trang Blog

NanaTham gia: 05/11/2008
  • Ý đồ cải cách của Nguyễn Trường Tộ
    Sáng Tác
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Ý đồ cải cách của Nguyễn Trường Tộ

    Bạn nào chưa hoặc không có điều kiện mua sách "Nguyễn Trường Tộ và Vấn Đề Canh Tân", hoadahuong mời các đọc phần trích đăng lại sau đây. Trước tiên mời các bạn đọc phần II, chương I sách này. Các phần còn lại sẽ lần lượt đăng sau.

    PHẦN HAI

    QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ

    VÀ NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH

    Dựa vào bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ và những sử liệu, mà đa số là các tài liệu mật, để nhận định quan điểm chính trị và những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ qua 3 bản di thảo quan trọng nhất nói trên.

    Nguyễn Trường Tộ (1828–1871)
    Nguồn ảnh:
    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn

    Chương 1

    NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
    VÀ VẤN ĐỀ CỘNG TÁC VỚI PHÁP

    Một trong ba di thảo quan trọng nhất của Nguyễn Trường Tộ là bài Thiên hạ đại thế luận mà qua đó chúng ta sẽ thấy sự sai lầm và hậu ý của Nguyễn Trường Tộ lúc ông kêu gọi dân Đại Nam nên hòa và hợp tác với Pháp.

    NHẬN ĐỊNH BẢN DI THẢO SỐ 1:Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ (Thiên hạ đại thế luận) được viết khoảng tháng 3-4/1863.

    Chúng ta biết rằng, Đà Nẵng bị chiếm ngày 01/9/1858 vì cuộc viễn chinh xâm lăng của quân đội Pháp do Đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy. Ngày 21/6/1859, triều đình đành phải chấp nhận thương thuyết với Pháp. Tháng 3/1860 Pháp rút khỏi Đà Nẵng và vào Sài Gòn để chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Với hòa ước 1862 giữa Pháp, Tây Ban Nha và Đại Nam, Pháp được thỏa mãn tất cả những gì mà họ đòi hỏi như: nhường cho Pháp 3 tỉnh phía đông Nam Bộ: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường; thừa nhận quyền tự do truyền đạo của các phái bộ Công giáo...

    Tình hình dân Việt Nam lúc bấy giờ chia làm hai phe: Quần chúng thì chủ chiến, còn triều đình thì chủ hòa mà đứng đầu và tích cực nhất của phe chủ hòa này là Phan Thanh Giản.

    Trong bối cảnh lịch sử lúc ấy, Nguyễn Trường Tộ viết bản điều trần số 1: Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ gởi cho triều đình vua Tự Đức vào tháng 3-4/1863. Lồng nội dung bản điều trần của ông vào tình hình chính trị và quân sự của đất nước lúc bấy giờ, chúng ta có thể đánh giá khá chính xác về tư duy của Nguyễn Trường Tộ trong bài điều trần này.

    Nguyễn Trường Tộ viết:

    "Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước ngoài, xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự thế trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm.

    Trộm nghĩ, việc trong thiên hạ chỉ có Thế mà thôi. Chữ Thế là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên, người biết rõ Thế thì không trái trời không mất thời, không hại người, không hỏng việc.

    Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo Hà đồ thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy.

    Ngày nay, các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Hoa và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị họ chẹn họng, bám lưng. Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở phía Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người Tây phương? Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được?

    Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương, nhân số đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau, thây chất thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn như ta là một xứ nóng, gần kề Quế Hải, là trạm nghỉ chân của người Tây phương trên đường sang Đông. Con giao long khi thấy đầm vực thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể nào chịu bỏ mà đi.

    Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ. Khi ấy, giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không đánh nhau được với họ. Phàm việc binh cốt ở thần tốc, họ đã biết rõ rằng, quân ta mới nghe thanh thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi".

    Nhận định về đoạn văn nêu trên của Nguyễn Trường Tộ.

    1. Tại sao Nguyễn Trường Tộ trốn ra nước ngoài?

    Nguyễn Trường Tộ đã phạm trọng tội gì đến nỗi phải trốn ra nước ngoài, trong lúc toàn dân đang cùng nhau nổi lên chống Pháp xâm lược để gìn giữ giang sơn? Nếu trả lời rằng, vua quan nhà Nguyễn hẹp hòi, kỳ thị tôn giáo, giết người theo đạo Ki Tô thì phải tự hỏi tại sao tín đồ các tôn giáo khác ở Việt Nam thời bấy giờ, như tín đồ đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật, không bị giết mà chỉ có tín đồ đạo Ki Tô bị? Ngay cả tín đồ đạo Ki Tô thời đó, không phải ai cũng bị giết? Nếu không nói là chỉ có những Ki Tô hữu làm Việt gian cho Pháp mới bị giết hay bị trừng phạt mà thôi, còn những người Ki Tô hiền lành vì dân vì nước đâu có bị nạn gì nguy hiểm mà phải trốn ra nước ngoài. Lịch sử đã cho thấy điều đó. Như thế, Nguyễn Trường Tộ tự nhận là đã từng trốn ra nước ngoài, ắt hẳn phải có lý do thật quan trọng mà chúng ta sẽ thấy trong bài viết này.

    2. Trung Hoa diệt Việt, Pháp diệt Đông Dương.

    Lúc viết thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy. Theo nội dung và tư tưởng cũng như dụng tâm của Nguyễn Trường Tộ trong bài di thảo này, chúng ta có thể đoán mà không sợ sai rằng, Nguyễn Trường Tộ muốn ám chỉ: Trung Hoa (thủy, phương Bắc) diệt Đại Nam (hỏa, phương Nam), và Pháp (kim, phương Tây) diệt Đông Dương (mộc, phương Đông), trong Đông Dương có Đại Nam. Nguyễn Trường Tộ dùng một định luật ngũ hành của Đạo học đã được công nhận như một tiền đề để biện minh cho một lý luận chính trị. Nhưng thực tế sai lầm qua một số dẫn chứng sau đây:

    Thật vậy, nước dập tắt được hỏa, nhưng lửa cũng làm cho nước bốc hơi khô cạn sông ngòi. Kim và mộc cũng thế. Vàng sợ gì "củi" nhưng củi đun nóng cũng làm cho vàng tan chảy.

    Trên cơ sở Sử học cũng thế. Đọc sử Việt, chúng ta đều thấy, ngàn năm bị đô hộ giặc Trung Hoa, nhưng nhân dân ta đã dũng mãnh nổi lên giành lại độc lập. Suốt thời Lý – Trần, quân Nguyên – Mông chiếm cứ cả thiên hạ, nhưng lúc qua Việt Nam họ không những thua trận một lần mà thua trận đến ba lần. Học giả Phan Khôi nhận định:

    "... Vào thuở nhà Lý, nhà Trần, đạo Phật tràn ngập cả nước. Chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như thời Lê trung hưng hay Nguyễn thống nhất là cái thời đại Nho học thịnh hành. Trái lại, nhà Lý, nhà Trần mạnh lắm, dân khí còn hăng lắm, mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi vịt" ”(Dẫn theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Lá Bối xuất bản, Paris, 1985, tr. 29).

    Một cuộc chiến thắng phương Bắc (Trung Hoa) khác, trước thời Nguyễn Trường Tộ, là vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đuổi 20 vạn quân Thanh về nước vào năm 1789. Đó là bằng chứng trong nhiều chứng cớ qua lịch sử cho thấy làm gì có chuyện Trung Hoa diệt Việt (thủy diệt hỏa) như Nguyễn Trường Tộ khẳng định. Và nếu Trung Hoa diệt được Việt thì có lẽ không có được một Nguyễn Trường Tộ ra đời trên mảnh đất Việt để viết bài hù dọa đồng bào mình.

    Còn kim diệt mộc hay Pháp diệt Á Đông trong đó có Đại Nam, là thêm một nhận xét khác thiếu cơ sở sử học của Nguyễn Trường Tộ.

    Qua lịch sử, chúng ta hẳn còn nhớ, lúc Pháp chiếm Việt Nam có một số không ít chạy theo ngoại bang rước voi dày mả tổ, nhưng hầu hết đại bộ phận dân tộc đã kháng Pháp quyết liệt dưới mọi hình thức, mọi phương tiện. Người có dao giết giặc bằng dao, có gậy chống giặc bằng gậy... Toàn dân vùng lên chống Pháp, và trận Điện Biên Phủ năm 1954 đã kết thúc chính sách thuộc địa gần 100 năm của Pháp, và thực dân đã phải đầu hàng để trả lại chủ quyền đất Việt cho người Việt. Rồi đến cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc mà cuối cùng Hoa Kỳ cũng phải rời bỏ Việt Nam tháng 4/1975, dẫu sự rời bỏ này dưới tình thế nào. Qua một số sử liệu, trích dẫn dưới đây, ta thấy nếu năm 1858 Pháp đánh Đà Nẵng và lúc Pháp mới chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1860 nếu triều đình vua Tự Đức không giảng hòa với Pháp, mà hô hào toàn dân kháng chiến thì Pháp đã thua trận và rút về nước ngay từ đầu. Như thế không những không có sự lý luận hoang đường kim diệt mộc hay Pháp diệt Đại Nam mà trái lại, mộc diệt kim hay Đại Nam diệt Pháp. Sau đây là dẫn chứng:

    Charles Rigault de Genouilly

    a. Ngày 4/01/1859, Đô đốc Rigault de Genouilly gởi cho viên thượng thư Bộ Hải quân một văn thư bi thảm như sau:

    "... Quả thật, tôi thấy cần thiết và hết sức đau đớn xác nhận với ngài về tình trạng tồi tệ về sức khỏe chung. Thiếu tá Levêque, Đại úy Hải quân Virot, Phó kỹ sư Delautel đều đã đi Ma Cao và chắc phải đưa về Pháp. Tôi không biết phải đối phó thế nào với các lỗ trống đó. Mỗi ngày lại có nhiều người chết, và thời tiết xấu mà các nhà truyền giáo bảo là sẽ chấm dứt vào đầu tháng 12 vẫn tiếp tục với những trận mưa dầm dề không tưởng tượng nổi. Chỉ nội sự kiện đó, ngài cũng có thể đánh giá về các tin tức đang đến với tôi về mặt này và lòng tin tưởng của tôi đối những cuộc hành quân phải thực hiện.

    Dù thế nào đi nữa, thưa ngài Thượng thư, chúng ta đang nhanh chóng tuột dốc đến kiệt quệ và đến lúc phải bất động tại Đà Nẵng. Mọi phương cách để cải thiện tình trạng quân sĩ đều đã được sử dụng hết và không kết quả. Các y sĩ trước tình trạng bệnh tật đã kết luận là người Âu không nên làm việc gì trong khí hậu này, nhưng làm sao được khi ở đây, phải làm những việc cần thiết cho sự phòng vệ, xây cất bệnh viện, lều trại... Đó là một cái vòng luẩn quẩn khiến chúng ta phải điên đầu". (Thư khố Quốc gia, tài sản Hải quân, BB8 4769, dẫn theo luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần Christianisme et Colonialisme au Viet Nam 1857-1914 (Đạo Công giáo và chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam 1857-1914) Paris, France, 1968, bản ronéo, tr. 108).

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "... Je dois en effet et bien malheureusement confirmer à Votre Excellence l'état déplorable de la santé générale. M. le Commandant Lévêque, M. le Lieutenant de Vaisseau Virot, M. le S. Ingénieur Delautel vont à Macao et devront être probablement renvoyés en France. Je ne sais plus comment faire face à tous ces vides. Chaque jour amène de nombreux décès et les mauvais temps, qui d'après les missionnaires, devaient finir avec le décembre, continuent avec une abondance de pluies qui dépasse toute idée. Par ce seul fait, Votre Excellence peut juger de la valeur des renseignements qui me viennent de ce côté, et de la foi que je puis leur accorder, pour les opérations à entreprendre avec la division. Mais quoiqu'il en soit, Monsieur le Ministre, nous descendons par une pente rapide vers l'impuissance radicale et le moment où il faudra demeurer immobile à Tourane. Tous les moyens d'améliorer la situation des troupes et des équipages ont été épuisés et sans succès. Les médecins vaincus par la maladie, arrivent à cette conclusion que les Européens ne doivent faire dans ce climat aucun travail, mais alors comment s'y établir, pourvoir aux nécessités de la défense, des constructions d'hôpiteaux, de baraques etc... C'est un cercle vicieux contre lequel on viendrait se briser la tête" (Archives Nationales (Fonds marine) BB8 4769 CHT, Sđd, tr. 108).

    b. Trước tình hình nguy ngập như trên, ngày 8/4/1859, một chỉ thị khác của Bộ Hải quân và Thuộc địa gởi cho Đô đốc R. de Genouilly như sau:

    "Vì thế, Hoàng thượng tin cậy ở kinh nghiệm và sự sáng suốt của Ông trong mọi quyết định, với lực lượng dưới quyền Ông điều khiển, có nên theo đuổi việc thiết lập nền bảo hộ trên Vương quốc An Nam không; hay chỉ nên cưỡng bức chính phủ họ, nhờ vào việc chiếm đóng Đà Nẵng và nhiều cứ điểm khác mà Ông đã chiếm hay sẽ chiếm được. Cùng với việc phong tỏa một hay nhiều cảng ở Nam Kỳ để đi đến sự ký kết một hiệp ước trên nền tảng kế hoạch 25/11/1857; hay cuối cùng là chúng ta đành bỏ các vị trí mà chúng ta chiếm đóng và từ bỏ hẳn mọi mưu toan rõ ràng ngoài tầm các phương tiện hoạt động mà Ông có" (Chỉ thị của Thượng thư Bộ Hải quân và Thuộc địa 8/4/1859, Thư khố Quốc gia, tài sản hải quân, BB4 1045. CHT, Sđd, tr. 118-119).

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Sa Majesté s'en rapporte donc à votre expérience et à votre sagacité pour décider si avec les forces placées sous votre commandement, il convient de poursuivre l'établissement de notre protectorat sur l'Empire annamite; s'il est préférable de se borner à peser sur son gouvernement par l'occupation de Tourane et de tels autres points dont vous avez pu ou vous emparer, ainsi que par le blocus d'un ou de plusieurs ports de Cochinchine, pour arriver à conclure un traité sur les bases du projet du 25 Novembre 1857; ou enfin s'il faut nous résigner à abandonner les positions que nous occupons et à renoncer complètement à une entreprise, décidément hors de proportion avec les moyens d'action dont vous disposer" (Instruction du Ministre de la Marine et des Colonies 8-4-1859, Archives Nationales, Fonds Marine, BB4 1045).

    c. Sau khi Phan Thanh Giản và Lê Duy Hiệp đại diện triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất 1862 với Pháp thì bị dân chúng lên án là hai kẻ phản quốc. Như thế, triều đình Huế đã bỏ rơi phong trào kháng Pháp. Nhưng toàn dân Nam Kỳ đã kháng cự kịch liệt dưới sự điều khiển của Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Thủ Khoa Huân... đã làm cho quân Pháp vô cùng khốn đốn. Sau đây là một đoạn trong bản báo cáo của Bonard đề ngày 18/12/1862 như sau:

    "Các tàu tôi hiện có, trừ hai chiếc Forbin và Cosmao, đều không thể ra khơi... Đoàn quân viễn chinh bị bệnh tật, chết chóc, sự giảm quân làm cho yếu kém, đang bị sử dụng quá sức: Tôi hoàn toàn bị tê liệt về các phương tiện hành động; tàu bè thì thiếu và bị hư... Tình trạng thảm hại đó nếu không sửa chữa sẽ đưa thẳng chúng ta đến một tai họa không xa! Tôi thấy có bổn phận phải báo cho ngài biết... Thật là đau đớn, sau bao cố gắng quá sức con người mà tôi đã làm từ 15 tháng nay, bây giờ thì mọi thứ đều phải xem xét lại, do sự bỏ rơi các vấn đề của Nam Kỳ... các cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổi lên khắp nơi... Tôi bị đẩy vào thế tự vệ, không có phương tiện để lập một đoàn quân chỉ 200 người... Tôi yêu cầu Đô đốc Jaurès gởi ngay cho một số viện quân. Nếu lực lượng tăng viện đến ngay, tôi có thể làm chủ được tình hình, nếu không thì đành bất lực" (Thư khố Bộ Ngoại giao châu Á, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, tr. 221-224. Dẫn theo CHT, tr. 170).

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Les vieux bâtiments dont je dispose sont, à l'exception du Forbin et du Cosmao, incapables de prendre la mer... Le personnel du corps expéditionnaire affaibli par les maladies, les morts et les congédiements, est surmené: Je suis complètement paralysé dans mes moyens d'action; mes navires sont insuffisants et en trop mauvais état... Cet état déplorable, si l'on n'y porte un prompt remède, nous mène droit à une catastrophe qu'il est de mon devoir de signaler à Votre Excellence comme imminente... Il est pénible, après les efforts surhumains que je fais depuis 15 mois, de voir tout remis en question, par suite de l'abandon dans lequel sont laissées les affaires de Cochinchine... L'insurrection a éclaté partout à la fois... Je suis réduit à la défensive, n'ayant pas les moyens de former une colonne de 200 hommes... Je demande à l'amiral Jaurès instamment de m'envoyer quelques renforts. Si ces renforts arrivent promptement, je pourrai me rendre maitre de la position, si non, non" (Dépêche du 18/12/1862, Archives du Ministère des Affaires Étrangères Asie, Mémoires et Documents, vol. 28, fol. 221-224).

    d. Ngày 27/01/1863 Bonard cũng than thở:

    "Lực lượng chúng ta giảm dần vì chết, vì bệnh, vì rút quân, đang bị đuối sức từng ngày, rõ ràng không thể tiếp tục trong sáu tháng một chiến trận như thế này. Chúng ta thiếu bộ binh, thiếu hải quân, thợ máy, phương tiện chuyên chở, tất cả trang bị hải quân chúng ta hoàn toàn cũ mèm mà không có phương tiện sửa chữa; sự vận tải trên đất cũng thành vô hiệu, vì thiếu tài xế cho xe bộ binh, thiếu xe cứu thương, thiếu thực phẩm v.v..." ”(Văn thư 27/01/1863, tr. 295 & 318).

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Notre effectif réduit par les morts, les maladies, les évacuations est accablé de fatigue; chaque jour il diminue; il est matériellement impossible de continuer 6 mois une pareille campagne. Nous manquons d'hommes, de marins, de mécaniciens, de moyens de transport; tout notre matériel naval est complètement usé, et sans que nous ayons les moyens de pouvoir les réparer; les transports par terre sont aussi radicalement anéantis, faute de conducteurs pour le train d'artillerie, les ambulances, les vivres etc..." (Dépêche du 27/01/1863, fol. 295 et 318, CHT, Sđd, pp. 170 &171).

    Qua bốn chứng liệu của các viên chức cao cấp trong Bộ Hải quân và Thuộc địa, chúng ta thấy rõ triều đình Huế đã không nắm vững tình hình của Pháp, bằng không, thì Pháp đã bị bại trận từ đầu.

    Trong lúc số phận của quân thực dân Pháp sắp cáo chung đến nơi, như chúng ta thấy ở trên, thì Nguyễn Trường Tộ lại viết:

    “"Nay các nước phương Tây đã bao chiếm từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, ... ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa, ai hòa với họ thì được yên, ...".

    Từ đó, Nguyễn Trường Tộ dõng dạc khuyên dân Đại Nam:

    “"Huống hồ nước Đại Nam ta là một nước nhỏ bé, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được".

    Nói cách khác, theo Nguyễn Trường Tộ, thuận với đạo trời (Thượng đế, BK) thì nên dâng tổ quốc cho giặc Pháp, chống làm gì cho thêm họa. Nguyễn Trường Tộ còn viết tiếp: Con giao long (người Pháp, BK) khi thấy đầm vực (Đại Nam) thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể nào chịu bỏ mà đi. Câu quả quyết chắc nịch này của ông có một giá trị nào không? Qua vài dẫn chứng ở trên và sau này, và qua trận Điện Biên Phủ năm 1954, chúng ta đã thấy được câu trả lời rồi.

    3. Lính Đại Nam hèn nhát, chưa đánh đã chạy.

    Nguyễn Trường Tộ đánh giá quân đội Đại Nam rất thấp lúc viết:

    "Quân ta mới nghe thân thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi... ”

    “... Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa xáp trận mà gươm giáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước chảy xiết. Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi".

    Không biết Nguyễn Trường Tộ căn cứ vào đâu mà đánh giá quân đội ta một cách tồi tệ, bi thảm hóa tình hình và quá sai lạc như thế. Sau đây là vài bằng chứng.

    Văn thư đề ngày 21/9/1859, Đô đốc R. de Genouilly viết:

    "Càng đi sâu vào tình hình vương quốc An Nam, các bức màn càng vén lên, những lời khẳng định dối trá (của các giáo sĩ, BK) càng tan biến, không thể không thừa nhận rằng, cuộc chiến tranh chống lại xứ này còn khó hơn cuộc chiến tranh chống lại thiên triều..." ”

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    “"... À mesure que l'on pénètre dans la situation de l'Emprire annamite, que les voiles se lèvent, que les assertions mensongères disparaissent, il est impossible de ne pas reconnaitre qu'une guerre contre ce pays est plus difficile qu'une guerre contre le Céleste Empire". (Trích trong Dépêche de l'Amiral Rigault de Genouilly, Archives Nationals, Fond Marine BB4 769: Cité by CHT, pp.117-118).

    Bonard cũng lo âu kêu cứu:

    "Người An Nam đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò, giờ đây họ tấn công chúng ta ngay những vị trí của chúng ta" (Poyen – Notice sur l'Artillerie de la Marine en Cochinchine – Paris 1893 – tr. 81-82. Dẫn theo Thái Hồng trong cuốn Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước, Sđd, tr. 263). Hai dẫn chứng vừa nêu, cho thấy sự đánh giá tệ mạt của Nguyễn Trường Tộ về tình hình chiến đấu của dân Đại Nam là hoàn toàn sai, và hình như có mục đích nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập của quân đội Pháp.

    4. Giết giáo sĩ, xin một miếng đất, nếu thỏa mãn Pháp sẽ đi.

    Nguyễn Trường Tộ viết: "Hơn nữa, người Pháp đến đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các nước thường làm. Lúc đầu, họ không có ý đi cướp nước người. Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn như đã ước định chứ đâu đến nỗi dây dưa lan rộng như thế. Cũng ví như nước lụt, người hiểu biết thì thuận theo thế nước mà cho chảy xuôi, để nước chảy về sông về biển thì hết, nếu ngăn đọng lại thì úng núi ngập gò, tắc lại thì trôi nhà trôi cửa. Cho nên, người khéo trị lụt thì việc làm hết sức đơn giản".

    Qua đoạn văn ấy, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ nêu ra mấy vấn đề: Vì sao giết giáo sĩ, sao không chịu giao thiệp, xin ta cắt cho một vài chỗ, họ không có ý đi cướp nước, nếu yêu sách thỏa mãn họ sẽ chấm dứt... Rồi Nguyễn Trường Tộ khuyên rằng, nay đã lỡ rồi, không nên cản ngăn cho sinh họa, nên buông vận mạng quốc gia cho Pháp: như nước chảy về sông về biển thì hết, ngăn lại thì úng núi ngập gò.

    Trước lúc đưa ra những dữ kiện để cho thấy cái sai lầm của Nguyễn Trường Tộ, tôi muốn dựa trên cái lý để nêu ra vài câu hỏi: Tại sao giáo sĩ bị giết? Quốc gia Việt Nam có hay không quyền không giao thiệp, quyền không cắt nhượng giang sơn?

    Lồng các nhận định của Nguyễn Trường Tộ nêu trên vào khung cảnh nước nhà lúc bấy giờ, và trước lúc Nguyễn Trường Tộ viết bản di thảo này vào giữa năm 1863, các sử liệu sau đây cho thấy lý do tại sao giáo sĩ bị giết.

    4.1. Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes – Đắc Lộ (1593-1660) đã có chương trình dẫn thực dân Pháp vào chiếm đất nước ta. Trong cuốn Divers Voyages et Missions(Hành trình và truyền giáo), Hồng Nhuệ có dịch ra tiếng Việt, Ủy Ban Đoàn kết Công giáo xuất bản, TP.Hồ Chí Minh, 1994, tr. 263-264). Nguyên văn chính A. de Rhodes chứ không ai khác đã viết như sau:

    "Tôi tưởng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn cõi Đông phương đưa về quy phục Chúa Ki Tô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời Roma ngày 11/9/1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng. ”

    Lm. Đắc Lộ

    “Tôi đi qua Marxây và Lyon rồi tới Paris, theo tôi thì Paris là thu gồm hay đúng hơn là bản mẫu tất cả những gì đẹp nhất tôi đã thấy ở khắp trái đất này. ”

    Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa mà tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp, tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne Đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của hoàng hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé này. Trong mười lăm ngày, tôi thấy nơi ngài rất nhiều nhân đức và thương yêu suốt đời tôi, tôi quý mến công ơn và sẽ đề cao hội ngộ may mắn nhất trong suốt các cuộc hành trình của tôi.

    Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Hoa, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanxicô Xavie tới 300 quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất.

    Tôi nhận được vô vàn thư của các cha dòng chúng tôi tự nguyện xung phong trong đoàn binh vinh quang. Tất cả năm tỉnh dòng ở Pháp đều có nhiều người quảng đại ghi tên. Các ngài viết thư về Roma, các ngài cầu nguyện, các ngài thỉnh cầu bề trên và bề trên đã chọn hai mươi người để trẩy đi trong ít ngày sắp tới...". ”

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "J'ai cru que la France estant le plus pieux Royaume du monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conqueste de tout l'Orient, pour l'assujettir à Jésus-Christ, & particulièrement que j'y trouuerois moyen d'avoir des Euesques, qui fussent nos Pères, & nos Maistres en ces Églises, je suis sorti de Rome à ce dessein le vinziesme Septembre de l'année mil six cents cinquante deux après avoir baisé les pieds au Pape.

    Je suis venu par Marseille, & par Lyon jusques à Paris qui est, à mon aduis, l'abrégé ou plutost l'original de tout ce que j'ai veu de beau dans tout le reste du monde.

    C'est en ce chemin de Lyon jusques à Paris ó j'ai encore experimenté vne sset très particulier de la Prouidence qui m'a toujours seruy de guide, & de mère, il me falloit pour paroistre en France, auoir vn Ange tutelaire, qui me donnast vne entrée fauorable dans la Cour du plus grand Monarque de toute la terre. J'eus la rencontre à Roiiane du Puy de Monseigneur Henry de Maupas Euesques, Abbé de Saint Denys, premier Aumônier de la Reyne, il eut la bonté de me tenir en sa compagnie, pendant ce petit voyage, je vis en ce grand Prélat pendant onze jours tant de vertus, & tant de bonté, que je cheriray toute ma vie le souvenir de son mérite, & seray estat que cette rencontre est l'une des plus heureuses de tous mes voyages.

    Je n'eus pas plutost publié cette belle Croisade, contre tous les ennemis de la Foy qui sont dans le Japon, dans la Chine, dans le Tunkin, la Cochinchine, & la Perse, qu'aussit-tost vn grand nombre d'enfants de Saint Ignace, animez du mesme esprit, qui a porté Saint Francois Xauier en trois cens Royaumesse sót embrazés de désir, pour prendre la Croix de leur maistre, & l'aller arborer à ces extremites de la terre.

    J'ai reccu vn nombre infini de lettres de nos Pères, qui me demandoient d'etre enrollez en cette glorieuse milice, toutes nos cinq Prouinces de France ont suplies de ces genereus pretendants, ils ont escrit à Rome, prié Dieu, solicité nos Superieurs, ils en ont choisi vingt entre plusieurs qui vont partir dans peu de jours". (Đây là loại tiếng Pháp thế kỷ 17).

    Đó là một bằng chứng rõ ràng mà chính Linh mục Dòng Tên A. de Rhodes xác nhận là chính ông ta đã vận động triều đình Pháp đánh chiếm Đại Nam.

    Chỉ với một thí dụ trên thôi, chúng ta thấy chính Đắc Lộ và ngay cả Giáo hoàng (người mà Đắc Lộ hôn chân trước lúc đi Pháp) đã âm mưu vận động chính phủ Pháp cướp nước (chữ Nguyễn Trường Tộ dùng) Việt Nam từ năm 1625, tức là hơn 200 năm trước lúc Nguyễn Trường Tộ ra đời.

    4.2. Lời phê bình của Đô đốc R. de Genouilly.

    Để cho vấn đề được vô tư hơn, và để thấy ngay các hành động mà giáo sĩ đã tác hại cho đất nước Đại Nam, xảy ra lúc mà Nguyễn Trường Tộ vào khoảng 30 tuổi, chúng ta nên nghe lời than phiền của Đô đốc Rigault de Genouilly về hành động mà họ gọi là "kẻ tử đạo".

    "Không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Ki Tô, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ (các giáo sĩ, BK). Nếu cũng vì những yếu tố buộc tội đó mà Giám mục Pellerin bị nhà cầm quyền An Nam trục xuất thì báo chí của người truyền đạo lại kêu la om sòm là họ bị bạo hành".

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Fut – elle au service de l'intérêt chrétien, ne pouvait tolérer leur intrusion permanente et insolente dans les affaires politiques, civiles et militaires qui ne sont et ne doivent pas être de leur ressorts. Si l'expulsion du Mgr Pellerin avait été prononcée, pour les mêmes chefs d'accusation, par une autorité Vietnamienne, la presse des missionnaires aurait crié partout persecution" (Văn thư 29/01/1859, dẫn theo CHT, Sđd, p.113).

    Đó là hai dữ kiện lịch sử cho chúng ta thấy các giáo sĩ có âm mưu gây tang tóc cho dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ hay không? Và qua sự kiện đó, chúng ta cũng thấy được nguyên nhân của các vụ trục xuất và đàn áp giáo sĩ cũng như con chiên. Thế mà Nguyễn Trường Tộ, một nhà "thông thái", đã thực sự không biết, hay muốn xuyên tạc lịch sử để nói rằng: "Lúc đầu họ không có ý cướp nước người".

    Nguyễn Trường Tộ nhận định thêm rằng: "Nếu những yêu sách... được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn". Để đánh giá lời phát biểu này, chúng ta nên biết qua một vài sử liệu dưới đây:

    4.3. Bản tường trình của Đô đốc Bonard.

    Sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông ở Nam Kỳ là: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, Đại Nam ký với Pháp hòa ước 1862, Đô đốc Bonard gởi cho chính phủ ông một bản tường trình bằng cách đặt bốn câu hỏi, mà câu hỏi thứ tư như sau:

    "Bằng lòng với 3 tỉnh đang chiếm được, tổ chức lại để đảm bảo an ninh và tự do buôn bán dưới ngọn cờ của nước Pháp ư?". Đặt câu hỏi như thế, rồi chính Bonard tự trả lời câu hỏi ấy như sau:

    "Giải pháp thứ tư, đòi hỏi phải có những hy sinh mới, nhưng có thể dẫn đến kết quả là tổ chức và sử dụng được cái xứ rộng lớn mà vũ khí đã may mắn đặt nó vào tay chúng ta. Những hy sinh này rất cần thiết để duy trì những ảnh hưởng tốt của chúng ta ở Viễn Đông, bằng không sẽ còn phải thêm bao nhiêu máu và tiền bạc đổ ra nữa mà không có gì hy vọng trước mắt hoặc trong tương lai." ”

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Se contenter des trois provinces acquises, les organiser, y assurer la sécurité commerciale sous le drapeau Francais?"

    "La quatrième combinaison exige de nouveaux sacrifices, mais elle peut amener à organiser et à utiliser le vaste pays que les chances de la guerre ont mis entre nos mains. Ces sacrifices sont indispensables pour maintenir très haut l'influence que nous avons conquise dans l'Extrême Orient, sous peine de voir tout les sang et l'argent dépensés venir s'ajouter à celui tout à fait perdu qu'il faufra pour subvenir aux demi-mesures, desquelles il n'y a rien à espérer ni dans le présent, ni dans l'avenir..". (Trích trong Correspondance de Cochinchine, Tom VI, pp. 130 à 147. Archives du ministère de la France – Outremer, Paris: Thư quan hệ giữa Nam Kỳ, tập 4, tr.130-147. Lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Paris. Dẫn theo Nguyễn Xuân Thọ trong cuốn Histoire de la Pénétration Francaise Au Vietnam (1858-1897, Trung tâm Văn hóa Linh Sơn xuất bản, Hawaii, 1993, tr. 91-92).

    Qua ý kiến của Đô đốc Bonard như trên, chúng ta thấy Pháp thỏa mãn với hòa ước 1862 sau khi đã ký kết với triều đình vua Tự Đức, nhưng sau đó không lâu, tháng 6/1867, Pháp chiếm trọn cả Nam Kỳ, Phan Thanh Giản tự tử. Đến ngày 20/11/1873, sau khi Nguyễn Trường Tộ chết khoảng 2 năm, Pháp lại chiếm luôn Bắc Kỳ, anh hùng Nguyễn Tri Phương bị thương và sau đó cũng uống thuốc độc tự tử.

    Như thế, lời khuyên của Nguyễn Trường Tộ: Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn là một đề nghị chỉ có lợi cho Pháp mà thôi.

    5. Chiến là đổ thêm dầu vào lửa, hòa là thượng sách.

    Nguyễn Trường Tộ viết:

    "Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trù kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển. Không hòa mà chiến, khác nào cứu lửa đổ thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.

    Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng, hòa với Pháp là thượng sách.

    Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chận đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu, gấp rút truyền hịch khắp Nam Bắc, chiêu mộ bọn giặc cướp ẩn náu dùng làm bọn dẫn đường, thì thủy binh của ta sẽ trở thành vô dụng". ”

    Suy nghĩ về hai đoạn trong bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ nêu trên, được gởi cho triều đình vua Tự Đức khoảng tháng 3-4/1863 và một tối hậu thư đề ngày 28/2/1863 của đại diện toàn quyền chính phủ Pháp và Tây Ban Nha gởi cho triều đình Đại Nam, chúng ta thấy có những ý tứ và những chữ dùng trùng hợp nhau như sau:

    "Nếu chấp thuận (phê chuẩn hiệp ước) thì dân chúng và vương quốc An Nam sẽ không còn những khốn khổ.

    “Nếu không, thì Vương quốc ông sẽ không còn nữa, vì điều đó sẽ dẫn đến sự tham dự của những người nổi loạn miền Bắc và sự chiếm đóng tức thời 3 tỉnh phía Nam. Như thế, vương quốc của ông sẽ mất đi cùng lúc cả Nam Kỳ và Bắc Kỳ". ”

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    “"Oui, c'est la fin des malheurs du peuple et du royaume d'Annam.

    Non, c'est la ruine de ce royaume, car il entrainera nécessairement l'assistance aux insurgés du Tonkin et la prise immédiate des trois provinces du sud: Votre royaume perdra donc, du même coup le Nam Ky et Bac Ky". (Archives du Ministere des Affaires, Asie, Mémoires et Documents, Tome 28, pp. 403-404, CHT, Sđd, p. 171).

    Sở dĩ có sự hăm dọa như trên vì vua Tự Đức một mặt kiếm cớ trì hoãn sự phê chuẩn hiệp ước, mặt khác vận động chuộc lại các tỉnh đã mất.

    Như thế, Nguyễn Trường Tộ có đi đêm với Pháp hay không? Quý độc giả đọc lại lời Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình và những lời hăm dọa hỗn xược của thực dân, như đã nêu trên, rồi tự tìm cho mình câu trả lời.

    6.Nên nhường đất cho lính nghỉ, giáo sĩ chỉ mở rộng đạo không tranh giành đất. Nguyễn Trường Tộ viết: "Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin mình miếng đất mà thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết... ”

    “Không thấy một nước Trung Hoa to lớn là thế mà còn phải cắt đất cầu hòa... Việc cống nạp của Tống (nước Tống bên Trung Hoa thời xưa nộp tiền và hàng hóa cho nước khác, BK), tất cả đều lấy việc không đánh là hơn... ”

    “Theo cách ngày nay thì nên để cho quân lính nghỉ ngơi, rồi làm theo chước Hán Cao Tổ ngày xưa cắt Quan Trung cho Hạng Võ (?) để họ giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới... ”

    “Còn như các giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm, chẳng liên quan gì đến những việc tranh thành tranh đất cả...". ”

    Trong lúc tổ quốc lâm nguy, bị thực dân Pháp cướp, toàn dân nổi lên chống Pháp khắp nơi. Người có gậy đánh bằng gậy, người có dao chém kẻ thù bằng dao, người dân nghèo nàn đói khổ thì bỏ nhà ra đi bất hợp tác với quân xâm lăng, thế mà Nguyễn Trường Tộ khuyên quân lính nên nghỉ ngơi, không đánh, nhường đất để họ giữ bờ cõi cho mình... tôi xin nhường sự đánh giá này cho độc giả. Riêng phần tôi, xin góp thêm hai ý kiến như sau:

    Một, qua các sử liệu mà chúng ta đã thấy, nếu triều đình vua Tự Đức biết được tình hình rối loạn của địch và thấy được thế mạnh của ta, thì quân xâm lược bị chôn xác xuống lòng đất ngay từ những tháng đầu của việc chiếm đóng.

    Hai, triều đình vua Tự Đức muốn giảng hòa với Pháp khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất, nhưng vấn đề đó không thể thực hiện được một cách có lợi cho quốc gia Đại Nam, vì những kết quả tốt đẹp có được tại bàn hội nghị sẽ tùy thuộc vào những chiến thắng quân sự tại chiến trường. Còn không, thì Đại Nam là người đi xin mà Pháp là kẻ bố thí. Người xin chỉ được những gì mà người cho phế thải ra mà thôi.

    Phan Thanh Giản

    Thật vậy, trước lúc phái bộ Phan Thanh Giản vào Nam Kỳ để thương thuyết với Pháp, cuối buổi tiệc khoản đãi phái bộ trước khi lên đường, vua Tự Đức nói với các đình thần những lời cảm động như sau:

    "Đất nước hôm nay đang bị dồn vào ngõ cụt khó khăn; muốn đưa nó thoát ra, chỉ có bàn tay của những người tôi trung tài năng và tận tụy. Có hai điểm cơ bản các khanh cần luôn luôn ghi nhớ: Vấn đề nhường đất và vấn đề hành đạo Cơ Đốc giáo. Về hai điểm quan trọng hàng đầu ấy, các khanh đừng nhẹ dạ trong việc ký kết. Đừng vì một sự yếu đuối hay vội vàng nào đó mà làm thiệt hại đến vận mệnh và danh dự của cả giang sơn đang được giao phó vào tay các khanh. Các khanh phải xác định đinh ninh như vậy và dù bất cứ vì lý do gì và bất cứ giá nào cũng đừng đi trệch cái chương trình đã vạch. Các khanh đi! Và cầu cho những lời ước nguyện của Trẫm luôn luôn theo bước các khanh! Cầu mong cho các khanh được sớm trở về, đầy vinh quang vì đã bảo vệ danh dự của non sông và giữ gìn được sự vẹn tròn lãnh thổ. Đây là lời cầu chúc duy nhất của Trẫm cho các khanh trước lúc lên đường". ”

    Nhưng: Ngày 7/6/1862, các sứ thần Đại Nam rời Sài Gòn trở về Huế tường trình về nhiệm vụ của sứ bộ: Kết quả đáng buồn, chẳng đáp ứng được bao nhiêu với những ước vọng của nhà vua.

    “Đất nước bị cắt mất 3 tỉnh miền Đông: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa. Người Pháp bắt một nước đã bị xơ xác vì bao nhiêu nạn chiến tranh và chiếm đóng, phải trả một số chiến phí quá nặng nề: 4 triệu đồng bạc tức khoảng 2.800.000 lượng bạc. Sau nữa, là chuẩn y 12 điều khoản liên quan đến vấn đề hành đạo Ki Tô và mở cửa đất nước cho việc buôn bán đối ngoại. Dĩ nhiên là trong bữa tiệc tiễn đưa sứ đoàn, tuy có vẻ lạc quan bên ngoài, triều đình chẳng ai hy vọng họ sẽ về với những thắng lợi lớn. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng họ sẽ ký kết một hòa ước tai hại như vậy. ”

    “Vua Tự Đức khi đọc văn bản hòa ước ấy chỉ còn biết thở dài:

    "Than ôi! Nào Trẫm có làm nên tội tình gì cho đến nỗi nhân dân phải chịu một số phận tàn khốc đau thương như vậy đổ xuống trên đầu?

    Còn các khanh, những sứ thần khốn khổ, các khanh đã làm gì? Các khanh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình như vậy đó sao?

    “Chao ơi! Các khanh không chỉ là những người mang trọng tội dưới triều đại của Trẫm mà các khanh sẽ phải chịu hậu quả nặng nề về tội lỗi của mình trước lịch sử muôn ngàn đời!" (Nguyễn Xuân Thọ: Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897, tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, 1995, tr. 66-68).

    Do đó, ý kiến của Nguyễn Trường Tộ: Nên cho quân lính nghỉ ngơi để Pháp giữ bờ cõi cho mình, là một ý kiến nhằm có lợi cho Tây.

    Riêng câu nói: "Còn như giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm, chẳng liên quan gì đến việc tranh thành tranh đất cả". ”

    Dưới đây tôi nêu ra hai thí dụ nhỏ trong muôn ngàn thí dụ để thấy cái sai lầm mà hầu như cố ý của nhà thuyết khách Nguyễn Trường Tộ. Một đoạn trong mật thư đề ngày 24/7/1862, Đô đốc Bonard gởi cho Chasseloup Laubat như sau:

    "Ai (các giáo sĩ, BK) cũng ôm ấp lý tưởng trở lại thời kỳ mà Giám mục Bá Đa Lộc được xem như ông vua thực sự của xứ An Nam, thời kỳ mà mọi việc chỉ có thể được thực hiện theo lời khuyến cáo của ông giám mục này, hoặc được ông cho phép. Để đạt mục đích đó, các nhà truyền giáo đã dùng kế hoạch sau đây: Nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính chính thống của vua này, và khi lật đổ được triều đình hiện tại thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ". ”

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Tous caressent l'idée de revenir au temp où l'Évêque d'Adran était le véritable souverain du royaume d'Annam, temps où rien ne se faisait que par ses conseils ou sa permission. Pour parvenir à ce but voici quels moyens ils ont employés: les unes et les autres, ne trouvant pas que les successeurs de la dynastie de Gia Long obtempérassent assez à leurs désirs, ont contesté la légitimité de ceux-ci et ont cherché à mettre en avant un candidat qui, s'il renversait la dynastie régnante, leur offrit plus de garanties pour arriver à leurs fins" (trích trong Archives du Ministère des Affaires Étrangères, Asie, Mémoires et Documents, Vol, 28, Fol. 85-88: Thư khố Bộ Ngoại giao, Á châu, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, tr. 85-88, CHT, Sđd, tr. 150).

    Đoạn thư của Bonard nói trên mô tả về âm mưu của các linh mục, giám mục người Pháp. Và một đoạn khác trong thư đó viết về hành động của các giáo sĩ dòng tu Đô-Mi-Níc người Tây Ban Nha như sau:

    "Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha thường chiếm cứ nhiều vùng miền thượng du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn: Hăng hái và quá cuồng tín, đa số trong bọn này phát xuất từ các đoàn du kích và phe Carlistes, họ rời bỏ Tây Ban Nha và sẵn sàng mang gươm, súng và thánh giá chữ thập, dốc toàn lực tham dự vào các cuộc nổi loạn gây tai họa cho xứ Bắc Kỳ". ”

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    "Quant aux Dominicains espagnols qui occupent généralement le haut Tonkin ils sont beaucoup plus ingouvernables: ardents et fanatiques au dernier degré, un assez grand nombre d'entre eux sortant des bandes de guérillas et de carlistes ayant abandonné l'Espagne portent assez volontiers le sabre et le mousquet avec la croix et sont mêlés, et de coeur et le corps, aux révoltes qui affligent le Tonkin" (CHT, Sđd, p. 152).

    Hai dẫn dụ nêu trên, đã cho thấy Nguyễn Trường Tộ bênh vực và đánh giá sai về vai trò của các giáo sĩ.

    Trên đây là vài nhận xét thuộc lĩnh vực chính trị của Nguyễn Trường Tộ đối chiếu với các sử liệu chính xác không thể chối cãi. Những sai lầm nghiêm trọng, những lời khuyên, cố vấn và nhận xét hoàn toàn sai lạc về tình thế về lịch sử mà Nguyễn Trường Tộ viết trong bản điều trần, giả sử ông không có hậu ý giúp Pháp, thì ông cũng nên được lịch sử phê phán cho đúng mức vì đề nghị sai chỉ có lợi cho Pháp mà thôi. Sau đây là nhận xét về chương trình cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong lĩnh vực có nhiều tính kinh tế qua một số bản điều trần khác.

    Đi từ nhận định rằng, vai trò của kinh tế trong việc làm cho dân giàu nước mạnh, và rằng lúc quốc gia đã mạnh thì có thể giải quyết được mọi vấn đề. Và từ cơ sở Đại Nam là một nước nghèo nàn. Bộ máy hành chính có thể hoạt động được chỉ nhờ vào các khoản thuế mà nhân dân đóng góp chứ không biết khai thác các nguồn lợi thiên nhiên như hầm mỏ, cây rừng, canh tác nông nghiệp và sử dụng máy móc để phát triển kinh tế. Từ đó, Nguyễn Trường Tộ viết một số bản điều trần để đề nghị công cuộc cải cách kinh tế. Bản điều trần số 5: Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh (Dụ tài tế cấp bẫm từ) và di thảo số 27: Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều).

    (Mời các bạn đón đọc các chương tiếp theo).

    Source: http://www.tongiaovadantoc.com/c1048/20110612222429572/doc-sach-nguyen-truong-to-van-de-canh-tan-ky-2.htm

    Ý đồ cải cách của Nguyễn Trường Tộ