Đăng nhập

Giai thoại về Hoàng Gia

Giai thoại về hoàng gia

“Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân?”

Hôm nay là ngày kỷ niệm 20 năm thành lập Văn Phòng Quốc Tế Champa (International Office of Champa), hãy cùng nhau hé mở cánh cửa bí mật vào một nền văn hoá rực rỡ, tưởng là bị lãng quên, đó là văn hoá Champa, mà ngưòi Việt quen gọi là Chiêm thành hay Chàm, Hời hay Lồi. Ngưòi Chàm tự gọi là Chăm hay Champa, tên một loài hoa.

Hoa champaca màu trắng, vừa giống hoa ngọc lan vùa giống hoa sứ. Trong một chuyến đi cruise đầu năm 2008, tôi mang theo tập san Champaka, bìa có in một bông hoa sứ. Một nhân viên người Bali mượn đọc và cho hay hoa champaca cũng là hoa của đảo Bali, thuộc Indonesia. Anh cũng hiểu một số chữ Chàm in trong sách. Từ đó thủy thủ đoàn nguời Indonesian và tôi chào nhau theo kiểu Bali và Chàm, cũng giống người Việt xá nhau khi vào chùa, hai tay chắp truớc ngực, đầu hơi cúi. Bông hoa và tay chắp, như dấu hiệu văn hoá xuyên quốc gia, bỗng dưng mang lại niềm vui dịu dàng suốt cuộc hải hành dù giữa một biển ngưòi xa lạ.

Hương thơm của nền văn minh rực rỡ của vương quốc Champa, xứ sở của trầm hương, đã được nhiều nhà sử học và khảo cổ học nghiên cứu. Tuy nhiên, sức tàn phá cuả thiên nhiên và con người thô bạo hơn, đến nỗi một thi sĩ người Việt là Phan Ngọc Hoan, yêu Champa đến lấy bút hiệu Chế Lan Viên, đã ai oán kêu lên : 

Chắc có lẽ linh hồn ta lay động
Khi vội vàng trở lại nước non Chiêm

Chiến tranh liên tục giữa hai nước láng giềng Chàm-Việt xảy ra hàng ngàn năm đã tàn phá cả hai dân tộc. Chỉ nhắc loáng thoáng đôi điều nơi Đại Việt Sử Ký Toàn Thư:

Đời Lê, năm 982, “…vua Lê Đại Hành chém Vua Chiêm là Phế Mị Thuế tại trận, bắt sống quân giặc không biết bao nhiêu mà kể, bắt được kỹ nữ trong cung trăm ngừoi và một thầy tăng người Thiên Trúc, lấy các đồ quí mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá huỷ tôn miếu, vừa một năm thì trở về Kinh sư.”

Đời Lý, năm 1044, vua Lý Thái Tôn mang quân đi đánh Chiêm Thành, “…Quách Gia chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Bắt sống hơn 5,000 nguời, còn thì bị quan quân giết chết, máu đầy gươm giáo, xác chất đầy đồng. Vua lấy làm thương xót mới hạ lệnh rằng “Kẻ nào giết bậy ngưòi Chiêm thành thì sẽ giết không tha…”

Năm 1069, “Vua Lí Thánh Tông bắt vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn nguời….

Về phía Đại Việt, ngoài những lần quân Chàm quấy đảo nơi biên giới, kinh thành Thăng Long cũng ba lần bị thớt voi Chàm dẫm nát vào những năm 1370, 1377 và 1382 do việc vua Chế Bồng Nga đòi lại hai châu Ô- Lý.

Sử sách cũng nhắc đến những khoảng thời gian hòa bình, khi liên minh Chăm-Việt dựa lưng vào nhau chống quân Nguyên. Mối giao hảo đẹp đẽ tới nỗi Thuợng Hoàng Trần Nhân Tôn, lúc đó là thiền sư, sang viếng thăm nước Chăm suốt 9 tháng. Chuyến đi này cũng khởi đầu cho cuộc nhân duyên giữa vua Chế Mân 43 tuổi và công chúa Huyền Trân 19 tuổi. 

Nhắc lại lịch sử làm gì? Không ngoài mục đích nhắc nhở nhau, rằng không có qúa khứ, sẽ không có hiện tại. Không thể thay đổi lịch sử, thì hãy cùng nhau ghi nhận, học tập những chinh chiến can qua, để thấy bài học lịch sử gồm cả khiếm khuyết của các lãnh đạo, và sự bất toàn nơi chính-sự các quốc gia.

Những giọt lệ nặng chĩu dài trên má của ông Từ Công Thu - anh cả của nhạc sĩ Từ Công Phụng - ngưòi sáng lập Văn Phòng Quốc Tế Champa, khiến bài phát biểu của ông bị ngưng lại nhiều lần, cho thấy nỗi khắc khoải khôn nguôi về một vết thương còn tươi máu. Giấc mơ phục hồi vưong quốc Champa hoàn toàn bị vua Minh Mạng dập tắt năm 1832 khi lãnh thổ cuối cùng của Champa bị đổi tên thành Bình Thuận. Lãnh thổ mất, nhưng Champa không mất, bởi vì trong Chàm có Việt, trong Việt có Chàm. Chăm-Việt đã bất khả phân ly từ hàng ngàn năm truớc.

Thế kỷ 10 và 11, dân số Đại Việt ở đồng bằng sông Hồng từ 2 triệu đến 2.600.000, thì con số tù binh 50,000 chiếm tỷ lệ khá lớn. Đám tù binh này bị an trí ở nhiều nơi mà dấu tích còn ghi đến ngày nay:

Phía Tây Thăng Long, 2 làng Yên Sở, Đắc Sở thuộc tỉnh Hưng Yên, có đền Lý Phục Man, chung quanh có trồng rất nhiều dừa, một sản phẩm hiếm hoi của đất Bắc. Có thể tù binh của bộ tộc Dừa của nước Chăm đã trồng những hàng dừa trên để nhớ đến cố huơng. Tạ Chí Đại Trường dẫn Trần Quốc Vuợng, cho biết ngay tại Yên Sở tới bây giờ, vẫn thấy “dấu vết một nơi an tháp tù binh Chàm, vẫn nói tiếng với ngữ điệu khó nghe nhận”.

Trong số 50.000 tù binh có 100 mỹ nữ, vũ nữ hoàng gia Chiêm. Hưng Yên nổi tiếng với hát chèo, hát ả đào, có thể xuất phát từ các cung nữ Chàm. Nhóm tù binh nữ đã có kỹ thuật dệt vải riêng, nên có cả đền bà Chúa Dệt Lĩnh. Các ca nữ này cũng đã trao truyền lại những khúc hát Nam Ai Nam Binh vọng về quê hương hết sức bi thương.

Vương tử Trần Nhật Duật hay cưỡi voi đến thôn Da-da-li –Việt gọi trệch là thôn Bà Già- nơi tù binh Chiêm sinh sống, chơi mấy ngày mới về.

Chùa Bà Đanh, hữu ngạn sông Đáy, thuộc thôn Đanh Xá, hay Đinh Xá, thuộc huyện Kim Bảng, cũng là một làng có nguồn gốc của tù binh Chăm.

Chùa Dạm, Bắc Ninh, nổi tiếng với cột đá cao chừng 5m, một khối hình trụ (đường kính 1m30) chồng lên một khối hộp (1m4 x 1m6) - hai bộ phận sinh dục nam nữ - là biểu hiệu cho sự trường tồn, một biệt sắc rất Chăm. 

Tháp Bảo Thiên, nóc được lợp bằng đồng, cao 12 tầng, cũng là công trình của thợ Chàm. Khi quân nhà Minh xâm chiếm Đại Việt, đã gỡ lớp đồng để đúc khí giới. Chỉ mới cách đây vài tháng, tháp Bảo Thiên là đề tài tranh dành giũa hai giáo hội Ki-Tô giáo và Phật giáo trong nước. Rất ngộ, không thấy hai giáo hội - và đồng nghiệp - nhắc nhở về dấu tích lịch sử hay hỏi ý kiến sở hữu chủ thật sự của địa điểm này, là dân tộc Việt Nam.

Ảnh của Vũ Kim Lộc - Cổ Vật Huyền Bí – NXB Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội 2006. Cây trầm hương bằng vàng, thế kỷ 4-5. Một loại Cây Đời của Champa, tìm thấy ở Nhà Bè. Một tuyệt phẩm vô song, cả về ý tưởng lẫn kỹ thuật làm nữ trang. Cây cao 95mm, chiều dài của tán 130mm, chiều rộng 87mm, nặng 363,27 gram. Lớp vàng dát dầy 0,3mm. Cây đuợc tạo theo dáng bộ phận sinh vật nữ, hướng lên trời để giao thoa với thần thánh. Tổng cộng 8 trái và 26 bông hoa, nói lên ước nguyện sinh sôi nảy nở.

Vào đến miền Trung, sự pha trộn văn hóa Chăm-Việt còn rõ ràng hơn: từ tục thờ cúng Cá Ông, đến việc thờ nữ thần Thiên Y A Na - bà mẹ vương quốc Champa - ngự ở đền Ngọc Trản, tức điện Hòn Chén, mà triều đình nhà Nguyễn sắc phong làm Thượng Đẳng Thần. Người Bắc di cư 1954, mang theo bà chúa Liễu Hạnh tá túc thờ chung ở đền này. 

Theo Phan Khoan, cống phẩm của Champa cho Đại Việt năm 1659 gồm 2 con voi đực, 20 con bò sắc vàng, 6 cặp ngà voi, 10 sừng tê giác, 50 cân sáp vàng, 50 khăn luạ trắng, 200 bó vi cá, 200 cây gỗ mun, 1 cây cột buồm, 500 nón lá. 

“Nón lá che ngang mặt chữ điền”! Cả hai, nón lá và khuôn mặt chữ điền đều là tặng phẩm Chăm. Người Việt nói “đội nón”, người Chàm nói “đuô non”. Miền Bắc, phụ nữ chít khăn mỏ quạ, ngày hội mới đội nón quai thao. Ở miền Trung, nón lá phổ thông hơn. Chốn kinh đô Huế, nón lá hoá thân thành chiếc nón bài thơ. Tà áo dài Việt in hệt tà áo cổ truyền của Chăm, chỉ khác có sẻ tà. Phụ nữ đồng bằng sông Hồng đa số có mặt tròn, hơi tèn tẹt, mắt hai mí lót hơi húp. Nguợc lại, phụ nữ miền Trung có trán cao hơi dô, mũi cao, mắt to sâu hình trái hạnh, gò má cao, quai hàm vuông, đôi nguời có tóc quăn, vì vậy có ca dao “Tóc quăn chải lược đồi mồi. Chải đứng chải ngồi tóc vẫn còn quăn”. Khác biệt giữa phụ nữ Bắc và Trung không biết có phải do máu Chàm pha trộn? Cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu có nhận xét “Ở miền Trung, không ai là không có máu Chàm” không phải vô lý. Cộng cư và hoà huyết luôn đi đôi, truớc khi có những “nhà nước” kẻ vạch biên giới hoặc những sử gia phải uốn bút viết sử theo nhu cầu của triều đại.

Mai Hắc Đế (722) nổi dậy chống nhà Đường, quê ở Hà Tĩnh có cha là người Chăm, mẹ Việt.

Năm 1499, vua Lê Hiến Tông xuống chiếu …“Từ nay trên từ thân vương, dưới đến trăm họ, nhất luật không ai được lấy đàn bà con gái nước Chiêm thành làm vợ cả hay vợ lẽ để cho phong tục được thuần hậu”. “Từ nay nhân dân đạo Quảng Nam không được thuận tiện cướp bóc dân Man (ám chỉ dân Chiêm), mua bán nô tì riêng. Ai trái lệnh sẽ bị tội.” - cho thấy việc hôn nhân với nguời Chàm rất phổ biến từ quan đến dân. Chiếu vua bỏ quên giới phụ nữ Việt, có lẽ họ đuợc lập gia đình với chồng Chăm? Đó là tình hình Thăng Long.

Kể từ 1588, Nguyễn Hoàng làm trấn thủ vùng Thuận Hoá và bắt đầu cuộc Nam tiến từ 1611. Những ngưòi đi theo Nguyễn Hoàng có họ hàng thuộc huyện Tống Sơn (Thanh Hoá) cùng quân lính vùng Thanh Nghệ. Di dân thuở ban đầu không thể mang theo gia đình, những cuộc hoà huyết vói dân bản địa Chàm chắc chắn đã ra khỏi luật vua.

Vì vậy, tôi linh đình phản đối câu ca dao mà tác giả vô danh phát biểu dưới nhãn quan… thái thú Tô định.

"Tiếc thay cây quế giữa rừng 
 Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo"

Ngưòi Chăm theo mẫu hệ, con gái phải dâng lễ vật đi cưới con trai. Đằng này, ông vua đa tình Chế Mân đã theo yêu cầu của thượng hoàng Trần Nhân Tôn thuận dâng hai châu Ô, Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên) để cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1306, tháng sáu, công chúa Huyền Trân sang Chiêm. Năm 1307, tháng năm, vua Chế Mân băng. Tháng sáu, vua đựợc hoả táng. Tháng mười, Trần Khắc Chung tuân lệnh vua Trần Anh Tôn sang Chiêm, lập mưu đón công chúa Huyền Trân và thế tử Đa Da về Việt; vào lúc đe doạ về một cuộc hoả táng đã không còn.

Theo sách sử và phong tục Chàm, lên giàn hoả là một điều tự nguyện chỉ chánh cung mới đuợc khẩn nài nếu muốn, và phải đuợc hội đồng hoàng gia duyệt xét. Hoàng hậu Tapasi - gốc người Java – đã đuợc đưa về nước sau ngày vua Chế Mân từ trần. Công chúa Huyền Trân không phải chánh cung, nên không được lên giàn hỏa chết theo đấng quân vương.

Triều Trần cướp công chúa về là bội hôn. Cướp ngưòi nhưng không trả đất là bội ước. Điều ai oán, sau khi về tới Thăng Long, với sự cay độc của một triều đình ảnh hưởng Nho giáo, Huyền Trân đã vào chùa tu, khi mới ngoài 20 tuổi. Thế tử Đa Da mồ côi bé bỏng, không hề đuợc sử sách nhắc tới, dù chỉ một lần.

Cũng may, văn hiến nước Việt cũng vẫn còn, nên câu ca dao này không chính thức ghi trong sử Việt. Cũng không may, câu ca dao này vẫn được các văn sĩ thời nay trích dẫn tỉnh bơ – hệt như họ là hậu duệ của thái thú Tô Định hay quan toàn quyền Decoux – Các quan thái thú/toàn quyền tân thời này coi thuờng lịch sử, khinh rẻ tấm chân tình của vua Chế Mân, cũng coi rẻ cả bước chân ngàn dậm ra đi của công chúa Huyền Trân. Thử hỏi, không có miền Trung, làm gì có miền Nam? Một dải đồng bằng sông Hồng - mà vua Trần tả “bé bằng cái bàn tay, mà làm sao đặt ra lắm ban lắm bệ thế”- làm sao chống trả nổi đe doạ triền miên từ phương Bắc? Suốt một ngàn năm, người Việt Giao Chỉ không tiến xa hơn đèo Ngang để đặt chân tới đất Nhật Nam. Chỉ 600 năm sau công chúa Huyền Trân, biên giới cực Nam của nước Việt đã như ngày nay.

Tổ tiên thế nào, chúng ta nhận chịu như thế ấy. Nhưng không vì thế ngồi hưởng sự buồn đau của dân tộc Champa. Hãy vọng về cố đô Mỹ Sơn, vọng về cố đô Thăng Long, tưởng nhớ đến mối u tình của vua Chế Mân và Công Chuá Huyền Trân, tưởng niệm triệu triệu sinh linh Việt-Chăm lót máu suốt giải giang sơn, và hiểu câu thơ của Nguyễn Bính khác với lối mòn lãng mạn,

Huyền Trân Huyên Trân Huyền Trân ơi  
Mùa xuân mùa xuân mùa xuân rồi 
Ngoài kia chín vạn bông tròi nở 
Riêng có tình ta khép lại thôi

Không việc gì phải khép lại! Ngay cả thảm kịch cũng thiêng liêng và ích lợi nếu nhận biết nỗi đau lịch sử không của riêng ai. Trong nuớc, vừa mở hội thảo “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn: Một hội thảo lịch sử”. Chắc cũng đã đến lúc ngưòi Việt đủ tự tin và bình tâm mở nhiều hội thảo chính thức về sự đa nguồn gốc của Việt tộc, trong đó có Champa, một trong những cội nguồn của Việt tộc, cả DNA lẫn văn hoá. Chỉ sự lương thiện ấy mới có thể tạo được những rung cảm giống nhau về đất nứơc và con ngưòi, yếu tố cần thiết cho sự thống nhất và đoàn kết từ trong sâu thẳm.

Những học giả người Chàm, ngừơi Tây Phương nghiên cứu Champa đã đành, cũng không thiếu gì học giả người Việt để ngòi bút tự do vượt khỏi lũy tre xanh chật hẹp khi viết về nguồn cội Champa. Bình Nguyên Lộc là tác giả nhắc đến “Lạc Lồi” như một trong những pha trộn chủng tộc trên đất Việt. Trong nước có Ngô Văn Doanh, ở Pháp có Lê Thành Khôi, ở Úc có Nguyên Nguyên, Nguyễn Đức Hiệp. Ở Cali có Tạ Chí Đại Trưòng, Nguyễn Hy Vọng, Thu Tứ. Ở Texas có Nguyễn Cúc… Mới hôm qua, đài VNCR giới thiệu về ngày sinh nhật của IOC trên làn sóng, cộng thêm sự có mặt của giới truyền thông và đông đảo ngưòi Việt trong buổi lễ kỷ niệm hôm nay, cho thấy dù kết quả ban đầu có khiêm nhường, cũng xin các anh em Chăm ghi nhận những ân cần ấy, để trái tim đỡ bị rạn nứt; và lòng tin vào cuộc đời và giòng sinh mệnh Champa sẽ không bao giờ phai nhạt.

 “Champa”để chỉ quốc gia; “Chăm” để chỉ ngưòi. Trứơc nay, người Việt hay gọi Chàm hay Chiêm, cũng giống như ngưòi Chăm, gọi ngưòi Việt là Yuôn, đều không có ý xúc phạm nhau. Hiện nay trong nuớc sử dụng từ “Chăm” để tỏ ý tôn trọng dân tộc Chăm. Tuy nhiên, trong bài này, chúng tôi vẫn dùng, lúc thì Chàm, lúc Chăm, lúc Chiêm để không đứt đoạn với quá khứ. Thi sĩ Chế Lan Viên đã dùng chữ Hời, nhưng đã có ngưòi Việt nào yêu ngưòi Hời hơn ông?  

Công nữNgọc Hoa, nàng là ai?

Trước khi Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc cho ấn hành cuốn “Nguyễn Phúc tộc Thế phả” (nhà xuất bản Thuận Hóa, 1995) thì khi đề cập đến bốn người con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên,hầu hết các tài liệu lịch sử vì không biết tiểu sử của hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa (hoặc có thể vì lý do khác) nên chỉ ghi là “khuyết truyện”.

      Tập san BAVH (2) ghi như sau:

1)-Ngọc Liên: [Mẹ là hoàng hậu(3)] Vợ của Nguyễn Phúc Vinh,con trưởng của Mạc Cảnh Huống, phó tướng, trấn thủ Trấn Biên,về sau đổi là Nguyễn Hữu Vinh.(4)

2)-Ngọc Vạn: (Mẹ là hoàng hậu) Không để lại dấu tích.

3)-Ngọc Khoa:(Mẹ là hoàng hậu) Không để lại dấu tích.

4)-Ngọc Đỉnh:(không rõ mẹ là ai) Lấy Nguyễn Cửu Kiều, Nghĩa Quận công, con của Lê Quảng, tước Quận công(4). Bà mất năm Giáp Tý (1684).

      Từ khi “Nguyễn Phúc tộc Thế phả” được xuất bản tại Huế (1995)thì tiểu sử hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa mới được công bố rõ ràng :

  • Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (con gái thứ hai của Sãi vương) Năm Canh Thân(1620 ) bà được Đức Hy Tông (Sãi vương) gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II.Về sau nể tình bà,vua Chân Lạp cho người Việt lập một dinh điền tại Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay).
  • Nguyễn Phúc Ngọc Khoa (con gái thứ ba  của Sãi vương) Năm Tân Mùi (1631) bà được Đức Hy Tông gả cho vua Chiêm Thành là PôRôMê.Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm được tốt đẹp.

Sách “Dân tộc Chàm lược sử” cũng có ghi chép về cuộc hôn phối Việt Chiêm nầy.

      Sau khi “Nguyễn Phúc tộc  Thế phả”được phát hành và sau khi đài truyền hình VTV ở Sài Gòn chiếu phim “Thời gian vĩnh cửu”(1996) - phim do đài truyền hình CV21 của Nhật và đài VTV của Việt Nam phối hợp thực hiện – thì năm 1997, trong sách Hội An do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành, ở chương 3 mục 1”Hai người đàn bà Hội An ở Nhật Bản”, tác giả Nguyễn Văn Xuân viết:”Sotaro, âm là Mộc Thôn Tông Thái Lang. Dòng họ nầy rất giàu có và đã sang ở Hôi An rất sớm,bằng cớ còn lưu  lại là một bức thư ngắn bằng chữ nôm gởi cho chúa Nguyễn. Mộc Thôn là chủ một chiếc tàu riêng.Ông cư trú tại đây làm ăn và gây nhiều cảm tình mật thiết với chúa Nguyễn Phúc Nguyên.Ông được chúa Nguyễn tin cậy, giao cho nhiều trọng trách ở Hội An.Vào năm 1619 chúa Nguyễn lập cho ông một tờ thư xác nhận ông đã tự nguyện ở dưới gối (tức là làm chức quan trung thành với chúa ) Sau đó chúa cho ông lấy họ Nguyễn  tên Đại Lương, cự danh Hiển Hùng.Chúa cũng mưu sự giao thông lâu dài ,tốt đẹp với Nhật Bản nên gả con gái là Ngọc Khoa cho ông.(cf Trần Gia Phụng/Ai đưa công chúa sang ngang)

      Trên “Đặc san Quảng Đà”năm Mậu Dần 1998 do nhà xuất bản Sông Thu ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ xuất bản tháng 6/1998, trong bài”Những nét đại cương về thành phố Hội An, mục”Hội An và giai thọai công chúa Ngọc Khoa”đưa ra cả hai thuyết về công chúa Ngọc Khoa như sau:

1.-Công chúa đã kết hôn với vua Chăm Pa là Po Ro Mê. 

-2-

2.-Công chúa kết hôn với một thương khách người Nhật Bản đến buôn bán nhiều năm tại Hôi An (1603 – 1619) tên là Araki Sotaro, tên Việt là Nguyễn Đại Lương. Bà đã theo chồng về Nhật năm 1620,gặp lúc Nhật cấm tàu buôn xuất dương,đành ở lại Nagasaki, lấy tên Nhật là Okakutome,gọi thân mật là Anio. Họ sinh hạ được một người con gái,đặt tên là Yasu. Sotaro qua đời năm 1636 và công chúa Ngọc Khoa cũng mất vào năm 1645;ngôi mộ của hai người đươc chôn cất trong khuôn viên chùa Daionji, nơi họ đã bỏ công sức xây cất và trùng tu.(Trần Gia Phụng/Ai đưa công chúa sang ngang).

      Trong bài viết trích dẫn trên, tác giả Trần Gia Phụng lập luận rằng bà vợ của thương nhân Sotaro chắc chắn không thể là công nữ Ngọc Khoa. Nhưng Trần Gia Phụng không xác định bà vợ đó là ai.Ông chỉ phỏng đoán rằng:

1.-Vì muốn tăng giá trị của người đàn bà ông yêu mến, Sataro có thể nói với gia đình hoặc với bà con rằng vợ của ông là công chúa hay gì đi nữa, làm sao ai biết được?

2.-Bà vợ của Sataro có thể là một người bà con trong dòng họ Nguyễn Phúc,có thể đã được Nguyễn Phúc Nguyên, khi ông còn là hoàng tử trấn nhậm ở Quảng Nam, tác thành cho hai bên lập gia đình với nhau. Biết đâu Nguyễn Phúc Nguyên nhận người đàn bà nầy làm con nuôi trong gia đình để làm tăng giá trị của cuộc hôn nhân? Dù thế nào đây cũng là một điều lý thú có thể nghiên cứu thêm bằng những tài liệu về phía Nhật Bản (Trần Gia Phụng/bài đã dẫn).

Nhận xét:

1)- Về phiên âm tên Araki Sotaro: taro âm Hán Việt là thái lang.Theo phong tục Nhật Bản, thái lang là tên đặt cho người con trai trưởng.(Có vài tài liệu ghi là Sataro Araki ,đó là ghi theo kiểu người Âu, tên trước, họ sau).Tên Việt Nam của Sataro là Nguyễn Thái Lang, có lẽ là dựa theo chữ taro .Có vài tác giả gọi là Nguyễn Đại Lương, chắc là do nhầm lẫn vì chữ Thái và chữ Đại (Hán tự) chỉ khác nhau cái dấu chấm, còn chữ Lương là phần bên trái của chữ Lang. Araki Sotaro đọc theo âm Hán Việt là Hoang Mộc Tông Thái Lang.Tác giả Nguyễn Văn Xuân phiên âm là Mộc Thôn Tông Thái Lang e không đúng (Mộc thôn = Kimura)

2.- Như trên đã nói,tác giả Trần Gia Phụng phỏng đoán vợ của Sotaro có thể là một người con nuôi và ông gợi ý phải nghiên cứu thêm những tài liệu về phía Nhật Bản.Có lẽ ông muốn nói đến bản dịch bộ sách”Hòa văn ngọai thiên thông thư”(trong đó ghi chép những liên hệ của người Nhật đến buôn bán ở Hội An từ năm1559 đến1674, kể cả câuchuyện của Sataro) mà ta chưa có.

      Trong một bài viết của ông Đỗ Thông Minh, một cựu du học sinh ở Nhật Bản nhan đề là “Người Việt  Nam đầu tiên ở Nhật Bản” tác giả có nhắc đến cuốn”Những Samurai của biển”(Umi no Samuraitachi)do Ichiro Shiaishi viết có ghi chép về cuộc hôn nhân Nhật Việt nầy. Chúng ta chờ đợi những phát hiện mới từ phía những tài liệu Nhật Bản nầy.

3)-Cũng trong bài viết”Người Việt Nam đầu tiên ở Nhật Bản”, tác giả ghi rõ ràng….”Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Hoa ,còn có tên là Vương Gia Cửu là người Việt đầu tiên đến định cư ở Nhật Bản.

      Một tác giả khác, ông Mai Thanh Hải, trong cuốn”Chuyện kín cấm thành”(nhà xuất bản Văn Hóa Thông TinVN, 2008), trong chương”Lấy chồng ngọai quốc”, trang 16 viết rằng…..”…Chúa Nguyễn Phúc Nguyên có 5 con gái, cô lớn tên là Ngọc Liên,…..cô út là Ngọc Đỉnh….còn lại ba con gái nữa…..công nữ Ngọc Vạn gả cho vua Chân Lạp,…công nữ Ngọc Khoa gả cho vua Chăm Pa là PôRôMê,và công nữ Ngọc Hoa gả  cho một thân vương Nhật Bản đứng đầu các doanh nhân sang làm ăn buôn bán ở cửa biển Hội An.(Bà Ngọc Hoa không để lại tư liệu, hồi ức nào)”

      Còn nữa, Việt Sử Giai Thọai có dẫn lời của cụ Đào Trinh Nhất(5),cho biết Chúa Nguyễn Phúc Nguyên có 5 con gái theo thứ tự là Ngọc Liên, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa, Ngọc Đỉnh và Ngọc Hoa.

      Không ai trong 3 tác giả trên cho biết xuất xứ của thông tin trên cho nên ta không biết cái tên Ngọc Hoa lấy ở đâu ra.

Thế còn BAVH thì sao?

BAVH năm 1933, cuốn 4 trang 268 , trong bài “Carnet d’un collectionneur”(sổ tay của một nhà sưu tập), đoạn nói về những vùng có kiều dân Nhật bản xưa ở Đông Dương(Anciennes colonies japonaises en Indochine) chép như sau:

Parmi les armateurs japonais qui commerçaient avec l’Indochine,au XVIIe siècle, il convient plus spécialement de retenir les noms dedeux d’entre eux qui commerçaient avec l’Annam : Araki Sôtarô etShichirôbei Eikechi.

Sôtarô avait épousé en 1620, une jeune fille de la famille royalede Cochinchine. Elle s’appelait Amô et suivit son mari au Japon.Lorsque l’édit du Shogun interdit, en 1636, toute sortie du Japondes sujets japonais, ou toute entrée de ceux qui s’étaient expatriés,elle était encore dans ce pays.Elle mourut en 1645. Elle est enterrée au temple Daion-ji àNagasaki, et les descendants de son mari conservent un miroir qu’elleavait apporté d’Annam (1).

(Trong số chủ tàu buôn Nhật Bản giao thương với Đông Dươngvào thế kỷ 17,đặc biệt ghi nhận hai người trong số họ đã buôn bán với An Nam:Araki Sotaro và Shichirôbei Eikechi.

Vào năm 1620,Sotaro kết hôn với một tiểu thư thuộc hoàng gia….

BAVH không hề nhắc đến cái tên Ngọc Hoa , cũng không khẳng định tiểu thư đó là con gái của Chúa Nguyễn, mà chỉ nói chung chung :thuộc hoàng gia….

Trở lại thông tin của tác giả Mai Thanh Hải “Bà Ngọc Hoa không để lại tư liệu, hồi ứcnào”, nếu ta hiểu ý ông muốn nói là “bà vợ VN của Sotaro không để lại tư liệu, hồi ức nào’’ thì e không đúng. Bởi vì qua những tài liệu đã phổ biến, ta đã nghe nói đôi điều về bà:

      -    Bà là con của chúa Sãi,(hoặc là người trong hoàng gia) năm 1619 được gả cho một  thương nhân Nhật Bản tên là Araki Sotaro.

  • Bà có tên Nhật là Wakaku, tên thân mật là Anio.
  • Bà theo chồng về Nhật năm 1620,định cư ở Nagasaki.
  • Bà mất năm 1645, sống lâu hơn chồng 10(hay 9?)năm và - thật hi hữu – bà chết cùng ngày cùng tháng với chồng.
  • Bia mộ chung của hai ông bà được chôn ở chùa Đại Âm Tự(Daionji), Nagasaki.

      -    Hai người có một con gái tên là Yasu (Gia Tu).

  • Viện Bảo tàng Nghệ thuật Nagasaki còn lưu trữ chiếc gương soi của bà.
  • Hằng năm từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 10, trong lễ hội Okunchi ở Nagasaki có một màn đám rước do hai em bé đóng vai Sotaro và Wakaku đứng trên mũi một chiếc thuyền buôn. (Okunchi là một lễ lớn, là niềm tự hào của Nagasaki).  

-4- 

 Những điều nghe nói đó nay đã được tác giả Trương Văn Tân làm sáng tỏ thêm qua một bài ký sự viết sau lần trở lại thăm viếng Nhật Bản gần đây. Thiên ký sự (với hình ảnh minh họa) có tên là:”Một thoáng Phù tang

Trong đọan nói về “Nàng công nương họ Nguyễn” tác giả viết  như sau:”…Tôi đi xe điện tìm đến con đường lịch sử Teramachi-dori( đường Xóm  Chùa). Ở giữa con đường Xóm Chùa là Đại Âm Tự (Daionji). Ngôi chùa nầy có ít  nhiều liên hệ đến Việt Nam. Phía sau ngôi chùa là một nghĩa trang lâu đời dọc  theo triền núi, có hàng ngàn, hàng chục ngàn ngôi mộ chôn hài cốt của giai cấp  quí tộc và giai cấp võ sĩ “samurai” vài trăm năm trước.

      …..Tôi đến thăm chùa với mục đích tìm ngôi mộ của một vị công nương Việt  Nam, concủa Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được gả về Nagasaki năm  1619, kết hôn với Araki Sotaro(Hoang Mộc Tông Thái Lang), một thương nhân  nổi tiếng đương thời và cũng là nhà hàng hải kiệt xuất thuộc dòng dõi samurai …Trước cổng mộ thành phố Nagasaki có dựng một bảng tóm tắt tiểu sử của ông  Araki Sotaro và và người vợ, một công nương Việt Nam với cái tên Nhật  Wakaku(Vương Gia Cửu)…..Tôi tìm hiểu thêm về mộ phần của Araki Sotaro qua  thông tin trên trang sao chụp từ sách tài liệu của nhà chùa. Được biết, Araki  Sotaro sau khi thành hôn với công nương Wakaku đã tự đặt thêm một cái tên Việt  Nam là Nguyễn Thái Lang. Công nương Wakaku nổi tiếng và được người dân  Nagasaki gọi bằng cái tên thân mật là Anio-san……Công nương mất năm 1645,  như vậy bà sống ở Nhật 26 năm, được ban pháp danh là Diệu Tâm, một pháp  danh rất Việt Nam. Cũng theo trang thông tin nầy, hơn hai trăm năm sau, vào  thời Minh Trị, mộ phần của Araki Sotaro và Anio-san đã được con cháu đời thứ  13 cải táng và mộ phần hiện tại chỉ có đời thứ 3, thứ 12, 13 và 14(Araki Sotaro là  đời thứ 1)

            Đọc bảng tiểu sử và tìm hiểu phần tiếng Nhật trên đó tôi có nhận xét sau:

  • Phần tiếng Nhật: về lai lịch,bảng tiểu sử ghi:”Vương Gia Cửu, một người con gái bà con bên ngọai của Quốc vương An Nam. Chính quyền Nagasaki đã dùng chữ musume =người con gái (thường)chứ không dùng chữ hime(chữ nầy dùng để chỉ con gái của tướng quân Nhật, vợ tướng quân Nhật hoặc dùng để dịch chữ “Princess”).

    - Phần tiếng Anh: Ở đọan viết bằng tiếng Anh, chữ relative được dùng để chỉ liên    hệ giữa công nương Wakaku và quốc vương An Nam , chứ không phải dùng chữdaughter (During a trip to An Nam (Viet Nam) in 1619 Araki Sotaro was  betrothed to Wakaku, a relative of the King of An Nam).

Tôi bắt đầu tin rằng công nữ Wakaku chỉ là con nuôi của Chúa Sãi. Mãi đến khi tôi tình cờ tìm được một tài liệu của Hội Hữu Nghị Nagasaki – Việt Nam (Nagasaki-Việt Nam Frienship Association) thì sự thật đã sáng tỏ: 
 
 

-5- 
 
 Trong bài Sotaro Araki and Princess Anio (của Hội Hữu Nghị Nagasaki-VietNam) có đọan sau: 

There was a man in Nagasaki, Sotaro ARAKI, who lived from the late 16th century to the early 17th century. At first he was a samurai in Kumamoto not far south of Nagasaki, and moved to Nagasaki in 1588 and started living there on an  estate. Japanese were quite active in those days, going down south and building  many Japanese towns in Southeast Asia.

·         Sotaro, getting aboard a goshuin-sen (officially-licensed trading ship), went to visit the Philippines, Vietnam, Thailand, Cambodia and was said to have acquired a vast fortune from trade. In 1619 in what is now Hue, he met and married Wakaku, a woman of maternal bloodline of the Vietnamese King who adoptedher as a daughter. Sotaro went home with his new bride, and built an emporium (trading house) in Motoshikkui-machi in Nagasaki. He was surely the first Japanese to have an international marriage and came back to Japan with a King’s daughter, albeit an adopted one. Princess Wakaku, while living in Nagasaki, was called Ani-o-san and was well-liked by the Nagasaki citizens…

Xin tạm dịch đọan cần thiết:…”Năm 1619 tại nơi mà hiện nay gọi là Huế ,ông gặp gỡ và kết hôn với một người con gái thuộc dòng bên ngọai được Vua AnNamnhận làm con nuôi. Sotaro trở về nước với cô dâu mới, và gầy dựng một trung tâm thương mại tại Motoshikkui-machi,ở Nagasaki. Có lẽ ông là người

      Nhật đầu tiên kết hôn với người nước ngoài và trở về Nhật với một công nữ  con Vua, cho dù chỉ là con nuôi….”

Đến đây có thể tạm kết luận như sau:

Chúa Sãi có 4 người con gái được ghi vào sử sách  và tiểu sử cũng khá rõ ràng. Ngoài 4 công nữ đó,Chúa còn một người con nuôi gả cho một thương nhân Nhật Bản thuộc dòng dõi võ sĩ đạo, giàu sang và có thế lực. Bà theo chồng qua sinh sống ở Nhật trong 26năm,  được người Nhật ở Nagasaki quí mến. Khi bà chết, mộ bà được chôn cạnh mộ chồng ở bên trong một ngôi chùa tại Nagasaki, sau nầy con cháu đời thứ 13 đã cải táng đi đâu không rõ.

      Riêng về câu “thuộc dòng bên ngọai của vua An Nam” theo thông tin  từ tài liệu Nhật bản thì nếu hiểu vua An Nam chỉ Chúa Sãi thì bên ngọai đây là chỉ họ Mạc. (Thương nhân các nước ghi ghé Đàng Trong, họ xem chúa Nguyễn là vua An Nam, hơn nữa “tại nơi mà nay gọi là Huế”giúp ta hiểu vua An Nam chính là Chúa Sãi)

Chuyện của bà là một chuyện có thật và tên thật của bà là gì không còn cần thiết nữa. Đã có người gọi bà  là Công nữ Ngọc Hoa, thôi thì ta hãy cứ tạm gọi bà bằng tên đó cũng được. 
 

Gặp Hoàng Tử Nguyễn Phúc Bảo Ngọc, tức ông Georges Vĩnh San

Ở nhà quê, các cánh đồng hoa dầu đang nở hoa dưới làn mưa xuân trải dài như những tấm thảm vàng rực rỡ, óng ánh. Mọi người tất tả gieo, trồng. Tôi cũng còn vài trăm củ khoai giống để trồng, nhưng vào một ngày mưa như hôm nay, đất sét ướt bám dính cả kí lô chung quanh đôi giày, và trơn tuốt luốt như các tuyến trượt tuyết...đã đến lúc tôi phải đi gặp gỡ ông Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Lộc: Ông Georges Vĩnh San.Lịch sử đối với tôi là trường học, sách vở, văn khố, phim, ảnh...cũ kỹ, xơ xác, xa xôi, vàng úa bởi bụi thời gian. Khi ở trung học, như những bạn thiếu niên đồng lứa, tôi học, các chương lịch sử cận đại thời nhà Nguyễn, mà không hiểu phải học thuộc lòng những điều này để làm gì ? Những ngày tháng năm sinh, những ngày tháng tử, những ngày lên ngôi... chẳng có quan hệ gì với tôi cả.

Bốn mươi năm sau, tôi nhìn lại lịch sử nước tôi với con mắt khác. Vài người chế diễu công việc khảo cứu lịch sử và những bài tôi viết, cho rằng tôi trở thành "bảo hoàng". Không, lịch sử nhà Nguyễn là một phần của lịch sử Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đã gánh chịu chung một số mệnh, nhưng bi thảm hơn, vì hoàng tộc là hoàng tộc, họ còn có phương tiện, và dân...thì là dân, nghèo khổ và dốt chữ . Thời đại quân chủ chấm dứt tại Việt Nam năm 1945, với sự cáo chung của Bảo Đại. Chúng ta đang sống trong tư tường cộng hòa với các giá trị như Độc Lập, Tự Do, Bình Đẳng và  Nhân Ái.

Ba vị vua nhà Nguyễn bị áp giải đi đày bởi chính quyền thuộc địa Pháp dưới thời đệ tam Cộng Hòa Pháp là vua Hàm Nghi tại Alger (Algérie), Thành Thái và Duy Tân tại đảo La Réunion trong vùng biển Ấn Độ Dương.

Lúc đi đày, Hàm Nghi mới có 18 tuổi, Thành Thái 37 tuổi (bị quản thúc đã 9 năm rồi) và Duy Tân 16 tuổi. Các vua còn trẻ, nhưng có can đảm chống lại sự thống trị của chính quyền thực dân thuộc địa.

Đó là một giai đoạn lịch sử giao thời giữa hai luồng ảnh hưởng văn hóa đối nghịch, đó là ảnh hưởng của Trung Hoa và ảnh hưởng của Pháp, mà các thế lực ảnh hưởng của tầng lớp quan lại trong triều đình theo xu hướng Trung Hoa còn rất mạnh mẽ. Tiếng Hán của Trung quốc vẫn còn là chữ viết chính thức của nhà Nguyễn. Mãi cho đến năm 1920, các khóa thi cuối cùng là vào năm 1919, vua Khải Định mới bãi bỏ các kỳ thi chữ Hán (thi Hương, thi Hội, thi Đình), chính thức mở đường cho chữ "Quốc Ngữ“ viết theo mẫu tự la tinh, mà các giáo sĩ Bồ Đào Nha, rồi sau đó Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine và những nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã chuyển âm và phát triển từ đầu thế kỷ thứ mười bẩy.

Sự can đảm của ba vua được dân chúng kính trọng và thương mến. Tiếc thay, cả ba vua đều bị phản bội và công việc kháng chiến không kéo dài được là bao lâu.

Ngày nay, sự tưởng niệm ba vua không thể được coi là một công việc đánh lạc hướng dư luận, vì chính cùng một chiều hướng với tinh thần của Duy Tân, người ta biết phân biệt ai là bạn của dân tộc Việt Nam – và những người khác (những người Pháp yêu chuộng tự do và những người thực dân theo Pétain). Tướng Decoux là một trong những trường hợp lạ lùng đã từ chối không theo lời kêu gọi của phong trào nước Pháp Tự Do (France Libre), mà dọn đường cho quân Nhật vào Việt Nam, đem lại những hậu quả tang thương mà mọi người đều biết.

Sự lùng bắt Hàm Nghi và Duy Tân xảy ra một cách bi thảm vì hai vua trẻ này đã rời khỏi cung điện và cấm thành để đi kháng chiến. Trong mục đích cứu vua Duy Tân khỏi bị Pháp xử tử, quan đại thần Hồ Đắc Trung, theo lời yêu cầu của những người phụ tá vua đã bị bắt giam vào ngục, giảm trách nhiệm của Duy Tân và đổ hết tội lỗi lên đầu các người phụ tá. Vì thế, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề và Nguyễn văn Siêu của phong trào Việt Nam Quang Phục Hội bị xử tử chém đầu, Duy Tân bị truất ngôi và đi đày khỏi xứ.

Các dấu vết của các vua, sau thời Tự Đức, còn tìm thấy ở Pháp, ở Algérie và ở đảo La Réunion. Những cuộc gặp gỡ các nhân vật, gọi là, có trong lịch sử, và những công việc tham khảo tại chỗ đưa lịch sử nước tôi về gần hơn, sống động hơn và hiện đại hơn.

Ông Georges Vĩnh San và phu nhân, bà Monique, tiếp đón tôi niềm nở tại nhà riêng. Vừa trông thấy ông bằng xương bằng thịt, tôi thấy ông thật có tướng hoàng gia, có phẩm cách trang nghiêm nhưng khiêm tốn, nhất là hai tai to như tai Phật, dấu hiệu của sự tốt bụng và rộng lượng. Giọng ông rất trầm, đều đặn, và cách nói đơn giản, thành thật tăng thêm vẻ bình tĩnh, tự tin.

Georges Vĩnh San là con trưởng của hoàng tử Vĩnh San và bà Fernande Antier, sinh ngày 31 tháng một năm 1933 tại Saint Denis thuộc đảo La Réunion. Ông bà Vĩnh San có bốn người con, ba gái một trai. Sau một thời gian sinh sống ở đảo, ông bà trở về hưởng hưu tại Pháp.

Trước khi tôi có dịp đặt câu hỏi về tên của ông, thì ông đã than thở về cái sự rắc rối hành chánh này. Một sự luyến tiếc lớn, thổ lộ qua các câu...“ bà biết không, tôi truyền lại cái tên này (Vĩnh San) cho các con tôi và cháu tôi, nhưng năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa, sẽ không ai biết đấy vào đâu...“

Khi bị giải đi đảo, vua Duy Tân trở lại thành hoàng tử Vĩnh San, bị chính quyền thuộc địa ghi chép trong sổ sách hành chánh một cách đơn giản chỉ với tước vị hoàng tử và tên gọi, hoàn toàn không cần biết đến tông tích của vua, cũng không cần tìm hiểu danh tánh cho đúng.

Một người bạn Pháp cũng than thở là các tên họ vua chúa Việt Nam sao rắc rối quá và muốn tôi giải thích.

Georges Vĩnh San đáng lẽ phải mang tên hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Ngọc Guy Georges.

Nguyễn Phúc là họ của ông, xuất phát từ dòng nhà Nguyễn.

Bảo Ngọc là tên gọi, Guy Georges là tên gọi theo tiếng Pháp.

Ai là cha của Georges Vĩnh San ?

  Kể từ thời Minh Mạng, hoàng đế thứ hai, con của Gia Long, truyền lệnh đặt tên con trai của vua theo thứ tự các chữ trong một bài thơ của ông, thì dân chúng biết chữ theo dõi dễ dàng các đời vua kế nghiệp qua các tên họ . Minh Mạng cũng đặt cho mỗi con của Gia Long một bài thơ, dùng theo cách tương tự, coi như đặt ra các „phòng“ của dòng nhà Nguyễn.

Bài thơ dùng cho dòng của Minh Mạng có tên "Đế Hệ Thi“ gồm có bốn câu như sau:

Miên Hồng Ưng BửuVĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham KếThuật
ThếThoại QuốcGia Xương. 

Thí dụ: Tên gọi các hoàng tử gồm có hai chữ, chữ thứ nhất lấy theo thứ tự trong bài thơ, xác định thế hệ của người đó.

Vua Thành Thái tên là Nguyễn Phúc Bửu Lộc

Vua Duy Tân tên là Nguyễn Phúc Vĩnh San

Ông Guy Georges Vĩnh San tên là Nguyễn Phúc Bảo Ngọc

Gia phả họ Nguyễn bắt đầu từ thời Nguyễn Bặc năm 970. Nguyễn Bặc là Đinh Quốc Công dưới triều nhà Đinh.

Đầu thế kỷ thứ mười sáu, dưới thời nhà Lê Trang Tông, Nguyễn Kim xin vua Lê vào nam để tránh sự ám hại của họ Trịnh (Hoành sơn nhất đái, vạn đại chung thân, theo Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Như thế, kể từ năm 1533, Nguyễn Kim khởi nghiệp dòng chúa Nguyễn. Trong vòng gần ba thế kỷ, các cuộc chiến tranh liên miên giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn gieo rắc nhiều khổ sở ai oán cho dân chúng, đồng thời làm suy yếu quyền lực của triều đình nhà Lê.

Họ Nguyễn Phúc xuất hiện lần thứ nhất với sự chào đời của một hoàng tử, con của Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn thứ hai, ngày 16.08.1563. Một bà vương phi, nằm mộng thấy thần cho chữ „Phúc“, đặt tên đứa trẻ mới sinh là Nguyễn Phúc Nguyên (hoàng tử thứ sáu). Trở thành chúa Nguyễn thứ ba, Nguyễn Phúc Nguyên truyền lệnh đặt Nguyễn Phúc làm họ cho tất cả các thế hệ sau mình, để tránh nhầm lẫn với các dòng khác cũng mang họ Nguyễn.

Có hai cách viết, ở miền Bắc viết "Nguyễn Phúc“, ở Huế và trong Nam viết "Nguyễn Phước“, phần thì do ảnh hưởng của tiếng nói địa phương, phần thì theo tục lệ tin dị đoan phải nói trại đi để tránh xui xẻo cho người mang tên.

Thêm nữa, mỗi vua có cả thẩy năm tên. (Người ngoại quốc thường lẫn lộn và không hiểu vì thế)

Một thí dụ:

Tên tục: Nguyễn Phúc Chiêu

Tên hoàng tử: Nguyễn Phúc Bửu Lân

Tên hiệu: Thành Thái (niên hiệu)

Tên miếu: Hoài Trạch

Tên vua: Công Hoàng Đế

Các nhà sử học và dân chúng gọi các vua bằng niên hiệu.

Niên hiệu

 Tên tục 

 Tên hoàng tử

Thời gian trị vì

Gia Long

Nguyễn Phúc Noãn (Chũng)

 Nguyễn Phúc Ánh   

 1802-1820

Minh Mạng

Nguyễn Phúc Kiểu

Nguyễn Phúc Đảm

1820-1840

Thiệu Trị

Nguyễn Phúc Tuyền

Nguyễn Phúc Miên Tông

1841-1847

Tự Đức

Nguyễn Phúc Thì

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm

1847-1883

Dục Đức

Nguyễn Phúc Ưng Ái

Nguyễn Phúc Ưng Chân

1883

Hiệp Hòa

Nguyễn Phúc Thăng

Nguyễn Phúc Hồng Dật

1883

Kiến Phúc

Nguyễn Phúc Hạo

Nguyễn Phúc Ưng Đăng

1883-1884

Hàm Nghi

Nguyễn Phúc Minh

Nguyễn Phúc Ưng Lịch

1884-1885

Đồng Khánh

Nguyễn Phúc Biện

Nguyễn Phúc Ưng Kỷ

1886-1888

Thành Thái

 Nguyễn Phúc Chiêu

Nguyễn Phúc Bửu Lân

1889-1907

Duy Tân

Nguyễn Phúc Hoảng

Nguyễn Phúc Vĩnh San

1907-1916

Khải Định

Nguyễn Phúc Tuấn 

Nguyễn Phúc Bửu Đảo

 1916-1925

Bảo Đại

Nguyễn Phúc Thiển

Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy

1926-1945

                       

Guy Georges Vĩnh San thuộc vào đời thứ tám kể từ Gia Long, xuất thân từ giòng hoàng tộc chính và là hậu duệ của ba vua Dục Đức – Thành Thái – Duy Tân. Cha của ông là vua Duy Tân, ông nội là vua Thành Thái, ông cố nội là vua Dục Đức.

Tất cả vua nhà Nguyễn đều xuất thân từ dòng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Trong suốt một thời gian 143 năm mười ba vua nhà Nguyễn đã vạch con đường định mạng cho cả dân tộc Việt Nam.

Cần nói đến ở đây một điểm nhỏ, thời đại các chúa Nguyễn kéo dài khoảng 250 năm (1533-1777), cho đến khi Gia Long xưng Hoàng Đế năm 1802 thì các người kế vị của Gia Long, không phải chỉ là "vua“, mà là "Hoàng Đế“. Như Nã Phá Luân là Hoàng Đế, chứ không phải vua. Các chúa Nguyễn đã chiếm đất Chàm và đất Chân Lạp (miền Nam Việt Nam, từ Bình Thuận xuống đến mũi Cà Mau) và Gia Long đã thống nhất lãnh thổ Việt Nam (Đàng Trong luôn cả Đàng Ngoài), lập thành một "đế quốc“.

Trong cách nói thông thường, thì người dân chỉ gọi đơn giản là "vua“: vua Hàm Nghi, vua Duy Tân...

Nhưng sau khi Thiệu Trị qua đời, sự yếu đuối của Tự Đức (hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, 1847-1883) là một trong những nguyên nhân chính yếu đưa đến sự bảo hộ hoàn toàn của thực dân Pháp (tôi đang viết một bài riêng về đề tài này) và những biến động bi thảm trong triều đình nhà Nguyễn. Đáng tiếc thay, tấm gương của Gia Long – một chiến sĩ bền bỉ nhất, thông minh nhất và mạnh nhất lại không được các người kế vị noi theo.

Một điều dễ hiểu là các vua, chúa đều cần người nối nghiệp nam phái và họ có tất cả mọi quyền lực. Họ có rất nhiều vợ, rất nhiều con. Có thể tôi còn nhầm lẫn trong các con số, nhưng thí dụ như Gia Long có 31 người con (13 trai, 18 gái), Minh Mạng có 142 người con (78 trai và 64 gái), Thiệu Trị có 64 người con (29 trai và 35 gái). Sự lựa chọn người lên ngôi nối nghiệp thường bị ảnh hưởng bởi áp lực cũng như các ý đồ thâm hiểm của các bà vợ vua cũng như các quan đại thần. Vợ vua, có tước vị hay không có tước vị, thường là con gái các quan đại thần. Một cô thôn nữ vừa đẹp vừa thông minh, gặp gỡ một vị vua vừa mạnh mẽ vừa can đảm chỉ là một câu chuyện lãng mạn, khác thường.

Tự Đức, người có danh tiếng là độc ác và nóng nảy, không có con nối dõi, nhận ba người cháu làm con nuôi: Dục Đức, Chánh Mông và Dưỡng Thiện.

Dục Đức, ông cố nội của Georges Vĩnh San, là cháu nội của Thiệu Trị, con của Hồng Y, một người con của Thiệu Trị và anh em của Tự Đức.

Lấy lý do là Dưỡng Thiện, người con yêu quí còn nhỏ tuổi, Tự Đức chỉ định Dục Đức nối ngôi, nhưng đồng thời trách Dục Đức là người „thiếu đạo đức“, và đặt ba quan đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết làm phụ chánh cho vua.

Di chiếu của Tự Đức đồng nghĩa với bản án tử hình cho đứa con nuôi lớn nhất của ông. Ba ngày sau khi Tự Đức qua đời năm 1883, hai quan đại thần Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết, thực chất nắm tất cả quyền bính trong tay, đổi di chúc, phế bỏ Dục Đức, thay vào đó lập Nguyễn Phúc Hồng Dật, một người em, của Tự Đức, hàng chú của Dục Đức lên ngôi. Hồng Dật trở thành hoàng đế thứ sáu, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa.

Dục Đức, hoàng đế thứ năm, bị giam trong học đường, rồi bị bỏ đói trong ngục cho đến chết. Dân gọi ông là "Vua ba ngày“.

Trong cùng năm đó, dưới quyền lực của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước Quý Mùi ngày 23.07.1883 bởi Harmand, De Champeaux, Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp.

Vua Hiệp Hòa có ý muốn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và loại trừ hai quan đại thần lộng quyền. Nhưng, Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã ra tay trước. Với sự đồng ý của bà Hoàng mẹ, bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, vua Hiệp Hòa bị bỏ thuốc độc chết, Tường và Thuyết đưa Dưỡng Thiện lên ngôi. Quan phụ chánh thứ ba, Trần Tiễn Thành, vì không đồng ý với Tường và Thuyết cũng bị giết chết.

Dưỡng Thiện, tên là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con nuôi thứ ba của Tự Đức, lên ngôi hoàng đế với niên hiệu là Kiến Phúc, nhưng thật sự hoàn toàn không có quyền lực. Sau sáu tháng trị vì, đến lượt Kiến Phúc cũng bị loại trừ bằng thuốc độc, chỉ thọ được có 16 tuổi.

Ba vị vua bất hạnh, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc để lại trong lịch sử một giai đoạn mà dân chúng gọi là „chín tháng ba vua“.

Hai quan đại thần Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết chọn một hoàng tử nhỏ tuổi lên kế vị, hầu dễ chi phối: Ưng Lịch, 12 tuổi.

Quan toàn quyền Rheinart không đồng ý với sự lựa chọn này, đòi triều đình Huế phải xin phép chính thức. Thống tướng Millot gởi đại tá Guerrier đem 600 quân lính và một đội pháo binh nặng vào Huế để hăm dọa triều đình. Cuối cùng triều đình nhà Nguyễn phải trình một văn bản xin phép viết bằng tiếng Hán và chấp nhận, lần đầu tiên trong lịch sử, là Guerrier và Rheinart đi vào cửa chính của cung điện, trước nay chỉ dành riêng cho hoàng đế, để tham dự lễ đăng quang của Ưng Lịch, lấy niên hiệu là Hàm Nghi.

Đây là một hành động sỉ nhục nặng nề mà triều đình nhà Nguyễn buộc lòng phải gánh chịu.

Trong khi đó, quan khâm sai Harmand và các tướng lãnh của quân đội Pháp Bouet, Bichot, Courbet, Millot, Brière de l'Isle, De Négrier, Coronnat, Duchesne tiếp tục tấn công miền Bắc (Tonkin). Các tỉnh Ninh Bình, Sơn Tây, Bắc Ninh, Yên Thế (xem bài về Đề Thám, viết năm 2007), Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang lần lượt rơi vào tay chiếm đóng của Pháp.

Đồng thời nước Pháp dùng thế lực ngoại giao để cô lập Việt Nam. Qua sự trung gian của Détring, một người Đức tại Trung Hoa, Pháp thành công trong việc thuyết phục Trung quốc cắt đứt tất cả mọi giúp đỡ quân sự cho Việt Nam. Hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung quốc được ký ngày 18.04.1884 bởi trung tá Fournier và Lý Hồng Chương (Trung quốc). Cũng qua hiệp ước này Trung quốc chập nhận sự bảo hộ của Pháp tại Việt Nam (Tonkin và Annam).

Bị cô lập và dưới sức ép của chính quyền thực dân, triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước gọi là hòa ước Patenôtre, ngày 06.06.1884, bởi Patenôtre, Nguyễn Văn Tường, Phạm Thuận Duật và Tôn Thất Phan. Chính hòa ước này đã cho Pháp quyền thiết lập một chính quyền bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đây nước Việt Nam bị chia làm ba Kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, cai trị bởi ba đơn vị hành chánh khác nhau, sự di chuyển và chuyên chở trong ba kỳ bị kiểm soát chặt chẽ, dân chúng muốn đi lại phải xin giấy thông hành.

Để xóa tan một cách tượng trưng thời đại nhà Nguyễn và mối quan hệ lâu đời giữa Việt Nam và Trung quốc, Patenôtre và Courbet, tức tối vì không đem được bảo vật này về Pháp làm bảo vật chiến thắng, đòi hỏi triều đình nhà Nguyễn phá hủy chiếc ấn „Việt Nam Quốc Vương Chi Ấn“ của Trung quốc trao cho Gia Long năm 1804, khi Trung quốc công nhận Gia Long là hoàng đế của một nước Việt Nam thống nhất suốt từ Bắc chí Nam. Hai quan đại thần Tường và Thuyết ra lịnh nấu chảy chiếc ấn to mỗi bề khoảng 10 đến 12 phân, bằng bạc ròng bọc vàng nặng 5 kí lô 900 trước sự hiện diện của Patenôtre và Courbet vào ngày 30 tháng tám năm 1884.

Thêm một lần nữa, một hành động nhục mạ nặng nề gây ra bởi Patenôtre và Courbet mà người dân Việt không quên được.

Thời gian trôi qua, các trận đánh tiếp diễn.

Sau khi bắt được Hàm Nghi vào tháng chín năm 1888, nhờ sự chỉ điểm của hai tên phản bội, Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc, tướng de Courcy dụ hàng được quan đại thần Nguyễn văn Tường. Hàm Nghi bị đưa đi đày ở Alger vào cuối năm 1888, nhưng nhà vua trở thành biểu tượng của phong trào „Cần Vương“ trong lịch sử. Nguyễn văn Tường và gia đình bị đem đi đày ở đảo Tahiti. Ông chết dọc đường áp tải, xác bị vất xuống biển. Tôn Thất Thuyết chạy sang Tàu, rồi chết già ở đấy. (Xem bài Thonac và một bí ẩn của vua Hàm Nghi – viết năm 2007). Hàm Nghi qua đời năm 1943 thọ 73 tuổi tại El Biar, .

Đến lượt hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ được Pháp đưa lên ngôi lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Nhưng vua Đồng Khánh, vì thái độ hợp tác với Pháp, bị dân chúng khinh bỉ. Đồng Khánh cũng chỉ ở ngôi được có ba năm, qua đời ngày 28 tháng một năm 1889 vì điên loạn, được 25 tuổi. Sau này, hai hoàng đế Khải Định và Bảo Đại, hậu duệ của Đồng Khánh, cũng hợp tác với chính quyền bảo hộ Pháp.

Sau đó, quan toàn quyền Rheinard chỉ định người kế vị là hoàng tử Bửu Lân, 10 tuổi, con của Dục Đức, đang còn ở trong ngục chung với mẹ, và cho hai quan đại thần  Nguyễn trọng Hợp và Trương quang Đản làm phụ chánh.

Nguyễn Phúc Bửu Lân trở thành hoàng đế thứ mười ngày 02.02.1889, lấy niên hiệu là Thành Thái. Nhà vua là ông nội của Georges Vĩnh San.

Tám năm sau, 1907, thấy thái độ chống đối của Thành Thái, chính quyền thực dân hạ bệ Thành Thái và quản thúc nhà vua ở Vũng Tàu.

Thành Thái có tất cả là 45 người con (19 hoàng tử và 26 công chúa). Lúc điểm danh các hoàng tử kế vị thì khâm sai Lévecque thấy thiếu mất một mệ. Cậu hoàng tử nhỏ, Nguyễn Phúc Hoảng, 7 tuổi, bị cận vệ đi lục và đem đến, nhem nhuốc, mồ hôi nhễ nhại, trình Lévecque. Cậu hoàng tử đang mải chơi bắt dế. Thấy vẻ xơ xác, sợ hãi của đứa trẻ, người Pháp nghĩ rằng, cậu ta sẽ trở thành một ông vua "dễ dạy“.

Cậu bé Nguyễn Phúc Hoảng lấy tên hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San, và trở thành hoàng đế Duy Tân, cha của Georges Vĩnh San.

Georges Vĩnh San:

"Cha tôi sinh năm 1898. Ngài được 9 tuổi lúc đăng quang năm 1907. Nhưng trong ý nghĩ khởi đầu một thời đại mới, năm sinh của Ngài được sửa lại cho trùng hợp với năm bắt đầu của thế kỷ hai mươi, 1900, bởi vậy tuổi của Ngài được tuyên bố chính thức là bẩy tuổi."

 ...

"Cũng như các anh chị em tôi, tôi mang họ mẹ, bà ANTIER, cho đến sau khi cha tôi qua đời ngày 16 tháng 12 năm 1945. Một quyết định của tòa án vào ngày 22 tháng 7 năm 1946 công nhận chúng tôi là con chính thức của hoàng tử Vĩnh San, nhưng đồng thời họ cũng làm ngơ trước truyền thống đặt tên của triều đình An Nam. Cần nhấn mạnh ở đây, là trong suốt khi sinh thời và cho đến khi qua đời, cha tôi xem như kết hôn chính thức với cô Mai thị Vàng, người được phong đệ nhất vương phi, con của quan Mai Khắc Đôn, một trong những phụ đạo của cha tôi. Hội đồng hoàng tộc ở Huế luôn luôn từ chối lời yêu cầu xin công bố văn bản ly dị của cha tôi. „

Khi cả hai vua Thành Thái và Duy Tân, cha và con, bị áp giải đi đày trên đảo la Réunion năm 1916, có ba bà trong hoàng tộc đi theo vua Duy Tân: bà Nguyễn thị Định, mẹ vua, bà Mai thị Vàng, vợ vua và bà Lưỡng Nam, công chúa em vua. Nhưng ít lâu sau, trong năm 1917, cả ba bà đều trở về Huế, bỏ lại Duy Tân một mình.

....

Năm 1916 cha tôi là một người trẻ mới 18 tuổi (tuổi thật) và Mai thị Vàng 17 tuổi (bà sinh năm 1899) ! Thời gian hai người chung sống với nhau rất ngắn. Nhưng Mai thị Vàng không thể có con. Thêm vào đó, cuộc sống trên đảo la Réunion rất cực khổ vào thời ấy. Cha tôi không được đón tiếp đàng hoàng và  chỗ ở rất thiếu thốn. Chỗ ở của ông không có lấy một vòi nước tắm. Bây giờ, căn nhà được sửa chữa nhiều lần, làm đẹp, hiện đại hóa. Nhưng cha tôi không sống trong một khung cảnh tiện nghi như thế.

Hơn nữa, cha tôi không hợp tính với cha của Ngài (Thành Thái) và muốn sống tự lập, Ngài tách ra khỏi gia đình, thuê một cái nhà khác. Lúc cha tôi quen biết với mẹ tôi, thì mẹ tôi còn rất trẻ, mới có 14 tuổi, thời ấy. Cha tôi không có tuổi thơ, cũng không có thời niên thiếu. Ngài không thể ra ngoài chơi bi, chơi trong các rãnh nước, gặp bạn bè tán ngẫu... như mọi thanh thiếu niên khác. Trên đảo, trong tình trạng lưu đày, thiếu thốn nhiều phương tiện, nhưng Ngài không còn mang cái gánh nặng hoàng tộc và tìm được tự do...dù bị kiểm soát. Nhiều lần, cha tôi bị cảnh cáo bởi viên toàn quyền, không nên ở ngoài quá khuya, vì vấn đề an ninh cho Ngài.

Trong cách kể của Georges Vĩnh San, tôi nhận thấy một sự thông cảm sâu xa của một người con đối với cha của mình. Qua tuổi tác, kinh nghiệm và khoảng cách với thời sự nóng bỏng, người ta thường có những cái nhìn khác về quá khứ.

"Cha tôi chơi vĩ cầm, nhưng cái đam mê của Ngài là truyền tin. Ngài thiết lập các thiết bị truyền tin nơi một chỗ khác, ngoài căn nhà ở của gia đình, và Ngài thường ngồi say mê trước cái máy truyền tin thâu đêm về sáng. Thường thường Ngài về nhà khoảng một, hai giờ sáng và nhờ mẹ tôi đi mua một tô mì tàu. Người tàu bán mì suốt ngày đêm, không ngơi nghỉ. Là một chuyên viên vô tuyến điện, Ngài sửa chữa tất cả các loại máy phát thanh, và đôi khi luôn cả máy chiếu phim.

Năm 1940 cha tôi bắt được hiệu triệu kháng chiến của de Gaulle. Ngài bèn gọi tất cả các bạn hữu và nói rằng: „ Tôi không quen biết de Gaulle, nhưng nên theo ông, vì ông đi đúng hướng.“ Cha tôi rất thân thiết với nước Pháp, nhưng không phải một nước Pháp của Pétain.“

Hoàng tử Vĩnh San bị nhốt trong một trạm y tế, nơi mà người ta nhốt người điên, trong vòng 40 ngày bởi những nhân vật chính quyền theo chính phủ Vichy trên đảo.

Nhiều nhà sử học đã viết về sự tham dự của hoàng tử Vĩnh San trong phong trào kháng chiến Pháp France Libre. Hoàng tử Vĩnh San được cấp huân chương kháng chiến Pháp.

Cuộc gặp gỡ lịch sử của hoàng tử Vĩnh San với tướng de Gaulle diễn ra vào ngày 14 tháng 12 năm 1945 trong vòng khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng nội dung của cuộc gặp gỡ này không hề được thông báo. Tướng de Gaulle cũng không hề có chỉ thị về cuộc gặp gỡ này cho bộ phận sĩ quan tùy tùng.

Rất vui mừng về sự trở về Việt Nam, cùng với tướng de Gaulle, dự kiến vào tháng ba năm 1946, hoàng tử Vĩnh San đã thông báo tin này cho người thân cận. Cựu hoàng Duy Tân, với những ý tưởng mới, xứng với tên hiệu của ông, Duy Tân có nghĩa là „bước vào thời đại mới“, hy vọng rằng, con đường kế thừa nhà Nguyễn sẽ được tiếp nối với những cải tổ hiện đại.

Tai nạn máy bay trên đường trở về đảo la Réunion, tìm thấy trên ngọn đồi La Lobaye cách M'Baiki 35 cây số ngày 25 tháng 12 năm 1945 (Giáng sinh), đã chôn vùi với hoàng tử Vĩnh San mọi ước mơ và hy vọng của triều đại nhà Nguyễn. Duy Tân, người thông thạo hai thứ tiếng, Hán và Pháp, hấp thụ hai nền văn hóa khác biệt, đã để lại bản di chúc chính trị, xuất bản năm 1947.

Sau khi tai nạn xảy ra, thân xác của Duy Tân được chôn cất ngày 26.12.2945 bởi Hiệp hội công giáo tại M'Baiki, nước Cộng Hòa Trung Phi (Phi Châu).

Georges Vĩnh San:

"Năm 1993 tại San José ở Californie trong buổi ra mắt cuốn sách của ông Hoàng Trọng Thược“ với tựa đề „Hồ sơ vua Duy Tân“ và lễ tưởng niệm sau đó, khi tôi nhìn thấy nước mắt rưng rưng của những người tham dự buổi lễ, nỗi xúc cảm của tôi cũng dâng lên như họ, mà tôi cũng không che dấu được.“

De Gaulle rời chính quyền vào ngày 20 tháng một năm 1946, chưa đầy một tháng sau cái chết của vua Duy Tân. Về phía Pháp, hồ sơ Duy Tân được đóng lại.

Bốn mươi hai năm sau, hài cốt của Duy Tân được bốc từ nghĩa địa ở M'Baiki và chuyển về Huế. Lễ quốc táng long trọng được cử hành ngày 06 tháng tư năm 1987 tại Huế. Georges Vĩnh San và các em tham dự buổi lễ trọng thể này tại cung điện hoàng gia tại Huế. Duy Tân an nghỉ vĩnh viễn tại An Lăng, nơi có mộ phần của cha là Thành Thái và ông nội là Dục Đức.

Duy Tân, bị truất phế bởi Pháp, nhưng không bao giờ cáo vị, vẫn còn là hoàng đế, điều mà chính Duy Tân đã nêu lên.

Bác sĩ Didier FAGNEN viết dưới tựa đề "Hoàng đế Duy Tân. Một niềm hy vọng lớn của Indochine – Général de Gaulle " trên trang trên mạng của Hội các Bác sĩ của Việt Nam ngày 10.10.2006 như sau:

Đại tướng deGaulle có nhiều cảm tình trân trọng đối với Ông, và quyết định sau khi đại chiếnkết thúc, năm 1945, sẽđem Hoàng tửvềPháp, hiện còn đang ởtrên đảo LaRéunion.

„Nếu hoàn cảnhtrởnên thuận tiện tôi ôm ấp một hoài bão bí mật. Đó là dựtính đem lại cho cựuhoàng Duy Tân những khảnăng tái xuất hiện nếu người kếvịvà cùng hoàng tộc vớiÔng là Bảo Đại, không thểtheo kịp sựviệc tiến triển. Đây là một nhân vật mạnh.Ba chục năm lưu đày không xóa mờkỷniệm của dân tộc Việt Nam đối với vịvươngquyền này“, de Gaulle viết nhưthế.

Đại tướngdeGaulle giải thích cho đại tướng de Boissieu rằng hoàng tửVĩnh San chiếm một vị trí quan trọng vì ông muốn cân bằng thếlực của triều đình Lào và Cam Bốt khitái lập lại ngôi vua ởHuế, một điều danh chính ngôn thuận, và ông cho rằng BảoĐại quá mềm yếu và không được lòng dân.

Ngày 25 tháng chín năm 1945, hoàng tửđược thăng chức trưởng đơn vị. Cùng lúc hoàng tửcónhững suy nghĩvềtương lai của Việt Nam và đưa ra ba ý kiến chínhyếu:

-          Thống nhất ba Kỳ(Tonkin- Annam-Cochinchine)

-          Độc lập tối cùng, sau một thời gianchuẩn bị, giao thời

-          Liên hợp chặt chẽvới nước Pháptrong khuôn khổmột Liên Hiệp Đông Dương (cùng với Lào và Cam Bốt), mà nước Pháplãnh trọng trách bảo vệquân sựvà ngoại giao.

Đại tướng deGaulle đồng ý với chữ"tối cùng“ nhưng muốn thảo luận thêm vềgiai đoạn chuẩn bị giao thời. Ông tiếp hoàng tửVĩnh San vào ngày 14.12.1945 và cảhai có vẻcùngđồng ý vềnhững điểm chính.

Hoảng tửviếtsau buổi gặp gỡnày: „Xong rồi, mọi việc đã được quyết định, chính quyền Phápđưa tôi trởvềngai vàng Annam. De Gaulle sẽđi cùng với tôi khi tôi trởlại nơiấy, có thểlà trong những ngày đầu của tháng ba 1946. Từgiờđến đó, sẽtổchứcthông báo dưluận của Pháp và Đông Dương; ngày mai đây, tại Huế, Hà Nội, Saigon,hai lá cờsẽphất phới bên nhau: lá cờba màu của Pháp và lá cờcủa Việt Nam vớiba sọc ngang tượng trưng cho ba miền“.

Hoàng từhãnhdiện "sẽtrởvềquê nhà của mình nhưkhi de Gaulle trởvề  Bayeux“. 

Nước Pháp suy yếu và trở thành vô tổ chức sau thời gian bị Đức Quốc Xã chiếm đóng trong đại chiến thứ hai 1939-1945. Trong khi de Gaulle, Sainteny và Leclerc tìm kiếm và tìm thấy một giải pháp hòa bình về chủ đề một Việt Nam độc lập, tự do trong Liên Hiệp Pháp, thì lời tuyên bố thừa thãi và vụng về của đô đốc Thierry d'Argenlieu thành lập chính phủ Cộng Hòa Cochinchine (la république de Cochinchine) vào ngày 01.06.1946, gần sáu tháng sau khi de Gaulle từ chức, đã làm bùng cháy ngọn lửa chiến tranh, chỉ được dập tắt tám năm sau.

Một cuộc tranh cãi về lịch sử bắt đầu từ đó và cũng chứa chấm dứt, trên câu hỏi là có phải đô đốc d'Argenlieu chỉ tuân theo mệnh lệnh của de Gaulle, hay d'Argenlieu tự ý quyết định, lãnh tránh nhiệm lịch sử, sau khi de Gaulle không còn quyền lực, năm 1946. Những người trung thành với trường phái chính ttị của de Gaulle đưa ra lập luận, de Gaulle, một khi đã rời khỏi chính quyền, đã không còn quyết định về nhưng vấn đề chính trị đang diễn ra hay sắp diễn ra, như ông đã có cùng một thái độ năm 1969.

Hai chi tiết lịch sử khác làm tăng thêm một sự nuối tiếc cho một giải pháp hòa bình, đã không thực hiện được trong giai đoạn ấy: Sainteny là người có nhiều tình cảm thân hữu với chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Leclerc, một thiên tài quân sự, vậy mà lại chủ trương ưu tiên cho một giải pháp ngoại giao và chính trị !

Trận chiến Điện Biên Phủ bắt đầu ngày 13 tháng ba năm 1954 và chiến thắng mang tên đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngày 15 tháng năm 1955 thì toán lính Pháp cuối cùng rời khỏi mảnh đất Việt Nam vĩnh viễn. Kể từ khi Rigault de Genouilly tấn công vào cảng Đà Nẵng năm 1847 thì công cuộc xâm lăng bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam đã kéo dài 108 năm.

Vinh San, một cái tên lịch sử đè nặng lên các hậu duệ của nhà vua, nhưng không thể bị quên lãng !

Giải Oan Lời Thề

Hà Nội đang chuẩn bị văn hoá Tràng An, kỷ niệm Một Ngàn Năm Chiếu Dời Đô 1010-2010. Nhân dịp hoa đào, hoa Tết ở Hà Nôi bị bẻ vặt, câu “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An,” lại được xem xét có phải dành cho người Thăng Long - Hà Nội không. Theo gợi ý của tác giả Hồng Thái (1), đây là chống chế của người Tràng An- Hoa Lư khi bị người Đại La dị nghị về sự kém thanh lịch.

Ngày xuân ôn sử

Theo wikipedia (2) tại đền Vua Đinh (tỉnh Ninh Bình) “trên bức đại tự có ghi hàng chữ: "Chính thống thủy" với ý nghĩa ca ngợi Đinh Bộ Lĩnh là người mở nền chính thống. Hai bên cột giữa có treo câu đối: "Cồ Việt Quốc đương Tống khai bảo – Hoa Lư đô thị Hán Tràng An" (Nghĩa là: Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hiệu khai bảo đời nhà Tống - Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán). Theo bản tin của tỉnh Ninh Bình (3) “Đền tọa lạc ở làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên - Hoa Lư. Khuôn viên đền rộng 5 ha. Đền được xây dựng dưới đời vua Lê Đại Hành, do lâu ngày đền cũ đổ nát. Cuối đời Lê - Mạc, một vị tướng nhà Lê là Bùi Văn Khuê đứng ra trùng tu, sửa chữa vào năm 1598. Kiến trúc đền hiện nay chủ yếu là công trình tu tạo năm 1698”. Từ Hoa Lư, hai vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành khai mở bình minh cho  nước Việt. Cũng từ Hoa Lư, Lý Công Uẩn dựng nghiệp. Hoa Lư, nơi khởi nghiệp của những anh hùng, so hay không với Tràng An thì cũng thế.

Văn hoá bẻ hoa?

Tháng tư, Mậu Tý, năm 2008, lễ hội hoa Anh Đào tổ chức lần đầu tiên ở Hà Nội. Ba trăm nhánh hoa anh đào từ Nhật sang, trong chốc lát tan tành dưới bàn tay “các bạn trẻ”.  Người Nhật có ngày hội hoa anh đào Hanami.  Đến mùa, Kyoto đông nghẹt khách đổ về khung trời ửng hồng, nhưng không  một cánh hoa nào rơi rụng. Nhiều xứ chọn hoa làm biểu tượng, Chăm có hoa Chămpaka, Lào có hoa sứ, Pháp có hoa huệ, Ấn Độ có hoa sen, Iran có hoa tulip, Nam Hàn có hoa dâm bụt… Những người thưỏng hoa hôm ấy, phải chăng chưa từng có thói quen yêu hoa, ngắm hoa, nên nỗi thèm khát biến thành bạo lực? Mùa xuân, Tân Sửu, năm 2009, chợ hoa xuân đầu tiên Hà Nội, cũng tiêu điều trong ngày đầu tiên. Theo tin trên dulich.tuoitre, cỏ nhung bị xéo nát, cành lau bị nhổ mang đi hoặc bị vặt đứt, hoa cúc Đà Lạt và các chậu hoa hải đường cũng chung số phận. Ngay đến đôi rồng chầu tượng vua Lý Thái Tổ, vảy kết bằng hồng môn Đà Lạt cũng bị vặt khá nhiều. Giải thích từ trong nước, một trong các quan điểm phổ biến cho đó là dân “nhập cư ngoại tỉnh,” người Hà Nội không như thế.   Cư dân Hà Nội thoát thai từ cư dân đồng bằng sông Hồng, không tự nhiên trên trời rớt xuống. Trước khi khắt khe xem lại có phải “lỗi của dân nhập cư không”, hãy rà lại đôi điều về đất và người Hà Nội, thế nào là dân “nhập cư.”

Đất Hà Nội cổ

Lịch sử Hà Nội gắn bó với lịch sử đồng bằng sông Hồng. Địa phận Hà Nội dời đổi, không phải chỉ trong vòng “Năm Cửa Ô”. Ngay cả dưới thời vua Gia Long, Bắc Ninh là trấn Kinh Bắc, gồm cả Bắc Giang, một phần các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn và thành phố Hà Nội. Thời An Dương Vương, Tây Vu chính là đất Hà Nội cổ, núi, gò cao và nước nhiều hơn đất. Nước mặn ăn đến tận Đầm Dạ Trạch,  Hưng Yên.              

“Người Hà Nội” đầu tiên

Cư dân ở vùng đất đó là ai? Khoa học đặt tên những sắc dân này là Négrito, Mon-Khmer và Mélanesian. Cư trú khắp châu Á, châu Úc, họ có thể là hậu duệ của những đợt di tản ra khỏi châu Phi khoảng 30.000-60.000 ngàn năm trước. Chuyện kể lại trong gia đình, năm 1950 ở Hoà Bình, nông nô của những gia đình Mường quí tộc có da đen, tóc quăn, trán nhô, mũi rộng, người thấp, có thể là người Mélanesian. Chính sử tả Mai Hắc Đế - ông vua  họ Mai người đen – da đen, tóc quăn,  người huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.

“Người Hà Nội” trước An Dương Vương

An Dương Vưong- thay thế Hùng Vương năm 257 Trước Tây Lịch-  gom Mê Linh, Chu Diên, Tây Vu thành một nước với tên mới là Âu Lạc. Tự tên Âu Lạc đã thấy hai thành phần: chi Âu và chi Lạc. Cả hai thuộc chủng Bai Yue/BáchViệt -gọi là Việt-cổ để phân biệt với Việt Nam bây giờ. Mỗi chi lại có hàng ngàn tiểu chi. Chi Lạc, dân miền biển, vùng chạy dài từ đông bắc Hoàng Hà đến bờ biển đồng bằng sông Hồng. Chi Âu, dân miền núi, vùng chạy dài từ miền Nam sông Dương Tử đến đồng bằng sông Hồng. Âu-Lạc là một kết hợp ngoạn mục của một số tiểu chi Bai Yue tại đồng bằng sông Hồng, mảnh đất cực Nam của chủng Bách Việt.  

Khi bên Tàu có loạn

Tạm dùng chữ Trung Hoa, thật sự lúc đó chưa có “nước” Trung Hoa, hay nôm na, “nước” Tàu, chỉ có những triều đại.  Đại lục Trung Hoa mênh mông, sông Hoàng Hà là một đường biên giới thiên nhiên. Chủng Hoa Hạ phía Bắc Hoàng Hà, chủng Bách Việt ở phía Nam Hoàng Hà và ở ven biển Đông Bắc như đã nói ở trên. Mỗi khi bên Tàu có loạn, dân chạy tan tác. Trong vòng gần 1000 năm, kể từ thời Xuân Thu (722 TCN), Chiến Quốc, Tần Thuỷ Hoàng cho đến thời Đông Hán rồi Tam quốc, Trung Hoa là một vùng nát bét. Các “nước” lớn uýnh nhau túi bụi xưng vương xưng đế chiếm đất hoặc tranh giành người đẹp. Hai ví dụ sau cho thấy, mạng dân còn thua con kiến. Kiểm kê dân số sau thời Vương Mãng (8-23 STL)- triều đại kéo dài 17 năm chen  giữa hai nhà Tây Hán và Đông Hán- xáo trộn kinh hoàng tới nỗi dân Hoa Bắc giảm 50%. Họ chạy xuống Trung Nguyên (giữa Hoàng Hà và Dương Tử) khiến dân nơi đây tăng 102% (4). Năm 756, quân An Lộc Sơn tiến về kinh đô Trường An, giết tới 36 triệu người chỉ vì nàng Dương Quí Phi.  

Những đợt di tản từ vùng này qua vùng khác bằng đường bộ và đường thuỷ, cách nhau cả trăm năm. Hình ảnh nên thơ vùng Lĩnh Nam, quảng cáo du lịch Trung Quốc ngày nay - một cái bè kết bằng vài cây nứa lớn lênh đênh trên sông nước - có thể phản ảnh phương tiện hàng ngàn năm trước.  Một bộ phận dân cư người Hoa vùng Lĩnh Nam còn ghi nhớ phố Châu Cơ Hương, phía bắc thành phố Nam Hùng, trên con đường huyết mạch từ Giang Tây vào Quảng Đông (qua ải Mai Quan trên dãy Đại Dữu). Tuy chỉ dài 1500 mét, rộng khoảng 4 mét, con đừơng này là nơi đám tản cư sử dụng suốt từ đời Tần, Hán đến đời Tống, đời Minh. Từ đó, huyết thống và ngôn ngữ của người Hoa (Hoa Bắc + Hoa Nam) len lỏi theo hệ thống sông Bắc Giang xuống Châu Giang và Tây Giang, toả ra khắp vùng Quảng Đông, Quảng Tây (5).

Các vùng mé biển Trung Hoa như Ngô - U Việt - Mân Việt (Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến) dân 100% thuộc chủng Lạc, luôn hứng những khối di dân rất lớn. Đến khi chính những nước này lại bị lôi vào vòng chinh chiến, quí tộc và gia đình, cũng như dân chúng lại tìm đường mà tẩu, theo đường bộ hay đường biển xuống Giao Chỉ, hẻo lánh và xa vòng chém giết. 

Ai đồng hoá ai ?

Một vài văn/thi/nhạc sĩ thường hay khóc lóc kêu ầm làng nước, hết thở than “Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu”, “da vàng mũi tẹt, thân phận nhược tiểu”, lại khóc mếu bị Hán hoá, bị lai Tầu, mà không tính tới việc nguồn gốc của bất cứ dân tộc nào cũng bắt đầu từ nhiều sắc tộc, sinh tụ tại một điểm và từ đó nảy sinh ra một dân tộc mới. Từ Do Thái là một dân tộc cổ đến Hoa Kỳ là một dân tộc non trẻ, đều là những pha trộn hết sức phức tạp. Có lẽ đã đến lúc nín khóc, bình tĩnh nhìn lại quá khứ:

  • thứ nhất, 2000 năm trước chưa có biên giới, chưa có các “nước”, không sổ thông hành, không chiếu khán, chỉ có vùng đất và cư dân sống trên mảnh đất đó.
  • thứ hai, từ thời Xuân Thu “bên Tàu" cho đến thời Lý Công Uẩn Đại Việt, trong gần hai nghìn năm, các tiểu chi Âu Lạc tản cư nhiều đợt vào đồng bằng sông Hồng, “mỗi khi pên Tàu có loạn”. 
  • thứ ba, chỉ đám quan lại Trung Hoa mới áp đặt chính trị, quân sự và tổ chức hành chánh của phương Bắc lên cư dân sông Hồng, kỳ dư cũng chỉ là dân chạy loạn, mà đa số là dân chủng Bai Yue/Việt cổ.
  • thứ tư, không tài liệu nào cho biết bao nhiêu người Hoa Bắc, bao nhiêu ngừơi Hoa Nam. Có điều chắc chắn có rất ít người Hán Hoa Bắc sang Giao Chỉ ở lâu dài nổi, vì không chịu nổi khí hậu. Nếu gốc gác họ ở miệt Hoa Nam, thì 100% họ là Yue/Việt cổ
  • thứ năm,  Hoa Bắc hay Hoa Nam, cũng chỉ vài đời là tan biến vào cư dân sông Hồng và cùng chịu chung một định mệnh trên vùng đất mới.
  • thứ sáu, chính sự truởng thành trong học tập và chiến đấu gian khổ đã tạo nên nòi giống Việt. Hậu duệ của giòng nhập cư từ phương Bắc biến bức tranh di tản thành một kịch bản hết sức oái oăm cho “thiên triều” :  Lý Bí và Lý Công Uẩn xưng vương, mở đầu một trang sử độc lập cho dân Âu Lạc. Năm 1075, Lý Thường Kiệt mang 100.000 binh sang đánh quân Tống ở Ung Châu (Nam Ninh bây giờ), trong khi dân số Đại Việt chỉ 2.200.000 người, đủ hiểu triều Lý rất tự tin về gốc gác thần dân trong nước, không ngại đám dân dù có gốc từ phương Bắc, vì biết họ đồng chủng Việt.
  • thứ bảy, những  Mai, Đinh, Lí, Lý, Lê… trong Mai Hắc Đế, Đinh Bộ Lĩnh, Lí Bí, Lý Công Uẩn, Lê Lợi… không chắc có phảỉ là “họ” không, hay chỉ là tên của bộ tộc nhỏ? Nếu điểm này được sử gia giải thích, có thể mang lại khám phá bất ngờ về thành phần những bộ tộc nào đã làm nên dân tộc Việt, hơn là diễn tả dân Việt gọn gàng là “dân ta”, không rõ “ta” là ai.

Vạn Xuân : Mong ước “Giang san  còn hoài đến hàng vạn mùa xuân”

Một trong những hậu duệ ngoạn mục của người nhập cư từ “bên Tàu” là Lý Bí (hay Lí Bí?). Theo Sử, Lý Bí(503-548) là người Thái Bình, phủ Long Hưng (Sơn Tây). Tổ tiên Lý Bí là người Trung Quốc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam ”.  Chính sử Trung Hoa coi Lý Bí là “Giao Châu thổ nhân". Còn sử Việt Nam, kể cả các sử gia tân thời và sử gia tài tử, hễ cứ ai ở “bên Tàu” là coi như người Trung Quốc hết mà không bao giờ soi sáng lại nguồn gốc. Tổ tiên của Lý Bí tản cư sang Giao Chỉ trước thời Hai Bà. Có sách nói 500 năm, có sách nói 11 đời. Con số 500 năm đúng hơn. Lý Bí đã từng làm quan cho nhà Lương ở Giao Chỉ, nhưng ông bỏ về. Năm 544, tháng giêng, ông tự xưng là Nam Việt Đế - hoàng đế phương Nam - đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân. Nếu nhớ ơn Hai Bà là bậc nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử, cũng phải nhớ ơn Lý Nam Đế là người mang nước Việt ra khỏi hình thức bộ lạc. Thông suốt chính trị Bắc triều, Vua tự tin dựng điện Vạn Thọ, (Hà Nội), dựng chùa Khai Quốc, cho đúc tiền đồng. Từng ấy việc trong thời gian ngắn 4 năm, Lý Bí không ngờ ông đã đặt  tiền đề: từ đây nước Việt thoát khỏi thời  kỳ u tối 1000 năm Bắc thuộc. Lần đầu tiên sau thất bại của An Dương Vương, một “nước” được thành lập ở đồng bằng sông Hồng, gồm hợp chủng Negrito + Mon-Khmer + Mélanesian  + Âu-Lạc trước An Dương Vương + Âu-Lạc nhập cư từ “bên Tàu”. Đó cũng chính là cư dân của Hà Nội thuở bình minh. người Việt hiện giờ là hậu duệ của từng ấy sắc tộc.

Khách nhập cư Hà Nội ngàn năm trước:  vua Lý Thái Tổ

ĐVSKTT, kỷ nhà Lý, chép “Mùa thu, tháng 7, vua rời Kinh đô từ Hoa Lư sang kinh đô lớn là Đại La của Kinh Phủ. Thuyền tạm đỗ ở dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự, vì thế gọi là thành Thăng Long. Đổi châu Cổ  Pháp làm phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư làm phủ Trường Yên, sông Bắc Giang làm sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho 2  vạn quan thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức 8 sở, đề dựng bia ghi công”. Nhà vua cho xây dựng ở Thăng Long chùa Một Cột, cầu Đồng, cầu Dền, như đã có ở Hoa Lư. Triều Lý hướng tới tương lai, nhưng không quên quá khứ ngàn năm trước: ĐVSKTT ghi,  Kỷ Lý Anh Tôn, “Canh Thìn, năm thứ 21 (1160) Tống Thiệu Hưng năm thứ 30). Mùa xuân, tháng giêng, làm đền Hai Bà và đền Xuy Vưu ở phường Bố Cái”.

Thời đó, vùng Hà Nội vẫn lõng bõng nước. Sứ giả nhà Tống là Tống Cảo viếng Hoa Lư, Lê Hoàn (941 - 1005) thết tiệc một con trăn dài “vài mươi người khiêng mới xuể”, sứ giả khiếp vía không dám xơi. Rồng vàng có thể là cá sấu hay trăn nước, tô vẽ cho thêm phần “phụng mệnh trời”. Trên một số đồ gốm hoặc trống đồng Đông Sơn, hoa văn là loài bò sát . Sông Thiên Đức, là sông Đuống. Dưới thời  Đinh Tiên Hoàng, Hoa Lư chỉ được ví như kinh đô Tràng An. Nhưng Lý Thái Tổ đã chính thức đổi tên Hoa Lư thành Tràng Yên, như lòng nhớ ơn nơi dựng lên nghiệp lớn. “Yên” hay “an” cũng là một. Một số phương ngữ của người Hẹ (Hakka) phát âm “yên” là “an”. Yên = âm trại = An (bình an - bình yên, an ổn - yên ổn). Người Hakka đọc âm "an" (âm Hán Việt) là "on" (giống như "on" trong tiếng Anh). Âm tiếng Phổ Thông (Mandarin) mới là "an" (như âm Hán Việt)

Khách nhập cư “Người Miền Dưới”

Khách nhập cư huy hoàng khác từ phương Bắc là triều đại nhà Trần. Nhà Trần, tự nhận “nhà ta, người miền dưới”, tức là dân đánh cá miệt biển.  Khoảng năm 1110, tổ tiên nhà Trần di cư từ đất Mân Việt, thuộc Phúc Kiến bây giờ, ban đầu đến tỉnh Quảng Ninh, trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều. Chỉ trong một thế kỷ, họ Trần trở thành giàu có ở  huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, đến nỗi Thái Tử Sảm cuả  nhà Lý phải chạy tới náu thân. Kết quả, năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý, bằng hôn nhân ép buộc giữa công chúa Lý Chiêu Hoàng 8 tuổi với Trần Cảnh 7 tuổi. Cũng chỉ trong vòng hơn 100 năm, người nhập cư phương Bắc đã tan biến vào giòng Việt. Triều Trần là triều chống cự “thiên triều” dữ dội nhất. Năm 1257, vua Trần Thái Tông  đích thân ra trận đánh nhau với quân Mông Cổ. Năm 1285, quân Trần đại thắng quân Nguyên ở trận Hàm Tử. Năm 1288, Hưng Đạo Đại Vương chiến thắng trận Bạch Đằng.

Từ núi rừng Thanh hoá

Nhà Minh quyết tâm  xóa bỏ nền văn minh Đại Việt bằng đủ cách: san phẳng đình chùa miếu mạo ở Thăng Long, chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia của người Việt đến một chữ cũng không cho lọt, thiến hoạn đàn ông, hãm hiếp đàn bà, cắt tai xỏ thành xâu. Sau 10 năm kháng chiến gian khổ đánh bại quân Minh, Lê Lợi từ núi rừng Thanh Hoá  rời về Thăng Long và đổi tên Đông Kinh, tuy vẫn xây dựng cung điện tại Lam Kinh (Thanh Hóa). Từ Đông  Kinh, triều đại Lê đã tiếp nối tinh thần Đại Việt trong 360 năm,  mà bề dài của triều đại khiến triều đình Bắc phương biết miền đất Đại Việt ấy đã vĩnh viễn ra khỏi tầm thôn tính.

Khách nhập cư phương Tây : “Con của Phật, đừng lo”

Thời Sĩ Nhiếp (137-226), Phật giáo Ấn độ đã đến đất Âu Lạc.  Phật hoá thân thành thiền sư Khâu Đà La bước qua mình Man nương đang ngủ say khiến cô “cảm động” thụ thai. Ngòi bút vắn tắt Nho gia chỉ ban một câu ngắn gọn, khiến học trò đời sau nát óc! Câu chuyện có tính ẩn dụ cao độ: Phật giáo uyển chuyển đến với nhân gian bằng cách nhập vào chính dòng văn hoá ấy, không truyền giáo bằng cách giả ngây núp sau súng đạn. Vào miền đất mới, Phật giáo tạm quên mười ngàn pho kinh cao ngất, mà chấp nhận nền văn hóa bản địa: thân phận cao trọng cuả ngừơi nữ. Man Nương chỉ có nghĩa “cô gái đất Man”, đại diện cho nền văn hoá phồn thực Đông Nam Á: con gái 12 tuổi nhắm mắt cũng biết việc sinh tồn. Đạo Phật nâng con người lên, cho nhân vật nữ sắm vai mẹ của con Phật. Ngòi bút Nho gia ghi khi bố mẹ Man Nương bối rối vì việc thai nghén của cô con gái 12 tuổi, thiền sư Khâu Đà La dung dị vỗ về “con của Phật, đừng lo”. Phật lại truyền cho hai mẹ con cây gậy thần, múa đến đâu nước lai láng đến đấy cứu ruộng đồng khô cháy. Hòn đá cầu mưa, tạc theo hình bộ phận sinh dục nam, nữ trang quí giá nhất của đàn bà con gái, bảo vật trấn áp quỉ thần, có mỹ danh Đức Thạch Quang được thờ ở chùa Dâu. Không khí ly kỳ, Bụt tính đan lẫn dâm tính đã là một huyền bí của miền tiền Thăng Long.

Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.

 Chùa Dâu dựng năm 226 ở Bắc Ninh. Chùa được xây dựng lại năm 1313 và trùng tu nhiều lần. Đời Trần, quan trạng Mạc Đĩnh Chi vâng mệnh vua Trần Anh Tông dựng chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp.

Khách nhập cư  phương Nam : Chămpa quyến rũ

Một trong những điểm cách tân của nhà Lý khiến Đại Việt trở thành “vùng bản lề” của hai nền văn minh lớn của nhân loại: văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Hoa, là chấp nhận huyết thống và văn minh Chămpa. Khi Việt bị Bắc thuộc, Chàm đã là một nước độc lập có văn minh mà di sản còn để lại đến giờ. Trong khi Nho giáo ảnh hưởng trên toàn bộ giới bút nghiên Đại Việt thì kiến trúc, âm nhạc, thần thánh, ngôn ngữ văn hoá Chăm nẩy nở dễ dàng nơi người bình dân, vì căn bản cả hai đều thuộc văn minh Đông Nam Á.  Nếu Chămpa là đường cong pho tượng thiếu nữ, vú đầy lưng nhỏ mông tròn, chân tay lẳn phô bày nét quyến rũ, nụ cười hơi mỉm hứa hẹn biết bao điều thần bí, thì Nho giáo sắc như nét bút lông, thầy đồ Nho muốn mọi việc đều hoàn hảo nên mặt mũi lúc nào cũng đớn đau “lo trước cái lo của thiên hạ”. Càng về cuối thời Hậu Lê,  vua quan càng khép lại nền văn minh tươi cười ấy, chấp nhận hoàn toàn văn minh Trung Hoa khắc khổ.

Màu sắc lễ tết dân gian: có cần giữ gìn phẩm hạnh?

Nhất là từ nhà Nguyễn Gia Long 1802, văn hoá Nho giáo tràn ngập cung đình. Đình chùa toàn long-ly-qui-phượng, chưa ai khắt khe xem lại có phải là hoa văn thuần Việt hay không. Màu sắc, kiến trúc đời Nguyễn, không khác gì một Trung Hoa thu nhỏ. Hiện nay, màu đỏ màu vàng sặc sỡ nhức nhối trong những ngày “lễ tết cổ truyền” cả trong nước lẫn ngoài nước, trông gần với sân khấu bát nháo hơn với lịch sử. Cũng chưa chắc màu sắc của triều đình, đừng nói đến màu của dân gian. Dễ tính lắm, cũng khó thể cho là “đậm đà bản sắc dân tộc” theo khẩu hiệu trong nước hoặc “phát huy truyền thống văn hoá dân tộc” theo khẩu hiệu ngoài nước nghe hoài phát ớn. Mầu sắc thiếu thuần nhã làm đứt đoạn với quá khứ chân phương, đó là chưa kể lẫn lộn triều đại này vào triều đại nọ. Mũ mão, màu sắc, cờ quạt, chiêng trống, võng lọng… giống nhau, giống cả nét lúc diêm dúa quá, lúc  nhếch nhác quá. Tốn kém rất vĩ đại, rỗng tuếch cũng vĩ đại không kém. Hình như không còn ai nghĩ tớí một trong nét thanh lịch của người Hà Nội, là dùng màu sắc để tỏ ý chí, mà cái được đề cao nhất nơi người Hà Nội xưa, theo tác gỉa Hoàng Đạo Thuý, là giữ gìn phẩm hạnh (6).

Theo Nguyễn Thị Chân Quỳnh (7)“Phẩm phục đời Lý, Trần, Lê, phần nhiều theo nhà Tống, mầu tía quý nhất (cho các quan)… Từ Lý Cao Tổ trở đi mới cấm dân không được mặc sắc vàng là mầu dành riêng cho thiên tử dùng. Ðời Thái Tông, cung nữ dệt được gấm vóc, bèn đem hết gấm của nhà Tống trong Nội phủ bán cho quần thần may áo, quan từ ngũ phẩm trở lên được mặc áo gấm, từ cửu phẩm trở lên được mặc áo vóc, để tỏ vua không dùng riêng.” Cấm dân mặc màu vàng, vậy mầu của dân gian là mầu gì? Ra ngoài đường màu thường thấy là màu trắng, màu đen, màu cánh kiến, màu tiết dê, màu tam giang. Màu đỏ chỉ các quan to may áo vóc hay gấm, gọi là áo đại  hồng. Yếm, các cô mặc màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, bà lão mặc màu hoa hiên, nửa đỏ nửa cam. Màu hoa đào là mầu lẳng lơ, chỉ đám con hát mặc (6).

“Dẫu không thanh lịch cũng người Thượng Kinh”

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Nếu không thanh lịch cũng người Tràng An” nếu được viết đúng vào năm dời đô 1010 có thể là một đầu mối nghiên cứu dân tộc học: 1000 năm trước, tiếng Việt bình dân đầy chất thơ, ít từ “Hán Việt”, diễn tả sắc sảo, chống chế một cách nhẹ nhàng, kiêu hãnh một cách thơ mộng, ứng xử nhún nhường nhưng không tự hạ.  Chỉ 14 chữ trong hai câu sáu/tám đã khiến “đối phưong’, người Thăng Long, không những quên bắt bẻ, lại còn vơ vào nhận của mình. Tuy nhiên, còn có một câu tương tự “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người Thượng Kinh”. Thượng Kinh ám chỉ Tràng An hay Hoa Lư?  Học trò lượm lặt xin ghi chép luôn cho đủ, những mong “giải oan” cho người Hà Nội, nếu có làm điều gì kém thanh lịch. “Giải oan” luôn cho người Hoa Lư, sá gì hai chữ thanh lịch khi được làm thần dân của một vì vua độc lập.  Chiếu Dời Đô, đức Thái Tổ tự tay ghi rõ “Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Ngài dự liệu cho cả bốn phương trời mười phương bụt, không hề ngăn cấm ai. Tranh cãi ai thanh lịch hơn ai, chỉ làm đức Lý Thái Tổ đau buồn, vì ngài thuộc về cả hai. Vấn đề là làm thế nào để cùng nhau thanh lịch. Sự “thanh lịch” của Thăng Long, do hàng ngàn năm đãi lọc. Nơi đây nhiều sắc tộc cộng cư, cũng là thị tứ buôn bán, quan văn/quân lính, thư sinh/du đãng, thưong buôn/nông dân. Người Thăng Long luôn luôn đối diện với những điều bất ngờ nên quen với phế/lập, trung thành/phản trắc, kênh kiệu/khiêm nhường, chân thành/khách sáo, quí phái/bình dân, dịu dàng/thô lỗ, phù thịnh/phù suy, nhân hậu/tai ngược… Từng đó vai, vai nào cũng rành, thành thói quen “liệu lời mà nói” lúc chua lúc ngọt, rất đúng với câu ca dao Hà Nội “Chẳng chua cũng thể là chanh/Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây”. Khuê các Hà Nội chửi chua chửi ngọt hay hơn đám “ngoại nhập”. Một đoạn ngắn chửi mất gà, cho thấy người ngoại nhập còn lâu lắm mới đạt được cái trơn tru và óc tưởng tượng của người Hà Nội “Cha con mẹ đẻ đứa mớm cơm mớm cháo mặc áo sỏ tay cho chúng mày không biết dạy chúng mày để chúng mày ăn con gà của bà cha con đẻ mẹ đứa họ sống họ chết họ hết họ còn dương gian âm phủ họ năm tháng ba ngày họ một tháng hai mươi ngày của chúng mày bà sẽ giồng cây chuối ngược rủa cho chúng mày chết lúc chết láy chết không còn tử còn tôn còn con còn cháu lục sáu tam ba bà chửi cho mà nát gia nhà quốc nước …” Không cách nào bỏ dấu chấm dấu phẩy, vì khuê các chua ngọt một hơi không nghỉ.

Thành Thăng Long từ Lý

Vua Lý Thái Tổ đặt tên cung điện đặt  theo ảnh hưởng Trung Hoa - điện Càn Nguyên,  Cấm Thành, cung Nghinh Xuân, cửa Đan Phượng. Năm 1029  loạn Tam Vưong tàn phà Long Phượng thành. Nhà Trần lên, phá bỏ một số đền đài cung điện nhà Lý. Khi giặc Minh sang, tất cả san bằng. Năm 1430, Vua Lê Lợi xây dựng lại hoàng thành mới. Năm 1512, vua Lê Tương Dực cho dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga.  Năm 1514, mở rộng Hoàng Thành thêm mấy nghìn trượng (một trượng bằng 3m60). Từ 1516 đến 1527, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê. Thăng Long lại quay cuồng trong khói lửa. Cung điện kho tàng đền chùa cũng như phố phường bị thiêu đốt tàn phá nhiều lần. Năm 1585 Mạc Mậu Hợp xây dựng lại Thăng Long. Đó cũng là lần cuối cùng, Thăng Long được tái xây dựng. Năm 1599  nhà Mạc thua chạy lên Cao Bằng. Hoàng thành Thăng Long phía Đông và phía Nam hồ Gươm đựoc tu sửa để đón vua Lê trở lại.  Khi chúa Trịnh tiếm quyền, Hoàng thành điêu tàn dần. Riêng Phủ Chúa xây cung điện lâu đài ở phía Tây hồ Gươm nguy nga gấp bội cung vua, lại còn cấm dân lai vãng. Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống chạy sang cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị được thế mang 29 vạn người sang chiếm Thăng Long. Phe phù Lê được dip trả thù, tất cả lâu đài đình tạ của chúa Trịnh bị tàn phá suốt tận nền, cháy một tuần mới hết. Dân chúng quanh thành bấy lâu bị chúa Trịnh ngăn cấm, cũng uất ức tràn vào san phẳng hết. Năm 1789, khi Nguyễn Huệ ra Bắc đánh tan quân Thanh ở 12 gò Đống Đa, kinh thành lại thêm một phen tan nát. Tiếng than dài “Lối xưa xe ngựa, nền cũ lâu đài”của bà Huyện Thanh Quan, chính là thương tiếc cho Thăng Long vào thời điểm hưng phế này. Vua Minh Mạng đổi tên hoàng thành Thăng Long là tỉnh Hà Nội - có nghĩa thành ở trong sông - và nhường cho Pháp. Gạch ngói của Thăng Long bị rỡ mang về xây kinh đô Huế. Người Pháp đổi Hà Nội ra thành phố, dùng thành Hà Nội làm …trại lính. Suốt những trang sử mờ mịt khói và đầm đìa máu ấy, nhô lên những bóng nâu quờ quạng co quắp, tay không nhẫn nại bới Thăng Long từ đống tro tàn. Vì vậy, đừng lạ, khi văn chương, ký ức và cả tâm lý, tiếng nói và thể chất của người Hà Nội khác với miền khác. Khác, không có nghĩa là hay hơn, dở hơn, hay sang trọng hơn như một đống ông nghè một bè tiến sĩ một bị cử nhân một thuyền bảng nhãn một nạm thám hoa một toa MC-văn-thi-nhạc sĩ thường khuếch đại tô màu, tạo nên một dư luận khá nhơ nhuốc, là coi việc tâng bốc người Hà Nội và rẻ rúng người “nhà quê” hay người miền khác là chuyện…bình thường. Không nghĩ, chính những “miền khác” ấy đã sản sinh ra những vị anh hùng nhưng phải ra Thăng Long mới làm nên nghiệp lớn.

Vài nét về người Hà Nội trước 1954

Khác với Thăng Long thời cổ rộng lớn, Hà Nội trước 1954 chỉ thu hẹp có 152 km² với 53.000 cư dân ở nội thành, tức là kẻ Chợ. Ngoài thành là kẻ Mơ, kẻ Lủ, kẻ Mọc, kẻ Noi. Văn thơ yêu “Hà Nội Ba Mươi Sáu phố phường/Lòng chàng có để lại muôn phương”, mường tượng Hà Nội êm như nhung, bóng như ngọc. Vậy mà không phảỉ vậy. Tôi đã hỏi khoảng năm mươi người Hà Nội "gia đình danh giá/giàu có như thế, vậy đồ cổ ngoạn của Việt trưng bày trong nhà là gì?" Qua câu trả lời của một đại tiểu thư rời Hà Nội năm 16 tuổi, mới hay không phải Hà Nội toàn khuê các: "Trong nhà, có hơn 15 người làm. Gọi một tiếng, “dạ” ầm ĩ cả lên. Nào là  chị vú, con sen, thằng ở, u già, anh xe, chú tài, ông bõ, chú làm vườn, anh bồi, chị bếp, chị may, chị đan...Mỗi cô tiểu thư có một chị vú,  một con sen riêng. Nhưng toàn là người nhà ở quê xin ra Hà Nội giúp việc nhà. Họ chỉ cần ăn, không xin lương.  Đồ cổ ngoạn “truyền thống” Việt Nam? Có gì đâu. Nhớ mãi, chỉ có mỗi ống điếu hút thuốc phiện bịt bạc của ông nội thôi." Cư dân nội thành ở một số phố khang trang, gồm công chức, các thầy thông, thầy ký, giáo chức, thương buôn, đào kép, khu người Tây, khu người Tàu.. Xa xa chút nữa là đám thợ, thợ may, thợ cạo, thợ mộc, thợ chạm…. Đông đảo nhất là đám hàng rong, cháo, kẹo mạch nha, kẹo kéo, kẹo vừng, bành dầy bánh giò, bánh đúc, nước chè, ... người Hoa buôn bán sầm uất ở phố Phúc Kiến, hàng Buồm, hàng Ngang, nhưng cũng có những người Hoa cơ cực làm công cho các hiệu lớn, làm phu khuân vác ở bến tầu và bán hàng rong. Hai món quà Hà Nội, “hàn sôi phá xa” và phở là của người Hoa. Hàn sôi phá xa, đã đi vào bài hát “Ôi lạc rang, mới ra thơm dòn, lạc của tôi rất thơm và ngon vì có húng lìu”. Món phở, tức “ngưu nhục phấn”, Tản Đà, Tô Hoài đều nhắc đến. Nguyễn Dư viết một bài về xuất xứ phở, bản vẽ ghi chú rõ ràng một gánh phở rong của người Hoa (8) không phải từ món pot-au-feu cuả anh bếp Tây.

Người Hà Nội ở… California

Người ra Hà Nội làm việc là người tứ xứ. Dù làm quan, đi học, buôn bán, đi lính, cả chục đời vẫn là “Hoa chanh nở ở vườn chanh/Thầy u mình vói chúng mình chân quê”. Quê muôn đời là làng, là đình, là ruộng lúa, là giếng nước, là nương dâu. Cho nên, dù có sinh đẻ ở Hà Nội, dường như không ai nhận có “quê ở Hà Nội”. Quê nội, quê ngoại, tận Phủ Lý, sông Cầu, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn...  Bằng cớ, ở quận Cam, California, các hội đoàn, hội ái hữu, các trường trung học, đại học mỗi năm đều tổ chức tất niên/tân niên gặp gỡ, hội Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vũng Tàu, Bình Định, Ninh Thuận, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Xóm Mới Gò Vấp bé tẹo cũng có ngày Tết hội ngộ. Tuyệt không có “Hội Hà Nội”. Chỉ có mỗi một “Ngày Hà Nội’ đơn sơ ở Mile Square Park cách đây chừng 15 năm, và một buổi “Họp mặt Hà Nội” cách đây khoảng 5 năm do sự cố gắng của cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Từ xa, người ta vẫn đắm đuối yêu Hà Nội. Yêu những con đường yêu đi  - “Hà Nội, chao ơi Hà Nội, những con đường đọng tím, những con đường câm nín, những con đường chết lịm ở trong tôi…” - yêu những cánh hoa yêu lại “Từng cánh hoa đời khép lại/Thương về năm cửa Ô xưa!”. Thi sĩ Tạ Tỵ yêu một Hà Nội hấp hối, mong manh như thể chạm mạnh vào thì vỡ cả mảnh linh hồn. Người Hà Nội chúng tôi cũng cứ thế mà tin mà yêu một Hà Nội, “Dáng huyền tha thướt đê mê, tóc thề thả gió lê thê biết đâu ngày ấy em về”, tựa một cô gái liêu trai xanh xao gầy guộc tóc dài thắt cổ lè luỡi hớp hồn mấy anh thư sinh chết nhát, mà quên mất cái uy dõng của tổ tiên thuở dời đô.

Các “bạn trẻ” Hà Nội

Trách tuổi trẻ Hà Nội không có văn hoá ngắm hoa, là oan lắm. Làm sao bắt họ có một điều mà họ chưa từng nắm trong tay! Đời nhà Lý thanh bình, có người yêu hoa mới sinh ra làng Nghi Tàm ở bắc Hồ Tây và làng Võng Thị ở nam  Hồ Tây quanh năm trồng hoa cung cấp cho nội thành.  Thú chơi hoa lan, hoa thuỷ tiên, hoa trà… chỉ riêng người phong lưu. Tết nhất mới cố sắm cành đào, chậu quất.  Trong gia đình còn nhắc, người Hà Nội trước 1954 không có lệ cắm hoa. Mỗi sáng, cô hàng hoa lướt qua để lại một chùm hoa ngâu hoa phượng hoa ngọc lan lên cái đĩa sành con trên bàn thờ ngoài sân. Có khi dăm ngày cô mới ghé lại lấy tiền, bước chân qua nguỡng cửa rón rén, thưa gửi nhẹ nhàng, “Bà ơi, con ghé ăn mày lộc bà đây, cả thẩy 6 xu rưõi bà ạ. Con còn ba chùm kim liên mấy lại hai bó bạch sen, bà đi đền Mẫu, bà tạ gíúp cho con với”. Lúc đó làng Bát Tràng làm nhiều ông bình vôi, không làm bình cắm hoa cho nội thành Hà Nội. Không có ngoại thành, người Hà Nội không có cả… cháo mà ăn sáng. Vào trong Nam, người Hà Nội cũng chỉ ngày Tết mới cắm hoa glaïeul, hoa huệ, bắt chước …Tây. Nhưng các “bạn trẻ” dầy đạp lên hoa hay phũ phàng bẻ ngắt, có bị mắng, thì không oan tí tẹo nào, dù rằng nguồn cơn không từ họ. Thanh niên Hà Nội sinh sau 1975, không còn phải chạy trốn bom đạn. Nhưng thế hệ này vẫn đối diện với một cuôc chiến mới hừng hực lưả. Tuổi thơ nhìn bố mẹ quăn queo, luồn lọt chạy vạy mới có miếng ăn, nên đoản văn đầy tình quê hương làng mạc của Thanh Tịnh có thể là một xa xỉ phẩm “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gíó lạnh, mẹ tôi âu yếm dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi lại lắm lần, nhưng lần này bỗng dưng tôi thấy lạ: hôm nay tôi đi học….” Đám trẻ tiểu học, không có những trang cổ tích ông Đồ Bể, lương thiện đến quỉ thần phải kinh sợ. Thanh thiếu niên lớn lên, thiếu không gian văn học. Không chắc có đọc Gánh Hàng Hoa của Nhất Linh-Khái Hưng để yêu mối tình thơm như hoa. Giờ này không còn ai hứa hẹn “Sông Thương nước chảy đôi ba dòng/Anh về Hà Nội một lòng thương em”. Ngâm ư ử ca dao Hà Nội “Hỡi người xách nước tưới hoa/Có cho anh được vào ra chốn này”, nghe ra hơi hâm hấp. Rón rén nhìn cô hàng xóm qua dậu mồng tơi có khi bị cô quát “soi cái gì”, chạy không kịp. Nhà cửa rác rưởi lấp cả cửa động trúc đào loang loáng vàng rơi ánh nguyệt trong Bích Câu Kỳ Ngộ. Tuổi thanh niên ấy, chắc cũng không nấp vội trong cánh cửa thuộc thơ Hoàng Cầm viết trong khói lửa vẫn đẫm mùi hy vọng

Em mặc yếm trắng
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh nắng muôn lòng xuân sang

Trở lại chợ hoa

Ở Saigon trước 1975, chợ nào cũng có bán hoa ngày Tết. Sau 75, các  thành phố như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, nơi nào cũng có chợ hoa.  Ban tổ chức soạn sẵn chỗ cho khách thuởng hoa chụp hình, nên không bao giờ xẩy ra việc dày xéo lên hoa.  Ngay cả ở Hải Phòng năm nay, hai mươi cây đào do Liên minh Nghị sĩ hữu nghị Nhật - Việt và Hội đồng tỉnh Kagawa (Nhật Bản) trao tặng, hoa xinh vẫn ửng hồng trên cây.  Hái lộc đầu xuân là một nét văn hoá đẹp từ xưa. Nhưng khi người đông hơn hoa, lộc trong thiên nhiên không đủ, khiến người ta thản nhiên bẻ hoa đang trưng bày, thì nét đẹp không còn. Nói đi phải nói lại, vô tư bẻ hoa của người khác, không phải độc quyền của bạn trẻ Hà Nội. Đó là “Việt tính”, duy mức độ khác nhau.  Tết Đinh Hợi 2007, ở Saigon có vụ cướp heo đất, hay “vô tư” bẻ hoa tặng nhau -báo chí trong nước cho đó chỉ vài cô em “nũng nịu” với bạn trai. Ở California, quận Cam, nơi các nhà bình luận tự xưng là “thủ đô văn hoá của người Việt tỵ nạn”, không có xuân thì nũng nịu đòi bạn hái hoa, nhưng cũng có “văn hoá bẻ hoa”.  Mấy năm trước, tờ báo Người Việt hớn hở khoe năm nay cành đào trước cửa không bị chặt trụi như năm trước. Bài báo cũng lo lắng cho những cây đào của thành phố Westminster mới trồng dọc đường Bolsa, nếu bị chặt, sẽ rất xấu hổ với người Mỹ. Trong Tết, đài phát thanh VNCR  năn nỉ xin bà con đừng chặt mấy cành đào trồng trước cửa, đài lo đến nỗi để camera canh chừng. Năm nào các chùa cũng ra thông báo mời đồng hương và Phật tử đi chùa cúng giao thừa. Các thầy cũng năn nỉ đừng vặt tơi tả cây cỏ của nhà chùa như mấy năm trước, các thầy đã cẩn thận gói sẵn lộc đầu năm. Không biết các chùa nơi khác có gặp cảnh tương tự?

Có thật người Việt Nam tàn phế cả tâm linh?

Không! Chỉ mới trước 1954, ở miền Bắc tiêu thổ kháng chiến, nhà nhà đục tường thông suốt nhau, chớ hề mất mát vật gì. Người thành phố chạy tản cư, đi đến đâu, cũng được “dân quê” đón vào nhà, chắt bót cưu mang mấy tháng trời cho đến khi người thành trở lại “vùng tề”.  Sau 1975, nhà nước “phát động” vụ đi tù cải tạo, dọc đường xe lửa xuyên Việt chở “lính ngụy” từ Nam ra Bắc, không thiếu những gói cơm, gói quà, đàn bà con trẻ  cố ném theo. Vẫn có bà mẹ từ Saigon ra thăm Hà Nội, kín đáo trả tiền vé cho anh bộ đội nhớ mẹ đánh liều chuồn lên xe lửa. Trong phim Mùa Len Trâu, bà mẹ miền Nam lấy cối xay gạo duy nhất để tống táng một người chết không quen biết. Miền quê Cửu Long, có nơi các ngoại vẫn theo tục xưa, để một lu nước với cái gáo dừa “đặng ông đi qua bà đi lợi lỡ độ đường hổng chết khát”.  Báo chí trong nước, hễ đăng lên một chuyện thương tâm, lập tức trong nước ngoài nước gửi tiền nhờ nhà báo chuyển. Có những người nghiến răng “không cho một cắc”, vẫn có những người dành dụm tiền đào giếng cho làng Tây Nguyên tuốt trong xa. Riêng Hà Nội, người ta yêu hay ghét Hà Nội qua nhiều lăng kính. Người xa Hà Nội năm 1954, cố hình dung một Hà Nội tiểu thư thẫn thờ bên hồ “khăn san lả lơi trên vai ai”,  ngập ngừng “nàng đi gót hài xanh”. Người ở lại Hà Nội sau 1954, lột sạch sành sanh khăn san trên vai và hài xanh dưới gót, trao cho cô tiểu thư Hà Nội một mớ khẩu hiệu bừng khí thế đấu tranh. Người ta trách người Hà Nội làm mất thanh mất lịch, hay văng đủ thứ trong người. Nhưng quên vẫn có Hà Nội dịu dàng “Rước bác vào chơi”, “Cháu mời cô xơi cơm ạ”. Than Hà Nội lọc lừa, vì không biết chuyện chú tài xế taxi tìm khách trả lại túi xách bỏ quên, trong có máy quay phim và mấy ngàn đô la. Vẫn có đám cựu bộ đội lam lũ, đêm xuân thết lữ khách Saigon bữa tiệc lề đường tuý luý, để trả  món nợ canh cánh với một người Saigon không quen biết, đã chở anh ta đi tìm thân nhân hồi anh vào “tiếp thu Saigon” sau 1975. Hà Nội, đêm thâu tràn trề rượu quí; nhưng đâu đó Hà Nội đêm tối nhọc nhằn, việc làm không ai biết đến. Hà Nội ồn ào với những con số doanh nghiệp ngộp thở, nhưng Hà Nội cũng âm thầm từng bước cho đất nước tiến gập ghềnh. Hà Nội, xe Lamborghini vờn quanh đường phố mấp mô, nơi bố gầy guộc vấp ngã, mẹ cong lưng che mưa cho gánh hàng rong. Hà Nội, chục cô em ăn mặc bạt mạng, nhưng trăm cô em chắp tay tưởng niệm trận Đống Đa. Ngay cả sau vụ hội hoa anh đào, báo chí cho hay “nhiều bạn trẻ đã tỏ thái độ phản đối và bất bình với những kẻ cố tình xâm hại hoa cây cảnh, nhờ vậy đêm mồng một và ngày mồng hai 1/2009 tình hình đã đỡ lộn xộn hơn”.

“Năm trăm anh đốt cho nàng. Còn năm trăm nữa giải oan lời thề”

Bẻ hoa, hay hay dở? Bài học nào cũng thiêng liêng. Là dịp cho chính người Hà Nội xét lại hướng tư duy, để sửa soạn cho một thử thách mà chính người Hà Nội chọn lựa: năm 2010 “kỷ niệm 1000 năm Chiếu Dời Đô”. Từ đây cho đến hôm ấy, thái độ của người Hà Nội -“trái tim của cả nước”- sẽ định hình cho cả một thế hệ; chịu trách nhiệm với tổ tiên; và cả với thế hệ tương lai.

Vấn đề e rằng không phải chối phăng phăng, đổ lỗi hay trách mắng các “bạn trẻ”. Chi bằng tìm đúng những người bạn trẻ ấy, giao cho họ trách nhiệm lo về hoa lá ngày hội 2010. Chỉ riêng khoản hoa lá, không thiếu gì việc. Đặt mua hoa, tỉa hoa, vẽ kiểu, trộn màu, tưới tắm, tạo không gian chụp ảnh như các thành phố “đàn em”. Giao cho các bạn trẻ một công việc lịch sử, còn hơn hồi hộp không biết lễ mừng Một Ngàn Năm Thăng Long, rồng hoa có bị vặt trụi cả râu lẫn vảy.

Làm sao hương hoa còn mãi?

Không phải chụp vài cái ảnh bên hoa là giữ mãi được mùi hương. Các bạn Hà Nội trẻ may mắn được tiếp cận địa bàn, ngàn năm mới có một lần này, đừng ngại ngược dòng lịch sử làm chuyện chắp vá: vịn vào những chi tiết nhỏ lượm lặt trong dân gian, tựa vào hàng ngàn trang sử thi sử ký, kèm theo điền dã thực tế, vẽ lại triều Đinh triều Lý ngàn năm trước, trước khi thời gian đổ ập thêm lớp bụi dầy. Học trò yêu sử ở xa như tôi thiết tha muốn biết

  • Tổ tiên trực tiếp của hai vì vua Lí Bí-Lý Công Uẩn là ai?
  • Có bao nhiêu đền chùa đình tạ đời Lý, bao nhiêu chùa Việt, bao nhiêu chùa gốc Chàm? Di tích còn không?
  • Có phải trong mỗi chùa Phật, đều có một bàn thờ Mẫu?
  • Tại sao năm 1160, vua Lý Anh Tôn làm đền thờ Xuy Vưu một lượt với đền thờ Hai Bà như ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư?
  • Bà Chúa Kho là ai?
  • Văn hoá phồn thực trước và sau đời Lý?
  • “Ðời Thái Tông, cung nữ dệt được gấm vóc”, có phải do công của Bà Chúa Dệt Lĩnh, bà là ai?
  • Gấm nhà Tống màu gì? Vóc là gì, sản phẩm của Tống hay của Việt? Nên chọn màu gì cho ngày kỷ niệm Dời Đô?
  • Tộc nào thuộc chi Âu, tộc nào thuộc chi Lạc?  Thế nào là văn hoá bản địa, làm sao gìn giữ được nét văn hoá nơi dân tộc ấy?

Hai đường rầy song song: Tìm về bản sắc và hội nhập toàn cầu

Giấc mơ thế kỷ 21 không khác lắm với giấc mơ Lý Bí - Lý Công Uẩn ngàn năm trước: tự tin giữ lại văn hoá Đông Nam Á và đứng vững bên bờ Thái Bình Dương, vùng đất giao thoa của hai nền văn minh rực rỡ Trung Hoa và Ấn Độ. Tin  mồng bốn Tết, mừng cho cả trong lẫn ngoài nước: Chợ hoa tuần rồi ở trong nước, các bông hoa vẫn bình yên. Hai cây đào ở trước đài phát thanh VNCR ở Califorrnia cũng bình yên.  Chuẩn bị cho năm 2010,  kỷ niệm một ngàn năm Chiếu Dời Đô,  ngàn cây xanh đang được trồng trên đường Lê Văn Lương, đang đặt tên mới cho những con đường. Có con đường nào tên “đường Giải Oan”, như đã có Chùa Giải Oan, Suối Giải Oan, Giếng Giải Oan? Cuộc chíến anh em Nam/Bắc hơn nửa thế kỷ qua, là điều oan uổng lớn nhất. Cuộc chiến đã oan, sản phẩm của cuộc chiến ấy, làm sao không oan cho được! “Giải oan lời thề”, và quên đi vài bông hoa cướp vội!

Hoàng thân Vĩnh San ở đảo La Réunion

Năm 1987, trong dịp di hài Vua Duy Tân trên đường chở về nước, quá cảnh qua Pháp, một lễ truy điệu đã được tổ chức sáng hôm thứ bảy 28 tháng 3, lúc 10 giờ, tại Viện Phật giáo Quốc tế còn gọi Chùa Vincennes, cạnh hồ Daumesnil, quận 12, Paris. Hoàng thân Georges Vĩnh San tức Nguyễn Phúc Bửu Ngọc, người con trai thứ hai của Vua Duy Tân tức Hoàng thân Vĩnh San, cậy tôi lấy danh nghĩa Hội trưởng Hội Người Yêu Huế đứng ra đọc điếu văn. Là người Việt Nam, ai mà không biết ông vua ái quốc nầy. Nhưng một bài điếu văn đứng đắn cần phải có những chi tiết về đời sống của ông. Hồi ấy tôi chỉ có trong tay hai tập bằng tiếng Pháp : Hồ sơ Vua Duy Tân của tác giả Hoàng Trọng Thược, chỉ giới hạn vào giai đoạn ở Huế, và Vua Duy Tân (1907-1916) hay Hoàng thân Vĩnh San (1900-1945) của tiến sï luật học E.P. Thébault, tạm thời qua bản đánh máy. May gần đây, Hoàng thân Claude Vinh San, tức Nguyễn Phúc Bửu Vang, người con trai thứ ba của Vua Duy Tân, sau nhiều năm nhẫn nại tìm kiếm đã tỉ mỉ sưu tầm được một số tài liệu dồi dào rải rác khắp nơi và thu thập lại trong một cuốn sách thư tịch : Duy Tân, Hoàng đế Việt Nam 1900-1945 lưu đày ở đảo La Réunion hay Số mệnh bi thảm của Hoàng thân Vĩnh San có thể làm căn bản cho mọi khảo cứu sâu xa sau nầy trong các tài liệu lịch sử quốc tế. Vai trò chính trị của Vua Duy Tân - Hoàng thân Vïnh San tuy đã được bàn cải nhiều trong sách báo trong và ngoài nước, còn cần được tìm kiếm để hiểu biết sâu rộng hơn.
Ngày 20 tháng 11 năm 1916, chiếc tàu Guadiana khởi hành 17 ngày trước từ Cap Saint-Jacques, sau một chuyến vượt trùng dương không ngừng, cập bến Pointe des Galets ở đảo La Réunion lúc 7 giờ rưởi sáng. Chia sẻ số phận lưu đày của Hoàng thân Vĩnh San, lúc ấy 17 tuổi, có thân phụ Hoàng thân Bửu Lân tức vua Thành Thái, 37 tuổI, thân mẫu bà Hoàng Thị Định, hiền thê bà Hoàng thị Vàng tức Hoàng Quý Phi, em trai Hoàng thân Vĩnh Chuôn, em gái Công chúa Lương Nhân, hai bà Hồ Thị Nhân (có con trai 12 tuổi), Hồ Thị Mừng (có hai con 3 và 2 tuổi) vợ và thiếp của vua cha và những người phụ tá. Các nhà báo nhận xét chỉ có hai hoàng thân mặc âu phục, tất cả những người khác đều mặc đồ Việt Nam, các bà tha thướt trong những chiếc áo dài, vòng xuyến đầy người. Sau đó cả đoàn 14-16 người lấy tàu lửa, trong toa xe - phòng khách của ông Thống đốc đảo, về thành phố Saint-Denis. Tháp tùng có ông De La Vigne Sainte-Suzanne, đổng lý Văn phòng, thiếu úy Deroche và ông Trưởng ban bảo vệ. Đoàn đem theo khoảng 30m khối hành lý, trong số nầy chắc có bộ Sử ký Cách Mệnh Pháp của tác giả Michelet vì trước khi rời nước, ông Khâm sứ Charles phái ông thư ký riêng Lê Thanh Cảnh lại nhắn có thể cần bao nhiêu tiền, bao nhiêu sách cùng được, Hoàng thân Vĩnh San từ chối, chỉ yêu cầu bộ sách kia .
Ngay từ khi mới đến đảo, Hoàng thân bị ốm và phải đi nghỉ ở vùng Hell Bourg một thời gian trước khi trở về lại Saint-Denis. Sau nầy ông đã phải thay địa chỉ ở nhiều lần, lúc nào cũng thuê nhà, chứ không có đủ tiền để mua như nhiều vị vua chúa các nước khác cũng bị lưu đày ở đây. Chính phủ Pháp trợ cấp cho ông mỗi tháng một số tiền khá nhỏ nhưng không khi nào ông chịu tự hạ mình phàn nàn hay xin tăng lương. Sống kham khổ không được bao lâu, ba bà mẹ, vợ và em gái của ông lại không chịu nổi khí hậu, xa xứ nên xin và được hồi hương. Bắt đầu từ đây, ông sống một mình nơi đất khách quê người vì bất bình với vua cha, ông cắt đứt liên lạc với gia đình. Nhưng may ông bẩm sinh rất cam đảm lại có nhiều nghị lực để đối phó với tình thế. Ông ghi tên đi học vô tuyến điện trước khi mở tiệm Radio-Laboratoire (Phòng thí nghiệm vô tuyến) bán hàng và chữa máy. Đồng thời, ông thi tú tài và đi học thêm sinh ngữ, luật học. Người ta bảo ông thành thạo tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Ông ít giao thiệp với người Pháp. Chính quyền hoàn toàn quên bỏ ông. Ông chỉ giao du với một nhóm bạn bè. Ông thích trèo núi, đi câu, không ngần ngại bắt chuyện với những người ngồi câu bản xứ, phần nào cũng giúp khuây khỏa nỗi nhớ thuở chiều chiều trước bến Văn Lâu, ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm... Ông thích nghe nhạc, học đàn vĩ cầm, trở thành hội viên Hội Yêu Nhạc và chơi ở nhà với bạn hay trong ban nhạc cuối tuần hoặc khi gia đình có lễ lạt. Ông học cỡi ngựa, đua ngựa và thắng nhiều cuộc đua. Ở trường đua ngựa ông và Hoàng thân Vïnh Chuôn, người nhỏ con (1m51) và nhẹ cân (41kg), là hai nài kiện tướng, quần chúng thường hoan hô ông Vua Tàu. Ông học đánh kiếm và thuộc loại người đánh giỏi. Ông chú trọng về nghệ thuật quân sự. Trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới, ông luôn găm bản đồ trên tường tiệm hàng để theo dỏi chiến sự. Tiện dịp, ông hùng hồn giải thích chiến trận làm lóa mắt cử tọa kính cẩn ngồi nghe. Nói chung, ông được xem là một người tò mò, đụng chạm tới đủ mọi lãnh vực.
Say mê văn chương Pháp, ông đọc sách nhiều, viết nhiều bài và thơ đăng trong những tờ báo Le Peuple (Dân chúng), Le Progrès (Tiến bộ) dưới biệt hiệu Georges Dry. Ông có chân trong Hội Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật. Bà Hội trưởng Eléonora Revest đánh giá ông là một người có học thức, một nhà diễn thuyết hùng biện. Ông thích viết loại văn xuôi thơ mộng. Trong bài Tiếng nói của vạn vật, ông bắt đầu với những câu : “Tôi thích tiếng thì thầm của cơn gió nhẹ khi nó hát hay khóc trong các cành cây. Tôi thích những lời tâm sự du dương của gió với cây trong rừng, với sóng dưới biển, với sao trên trời. Nhưng hơn nữa, ru ngủ tôi, làm tôi say mê, khoái trá là tiếng gọi của đại dương, lời rên rỉ vạn năng vang lên trong cảnh đêm im lặng như một bài tụng ca vô tận...” Rồi ông kết luận : “Tiến lên Thượng đế, đấy là mục đích đời bạn và của mọi đời sống khác, bạn nên học yêu thuơng, đấy là bí quyết của hạnh phúc, bạn nên học đau khổ, đấy là bí quyết của sự thanh lọc, của cuộc tiến lên ánh sáng, đau khổ là chị em của vui sướng, hai mặt giữ thăng bằng, bổ sung nhau và tô điểm nhau. Bạn nên học tự biết mình và chế ngự những sức mạnh tiềm tàng và ẩn kín. Từ đấy, bạn khám phá ra bí mật của Vũ trụ và những quyền lực đã chi phối. Sự huy hoàng của sự nghiệp thần thánh së tiết lộ ra ngay trong lòng bạn và trong mọi mặt ”. Trong bài Variations sur une lyre brisée (Những biến tấu của một cây đàn lia gäy vỡ) được Giải nhất văn chương của Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương La Réunion (1924), ông tâm tình : “Ở một vài đầu óc, nếp cũ hoài nghi, thói quen mỉa mai ngay cả chính mình, làm khó mọi chi phối xúc cảm. Trong cuộc phòng vệ có đạo đức, hoài nghi là mang một vỏ sắt, mỉa mai là vận dụng một cái khiên. Nhưng ta không thể luôn được bảo vệ; đến một lúc, khi ta tưởng được an toàn, khi ta lột bỏ áo giáp mà ta đã kiên cường chịu đựng với một nụ cười, đấy là khi ta rất nhạy cảm với một vết châm cũng như với một cái vuốt dù nhỏ nhẹ ”.
Tuy hoạt động nhiều, ông có cảm giác trơ trọi và thấy cần có người bạn đường. Đã chính thức có vợ và không ly dị, ông chỉ có thể sống chung mà không cưới được người chia sẻ giường chiếu với mình. Vì vậy, con sinh ra phải mang tên mẹ. Các con ông thường gọi ông là Dede, biến âm của những danh từ Âu Mỹ Daddy, Papa. Khéo tay, tự ông làm đồ chơi cho con như những hình tượng trong truyện Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn. Cô gái đầu tiên chung chạ chăn gối với ông là Marie Anne Viale (sinh năm 1890, nay đã mất), sinh được một người con trai năm 1919, Armand Viale. Cô bạn thứ nhì là một thiếu nữ vùng Salazie, Fernande Antier (sinh năm 1913), đem lại cho ông tám người con, bốn trai, bốn gái : Thérèse (1928, đã mất), Suzy (1929), Solange (1930, đã mất), Georges (1933), Claude (1934), André (1935, đã mất), Roger (1938) và Ginette (1940, đã mất), đều mang họAntier. Năm 1988, bà nầy đã có về thăm quê chồng. Vì một lý do riêng tư không rõ, ông rời bà Antier và sống với một cô gái vùng Saint-Benoît, Ernestine Maillot (sinh năm 1924), hiến cho ông mụn gái út, Andrée Maillot (sinh năm 1945). Phải đợi đến năm 1946, theo ý chí của ông và nhờ sự tận tụy của ông Roger Guichard lo việc giấy tờ, tòa án thành phố Saint-Denis mới chịu cho các con ông mang tên ông. Chỉ có năm người được hưởng vinh dự đó : Suzy, Georges, Claude, Roger và Andrée vì Armand Viale, đã trưởng thành, giữ tên cũ của mình. Nhưng toà thị chính đảo chỉ biết có một tên Vĩnh San nên lấy tên ấy làm họ. Vì vậy ta mới có những tên kỳ lạ Georges Vinh San, Claude Vinh San. Thật ra, vua Thành Thái đã có đặt tên cho các cháu, đúng theo thể thức triều đình nhà Nguyễn và Đế hệ thi của đức Thánh Tổ Minh Mạng. Trong bìa sách của mình, tác giả Claude Vinh San không quên ghi tên Nguyễn Phước Bảo Vang (Phước là một cách đọc trạnh chữ Phúc).
Các con ông đều có rửa tội và được nuôi lên trong lễ nghi công giáo.Với một tấm lòng độ lượng và nhân ái, không có chút óc não bè phái, ông có chân trong Hội kín Franc-Maçonnerie (1927) thường xác nhận những nguyên tắc tình nghĩa anh em. Trong một thông điệp gởi cho Hội nầy, ông mở đầu : “Chúng ta đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng. Khắp mọi nơi trên hành tinh của chúng ta, nhiều triệu chứng, có khi ít được nhận thức, chứng tỏ Nhân loại đạt đến một lúc mà sự sinh trưởng đòi hỏi nó thay đổi chiều hướng trong con đường tiến lên một mục đích chính ngay những triết gia vĩ đại nhất cũng khó lòng miêu tả một cách kiên quyết nếu họ ý thức khả năng sai lầm của chủng loại chúng ta ”. Rồi ông kết luận : “Hy vọng rồi một ngày, nhờ công tác của các bạn, Hội sẽ chiến thắng những hận thù giữa con người và giữa các nước đồng thời hợp nhất Nhân loại trong một tình huynh đệ trong sáng, không vết bằng cách bãi bỏ mãi mãi mọi tương phản giữa các giai cấp và các chủng tộc ”. Ăn nói tự do, không ngần ngại đề cao tinh thần dân chủ, giải phóng dân nghèo như trong những ngày nóng hổi cûa Mặt trận Bình dân năm 1936, ở một hòn đảo mà quyền hành nằm gọn trong tay một chính thể quý tộc 23 gia đình, ông được gán cho danh từ cộng sản, nhưng không chắc ông đã có ghi tên vào đảng. Trái lại, ông ngậm câm về quá khứ của mình, về những ước mong cho tương lai đất nước, về triều đại nhà Nguyễn. Chỉ có một lần, ngày 5 tháng 6 năm 1936, ông viết một lá đơn cho ông Bộ trưởng bộ Thuộc địa, kể lại cuộc khởi nghĩa năm 1916 và vai trò bất đắc dĩ của ông, trong mục đích xin được ân xá. “Tôi đứng trước trường hợp phải chọn giữa hai đường : hoặc mặc để ám sát người Pháp và rồi dự một cuộc trấn áp đẫm máu hoặc tố cáo những đồng bào của tôi và phàm một sự hèn hạ. Để thoát ra trường hợp đau xót ấy, tôi chỉ còn một phương cách : nhận làm chỉ huy cuộc khởi nghĩa...” Đơn không được trả lời hay bị từ chối cũng như đơn xin vào quốc tịch Pháp năm 1920, ba đơn xin được qua cư trú ỏ Pháp nội địa trước đây giữa 1929 và 1935 và sau nầy năm đơn xin nhập ngũ của ông, giữa 1936 và 1940. Có người tin ông bốn lần được đề nghị bí mật đưa về Việt Nam nhưng ông từ chối vì ông chỉ muốn trở về đường đường chính chính.
Những đơn của ông đã được chuyển về Paris với kiến nghị bất lợi của chính quyền địa phương. Cũng dễ hiểu thôi : chính quyền nầy theo chính phủ Vichy mà Hoàng thân Vïnh San được kê vào bản những người thân Tướng De Gaulle. Hơn nữa, ông Thống đốc Pierre Aubert, qua mắt ông đổng lý Văn phòng Pillet, một người độc đoán, tham lam, cho những cuộc hội họp bạn bè ở tiệm hàng của ông nằm ở góc hai đường Jules Auber và Labourdonnais (gọi nhạo là “Hàn lâm viện góc phố ” của các nhóm Do Thái - Cộng sản - Gaulliste) có tính cách khả nghi và từ ngày 7 tháng 5 đến ngày 19 tháng 6 năm 1942, ông bị bắt giam. Một ông vua đã từng nổi dậy chống chính quyền thuộc địa Pháp thống trị nước ông, bây giờ lại chạy theo ông tướng lưu vong muốn giải phóng nước Pháp khỏi cuộc chiếm đóng của Đức ! Có người xem trường hợp oái ăm nầy là một trong những mâu thuẩn trong đời Hoàng thân Vïnh San. Thật ra, ông chỉ tranh đấu dành tự do độc lập cho một quốc gia, một dân tộc, dù là Việt Nam hay Pháp. Tinh thần nầy ông có đã từ lâu, có thể ngay từ những ngày thụ giáo ông thái phó Eberhardt, tiến sĩ khoa học, ở kinh đô Huế. Rất tinh thông trong ngành vô tuyến điện nhờ đã tự học thêm, ông có viết nhiều bài kỹ thuật trong các báo chuyên môn và tiếp xúc với nhiều chuyên viên vô tuyến nghiệp dư các nước khác qua tín hiệu FR8VX. Ngay chính quyền địa phương cũng cậy ông dựng một đài thu-phát cho đảo. Nhờ có máy mạnh, ông đã bắt được những đài quốc tế, từ Delhi, Sài Gòn qua Tokyo, Melbourne, ngay cả những đài bên Mỹ. Ngày 18 tháng 6 năm 1940, ông nghe được lời kêu gọi của Tướng De Gaulle ở đài BBC trong chương trình Tiếng nói của nước Pháp. Lập tức ông nối liên lạc với nước Pháp Tự do và kiếm cách chuyển tin cho quân đội Pháp chưa đến đảo. Nhờ ông mà nhóm người kháng chiến ở đảo theo dõi được diễn biến của cuộc thế chiến thứ hai và nhất là những bước tiến của quân Đồng Minh. Ông trở nên linh hồn cûa nhóm kháng chiến ở đảo. Sau ngày giải phóng, chính phủ nước Pháp Tự do, qua đề nghị cûa ông Capagorry, Thống đốc mới, không quên công lao của ông và đã tặng thưởng ông Huy chương Kháng chiến với phù hiệu. Trong thư cám ơn Tướng De Gaulle, Hoàng thân viết : “Khi tiếp nhận tôi trong số những người, tháng 6 năm 1940, không chấp nhận nước Pháp bi hạ thấp vì thua một trận, ông đã làm vinh dự tôi, buộc tôi gắn bó nhiều hơn nữa, nếu có thể, với lời mà tôi thề từ lâu phụng sự một Tổ quốc đã thừa kế cho tôi một gia sản tinh thần ”.
Ngày 28 tháng 11 năm 1942, khi chiếc khu trục hạm Léopard dưới quyền của ông thuyền trưởng Richard cập bến Saint-Denis mang cờ Croix de la Lorraine, ông tình nguyện nhập ngũ và ông phó thuyền trưởng Baraquin thấy ông có nhiều kiến thức về vô tuyến điện, nhận ngay ông làm hạ sĩ vô tuyến trong một thời gian ba tháng. Vài ngày sau, khi tàu rời bến, ông đã bận đồ thủy thủ rời đảo La Réunion, chấm dứt 26 năm biệt xứ và mở một trang sử mới cho đời ông.

Những ngày cuối đời của vua Duy Tân

Năm 1987, trong dịp di hài Vua Duy Tân trên đường chở về nước, quá cảnh qua Pháp, một lễ truy điệu đã được tổ chức sáng hôm thứ bảy 28 tháng 3, lúc 10 giờ, tại Viện Phật giáo Quốc tế còn gọi Chùa Vincennes, cạnh hồ Daumesnil, quận 12, Paris. Hoàng thân Georges Vĩnh San, người con trai thứ hai của Vua Duy Tân, cậy tôi lấy danh nghĩa Hội trưởng Hội Người Yêu Huế đứng ra đọc điếu văn. Là người Việt Nam, ai mà không biết ông vua ái quốc nầy. Nhưng một bài điếu văn đứng đắn cần phải có những chi tiết về đời sống của ông. Hồi ấy tôi chỉ có trong tay hai tập bằng tiếng Pháp : Hồ sơ Vua Duy Tân của tác giả Hoàng Trọng Thược, chỉ giới hạn vào giai đoạn ở Huế, và Vua Duy Tân (1907-1916) hay Hoàng thân Vĩnh San (1900-1945)  của tiến sï luật học E.P. Thébault, tạm thời qua bản đánh máy. May gần đây, Hoàng thân Claude Vinh San, tức Nguyễn Phúc Bửu Vang, người con trai thứ ba của Vua Duy Tân tức Hoàng thân Vĩnh San, sau nhiều năm nhẫn nại tìm kiếm đã tỉ mỉ sưu tầm được một số tài liệu dồi dào rải rác khắp nơi và thu thập lại trong một cuốn sách thư tịch : Duy Tân, Hoàng đế Việt Nam 1900-1945 lưu đày ở đảo La Réunion hay Số mệnh bi thảm của Hoàng thân Vĩnh San có thể làm căn bản cho mọi khảo cứu sâu xa sau nầy trong các tài liệu lịch sử quốc tế. Vai trò chính trị của Vua Duy Tân - Hoàng thân Vïnh San tuy đã được bàn cải nhiều trong sách báo trong và ngoài nước, còn cần được tìm kiếm để hiểu biết sâu rộng hơn. Có thể chia làm ba giai đoạn đời sống vua Duy Tân – Hoàng thân Vĩnh San : thứ nhất là giai đoạn làm vua và chống Pháp ở Huế, đoạn nầy đã được lịch sử ghi nhận và ghi chép trong sử sách ; thứ nhì là giai đoạn lưu đày và kháng chiến ở đảo La Réunion, tôi đã có dịp trình bày trong một bài báo trước đây ; thứ ba là giai đoạn quân đội và chính trị vào buổi cuối đời, đây là giới hạn của bài nầy.

Tháng 11 năm 1942, vài ngày sau khi cập bến ở Saint-Denis, chiếc khu trục hạm Léopard rời đảo La Réunion, đem theo một thủy thủ chuyên về vô tuyến điện : Hoàng thân Vïnh San. Sau 26 năm biệt xứ, ông không còn là một ông vua bị truất ngôi nữa mà là một công dân Pháp trên đường đi làm nghĩa vụ. Trong những năm lưu đày, mặc dầu chính quyền thuộc địa đã phế vị ông, ông luôn hướng lòng mình về nước Pháp vì những khái niệm độc lập, tự do, bác ái đã làm phấn khởi một người duy tâm như ông. Nước Pháp đã nuôi dưỡng không những trí thông minh của ông mà còn linh hồn, tâm tình ông. Ông đã có giải thích : "Nước Pháp đã giúp tôi  đạt được tinh thần Danh dự và lòng Trung thành với một lý tưởng ". Không nản chí vì bị từ chối khi xin vào quốc tịch Pháp hay khi xin nhập ngũ, ông vô cùng phấn khởi khi bắt được lời kêu gọi của Tướng De Gaulle ngày 18 tháng 6 năm 1940. Trở nên linh hồn nhóm kháng chiến ở đảo La Réunion, ông hoàn toàn thỏa mãn lúc được nhận làm thủy thủ trên chiếc khu trục hạm Léopard. Nhưng sự việc không giản tiện. Duyên nợ của ông với đảo La Réunion chưa dứt. Ba tuần sau, nhân chiếc Léopard trở lại vài giờ ở đảo, người ta thả ông xuống đất. Thật ông vì sức khoẻ kém, không quen sóng biển, không chịu đựng nổi đời sống trên tàu, hay người ta sợ nhân ghé qua một hải cảng nào, ông bỏ trốn đi tìm tự do ?

Không vào được hải quân, ông ngoảnh mặt về lục quân. Bắt đầu từ đây, trái với lúc trước, ông năng đi lại với Phủ Thống đốc. May cho ông, ông Capagorry, Thống đốc mới, rất hiểu ông và hai người trở nên bạn thân. Ông Capagorry giới thiệu ông với mọi quan khách ghé qua đảo, trong số ấy có Tướng Lelong cũng trở nên bạn thân. Tin cậy vào tình cảm thân Pháp của Hoàng thân, đánh giá cao tính cương trực của ông, lại được Tướng De Gaulle tin cậy, ông Capagorry ủng hộ hoàn toàn ước mong của ông và không đầy một năm sau, ngày 3 tháng 1 năm 1944, ông vào đồn Lambert với quân phục binh nhì để rồi thăng chức hạ sĩ quan một tháng rưỡi sau. Mặc dầu điều kiện nhập ngũ là ông không được trực thuộc một đơn vị nào ngoài đảo La Réunion, thời cơ đã giúp ông thực hiện mộng lớn. Một tiểu đoàn khoảng 1500 quân gốc xứ An Nam, trên đường giải ngũ về nước, hiện bị quân Anh giữ lại ở Moramanga bên nước Madagascar, khích động nổi dậy, không chịu phục vụ ai nữa, dù Anh, dù Pháp, theo Pétain hay theo De Gaulle. Tướng Lelong, Tư lệnh quân đội ở Ấn Độ Dương, nghĩ ngay đến Hoàng thân Vĩnh San. Khi Hoàng thân bước vào đồn ở Madagascar, mọi người bật cười : mảnh khảnh trong một bộ quân phục quá lớn, túi dết trên vai, với cái mũ képi tụt xuống quá mắt, ông lết bết trong đôi dày quá rộng, thật quả là anh lính quê. Tướng Lelong chỉ có thể phong ông đến chức chuẩn úy nhưng từ đây ông ăn mặc được chỉnh tề hơn. Còn bên phía quân binh thì lâu ngày chẳng ai nhận ra Cựu hoàng Duy Tân. Tuy vậy với tiếng tăm ông vua ái quốc, tự lấy mình làm gương, mặc dầu hết còn nói thạo tiếng Việt, ông thành công thuyết phục được quân binh lập lại trật tự trong hàng ngũ. Có phải từ đây mà bắt đầu nổi lên ý kiến đưa ông về ngôi cũ, thay thế lá bài Bảo Đại đang bị lung lay ? Không khi nào thoái vị, trong óc nhiều người, ông vẫn luôn còn là Hoàng đế Việt Nam...

Ngày 29 tháng 8 năm 1944, ông đệ trình Phủ Thống đốc một bản tuyên ngôn phản kháng Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, tỏ ra cử chỉ của một vị lãnh đạo : " Tôi, Hoàng thân Vïnh San, hậu duệ của Hoàng đế Gia Long, người khai lập Vương quốc An Nam, tuyên bố Đông Dương, đặc biệt dân tộc An Nam, là liên kết với nước Pháp qua khế ước mà danh dự và quyền lợi buộc phải giữ toàn vẹn... Tất cả những ai tha thiết với quyền lợi ở xứ An Nam không thể chấp nhận ý nghĩ từ bỏ cuộc bảo hộ của Pháp để mưu cầu một cuộc bảo hộ của Nhật chỉ có thể đem lại nô lệ và thống trị trong lúc Pháp dẫn đường đến giải phóng... " Khi chuyển bản tuyên ngôn nầy về Paris, ông Thống đốc Capagorry phê thêm vào Hoàng thân Vïnh San tình nguyện phục vụ ở mặt trận để tôn trọng danh dự của tổ quốc, một ông Hoàng An Nam luôn giữ lời hứa và luôn tin tưởng ở nước Pháp và ông hoàn toàn ủng hộ lời thỉnh cầu của Hoàng thân. Thông điệp không được trả lời. Trong những lá thư gởi cho bạn bè, Hoàng thân tỏ ra nóng lòng nhưng luôn theo dõi chiến trận và tin tưởng một ngày mai ông cũng sẽ được ra trận. Ông có lý luôn lạc quan vì ngày 5 tháng 5 năm 1945, ông đuợc gọi nhập ngũ, ở Pháp lục địa như ông hằng mong muốn. Có điều ngày 8, Đức quốc xã đầu hàng, hết còn mặt trận, tuy vậy ông cũng sung sướng được phục vụ nước Pháp trong quân đội. Ngày 10 tháng 6, ông gởi một bản hiệu triệu về dân tộc của ông qua làn sóng đài Tananarive : " Khi đồng bào thực hiện được một quốc gia trong tâm hồn, khi đồng bào đã tự tay mình xây dựng nên một Tổ quốc, lúc ấy đồng bào mới đi đến độc lập, một nền độc lập dành được mà không cần nhờ cận ai, do dân tộc ý thức được tầm quan trọng về nhiệm vụ mình chứ không phải đạt được từ những phân tranh của các cường quốc... " Đến Paris tháng 6, ông được bổ dụng ngày 20 tháng 7 vào Bộ Tham mưu D.I.C. số 9 ở bên Đức, theo nguyên tắc sẽ lên đường đi Viễn Đông để khôi phục lại tình thế nhằm vào lúc Nhật chắc sẽ phải đầu hàng. Ở Đức, ông phải đi thực tập khắp nơi, tập trận lục quân, chiến xa, liên thanh cũng như học tập thăm dò, quan sát từ máy bay,... để rồi bị bỏ quên nếu không thỉnh thoảng phải diễn thuyết trình bày tình hình Đông Dương cho những sĩ quan cao cấp sắp lên đường qua bên ấy. Qua thư gởi cho bạn bè, đặc biệt cho ông bạn rất thân là Etienne Boulé, giáo sư triết học, lúc đó điều khiển Phái đoàn Thông tin Đông Dương ở Radio-Tananarive, ai cũng thấy ông rất chán buồn và nản lòng cho đến đầu tháng 10 thì được triệu về Paris...

Trong thời gian nhập ngũ của ông, nhiều biến cố đã xảy ra. Sau ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước bảo hộ của Pháp, mời cụ Trần Trọng Kim thành lập một chính phủ thân Nhật rồi qua ngày 25 tháng 8 thoái vị và nhường quyền cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh. Khi thấy vua Bảo Đại trở thành Hoàng thân Vĩnh Thụy nhận chức Cố vấn cho chính phủ Hồ Chí Minh, các nhà chức trách Pháp không tin cậy ở vị Cựu hoàng nầy nữa. Ngày 16 tháng 8, Tướng De Gaulle bổ nhiệm Đô đốc Thierry d’Argenlieu Cao ủy đồng thời chuẩn bị một đạo quân gồm có nhiều binh đoàn từ Pháp, Đức, Madagascar để tái chiếm Đông Dương dưới sự điều khiển của Tướng Leclerc. Với một sư đoàn thiết giáp, Tướng nầy đổ bộ Sài Gòn ngày 5 tháng 10 thay thế quân đội Anh đã được Đồng Minh ủy nhiệm tước khí giới Nhật ở miền Nam Đông Dương. Nhiều câu hỏi được đặt ra : Ai sẽ là đối tượng bên phía Việt Nam ? Nên thành lập một nuớc cộng hòa hay vẫn nên giữ chính thể quân chủ ? Cái tên Hoàng thân Vĩnh San luôn được nhắc đến. Ngay Đô đốc Decoux, Toàn quyền Đông Dương, cũng đã bày tỏ ý kiến : " Sự phục chế Hoàng đế An Nam sẽ trả lại cho dân tộc ông một yếu tố truyền thống trật tự và hoà bình. Đây không phải là một thí nghiệm mà là một sự tất yếu ". Người ủng hộ mạnh dạn nhất giải pháp Vĩnh San là ông bạn Boulé. Từ Madagascar, ngày 11 tháng 6, ông gởi về bộ Thuộc địa ở Paris một bản tường trình rất dài trong ấy ông kê tất cả những điểm tích cực : Hoàng thân  là một người tin chắc dân chủ, thật tình bạn của nước Pháp, hoàn toàn tán thành Tướng De Gaulle, uy tín quốc vương hợp pháp vẫn còn nguyên vẹn, lại đã được giáo dục để nắm giữ những chức vụ cao cấp. Nhưng bộ Thuộc địa trả lời ngày 4 tháng 7 là tình thế Đông Dương không cho phép khai thác giải pháp Vĩnh San và, hơn nữa,  yêu cầu ông Boulé chấm dứt mọi hoạt động trong chiều hướng nầy.

Trong suốt mùa hè 1945, Hoàng thân Vïnh San theo dõi kỹ những sự kiện thời sự nầy. Trước yêu cầu khẩn khoản của bạn bè ở La Réunion và Madagascar, vào khoảng tháng 5, ông cho ra một bản gọi là Di chúc chính trị  trong ấy ông tuyên bố những nguyên tắc lập chính phủ gồm có ba điểm chính : thống nhất ba kỳ, độc lập hoàn toàn và liên minh chặt chẽ với Pháp. Ông yêu cầu Pháp phải tỏ ra có thiện chí muốn thực sự giúp nước ông phát triển, cử chỉ trước tiên là xóa bỏ biên giới ba kỳ. Một nước phải thống nhất mới có được một lý tưởng, một linh hồn. Ông tin dân tộc ông ngả về dân chủ, tuy cũng nhận xét dân chúng chưa được huấn luyện để tự cai trị, một nước cộng hoà chỉ có thể thực hiện sau một thời gian giáo dưỡng cấp tốc. "Cần phäi trang bị cho họ một lý tưởng quốc gia lịch sử, trả lại cho họ lòng tự hào sẵn có từ thuở trước, cung cấp cho họ quan điểm trọng đại của sự thống nhất, một chương trình canh tân chính trị và xã hội có xu hướng xã hội chủ nghĩa ôn hòa liên hợp với truyền thống.  Riêng phần tôi, tình thương sâu đậm nước tôi cấm tôi để thả lỏng cho bất cứ một phân tranh nội bộ nào. Tôi ước mong tất cả những người An Nam nhận thức lại mình có một Tổ quốc và ý thức ấy thúc đẩy đồng bào xây dựng một quốc gia xứng đáng với Tổ quốc ấy. Tôi tin tưởng đã làm đủ phận sự người An Nam của tôi khi nào tôi đã cống hiến cho những dân quê Lạng Sơn, Huế, Cà Mâu một tinh thần huynh đệ. Bất chấp sự đoàn kết ấy được thực hiện trong một chính thể cộng sản, xã hội, bảo hoàng, quân chủ, cốt yếu là tránh bị cắt xẻ. Người Pháp phải nhất quyết biết cho là bất cứ trong trường hợp nào tôi cũng hành động cho lợi ích dân tộc tôi cũng như cho lợi ích dân tộc Pháp". Theo nhà sử học Philippe Devillers, bản di chúc nầy đặc biệt được trung úy Bousquet mang sang Đông Dương, in và phát, được một số người  ủng hộ, đứng hàng đầu có bác sï  Nguyễn Văn Tân ở Sài Gòn, một sĩ quan gốc Việt là thiếu tá Paul Lang, người sáng lập Đảng Tự trị. Nhờ vậy, Hoàng thân Vĩnh San có lần đùa khoe : "Bộ tham mưu của tôi đã có sẵn tại chổ". Vẫn biết vào thời buổi ấy, bộ Thuộc địa không muốn nghe nói đến danh từ độc lập, nhưng những người theo dõi sát thời sự, kể cả các sĩ quan như Tướng Leclerc, đều hiểu thời đại thuộc địa đã qua và thống trị cũng như quản lý trực tiếp phäi nhường chỗ cho tự trị và hợp tác. Đằng khác, quan niệm chính trị mới là phải bảo đảm tiến triển của quần chúng bản địa với sự hợp tác và phương tiện của những người lãnh đạo cổ truyền. Theo họ, Hoàng thân Vĩnh San thuộc loại những người lãnh đạo nầy vì là người nối nghiệp trực tiếp và hợp pháp một dòng dõi nhiều quốc vương đã dựng lên nước An Nam từ đó thừa kế những truyền thống của cả một triều đại.

Tư tưởng của Hoàng thân Vĩnh San thấy ra vượt quá bản tuyên bố của Tướng De Gaulle ngày 24 tháng 3 cùng năm 1945, theo phân tích của giáo sư Paul Mus, báo trước những nét chính của một cuộc xung đột. Trong bản nầy, người dân Đông Dương sẽ được đối xử như người Pháp, không chút kỳ thị, dễ dàng đạt đến mọi chức vụ, sẽ được hưởng thụ tất cả  những quyền tự do dân chủ và nhất là một chế độ tự trị tuyệt đối nhưng trong một Liên bang năm nước với một chính phủ do một vị Toàn quyền chủ trì, nghĩa là thuộc Pháp. Với một cơ quan hành chánh trực tiếp, bộ Thuộc địa không rút ra được một bài học nào từ những diễn biến lịch sử, cũng như từ sự thao diễn các tư tưởng những năm sau nầy và muốn trở lại với chủ quyền của Pháp như xưa. Khi Hoàng thân trở về Paris, may cho ông, ông không phải làm việc với bộ Thuộc địa mà hồ sơ của ông được ông Thống đốc De Langlade ở Văn phòng Tướng De Gaulle theo dõi. Thiếu tá De Langlade trước đây đã tổ chức cục Action (Hành động) nhắm mục đích phá hoại và quấy rối quân đội Nhật ở Đông Dương, nhảy dù xuống bắt liên lạc với Tướng Mordant thân De Gaulle và sau đó làm người liên lạc giữa Đô đốc Decoux và Chính phủ Alger. Ông đã tìm hiểu Hoàng thân qua giáo sư Pierre Eugène Thébault, trong rất lâu là Đổng lý Văn phòng ông Thống đốc Capagorry và là bạn thân của Hoàng thân. Ông Thébault dặn kỹ : " Coi chừng, nếu các ông đặt lại Vĩnh San lên ngôi, các ông sẽ có một đối tượng trung thành, đáng tin cậy nhưng ông ta sẽ không phải là một ông vua vô tích sự : ông ta muốn tự mình cầm quyền, tự mình quyết định. Ông ta có cái chất thủ trưởng và muốn trở nên thủ trưởng... " Thành quả đầu tiên là Hoàng thân nhận được sắc lệnh, từ tay Tướng De Gaulle ký ngày 29 tháng 10 năm 1945, lần lượt phong Vĩnh San những chức Thiếu úy ngày 5 tháng 12 năm 1942, Trung úy ngày 5 tháng 12 năm 1943, Đại úy ngày 5 tháng 12 năm 1944 và Tiểu đoàn trưởng ngày 23 tháng 9 năm 1945. Ai cũng có thể tưởng tượng nỗi hân hoan của Hoàng thân, hãnh diện được ban thưởng sau những ngày đau khổ, đợi chờ. Và ông cũng không quên ơn những bạn bè đã luôn giúp ông trong suốt giai đoạn khó khăn.

Ngày 14 tháng 12, ông được Tướng De Gaulle tiếp. Vị anh hùng giải phóng nước Pháp đã viết trong hồi ức : " Hoàng thân là một nhân vật đầy nghị lực. Ba mươi năm lưu đày không xóa bỏ ký ức một vị quân vương trong tâm hồn dân tộc An Nam". Theo ông Thébault kể lại, hai người rất mau thỏa thuận với nhau trên những quan điểm cốt yếu mặc dầu Tướng De Gaulle tuy tán thành sự thống nhất ba kỳ, chưa chịu dứt khoát chấp nhận. Bên phía Hoàng thân thì nhất quyết không chịu nhượng bộ về điểm nầy. Ông đã thấy trở về lại vai ngôi cũ của mình. Ông mơ thấy phấp phới ở Huế, Hà Nội, Sài Gòn song song  lá cờ tam tài của Pháp và lá cờ Việt Nam với ba sọc tượng trưng cho ba kỳ. Ông tin tưởng ở một cuộc liên minh giữa hai nước, cả quân sự lẫn ngoại giao dù chỉ có tính cách tạm thời. Quân đội, hải quân, không quân sẽ tốn kém hằng tỷ bạc mà  một nước nghèo không thể đòi hỏi thuế má ở dân chúng, trái lại cần xây dựng trường ốc, bệnh viện, cầu đường, đê đập. Ông tin cậy ở những nhà tư bản Pháp và không hề nghĩ cuộc hợp tác nầy có thể gây tổn hại cho nền độc lập đất nước. Dù sao, theo ông sẽ có những hiệp định ký kết giữa hai bên. Riêng về bản thân ông, sẽ không có lễ đăng quang, thụ phong, lên ngôi vì ông luôn còn là quốc vương... Trong hai buổi gặp gỡ Việt kiều trong khuôn khổ Hội Ái hữu An Nam ở Paris, có mặt các vị Phạm Huy Thông, Trần Đức Thảo, Võ Văn Thái , Trần Hữu Chương,... ông cố gắng trình bày quan điểm hợp tác với Pháp của mình. Trong buổi thứ nhì, với một bộ quân phục sang trọng lối dạo phố, vai mang bốn lon thiếu tá, ông báo tin đã "được người Pháp giúp đỡ thành lập một đạo quân toàn người Việt Nam, với mục đích sẽ đi tiền phong trong một cuộc hành quân tái chiếm Đông Pháp. Hiện nay đạo quân nầy do ông cầm đầu và tuyển mộ được một tiểu đoàn. Tiểu đoàn nầy được đem sang đóng ở Constanz, bên Đức". Linh mục Cao Văn Luận, người đã được ông cậy tổ chức hai cuộc găp gỡ đó, sợ Hoàng thân đã bị mắc mưu người Pháp muốn dùng ông như một lá bài. Hoàng thân  đề xướng ra phong trào Cờ Tự trị, dự định tổ chức các Việt kiều thiện cảm với ông thành một đảng. Linh mục thấy quá rõ là nỗ lực của Hoàng thân sẽ thất bại : những thành phần ưu tú cho ông quá dễ dãi với Pháp, bắt đầu xa lánh ông. Huyền thoại ngày xưa của ông chỉ lôi cuốn được một số nhỏ người dễ tin, phần lớn là lớp lính thợ, lính khổ đỏ hay Việt kiều gốc lính thợ ở lại lập nghiệp trên đất Pháp. Nghe nói trong các trại, những đảng viên Cờ Tự trị có thể bị thủ tiêu …

Không biết Hoàng thân đã cảm nhận gì vì hôm 17 tháng 12, trong bữa cơm tối với ông Thébault, trái với mọi khi, ông có vẻ buồn rầu, lo lắng, mang thêm một linh cảm đen tối. Ông sợ bị trúng một quả bom hay bị một lát dao khi trở về lại nước ông : ai có định mệnh nấy, không sao tránh khỏi ! Hoàng thân trách nước Anh chống việc ông trở về nước (một ý kiến sau nầy được Tướng De Gaulle chia sẻ) và còn thêm : "Tôi có linh tính sẽ không bao giờ lên lại ngôi vua"... Dự định qua Đông Dương với Tướng De Gaulle khoảng tháng 3 năm sau, ông xin về La Réunion thăm gia đình và bạn bè. Chiếc máy bay Lockheed Lodester, kiểu C-60, mang số F.BALV của Hệ thống Hàng không Pháp, chở sáu hành khách, ông là một trong hai quân nhân, hôm 26 tháng 12 năm 1945, lúc 18 giờ rưỡi, trên khúc đường bay Fort-Lamy đi Bangui, rơi xuống làng Bossako, huyện M’Baiki, tỉnh Lobaye, vùng Oubangui-Chari. Máy bay bị gãy hủy hoàn toàn, tất cả hành khách cùng ba phi công đều thiệt mạng. Một tai nạn hay có cuộc ám sát ? Ông Boulé, bạn thân của Hoàng thân nghi là có người muốn giết Hoàng thân, hứa màn bí mật sẽ được kéo lên sau khi ông mất, nay ông đã quá cố từ 1964 chẳng nghe  nói gì. Hồ sơ tai nạn ghi nhận máy bay không tìm ra đường băng sân bay, chỉ còn ít xăng, bay lên phía bắc tìm chỗ ít cây để cho máy đậu xuống thì vì sương mù, chạm phải chòm cây. Các chuyên viên đặt câu hỏi tại sao có ít xăng trong máy, tại sao máy bay cất cánh chậm để đến Bangui vào lúc trời tối không liên lạc với nhau được qua vô tuyến điện ? Biết bao câu hỏi có lẽ sẽ không bao giờ được trả lời.

Hoàng thân Vĩnh San mất đi vào tuổi 46 theo định mệnh như ông đã từng nói. Ván cờ của Tướng De Gaulle mất đi con cờ chính và Hoàng thân Vïnh San vĩnh viễn không trở lại ngôi vua như ông đã được linh tính báo cho biết. Trên mộ ông ở M’Baiki, một tấm bảng ghi những lời ông muốn : " Tôi ý thức đã phụng sự nước Pháp cũng như đã phụng sự nước tôi ". Sau nầy, chính phủ Việt Nam " chủ trương đưa hài cốt Duy Tân về Huế nơi 70 năm trước cựu hoàng dào dạt chí khí của người thanh niên yêu nước Việt Nam, đã rời ngai vàng đi chiến đấu", theo lời của giáo sư Phạm Huy Thông. Và hôm 6 tháng 4 năm 1987, hài cốt của Vua Duy Tân - Hoàng thân  Vĩnh San đã được đặt vào ngôi lăng ở Huế đúng như mong ước của ông. Gần một nửa thế kỷ sau khi ông mất, ngày 5 tháng 12 năm 1992, trong bài diễn văn đọc nhân lễ khánh thành đại lộ Vĩnh San ở thành phố Saint-Denis bên đảo La Réunion, ông Thị trưởng Gilbert Annette đánh giá ông : “Với một tính cương trực không có chút điểm yếu, Hoàng thân Vĩnh San tiếp tục trung thành suốt đời với những phẩm giá như sự trung thực và sự bảo vệ những chính nghĩa. Nhân danh và trong lòng tôn trọng những nguyên tắc ấy , ông đã không ngần ngại gia nhập cuộc chiến đấu của nước Pháp Tự do và sẵn sàng đáp ứng tiếng gọi của Lịch sử nếu cuộc đời còn dành thì giờ cho ông ”. Trong lời đề tặng sách cho tôi, Hoàng thân Claude Vïnh San tức Nguyễn Phúc Bửu Vang viết : "Một khúc đoạn lịch sử, một chốc lát vĩnh hằng... Thân ái ". Lịch sử dù là khúc đoạn ngắn ngủi cũng sẽ tồn tại đời đời.

Nghe bàn chuyện Lê Lai

Cũng như Nguyễn Dư, hồi nhỏ học sử, ai cũng biết "kịch bản chính thống" là Lê Lai liều mình cứu chúa, giặc bắt được giết đi.

Đùng một cái, tin được bắn ra "Có một Lê Lai mặc áo hoàng bào thế mạng Lê Lợi, bị quân Minh bắt; sau đó vài năm có một Lê Lai bị Lê Lợi giết vì ngạo mạn cậy công ". Người thấy lạ, kẻ bảo chẳng có gì đáng chú tâm, người xưa đã lý giải cả rồi. Muốn biết rõ, có lẽ chỉ còn trông mong vào những nhà nghiên cứu sử, bình tâm bàn bạc với nhau, xét dữ kiện, phê bình sách, nghiêm túc, khiêm tốn...

Nhưng muốn có thảo luận trước hết phải có người nêu vấn đề ! Phải chăng, xưa nay, những tiến bộ của khoa học, rất nhiều khi xuất phát từ những thái độ "xét lại lập trường chính thống" của xã hội? Tại sao mâu thuẫn trong chuyện Lê Lai, được viết trong sách từ mấy trăm năm nay, đến bây giờ mới được nêu ra?

Giá trị bài của Nguyễn Dư chính là dám đưa ra nghi vấn lịch sử này, cho mọi người góp ý.

Người đầu tiên đáp lời là Nguyên Thắng !

Trước lập luận của đôi bên, Nguyễn Dư và Nguyên Thắng, dốt sử như tôi, quả thực điên đầu.

1 - "Kịch bản chính thống"

Có một kịch bản: "Lê Lai bị người Minh bắt được, đem giết đi !".

Đây là "kịch bản chính thống", theo sách vở nhà trường. Điều đáng tiếc là những người viết ra kịch bản này, dĩ nhiên phải là những nhà thông thái, những sử gia nghiêm túc, biết "cân nhắc từng chữ", đã quên đi chuyện sau đó có một Lê Lai bị Lê Lợi giết.

Quên hay không biết ? Quả thật thông thái đến đâu, cẩn thận đến đâu đi nữa chắc cũng có chỗ sơ hở, đọc sách, luận bàn "chưa rốt ráo", "chưa tới nơi tới chốn".

a - Ông Ngô Sĩ Liên cắc cớ, nói Lê Lai bị giết mà không nói rõ Lê Lai nào, trong khi trong triều, theo "kịch bản Nguyên Thắng ", nhan nhản đầy quan đại thần tên Lê Lai, "đó là chỗ kém" của Ngô Sĩ Liên  (???!)

b - Ông Nguyễn Trãi, văn chương, mưu lược như thần, vậy mà chỉ nói Lê Lai bị "xử bằng cực hình khác hẳn các hình phạt thường dùng", sao không thêm câu "cho đến chết" ? Đã cân nhắc từng chữ, sao không nói toạc móng heo ra mà còn mập mờ: Lê Lai chết hay không chết? nói ra có gì đáng ngại?

b - Người sau viết sử, không biết có đọc sách của Ngô Sĩ Liên không, mà cứ lướt qua nghi vấn: Lê Lai bị giết một hay hai lần ?... như vậy có nghiêm túc không? Đúng hay sai, phải giải quyết chứ? Phan Huy chú đã không nói tới việc có một Lê Lai bị Lê Lợi giết, chắc có lẽ ông không biết chuyện đó, nên nghĩ rằng ông Lê Lai "liều mình cứu chúa" đã bị quân Minh giết.

Ngoài ra, ngôn từ xưa và nay chắc cũng có nhiều chữ đã đổi nghĩa. Ngày nay, chữ "bỏ mình vì nước" thông thường được hiểu là đã "chết vì nước", nhưng chữ "xả thân vì nước" không hoàn toàn cùng nghĩa. Vốn dốt chữ nho, tôi không biết chữ "bỏ mình" trong bài chế văn của Lê Thánh Tông (theo Nguyên Thắng) được viết nguyên văn bằng chữ Việt hay được dịch từ "chữ hán" nào? Và ngày xưa, phải được hiểu ra sao?

Như vậy "kịch bản chính thống" quả có nhiều sơ hở, vì nó không lý giải rõ ràng dữ kiện "có một Lê Lai bị Lê Lợi giết"! Lẽ ra đâu đó cũng phải nói, dù cho khẳng định: "Có một Lê Lai bị Lê Lợi giết, nhưng người đó không phải là kẻ đã cứu sống Lê Lợi" !

2 - Một hay nhiều Lê Lai? Bàn luận về sử phải chăng không cần xét đến giá trị các tài liệu có trong tay?

Với tất cả những nghi vấn đó, "kịch bản Nguyễn Dư": một Lê Lai bị bắt nhưng không bị Minh giết, dù giải thích chưa được thỏa đáng, theo ý tôi vẫn là ít gượng ép nhất, ít vặn vẹo nhất, so với kịch bản: "cho xuất hiện cùng một thời gian dăm quan đại thần Lê Lai khác". Rất có thể, cùng thời đó, có nhiều người trùng tên Lê Lai. Nhưng khó tưởng tượng nổi trong một triều đình có ba bốn quan đại thần, cùng mang một tên, cùng có công trạng lớn đến mức độ được mang quốc tính, dám ngạo mạn với vua, công trạng đó lại không được nhắc nhở trong sử sách. Trong các trận đánh, lớn nhỏ, sao không thấy nói đến tên Lê Lai? Ngoài công "liều mình cứu chúa", có Lê Lai nào còn công trạng khác?

Còn gì bình thường hơn khi ta hiểu rằng: Lê Lai trước, chịu hy sinh thế mạng cho Lê Lợi, với Lê Lai sau, bị Lê Lợi giết, chỉ là một Lê Lai? Cùng một tác phẩm ! cùng một tác giả ! Tại sao tác giả không nói là hai, mà mình cứ quả quyết là hai ? Nói ngược lại là không bình thường. Dĩ nhiên ta có quyền nói ngược Ngô Sĩ Liên, nhưng phải chưng bằng cớ ! Một bên là sử sách giấy trắng mực đen: "Giết tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản, vì Lai cậy có công đánh giặc, nói ra những lời ngạo mạn nên bị giết" , một bên là phân tách ngữ nghĩa : sách đời sau nói Lê Lai "bỏ mình" hay "xả thân", và "bỏ mình" có nghĩa là đã chết.

Nhiều tài liệu được Nguyên Thắng nhắc tới, dẫn chứng sự hiện diện của nhiều Lê Lai, nhưng chưa thấy luận bàn xem những tài liệu đó đáng tin cậy đến mức độ nào? Nhất là những tài liệu được viết rất lâu về sau, có cả một bản tục biên được sao lại năm 1942... Hiện tượng "tam sao thất bổn" hay "râu ông nọ cắm cằm bà kia" có thể xẩy ra? Con cháu chép chuyện ông Tổ mình trong gia phả, hay đúc bia (vào giữa thế kỷ thứ 19 ! ) liệu có thể thêm bớt hoa hoè gì không? Thời xưa, có hay không chuyện thay tên đổi họ, hay thay đổi năm sinh, năm chết, nhất là khi ông tổ mắc tội với triều đình, hay mắc tội chết chém (vì dám ngạo mạn!)

Với Lô Gích của Nguyên Thắng, dù không nói ra, hễ đã viết ra văn bản là đúng ! Này nhé, theo sách Ngô Sĩ Liên, đã có 2 Lê Lai, một "cứu mạng vua", một bị Lê Lợi giết). Năm 1942, có một bản sao của Lam Sơn Thực Lục tục biên, ghi có người tên Nguyễn Thận ở Mục Sơn, được ban tên là Lê Lai, vậy là ba Lê Lai. Sau đó, có bia tìm thấy ở Mục Sơn (cũng lại Mục Sơn!), có người húy là Lai được mang quốc tính vì "đem thân cứu chúa" (cũng lại "liều mình cứu chúa")... vậy là bốn Lê Lai...  Có chuyện ông Lê Lai - Lê Văn An liều mình cứu chúa nhưng không bị Minh giết ! lại chết năm 1437... , "lấy thân thay Thái Tổ" (nhưng thay làm sao? có bị quân Minh bắt không? nếu có, làm sao thoát về được để sống cho đến năm 1437? Đúng là "kịch bản Nguyễn Dư" nhé !). Còn kịch bản "Lê Lợi bị "gặp nguy hai lần", được "hai ông Lê Lai" khác nhau "lấy thân thế mạng", Nguyên Thắng có cho  là gượng ép không?  Dù có thể có nhiều người tên "Lai ".

Cùng thời với Lê Lợi và Lê Lai, Nguyễn Trãi không nói rõ là Lê Lai bị quân Minh giết. Thời sau, triều thần nhà Lê mới nói là Lê Lai bị quân Minh giết. Có ai nhớ câu chuyện "Thị Lộ và rắn báo oán " không nhỉ ? Phải chăng vì những chuyện "bóp méo lịch sử " thời Lê để giữ thể diện cho "Triều Đình sùng Nho giáo" này mà nảy sinh những chuyện "tiền hậu bất  nhất "  trong sách sử như chuyện Lê Lai ?

3 - Có thể nào đặt giả thuyết một cuộc giải cứu Lê Lai tại trận Tây Đô hay sau đó?

Khi tài liệu sử đã không rõ ràng, dĩ nhiên chỉ có cách bàn luận xét đoán thực hư, đưa ra giả thuyết này nọ. Và đã bàn luận thế nào chẳng phải dựng lên kịch bản, lớp lang, chuyện trước chuyện sau? Dù nói ra hay không, trong mỗi bài viết đều tiềm ẩn "một kịch bản".

"Kịch bản Nguyễn Dư" có ba điểm: 1-Lê Lai cứu chúa bị bắt. /2-Lê Lai thoát ngục trở về./3-Lê Lai bị Lê Lợi giết.

"Kịch bản Nguyên Thắng" quả quyết: 1- Lê Lai cứu chúa bị bắt./2-Lê Lai không thoát ngục được, bị quân Minh giết./3-Có nhiều Lê Lai, một trong những Lê Lai đó bị Lê Lợi giết sau này.

Điểm thứ nhất đôi bên cùng đồng ý. Điểm thứ ba chỉ là hệ luận của điểm thứ hai.

Điểm thứ hai được đặt ra: Lê Lai có bị quân Minh giết hay không?

Nếu không, bằng cách nào thoát ngục trở về? Lê Lai được giải thoát trong trận đánh úp Tây Đô, hay sau này, sau trận Tây Đô, trong điều kiện khác? Thực ra, được giải thoát trong trận Tây Đô hay không, tự nó, dữ kiện này cũng không quan trọng. Điều chính là Lê Lai có còn sống đến năm 1427 hay không?

Trở lại giả thuyết Lê Lai được giải cứu trong trận Tây Đô. Một số câu hỏi lẩn thẩn có thể được đặt ra : Tây Đô được chiếm toàn bộ hay không trong một thời gian ngắn ? Lê Lai bị giam chỗ nào? Quân ta tấn công đến đâu? Có thể nào tưởng tượng có người giải cứu tù nhân để lập công trong lúc hỗn loạn?

(...)Chu Kiệt bỏ cũi, Hoàng Thành phơi thây
Đất Nghệ An chiếm lại, Tây Đô thu nhanh về tay
Gạo nước đón rước
Người theo đầy đường...
                        (Phú Núi Chí Linh)

Nếu không coi bài này là tài liệu lịch sử chính xác, ít nhất nó cũng nói lên khí thế trận Tây Đô.

Dĩ nhiên, nói chuyện "vượt ngục", "giải cứu tù nhân", có người sẽ cười nói là "chuyện tiểu thuyểt !

Lấy chuyện khác để so sánh: Lê Xí bị Minh bắt, "nhân ban đêm mưa gió, dùng mẹo đánh lừa kẻ canh giữ, thoát về được, vào ra mắt vua ở dinh Bồ Đề". Đấy ! Không cần ngoại công nội ứng, chỉ một đêm mưa gió mà vượt ngục được.

Thế lúc quân ta tràn vào (đến đâu, chưa biết), trống trận ầm ầm, thành lũy tan vỡ, quân Minh nhốn nháo, tứ phía bủa vây, 500 lính Minh bị giết, bao nhiêu lính bị bắt, không biết có thể tưởng tượng một cuộc giải thoát tù trong điều kiện này không nhỉ?

Hay là Lê Lai được giải cứu sau này, trong điều kiện khác? Dĩ nhiên, kịch bản "Lê Lai được giải cứu" có nghĩa là trước sau, ít ra cho đến năm 1427, chỉ có một Lê Lai cứu Lê Lợi sau bị Lê Lợi giết.

Còn nếu tin theo Nguyên Thắng: Lê Lai không hề được giải cứu, đã bị Minh giết, thì chỉ còn cách dựa vào sách vở, ngôn từ, phân tách ngữ nghĩa, trưng bằng cớ, chứng minh có nhiều Lê Lai được ban quốc tính, chung sống cạnh Lê Lợi trước năm 1427.
Như vậy cứ chứng minh là có nhiều Lê Lai vây quanh Lê Lợi, và tưởng tượng Lê Lợi ra lệnh: " Lê Lai 1 cưỡi voi ra thế mạng ta, Lê Lai 2 theo ta hộ giá, Lê Lai 3 đem quân ra đối đầu giặc...".

Nghe những người trong "nghề đọc sách" luận bàn không hẳn là dễ, cũng lắm công phu đấy chứ nhỉ !...

Phụng Dương công chúa

Công chúa Phụng Dương (1244-1291) là con Tướng quốc Thái sư Trần Thủ Độ, mẹ là phu nhân Bảo Châu. Từ nhỏ, Phụng Dương đã nổi tiếng thông minh và rất mực hiền hậu. Vua Thái Tông Trần Cảnh yêu n đem về cung nhận làm con nuôi, cho hiệu là Phụng Dương. Từ đó Phụng Dương trưởng thành trong hoàng cung như một nàng công chúa.
Lớn lên Phụng Dương được gả cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Nghi lễ đúng lệ như con gái vua lấy chồng. Nhưng thật không may cho Phụng Dương, lúc ấy Thái sư Trần Quang Khải đang say mê một người thiếp nên nhạt tình với vợ mới. Chuyện đến tai Trần Thủ Độ khiến ông nổi giận cho gọi con gái về hỏi han cặn kẽ rồi quyết định không cho phép Quang Khải được làm như thế. ở phủ tể tướng, Quang Khải có nhiều thê thiếp nhưng về danh nghĩa, Phụng Dương là chánh phi, tuy nhiên, Phụng Dương đối xử với các thứ thiếp của chồng hết sức bao dung. Bà ân cần chỉ bảo cho họ cách làm ăn, khu xử. Hoặc họ làm điều gì khiến Quang Khải la mắng thì Phụng Dương lại nhẹ nhàng khuyên giải để họ biết lỗi mà sửa. Trần Quang Khải bàn việc nước, bà lo quán xuyến việc nhà, cư xử với người già người trẻ có phép tắc, sắp xếp công việc đâu ra đấy, nên tiền tài không hao phí mà vẫn sinh lợi khiến chồng rất hài lòng.
Đi lấy chồng nhưng Phụng Dương vẫn săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ chu đáo. Khi cha mất, bà đích thân lo cơm nước hầu hạ mẹ hệt như một cô gái thường dân nết na hiếu thảo.
Năm Giáp Thân (1284) quân Nguyên xâm lược nước ta. Thái sư và bà xuôi thuyền cùng triều đình về Thiên Trường. Thình lình nửa đêm có chiếc thuyền bị bốc cháy. Nghe tiếng hoảng loạn, ai nấy tưởng giặc đến nơi rồi. Bà bình tĩnh đánh thức Thái Sư dậy, đưa lá mộc che tên cho chồng. Bà được Thái sư thực sự yêu phục.
Cuối đời, Thượng tướng Thái sư về nghỉ ở trang riêng tại phủ Thiên Trường. Bà về theo rồi mất ở đấy năm 47 tuổi. Nhân cách bà được chính Thái sư đánh giá:
- Làm điều thiện, nói điều nhân, sống nết na, chết lưu danh, vượng phu ích tử.

Nguyễn Phúc Cảnh

Hoàng tử  Nguyễn Phúc Cảnh sanh ngày 2 tháng 3 năm Canh Tý (6-4-1780) tại Gia Ðịnh, con của Nguyễn Ánh và bà Tống Thị Lan (sau là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu).

Năm 4 tuổi, Hoàng tử được gởi theo Giám mục Bá Ða Lộc sang Pháp cầu viện, tới năm 1789 mới trở về với gia đình. Mùa xuân năm Quí Sửu (1792) Hoàng tử lên 14 tuổi, Nguyễn Vương lập ông làm Ðông Cung, phong chức Nguyên Súy Quận công, chọn các đại thần giúp đở để ông quen chuyện chính trị. Trong các phụ đạo (thầy dạy) có Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh và Ngô Tùng Châu.

Năm Ðinh Tỵ (1797) ông theo Nguyễn Vương đi đánh Qui Nhơn, rồi đáng Quản Nam, khi quân trở về Thái tử tâu xin cho soạn Hiển trung chư thần liệt truyện để chép truyện các bậc tôi trung đời trước để khuyến khích mọi người , được Nguyễn Vương chấp thuận.

Mùa Xuân năm Tân Dậu Thái tử bị bệnh đậu mùa và mất vào ngày 7 tháng 2 năm Tân Dậu (20-3-1801), thọ 22 tuổi. Ông có hai người con trai. Con trưởng là Nguyễn Phúc Mỹ Ðường (còn có tên là Ðán), con thứ là Nguyễn Phúc Mỹ Thùy (còn có tên là Kính). Ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể là cháu năm đời của Hoàng tử Cảnh.

Thanh kiếm Thái A của vua Gia Long

Khách du lịch ghé qua Paris không thể không lại viếng Điện Quốc gia Phế binh (Hôtel National des Invalides) có tiếng nhiều nhờ đã chứa mồ của Vua Napoléon. Nhưng chớ nên quên trong tòa nầy còn có Viện Bảo tàng Quân đội (Musée de l’Armée) là một trong những viện lớn nhất thế giới về mỹ thuật, kỹ thuật và lịch sử quân sự. Đặc biệt Phòng Đông Phương, Cận Đông và Viễn Đông từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 (Salle Orient, Proche Orient et Extrême-Orient du 15ème au 19ème siècle) trưng bày nhiều khí giới Ba Tư, Ấn Độ, Tích Lan,…những thanh gươm Trung Quốc, Nhật Bản… bao quanh một thanh bảo kiếm được ghi là của vua Gia Long. 

         Tôi không phải là người độc nhất tò mò đi tìm xem thanh gươm nầy. Nhưng tôi lại đã xin được ông Quản đốc Viện Bảo tàng mở tủ cho tôi chụp hình. Không biết bao giờ mới có dịp may như thế nầy, tôi đã chụp ngang, chụp dọc, chụp trên, chụp dưới,… Thanh kiếm  gồm có hai phần : một lưỡi dài khoảng một thước và một cán ngắn bằng một phần năm lưỡi. Đầu cán là một đầu rồng, có thể đầu một con giao hay một con cù không sừng, bằng vàng chạm trổ. Có người Pháp cho nó giống một đầu con chó (Note E) (1). Cổ rồng nối liền đầu rồng và đốc kiếm (garde) làm thành đốc gươm (fusée) là một dãy bảy vòng ngọc thạch giống bảy đốt tre dính liền với nhau qua những đường gân bằng vàng với đằng cuối một vòng mạ vàng nằm giữa bốn chuỗi san hô xanh đỏ. Miệng rồng nhả ra một băng mạ vàng cũng mang phía ngoài bốn chuỗi san hô xanh đỏ uốn quanh về đốc kiếm làm thành cánh đốc kiếm (quillon). Ở đằng cuối, cánh đốc kiếm nầy mở rộng ra quanh lưỡi kiếm, có chạm trổ những hình lá và nạm những hột kim cương. Lưỡi kiếm hình hơi cong là một thanh thép sáng ngời, khắc ở phần trên một mặt trời nằm giữa mấy cuộn mây và tên gươm bằng ba chữ Hán : Thái A Kiếm. Tên nầy không phải ngẫu nhiên mà có.

         Trong hai cuốn Từ điển Từ ngữ Điển cố Văn học và Từngữ Văn Nôm (3) có sự tích nầy : "Lúc nhà Tần chưa diệt được Ngô, Trương Hoa xem thiên văn thường thấy giữa sao Đẩu và sao Ngưu có luồng khí máu đỏ tía, các đao thuật đều nói đó là điềm báo nước Ngô đang buổi cường thịnh, chưa đánh được. Riêng Trương Hoa cho lời nói đó không đúng. Đến khi đánh lấy được Ngô rồi, luồng khí lại mạnh và sáng hơn. Trương Hoa mới đem chuyện hỏi Lôi Hoán, người giỏi về thiên văn thuật số. Lôi Hoán cùng Trương Hoa lên lầu cao quan sát một hồi lâu. Lôi Hoán nói : "Chỉ giữa sao Đẩu và sao Ngưu là có luồng khí lạ đó. Ấy là cái tinh của bảo kiếm ở Phong Thành xông lên tận trời đấy". Trương Hoa nói : "Quả vậy, nay tôi muốn phiền anh ra làm quan lệnh ở đất ấy rồi ra công tìm gươm báu cho". Lôi Hoán nhận lời. Ông đến Phong Thành, cho đào nền nhà ngục, thì tìm ra được một cái hòm đá nằm sâu dưới lòng đất hơn bốn trượng. Khi sáng lóe ra, bên trong có hai thanh gươm, một thanh có khắc chữ "Long Tuyền", và một thanh khác chữ "Thái A". Đêm hôm đó không thấy luồng khí lạ ở giữa sao Đẩu và sao Ngưu nữa". 

         Nguyên quán hai thanh kiếm trống Long Tuyền và mái Thái A nầy trong Tể tướngkiếm, trước mang tên Can Tương và Mạc Da trong Nguyên nhân kiếm được giải thích trong cuốn Thành ngữ Điển tích Từ điển (2). "Ngô Hạp Lư đời Đông Châu giết anh lên ngôi, khiến Can Tương  là một tên thợ rèn gươm có tiếng, rèn riêng cho mình một lưỡi gươm. Can Trương tìm sắt tốt vàng ròng, rồi lựa ba trăm con gái còn tơ đốt than nung lò ba tháng mà vàng không chảy. Vợ Can Tương là nàng Mạc Da nói, rèn cái gì mà không hóa thì cần phải có người để cúng mới nên. Mạc Da mới tắm gội sạch sẽ, cắt tóc nhổ răng, khiến người quạt lửa cho đỏ rối gieo mình vào lò than. Vàng sắt đều chảy. Can Tương lấy đó rèn hai lưỡi gươm, một lưỡi thuộc dương đặt tên là Can Tương, một lưỡi thuộc âm đặt tên là Mạc Da. Rồi can Tương đem lưỡi Mạc da dưng cho Hạp Lư , còn lưỡi Can Tương thì giấu để lại cho mình. Hạp Lư biết được giận lắm, sai người qua đoạt. Can Tương lấy gươm liệng lên hóa rồng cỡi đi mất". Sáu trăm năm sau, tới triều Tấn, tiếp theo là câu chuyện Lôi Hoán, Trương Hoa đã thấy ở trên. Thì ra Thái A Kiếm là lấy từ sự tích bên Tàu. 

         Trong một bức thư viết cho ông Carnot năm 1922 để trả lời một câu hỏi của ông André Salles, Thanh tra Thuộc địa, ông Đại tá Payard, Phó Giám đốc Điện Quốc gia Phế binh tả lưỡi kiếm chỉ có một rãnh khoét (gorge d’évidement) (Note E) (1), thành thử có tác giả, trong một thiên khảo cứu tìm tòi(4), xác định thanh kiếm nầy là một sản phẩm Âu châu, chỉ có gắn vào một đốc kiếm Á châu thưc hiện tại chỗ. Tuy nhiên, ở Viện Bảo tàng Quân đội Paris, bảo kiếm nầy được trình bày là thanh gươm của vua Gia Long. Thật hay không, cần phải có một bằng chứng, chẳng hạn một cái ảnh vua Gia Long mang kiếm hay một văn bản xác định thanh kiếm Thái A chính là của vua Gia Long. Ví như thật là của vua Gia Long thì ai đã đem biếu tặng kiếm cho vị quốc vương Việt Nam và trong điều kiện nào kiếm được đem về trưng bày trong tủ kính Viện nầy ? Ông Quản đốc viện không có một tài liệu nào để giải thích sự kiện nếu không là một bản tin vắng tắt cho biết thanh kiếm được đem từ An Nam về sau cuộc viễn chinh đầu tiên (Note B) (1). Nếu khó lòng biết được lúc nào kiếm đã đến với vị vua nhà Nguyễn, có thể đoán biết làm sao kiếm đã rời khỏi hoàng thành. Thanh nầy khác hẳn thanh kiếm vua Khải Định sau nầy hay đeo như thấy trong ảnh. Nó cũng không thể là thanh kiếm vua Hàm Nghi đã mang theo với chiếc ấn khi cùng triều thần xuất bôn, khởi hịch Cần Vương sau đêm kinh đô thất thủ vì một cặp kiếm cùng các bảo vật đã  được phát hiện gần đây ở thôn Phú Hòa, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (6)  đồng thời một thanh gươm khác "dùng để chém những dân phu chôn vàng" rỉ, mục, nhặt được bên cạnh một gốc cây tươi trên đồi Yên Ngựa ở vùng Mả Cú thuộc xóm Rôồng, thôn Đặng Hóa, Xã Hóa Sơn (7). Ta không thể tưởng tượng một ông vua nào hay một vị đại thần nào đã đem dâng biếu cho một người ngoại quốc thanh kiếm của nhà vua, "một bảo vật lịch sử và tượng trưng quan hệ đến hạnh phúc và sự bảo tồn dân tộc" như vua Đồng Khánh đã nói với nhà văn Jules Boissière năm 1888 khi tiếp kiến ông nầy ở Huế và tỏ ý được hoàn lại (Note F) (1). Nếu kiếm rơi vào tay người Pháp thì có thể là vì họ đã tự tiện đoạt lấy, đặc biệt vào lúc tình hình rối beng, không còn trật tự chẳng hạn vào những ngày  biến cố Ất Dậu 05.07.1885. 
 

 Bộ Lại cho đến bộ Binh,

Phố phưòng hai dãy nép mình cháy tan.

Bao nhiêu của cải bạc vàng,

Nửa thì nó lấy, nửa đốt tàn thành tro…

 (Vè Thất thủ kinh đô) 

Trần Nhân Tông - Minh quân và đạo sĩ

Trần Nhân Tông (1247-1308)

"Nhà ta vốn là dânhạbạn,

  đời đời ưachuộng việc hùng dũng..”

(Trần Nhân Tông)

Trong lịch sửViệt Nam, có những vịvua giỏi giang cánđáng và lãnh đạo nước trong những tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là mộttrong những vịvua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạncực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước trong những thời kỳgay cấn nhấtcủa lịch sửViệt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổreo rắc kinhhoàng ởkhắp lục địa Á-Âu.

Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổlần hai và lần ba,ông đã cùng tướng sĩvà nhân dân đối phó vàđánh bai giặc. Ông là người mởraHội nghịDiên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. TrầnNhân Tông không những là vịvua cương chính và gần dân mà còn là một đạo sĩPhậtgiáo hiền tài, một trong ba sưtổsáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.

1- Con người và sự nghiệp

(a)    Bản chất con người

Thái tửTrần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thaythếThượng Hoàng Thánh Tông năm 1279. Ông là một vịvuacó cốt ởdân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ý thức về nguồn, gợi nhớgốc tổRồng Tiên, nhưlời ông từng nói với con Trần Anh Tông vàQuốc Công Trần Quốc Tuấn: "Nhà ta vốn là dân hạbạn, đời đời ưa chuộng việc hùngdũng... thích hình rồng vào đùi đểtỏra không quên gốc." Tục xâm hình rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từthời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì pháttriển mạnh mẽ. Từvua quan đến quân dân đều vẽxâm hình rồng trước bụng, saulưng và hai vếđùi. Lúc này người ta chẳng những quanniệm xâm hình rồng đểkhi xuống nước không bịgiao long làm hại mà còn nhầm nhắcnhởnhau vềmột nguồn gốc nhưlời vua nhắn nhủ.

Tục này thịnh hành đến nỗi ngườiTrung Hoa trông thấy gọi là "thái long" tức rồng vẽ. Theo sứnhà Nguyên TrầnPhụ, thì mỗi người dân Đại Việt còn thích chữ"Nghĩa di quyền phụ, hình vu báoquốc" (Vì việc nghĩa mà liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấydưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một lòng và tụtập quanh một ông vuacó căn cơlà gốc dân

(b) Tư cách lãnh đao

Nhân Tông là một vịvua anh minh, biết dùng và trọngdụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũluợt kéo ra giúp nước,lòng người nhưmột. Bên ông, vềquốc triều có Thái sưTrần Quang Khải, vềbinhsựcó các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm NgũLão, Trần KhánhDư, Trần Nhật Duật .., vềvăn học có các văn thi sĩuyên bác nhưNguyễn Thuyên,Trương Háng Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơphú, văn hay nhưHàn Dũbên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông chođổi tên là họHàn.

Sựhiểu người và dùng người của ông được thểhiện quamột câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của HốtTất Liệt là Thái tửThoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binhmã ởbiênthùy đểsửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ(1282), tạibến Bình Than có một cuộc họp lịch sửgiữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ.Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nhìn ra ngoàisông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chởđầy than theo dòng đổvềxuôi. Nhácthấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộngộtrông nhưngườiquen, vua bèn chỉvà hỏi quan thi thần:

- Người kia có phải là Nhân HuệVươngkhông?

Rồi lập tức sai quân chèo thuyềnnhỏđuổi theo. Nhưng lát sau chỉthấy quân trởvềkhông, tâu với vua là ông láingang bướng ấy không chiu đến mà chỉtrảlời rằng:

- Lão già này là người bán than, có việc gìmà vua goi đến!

Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngac nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xửnhẹcũng phải dăm chụctrượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:

- Thếthì đúng là Nhân HuệVương rồi, ngườithường không dám trảlời ta nhưthế!

Rồi sai nội thị đi gọi: lần này "lão ta" chịu đên. Vua quan nhìn ra thì đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần xắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẻ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông tình cờ lại hóa hay.

- Thếnào, liệu khanh còn đủsức đánh giặchay không? – Nhân Tông ướm hỏi.

Nghe thấy hai chữ"đánh giặc", mắt Trần Khánh Dưvụtsáng:

- Dạ, thần còn đủsức. Mấy năm nay vung rìuđẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắn rỏi hơn xưa.

Nhân Tông cười vui vẻ và ngợikhen:

- Quảlà gan Trần Khánh Dưcòn bền hơn sắt đá. Được rồicòn phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?

Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũáo,phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ởghếcuối hàng vương đểbàn việc nước.Thếlà triều đình lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra phò vua giúpnước.

Sựdùng người của Nhân Tông như thế xứng đángphong cách của một người lãnhđạo:hiểu và dùngngười đúng chỗ

 (c) Cách cư xử người

Trần Nhân Tông là một vịvua khí khái và nhân đức. Đốidiện với bao phong ba bão táp, ông lãnh đạo tướng sĩvà nhân dân chống đỡnhữngcơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không đểý đến tình trạng của quândân.

Khi quân Mông Cổvới khí thếhung tàn tràn vào Đại Việt,Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn vì kém thếthua chạy rútvềVạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngựmột chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mìnhthua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:

- Thếgiặc to nhưvậy, mà chống nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi đểcứu muôn dân?

Hưng Đạo Vương tâu rằng:

- Bệhạnói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếuxã ­tắc thi sao? Nếu bệhạmuốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sausẽhàng.

Nhân Tông nghe lời nói trung liệt nhưvậy, trong bụngmới yên.

Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết lòng với chúa, nên xúc động mới than rằng: "Làm bầy tôi nên như người này" rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.

Khi bóng quân Mông Cổkhông còn trên đất Nam, triều đìnhbắt được một tráp chứa các biểu hàng của một sốquan. Sốlà khi quân giặc đangcường thịnh, triều thần lắm kẻhai lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thầnmuốn lục tráp ra đểtrịtội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩxađến sựhoà giải dân tộc nên sai đem đốt cảtráp đi choyên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cốđô. Duy chỉnhững người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bịtrịtội

(d) Trị nước

Trách nhiệm giữnước đã xong, Nhân Tông còn phải ngoạigiao với giặc và xây dựng lại đất nước và người.

Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng,mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sựtàn phá của quân Mông Cổthật nặngnềđến nổi, lúc chiến thắng trởvềThăng Long, vua không còn cung điện đểởmàphải tạm trú ởLăng thịvệ. Trong tờbiểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đã phảiviết: "đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộtổtiên, cướp bóc dângian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ ...".

Hậu quảcủa chiến tranh tàn khốcnhưvậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộcchiến,

Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chỗ khác thì xét miễn giảm theo thứbậc khác nhau. Chinh sáchkhéo léo và có tầm nhìn xa này, thểhiên một tinh thần thương dân và ởmột đầuóc có tưtưởng đầu tưxây dựng lâu dài, đã được kểlại trong quyển "Long thànhdật sự" nhưsau:

Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bịsanbằng, vua Nhân Tông định hạchỉgấp rút xây lại thànhtrì. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: "Việc sửa lại thành trìkhông cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đình phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năn, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối,từnơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bịtàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫnmột lòng hướng vềtriều đình, xuất tài, xuất lộc, đilính và đóng thuế, làn nên một lựclượng mạnh cho triều đình chống nhau vớigiặc. Nay nhà vua được trởvềyên ổn. Việc làm trước hết là chú ý ngay đến dân,những nơi nào bịtàn phá, tuỳtình trạng nặng nhẹmà cứu tế; nơi nào bịtàn pháquá nặng, có thểmiễn tô thuếmấy năm. Có nhưthếdân mới nức lòng càng quyhướng vềtriều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: "chúng chí thành thành" nghĩa làý chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay,xin nhà vua xửlý."

Vua Nhân Tông vui vẻ nghe theo lời khuyên của Trần QuốcTuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đâychúng ta đã không nắm mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.

Cũng vậy đểcải tổbộmáy hành chánh, và thúc đẩy nềnkinh tếgiúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủtục, các quan lộcvà quan liêu trong nước. Trước một bộmáy quá lớn và quá nặng nềtừThượng thư sảnh, Môn hạsảnh, Nội mật viện, đến các quan, các lụcbộ, các cục (Nội thưhoảcục, Chi hậu cục..), các đài (Ngựsửđài), các viện(Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sửviện, Thái y viện,..), cácty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên:

            " Sao một nước bé bằng bàn tay mà phongnhiều quan thế! "

Lại một lần nữa, vấn đềnày cũng là vấn đềmà hiện naychúng ta đang trực tiếp đối diện

(e) Trung hiếu và gia huấn

 Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàngđầu. Đối với thượng hoàng và các bềtrên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông thườnglễlong trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơcủa ông làm lúc vềbáiyết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại trong sửsách.

Trượng vệthiên môn túc

Y quan thất phẩm thông..

(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,

Đủáo mũcác quan của bảy chức ..)

Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần AnhTông, ông đểtựdo nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức vềphép trịdân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rựu và lẻn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thếcólúc Nhân Tông phải có thái độcứng rắn.

Tháng năm năm KỷHợi (1299), vuaAnh Tông uống rượu xương bồsay quá. Thượng hoàng Nhân Tông từphủThiên Trường(Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ởan dưỡng, vềkinh sư, quan trong triềukhông ai biết cả. Nhân Tông thong thảxem khắp các cung điện, từsáng đến trưa.Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoảnh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ởđâu?

Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh.Ông giận lắm, trởvềThiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đếnhọp ởphủThiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hãi quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp mộtngười học trò tên Đoàn NhữHài, mượn thảo bài biểu đểdâng lên tạtội, rồi cùngvới NhữHài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủThiên Trường. Nhân Tông xem biểurồi quởmắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từđóvua Anh Tông không uốngrượu nữa

2- Xuất thế và thơ văn

Sau khi quân xâm lăng Nguyên Mông Cổkhông còn dám cótham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho conởThăng Long rồi rút vềThiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúcđó, ông đã là một nhà đạo sĩvà thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc nàychuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã xong giờđến việc mìnhvà đời sống tinh thần của bản thân.

Ông cùng các đệtửcủa mình lên núi Yên Tử(Quảng Ninh)xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông làvị"tổ" đã có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ởvùng Yên TửSơnnày. Trần Nhân Tông, cùng sưPháp Hoa và sưHuyền Quang là tam tổcủa trườngphái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổvì chỉriêng ởViệt Nammới có.

Sựnhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêucực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hinh thái nửa có nửa không, nửa thực nửa hưvà có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phậtgiáo nhập thếmà tất cảmọi người dân đều có thểáp dụng theo đuổi ởmọi nơi,mọi lúc trong đời sống không phải chỉởcửa chùa. Bắt nguồn từthiền Vô Ngônthông, quan điểm cơbản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ởtâm, ở trong ta, khi đốn ngộthì ta là Phật và Phật là ta. TừYên TửSơn, lâu lâu NhânTông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê hương mình. Lúc quaThiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quêViệt Nam, dưới con mắt Thiền của mình, ông đã xúc cảm làm một bai thơtựa đề "Thiên Trường vãn vọng"

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dươngbiên

Mục đồng địch lý quy ngưutận

Bạch lộsong song phi hạ điền

   (Xóm trước thôn sau tựa khói lồng

Bóng chiều dường có lại dường không

Mục đồng sáo vẵng trâu vềhết

Cò trắng từng đôi hạxuống đồng)

Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽvà yêntĩnh nhưkia là một hiện thực, đã có từnghin năm naytrong đời sống nhân dân, và đã tác động mạnh mẽvào một tam hồn Việt cội rễcủađạo sĩTrần Nhân Tông.

Danh tiếng của đạo sĩTrần Nhân Tông vang lừng khắp ĐạiViệt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sửchưa từng có của mộtThượng hoàng nước Đại Việt, cảChiêm Thành từvua quan đến nhân dân một lòng tônkính một hiền sĩtừphương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiềutừmột nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giả tạo đặt ra bởi sựkhông thông hiểugiữa con người. Ông đã nhin xa và muốn thắt chặt tình thân hữu anh em của haidân tộc Việt-Chiêm. Ông đềnghịvới vua Trần Anh Tông kết hợp con gái là côngchúa Huyền Trân (tức con ông) với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từsựkính trọng đối với một đạo sĩhiền tài này, đã hoan hỹchấpnhận. Vua Chiêm là ChếMân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổbộởChiêm Thành) đã tặng ĐạiViệt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sửnày. Nhưng tiếc thay saukhi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dântộc.

Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ởam NgoaVân, núi Yên Tử. Su Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xálịđểvào hộp, mang vềchùa TừPhúc ởkinh sư.

Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàngđược rước vềchôn ởlàng Quý Đức, PhủLong Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiển linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết,tạm quàn Nhân Tông ởđiện Diên Hiền, khi sắp phát dãn, đã đến giờrồi mà quanliêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cảtểtướng cầm roi xua đuổi màcũng không thểgiản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tửđến bảo rằng: "Linh cửusắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn nhưthếnày thì làm thếnào ?". Trọng Tửlàngười có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi vềâmnhạc. Trọng Tửlập tức đến thềm Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổdực doTrọng Tửtrông coi đến ngồi la liệt ởthềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọingười đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giản người, linh cửu mớirước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động... Suốt mấy ngày ấy từThăng Long đến Thái Binh, Long Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩcuối cùng

Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời nước ĐạiViệt. Mặc dầu thểxác ông không còn và đã tan thành tro bụi nhưông muốn, nhưnghồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt

Lời bạt:

Trong lịch sửtrên thếgiới rất hiếm người tài vừa làvua trịvì vừa là một hiền triết. Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trịan độnhân dân, độlượng với mọi người và đểlại tácphẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ởphương đông hơn mười hai thếkỷsaucó Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm ViệtNam với tác phẩm thiền “Khoá Hưlục”(1)không kém sâu sa.

Thiền Trúc Lâm Yên tửtuy không còn, nhưng dưâm vẫn cònvọng: cuối thếkỷ18, Ngô Thì Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác phẩm “Trúc Lâm tông chỉnguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ởĐà Lạt là một cốgắngmong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổThăng Long nay đãđược khám phá,một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽđược hồi phục vàđến được nơi vua làm việc, đãi yến và nơi linh cửu Nhân Tông tạm quàn của thuở xa xưa, đểhình dung cảnh quan và tưởng tượng trởlại thời vàng son của thiềnViệt Nam với minh quân Trần NhânTông. Núi Yên Tửgiờđã có cáp treo, nhưng đihành hương đường dốc bộvẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng NhânTông.

(1)Theo Thiều Chửu và một sốnhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả“Khóa hư lục” chứkhông phải Trần TháiTông

          Còn có câu hỏi tại sao vua Hàm Nghi khi xuất bôn không đem thanh kiếm nầy theo cùng với cặp kiếm của ông, trừ phi kiếm đã bị cướp mất trước hay trong thời gian biến cố. Dù sao, cướp bóc thời chinh chiến là chuyện thường thấy ở nhiều nơi, huống hồ quan quân thuộc địa còn làm những việc tầy trời như tháng giêng 1913, dưới triều vua Duy Tân, viên Khâm sứ Georges Mahé dám cho đào lăng vua Tự Đức để chiếm lấy những bảo vật, một điều điếm nhục đã gây nhiều phẫn nộ trong dân chúng cùng triều đình Việt Nam và cũng không ít tai tiếng trong giới bảo hộ đến nỗi sau đó thủ phạm bị triệu hồi về nước. Xin nhắc lại, cướp kiếm chỉ là một giả thuyết, đến nay chưa có một tài liệu nào chứng xác sự kiện. Sự can thiệp của J. Boissière không thấy có kết quả vì thanh kiếm luôn còn nằm ở Viện Bảo tàng Quân đội  Paris. Và ở đây lại xảy ra một sự kiện khác cũng có phần lý thú. 

         Ngày 03.10.1913 tờ báo Journal (Note A) (1), đăng một tin nhỏ : Hôm qua, thứ năm là ngày Viện Bảo tàng mở cửa, lúc bốn giờ, sau lúc viện đóng cửa, những người canh giữ khám phá một tủ kính bị phá vỡ và đã bị mất cắp một thanh gươm An Nam, bao gươm và vòng đai. Những bảo vật nầy mạ vàng, nạm đá, ngọc, có một giá trị lớn. Cuộc điều tra chẳng đem lại kết quả gì. Những dấu in trên kính đã được ghi lại nhưng khách rất đông, phần lớn là người nước ngoài. Tủ kính đã được khôn khéo mở ra với những dụng cụ cắt thép tí hon . Ngày  hôm sau, 04.10.1913,  tờ báo Temps ( Note B) (1) cũng cho đăng tải một tin tương tự với chi tiết bao gươm bằng da nạm kim hoàn và cặp móc chạm trổ dát một viên đá quý lớn. Sau khi đọc tin nầy, lập tức ông André Salles, Thanh tra Thuộc địa, viết thư cho Trung tướng  Niox, Giám đốc Viện Bảo tàng, Tư lệnh Tòa Quốc gia Phế binh, người có nhiệm vụ thực hiện cuộc điều tra với ông Guérin, để tố cáo những nhà cách mạng An Nam. Lời buộc tội nầy không có một bằng chứng nào, có thể chỉ phát xuất từ thái độ hiềm khích của ông André Salles đối với những chí sĩ Việt Nam. Ông Niox cũng không tin và cho biết thêm thanh gươm không bị mất cắp, chỉ cái bao gươm thôi  (Note C) (1). Theo Đại tá Payard, bao gươm không phải bằng vàng mà mạ vàng, hai vòng ngoài (chape) và đường viền đồng (bouterolle) đều nạm đá cả hai mặt. Móc vòng đai (crochet de ceinture) và khâu treo (bélière) bằng lụa và vàng nạm ngọc san hô, vòng đai bằng lụa và vàng cũng bị mất cắp cùng bao gươm (Note E) (1). Cần giải thích thêm chăng bao gươm và đai gươm mềm, dễ xếp vào túi hơn thanh gươm dài cứng… 

         Theo hai học giả quan tâm đến những bảo vật của hoàng gia thì vua Gia Long còn có một thanh gươm khác mang tên Thanh gươm quy y. "Thanh gươm này nguyên là bửu kiếm của tiên triều, thường dùng để chém đầu giặc, những kẻ phản quốc,… Một điều lạ là nếu ngày mai có người bị giết thì đêm ấy gươm đã thoát ra khỏi bao. Vua Gia Long thấy thanh kiếm ưa giết người nên đem dâng cửa Phật và mới gọi là Thanh gươm quy y (Quốc Triều Chánh Biên) (5).  Có lẽ là tình cờ, hai cái gươm của vua Gia Long đều có sự tích với cái bao: Thanh kiếm Thái A không còn bao nữa, còn Thanh gươm quy y tự thoát ra bao, bây giờ ở đâu ?  May ra, ví chi được trưng bày trước những cặp mắt dửng dưng của người ngoại quốc, nó được kín đáo thờ phụng như cặp kiếm của vua Hàm Nghi được dân làng Phú Gia lưu giữ: "Một mái nhà tranh. Một tấm lòng thành. Một bảo tàng lòng dân. Một ngôi làng sơn cước cũng làm nên một cõi sống đẹp như huyền  sử khi con người không quên quá khứ" (6)

Những bài viết về Ngọc Hân

Tiếng khóc thành ngâm

Đỗ Lai Thúy

Tuyệt vời là khúc thương tâm

Biết bao tiếng khóc thành ngâm muôn đời

Vào thế kỷ XII, để yên bờ cơi phía nam hoặc muốn mở rộng đất đai, một người gái Việt Nam phải rời Thăng Long lấy vua Chiêm. Đó là Huyền Trân Công chúa. Cuộc hôn nhân chính trị này đă để lại nhiều đau khổ v́ tai tiếng:

Hai châu Ô Lư vuông ngàn dặm

Một gái hồng nhan khổ mấy mươi.

Đến cuối thế kỷ XVIII, lại một hôn nhân khác. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lấy danh nghĩa "Phù Lê Diệt Trịnh", vua Hiển Tông bèn gả cho ông cô con gái yêu là Ngọc Hân Công chúa. Ngọc Hân là một cô gái thông minh, từ nhỏ đă được học thông kinh sử và làm thơ văn. Bà rời Thăng Long theo chồng vào Nam khi mới 16 tuổi. Trong Văn tế vua Quang Trung, bà nhắc lại sự kiện này khá rơ ràng:

Nhớ khi bến Nhị thuận buồm, hội bái vật chín châu lừng lẫy;

Vừa buổi cầu Ngân sơn nhịp, đoàn ỷ la đôi nước rơ ràng

Hôn cấu đă nên nghĩa cả

Quan san bao quản dặm trường.

Cuộc hôn nhân này đă mang lại hạnh phúc cho Ngọc Hân v́ đă gặp được người xứng đáng:

Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước biết bao công tŕnh

Nhưng chỉ 6 năm sau, vua Quang Trung mất để lại cho bà hai con nhỏ. Khóc chồng và khóc cho số phận chính ḿnh, bà đă sáng tác hai áng văn bất hủ: Ai tư văn và Văn tế vua Quang Trung. Nội dung hai bản văn này như nhau, t́nh cảm của tác giả dồn nén vào đấy cũng như nhau, nhưng sức vang động trong ḷng người đọc th́ khác nhau.Ai tư văn là một tiếng vang lớn, đưa Ngọc Hân lên thành một tác giả nữ nổi tiếng của văn học Việt Nam. Ai tư văn là tiếng ḷng của một người phụ nữ vừa mới bị tước đoạt hạnh phúc. Tiếng kêu thương đó đă t́m được thể thơ song thất lục lục bát để trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Đây chính là một khúc ngâm như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Thu dạ lữ hoài ngâm... Một thể loại văn học mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu bày tỏ nội tâm của con người cá nhân và thức dậy trên cái bọc trăm trứng của cộng đồng. Lời than văn này gồm 41 khổ, 164 câu. Hai khổ đầu dường như chứa đựng nội dung của toàn bộ tác phẩm:

Gió hiu hắt, pḥng tiêu lạnh lẽo

Trước thềm lan, hoa héo don don!

Cầu tiên khói tỏa đỉnh non,

Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dàu

Nỗi lai lịch dễ hầu than thở

Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?

Sầu sầu thảm thảm xiết bao

Sầu đầy giọt bể, thảm cao ngất trời.

Ba khổ thơ tiếp theo gợi lại cuộc sống hạnh phúc vợ chồng: hai khổ sau nữa là sự đột ngột ngă bệnh của chồng và cái chết! Tất cả các khổ c̣n lại đều nói về tâm trạng của tác giả: sự bàng hoàng và bơ vơ sau cái chết của Nguyễn Huệ, Ngọc Hân sống như người mộng du, hoang tưởng: khi th́ thấy chồng hiện về, khi th́ lớn tiếng trách trời sao lại để một người đức độ, công lao như vậy phải đoản thọ, khi th́ muốn thác theo chồng nhưng lại vướng nách hai con nhỏ, rồi nh́n đâu cũng nhớ nhung đau khổ cả:

Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,

Cánh hải đường đă quện giọt sương

Trông chim càng dễ đoạn trường

Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi.

Cảnh nào cũng bùi ngùi cảnh ấy

Tiệc vui muồng c̣n thấy chi đâu

Phút giây băi bể nương dâu

Cuộc đời là thế biết hầu nài sao?

Chữ t́nh nghĩa trời cao đất rộng

Nỗi đoạn trường c̣n sống c̣n đau...

Lê Ngọc Hân hẳn không có ư định làm một thi sĩ. Nhưng nỗi khổ đau, sự can đảm giăi bày nội tâm, việc chọn đúng thể loại ngâm khúc và tài năng sử dụng ngôn ngữ đă khiến bà trở thành một thi sĩ, một thi sĩ ngoài ư muốn nhưng thật tuyệt vời!

Danh nhân Lê Ngọc Hân

Năm 1999 kỷ niệm 210 năm ngày chiến thắng Đống Đa (1789-1999), đồng thời kỷ niệm 200 năm ngày mất của Công chúa - Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (1799-1999). Nhân dịp này, chúng ta thành kính dâng lên Bà nén tâm hương và cùng nhau ôn lại cuộc đời Bà với những hiểu biết chân xác dưới lớp bụi thời gian.

Đọc lại những tư liệu ít ỏi trong sử cũ và tham chiếu tộc phả họ Nguyễn Đ́nh ở Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội), chúng ta biết Lê Ngọc Hân là vợ yêu của vua Quang Trung, cũng là một danh nhân văn hóa của dân tộc. Ngọc Hân thuộc hàng công chúa cuối cùng của nhà Lê, đi vào lịch sử bằng cuộc t́nh duyên tuyệt đẹp với anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, đóng góp cho văn học Việt Nam bài văn khóc chồng Tế vua Quang Trung chân t́nh thống thiết; và đặc biệt là bài Ai Tư Văn tha thiết làm rung động ḷng người ở mọi thời đại. Nhắc đến sự nghiệp lừng lẫy của vua Quang Trung, không thể không nhắc đến bà. Và cũng chính bà, với hai tác phẩm văn học trên, đă sớm nhất đánh giá vua Quang Trung súc tích mà ngắn gọn, dễ nhớ nhất:

Mà nay áo vải cờ đào,

Giúp dân dựng nước biết bao công tŕnh

Mà nay lượng cả ơn sâu,

Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần.

Nhưng con người đầy tài hoa và nồng thắm t́nh cảm ấy phải chịu mệnh bạc, mà cả khi chết rồi vẫn phải chịu nhiều tai ương và oan trái. Cho đến nay, mặc dù đă được một số nhà nghiên cứu văn học và sử học minh oan, chứng minh bà mất từ năm 1799 tức trước khi triều Tây Sơn sụp đổ 3 năm, nhưng đây đó vẫn lan truyền thông tin rằng, bà chịu bị Gia Long ép lấy làm vợ; hoặc khi triều Tây Sơn đổ, bà phải lẩn trốn nhưng vẫn bị vua Gia Long truy nă và bắt về hành h́nh rùng rợn. Thực ra đó là những cách nghĩ bị suy diễn từ sự việc dễ gợi mối liên tưởng: Gia Long có ép Ngọc B́nh - em nuôi của bà và là vợ của vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn - lấy y. Gia Long có hành h́nh man rợ vua tôi Cảnh Thịnh và đối xử hèn hạ với di hài vua Quang Trung - Nguyễn Huệ và Thái Đức - Nguyễn Nhạc. Nhưng đối với bà Ngọc Hân, Gia Long và cả Minh Mạng vẫn "lờ đi", chỉ đến Thiệu Trị v́ có người tố giác mới theo "phép nước" mới có những hành động độc địa.

Vậy sự thật về Lê Ngọc Hân như thế nào? Từ những tư liệu văn học và sử học của thời Lê, thời Tây Sơn và thời Nguyễn, từ tộc phả họ Nguyễn Đ́nh và những truyền thuyết ở Ninh Hiệp - quê ngoại của bà, bức màn bí mật được vén lên dần:

Vùng Cố Pháp - Đông Ngàn - Từ Sơn (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), chỉ với những tên gọi nối nhau trong lịch sử đă gợi lên một vùng sông nước, rừng cây, g̣ đồi. Trên những g̣ đồi ấy, tổ tiên xa xưa đă tụ cư lập xóm dựng làng mà tên làng khi Hán Việt hóa để đi vào địa bạ của chính quyền đô hộ thời Bắc thuộc và của các nhà nước dân tộc thời độc lập đều có chữ Phù ở đằng trước để chỉ rơ g̣ nổi ở giữa đồng nước. Chỉ riêng phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) đến thời Nguyễn vẫn c̣n các xă Phù Đổng, Phù Minh, Phù Lập (thượng và hạ), Phù Chẩn, Phù Ninh, Phù Lộc, Phù Lưu, Phù Khê, Phù Cảo, Phù Yên, Phù Lương, Phù Lăng... Giáo sư Trần Quốc Vượng đă phục nguyên âm Phù là Bù - Pù - G̣ thông đạt rơ ư tưởng người xưa. Đây là vùng đất thiêng, đă sản sinh ra Thành Gióng - anh hùng cứu nước đầu tiên đầy chất huyền thoại, và Lư Công Uẩn dựng nghiệp Đế mở ra kỷ nguyên Đại Việt, những người dân "dốt Đông Ngàn hơn ngoan thiên hạ"... Trong những người dân Đông Ngàn ấy, ở đầu thế kỷ thứ XVIII có cụ Nguyễn Đ́nh Giai ở Phù Ninh - tên nôm là làng Nành được triều đ́nh nhà Lê phong là Vũ huân tướng công thự Thần vũ tứ vệ quân vụ Tham đốc đặc tứ phong tặng chiêu vũ tướng quân, Đô đốc phủ Đô đốc Đồng Tri, Tuấn trung hầu. Cụ có 18 người con, gái trưởng là bà Nguyễn Thị Huyền. Bà được ông bác ruột - đồng thời cũng là cha nuôi đang làm tả thiếu giám (quan hoạn) ở ty Lễ giám tiến cử làm cung tần cho vua Lê Cảnh Hưng. Bài vị bà ở đền thờ tại Phù Ninh (nay là làng Ninh - Gia Lâm - Hà Nội) ghi rơ: "Cố Lê Chiêu Nghi Nguyễn Thị Húy Huyền, hiệu Thiện Trung sinh giờ Dậu ngày mồng 3 tháng 10 năm Quư Dậu (28-10-1753), mất giờ Hợi ngày mồng 1 tháng 8 năm Quư Mùi (1823), thọ 71 tuổi. Bà Huyền sinh công chúa Lê Ngọc Hân vào giờ Sửu ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (22-5-1770).

Năm 1786 Nguyễn huệ kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, phù vua Lê, song trên thực tế đă thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài, được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân đang ở độ tuổi 16. ít ngày sau vua Lê Hiển Tông băng hà. Bà Nguyễn Thị Huyền góa bụa ở tuổi 33, sau một thời gian chịu tang chồng đă lui về quê lập dinh Thiết Lâm 100 gian ở xế cửa chùa Pháp Vân để tiện sang chùa lễ Phật.

Ngọc Hân vào Phú Xuân sống hạnh phúc bên chồng. Cuối năm 1788 được tin quân Thanh xâm lược đă chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế để chính danh tiến quân ra Bắc, phong Ngọc Hân làm Hoàng hậu ố tộc phả họ Nguyễn Đ́nh ghi là Trinh Nhất Vũ Hoàng hậu. Sau khi vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, vào đầu xuân Kỷ Dậu lại trở về Phú Xuân, và Ngọc hân đă sinh với vua được con gái đầu ḷng là công chúa Ngọc Bảo vào giờ Hợi ngày 20 tháng 4 năm Canh Tuất (4-6-1790), rồi hoàng tử Văn Đức vào giờ Măo ngày 14 tháng

Mà nay áo vải cờ đào,

Giúp dân dựng nước xiết bao công tŕình...

Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.

Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh". Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóa.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậu.

Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu.

Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà. Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số.

Tác phẩm Ai Tư Văn chịu nhiều ảnh hưởng của bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, nhưng cũng không hiếm những đoạn, những câu t́nh ư cảm động tha thiết, làm rung động ḷng người.

Có nhiều giả thuyết về cái chết của Ngọc Hân Hoàng Hậu, song thuyết đáng tin cậy nhất là bà mất vào năm 1799 từ bài văn tế bà do Phan Huy Ích viết, có chép trong Dụ Am Văn Tập

Giêng năm Tân Hợi (27-2- 1791). Hạnh phúc đang nồng th́ năm 1792 vua Quang Trung băng đột ngột, Ngọc Hân ở tuổi 22 đă chịu cảnh góa bụa. Hai bài văn khóc chồng Tế vua Quang Trung và Ai tư văn đă nói lên nỗi đau đứt ruột xé ḷng của bà. Bà muốn chết theo chồng, nhưng trong đám tang vua Quang Trung thấy cảnh các con mới 1 - 2 tuổi ở trước linh sàng cha:

Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm

Đầu mũ mao, ḿnh tấm áo gai

U ơ ra trước hường đài

Tưởng quang cảnh ấy chua cay ḷng này

mà bà tạm sống để nuôi con, chờ con qua tuổi ấu thơ, chỉ sống thể xác thôi:

Vậy nên nấn ná đôi khi

H́nh tuy c̣n ở phách th́ đă theo

Bà đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ố Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) th́ mất, lúc ấy mới 29 tuổi. Khi đó Phan Huy ích đang là một trọng thần của Tây Sơn, đă soạn giúp năm bài văn cho vua Cảnh Thịnh, cho các công chúa, cho bà Nguyễn Thị Huyền, cho các tôn thất nhà Lê và cho họ ngoại ở làng Phù Ninh tế Ngọc Hân. Cả năm bài văn trên c̣n chép trong sách Dụ Am văn tập.

Tiếp theo, triều đ́nh Cảnh Thịnh lục đục và suy yếu, ngày càng bị tập đoàn Nguyễn ánh đe dọa. Hai con bag phải đổi sang họ Trần, nhưng rồi với sự sụp đổ của triều Tây Sơn, theo tộc phả họ Nguyễn Đ́nh, ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23-12-1801) hoàng tử Văn Đức mất khi mới 10 tuổi, rồi ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802) công chúa Ngọc Bảo cũng mất khi mới 12 tuổi. Không rơ có phải như truyền thuyết là bị nhà Nguyễn giết hại trong khi trốn tránh? Nhưng cũng có thể chết bệnh v́ mất vào những thời điểm khác nhau, và không có tên trong danh sách vua tôi nhà Tây Sơn bị Gia Long hành h́nh. Hơn nữa bộ sách chính sử của nhà Nguyễn Đại Nam Thực lục nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân ở Phù Ninh có ghi: "Nguyên người xă ấy là Nguyễn Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ, sinh được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con trai, con gái cũng chết non cả".

Phần "Biệt lục" của tộc phả Nguyễn Đ́inh c̣n ghi thêm: Bà Nguyễn Thị Huyền thương con gái và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa, năm 1804 thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt ba mẹ con Ngọc hân, ngày 24 tháng 3 năm Giáp Tư (3-5-1804) xuồng thuyền vượt biển, ngày 20 tháng 5 (28-6) về đến bến ái Mộ (Gia lâm, Hà Nội), ngày mồng 4 tháng sau (11-7-1804) đưa về bản dinh (tức dinh Thiết lâm của bà Nguyễn Thị Huyền), ngày mồng 9 (16-7-1804) đưa về làng, giờ Ngọ an táng hài cốt bà Ngọc hân, phụ chôn hoàng tử ở bên trái và công chúa ở bên phải. Nơi đó nay là Băi Cây Đại hay Băi Đầu Voi ở đầu làng Nành. (ảnh: Tượng chân dung của Bà Nguyễn Thị Huyền vợ Vua Lê, mẹ Công chúa Lê Ngọc Hân)

Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở năm 1842: "Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích".

Bà Nguyễn Thị Huyền không có con trai, đă kư hậu 50 mẫu ruộng tốt với làng và chuyển dinh Thiết Lâm làm đền thờ. Nam 1823 bà Huyền mất, thọ 70 tuổi, dinh Thiết Lâm thờ bà và mẹ con Ngọc Hân. vẫn theo tộc phả họ Nguyễn Đ́nh và kết hợp truyền thuyết địa phương, th́ vào khoảng thời gian đời Minh Mạng sang đời Thiệu Trị, có người trong làng tố giác việc thờ cúng này, vua Thiệu Trị đă cho phá hủy đền thờ ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc Hân, đổ hài cốt xuống sông - nơi này sau dân lập đền ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da nhồi trấu, tri phủ bị cách chức. Bộ sử Đại nam thực lục năm 1842 cũng xác nhận: "Tới đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy".

Từ năm 1842 dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là "Vườn Dinh" và dựng lên đây Một "Miếu cô hồn" kín đáo thờ Ngọc Hân. Măi gần trăm năm sau, đến năm 1937 họ Nguyễn Đ́nh đổi đất với làng lấy lại một phần nền dinh Thiết Lâm và lập lại đền thờ bà Nguyễn Thị Huyền cùng với Ngọc Hân. Đồng thời, tại băi cây Đại, cùng với việc sửa lại mộ bà Nguyễn Thị Huyền, dân làng cũng đắp nấm mộ tượng trưng của mẹ con Ngọc Hân, tương truyền là chính chỗ mà năm 1842 bị Thiệu Trị quật phá.

Như vậy, tại Phù Ninh ( nay là xă Ninh Hiệp - Gia Lâm Hà Nội) ngày trong khi Gia Long vừa lật đổ triều Tây Sơn, hành quyết man rợ vua tôi Cảnh Thịnh, ra sức truy lùng hành tích Tây Sơn, th́ nhân dân đă đón nhận hài cốt mẹ con Ngọc Hân về, xây lăng mộ, dựng đền thờ. (ảnh:Mộ Bà Huyền)

Từ năm 1842 không được thờ chính thức th́ nhân dân bí mật thờ mẹ con Ngọc Hân dưới dạng "cô hồn". Và từ 1937 Ngọc Hân cùng với mẹ và hai con lại được thờ trong một nhà thờ nhánh của họ Nguyễn Đ́nh. Trước sau vẫn ở trên một khu đất cũ là nền dinh Thiết Lâm sư của nhà Nguyễn Thị Huyền. Cùng với việc thờ cúng này, nhân dân địa phương c̣n giữ trong chùa làng chiếc trống đồng lớn (cao 35 cm, rộng 55 cm) khắc rơ niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 8 (1801) với nhiều hoa văn đẹp để rồi giao cho Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quản lư và trưng bày cho mọi người đều biết.

Mười năm trước, trong khuôn khổ chuẩn bị kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa, cuối năm 1988, chính quyền xă Ninh Hiệp đă tổ chức cuộc hội thảo khoa học về danh nhân Lê Ngọc Hân nhân ngày giỗ bà và làm lễ dâng hương trang trọng. Nhưng cho đến nay di tích về bà vẫn c̣n bị thả nổi!

Cuộc đời Lê Ngọc Hân cả khi sống lẫn khi chết đă chịu nhiều cay đắng, nhưng bà thực sự là một nhân vật lịch sử ố một nữ danh nhân văn hóa đầy tài hoa, từ khi gắn cuộc đời với vua Quang Trung đă trở thành một tài năng sáng tạo lớn của đất nước. Sau kỷ niệm 210 năm chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung, hy vọng vào dịp giỗ Ngọc Hân lần thứ 200 này (cuối năm 1999) đền thờ và nấm mộ (dù là tượng trưng) của Bà sẽ chính thức là di sản văn hóa quốc gia.

Vua Duy Tân với mối tình dang dở

Vua Duy Tân là một anh hùng cứu quốc của dân tộc ta. Trong lịch sử đông tây kim cổ chưa thấy có một vị vua nào trẻ tuổi, bỗng hy sinh ngai vàng bệ ngọc để dấn thân vào một cuộc khởi nghĩa giải phóng đất nước như vua Duy Tân. Mà cũng ít khi thấy một loạt có ba vị vua liên tiếp nhau, trong vòng ba chục năm (1885 đến 1916), nổi lên chống đuổi xâm lăng để nhận lấy cảnh lưu đày khổ nhục như các vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân nước ta!
Thế mà sự nghiệp của các vị vua nầy, nói chung, của Duy Tân cũng như mối tình dang dở của nhà vua nói riêng, lại không được mấy người biết đến. Có lẽ một phần, cũng vì những tài liệu liên quan đến "cách mạng" trong thời ngoại thuộc đều bị tiêu hủy, không ai dám tàng trử.

Chỉ gần đây Hoàng Trọng Thược, trong Hồ sơ vua Duy Tân, đã dày công sưu khảo, đưa ra ánh sáng một giai đoạn đen tối của nước ta mà các sách lịch sử chỉ nói phớt qua hoặc không hề đá động đến. Chúng tôi hết sức tán thành ý kiến của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (bút hiệu Toàn Phong) được dẫn ra trong bài tựa của Hồ sơ vua Duy Tân:

"Lần đầu tiên chúng ta có một hồ sơ đầy đủ về vua Duy Tân. Phải quảng bá sự sưu tầm của ông Thược đến đại chúng"

Bối cảnh lịch sử
Năm 1885, Bắc kỳ bị Pháp đánh chiếm. Trong triều Huế, các quan chia thành hai phe: phe chủ hòa có Trần Tiển Thành và Nguyễn Hữu Độ, phe chủ chiến có Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Nguyễn Văn Tường ra mặt ngoại giao khéo léo với Pháp để Tôn Thất Thuyết ngầm huy động toàn dân kháng chiến. Với danh nghĩa phụ chính, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường nắm hết quyền hành, triệt hạ những người chủ hòa.

Trước đó, vua Kiến Phúc mất (ngày 7 tháng 4 năm Giáp Thân - 1884), em là Hàm Nghi 12 tuổi kế ngôi, Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart trách cứ triều đình ta sao không xin phép nước Pháp. Đại tá Guerrier đem 600 quân cùng một đội pháo binh, từ Bắc vào Huế để thị uy. Triều đình phải làm lại lễ tấn phong Hàm Nghi, để Rheinart và Guerrier đến dự, Pháp mới chịu rút quân về Hà Nội.

Vì phong trào giải phóng nổi lên khắp nơi, thống tướng De Courcy vừa sang đến Hà Nội, liền kéo 1000 quân vào Huế ngày 18 tháng tư năm Ất Dậu (1885) nói là để hội thương với ta, có ý nhân dịp nầy bắt Tôn Thất Thuyết là người đang ngầm yểm trợ kháng chiến. Thuyết biết được, cáo ốm không đến dự. De Courcy bảo ốm cũng phải nằm cáng mà sang sứ quán Pháp. Qua ngày 22 tháng tư Ất Dậu (5-7-1885), Pháp mở tiệc khao quân, để sáng hôm sau vây bộ Binh bắt Thuyết, thì vào 1 giờ đêm hôm ấy, Thuyết ra lệnh tấn công vào đồn Mang Cá và sứ quán Pháp.

Cuộc tấn công thất bại, Pháp phản công, quân ta bị thua, Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở, dựng cờ kháng Pháp, xuống hịch Cần Vương, văn thân nghĩa sĩ khắp nơi hưởng ứng nhiệt liệt.

Ở kinh đô (Huế) Pháp đưa Đồng Khánh lên ngôi và mãi đến mấy năm sau, (1888), Pháp mua chuộc được một cận vệ của Hàm Nghi là Trương Quang Ngọc người Mường, mới bắt được nhà vua, đày đi Algérie.

Cũng vào năm 1888, Đồng Khánh mất, Pháp đưa Thành Thái 10 tuổi, kế vị. Lớn lên Thành Thái tỏ ý tự lập, và thường phản đối chính phủ Pháp. Có lần vua định trốn sang Tàu, nhưng việc bại lộ, bị bắt lại. Từ đó, vì bị Pháp kiểm soát chặt chẽ từng hành động, Thành Thái làm ra vẻ mất trí để ngụy trang. Năm 1907, biết được Thành Thái liên lạc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ở ngoại quốc, Pháp lấy cớ nhà vua bị điên, buộc các quan trong triều dâng biểu yêu cầu vua từ chức. Tất cả đều đồng ý, trừ Ngô Đình Khả (thân sinh Ngô Đình Diệm), không chịu ký. Sĩ phu miền Trung có câu: "Phế vua không Khả". (1)

Pháp đặt hoàng tử Vĩnh San, con của Thành Thái, 8 tuổi, lên ngôi, vương hiệu Duy Tân. Duy Tân thông minh và có chí khí. Năm 1908, ở Trung Kỳ phong trào Duy Tân dân chúng nổi lên xin xâu, chống thuế, bị đàn áp dữ dội. Lúc đó vua mới 9 tuổi, mà đã phán với đình thần rằng: "Nếu trong nước hay có loạn là vì nhân dân bị thiếu thốn. Từ nay sắp tới, lương bổng của ta 500$ một tháng, ta chỉ lãnh 200$ thôi, giao cho các thầy 300$ đem giúp đỡ những kẻ nghèo khó". (2)

Có lần vua hỏi Hồ Đắc Trung, thượng thư bộ Học: "Thày nghĩ sao về người Pháp đô hộ ta?". Trung tâu: "Chúng ta bị trị còn biết nói gì nữa! Xin Hoàng thượng thận trọng, cố gắng học hành, đường còn dài, còn nhiều vận hội mới" (3)

Vào năm 1913, nghe tin Khâm sứ Mahé đem người đến đào mả vua Tự Đức để lấy vàng ngọc châu báu, Duy Tân tức tốc thân hành đến ngăn chận, nhưng tới nơi thì đã muộn, mọi việc đã xong xuôi. Ngày sau, Duy Tân viết thư cho chính phủ Pháp hạch tội và yêu cầu khiển trách những viên chức đã lộng hành, nhờ Toàn Quyền Pháp chuyển. Viên Toàn Quyền không chuyển, mà còn đích thân đem thư ấy vào cung đưa cho Hoàng thái hậu, mẹ đích của vua, Bà là con gái Cần chánh đại học sĩ Nguyễn Thân, tuy không có con, song vẫn có thế lực lớn trong triều. Bà đòi vua vào cung, buộc vua xin lỗi viên Toàn Quền Pháp. Bất đắc dĩ Duy Tân phải bấm bụng tuân theo. (3)

Đầu năm 1914, Duy Tân họp các vị thượng thư, chỉ thị cho hai người phải qua Pháp trình Tổng thống Pháp một dự án sửa đổi bản hiệp ước Pháp-Nam Patenôtre đã bị Pháp vi phạm rất nhiều. Không vị nào dám nhận sứ mạng nầy. Thượng thư Huỳnh Côn lại đi mách với Hoàng thái hậu để Bà la rầy nhà vua một cách gắt gao.

Về sau, trong một buổi học chữ Hán với thượng thư Huỳnh Côn, Duy Tân phàn nàn: "Không có ông thượng thư nào chịu nghe ta cả. Ta làm vua chỉ có hư danh thôi." Huỳnh Côn tức tốc đi mời Chủ tịch hội đồng và Thượng thư bộ Hình đến. Duy Tân lặp lại câu đã nói đó. Vừa Nguyễn Hữu Bài đi ngang qua, nghe được, tâu: "Ngài muốn đánh Pháp, nhưng Ngài lấy gì mà đánh? Ngài không có tài chánh mà cũng không có quân đội." Nhà vua làm thinh một chốc, rồi nổi giận la to lên: "Lúc nầy chính là lúc phải xúi dân nổi dậy, lúc mà nước Pháp đang lâm chiến". (4)

Về mối tình dở dang của vua Duy Tân

Sư bà Diệu Không, đã kể lại trong hồi ký "Vua Duy Tân và gia đình Hồ Đắc Trung" (chưa xuất bản), đại khái như sau:
"Năm 1914, vua Duy Tân ra nghỉ mát ở cửa Tùng (Quảng Trị), thân sinh tôi là Hồ Đắc Trung theo hầu. Nhà vua lúc đó lối 15 tuổi, muốn có bạn chơi cùng lứa, nên truyền thân sinh tôi dẫn thêm anh chị em chúng tôi (hai anh tôi 15 và 16 tuổi, học sinh trường Albert Sarraut Hà Nội, chị tôi 13 tuổi, tôi 10 tuổi) cùng đi theo cho vui.
"Mỗi buổi sáng, mặt trời vừa mọc, vua cho đòi đám trẻ đến để cùng đi ra biển bơi lội. Thân sinh tôi căn dặn chúng tôi phải giữ lễ vua tôi, không được tự do cười nói như đối với người thường, nhưng nhà vua lại rất dung dị, gọi các anh tôi bằng anh, gọi tôi bằng em. Ngài ít nói chuyện với chị tôi. Mỗi khi vui đùa cùng hai anh tôi và tôi, ở những trò chơi con nít, vua chỉ nhìn chị tôi mà không mời chơi. Khi nào Ngài cũng tỏ ra vui vẻ, song vẫn nghiêm trang. Chúng tôi rất mến Ngài, nhưng vẫn không dám cười đùa nhiều, sợ thân sinh chúng tôi quở.
"Tôi còn nhớ một hôm chơi bắt còng (dã tràng) ở bãi biển. Ai bắt được nhiều sẽ được thưởng. Ngài bắt được con nào thì thả con nấy. Chúng tôi lấy làm lạ. Ngài bảo: "Bắt chúng lên cạn chúng sẽ chết, chi bằng thả cho chúng được tự do bơi lội, ta nhìn xem cũng vui rồi ". Thế là chúng tôi cũng đua nhau mà thả hết. Ngài lấy làm thích chí, khi thấy mấy con còng lội tung tăng, Ngài nói với hai anh tôi: "Ai bỏ tù chúng ta, chắc chúng ta sẽ khổ sở, vì khi mất tự do là mất tất cả". Nói vậy rồi, Ngài thở dài kém vui. Nhưng sau đó, Ngài lại hồn nhiên như tuổi trẻ chúng tôi và lại vui đùa như cũ.
"Mùa hè gần mãn, vua tôi bịn rịn lúc chia tay. Chị tôi ứa lệ nhìn Ngài. Ngài bảo nhỏ tôi:
-Dỗ chị đi em, rồi sang năm chúng ta sẽ gặp nhau lại.
"Năm sau gần đến hè, chị tôi xin đi theo chúng tôi ra cửa Tùng. Thân sinh tôi bảo:
- Con đã lớn rồi, phải ở nhà với mẹ, không được đi nữa.
"Thế là chị tôi phải ở nhà, khóc sưng cả mắt. Khi ra đến cửa Tùng, gặp lại chúng tôi, Ngài hỏi:
-Sao thiếu mất một người?
"Tôi tâu:
-Mẹ chúng tôi bắt chị tôi ở nhà, chị ấy khóc quá sá.
"Ngài nói: Thật là tội nghiệp cho chị ấy!
"Mãn hè một tháng, một hôm có người thị vệ đến xin ảnh chị tôi đem vào nội cho hai ngài Thái hậu xem mặt. Một tuần sau, hai Ngài cho đòi thầy mẹ tôi vào chầu và sau đó, tôi thấy kiệu vua đệ ra nhà tôi một đôi bông tai và một đôi vòng vàng cho chị tôi, thầy mẹ tôi quỳ lễ bái lãnh. Đó là "lễ hỏi" của vua dành cho chị tôi. Chị tôi cũng ra lạy tạ ân vua hạ cố.
"Vào khoảng tháng 12 năm 1915, một hôm thầy tôi ở triều về gọi mẹ tôi vào buồng nói rất khẽ và nghe tiếng ngập ngừng như đè nén hơi thở để khỏi bật ra tiếng khóc. Năm ấy tôi đã 12 tuổi mà cũng đã tinh ý, giả bộ xô cửa bước vào tự nhiên, thấy mẹ tôi mắt đỏ hoe và bảo tôi ra gọi chị tôi vào.
"Trông thấy chị tôi, thân sinh tôi nói:
- Con vào lấy đôi vòng và đôi bông tai ra đây để mẹ con đem vào Nội dâng lại cho vua vì Ngài Ngự muốn từ hôn, mặc dù chỉ còn hai tháng nữa là đem con vô Nội.
"Chị tôi nghe nói điếng cả người, tưởng như trời sập cũng không bằng, lâu lắm mới chạy đi lấy đồ vàng đưa cho tôi đem vào, chớ không vô phòng thân sinh tôi nữa. Thân sinh tôi nói là Ngài Ngự có ban rằng: "Thầy hãy an ủi con gái của thầy và gả ngay cho người khác, đừng để cô ấy buồn tội nghiệp. Thầy nên hiểu vì tôi thương cả gia đình thầy, nên mới phải từ hôn với người mà ta mến từ hai năm nay".
"Thân sinh tôi nói thêm rằng: Ngài Ngự bảo phải đưa ngay vào Nội một thiếu nữ khác mà tôi phải chọn lấy. Bà xem ai đáng giới thiệu không?
"Mẹ tôi đáp: Có cô con gái ông Phụ đạo Mai Khắc Đôn, tuy không đẹp lắm, song có đức hạnh. Ông vào tâu xem.
"Một tuần lễ sau, lễ hỏi nhà vua lại đem đến nhà ông Phụ đạo họ Mai. (5) Và ngày 30-01-1916, lễ "Nạp Phi" được tổ chức trọng thể tại bộ Lễ, đúng với kỳ hạn triều đình đã rao báo. (6)
Vì sao có sự thay đổi đột ngột như thế ?
Có phải do những chính biến đương thời chăng?
Nguyên là từ năm 1912, kỳ bộ Quang Phục Hội của Phan Bội Châu, do Thái Phiên phụ trách đã bắt đầu chuẩn bị bạo động đánh Pháp. Đến năm 1914, Pháp chiến tranh với Đức, đó là cơ hội thuận tiện để dân ta vùng lên tranh đấu cho độc lập nước nhà. Hàng chục ngàn lính Việt mà Pháp tuyển mộ để gửi sang "mẫu quốc", phần lớn đã được cách mạng ta kết nạp làm "nghĩa binh", sẵn sàng ứng tiếp lúc lâm sự. Tại đồn Mang Cá (Huế), Trần Quang Trứ (thư ký tòa Công sứ Pháp ở Huế) vận động viên đại tá lính Lê Dương (gốc người Đức) để nội ứng chỉ huy 3.000 lính mộ, lính khố xanh, lính khố vàng. Trong thành nội Tôn Thất Đề và đội trưởng Nguyễn Quang Siêu đốc suất các đội thân binh, thị vệ trấn giữ hoàng thành. Trần Đại Trinh điều động lính tập giữ tòa Khâm sứ Pháp quay súng giúp nghĩa quân. Một đội cảm tử Nam Ngãi hiệp cùng dân quân phụ cận kinh thành công hảm cho được tòa Khâm sứ.
Ở các tỉnh Quảng Trị, Đà Nẳng, Hội An, Quảng Nam, Tam Kỳ, Quảng ngãi, Bình Định, ngoài các lực lượng chính thức (lính tập, lính mộ) đã kết nạp được, còn có nghĩa quân võ trang với vũ khí trợ giúp từ bên ngoài đưa vào.
Cờ khởi nghĩa sẽ nền đỏ với 5 ngôi sao trắng, lấy ý nghĩa"Ngũtinhtụtĩnh" ở Kinh Dịch.
Phan Bội Châu đang bị Long Tế Quang bắt giam tại Trung quốc đã bí mật gửi Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền sang Xiêm liên lạc với lãnh sự Đức. Lãnh sự Đức biếu một vạn đồng bạc Xiêm và hứa nếu hoạt động có tiếng vang ra để chính phủ Đức được biết, thì sẽ có viện trợ chính thức nhiều hơn. (7)
Thái Phiên và Trần Cao Vân giả làm người đi câu, vào hồ trong thành Nội dâng kế hoạch lên, vua Duy Tân đồng ý tất cả. Duy vua lo ngại Pháp sớm đưa 3.000 lính mộ ở Mang Cá (mà cách mạng đã kết nạp dược) xuống tàu sang Pháp, nên hạ chỉ hối thúc hành sự. Ngày khởi nghĩa định vào một giờ sáng ngày mồng 3 tháng 5 năm 1916, Thái Phiên và Trần Cao Vân điều động chiếm giữ kinh đô, và rước Duy Tân ra khỏi hoàng thành, thành công sẽ rước vua về trở lại.
Nhưng trước đó một ngày, có tên lính khố xanh ta đã chiêu dụ được, bảo với anh nó là Võ Huệ làm lính giản ở dinh Án Sát Quảng Ngãi ngày ấy liệu mà xin nghỉ kẻo đây rồi sẽ có loạn. Án Sát Phạm Liệu sinh nghi tra hỏi, Huệ sợ nên khai ra. Phạm Liệu trình với công sứ De Tastes. De Tastes mật điện ra Huế. Khâm sứ Charles ra lệnh thâu tất cả súng đạn, tập trung hết thảy binh lính lại, và điện cho các tỉnh biết để đề phòng.
Trần Quang Trứ, người có công lớn chiêu dụ lính ở đồn Mang Cá, thấy lệnh thu súng, cắm trại, biết việc đã bị lộ, liền đi đến bến Thương Bạc lúc 11 giờ đêm gặp vua Duy Tân đã cải trang theo lối thường dân, có Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu hộ vệ, xuống thuyền của Thái Phiên và Trần Cao Vân đến rước. Trứ liền đi vòng ra ngã sau vào tòa Khâm Sứ tố giác.
Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, Thái Phiên và Trần Cao Vân định đưa vua đi tắt đường núi về địa điểm đã định là Bà Nà ở Quảng Nam, nhưng vua bị mệt, tạm nghỉ lại một ngôi chùa bên núi Ngũ Phong, gần vùng Nam Giao. Sáng sau, khi nhà vua đang sửa soạn lên đường, thì có Le Fol, Đổng lý văn phòng tòa Khâm, Sogny chánh mật thám Huế, Lanneluc, giám binh với 21 lính khố xanh và Trần Quang Trứ, còn bên ta có Võ Liêm, Tá Lý bộ Lễ và Hồ Hành, đội cơ, với một toán lính Nam triều, đến bắt. Duy Tân vẫn bình thản, đối đáp như khi còn ở trong triều. Gặp vua, Le Fol trịnh trọng cất mũ chào:
- Tâu Hoành Thượng, Ngài ngự giá dạo chơi xong rồi chứ?
Duy Tân nhún vai đáp:
- Các ông chả hiểu được đâu!
Trần Quang Trứ tiến đến hỏi:
- Tâu Hoàng Thượng, tôi là người cùng Trần Cao Vân hội kiến Hoàng Thượng tối qua ở bên Thương Bạc, chẳng hay Hoàng Thượng có nhớ không?
Vua nhìn Trứ một cách khinh bỉ:
-Phải, ta nhớ mi, đồ phản quốc!
Rồi vua ngoảnh mặt quay sang chỗ khác. Triều thần gặp vua, vừa mừng vừa tủi, năn nỉ vua trở về Nội, Duy Tân khẳng khái từ chối, thà chịu bị bắt, nhất định không quay lại hoàng cung. Lính dương lọng rước, Duy Tân không cho và đi bộ đến chiếc xe của Pháp đưa vua về giữ ở đồn Mang Cá. Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị còng tay dẫn về Huế tống giam, đến ngày 16- 4-1916, cả bốn vị bị chém tại An Hòa (cách Huế vài cây số).
Tại các tỉnh cũng xảy ra nhiều việc thảm sát như thế: Ở Quảng Ngãi hai cụ Tú Ngung, cử Sụy cùng một số đông dồng chí bị tội tử hình, 200 người bị đày đi Côn Lôn. Ở Quảng Nam cũng rất nhiều người bị liên lụy, Phan Thành Tài và một số tử hình, hoặc đày đi Lao Bão, Thái Nguyên, Côn Lôn như y sĩ tân học Lê Đình Dương, Lý trưởng Lê Cơ, Tú tài Trương Bá Huy, Đỗ Tự.. Pháp khám phá nhiều tài liệu tổ chức chính phủ, quân nhu, quân phục, các ấn tín... Ở Quảng Trị, Khóa Bão bị tra tấn khốn đốn. Các tỉnh khác hưởng ứng chậm nên không bị đàn áp gì nhiều.

Về bản án Duy Tân


Khi còn trong ngục, Trần Cao Vân lo cho vua Duy Tân bị sát hại, nên viết thư trần tình cùng thượng thư Hồ Đắc Trung là người đang phụ trách thảo bản án xử vua. Thư viết trên cuộn giấy quyến hút thuốc, bí mật trao người chuyển đi, nhận lãnh hết công việc bạo động xảy ra đều do ông và Thái Phiên xúc sử. Cuối thư ông khẩn khoản Hồ Đắc Trung tìm cách cứu vua, có câu:
"Trung là ai? Nghĩa là ai? Cân đai võng lọng là ai? Thà để cô thần tử biệt!
"Trời còn đó! đất còn đó! Xã tắc sơn hà còn đó! Mong cho thánh thượng sinh toàn! "
Sư Bà Diệu Không kể lại rằng:
"Vì mảnh giấy ấy mà thân sinh tôi bị bắt giam mấy ngày ở tòa Khâm để điều tra. Nếu không nhờ vua Duy Tân khai giải cứu, ắt thân sinh tôi phải chung một số phận, với các ông Trần Cao Vân."
Sư Bà thuật lại lời khai của vua Duy Tân khi bị Pháp cật vấn như sau:
"Hỏi: Ngài nghĩ sao về mảnh giấy nầy?
"Đáp: Ông Trần Cao Vân làm việc lớn không thành, sợ tội bị tử hình nên cầu cứu với ông Hồ Đắc Trung.
"Hỏi: Vì lẽ gì trước kia Ngài từ hôn với tiểu thư nhà họ Hồ?
"Đáp: Vì tôi thương ông ấy đông con, sợ ông ấy bị liên lụy. Vả lại, các đồng chí của tôi khuyên tôi nên tránh gia đình ấy để bảo mật.
"Hỏi: Vì lẽ gì ông Trần Cao Vân lại bảo đưa mảnh giấy này cho ông Hồ Đắc Trung?
"Đáp: Vì ông Hồ Đắc Trung hay cứu người như đã cứu 42 nhà cách mạng ở tỉnh Quảng Nam năm 1908 trong vụ dân "xin xâu" lúc ông ấy làm tổng đốc ở đấy.
"Hỏi: Ngài có bảo đảm là ông Hồ Đắc Trung vô tội trong vụ khởi loạn nầy không?
"Đáp: Tôi xin hoàn toàn bảo đảm cho ông ấy.
"Thế là mấy ngày sau, thân sinh tôi được Pháp trả lại tự do. Triều đình ủy cho thân sinh tôi soạn thảo bản án Duy Tân. Nội dung bản án đại khái như sau:
"Vua Duy Tân còn nhỏ tuổi, tuy rất thông minh song còn cạn nghĩ, bị bọn người mưu phản kích thích lòng ái quốc nên nghe theo. Nếu đúng tuổi trưởng thành thì tội Ngài rất nặng, song Ngài còn vị thành niên, tưởng không đáng trách mà nên thương tình.
"Đứng về phía chính phủ Bảo hộ, thì Ngài can tội "phản nghịch", nhưng đứng về phía chính phủ Nam triều, thì Ngài là một ông vua biết thương dân và được lòng dân. Như vậy, luận về tội, thì quả thật Ngài có tội đối với chính phủ Bảo hộ, còn đối với nhân dân Việt Nam, thì Ngài không có tội gì cả.
"Vậy nên xét tình mà truất phế Ngài và để cho Ngài được tự do trở về với danh vị một hoàng tử như trước. Như thế lòng dân mới khỏi oán thán chính phủ Pháp là khắc nghiệt...
"Bản án nầy được Pháp chấp thuận, nên tuy bị đưa đi đày ở đảo Réunion gần Phi Châu, Ngài vẫn giữ tước vị hoàng tử...
"Về sau, thân sinh tôi gả chị tôi cho vua Khải Định, nên mới được tin dùng như trước. Tuy được gả cho vua mới, nhưng tình người con gái vẫn còn quyến luyến vua cũ không nguôi... " (8)
Năm 1925, Khải Định mất, thọ hơn 40 tuổi, Duy Tân từ đảo Réunion, gửi về hai câu điếu:
"Ông vội bỏ đi đâu, bỏ tiền, bỏ bạc, bỏ vợ, bỏ con, bỏ thầy tu, hát bội, bỏ hết trần duyên trong một lúc.
"Tôi may còn lại đó, còn trời, còn đất, còn nước, còn non, còn anh hùng, hào kiệt, còn nhiều vận hội giữa năm châu".

Về lá bài Duy Tân

Vận hội ấy, phải chăng là cuộc hội ngộ ngày 14 tháng 12 năm 1945 với Đại tướng Charles de Gaulle để chọn "lá bài Duy Tân" giải quyết vấn đề Việt Nam:
Tướng De Gaulle quyết định đặt Hoàng tử trở lại ngôi Hoàng đế Việt Nam, ba kỳ thống nhất, dưới một chính thể trung ương hoàn toàn tự do cai trị và tổ chức nền kinh tế của minh. Pháp đảm nhận phòng thủ biên cương cho Việt Nam trong một thời hạn nào đó sẽ được minh định, để cất gánh nặng cho ta việc tạo lập một quân đội khi Việt Nam chưa đủ phương tiện để duy trì và tăng cường nó. (9) Tướng De Gaulle sẽ đích thân đưa Hoàng tử hồi loan vào đầu tháng 3 năm 1946... chẳng may, trên đường về thăm gia đình ở đảo Réunion, Ngài tử nạn máy bay ngày 26-12-1945 gần Bangui thuộc Trung Phi". (10)
Tai nạn hay có mưu sát? Một bạn thân của vua Duy Tân là ẸP. Thébault cho biết trước khi rời Paris để về đảo Réunion thăm vợ con, Hoàng tử Vĩnh San có tiết lộ rằng: "Nước Anh chống lại việc tôi về Việt Nam và họ đã đề nghị tặng tôi 30 triệu nếu tôi từ bỏ ý định ấy ". Nhưng các cuộc điều tra cho đến nay chưa ngã ngũra sao cả. (11)
Cuộc đời của vua Duy Tân đã bao lần dang dở. Dang dở vì đã hy sinh mối tình đầu để tránh mối họa tày đình có thể xảy ra cho toàn gia người mình yêu, dang dở vì đã hy sinh ngai vàng của mình cho tiền đồ chung của đất nước, nạn nhân muôn thuở của tình đời phản trắc, của định mệnh khắc khe.
Nhưng đây là một trong muôn ngàn hy sinh khác của toàn dân đã đâng hiến trên bàn thờ Độc Lập cho đất nưóc chúng ta.

Ỷ Lan Hoàng thái hậu

Ỷ Lan - có thuyết cho rằng tên thật của bà là Lê Thị Yến Loan - là một cô gái hái dâu, chăn tằm ở ngoại thành Thăng Long thời Lý. ỷ Lan ra đời ở làng Thổ Lỗi (làng Sủi sau đổi là Siêu Loại, nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm - Hà Nội) - năm nào không rõ, sử sách chỉ ghi lờ mờ: bà mất ở kinh thành Thăng Long vào năm 1117 - trên dưới 70 tuổi - thời Lý Nhân Tông. Sách Mộng khê bút đàm của Thẩm Hoạt có chép "Nhật Tôn (tức Lý Thánh Tông) mất, Càn Đức (Lý Nhân Tông) lên, dùng quan là Lý Thượng Cát (Lý Thường Kiệt) và mẹ là thái phi Lê Thị Yến Loan cùng coi việc nước".
Câu chuyện Yến Loan vào cung vua Lý, đó là một giai thoại người người đều nghe, đều biết.
Thuở ấy vào năm Quý Mão (1063) Lý Thánh Tông đã đến bốn mươi tuổi. Vua chưa có con trai để truyền ngôi báu, đêm ngày triều thần lo ngại. Vua bèn thân hành đi cầu tự khắp các chùa chiền, miếu mạo nhưng không hiệu nghiệm, Lý Thánh Tông lo lắng cho triều đình nhà Lý và xã tắc Đại Việt. Một sớm mùa xuân, vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương quang phủ Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá. Thánh Tông hoàng đế cùng hòa vào dân chúng trong hội làng đông vui. Trai gái, già trẻ các làng đều ra rước vua. Đoàn xa giá của vua đi đến đâu, các làng lân cận nô nức, đổ xô về phía ấy. Duy chỉ cô thôn nữ xinh đẹp của làng Sủi vẫn điềm nhiên hái dâu, xem việc ngự giá của vua không có quan hệ gì đến mình. Cô gái vẫn miệt mài bên bãi dâu, mặc cho đoàn ngự diễu qua. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đòi người con gái có vẻ "kiêu căng" đang đứng bên nương dâu kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi. Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: Thiếp là con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và nhìn mặt rồng".
Vua thấy cô gái ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ đoan trang dịu dàng, lời lời phong nhã, đối đáp phân minh, lễ nghĩa khác hẳn những người con gái mà vua đã từng gặp. Vua yêu vì sắc, trọng vì nết, nên cho cô gái theo long giá về kinh đô. Cô gái làng quê được đón về cung vua ấy là Yến Cô Nương xinh đẹp, nết na của làng Siêu-Loại (Sủi). Nhưng Lý Thánh Tông là ông vua chăm việc nước, luôn luôn thân chinh dẹp giặc. Vua ít nhàn rỗi để ngự tới cung ỷ Lan. Đương lúc cung ỷ Lan vắng tiếng đàn, tiếng sáo, thì bỗng một hôm sau khi Thánh Tông đi trảy hội chùa Thổ Lỗi, cung ỷ Lan lại nhộn nhịp hơn xưa. Yến Cô Nương nhờ "thông minh vốn sẵn tư trời" được học tập, trau dồi đã trở thành một cung phi "nổi danh tài sắc một thời" kinh sử làu thông, văn chương uyên bác. Lý Thánh Tông đem lòng yêu mến, phong làm ỷ Lan phu nhân, lấy tên cung ỷ Lan và cũng có ý kỷ niệm cô gái đứng tựa bên gốc lan, khi tuân lệnh đến bệ kiến buổi đầu ở làng Sủi (Siêu Loại).
Sau đó (1066), ỷ Lan sinh hạ được một hoàng tử lấy tên là Kiền Đức. Kiền Đức trán cao, tay dài quá gối, thông minh, tuấn tú, vua càng yêu dấu hơn, Yến Loan được tôn là ỷ Lan nguyên phi - đứng đầu các cung phi, sau thái hậu; con trai được lập làm thái tử.
Năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc ngoại xâm. Trong khi vua cùng Lý Thường Kiệt ở ngoài biên cương, ỷ Lan nguyên phi đảm đang, chăm lo quốc sự, trị nước điều khiển có kỷ cương khiến thần dân thán phục, cõi nước được yên vui. Lý Thánh Tông từ ngoài biên ải đánh trận lâu ngày không thắng, chán nản rút quân quay về. Về chưa đến nơi, nghe dân chúng Châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Hưng) ca ngợi nguyên phi ỷ Lan ở nhà trị nước rất giỏi, lòng dân cảm hóa, được suy tôn là bà Quan Âm, vua Thánh Tông tự trách mình: "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há thua sao! Vua lại tiếp tục trở ra đánh giặc, lần này thắng trận. Năm đó, mùa hạ vua đem quân về ca khúc khải hoàn, đại xá cho thiên hạ, giảm thuế khóa, phát tiền lụa, thóc cho dân nghèo. ỷ Lan rất nhân từ dạy con ngoan, đào tạo con trở thành một nhà vua anh minh sau này; lại lo cho dân giàu nước mạnh, yêu thương nhân dân được mọi người kính phục.
Năm Nhâm Tý (1072) tháng giêng mùa xuân, Lý Thánh Tông mất ở điện Hội Tiên. Hoàng thái tử Kiền Đức lên ngôi vua, tức vua Lý Nhân Tông. Khi ấy vua mới lên bảy, tôn mẹ là ỷ Lan nguyên phi lên làm Linh Nhân hoàng thái hậu. ỷ Lan vừa giúp coi triều chính, vừa làm nhiệm vụ bà mẹ dạy dỗ con. Trong khi vua còn thơ ấu, ỷ Lan điều khiển cả quốc gia, cùng tể tướng Lý Thường Kiệt chủ trương đánh quân Tống xâm lược. Hai lần quân Tống đến (1075, 1077) vua Lý Nhân Tông chưa quá 10 tuổi, ỷ Lan đã cùng Thái sư Lý Đạo Thành lo việc binh lương chuyển ra tiền tuyến. Trong lúc Tổ quốc lâm nguy ỷ Lan đã cùng Lý Thường Kiệt giữ vững giang sơn, xã tắc; công ấy đời sau còn nhắc mãi.
ỷ Lan xuất thân là một thôn nữ, nên hiểu thấu những khổ đau của người phụ nữ nông dân vì nghèo khổ phải đem thân gán nợ cho nhà giàu, bà cho xuất của trong kho chuộc về, và xây dựng chồng con hạnh phúc cho họ. Về việc này Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn: "Con gái nghèo đến nỗi phải đợ mình làm mướn, con trai nghèo đến nỗi không vợ đó là cùng dân của thiên hạ. Thái hậu (tức ỷ Lan) đổi mệnh cho họ cũng là việc nhân chính vậy!". ỷ Lan không những sửa sang việc quốc chính, tăng cường quân đội, bố phòng, chăm lo việc mở mang dân trí, việc thi cử học hành và còn ban hành nhiều điều ích quốc lợi dân. ỷ Lan còn khuyên vua làm điều thiện, trị điều ác. Bà hiểu những gian nan của nông dân khi việc nông trang cày bừa không có trâu cày. ỷ Lan bảo vua phạt tội nặng những kẻ trộm trâu và giết trâu bừa bãi; có lần bà đã nói với vua: "Gần đây người kinh thành và làng ấp đã có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông dân cùng quẫn. Mấy nhà phải cày chung một trâu. Trước đây, ta đã từng mách việc ấy, và nhà nước đã ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu lại có nhiều hơn trước". Nhân Tông bèn ra lệnh phạt rất nặng những người trộm và giết trâu, phạt cả vợ con và hàng xóm vì tội không tố giác.
Sống trong lầu son, gác tía mà lúc nào ỷ Lan cũng không quên đến người nghèo, ỷ Lan vẫn chăm sóc đến đời sống cùng cực của nông dân lao động. Cũng như Lý Thánh Tông, ỷ Lan thường phát chẩn thóc lúa cho kẻ nghèo. Bà sùng đạo Phật, ưa làm việc từ thiện lập nhiều đình chùa.
Bà thường lui tới các đình chùa, trao đổi với các tăng ni thuyết giáo đạo Phật. Năm 1096, bà bày cỗ chay ở chùa Khai Quốc (tức sau là chùa Trấn Quốc ở Thăng Long) thết các sư. Tiệc xong, bà ngồi kê cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Bà hỏi về nguồn gốc đạo Phật ở các nước và ở ta. Bà có óc phán đoán đòi hỏi các sư "nói có sách mách có chứng". Chính nhờ câu chuyện giữa bà và các vị sư thời Lý (sách Thiên uyển tập anh ngữ lục đời Trần còn ghi lại tường tận chuyện này), mà đến nay ta còn biết gốc tích sự truyền bá đạo Phật vào nước ta. Có lần bà đến chùa Phổ Minh (Từ Liêm) tranh luận với sư Thông Biến về những điều của Phật giáo. Bà cũng có làm những bài kinh, có câu kệ còn truyền lại đến ngày nay:
Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc? Không? thôi mặc cả,
Mới thấu được chân tông (*)
Là một nữ nông dân nghèo, được hưởng phú quý vinh hoa, bà vẫn cho là điều "sắc sắc, không không", đó là phù vân... Bà là một người phụ nữ vương giả, ngọc ngà vàng son không làm vẩn đục tâm hồn bà, cũng là một phụ nữ hiếm có trong lịch sử nghìn năm trước.
Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu, Hội tường đại khánh năm thứ 8 (1117) đời Lý Nhân Tông, bà mất, được hỏa táng, dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng thái hậu, mai táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức. Hiện nay còn miếu thờ bà ở hai xã Cẩm Đới và Cẩm Cầu huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Lịch Sử giai nhân Trung Quốc


Điêu Thuyền
Điêu Thuyền là một người đẹp trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa và là một nhân vật nổi tiếng thời Tam Quốc. Điêu Thuyền được mệnh danh là người đẹp bế nguyệt, có sắp đẹp khiến cho trăng cũng phải xấu hổ mà giấu mình đi.
Điêu Thuyền bái nguyệt ở hậu hoa viên của Tư Đồ Vương Doãn, đại thần của Hán Hiến Đế thời Tam Quốc. Đột nhiên có một cơn gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Đúng lúc đó, Vương Doãn bước ra nhìn thấy. Để khen con gái nuôi mình xinh đẹp như thế nào, Vương Doãn thường nói với mọi người rằng con gái mình đẹp đến nổi trăng sáng nhìn thấy cũng phải trốn vào sau lưng mây. Vì vậy, Điêu Thuyền được mọi người xưng tụng là "Bế Nguyệt".
Điêu Thuyền là con nuôi trong nhà Tư đồ Vương Doãn, được gả cho cả 2 cha con nuôi Đổng Trác và Lã Bố để tùy cơ ly gián, một mặt tỏ vẻ yêu quí Đổng Trác, nhưng khi đến với Lã Bố thì lại ra sức quyến rũ, khi đến cao trào thì Lã Bố chịu không nổi đả kích giết luôn Đổng Trác. Mưu sĩ Lý Nho của Đổng Trác biết trước sự nguy hiểm của Điêu Thuyền, nhưng không sao can thiệp được mà trước đó chỉ biết thốt lên "Bọn ta đều chết cả về tay người đàn bà này".
Hình ảnh Lã Bố và Điêu Thuyền trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của Trung Quốc được người xưa diễn tả:
18 lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lãnh của "nữ tướng quân" quả là tuyệt cao cường, đáng sợ thay!"

Phải người cung cũ Chiêu Dương?
Xiêm y mây cuốn vương vương cánh hồng
Nhẹ nhàng mình liễu như bông,
Gót hài uyển chuyển trên lòng bàn taỵ
Động đình lạc lối hoa bay,
Lương châu thoăn thoắt sen cài bước chân
Nhà vàng gió cợt cành xuân,
Trăm hoa nhường vẻ thanh tân một người!


Bài thơ tả cảnh Đổng Trác mê say tiếng đàn, giọng hát, ánh mắt và vẻ xuân của nàng:

Một đóa anh đào chúm chím môi,
Đôi hàng răng ngọc rạng xuân tươi.
Hương đưa đầu lưỡi tàng hơi kiếm:
Chém chết gian thần có lúc thôi!

Tây thi
Tây Thi là con một người kiếm củi họ Thi, nàng dệt vải ở núi Trữ La, Gia Lãm, thuộc nước Việt cổ. Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây, vậy nên gọi là Tây Thi. Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi, ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn.
Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nước sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy ảnh cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng cô là "Tây Thi Trầm Ngư".
Trong trận đánh quyết tử với Ngô, do không nghe lời can gián của Văn Chúng và Phạm Lãi nên vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, bị bên Ngô buộc vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Câu Tiễn quyết chí trả thù, Văn Chủng trước khi Câu Tiễn sang Ngô đã hiến cho vua 7 kế, trong đó có một kế là "Mỹ nhân kế"-dâng người đẹp mê hoặc vua Ngô. Trong vòng nửa năm, Câu Tiễn tuyển được 2000 mỹ nữ, trong đó có hai người đẹp nhất là Tây Thi và Trịnh Đán.
Nam Cung Bắc tả Tây Thi qua con mắt của Câu Tiễn và Phạm Lãi:
Câu Tiễn bắt gặp ngay đôi mắt trong suốt như dòng suối lạnh, lòng đen đen tuyền óng ánh phát hào quang, thoáng chốc như hớp hồn nhà vua
Tây Thi như một đóa hoa còn chớm nụ hàm tiếu, bao nhiêu nét tươi trẻ thanh xuân dường như ẩn hiện trong góc mắt đuôi mày. Mắt nàng trong suốt, mày nàng phương phi, miệng nàng chúm chím, đường nét tạo thành nàng dường như là ảo tưởng.
Cái đẹp của Tây Thi như lóe hào quang, như thái dương.

Vương Chiêu Quân
Chiêu Quân tên là Vương Tường , nên cũng được gọi là Vương Chiêu Quân . Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tỉ Quy , Nam Quận , nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc. Được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN-33 TCN). Trong thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa bao giờ được gặp mặt vua và vẫn chỉ là một cung nữ . Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Da đến Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán, một phần trong hệ thống triều cống giữa nhà Hán và Hung Nô. Ông này nắm lấy cơ hội để đề nghị được trở thành con rể của vua Nguyên Đế. Thay vì gả cưới một công chúa cho thiền vu thì Hô Hàn Da đã được ban cho 5 cung nữ từ hậu cung, một trong số này là Vương Chiêu Quân.
Theo một câu chuyện trong Hậu Hán Thư (quyển 89, Nam Hung Nô liệt truyện) thì Vương Chiêu Quân đã tình nguyện theo thiền vu này. Khi được vời đến triều đình thì vẻ đẹp của Chiêu Quân đã làm cho Nguyên Đế sững sờ và muốn thay đổi quyết định của chính mình.
Chiêu Quân trở thành người vợ được yêu quý của Hô Hàn Tà, được phong là Ninh Hồ Át Chi. Họ sinh được hai người con trai, chỉ một trong số đó sống sót với tên gọi là Y Chư Trí Nha Sư và một người con gái, tên là Vân , sau này là một nhân vật đầy quyền lực trong hệ thống chính trị của Hung Nô. Năm 31 TCN, Hô Hàn Da chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề con trai lớn của Hô Hàn Da. Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có hai người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Chủng", mộ hiện nay vẫn còn tại phía nam thành Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông Cổ.
Hòa bình giữa nhà Hán và Hung Nô đã được kéo dài trên 60 năm, tuy nhiên, sau này người ta đã không còn biết gì về các hậu duệ của Chiêu Quân.

Dương Ngọc Hoàn
Dương Quý Phi tên thật là Dương Ngọc Hoàn , sinh ở tỉnh Tứ Xuyên vào khoảng năm 719. Bà là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Gia đình này nguyên gốc ở một quận nhỏ thuộc Trung Đông, là Hòa Âm đến đây lập nghiệp. Cha là Dương Huyền Diễn thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm thứ sử tại quận Kim.
Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là "tu hoa", nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ.
Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở : "Hoa à, hoa à! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy ?". Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại hoa trinh nữ (cây xấu hổ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là "tu hoa".

Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông

Triệu Cơ
Triệu Cơ , người Hàm Đan nước Triệu cuối thời Chiến Quốc, là mẹ của Tần Thủy Hoàng. Triệu Cơ đóng vai trò quan trọng trong âm mưu đưa Tần Thủy Hoàng lên ngôi của Lã Bất Vi.
Triệu Cơ vốn là thiếp của Lã Bất Vi, người tuyệt đẹp, múa giỏi đàn hay. Khi đó Tần công tử, Tử Sở, làm con tin ở nước Triệu nghèo khó khốn cung. Lã Bất Vi ra tay cứu giúp, xin Hoa Dương phu nhân nhận Tử Sở làm con nuôi, trở thành người thừa tử của thái tử An Quốc Quân.

Một lần Tử Sở sang nhà Bất Vi, nhìn thấy Triệu Cơ đem lòng say mê. Lã Bất Vi đem nàng dâng cho Tử Sở, khi đó Triệu Cơ đang mang thai. Tử Sở bèn lập nàng làm phu nhân, đến kỳ Triệu Cơ sinh con đặt là Chính.
Năm thứ 50, đời vua Chiêu Vương nước Tần, Tần sai Vương Ý vây Hàm Đan rất gấp. Nước Triệu muốn giết Tử Sở. Tử Sở cùng Lã Bất Vi mưu đưa sáu trăm cân vàng cho kẻ coi giữ nên trốn thoát về Tần. Triệu muốn giết Triệu Cơ và Chính, nhưng Triệu Cơ là con nhà tai mắt ở Triệu, lẩn trốn được vì thế mẹ con đều sống.
Năm thứ năm 56, Tần Chiêu Vương mất, thái tử An Quốc Quân lên làm vua, lập Hoa Dương phu nhân làm hoàng hậu, Tử Sở làm thái tử. Sau thời gian khốn khó ở Triệu, Triệu Cơ cùng Chính về Tần. Vua Tần lên ngôi được một năm thì mất, thái tử Tử Sở lên thay, tức là Trang Tương Vương.
Trang Tương Vương làm vua được ba năm thì mất, thái tử tên là Chính lên ngôi Tần Vương, tức Tần Thủy Hoàng, Triệu Cơ trở thành Thái hậu. Khi Tần Vương còn nhỏ tuổi, thái hậu Triệu Cơ thường lén lút tư thông với Lã Bất Vi. Về sau Tần Thủy Hoàng đã lớn, Lã Bất Vi sợ lộ sẽ mang vạ, bèn ngầm tìm kẻ dương vật lớn là Lao Ái, dùng làm người nhà. Lã Bất Vi sai Lao Ái làm trò vui, lấy dương vật của mình tra vào bánh xe gỗ đồng mà đi. Thái hậu Triệu Cơ nghe thấy muốn được Lao Ái cho riêng mình, Lã Bất Vi bèn cho Lao Ái giả làm hoạn quan rồi đem dâng cho thái hậu. Từ đó Triệu Cơ cùng Lao Ái thông XxxX, sinh được hai con. Lao Ái đem hai đứa con đi dấu, định lập mưu đợi Tần Thủy Hoàng chết thì lập con hắn làm vua.
Năm thứ 9 đời Thủy Hoàng, có kẻ phát giác Lao Ái thực không phải là hoạn quan và thường thông XxxX với thái hậu. Tần Thủy Hoàng liền giao cho pháp đình xét, biết rõ sự tình. Tháng 9 năm đó Tần Thủy Hoàng giết cả ba họ nhà Lao Ái. Lại giết hai con do thái hậu đẻ ra và đày thái hậu Triệu Cơ sang đất Ung. Tháng 10 năm thứ 10, sau khi cách chức Lã Bất Vi, Tần Thủy Hoàng mới sang Ung đón thái hậu Triệu Cơ về Hàm Dương.
Năm thứ 19 đời Thủy Hoàng, thái hậu Triệu Cơ mất, tên thụy là Đế thái hậu, chôn một chỗ với Trang Tương Vương ở Chỉ Dương

Đát Kỷ
Đát Kỷ , hay còn gọi là Đắc Kỷ, là một cung phi được sủng ái của Trụ Vương nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc. Bà cũng là người thân với hoàng hậu của Trụ Vương. Bà không được học chữ, nhưng được nhận định là thông minh và gian xảo
Đát Kỷ trước khi làm cung phi cho Trụ Vương đã từng bị đày ở lãnh cung. Rồi bằng cách nào đó được Trụ vương đưa về cung và rất cưng chiều.
Trụ vương nổi tiếng là một ông vua ??? đãng. Ông mê Đát Kỷ đến quên việc triều chính. Ông và Đát Kỷ là một cặp được nhắc đến trong lịch sử Trung Quốc với sự phẫn nộ của nhiều người.
Đát KỷTương truyền, trong cung Trụ có một nơi phục vụ cho thú vui của vua Trụ. Đát Kỷ và vua, cùng nhiều cung tần mỹ nữ khác thường xuyên vui chơi trụy lạc tại đây. Họ ra lệnh dùng roi đánh khắp thân thể những con vật thật đau, để hằn lên vết đỏ, rướm máu, sau đó nướng chúng lên để thưởng thức. Chỗ này được thiết kế với những hồ nhỏ, vua cho đổ rượu vào đầy hồ và xuống tắm rượu cùng các mỹ nhân và Đát Kỷ.
Có lần Đát Kỷ bất hòa với thân thuộc của vua là Tỷ Can, bắt ông này phải moi tim ra cho bà xem. Một vị quan giỏi xem tinh tượng, bói toán cũng vì bất hòa mà bị bà cho dựa lưng vào cột vừa nung đỏ, cháy cả lưng.
Đát Kỷ bị dân gian nghi vấn là hồ ly hóa thành, vì được biết bà rất rậm lông chân.
Các sử gia đời sau thường cho rằng, vì việc quá yêu Đát Kỷ, Trụ vương đã làm nhiều điều thất đức, trượt theo vết xe đổ của vua Kiệt nhà Hạ say đắm nàng Muội Hỷ đến nỗi làm hỏng chính sự và mất nước về tay nhà Chu. Sau nay cuối thời Tây Chu lại có chuyện Chu U vương si mê nàng Bao Tự mà cũng lặp lại bi kịch như Trụ vương làm nhà Tây Chu mất.
Như vậy xét về nép đẹp, Đát Kỷ cũng thuộc hàng đại mỹ nhân của Trung Hoa, nhưng không được kính nể trọng vọng như Tứ Đại Mỹ Nhân và người đời gọi bà là yêu cơ.

Hạ Cơ
Hạ Cơ là một người con gái thời Xuân Thu (722 TCN - 480 TCN), tương truyền rằng nàng có thuật "hoàn tân".
Hạ Cơ vốn là gái nước Trịnh, sau về làm dâu nước Trần. Nàng là cô gái ăn chơi rất lịch lãm, sử sách nói sau khi ăn nằm với ai rồi, nàng trở lại "hoàn tân" như cũ. Điều đặc biệt là hễ ai đã ân ái với nàng thì thường gặp phải tai vạ và chết. Người ta nghi nàng có thuật "Hấp tinh đại pháp".
Người tình đầu tiên của nàng là công tử Trần Man, tư thông với nàng vài năm rồi qua đời. Sau đó nàng có chồng là Tư mã Hạ Ngự Thúc, hai vợ chồng có một con trai là Hạ Trưng Thư, rồi Ngự Thúc cũng chết.
Hạ Cơ lại tiếp tục dan díu với hai quan trong triều là Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, hai quan này làm việc ô uế công khai. Một hôm Khổng Ninh lấy trộm cùa nàng cái "Cẩm dương" (quần lót bằng gấm) về khoe. Nghi Hàng Phủ thấy vậy nổi cơn ghen, cố nài xin cho được chiếc "Bích la nhu" (áo lót bằng lụa màu xanh) để trêu lại. Khổng Ninh cả giận liền tiết lộ cho vua Trần Linh Công biết. Trần Linh Công nghe kể thích quá liền nhập cuộc chơi, Hạ Cơ liền tặng vua chiếc áo lót nữa.
Từ đó, sau mỗi lần bãi triều, cả ba thường đem "bảo vật" ra khoe với nhau. Trong triều có quan Đại phu Tiết Giả là bầy tôi trung, thấy vậy liền can vua và chỉ trích hai tên quan kia. Nhà vua ngoài miệng hứa chừa, nhưng âm mưu với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, giết Tiết Giả. Tiết Giả chết rồi không còn có ai dám can ngăn nữa, cả ba mặc sức tung hoành trác táng đến nỗi dân nước Trần đã đặt bài vè "Châu Lâm" (Châu Lâm là nơi Hạ Cơ đang ở) để chê trách Linh Công.
Hạ Cơ cho Trưng Thư về kinh đô để học, cũng mong cho con ngày sau nối nghiệp cha. Trưng Thư lớn lên, có tài võ nghệ, Linh Công cho Thư nối chức cha làm Tư mã, ở lại kinh. Từ đó Hạ Cơ một mình tiếp luôn ba người không biết mệt mỏi.
Một hôm Hạ Trưng Thư ở kinh về Châu Lâm trông thấy vua Trần Linh Công và Khổng Ninh, Hàng Phủ cùng Hạ Cơ đang vầy cuộc ái ân, ăn nói suồng sã bỉ ổi ??? loạn, lập tức Hạ Trưng Thư cho quân vây quanh nhà và giết được Trần Linh Công còn hai tên kia chạy thoát qua nước Sở, vào kêu với Sở Trang Vương rằng Hạ Trưng Thư giết vua để cướp ngôi.
Trang Vương đem binh đánh Trần, giết Hạ Trưng Thư. Thấy Hạ Cơ xinh đẹp ý muốn thu dùng, nhưng một bầy tôi là Khuất Vu, một tướng lãnh tài ba, trẻ tuổi, đẹp trai, lại luyện được phép "Bí thuật ph*ng trung", bấy lâu đã nghe tiếng Hạ Cơ có ngón ăn chơi trác tuyệt muốn thử lửa một phen bèn ra sức can Sở Trang Vương đừng thu dùng nàng. Trang Vương lại muốn gả cho người khác, Khuất Vu cũng lại can, cuối cùng vua gả cho một vị tướng già là Tương Lão. Hạ Cơ lại thông ??? với con Tương Lão, việc đổ bể Hạ Cơ trốn sang nước Trịnh, còn con của Tương Lão bị hành hình.
Khuất Vu đi sứ sang Trịnh, nhân cơ hội đó Khuất Vu tư thông với Hạ Cơ, rồi đưa nàng trốn sang Tấn "xây mộng uyên ương". Mấy năm sau Khuất Vu đem nàng sang nước Ngô và ở hẳn nơi này. Từ đấy về sau không còn ai biết Hạ Cơ ra sao nữa.

10 Vị hoàng đế vĩ đại nhất
1.Tần Thủy Hoàng Doanh Chính; tiêu diệt 6 nước chấm dứt 500 năm chia cắt đât nước,thống nhất chữ viết,tiền tệ,đơn vị đo lường ,xác lập chế độ trung ương tập quyền,xây Vạn Lý Trường Thành.
2.Hán Cao Tổ Lưu Bang: đánh bại Hạng Võ sáng lập nhà Hán
3.Hán Vũ Đế Lưu Triệt: củng cố chế độ trung ương tập quyền,bãi bỏ Đạo giáo,độc tôn nho giáo,3 lần Đánh bại Hung Nô
4.Đường Thái Tông Lí Thế Dân: người đồng sáng lập ra nhà Đường mở ra thời Kì TRình Quán thịnh trị nổi tiếng
5.Nữ Hoàng đế Võ Tắc Thiên vị nữ Hoàng duy nhất trong lịch sử TQ
6.Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn: có công thống nhất đất nước sau thời kì hỗn loạn Ngũ Đại thập lục quốc,củng cố chính quyền trung ương tập quyền.
7.Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt: người thiết lập đế chế Nguyên Mông tại TQ
8.Minh thái tổ Chu Nguyên Chương: người lật đổ Nguyên Mông,sáng lâp nhà Minh,
9.Khang Hi hoàng đế:người làm vua lâu nhất lịch sử TQ (61 năm)chấm dứt loạn Tam Phiên cát cứ,thu Phục Đài Loan,Đánh bại quân Nga bảo vệ Hắc Long Giang,lập bộ Khang HI từ điển ,phát triển Khoa học.
10.Càn Long hoàng đế:thời Kỳ Cai trị Huy hoàng cuối cùng của phong kiến TQ.NỔi tiếng với 10 chiến địch chinh phạt lớn
có thể thấy những vị Hoàng đế này đều là Những người sáng lập triều đại phong kiến mới hoặc là nhưng nhà cai trị xuất sắc,văn võ song toàn.Sau đây là những sai lầm và khuyết điểm của các vị hoàng đế trên:
1.Tần thủy hoàng trong thời kì đầu khéo dùng người,hùng tài đại lược,thống nhất đất nước.Nhiều việc làm của ông có tính đột phá táo bạo.Nhưng sau khi thống nhất TQ cai trị tàn bạo,xây nhiều công trình hao tổn sức người và của.Chậm trễ trong việc trọn người kế vị nên nhà tần sau khi ông chết 4 năm đã bị sụp đổ.Người đời sau nói TTH là người giỏi trong việc thống nhất đất nước nhưng không giỏi giữ nước kể cũng có lí
2.Lưu Bang bị nhiều người nhận định là Kiêu ngạo,thô lỗ,vô học,dùng binh kém.Nhưng Lưu bang cai trị đất nước khá ,giỏi dùng người nên nhà hán trong thời kì của ông và sau khi ông chết vẫn thịnh trị.Nhưng ông để củng cố quyền lực đã giết hại công thần như Hản Tín,Bành Việt.Lúc Đầu ông thấy con mình là thái tử Lưu Doanh nhu nhược mà Vợ Mình là Lữ Hậu chuyên quyền, nên định phế lưu Doanh lập hoàng tử khác.Sau Ông lại đổi ý vẫn lập lưu Doanh làm Vua.Sau Khi ông chết Lữ hậu chuyên quyền làm nhà Hán suýt bị cướp ngôi.
3.Hán vũ đế Trong thời kì đầu cai trị rất giỏi,kho tàng sung túc, văn võ song toàn đánh thắng Hung nô uy danh lừng lẫy.Nhà Hán cực thịnh.Nhưng giai đoạn cuối ông quá ham việc chinh phạt làm đất nước kiệt quệ.Vũ đế Cũng là người tàn nhẫn,độc đoán tính khí thất thường.Nhiều đại thần chỉ vì phạm tội nhỏ mà bị giết cả họ.(trong Phim Hán Vũ đại đế có thấy nhiều).Lúc về già Vũ Đế vì mê tín nên giết con là thái tử.May là ông cũng biết hối hận về lỗi lầm của mình nên đã bãi bỏ việc chiến tranh.Vũ đế rút Kinh Nghiệm của Lưu Bang.Lúc lập người con Lưu Phất Lăng 8 Tuổi làm Vua,ông đã lập một hội đồng Phụ Chính do Hoắc Quang đứng đầu .Để tránh hiện tượng phụ nữ can dự triều chính,ông đã bắt mẹ Lưu phất Lăng là Câu Dực phu nhân tự sát.Sau khi vũ đế Chết nhà Hán vẫn ổn định nhưng không bao giờ đươc như trước nữa.
4.Đường Thái Tông từ khi rất trẻ đã theo cha mình đánh đông dẹp bắc dựng Lên nhà Đai Đường.Ông này thì rất giỏi binh pháp,võ nghệ khá.Nhưng để lên ngôi ông đã phải Giết chết 2 người Anh em của Mình trong cuộc xung đột.Nhưng ông cai trị rất giỏi ,đối đãi với bề tôi khoan dung,sống cũng rất giản dị.Nhà Đường trải qua thời kì thịnh trị.Ông còn rất tích cực nghe lời can Gián của bề tôi.Có sách nói Ông đã 200 lần tiếp thu ý kiến can gián của Ngụy Trưng.Nhưng vài năm cuối đời từ khi Ngụy trưng chết ,ông bắt đầu dộc đoán,bắt đầu sống xa hoa,thích chinh phạt.Nhưng may là từ sau Lần chinh phạt Cao Li thất bại ông cũng tỉnh ngộ nên không ảnh hưởng quá nhiều đến nhà Đường.Về đời tư ông có lập người con trưởng làm thái tử nhưng thái tử mưu phản buộc ông phải phế truất .Sau ông lập người con khác là Lí Trị kế vị.Ông có người thiếp là Võ Mị Nương tính rất mạnh mẽ,xảo quyệt với Lí Trị có tình ý.Để Phòng hậu hoạn ông buộc võ Mị nương phải đi tu.Ông chết sớm ở tuổi 52 sau một lần uống thuốc bị ngộ độc dẫn đến chứng kiết lị(tiêu chảy cấp tính).Sau Khi ông chết Lí Trị làm Vua(Cao Tông)lại đón Võ Mị Nương về.Sau Võ Mị Nương thao túng triều đình,cướp ngôi nhà Đường.Đó Chính là Võ Tắc Thiên.

5.Võ Tắc Thiên để bước lên ngôi hoàng hậu đã giết cả hoàng hậu cũ với hàng loạt phi tần.Để tranh giành quyền lực võ tắc thiên giết một loạt cựu thần tiên triều.Cao tông như biến thành bù nhìn.Cao tông chết Võ Hậu gạt bỏ 2 người con đẻ khác rồi bước lên ngai vàng.Võ hậu cai trị đất nước với Bàn tay sắt khủng bố bất kì ai trông đối .Nhựng bà cai trị giỏi và rất công bằng nên đất nước yên ổn.Bà cũng là một người có tính dâm loạn nổi tiếng.Mãi đến khi về già mới bị tôn thất Nhà Đường phế truất.Bà chết sau đó 1 tháng.
6.Tống thái Tổ Triệu Khuông Dẫn vốn xuất thân tướng lĩnh được tôn lên làm Hoàng đế nên rất giỏi đánh trận ,thống nhất dất nước.Ông cai trị khá,nhà Tông ổn định và Phát Triển.Ông đối đãi với công thần so với Lưu Bang khôn khéo hơn nên các tướng lĩnh rút lui đều được bảo toàn.Ông chết bí ẩn ở Tuổi 50 và người Em là Triệu Quang Nghĩa kế Vị.Sau Khi ông chết nhà tống phát triển 1 thời gian rồi rơi vào cảnh Trì trệ,quân sự yếu kém,bị Liêu,Kim,Tây Hạ xâm lược.Cuối cùng bị mông cổ thôn tính.
7.HỐt Tất Liệt.Ông này vốn xuất thân là một Thân vương mông Cổ,em vua Mông Kha.Sau Khi Mông kha chết đột ngột ông tiêu diệt các thân vương khác rồi lên ngôi vua,diệt nhà Tống thống nhất trung quõc.Ồng cai tri khá nên đất nước ổn định nhưng mâu thuẫn giữa người Hán Và Mông cổ ngày một sâu sắc.Ông trinh phạt việt nam 3 lần đều thất bại làm mông cổ bị suy yếu.Sau khi ông chết chỉ vài chục năm,người mông cổ phải rú t khỏi TQ
8.Chu Nguyêntrương ông này lãnh đạo quân khởi nghĩa đánh bại mông cổ.Sau khi làm vua ông tỏ ra là 1 người lãnh đạo rất có năng lưc,nghiêm khắc với nạn tham nhũng.Nhà Minh lại thịnh vượng.Nhưng ông cũng nổi tiếng với việc tàn sát công thần.Dười thời ông có lực lượng mật vụ cẩm y vệ nổi tiếng tàn bạo.Có người tố cáo tể tướng Hồ Duy Dung làm phản,ông ra lệnh giết Hồ Duy Dung.Vụ án đó làm lên lụy chết đến 3 vạn người.Vụ án xử Chém dại tướng Lam Ngọc làm chết dến 1 vạn 5000 người.Ông rất ghét ai nhắc đến nguồn gốc bản thân là nhà sư di ăn cướp.Nghi ai mỉa mai mình ,ông lập tức xử chém.Ông chống tham nhũng mạnh tay đến mức dưới thời ông hàng nghìn quan viên tham nhũng bị xử chém.Thái tử chết,Ông chọn người cháu đích tôn kế vị mà không chọn người con thứ .Kết quả sau khi ông chết chiến tranh đã nổ ra giữa 2 người đó.Người con đã chiến thắng và trở Thành Hoàng đế Vĩnh lạc .Nhưng cũng may là Vĩnh Lạc cai Trị giỏi nên nhà minh vẫn duy Trì được sự Thịnh Vượng.
9.Khang hi về mặt quân sự,văn học, khoa học ,thư pháp đều có nhiều thành tựu.Ông là người khoan dung,độ lương,được nhiều người ca ngợi.Nhưng thỉnh thoảng dưới thời khang hi hay xảy ra các vụ án Văn tự xử chém,bỏ tù hàng tram,hàng ngàn người viết sách Ca ngợi Nhà Minh.Điều đó dẫn dến việc thất lạc 1 số tác phẩm văn học.Ông lập Dận Nhưng làm Thái Tử.Dận Nhưng phạm tội bị phế truất sau lại âm mưu phản loạn.Khang hi buộc phải phế thái tử.Khang hi có rất nhiều con,họ đấu đá tranh dành khốc liệt.KHang hi vì đó mà lo buồn sinh bệnh,xao lãng việc triều Trính.Cuối thời Khang Hi nạn tham nhũng gia tăng.Cuộc đấu đá kế vị kết thúc với Việc Ung Chính kế vị.Có nguồn tin Khang hi bị đầu độc(theo chính thức ông chết vì bệnh).Nhưng Ung Chính Cũng là một hoàng đế giỏi và chấn chỉnh nạn tham nhũng nên Nhà Thanh lại thịnh vượng
10.Càn long tiếp nối khang hi và ung chính cai trị tiếp tục duy Trì sự Thịnh vượng.Càn Long về mặt thành tựu văn trị cũng như võ công cũng có nhiều điểm giống Khang Hi.Các vụ án về Văn tự cũng như thời Khang hi,thỉnh thoảng lại xảy ra.Nhưng Càn Long là tri tiêu ngân khố nhiều khi khá lãng phí.Trong 20 năm cuối đời Càn Long để cho gian thần Hòa Thân vơ vét làm cho ngân khố trống rỗng,tham nhũng tràn lan.Càn Long lập thái tử 2 lần nhưng đều chết sớm.Cuối cùng gia Khánh được trọn kế vị.Sau khi càn long chết Hòa THân bị xử tử.Tài Sản bị tịch biên bẳng thu nhập quốc khố trong 10 năm.Gia khánh cố gắng trấn trỉnh nạn tham nhũng nhưng tham nhũng tràn lan không thể khắc phục được.Nhà Thanh về sau càng suy vong có trách nhiệm không nhỏ của Càn Long.

10 người phụ nữ độc ác nhất lịch sử Trung Hoa (st)
Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá đã thống nhất lựa chọn ra “Top ten” “đại độc nữ” điển hình. Chính những người đàn bà ghê gớm này đã làm chao đảo bao triều chính, tan nát bao gia đình...
Người Trung Quốc gọi những người đàn bà hiểm độc là “độc phụ”. Nghiên cứu lịch sử nước Trung Quốc phong kiến mấy ngàn năm, người ta thấy “độc phụ” có rất nhiều, hầu như triều đại nào cũng có.

1. Lã Hậu: Người đàn bà độc ác nhất trong lịch sử
Hán Cao tổ Lưu Bang và Lã Trĩ quả là một cặp vợ chồng hoạn nạn có nhau, thế nhưng sự xuất hiện của Thích Phu nhân là một trở ngại nghiêm trọng cho cuộc sống hạnh phúc của cặp vợ chồng đế hậu này.
Người Trung Quốc có câu “Nam nhi ái hậu phụ, nữ tử trọng tiền phu” (Đàn ông thì yêu vợ sau, đàn bà thường trọng người chồng trước). Thích Phu nhân mặt đẹp như hoa, thân hình gợi cảm, hát hay múa giỏi, lại sinh được cho Lưu Bang hoàng tử Như Ý.
Như Ý thông minh khôi ngô, Lưu Bang rất yêu nên có ý muốn phế trưởng lập thứ. Lã Hậu rất hoảng, tưởng bị phế đến nơi, may nhờ có các đại thần ủng hộ nên bà ta mới giữ vững được ngôi hậu.
Sau khi Hán Cao tổ qua đời, Lã Hậu chuyên quyền, bắt đầu tính đến chuyện trả thù những phi tần đã được Lưu Bang sủng ái khi trước. Thích Phu nhân là nạn nhân đầu tiên.
Bà ta sai người chặt hết chân tay Thích Phu nhân, chọc mù mắt, đâm thủng tai, bắt uống thuốc độc cho câm, sau đó quẳng kẻ tình địch trong tình trạng sống dở chết dở như thế vào một căn hầm tối, gọi là “Người lợn”. Tình cảnh của Thích Phu nhân đáng sợ đến mức một lần con trai Lã Hậu là Hán Huệ Đế tình cờ nhìn thấy, sợ quá lâm bệnh, nằm liệt giường.
Những thủ đoạn giết người tàn bạo không phải là hiếm ở Trung Quốc, nhưng thủ đoạn tàn ác như Lã Hậu thì quả là có một không hai. Không những hại Thích Phu nhân, Lã Hậu còn lừa Như Ý vào trong cung.
Huệ Đế biết rõ tính mẹ, sợ đứa em cùng cha bị mẹ hãm hại nên ăn ngủ cùng nhau, không rời một bước. Nhưng dù được người anh tốt bụng che chở thì Như Ý cũng không thoát khỏi tay người đàn bà hiểm độc được mãi. Một lần, nhân lúc Huệ Đế đi săn ngoài cung, Lã Hậu đã sai người bóp chết con trai của kẻ tình địch.
2. Chiêu Tín: Quái vật trong triều Hán
Chiêu Tín là cơ thiếp của Quảng Xuyên Vương Lưu Khứ, cháu nội vua Hán Cảnh Đế. Chiêu Tín đẹp thế nào thì không thấy sử sách ghi, nhưng tính tình tàn nhẫn hiểm ác thì vào loại hàng đầu trong lịch sử Trung Quốc.
Theo sử chép thì lúc đầu Lưu Khứ rất sủng ái hai nàng Vương Chiêu Bình, Vương Địa Dư, hứa hẹn lập họ làm hoàng hậu. Nhưng vốn là kẻ hoang D â m vô độ nên sau này ông ta lại quay ra sủng ái Chiêu Tín. Chiêu Bình, Địa Dư rất căm tức nên bàn mưu định hại Chiêu Tín.
Chuyện bị bại lộ, Lưu Khứ bắt Chiêu Bình ra dùng khổ hình tra khảo. Đánh roi mây, Chiêu Bình nén chịu không khai, chuyển sang dùng dùi sắt đâm, Chiêu Bình đau quá phải khai. Thế là Lưu Khứ bèn triệu tập các phi tần đến, bắt họ dùng kiếm đâm chết Địa Dư, còn Chiêu Bình thì để Chiêu Tín đâm chết. Ông ta còn cho treo cổ 3 thị tỳ, sau đó đem đốt xác hai người đẹp ông ta hằng yêu dấu thành tro rồi đổ đi.
Chưa hài lòng, Chiêu Tín còn vu cáo Vọng Ngưỡng, một ái thiếp khác được Lưu Khứ sủng ái. Nghe Chiêu Tín siểm tấu, Lưu Khứ cho gọi các phi tần cùng kéo đến nơi Vọng Ngưỡng ở, lột hết quần áo nàng, bắt các phi tần dùng dùi nung đỏ gí vào người nàng. Vọng Ngưỡng bỏ chạy, nhảy xuống giếng tự vẫn, Chiêu Tín lôi lên, dùng giáo đâm vào chỗ kín, xẻo mũi cắt miệng, cắt lưỡi nàng… đem nấu chín, bắt các phi tần khác xem.
Chưa hết, Chiêu Tín còn vu cáo hãm hại một cung phi là Vinh Ái. Vinh Ái sợ quá nhảy xuống giếng nhưng không chết. Chiêu Tín lôi lên, trói lại, gí dao nung làm mù hai mắt, cắt hai tay, nung chì đổ vào miệng nàng. Vinh Ái chết, Chiêu Tín còn sai phân thây bắt chôn mỗi thứ một nơi. Có tới 14 cung phi từng được Lưu Khứ sủng ái bị Chiêu Tín hành hạ như vậy.


3. Lệ Cơ: Kẻ giết người không dao
Sự hiểm độc của Lệ Cơ khác với những người khác ở chỗ “giết người không dao”.
Thời Xuân Thu, Tấn Hiến Công xuất binh đánh Lệ Nhung - một nhánh của Tây Nhung, nay thuộc huyện Lâm Đồng, tỉnh Thiểm Tây - giết vua Lệ Nhung, bắt Lệ Cơ công chúa là con gái ông ta mang về trung nguyên.
Lệ Cơ đẹp nghiêng nước nghiêng thành nên Hiến Công rất thích. Bất chấp lời can ngăn của quan chiêm bốc (thầy bói), ông ta vẫn lấy làm thiếp, sau đó Lệ Cơ sinh được con trai, đặt tên là Khê Tề.
Sinh được con trai rồi, Lệ Cơ tìm cách hành động để lo liệu cho tương lai của hai mẹ con. Trước hết, nàng dọn sạch mọi trở ngại trên con đường đưa Khê Tề đến ngai vàng, lập mưu trừ bỏ 3 công tử tài hoa là Thân Sinh, Trùng Nhĩ, Di Ngô. Nàng thẽ thọt bẩm với Hiến Công sai Thân Sinh mang quân đi đánh Nhung Địch rồi thừa cơ nắm lấy chỗ yếu, đẩy Thân Sinh đến chỗ chết, nhưng không thực hiện được.
Tiếp đó, Lệ Cơ tìm cách vu cáo bỏ thuốc độc vào thức ăn dâng lên để giết hại vua cha, bức Thân Sinh phải thú nhận rồi ôm hận tự sát. Thân Sinh chết rồi, Lệ Cơ bèn vu cho Di Ngô đồng mưu khiến Công tử Trùng Nhĩ phải bỏ chạy về Bồ Thành, còn Di Ngô chạy đến Khuất Thành.
Tấn Hiến Công nghe nói hai con trai bỏ trốn liền nổi giận lôi đình, càng tin rằng hai người đồng mưu với Thái tử Thân Sinh hại cha và Lệ Cơ nên ra lệnh điều binh đi đánh Bồ Thành. Viên quan coi Bồ Thành sợ quá khuyên Trùng Nhĩ tự sát để tạ tội, Trùng Nhĩ vội nhảy xuống dưới thành chạy trốn, người này chỉ kịp vung gươm cắt lấy tay áo của Trùng Nhĩ. Hiến Công sai người đánh Khuất Thành nhưng không được.
Sau khi Hiến Công chết, các quan đại phu tập hợp dư đảng của các công tử làm loạn giết chết Khê Tề và Trác Tử, đón Di Ngô trở về lên ngôi vua, cơn sóng gió do Lệ Cơ gây nên bấy giờ mới yên.
4. Triệu Phi Yến đời Hán: Cặp chị em ghê gớm
Vẻ đẹp của Triệu Phi Yến có thể nói là “Đệ nhất thiên hạ”, không ai sánh bằng, nhưng sự hiểm độc của đại mỹ nhân này thì cũng không ai so được.
Triệu Phi Yến và người em gái là Triệu Hợp Đức sau khi được Hán Thành Đế đưa vào cung làm phi đã cùng nhau lật đổ Hứa Hoàng hậu.
Nói về tài múa hát và nghệ thuật phòng the của Phi Yến thì không ai sánh bằng, có giả thuyết nàng xuất thân gái lầu xanh. Chính vì là gái ca kỹ nên không còn khả năng sinh đẻ.
Người em gái cũng vậy, “hoa không thể đẹp mãi”, nếu không sinh được con trai để củng cố địa vị thì chẳng ng thì chầy sẽ bị gạt bỏ, hai chị em họ biết rõ mối nguy hiểm đó. Hai người bắt đầu chú ý đến các cung phi được Thành Đế sủng ái khác. Một số cung phi có mang đã chuốc họa vào thân vì điều đó.
Một cung phi là Tào Cung sau khi “tiến ngự” sinh được con trai khiến Thành Đế tuổi đã 40 mà chưa có con trai mừng đến phát cuồng. Thế nhưng chị em Phi Yến hay tin đã ép vua xử tử cả hai mẹ con Tào Cung, gây nên vụ thảm án kinh hoàng. Một năm sau, tình cảnh tương tự lại xảy ra với Hứa mỹ nhân - một người cũng vừa sinh được con trai.
Thành Đế không phải không biết đến sự hiểm độc của hai người đàn bà này, nhưng do quá chìm đắm trong sắc dục nên ông ta không cương quyết được. Tận mắt thấy cốt nhục của mình bị chị em Phi Yến hãm hại mà chỉ đành gạt nước mắt than vãn.
Sử ký còn ghi “Vô số cung phi mang thai đều bị ép uống thuốc để phá bỏ”. Ông vua hoang ấy gục ngã dưới váy chị em nhà họ Triệu, để mặc họ tàn hại cốt nhục của mình, bất chấp nguy cơ Hán triều bị tuyệt tự, như thế đủ biết sức quyến rũ của hai chị em nhà ấy ghê gớm đến thế nào.

5.Giả Nam Phong đời Tấn: Vua sợ như cọp
Nói về sự hiểm độc, xấu xa lẫn đãng thì khó ai qua mặt được Giả Nam Phong, hoàng hậu của Tấn Huệ Đế.
Là hoàng hậu nhưng bà ta sinh liền 4 công chúa, không có con trai thì các phi tần khác trong cung nếu ai may mắn được Huệ Đế lâm hạnh dĩ nhiên sẽ lãnh đủ. Giả Nam Phong hung tàn hơn hẳn Triệu Phi Yến. Sau khi biết tin một cung phi có thai, bà ta chạy ngay đến nơi người đó ở, giật lấy kích của thị vệ đâm cho cô ta một nhát vào ngực chết tươi. Tấn Huệ Đế sợ Giả Nam Phong như sợ cọp. Tuy luôn mồm nói mình tôn sùng “lễ pháp”, nhưng trước sự hoành hành bạo ngược của Giả Nam Phong, ông vua này cũng chỉ biết than thầm.
6.Độc Cô hoàng hậu đời Tùy: Cậy công làm càn
Hoàng hậu của Tuỳ Văn Đế họ Độc Cô thực ra có thể ăn no ngủ kỹ chẳng phải lo gì đến chuyện giết c những người thân thích vì bà ta sinh đến 5 con trai, hơn nữa cả 5 người đều đã trưởng thành, thì còn lo gì chuyện bị thất sủng? Thế nhưng tâm lý phòng bị đã khiến bà ta trở thành người hiểm độc.
Tùy Văn Đế từng sủng ái một cung nữ ở cung Thượng Nhân Thọ, người này họ Úy Trì, rất xinh đẹp trẻ trung, có thể coi như một đóa hoa mới nở. Tùy Văn Đế bị trói buộc với Độc Cô hoàng hậu nhiều năm nay ít được những người đẹp khác chiều chuộng, gặp Úy Trì liền mê mẩn ngay.
Độc Cô hoàng hậu nghe tin, lập tức sai người đi giết Úy Trì thị khiến Tùy Văn Đế uất quá phóng ngựa ra ngoài cung lang thang suốt ngày, đến chiều tối mới rầu rĩ về cung.
Độc Cô hoàng hậu sở dĩ dám hung hãn đối kháng với chồng như thế vì bà ta luôn tự hào về việc mình đã góp công lớn cùng chồng đánh lấy thiên hạ, bà ta có làm thế thì Tùy Văn Đế cũng chả dám làm gì bà ta.
7.Võ Tắc Thiên thời Đường: Vì chính trị không từ điều gì
Tự cổ chí kim, ở Trung Quốc chưa có ai sánh được với Võ Tắc Thiên cả về tài hoa lẫn sự độc ác. Nhưng sự độc ác của bà ta là vì mục đích chính trị, giết con giết cháu, không điều gì không dám làm để dọn đường cho việc bản thân buông rèm nhiếp chính.
Một người phụ nữ đã được Đường Thái Tôn Lý Thế Dân ngự hạnh, sau đó lại được vị hoàng đế mới là Lý Trị đón vào cung, không phải bởi sức quyến rũ, mà bởi tình thế cuộc đấu đá tranh giành sự sủng ái trong cung đưa đẩy mà nên.
Vương Hoàng hậu tuy là người có gương mặt rất đẹp nhưng thân hình lại mảnh mai. Ở vào thời đại nhà Đường, phụ nữ đẹp phải là người đầy đặn, béo tốt thì Tiêu Thục Phi bằng vóc người phốp pháp và vẻ yêu kiều nũng nịu đã chiếm được sự sủng ái của Cao Tông Hoàng đế, Hoàng hậu gửi gắm vào Mị Nương nên cho đón vào cung để dùng làm công cụ đối phó lại Tiêu Thục Phi.
Lúc mới vào cung, Mị Nương hiền lành đáng yêu, rất được mọi người trong cung quý mến. Nhưng dần dần tình thế thay đổi, Mị Nương liên tiếp sinh hạ hai hoàng tử nên nhanh ng trở thành thế lực mới trong cung. Từ chỗ là đồng minh, giờ đây Vương Hoàng hậu lại lo sợ, quay ra hợp mưu với Tiêu Thục Phi để đối phó lại Mị Nương.
Sau đó xảy ra vụ công chúa Như Ý con của Mị Nương bị đột tử khiến hoàng đế rất đau xót. Giữa lúc đó có người trong cung báo, trước lúc xảy ra chuyện Vương hoàng hậu có đến thăm công chúa, cử chỉ có nhiều điểm đáng ngờ. Rồi một loạt tin đồn bất lợi với Vương hoàng hậu lan ra, dần dà bà sống trong nỗi lo bị phế bỏ và trị tội.
Sau khi thanh lọc các thế lực đối địch trong triều, Mị Nương bắt đầu chĩa mũi nhọn vào các phụ nữ trong cung. Lúc đầu là việc các thuật phù thủy trừ tà của Vương hoàng hậu bị phát giác, sau đó đến chuyện bà cùng Tiêu Thục Phi bị phế làm dân thường với tội danh định dùng rượu độc làm hại Võ chiêu nghi. Hai người bị giam trong phòng tối cách biệt với bên ngoài.
Có lần Cao Tông nghĩ lại tình ân ái khi trước, động lòng trắc ẩn, định tha cho họ ra ngoài thì tin lan đến tai Mị Nương. Thế là họ bị người của Mị Nương bám theo đánh, chặt chân tay, quẳng vào chum rượu... Sau mấy ngày trong chum rượu, cả hai người đều chết thảm. Trước khi chết, Tiêu Thục Phi nguyền rủa sau khi chết sẽ hoá thành mèo để bắt chuột là “Võ yêu tinh”. Tin truyền đến tai Võ Tắc Thiên (Mị Nương), bà ta lo sợ, từ đó cấm tiệt việc nuôi mèo trong cung. Và truyền thuyết Võ Tắc Thiên sợ mèo còn truyền đến tận ngày nay.
8.Lý Hoàng hậu nhà Tống: Ghen tuông bệnh hoạn
Một bà hoàng khác là Lý Hoàng hậu thời vua Nam Tống Quang Tôn cũng nổi tiếng về sự độc ác với những kẻ tình địch và những thủ đoạn ngăn chặn thói lăng nhăng của chồng.
Một hôm khi Quang Tôn rửa tay chợt thấy bàn tay của thị nữ đang rửa tay cho mình trắng ngần gợi cảm, rất thích, bất giác nắm lấy ve vuốt, hôn hít và buông lời khen đẹp. Mấy hôm sau, Lý Hoàng hậu sai người dâng vua một cái hộp nói đây là thứ vua rất yêu thích nên tiện thiếp lấy để dâng lên. Quang Tôn nghe nói cả mừng, vội mở ra xem thì ra trong đó là... đôi bàn tay của thị nữ hôm nọ vua khen đẹp đã bị chặt ra. Vua kinh hãi, sây xẩm cả mặt mày.
9.Minh triều Vạn Trân Nhi: Không được ăn thì đạp đổ
Vạn Trân Nhi chính là nguyên mẫu trong vụ án Ly miêu tráo Thái tử được nói đến trong các phim về Bao Công.
Vạn Thị là người Thanh Châu, Sơn Đông, được tuyển vào cung từ nhỏ làm cung nữ. Lớn lên, Vạn Thị được hầu hạ Chu Kiến Thâm, dần dà hai người nảy sinh tư tình. Năm Thiên Thuận thứ 8, Anh Tôn băng hà, Chu Kiến Thâm lên ngôi khi tròn 18 tuổi, lấy hiệu là Hiến Tôn, lúc đó Vạn Thị đã 35 tuổi. Tuy tuổi tác chênh lệch nhưng hai người vẫn lén mây mưa cùng nhau. Vạn Trân Nhi đẹp một cách đầy đặn phốp pháp, có câu rằng “Thanh tú tựa Triệu Hợp Đức, đầy đặn như Dương Quý Phi”, bà ta rất được Hiến Tôn sủng ái.
Nhưng sau khi Hiến Tôn lên ngôi thì hai vị Thái hậu đã tuyển chọn vào cung nhiều mỹ nữ, trong đó phải kể đến Hoàng hậu Ngô Thị, hai nàng phi Vương Thị và Bách Thị, khiến Vạn Trân Nhi đem lòng ghen ghét, thù hận.
Ngô Hoàng hậu thấy Vạn Trân Nhi không coi ai ra gì, muốn trị cho một trận. Một hôm khi Vạn Trân Nhi vào gặp, rất ngạo mạn vô lễ, bà liền mắng. Vạn Thị không vừa liền đáp trả nói năng chỏng lỏn. Bực quá, Hoàng hậu vớ lấy chiếc gậy trong tay thái giám gõ cho mấy cái. Vạn Thị bèn tìm đến vua khóc lóc tố khổ và bịa chuyện nói khích. Hiến Tôn tức giận liền truyền chỉ phế bỏ Ngô Hoàng hậu rồi lập Vương Thị làm hậu.
Năm Thành Hoá thứ 2 (1466), Vạn Thị sinh được con trai, được phong làm Quý phi, nhưng ít lâu sau thì đứa bé chết yểu, từ đó về sau bà ta không sinh được nữa. Vạn Thị thường ghen tuông đến mức điên khùng trước việc những phi tần, cung nữ khác trong cung được vua sủng ái. Nếu phát hiện thấy ai có thai bà ta liền sai người lấy cớ chữa bệnh để bắt uống thuốc phá thai, vậy mà vua chẳng dám làm gì ngoài việc nhỏ nhẹ phủ dụ bà ta.
Một lần, Hiến Tôn lâm hạnh một cung phi họ Kỷ, người này có bầu. Vạn Thị sai một cung nữ đi dò xét, người này bản chất lương thiện nên về nói dối là không có mang. Sau đó Kỷ Thị sinh hạ một bé trai, biết cả hai mẹ con sẽ lâm nguy nên khẩn cầu viên thái giám hãy bóp chết đứa bé đi. Thái giám thấy bất nhẫn, bèn lén đưa vào nuôi trong phòng kín. Ngô Hoàng hậu sau khi bị phế cũng thường vào thăm đứa bé.
Bấy giờ Hiến Tôn mới có một con trai là Tá Cực, chưa đầy 2 tuổi vừa được lập làm Thái tử đã bị Vạn Thị sai người giết chết. Trước nỗi đau mất con, vua vô cùng sầu não. Một hôm, vua soi gương và than thở mình tuổi đã cao mà không có con trai nối dõi. Thái giám Trương Mẫn thừa cơ bẩm báo chuyện mình đã lén nuôi được một hoàng tử. Vua cả mừng, cho đón Kỷ Thị và đứa bé vào cung. Vạn Thị nổi điên, hại chết Kỷ Thị. Trương Mẫn hoảng sợ, cũng phải nuốt vàng tự tử.
10.Khách Thị: Người đàn bà làm loạn triều Minh
Khách Thị vốn là nhũ mẫu của Minh Hy Tôn, sau khi câu kết với thái giám Nguỵ Trung Kiên, bà ta bắt đầu khống chế các thế lực trong triều và ra tay sát hại những người phụ nữ trong cung mà xưa nay bà ta không ưa.
Minh Quang Tôn tuyển được một người phi là Triệu Thị. Người này có chút xích mích với Khách Thị, bà ta bèn giả thánh chỉ buộc Triệu Thị phải thắt cổ tự vẫn. Dụ Phi Trương Thị nói năng có điều chạm đến Khách Thị khiến bà ta nuôi hận trong lòng, bèn kiếm lời xúc xiểm với Hy Tôn, nói đứa bé do Dụ Phi sinh ra không phải cốt nhục của vua. Hy Tôn tin lời, tống giam Dụ Phi vào lãnh cung. Khách Thị không cho tiếp tế đồ ăn khiến bà phải uống nước mưa cầm hơi rồi chết đói.
Trương Hoàng hậu rất ghét Khách Thị nên lựa lời khuyên Hy Tôn đừng nghe lời bà ta trừng phạt người ngay, nhưng ông ta không nghe. Khách Thị mua chuộc được một cung nữ trong cung Càn Ninh để ra tay hại Hoàng hậu. Khi đó Trương Hoàng hậu đang có mang, thường mỏi lưng nên sai cung nữ bóp lưng. Cung nữ đã ra tay khiến bà bị sảy thai. Chỉ vì dung túng cho Khách Thị làm hại những phụ nữ trong cung mà Minh Hy Tôn đã chịu họa tuyệt tự.

Vua Việt Nam

ĐẠI VIỆT SỬ THI

  1. An Dương Vương
  2.  Bảo Ðại
  3. Bố Cái Ðại Vương
  4. Ðinh Tiên Hoàng
  5. Ðồng Khánh
  6. Dục Ðức
  7. Duy Tân
  8. Gia Long
  9. Giản Ðịnh Ðế
  10. Hai Bà Trưng
  11. Hàm Nghi
  12. Hiệp Hòa
  13. Hồ Hán Thương
  14. Hồ Quý Ly
  15. Hưng Ðạo Vương
  16. Khải Ðịnh
  17. Khúc Thừa Dụ
  18. Kiến Phúc
  19. Lê Chiêu Tông
  20. Lê Cung Hoàng
  21. Lê Ðại Hành
  22. Lê Hiến Tông
  23. Lê Lợi
  24. Lê Nhân Tông
  25. Lê Nghi Dân
  26. Lê Thái Tông
  27. Lê Thánh Tông
  28. Lê Túc Tông
  29. Lê Tương Dực
  30. Lê Uy Mục
  31. Lê Thánh Tông
  32. Lý Anh Tông
  33. Lý Cao Tông
  34. Lý Huệ Tông
  35. Lý Chiêu Hoàng

36.  Lý Nam Ðế

  1. Lý Nhân Tông
  2. Lý Thái Tổ
  3. Lý Thánh Tông
  4. Mai Hắc Ðế

41.  Mạc Ðăng Dung

  1. Mạc Ðằng Doanh
  2. Mạc Phúc Hải
  3. Mạc Phúc Nguyên
  4. Mạc Mậu Hợp
  5. Minh Mạng
  6. Quang Trung
  7. Thành Thái
  8. Thiệu Trị
  9. Trần Anh Tông
  10. Trần Dụ Tông
  11. Trần Duệ Tông
  12. Trần Hiến Tông
  13. Trần Minh Tông
  14. Trần Nghệ Tông
  15. Trần Nhân Tông
  16. Trần Thái Tông
  17. Trần Phế Ðế
  18. T.Thánh Tông
  19. Trần Thiếu Ðế
  20. T.Thuận Tông
  21. Triệu Quang Phục
  22. Trùng Quang Ðế
  23. Tự Ðức

Học giả Việt Nam

Khoa học gia, nha giáo VN

  1. Hải Thượng Lãn Ông
  2. Hoàng Tụy
  3. Hoàng Xuân Hãn
  4. Hồ Ðắc Di
  5. Lê Quý Ðôn
  6. Lê Văn Thiêm
  7. Lê Văn Thới
  8. Lương Thế Vinh

9.                  Nguyễn An

10.              Nguyễn Hiến Lê

11.              Ng Kinh Chi

12.              Nguyễn Lân

13.              Nguyễn Quang Riệu và Nguyễn Quý Đạo

14.              Ng Văn Chiển

15.              Ng Văn Chuyển

16.              Tuệ Tĩnh

17.              Trần Hữu Nghiệp

18.               Võ Hồng Anh

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận