đòi trâu bò như ngày xưa mà hầu hết đã chuyển sang phương thức đổi thành tiền mặt hoặc vàng. Những anh, chị, em ruột của gia đình nhà trai sẽ được một số tiền hay đồ thổ cẩm nào đó. Còn cô, cậu, chú, bác đại diện bên nhà trai họ cũng sẽ được quyền đòi mỗi người một chỉ hay 5 phân vàng hoặc một số tiền mặt nhất định.

    Mọi thủ tục của lễ ăn hỏi giữa hai họ từ đây coi như đã hoàn thành.

    1.3.4.2 Lễ cưới

    Khi lễ hỏi đã kết thúc, cả hai họ đồng ý tất cả thì họ cùng nhau chọn một thời gian nào đó để tổ chức đám cưới cách thời điểm lễ hỏi khoảng một tuần, một tháng hay một năm tùy theo điều kiện của nhà gái. Tối trước ngày đám cưới, nhà gái sẽ mổ một con lợn, một nửa đưa cho nhà trai, một nửa sẽ giữ lại để tổ chức lễ cưới.

    Theo phong tục ngày xưa họ tự tổ chức đám cưới từ việc làm rạp cho đến những đồ ăn thức uống, cô dâu – chú rể mặc bình thường giản dị với những đồ thổ cẩm của dân tộc, trang điểm cũng rất nhẹ nhàng. Hiện nay do ảnh hưởng của bên ngoài nên việc tổ chức lễ cưới vẫn như xưa nhưng ít rườm rà hơn, cô dâu chú rể mặc y phục giống như người Kinh, biểu hiện bằng việc chú rể mặc vest, cô dâu mặc váy cưới. Lễ cưới vẫn tổ chức thành hai tiệc, buổi sáng dành cho hàng xóm, bạn bè của bố mẹ, buổi chiều là bạn bè của cô dâu chú rể, vẫn có nhảy múa, dàn nhạc linh đình

    với những bài hát vui, hát đố, hát giải về sự tích các loài vật, loài người và vũ trụ. Tóm lại trong đám cưới, đám hỏi của người K’ho những làn điệu dân ca đã trở thành một tục lệ không thể thiếu.

    Khi hai người đã trở thành vợ chồng rồi thì người con gái sẽ ở nhà trai khoảng một tuần, sau đó gia đình nhà trai sẽ hẹn nhà gái để đưa chú rể về nhà gái. Từ đó chú rể ở bên nhà gái cho đến hết cuộc đời.

    1.3.4.3. Vấn đề cư trú sau hôn nhân

    Sau khi làm lễ cưới xong thì chồng về nhà vợ sống
    2.5. Vấn đề ly hôn

    Trong cuộc sống vơ chồng, hai bên xảy ra xung đột và muốn đi đến ly hôn, sau khi ly hôn người chồng về nhà cũ ở và  để lại tất cả tài sản cho vợ, không được đem gì theo, con cái cũng không được đem theo mà để lại nhà vợ.

    Tiểu kết: như vậy, người K’ho do theo chế độ mẫu hệ nên người chồng phải về nhà vợ, và chịu mọi điều kiện nhà vợ đưa ra.


    CHƯƠNG 3:

    NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI K’HO

    2.4. Những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi

    Do ảnh hưởng của bên ngoài đã tác động đến phong tục hôn nhân truyền thống của người K’ho

    Do sự rườm rà của phong tục hôn nhân truyền thống. Nên người K’ho theo xu hướng phong tục hôn nhân bên ngoài.


    2.5. Biểu hiện của sự biến đổi trong hôn nhân của người Cơ ho

    Trong đám cưới người K’ho cũng có những bài hát vui, hát đố, hát giải về sự tích các loài vật, loài người và vũ trụ. Tóm lại trong đám cưới, đám hỏi của người K’ho những làn điệu dân ca đã trở thành một tục lệ không thể thiếu. Nhưng thật đáng tiếc hiện nay số nghệ nhân biết hát dân ca không còn nhiều và chủ yếu là những người cao tuổi.

    Tiểu kết: Do nhiều tác động của bên ngoài nên hiện nay nhiều phong tục, nghi lễ trong hôn nhân rườm rà đã không còn nữa thay vào đó là sự du nhập của cái mới, ít rườm rà, phức tạp, … .Nhưng như vậy sẽ làm mất đi những phong tục truyền thống, mất đi nét bản sắc của dân tộc. Chính vi vật việc giữ gìn nét đẹp trong văn hóa của các dân tộc là việc làm cấp thiết nhằm bảo vệ cái tốt, cái đẹp và xóa bỏ đi cái cổ hủ, lạc hậu. Từ đó làm đậm nét hơn nữa bản sắc của các dân tộc Việt Nam.
    Kết luận:

    Ở Lâm Đồng Dân tộc K’ho chiếm đa số và mang những nét văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó vấn đề hôn nhân của dân tộc này là một nét riêng đặc sắc. Người K’ ho theo chế độ mẫu hệ nên người chồng phải sang bên nhà vợ sống, khi ly hôn không có quyền lợi gì hết, tất cả tài sản, con cái đều để lại nhà vợ, sau đó mới về nhà cũ. Do nhiều tác động của bên ngoài nên hiện nay nhiều phong tục, nghi lễ trong hôn nhân rườm rà đã không còn nữa thay vào đó là sự du nhập của cái mới, ít rườm rà, phức tạp, … .Nhưng như vậy sẽ làm mất đi những phong tục truyền thống, mất đi nét bản sắc của dân tộc. Chính vi vật việc giữ gìn nét đẹp trong văn hóa của các dân tộc là việc làm cấp thiết nhằm bảo vệ cái tốt, cái đẹp và xóa bỏ đi cái cổ hủ, lạc hậu. Từ đó làm đậm nét hơn nữa bản sắc của các dân tộc Việt Nam.