trang Blog

heorung83Tham gia: 05/06/2008
  • Đố ai lấy thước đo mà lòng người
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Đố ai lấy thước đo mà lòng người

    1. Đố ai lấy thước đo mà lòng người

    Ngày xưa người ta thường nói:

    Dò sông dò biển dễ dò

    Đố ai lấy thước mà đo lòng người.

    Ngày nay, với tiến bộ không ngừng về mọi ngành khoa học, con người càng ngày càng tìm hiểu rõ về bản chất của mình hơn. Khoa học không những giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ thể con người, tâm lý con người, mà còn hiểu rõ về tác dụng hỗ tương giữa vật chất và tinh thần trong mỗi cá nhân. Trước kia vấn đề tâm lý của con người chỉ được phản ảnh phần nào trong các tôn giáo, và những người không giữ được trạng thái cân bằng về tâm lý thường được các thầy tu giúp đỡ để chữa trị bằng niềm tin.

    Sự liên hệ mật thiết giữa trạng thái tâm lý và sức khỏe thể chất càng ngày càng được nhìn một cách khoa học hơn. Người ta đã từng thí nghiệm chữa bệnh bằng niềm tin, chẳng hạn như cho bệnh nhân uống một thứ bột vô hại nhưng lại nói rằng đó là thuốc chữa bệnh, kết quả là có tới 30% khỏi bệnh vì tin là đã uống thuốc để chữa bệnh. Vì vậy ngày xưa người ta thường nói: “phúc chủ lộc thầy” nghĩa là người bệnh khỏi là nhờ phúc đức cá nhân của mình và người thầy thuốc được hưởng lợi nhờ cái phúc đó.

    Thực ra thiên nhiên đã tạo cho cơ thể chúng ta có sẵn những phương tiện để chống đỡ với bệnh tật, chẳng hạn như trong máu chúng ta có bạch huyết cầu để tiêu diệt vi trùng. Khi tình trạng tâm lý cá nhân thoải mái, niềm tin trong tâm hồn được đáp ứng thì tình trạng thể chất được tăng cường để chống lại bệnh tật, vì vậy có tới 30% đã khỏi bệnh mà không cần thuốc thật. Tiếc thay, có một số người đã lợi dụng khả năng chữa bệnh của niềm tin để “buôn thần bán thánh”!

    Một khi bệnh tật quá mạnh so với phương tiện chống đỡ sẵn có của cơ thể thì lúc bấy giờ thuốc chữa bệnh mới thực sự cần thiết. Nhưng theo đúng quy luật của thiên nhiên, vật nào cũng có hai mặt xấu và tốt, và mặt xấu của thuốc chữa bệnh là tạo ra những hậu quả mới có thể nguy hại đến sức khỏe của người bệnh. Vì vậy sự sử dụng thuốc giống như con dao hai lưỡi. Ngày xưa, có người đã cho rằng : “khi có bệnh mà không tìm thầy thuốc thì cũng tương đương là gặp thầy thuốc có khả năng trung bình; nghĩa là nếu chẳng may gặp thầy thuốc kém trung bình thì còn tệ hơn là không nhờ thầy thuốc trị bệnh. Có người quá tin tưởng ở phúc đức còn nói “nhất thế y tam thế si” nghĩa là một đời làm thầy thuốc, vì phạm nhiều tội lỗi, nên ba đời sau bị trời phạt bắt ngu si!

    Tình trạng tâm lý và sức khỏe thể chất luôn luôn có sự quan hệ hỗ tương, nếu tình trạng tâm lý thoải mái có thể giúp cơ thể chống lại được một số bệnh tật và tình trạng thể chất mạnh khỏe làm cho tâm lý con người sảng khoái, thì ngược lại sự lo âu sầu não làm cho cơ thể yếu đi và một cơ thể đau ốm gây ra tình trạng chán nản buồn bã.

    Đó là một quy luật thiên nhiên khách quan. Quy luật này có thể đẩy con người vào một chu kỳ đau khổ không có lối thoát: vì đau ốm nên lo âu sầu não, vì lo âu nên sức khỏe thể chất mất tính đề kháng nên càng dễ bị đau ốm hơn. Ngày xưa khi rơi vào chu kỳ đó, nhiều người đã phải dùng niềm tin tôn giáo để có lối giải thoát. Trong các quốc gia tiến bộ bây giờ người dân dễ dàng thoát khỏi chu kỳ đó nên quần chúng những con chiên ngoan đạo đã giảm rất nhiều.

    Chúng ta cũng có thể vận dụng quy luật thiên nhiên khách quan này để dùng “tình trạng tâm lý” tăng cường sức đề kháng của cơ thể cũng như giữ cơ thể lành mạnh (tập thể dục, ăn uống điều độ v.v...) để tạo tình trạng tâm lý thoải mái, an lạc.

    Để có thể giữ tình trạng tâm lý lành mạnh, chúng ta thử tìm hiểu khái quát về tâm lý của con người. Theo các nhà tâm lý học Âu Mỹ thì con người có những đặc điểm tâm lý sau đây:

    1. Ai ai cũng nghĩ đến quyền lợi bản thân (quyền lợi vật chất và quyền lợi tinh thần) mỗi khi phải chọn lựa hành động, chẳng hạn như những người vô sản ủng hộ phong trào cộng sản thế giới vì tưởng rằng có lợi cho họ.

    2. Ai ai cũng sợ bị người khác khước từ và thích được người khác đón nhận. Khi cái “sợ” quá lớn, có người tìm cách lẩn tránh để khỏi bị thất bại, chẳng hạn như không đi xin việc nữa để khỏi bị bác đơn, không dám tỏ tình dù thiết tha với tình yêu vì sợ không chịu đựng nổi sự khước từ v.v... hi cái “thích” quá mạnh, người ta có thể hy sinh cả quyền lợi cá nhân để làm vừa lòng người khác.

    3. Ai ai cũng thích mọi người đề cập đến những vấn đề liên quan đến bản thân mình. Những nhà hùng biện đã lợi dụng điểm này để kích động quần chúng tham gia thực hiện những điều mà họ mong muốn.

    4. Con người thường hành động vì những lý do thầm kín, chẳng hạn như một chính trị gia hô hào mọi người yêu nước, yêu dân tộc để thỏa mãn những tham vọng cá nhân. Vì vậy người xưa có câu: “nhất tướng công thành, vạn cốt khô”, nghĩa là sự thành công của một tướng lãnh là do hàng vạn người chết oan.

    5. Ai ai cũng mang một mặt nạ xã hội. Sự thực này chắc chắn bị các nhà đạo đức giả phản đối dữ dội, chẳng qua cũng chỉ vì quyền lợi của họ mà thôi, họ khó lòng lừa gạt được người khác nữa! Xã hội nào thì cũng có những ràng buộc, những tập quán, những luật lệ riêng; để tồn tại trong xã hội, con người phải chọn một mặt nạ mà theo ý cá nhân của mình là phù hợp nhất, chẳng hạn như “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” hoặc là “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” v.v...

    Nhận thức về những đặc điểm đó không những giúp chúng ta hiểu rõ người khác hơn mà còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân mình, một bước dài trong sự làm chủ được tình trạng tâm lý của bản thân mình. Nhưng những đặc điểm đó chỉ phản ảnh được phần xấu của con người. Nếu chúng ta dùng cái “thước” đó để đo lòng người thì chúng ta có thể dễ dàng thành công trong việc đấu tranh với người khác, nhưng chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý khi cần đấu tranh với chính bản thân mình; và cuộc đấu tranh này lại chính là cuộc đấu tranh có tính cách quyết định trong việc mưu tìm hạnh phúc của con người. Dĩ nhiên tâm lý con người còn có những phần tốt nữa, chẳng hạn như trong văn hóa phương đông người ta thường nói đến:

    - đặt quyền lợi của loài người lên trên quyền lợi cá nhân, không phải vì đạo đức giả, mà vì nhận thức được cá nhân thì nhất thời, loài người thì vĩnh cửu.

    - đặt sự tự trọng cao hơn sự chối từ hay đón nhận của người khác.

    - lấy sự khiêm tốn làm niềm vui trong tâm hồn.

    - đặt những quy luật thiên nhiên và xã hội cao hơn những ý nghĩ thầm kín cá nhân.

    - hòa mình với những người chung quanh nhưng vẫn giữ được giá trị tinh thần của bản thân.

    Trong sự giao tiếp hàng ngày với người chung quanh, có người dễ dàng thành công, có người gặp toàn những phản ứng bất lợi. Sự khác biệt đó không phải là không có nguyên do rõ rệt: phản ứng của người khác đối với mình chẳng qua là sự phản ánh của cách giao tiếp của bản thân mình. Ai ai cũng có một cách giao tiếp riêng, nhưng theo các nhà tâm lý học Âu Mỹ thì người ta có thể xếp vào một số loại sau đây để có thể hiểu rõ hơn về cách giao tiếp của mọi người cũng như của chính bản thân mình:

    1. Loại phòng thủ. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “phòng thủ” , luôn luôn lo sợ bị người khác tấn công. Mọi người thường thích tránh xa những ai sử dụng loại giao tiếp này, vì vậy những người này hay than phiền về sự lạnh nhạt của người đời.

    2. Loại sợ sệt. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “sợ sệt” luôn luôn chấp nhận phần lỗi về mình. Họ tự coi như nhân viên thừa hành của mọi người. Chúng ta có thể quan sát loại giao tiếp này của một số ít người Việt có mặc cảm thấp kém khi giao tiếp với người da trắng (phải chăng vì 100 năm đô hộ của giặc tây?).

    3. Loại vua chúa. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “vua chúa” vừa kiêu ngạo, vừa ích kỷ, luôn luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ. Mọi người thường ghét ngầm loại này và chẳng chút xót thương khi họ gặp việc khó khăn.

    4. Loại hời hợt. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “hời hợt” đon đã nói cười để mọi người biết đến mình, làm bộ tự phê bình để mọi người chú ý, không bao giờ suy nghĩ trước khi nói. Họ không tế nhị và không có cá tính riêng biệt.

    5. Loại độc tài. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “độc tài” muốn kiểm soát sự suy nghĩ cũng như cảm xúc của người khác. Họ tiếp xúc với mọi người chỉ có mục đích để đạt được những gì họ muốn. Họ thường bị cô lập và cô đơn.

    6. Loại bi kịch. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “bi kịch” luôn luôn thổi phồng những chuyện nhỏ nhặt thành những bi kịch lớn lao. Mọi người đều mất tin tưởng đối với những người giao tiếp theo loại bi kịch.

    7. Loại nạn nhân. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “nạn nhân” không bao giờ chịu nhận trách nhiệm của họ đối với mọi hiện tượng xẩy ra cho họ. Họ cho rằng họ không phải là nhân tố, không phải là kẻ cộng tác, cũng chẳng phải là người thụ hưởng các thành quả của các hành động. Họ tự coi như bị bắt buộc sống trong bể khổ và những sự khổ đau đó là do kẻ khác gây ra cho họ. Họ thường thụ động, thiếu kiểm soát và không có khả năng vượt các trở ngại.

    8. Loại biết hết. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “biết hết” tự cho là mình thông thái, mổ xẻ từng hoàn cảnh đến mức nhàm chán. Sự phân tích quá mức làm cho mọi người chung quanh chỉ muốn xa lánh họ.

    9. Loại rỉ tai. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “rỉ tai” thích thì thầm vào tai người khác những chuyện mà họ nói là chỉ có họ biết. Không ai tin tưởng những người này. Trong khi cố gắng tìm cách để thân mật và được người khác tin tưởng, họ đã làm mất niềm tin của mọi người đối với họ.

    10. Loại ba phải. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “ba phải” luôn luôn trả lời về mọi đóng góp, mọi giải pháp của người khác bằng một câu: “đúng, nhưng mà... ” , và tiếp theo là những lập luận để bác bỏ mọi đóng góp, mọi giải pháp của người khác. Họ làm cho người khác bị bực bội và rồi chính họ bị bực bội.

    11. Loại trì hoãn. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “trì hoãn” gặp việc gì cũng nói để mai sẽ làm. Loại người này không thực tế, không muốn giải quyết các vấn đề của bản thân. Mọi người chẳng ai muốn giúp đỡ họ vì biết rằng giúp cũng vô ích mà thôi.

    12. Loại giấu giếm. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “giấu giếm “ luôn luôn giấu giếm một chuyện nào đó. Khi người khác tìm cách lật tẩy thì họ càng giấu giếm kỹ hơn. Mọi người mất tin tưởng ở họ và không muốn có những thân tình với họ.

    13. Loại tráo trở. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “tráo trở” thay đổi thái độ quá mau, ai tâm tình với họ hôm trước thì hôm sau đã thấy hối hận tại sao mình lại dại dột quá tin người. Họ làm cho mọi người sợ họ và mất tin tưởng.

    14. Loại không tưởng. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “không tưởng” muốn áp đạt cho mình và cho người khác những mục tiêu không thực tiễn, không phù hợp với cuộc sống hiện thực chung quanh, nhất quyết đóng vai ngây thơ vô tội, bất chấp cả những quy luật đơn giản trong đời sống.

    15. Loại toàn hảo. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “toàn hảo” luôn luôn cho là mình hơn người khác, luôn luôn có thái độ kiêu ngạo, ngang ngược. Nhưng trong cuộc sống thực tế không có gì là toàn hảo cả, người xưa đã có câu “nhân vô thập toàn” nghĩa là ở trên đời không có ai là toàn hảo cả, chân lý đó ngày nay vẫn đúng và sẽ còn đúng mãi trong tương lai. Vì vậy những người đó không bao giờ đạt được mục tiêu của họ, luôn luôn cảm thấy bứt rứt, ít khi nào được thoải mái tươi vui.

    16. Loại thảm họa. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “thảm họa” luôn luôn cho rằng họ biết rõ ngày tận thế sắp đến. Đối với họ, ở nhà cũng như ở sở làm việc, trong kinh tế hay trong thời tiết, thảm họa luôn luôn sắp đến. Cuộc sống của họ luôn luôn vội vã, lo âu. Cảm xúc thái quá của họ làm những người chung quanh khó chịa và mệt mỏi.

    17. Loại cằn nhằn. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “cằn nhằn” không bao giờ bằng lòng với bất cứ chuyện gì, luôn luôn than thở, nóng quá, lạnh quá, mệt quá, xa quá, khó quá v.v... cuộc đời bất công, không ai biết đến nhu cầu của họ, không ai lo lắng cho họ, họ bị phân biệt đối xử, bị bạc đãi. Họ hết cằn nhằn đến than thở, hết than thở đến cằn nhằn. Mọi người chung quanh chỉ muốn họ câm miệng lại.

    18. Loại buôn tội. Những người giao tiếp với người khác theo kiểu “buôn tội” hiểu rằng nếu tạo được cho người khác có mặc cảm tội lỗi là có thể điều khiển và kiểm soát người khác được. Dù bạn đối xử thế nào thì họ cũng đóng vai bị tổn thương nặng nề để bạn có cảm giác là đã phạm tội hay xấu hổ về hành động của bạn.

    Cách phân loại nói trên giúp ta nhìn thấy cái sai của mình cũng như cái sai của những người chung quanh. Trong sự giao tiếp với mọi người, nếu chúng ta dùng cái “thước” đó để đo lòng người thì chúng ta có thể dễ thành công trong sự đấu tranh với người khác, nhưng chúng ta sẽ rất khó thành công trong sự mưu tìm hạnh phúc. Nếu trong sự giao tiếp giữa người với người chỉ có những loại đó thì chúng ta chỉ thấy con người là xấu xa. Thực ra trong sự giao tiếp giữa người với người cũng còn những loại tốt đẹp, (không kể những trường hợp đạo đức giả), chẳng hạn như:

    - chỉ dẫn cho người khác.

    - giúp đỡ người gặp khó khăn.

    - hành động bác ái, từ bi.

    - hành động hy sinh cho kẻ khác.

    - đem lại hạnh phúc cho người khác.

    - cảm hóa người tội lỗi cải tà quy chánh.

    - v.v...

    Từ mấy ngàn năm nay, người ta đã suy nghĩ về bản chất con người. Có những triết gia cho rằng: “nhân chi sơ, tính bản thiện” nghĩa là khi mới sinh ra là con người đã mang tính thiện. Có triết gia lại cho rằng: bản chất của con người là ích kỷ, luôn luôn thủ lợi cho bản thân mình. Biết bao nhiêu nghiên cứu, biết bao nhiêu tranh luận, nhưng cũng chưa bao giờ con người hoàn toàn đồng ý về bản chất của chính mình.

    Nhưng đối với người thường dân thì câu chuyện lại rất đơn giản, ở bất cứ nước nào, ở bất cứ thời đại nào mà chẳng có kẻ xấu, người tốt, kẻ ác, người hiền lành. Ngay trong bản thân một người thì cũng có cái xấu cái tốt, cũng có khi hay khi dở, lúc thiện lúc ác v.v...

    Nhận định về những đặc điểm tâm lý của kẻ khác theo kiểu Âu Mỹ thì chúng ta thấy con người rất xấu xa, luôn luôn ích kỷ, luôn luôn có những ý nghĩ thầm kín, luôn luôn che giấu bản chất của mình. Nhưng phương pháp nhận định đó cũng giống như một cái “thước” đo lòng người khá chính xác. Những nhận định đó đã đóng góp cho sự xây dựng những chính quyền pháp trị, dựa trên luật pháp để ngăn ngừa những hành động xấu xa của con người. Sự thành công của những nước Âu Mỹ trong việc xây dựng những chế độ nhân bản chứng tỏ sự chính xác của “thước” đo lòng người đó. Cái thước đo đó cũng giúp cho nhân dân loại bỏ được tệ nạn sùng tín cá nhân, thấy được bộ mặt thật của những “cha già dân tộc” của những “lãnh tụ xã hội cũng như lãnh tụ tôn giáo”; giúp cho nhân dân thoát cảnh nhẹ dạ tin người lãnh đạo để bị trao thân lầm tướng cướp, đến khi biết được thì đã quá muộn.

    Cách phân loại những cách giao tiếp giữa người với người theo kiểu Âu Mỹ cho chúng ta thấy sự giao tiếp giữa người với người là sự đấu tranh không khoan nhượng, không thương xót giữa người mạnh, kẻ yếu, người khôn, kẻ dại. Nhưng cách phân loại đó cũng giống như một cái “thước” để đo cách giao tiếp của mọi người một cách khá chính xác, không những giúp chúng ta hiểu người khác hơn mà còn thấy được những sai lầm của mình trong quá khứ.

    Với ảnh hưởng văn hóa phương đông, nhất là ảnh hưởng của Khổng giáo, nhiều người vẫn còn cho là “nhân chi sơ tính bản thiện” nghĩa là con người khi mới sinh ra ai cũng là người tốt cả, chỉ vì khi lớn lên bị ảnh hưởng của các người xấu mới trở thành xấu mà thôi. Chúng ta không bàn đến sự đúng hay sai của quan niệm triết lý này ở đây. Nhưng trong thực tế cuộc sống, quan niệm đó đã trở thành một cái “thước” đo lòng người thiếu chính xác. Quan niệm đó đã đóng góp tích cực trong việc xây dựng những chính quyền “đức trị”. Những chính quyền này luôn luôn nói tới dùng đạo đức để trị dân. Nhưng một khi con người nắm quyền trong tay thì tâm hồn lại bị thoái hóa nhanh chóng, quyền hạn cũng giống như một chất xúc tác để biến con người từ “đạo đức thật” sang “đạo đức giả”. Vì vậy những chính quyền nhân danh “đạo đức” để trị dân luôn luôn thoái hóa để biến thành con “quái vật” hút máu mủ nhân dân cho đến khi bị lật đổ bằng bạo lực.

    Cách giao tiếp giữa người với người ở phương đông mặc dầu cũng có đủ loại như các nhà tâm lý Âu Mỹ phân loại, nhưng thường được che đậy bởi những tập tục, văn hóa. Với ảnh hưởng lâu đời của Khổng giáo, phương đông thường đơn giản hóa những giao tiếp giữa người với người vào hai loại chính: kiểu “quân tử” và kiểu “tiểu nhân”. Sự đơn giản hóa này tạo thành sự mất chính xác trong việc đo lòng người. Hơn nữa sự sắp xếp vào hai loại đó lại thường lầm lẫn vì những lý do chủ quan nên không giúp cho chúng ta hiểu mình hiểu người hơn.

    Nói tóm lại, quan niệm về đặc điểm tâm lý của con người cũng như sự phân loại cách giao tiếp giữa người với người của phương tây giống như một cái thước đo lòng người một cách khá chính xác, để chúng ta có thể trả lời câu đố ngày xưa:

    Đố ai lấy thước mà đo lòng người.

    Nhưng sự chính xác của cái “thước” đo lòng người đó lại là con dao hai lưỡi, có thể gây chấn thương trầm trọng cho tâm hồn của chúng ta. Trong sự đấu tranh với người khác, trong sự đấu tranh giành tự do dân chủ thì cái “thước” đo ấy như một vũ khí cần thiết, nhưng trong sự đấu tranh với bản thân mình thì cái “thước” đo ấy lại tạo ra sự mất tự tin, sự mất chính nghĩa và dẫn đến sự mất sức mạnh tinh thần cũng như sự mất hạnh phúc.

    Vì con người lại chính là tập hợp những thể thống nhất của những mặt đối lập, chẳng hạn như “thiện và ác”, “xấu và tốt”, “yêu và ghét” v.v...

    Cái “thước” đo nói trên sau khi giúp ta thấy được phần “ác”, phần “xấu”, phần “đáng ghét” của người khác thì lại tạo ra mâu thuẫn ngay trong tâm hồn của người sử dụng, vì nó kích thích sự phát triển những phần “ác, xấu, đáng ghét v.v... ” và xói mòn những phần “thiện, tốt, đáng yêu v.v...” trong tâm hồn của đương sự. Và theo một quy luật thiên nhiên:

    “Người hạnh phúc thì có xu hướng thiện, tốt, đáng yêu v.v... và ngược lại khi làm những việc thiện, tốt, đáng yêu v.v... thì con người cảm thấy hạnh phúc”.

    Người sử dụng cái “thước” đo nói trên mà không nắm vững quy luật này thì sớm muộn cũng rơi vào cái cạm bẫy mà thiên nhiên đã đặt sẵn (lưới trời lồng lộng) để rồi oằn oại đau khổ sau khi đã thành công, sống trong âu lo bứt rứt, không tiếp thụ được giá trị của cuộc sống v.v...

    Nói tóm lại, “thước” đo lòng người theo kiểu Âu Mỹ rất cần thiết cho sự xây dựng và tồn tại một xã hội nhân bản, công bằng, dân chủ và trong sự đấu tranh với mọi người chung quanh trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng trong cuộc đấu tranh với chính bản thân mình thì chúng ta cần loại bỏ những độc chất do sự sử dụng cái “thước” đó. Và theo tôi nghĩ chỉ có một biện pháp duy nhất để loại bỏ những độc tố đó là làm những việc thiện, tốt, đáng yêu v.v....

    Đố ai lấy thước đo mà lòng người