trang Blog

gioidinhhueTham gia: 01/08/2009
  • LỜI KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT  CỦA  THIỀN SƯ TRIỆT NGỘ
    Thể Thao
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    LỜI KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT CỦA THIỀN SƯ TRIỆT NGỘ


    LỜI KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT

    CỦA THIỀN SƯ TRIỆT NGỘ

    Thích Đạt Dương dịch



    Minh Tâm là một yếu pháp trong hết thảy các pháp và Tịnh Tâm là một yếu hạnh trong hết thảy các hạnh.

    Nhưng cái yếu pháp Minh Tâm không chi bằng niệm Phật. Hể nhớ Phật, niệm Phật, thì lúc hiện tiền hay lúc đương lai, quyết định thấy Phật, chẳng cần phải cầu phương tiện nào khác, mà tự tâm được mở mang bởi niệm Phật. Niệm Phật như vậy không phải là cái pháp Minh Tâm hay sao?

    Lại cái yếu hạnh Tịnh Tâm cũng không chi bằng niệm Phật. Hể một niệm tương ứng là niệm Phật. Bỏ hột châu trong xuống nước,thì nước đục phải trở thành nước trong. Ghi danh hiệu Phật vào tâm, thì tâm loạn phải trở thành tâm Phật. Niệm Phật như vậy không phải là cái yếu hạnh Tịnh tâm hay sao?

    Cho nên một câu niệm Phật hiệu, nhiếp cả môn ngộ và môn tu. Nếu nói ngộ thì gồm có tín, nói tu thì gồm có chứng. Mà tín, giải, tu, chứng thì nhiếp cả Đại thừa và Tiểu thừa, bao nhiêu tông yếu của các kinh thảy đều thu hết. Thế thì một câu Di Đà rõ là cái đạo chí yếu vậy.

    Nguyên lai cái tâm mật niệm hiện tiền của chúng ta toàn chơn mà thành vọng, toàn vọng mà vốn chơn, trọn ngày bất biến và trọn ngày tùy duyên. Nếu chẳng tùy theo cái duyên Phật giới mà niệm Phật giới, thì sẽ niệm chín giới kia. Chẳng niệm tam thừa ( tam thừa: Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa ), thì lại niệm lục phàm. Chẳng niệm quỷ súc, thì lại niệm địa ngục. Vì đã có tâm thì không thể nào gọi là không có niệm. Bởi cái tâm thể không niệm ấy chỉ có Phật chứng được mà thôi. Ngoài ra từ bậc đẳng giác nhẫn xuống đẳng thấp tất cả đều có niệm hết cả.

    Mà nếu một niệm khởi ra, thì tất lạc vào mười pháp giới, chớ không có niệm gì ra ngoài phạm vi mười pháp giới cả.

    1- Như tâm ta mà tương ứng được với tâm bình đẳng đại từ đại bi và công đức y báo chánh báo cùng là vạn đức hồng danh, tức là niệm pháp giới Phật.

    2- Như tâm ta mà tương ứng được với tâm Bồ Đề và lục độ vạn hạnh, tức là niệm pháp giới Bồ Tát.

    3- Như ta dùng cái tâm vô ngã mà tương ứng với mười hai nhân duyên tức là niệm pháp giới Duyên Giác.

    4- Như tâm ta mà tương ứng với tứ thiền, bát định, và mười điều thương phẩm tức là niệm pháp giới Thiện-cõi trời.

    5- Như ta dùng cái tâm vô ngã mà quan sát bốn pháp tứ diệu đế, tức là niệm pháp giới Thinh Văn.

    6- Như tâm ta mà tương ứng với năm điều giới cấm, tức là niệm pháp giới Nhơn.

    7- Như ta tu theo các pháp giới thiện mà còn giữ cái tâm nóng giận, kiêu ngạo, và hơn thua, tức là đọa lạc vào pháp giới A Tu La.

    8- Như ta dùng cái tâm chậm trễ yếu đuối mà niệm mười điều ác hạ phẩm, tức là đọa lạc vào pháp giới Súc Sanh.

    9- Như ta dùng cái tâm nữa gấp nữa bướng mà tương ưng với niệm mười điều ác trung phẩm, tức là đọa lạc vào pháp giới Ngạ Quỷ.

    10- Như ta dùng cái tâm mãnh liệt mà tương ưng với niệm mười điều ác thượng phẩm, tức là đọa lạc vào pháp giới Địa Ngục.

    Vậy hằng ngày ta phải tự xét cái niệm tâm sơ khởi của ta xem nó tương ứng với pháp giới nào nhiều hơn và pháp giới nào mạnh hơn, thì chổ an toàn lập mạng về tương lai của ta không cần phải hỏi ai mà cũng tự biết.

    Trái lại hết thảy cảnh giới đều do nghiệp sở cảm, do tâm sở hiện, thì cái hiện ấy đương thể tức là tâm. Nếu đã có tâm thì không sợ gì mà không có cảnh. Chẳng hiện cảnh giới Phật, thì hiện cảnh của chín giới kia. Chẳng hiện cái cảnh Tam thừa thì hiện cái cảnh giơiù lục phàm. Chẳng hiện cảnh thiên, nhơn, quỷ, súc thì hiện cảnh địa ngục.

    Duy có khác nhau là : cái cảnh sở hiện của Phật và tam thừa thì tuy có hơn có thua mà cũng đều được hưởng thọ cái vui thiền định ngũ dục. Cái cảnh sở hiện của quỷ súc thì vui ít khổ nhiều, đến như cái cảnh sở hiện của địa ngục thì lại toàn là thống khổ.

    Cũng như cái cảnh giới núi, sông, nhơn vật của người thấy trong giấc mơ chiêm bao kia, đều do mộng tâm sở hiện ra cả. Nếu không mộng tâm thì tất không mộng cảnh mà nếu không mộng cảnh thì tất không mộng tâm.

    Vậy nên biết ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm. Toàn cảnh tức là tâm, toàn tâm tức là cảnh. Nếu do trong Nhơn mà xét Quả thì phải quán tâm, bằng do trong Quả mà nghiệm Nhơn thì phải quán cảnh. Cho nên nói:" Chưa có Tâm nào không tâm và cũng chẳng có cái cảnh nào không cảnh.

    Quả ắt theo Nhơn. Nhơn ắt có Quả là lẽ tất nhiên như vậy.


    Nếu ai là người qúa rõ thấu cái lý một niệm khởi ra tất phải lạc vào mười giới, mà chẳng chịu phát tâm niệm Phật. Cái lý tâm cảnh như một nhân quả không hai mà chẳng chịu niệm Phật cầu sanh về tịnh độ.

    Nhưng pháp môn niệm Phật cần phải lấy 16 chữ :" Vì sự sanh tử, phát tâm bồ đề, lấy tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật." làm một cang tổng lớn, bởi vì hết thảy những sự thống khổ sanh tử mà nếu sanh tử chẳng dứt được thì lại sanh rồi tử, tử rồi sanh, ra khỏi thai bào này, thì chun vào thai bào khác, cổi bỏ đảy da nọ, mang lấy đảy da kia, khổ nào xiết nói.

    Huống chi chưa thoát khỏi bánh xe luân hồi thì khó nổi tránh phần đọa lạc thai lừa bụng ngựa. Kiếp kiếp ra vào xác chó, hình heo đời đời thay đổi. Cái nhơn thân ấy là thiệt dễ mắc mà khó làm. Một niệm sai lầm thì đã lọt trong ác thu,ù tam đồ dễ tới,địa ngục dễ vào tâm thức luôn sống trong ngày dài mà khổ nặng. Từ đời thất Phật nhẫn lại mà cái thân con kiến hãy còn, sau khi tám vạn kiếp rồi mà cái lớp Bồ Câu chưa cổi, thời gian dài ngắn không lúc rãnh rang. Thống khổ muôn ngàn không người cứu vớt, nói đến rùng mình rởn óc, nghĩ thêm xót dạï đau lòng. Vật ta phải chăm nghĩ cái sanh tử ấy một cách cho thống thiết cũng như lữa cháy đầu mới được.

    Song ta đã biết vì cái khổ sanh tử phải thoát ra cho khỏi. Thì ta cũng nên làm thế nào cho hết thảy chúng sanh trong vòng sanh tử kia cũng đều ra khỏi như ta.chúng sanh với ta cũng đồng một thể, cũng đều là cha mẹ trong kiếp quá khứ và cũng đều là chư Phật trong đời vị lai. Nếu ta chỉ cần phần tự lợi một mình mà chẳng nghỉ đến sự phổ độ, thì chính ta đối với lương tâm cũng không an được.

    Huống chi đại tâm của ta chẳng phát thì ngoài không thể với chư Phật trong không thể hợp với bản tánh, trên không thể viên thành được Phật đạo, dưới không thể phổ độ được quần sanh, thì bao nhiêu ân ái của ta từ vô thỉ làm sao cho giải thoát, và bao nhiêu oan khiên của ta từ vô thỉ làm sao cho tiêu ma. Gia dĩ tội nghiệp của ta trong lụy kiếp khó nổi sám trừ và thiện căn của ta trong lũy kiếp cũng khó nổi thành thục. Mà trên con đường tu hành của ta trong đời này nếu không khởi Bồ Đề tâm thì dễ bị lạc vào thiên không tiểu thừa, cho nên ta cần phải phát đại Bồ Đề Tâm là thế.

    Sau khi phát đại tâm rồi, thì nên tu đại hạnh, mà ở trong tất cả hạnh môn, thì chỉ có lấy tâm thâm tín, thâm nguyện của ta mà chuyên trì danh hiệu của Phật là một hạnh dễ làm dễ được và rất ổn đáng, rất viên đốn mà thôi.

    www.buddhismtoday.com/viet/niemphat/khaithi.htm


     
    LỜI KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT CỦA THIỀN SƯ TRIỆT NGỘ