trang Blog

hoangai_09Tham gia: 13/11/2009
  • BÀI PHÚC TRÌNH ĐO ĐẠC ĐỊA CHÍNH
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    BÀI PHÚC TRÌNH ĐO ĐẠC ĐỊA CHÍNH

    MỤC LỤC

    LỜI MỞ ĐẦU.. 2

    CHƯƠNG I – LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU.. 3

    1.     Một số khái niệm về hố sơ địa chính và bản đồ địa chính. 3

    1.1.     Hồ sơ địa chính. 3

    1.2.     Bản đồ địa chính. 5

    2.     Cơ sở pháp lý thành lập bản đồ địa chính. 9

    3.     MicroStation.9

    4.     Irasb. 10

    5.     Geovec. 10

    6.     Famis. 10

    7.     Máy Toàn đạc. 11

    CHƯƠNG II – PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP. 12

    1.     Phương Tiện. 12

    2.     Phương Pháp. 12

    3.     Đo chi tiết ngoài thực địa. 12

    4. Xử lý số liệu và hoàn thành bản đồ. 14

    CHƯƠNG III –KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:20

    CHƯƠNG IV –KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:21

    1.     KẾT LUẬN:21

    2.     KIẾN NGHỊ:22

    CHƯƠNG V –Tài liệu tham khảo. 23


     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia. Ở Việt nam những vấn đề về đất đai và quản lý đất đai đã được đưa vào Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Ngành Địa chính có chức năng chủ yếu là quản lý Nhà nước về đất đai và đo đạc bản đồ, trong đó đo đạc thành lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay của  ngành. Công tác quản lý đất đai chỉ được thực hiện có hiệu quả khi hệ thống hồ sơ địa chính, trong đó bản đồ địa chính và hồ sơ kỹ thuật thửa đất là một trong những tài liệu quan trọng, được thành lập đầy đủ, chính xác.

    Quá trình quản lý và sử dụng đất đai đang đặt ra yêu cầu hiện đại hoá, ứng dụng thành tựu  khoa học công nghệ tiên tiến để nhanh chóng xây dựng được cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất trong toàn quốc.

    Công nghệ bản đồ số là một trong những công nghệ tiên tiến hiện nay đang được áp dụng rộng rãi trong đo vẽ thành lập bản đồ địa chính và lập hồ sơ địa chính cho phép  tự động hoá các quá trình thu thập thông tin thực địa, lưu trữ, quản lý và khai thác thông tin . Công nghệ thành lập bản đồ số địa chính có thể thực hiện chủ yếu bằng các phương pháp sau:

    -Thành lập bản đồ số từ các số liệu đo trực tiếp ngoài thực địa bằng máy toàn đạc điện tử (phương pháp toàn đạc) sử dụng các phần mềm vẽ bản đồ tương ứng. 

    -Thành lập bản đồ số từ số liệu đo vẽ ảnh hàng không bằng các máy vẽ (quang cơ, toàn năng, và kỹ thuật ảnh số) và phần mềm tương  ứng.

    -Phương pháp kết hợp sử dụng ảnh hàng không với việc điều vẽ và đo vẽ bổ xung thực địa.

    - Số hoá, biên tập kết hợp đo vẽ bổ xung các bản đồ địa hình cùng tỷ lệ.

    Hiện nay tại các khu xây dựng và khu dân cư phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa sử dụng máy toàn đạc điện tử là  phương pháp chủ yếu được sử dụng để đo vẽ thành lập bản đồ.

    Vì vậy em xin trình bày về phương pháp “Đo vẽ thành lập bản đồ số địa chính bằng phương pháp toàn đạc ” nhằm trình bày rõ quy trình thành bản đồ địa chính bằng công nghệ số.


    CHƯƠNG I – LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

    1.      Một số khái niệm về hố sơ địa chính và bản đồ địa chính

    1.1.  Hồ sơ địa chính

                Hồ Sơ Địa Chính (HSĐC) là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách địa chính chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý về đất đai.  HSĐC được thiết lập trên cơ sở  các kết quả đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu, cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và làm căn cứ cho việc đăng ký biến động đất đai.

                Hồ sơ địa  chính gồm 2 loại:

                Loại thứ nhất: Hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý, bao gồm:

                - Bản đồ địa chính và các phụ lục của bản đồ (phiếu thửa và HSKT thửa đất.)

                - Sổ địa chính.

                - Sổ mục kê.

                - Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

                - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

                - Biểu thống kê diện tích đất đai.

    Loại thứ hai:Hồ sơ tài liệu gốc hình thành trong quá trình đăng ký ban đầu(hồ sơ thẩm tra xét duyệt đơn của cấp xã, huyện), trong quá trình cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (hồ sơ về thủ tục hành chính và pháp lý).

    1.1.1.     Sổ địa chính

                Sổ địa chính được lập nhằm đăng ký toàn bộ diện tích đất đai được Nhà nước giao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và diện tích các loại đất chưa giao, cho thuê sử dụng, làm cơ sở để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đất đai theo đúng pháp luật.

                Sổ địa chính phải thể hiện các nội dung về quản lý Nhà nước đối với đất đai theo từng chủ sử dụng, thể hiện những thông tin về chủ sử dụng đất (tên chủ sử dụng, địa chỉ và các mối quan hệ khác...). Thông tin về quan hệ giữa chủ đất với thửa đất, chủ sử dụng đất với pháp luật và thông tin về các thửa đất thuộc quyền sử dụng của chủ sử dụng đất đó.

                Sổ địa chính  được lập trên cơ sở đơn vị đăng ký quyền sử dụng đất đã được xét duyệt và cho phép sử dụng. Sổ lập theo đơn vị xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) trong phạm vi địa giới hành chính của xã do cán bộ địa chính chịu trách nhiệm thực hiện; chỉ sau khi được UBND xã xác nhận,sở Địa chính duyệt mới có gía trị pháp


    lý.Sổ địa chính lập theo đối tượng sử dụng đất đủ điều kiện đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Các cơ quan Nhà nước,tổ chức kinh tế,tổ chức chính trị xã hội,đơn vị vũ trang nhân dân đăng ký chung một quyển. Các hộ gia đình, cá nhân đăng ký vào quyển của khu dân cư nơi họ thường trú, mỗi khu dân cư lập thành một hay nhiều quyển phụ thuộc vào số lượng chủ sử dụng đất ở mỗi khu;các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phụ canh trong xã được đăng ký thành một phần riêng trong quyển sổ địa chính của xã.

    UBND xã trực tiếp đăng ký vào cuối sổ địa chính, quyển dành cho các tổ chức những loại đất sau đây:

                - Đất dùng vào mục đích công cộng chưa có chủ sử dụng cụ thể đủ điều kiện đăng ký như : giao thông, thủy lợi,nghĩa trang,đình,đền...

                - Đất dành cho công ích xã.

                - Đất chưa giao,chưa cho thuê sử dụng.

    Sổ lập thành 3 bộ lưu ở 3 cấp: Tỉnh, Huyện, Xã.

    1.1.2.     Sổ mục kê

                Sổ mục kê được thành lập nhằm mục đích liệt kê từng thửa đất trong phạm vi địa giới hành chính xã, phường, thị trấn bao gồm các nội dung: tên chủ sử dụng, diện tích và loại đất đai, phục vụ việc lập và tra cứu sử dụng các tài liệu, hồ sơ địa chính một cách đầy đủ thuận tiện. Sổ mục kê phải được UBND xã xác nhận, Sở Tài nguyên và Môi trường duyệt mới có giá trị pháp lý.

                Sổ mục kê phải thể hiện đầy đủ nội dung theo yêu cầu quản lý đất đai của xã và các cấp tương đương đảm bảo độ chính xác cao, không bỏ sót thông tin. Luôn được chỉnh lý để phù hợp với hiện trạng sử dụng, sạch sẽ và lập theo mẫu của Tổng cục địa chính nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường.

                Sổ mục kê được lập từ các tờ bản đồ địa chính  và các tài liệu điều tra đo đạc đã được hoàn chỉnh sau khi xét duyệt cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và xử lý các trường hợp vi phạm chính sách đất đai. Sổ mục kê lập theo thứ tự từng tờ bản đồ địa chính, từng thửa đất của mỗi tờ.

    Mọi trường hợp chỉnh lý sổ chỉ được thực hiện sau khi đã làm đúng thủ tục đăng ký biến động đất đai và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chứng nhận biến động trên giấy chứng nhận đã cấp.

    1.1.3.     Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

                Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý, xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước, người quản lý, chủ sở hữu đất đai đối với người được Nhà

    nước giao đất để họ có cơ sở pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo pháp luật.

                Cơ quan nào có thẩm quyền giao đất thì có quyền cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Các hộ gia đình, cá  nhân, tổ chức sử dụng đất hợp pháp không có tranh chấp chấp đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    1.1.4.     Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất được lập để cơ quan cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo dõi về việc xét duyệt, cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đến từng chủ sử dụng đất, cũng như quản lý giấy chứng nhận đã cấp.

    Sở Tài nguyên và môi trường Tỉnh,Thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm lập và giữ sổ cấp giấy chứng nhận cho các đối tưọng thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh. Phòng Địa chính cấp Huyện chịu trách nhiệm lập và giữ sổ cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của cấp Huyện.chịu trách nhiệm lập và giữ sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của mình.

    1.1.5.     Sổ theo dõi biến động đất đai

                Sổ theo dõi biến động đất đai được lập nhằm mục đích theo dõi và quản lý tình hình thực hiện đăng ký biến động, chỉnh lý Hồ sơ địa chính và tổng hợp báo cáo thống kê đất đai theo định kỳ.

                Sổ theo dõi biến động đất đai được lập khi đăng ký đất đai ban đầu, được thực hiện trên cơ sở cập nhật biến động đất đai vào Sổ địa chính và chỉnh lý Bản đồ địa chính. Sổ được lập cho từng xã; mỗi xã (phường) có trách nhiệm lập sổ và quản lý. Việc chỉnh lý biến động phải thực hiện đồng bộ ở mọi cấp, mọi tài liệu có liên quan. Khi số liệu chỉnh lý trên 50% thì phải có kế hoạch đo đạc mới lại bản đồ địa chính.

    1.2.  Bản đồ địa chính

    1.2.1.     Khái niệm về bản đồ

    Theo khái niệm chung, bản đồ là hình ảnh thu nhỏ hiện trạng của một phần bề mặt tự nhiên trái đất. Khác với một tấm ảnh chụp thực địa, bản đồ được thành lập theomộtcơ sở toán học nhất định, theo một nguyên tắc khái quát hóa và tổng hợp hóa nhất định khi chọn lọc để thể hiện các yếu tố nội dung về dáng đất, địa vật và các yếu tố tự nhiên khác của khu vực, và các yếu tố nội dung của bản đồ được thể hiện theo một hệ thống ký hiệu bản đồ và bảng ghi chú,  chú giải thống nhất.

    Cơ sở toán học của bản đồ dựa trên hệ thống lý thuyết về bề mặt toán học được lựa chọn đại diện cho bề mặt tự nhiên của trái đất khi xử lý tính toán kết quả đo đạc, lý thuyết về hệ toạ độ được thiết lập để định lượng vị trí không gian của một điểm

    bất kỳ trên bề mặt trái đất và hình biểu diễn tương ứng của nó trên bản đồ, lý thuyết về lưới chiếu bản đồ để lựa chọn phương pháp biểu diễn những điểm bất kỳ trên mặt tự nhiên trái đất (sau khi đã được chuyển về mặt toán học) trên bản đồ, để nghiên cứu những sai số do biến dạng về chiều dài, góc phương hướng, hình dạng và diện tích của các yếu tố trên mặt đất khi biểu diễn trên bản đồ. Ngoài ra, cơ sở toán học của bản đồ còn bao gồm cả những quy định riêng về tỷ lệ thu nhỏthực địa thống nhất trên toàn phạm vi đo vẽ và biểu thị trên bản đồ, kích thước khung bản đồhệ thống phân mảnh ghép biên nhiều mảnh bản đồ khi biểu diễn khu vực thực địa rộng lớn trên bản đồ.

    Nguyên tắc khái quát hoá và tổng hợp hoá là một hệ thống những quy định về nội dung cần thiết và phương pháp biểu thị đồ hoạ các yếu tố nội dung đó trên bản đồ tuỳ theo tỷ lệ bản đồ cần thành lập. Những nguyên tắc này quy định mức độ chi tiết cần phải biểu thị hiện trạng mặt đất trên bản đồ, loại bỏ những yếu tố không đặc trưng, tương ứng với mỗi loại tỷ lệ bản đồ, vì vậy người ta còn dùng thuật ngữ "nguyên tắc lấy, bỏ” để  diễn đạt tính chất biểu thị hiện trạng có chọn lựa theo những nguyên tắc thống nhất của bản đồ.

    Một đặc điểm quan trọng phân biệt bản đồ với một tấm ảnh "câm" chụp thực địa là các yếu tố nội dung của bản đồ được thể hiện theo một hệ thống ký hiệu bản đồ và bảng ghi chú,  chú giải thống nhất. Người ta nói,  hệ thống ký hiệu và bảng chú giải của bản đồ là "ngôn ngữ của bản đồ" giới thiệu và phản ánh trực quan những thông tin về định lượng và thuộc tính của các loại đối tượng  tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực đo vẽ bản đồ. Hệ thống ký hiệu bản đồ có tính chất đa dạng, không trùng lặp và thống nhất. Theo thể loại đối tượng đồ hoạ, có thể phân chia hệ thống các ký hiệu bản đồ làm ba loại : ký hiệu điểm, ký hiệu đường và ký hiệu vùng. Để làm phong phú thêm về thể loại ký hiệu và dung lượng thông tin, người ta có thể sử dụng kết hợp các loại ký hiệu điểm, đường, vùng  cùng với các phương pháp biểu thị thuộc tính bằng hình dạng, kích thước, mầu sắc, lực nét, chữ viết... để mô tả thông tin về đối tượng đã biểu thị.     

          Bằng công nghệ cũ bản đồ được biên tập và in trên các vật liệu phẳng, thông dụng nhất là trên giấy vẽ, diamat. Ngoài ra có thể in, vẽ trên mặt phẳng tấm kim loại, gỗ, vải và các vật liệu phẳng khác.

     Ngày nay, ứng dụng công nghệ điện tử tin học thông tin bản đồ được số hoá và lưu trữ bằng máy tính điện tử trong các cơ sở dữ liệu (CSDL) trị đo và CSDL đồ hoạ bao gồm cả thư viện các ký hiệu bản đồ. Hệ thống thông tin bản đồ được chuẩn hoá bằng một hệ thống quy định kỹ thuật chặt chẽ và thống nhất về nội dung và chất

    lượng dữ liệu, về tổ chức dữ liệu và về phương pháp hiển thị dữ liệu đối với các tỷ lệ và thể loại bản đồ. Thông tin bản đồ được lưu trữ, bảo quản và vận chuyển trong các thiết bị ghi lưu dữ liệu như sổ ghi điện tử, đĩa mềm, đĩa CD, Card từ, ổ cứng của máy tính... có khả năng đọc và hiển thị trên máy tính hoặc in ra trên giấy bằng các phần mềm chuyên dụng.

    1.2.2       Kh¸i niÖm chung vÒ b¶n ®å ®Þa chÝnh

    Bản đồ địa chính dạng số hoá hoặc được trên các vật liệu như giấy, diamat là bản đồ chuyên ngành quản lý đất đai, biểu thị hệ thống các thửa đất của từng chủ sử dụng và các yếu tố nội dung thuộc tính khác được quy định cụ thể theo quy định của quy phạm kỹ thuật, pháp luật và theo yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai. Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.

    Đo đạc thành lập bản đồ địa chính: là quá trình điều tra, khảo sát thu thập các thông tin mặt đất, xử lý các thông tin thu được để thành lập bản đồ phục vụ các mục đích quản lý và khai thác sử dụng đất đai.            

                Bản đồ địa chính là bộ phận quan trọng trong bộ Hồ sơ địa chính để xác định vị trí, hình thể và cung cấp số liệu cho việc tính toán diện tích trong công tác đăng ký đất đai, lập Sổ địa chính, cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Bản đồ địa chính còn là tài liệu quan trọng phục vụ thống kê đất, lập Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, thực hiện giao đất, thu hồi đất cũng như thanh tra giải quyết tranh chấp đất đai.

          Trong quy phạm phân biệt các thể loại bản đồ địa chính như sau:

          Bản đồ địa chính cơ sởlà tên gọi chung cho bản đồ gốc được đo vẽ bằng các phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa, đo vẽ bằng các phương pháp có sử dụng ảnh chụp từ máy bay kết hợp với đo vẽ bổ sung ở thực địa hay được thành lập trên cơ sở biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ đã có . Bản đồ địa chính cơ sở được đo vẽ kín ranh giới hành chính và kín khung, mảnh bản đồ .

          Bản đồ địa chính cơ sở là tài liệu cơ bản để biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổ sung thành bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cấp xã phường ,thị trấn được lập phủ kín một hay một số đơn vị hành chính các cấp xã, huyện,tỉnh; để thể hiện hiện trạng vị trí, diện tích ,hình thể của các ô , thửa có tính ổn định lâu dài, dễ xác định ở thực địa của một hoặc một số thửa đất có lọai đất theo chỉ tiêu thống kê khác nhau hoặc cùng một chỉ tiêu thống kê .

          Bản đồ địa chính là tên gọi cho bản đồ được biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa chính cơ sở theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn ( cấp xã ); được đo vẽ bổ xung đến trọn mỗi thửa đất, xác định lọai đất của mỗi thửa theo chỉ tiêu thống kê

    của từng chủ sử dụng trong mỗi mảnh bản đồ và được hòan chỉnh phù hợp với các số liệu trong Hồ sơ địa chính.

          Bản đồ địa chính được lập cho từng đơn vị hành chính cấp xã, là tài liệu quan trọng của hồ sơ địa chính;trên bản đồ phải thể hiện vị trí, hình thể. diện tích, số thửa và lọai đất của từng thửa theo từng chủ hoặc đồng chủ sử dụng (trong quy phạm gọi chung là chủ sử dụng); đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai của nhà nước ở tất cả các cấp xã huyện tỉnh và trung ương .

          Mảnh bản đồ trích đo(gọi chung là mảnh hoặc bản trích đo) là tên gọi cho bản vẽ có tỷ lệ lớn hơn hoặc nhỏ hơn tỷ lệ bản đồ địa chính cơ sở, bản đồ địa chính, trên đó thể hiện chi tiết từng thửa đất trong các ô thửa có tính ổn định lâu dài hoặc thể hiện các chi tiết theo yêu cầu quản lý đất đai .

          Thửa đấtlà tên gọi của phạm vi trong ranh giới sử dụng đất của từng chủ sử dụng và phải tồn tại và xác định được trên thực địa về vị trí, hình thể, diện tích. Trong mỗi thửa đất của từng chủ sử dụng có thể có một hoặc một số lọai đất. Trên bản đồ địa chính tất cả các thửa đất đều được xác định vị trí, ranh giới, hình thể, diện tích, lọai đất dưới dạng hình khép kín và được đánh số thứ tự. Các trường hợp do thửa qúa nhỏ không đủ chỗ để ghi chú số thứ tự, diện tích, lọai đất thì được lập bản trích đo hoặc thể hiện ở bảng ghi chú ngòai khung bản đồ .

    1.2.3       Nội dung của bản đồ địa chính          

    Nội dung của Bản đồ địa chính thể hiện những đối tượng sau đây:

                + Các điểm khống chế tọa độ và độ cao Nhà nước các cấp hạng, các điểm khống chế tăng dày, các điểm địa giới hành chính các cấp, các điểm giao của lưới toạ độ.

    + Đưòng ranh giới hành chính các cấp.

    + Ranh giới sử dụng đất: thể hiện ranh giới các thửa đất và các công trình xây dựng trên đất. Thửa đất được biểu thị trên Bản đồ địa chính dạng đường liền nét khép kín với các các ghi chú nội dung: số thửa, loại đất, diện tích.

                + Các điểm địa vật quan trọng.

                + Hệ thống giao thông, thủy lợi.

    + Ghi chú địa danh và ghi chú giải thích, gồm:

                - Tỷ lệ bản đồ, số hiệu tờ bản đồ, sơ đồ ghép mảnh bản đồ.

                - Chữ ký người biên vẽ, người kiểm tra và cán bộ Địa chính xã.

                - Chữ ký xác nhận và dấu xác nhận của UBND xã.

                -Chữ ký duyệt và dấu của cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh

    1.2.4       Mục đích thành lập bản đồ địa chính

    Bản đồ địa chính được thành lập nhằm những mục đích sau:

    -Làm cơ sở để thành lập Hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải quyết tranh chấp đất đai.

    - Biểu thị hiện trạng và thể hiện các biến động về địa giới hành chính các cấp.

    - Biểu thị hiện trạng và thể hiện những biến động của các loại đất trong từng đơn vị hành chính.

    - Làm cơ sở để thống kê quỹ đất, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, thu hồi đất.

    - Làm cơ sở để phân hạng, định giá đất.

    - Làm cơ sở để quy hoạch thiết kế xây dựng các công trình trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế quốc dân và quốc phòng.

    Như vậy, bản đồ địa chính có vai trò quan trọng trong quản lý đất đai chi tiết đến từng thửa đất, là cơ sở pháp lý về hiện trạng và số liệu của hồ sơ địa chính, là cơ sở để để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, đánh giá về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội và mối quan hệ với các yếu tố địa lý khác của khu vực.

    Đo vẽ thành lập bản đồ địa chính chiếm một vị trí quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất, hoạch định chính sách pháp luật đất đai, điều chỉnh pháp luật đất đai một cách hợp lý và toàn diện.

    2.      Cơ sở pháp lý thành lập bản đồ địa chính

    -         Căn cứ vào luật đất đai công bố vòa ngày 20 tháng 7 năm 1993.

    -         Căn cứ vào luật sữa đổi bổ sung một số điều của luật đất đai công bố vào ngày 11 tháng 12 năm 1988.

    -         Căn cứ nghị định 34/CP ngày 23/4/1994 của chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạng và thổ chức bộ máy của tổng cục địa chính.

    -         Căn cứ vào luât đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003.

    -         Căn cứ vào nghị định số 181/2004NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của chính phủ về thi hành luật đất đai.Nghi định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007.

    -         Căn cứ vào nghi định số 91/2002/NĐ-CP ngà 11 tháng 11 năm 2002 của chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức cảu bộ tài nguyên môi trường.

    3.      MicroStation.


    MicroStation là một phần mềm trợ giúp thiết kế (CAD) và là môi trường đồ hoạ rất mạnh cho phép xây dựng, quản lý các đối tượng đồ hoạ thể hiện các yếu tố bản đồ. MicroStation còn được sử dụng để làm nền cho các ứng dụng khác như Geovec, Irasb, MSFC, Mrfclean, Mrfflag chạy trên đó.

    Các công cụ của MicroStation được sử dụng để  số hoá các đối tượng trên nền ảnh (Raster), sửa chữa, biên tập dữ liệu và trình bày bản đồ.

    MicroStation còn cung cấp công cụ nhập, xuất (import, export) dữ liệu đồ họa từ các phần mềm khác qua các file (.dxf) hoặc (.dwg).

    4.      Irasb

    Là phần mềm  hiển thị  và biên tập dữ liệu raster dưới dạng các ảnh đen trắng (black and white image) và được  chạy  trên  nền  của MicroStation. Mặc  dù  dữ liệu của Irasbvà MicroStation được thể hiện trên cùng màn hình nhưng nó hoàn toàn độc lập với nhau. Nghĩa là việc thay đổi dữ liệu phần này không ảnh hưởng đến dữ liệu phần kia.

    Ngoài việc sử dụng Irasb để hiển thị các file ảnh bản đồ phục vụ cho quá trình số hoá trên ảnh, công cụ warp của Irasb được sử dụng để nắn các file ảnh raster từ toạ độ hàng cột của các pixcel về tọa độ thực của bản đồ.

    5.      Geovec

    Geovec là một phần mềm chạy trên nền của MicroStation cung cấp các công cụ số hoá bán tự động các đối tượng trên nền ảnh đen trắng (binary) với định dạng của Intergraph. Mỗi một đối tượng số hoá bằng Geovec phải được định nghĩa trước các thông số đồ  hoạ  về  màu sắc, lớp  thông tin, khi  đó  đối  tượng  này được  gọi là một feature. Mỗi một feature có một tên gọi và mã số riêng.

    Trong quá trình số hoá các đối tượng bản đồ, Geovec được dùng nhiều trong việc số hoá các đối tượng dạng đường.

    6.      Famis

    Phần mềm tích hợp cho đo vẻ và bản đồ địa chính (Field Work and cadastral Mapping intergrated Software-Famis) là một phần mềm nằm trong hệ thống phần mềm chuẩn nhất trong ngành địa chính phục vụ lập bản đồ và hồ sơ địa chính.

    Famis có khả năng sử lý số liệu đo ngoại nghiệp, xây dựng, xử lý và quản lý bản đồ địa chính số. Phần mềm đảm nhận công đoạn từ sau khi vẻ ngoại nghiệp cho đến hoàn chỉnh một hệ thống bản đồ địa chính số. Cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính kết hợp với cơ sở dữ liệu Hồ Sơ địa chính để thành một cơ sở dữ liệu về bản đồ và hồ sỏ địa chính hoàn chỉnh thống nhất. Phần mềm tuân theo qui định của luật đất đai 2003 hiện hành.

    Famis tích hợp với phần mềm GCN2006 là phần mềm phục vụ in giấy chứng nhaannj quyền sử dụng đất, lập và quản lý bộ hồ sơ địa chính.


    Các chức năng của Famis

    Ø     Chức năng làm việc với số liệu đo đạc mặt đất.

    Ø     Chức năng làm việc với bản đồ địa chính.

    7.      Máy Toàn đạc

    Máy toàn đạc điện tử theo tên gọi (têntiếng Anh: Total station) là một loại máy được phát triển lên từ máy máy kinh vĩ điện tử. Với việc có gắn thêm bộ phận đo cạnh và bộ thiết bị CPU xử lý dữ liệu đo: góc, cạnh tạo nên một chiếc máy đa năng trong lĩnh vực đo đạc. Nên có tên là máy toàn đạc.


    CHƯƠNG II – PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

    1.      Phương Tiện

    Để thực hiện công việc đo vẽ để thành lập bản đồ hiện trạng khu vực Khoa Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên, cần những phương tiện sau:

    ·        Tài liệu tham khảo: Các quy định hướng dẫn đo vẽ bản đồ; tài liệu hướng dẫn quy trình thành lập bản đồ địa chính; tài liệu hướng dẫn sử dụng máy toàn đạc và các dụng cụ liên quan; tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm Microstation, cũng như các phần mềm có liên quan; các tài liệu khác có liên quan.

    ·        Máy móc và các dụng cụ cần thiết:

    Ø     Laptop, các phần mềm chuyên nghành quản lý Đất Đai như :Microstation SE, Famis 2003,IRACB,GEOVEC Adobe acrobat, Notepad, Excel.

    Ø     Viết, thước, tập để ghi chép.

    Ø     Máy toàn đạc điện tử và các phụ kiện đi kèm.

    2.      Phương Pháp

    Bước 1: Tham khảo tài liệu và chỉ dẫn của thầy trên lớp cũng như lúc đo.

    Bước 2: Tiến hành đo vẽ trực tiếp.

    Bước 3: Nhập,Xử lý số liệu trên các phần mềm liên quan và hoàn chỉnh bản đồ.

               QUY TRÌNH CHI TIẾT ĐO VẼ BẢN ĐỒ:


    3.      Đo chi tiết ngoài thực địa


    Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết cho công việc đo : máy toàn đạc điện tử và phụ kiện đi kèm ; viết ; thước ; tập ghi chép ; bản đồ tự vẽ sơ bộ về khu cần đo.

    Bước 1 : Chuẩn bị 

    Tọa độ điểm đặt máy và đặt mia (tọa độ cho trước).

    Đặt chân máy vào trạm đo sao cho đế đặt máy đúng vào điểm đặt máy định trước.

    Lắp máy vào chân máy và điều chỉnh tâm máy bằng cách nhìn vào ống kính dọi tâm quang học để định vị.

    Cân bằng máy sao cho bọt thủy tròn và bọt thủy dài nằm ở trong tâm.

    Nhấn vào nút power để khởi động máy đồng thời kiểm tra mức pin của máy và xem trên màn hình có hiện chữ still over không? Nếu có thì cần cân lại máy.

    Bước 2: Nhập những thông số cần thiết:

    Sau khi khởi động máy và không xuất hiện dòng chữ still over thì ta tiến hành nhập những thông số sau:

    Đặt mia vào vị trí cần đo.

    Nhập tọa độ điểm đặt máy: nhấn vào P1-OCC-INPUT nhập tọa độ N – ENTER, sau đó nhấn INPUT nhập tọa độ E – ENTER..

    Hướng máy về mia cho máy bắt đúng tâm mia tiến hành khóa bàn độ đứng và ngang.

    Nhấn vào OSET -YES- HOLD-YES,tiếp theo nhập góc  00^00’00” :

    Bước 3: Đo chi tiết

    Sau khi tiến hành nhập tọa độ trạm đo, giữ góc ta bắt đầu đo chi tiết cho khu đo như sau:

    Đặt mia vào vị trí cần đo

    Hướng máy vào mia, ngắm ký hiệu tam giác trắng trên máy đến khi thấy màu trắng trong tam giác máy.

    Khi đã thấy màu trắng trong tam giác tiếp theo ngắm vào ống nhòm máy đến khi thấy chữ thập đen trong máy trùng với tâm gương thì tiến hành khóa bàn độ đứng và bàn độ ngang. Nếu dấu chữ thập giữa kính và tâm mia sai lệch đôi chút có thể chỉnh bằng ốc vi động bàn độ đứng và ốc vi động bàn độ ngang cho chúng trùng nhau.

    Khi dấu chữ thập trong kính trùng vơi tâm mia thì ta tiến hành ghi nhận những thông tin cần thiết của điểm đo:

    Lấy tọa độ thì nhấn vào phím có ký hiệu tọa độ và nhấn vào measue  rồi ghi lại giá trị hiển thị ở 2 dòng đầu.


    Lấy khoảng cách thì nhấn vào phím có ký hiệu hình tam giác và nhấn vào measue  rồi ghi giá trị hiển thị ở dòng thứ 2

    Lấy góc thì nhấn vào phím có ký hiệu ANG và nhấn vào measue  rồi ghi lại giá trị hiển thị ở dòng thứ 2 hoặc nhấn vào ký hiệu tam giác 2 lần

    Cứ như thế ta đo cho cả khu đo.

    Trường hợp các vị trí đo bị che khuất các vật thể (cây cối, nhà,….) không thể đo thì tiến hành dẩn đường truyền (lấy cọc phụ)

    Chọn vị trí cọc phụ thích hợp (Có thể đo được nhiều điểm trong khu đo, không cản trở giao thông, không hướng về phía mặt trời…) và đánh dấu vị trí cọc phụ lại.

    Sau khi chọn vị trí cọc phụ, ta tiến hành đo và ghi nhận những thông số từ cọc phụ như những điểm đo bình thường. Đó là: góc, tọa độ và khoảng cách.

    Sau khi ghi nhận những thông số từ cọc phụ. Ta tiến hành dời máy về cọc phụ và đặt mia vào điểm đặt máy (điểm đặt máy lấy cọc phụ) đặt góc ngang từ máy về mia bằng 00^00’00”  như bước 1, bước 2 và tiến hành đo các điểm còn lại trong khu,nếu khuất nhiều điểm ta có thể tiến hành đặt nhiều cọc phụ trong khu đo.

    Sau bước này chúng ta sẽ có được thông tin (Góc, khoảng cách, tọa độ) về toàn bộ điểm đo của khu đo.

    4. Xử lý số liệu và hoàn thành bản đồ

    Sau khi tiến hành đo chi tiết ngoài thực địa ta tiến hành đưa dữ liệu lên máy tính và xử lý thành lập bản đồ hoàn chỉnh.

     Bước 1: Nhập tọa độ vào file Notepad. Cách nhập như sau:

    TR KV1 (Điểm đặt mia) Tọa độ X của mia, Tọa độ Y của mia

    TR KV2 (Điểm dặt máy) Tọa độ X của máy, Tọa độ Y của máy

    DKD KV2

    1    Góc   Khoảng cách

    2    Góc   Khoảng cách

    Tương tự cho những điểm còn lại

    Khi các điểm cần đo còn lại bị khuất thì ta dẫn đường truyền

    CP1 Góc  Khoảng cách

    TR   CP1  Tọa độ X của cọc phụ, Tọa độ Y của cọc phụ

    DKD KV1

    KV1 00000’00”  59.720 (Khoảng cách từ máy tới cọc phụ)


    3    Góc  Khoảng cách

    4    Góc  Khoảng cách

    Tương tự như trên nhập tất cả các điểm trong khu đo.

    Sau khi nhập tất cả các điểm trong khu đo vào file Notepad ta lưu lại chọn định dạng là file *.ASC

     Bước 2: Đưa dữ liệu lên phần mềm Microstation và các công cụ hỗ trợ để xử lý:

    Tạo file Design và xóa 4 điểm khống chế:

    *       Chạy Microstation

    *       Chọn File / New / Đặt tên / Select / Seed bd.dgn / Ok / Ok / Ok.

    *       Lúc này xuất hiện một file design mới chọn Fix view và Edit / Select alls / Delete.


    C:UsersAsusPicturesa.png

    Chạy Famis và Active cell

    *       Chạy Famis: Vào Utilities / MDL Application / Browser / Famis.ma / Ok. Lúc này sẽ xuất hiện một thanh menu của phần mềm Famis.

    *       Active cell: Vào Element / Cells / File / Attach / Kyhieudc.cel / Ok. Chọn cell là KT5 và chọn vào 4 ô bên dưới.

    *       Click vào biểu tượng Place active cell trong thanh main.

    C:UsersAsusPicturess.png

    Đưa dữ liêu từ file Notepad vào:

    *     Trong thanh menu của Famis chọn Cơ sở dữ liệu trị đo / Nạp phần xử lý trị đo

    *     Chọn lại Cơ sở dữ liệu tri đo / Nhập số liệu / Import / Chọn định dạng là *.ASC và chọn đường dẫn file Notepad mới nhập ở trên và mở lên.

    *     Hiển thị điểm đo lên: Vào Cơ sở dữ liệu tri đo / Hiển thị/ Tạo mô tả trị đo / Chọn phần số hiệu.

    C:UsersAsusPicturesd.png

    C:UsersAsusPicturesq.png

    Nối các điểm trong khu đo lại:

    *       Để nối các điểm đo lại ta vào Cơ sở dữ liệu trị đo/ Xử lý tính toán/ Nối điểm.

    C:UsersAsusPicturesf.png

    Hoàn chỉnh bản đồ và in bản đồ:

    *       Tạo nhãn

    *       Tạo khung:

    v  Tạo Fence: Chọn biểu tượng Place fence vẽ bao quanh bản đồ.

    v  Vào Cơ sơ dữ liệu bản đồ / Bản đồ địa chính / Tạo khung bản đồ.

    v  Chỉnh tỷ lệ lại là 1 : 500 và nhập những thông tin cần thiết.

    v  Click vào FenceVẽ khung. Lúc này bản đồ đã được vẽ khung.

    C:UsersAsusPicturesO.png

    C:UsersAsusPicturesư.png

    *       In bản đồ:

    v  Vào File / Print (Plot) và điều chỉnh những thông số và tiến hành in bản đồ.

    Sau bước này ta sẽ có được một bản đồ hoàn chỉnh của khu đo. Được định dạng ở dạng file PDF.

    C:UsersAsusPicturesss.png


    CHƯƠNG IIIKẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

      Sau hơn năm ngày đo đạc ngoài thực địa hết sức nghiêm túc, cố gắng của nhóm và được Thầy hướng dẫn nhiệt tình trong quá trình đo cũng như trong việc xử lý hoàn thiện bản đồ (Nội nghiệp). Cuối cùng nhóm cũng đã hoàn thành được “Bản đồ Khoa Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên” cùng với bảng “Thống kê diện tích các đối tượng trong khu vực”

    Tổng cộng có : 6 cột phụ, 98 điểm đo chi tiết.


    CHƯƠNG IVKẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:

    1.      KẾT LUẬN:

    Về máy toàn đạc:

    Ưu điểm

    *   Qua công tác đo vẽ bản đồ bằng máy toàn đạc điện tử cho thấy được việc ứng dụng máy toàn đạc trong những khu vực nhỏ sẽ tiết kiệm được thời gian, đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu có nhiều tính năng vượt trội như:

    *   Các giá trị đo góc, đo cạnh được hiển thị trực tiếp lên màn hình.

    *   Tầm tương đối.

    *   Độ phóng đại lớn, khoảng 30 lần.

    *   Bộ nhớ trong lưu dữ liệu trực tiếp. Từ đó trút dữ liệu trực tiếp vào máy tính, vào các phần mềm Famis, SDR,…cho phép vẽ tự động, đồng thời tránh được lỗi do người ghi số liệu.

    *   Pin máy hoạt động trong thời gian dài: khoảng 10 giờ đối với đo góc và cạnh, 45 giờ khi chỉ đo góc.

    Về phần mềm Microstation:

    *   Microstation là phần mềm của hãng INTERGRAPH của Mỹ.Nó là phần mềm trợ giúp thiết kế (CAD) và là môi trường đồ họa rất mạnh cho phép xây dựng, quản lý các đối tượng đồ họa thể hiện các yếu tố bản đồ.

    *   Microstation còn được sử dụng để làm nền cho các ứng dụng khác như: Geovec, Irasb, MSFC, MRFCLEAN, MRFFLAG chạy trên nó tạo nên một bộ các công cụ mạnh và linh hoạt phục vụ cho việc thu thập và xử lý các đối tượng đồ họa.

    *   Thông qua trình xử lý nội nghiệp bằng phần mềm Microstation ta thấy phần mềm này ứng dụng rất nhiều và tốt trong việc lưu trữ, cập nhập, truy xuất thông tin trên bản đồ thể hiện qua các điểm sau:

    v    Có khả năng tạo bản đồ từ ảnh được scan lên từ bản đồ giấy.

    v    Có khả năng liên kết giữa các số liệu hình học và phi hình học lại với nhau.

    v    Số liệu lưu trữ gọn nhẹ và được truy xuất dễ dàng qua các phần mềm khác như Mapinfo.., cập nhật dữ liệu thuộc tính dễ dàng.

    v   Các thông tin được tạo ra thành từng lớp riêng từ đó có thể chồng lắp bản đồ theo đúng mục đích cần sử dụng khác nhau.

    v   Có thể xuất ra nhiều dạng file như PDF, XPS, ONENOTE thuận tiện cho việc lưu trữ dữ liệu.

    v   Bản đồ tạo ra có độ chính xác cao

    Tóm lại máy toàn đạc điện tử và “Phần mềm Microstation” hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong công tác đo vẽ bản đồ tỷ lệ nhỏ và tỷ lệ lớn. Vì vậy yêu cầu sinh viên ngành Quản lí đất đai khi ra trường phục vụ trong cơ quan nhà nước, cũng như các công ty tư vấn địa ốc phải nắm vững những kiến thức cơ bản về lĩnh vực này để có thể vận dụng tùy theo điều kiện thực tế của địa phương nơi mình công tác và làm việc.

    Nhược điểm

    Máy còn gặp khó khăn trong việc cân bằng bọt thủy dài nên việc đo đạc vẫn còn sai số.

    Địa hình trong khoa vẫn còn khuất nhiều điểm nên gặp khó khăn trong đo đạc,phải dẫn nhiều cọc phụ.

    Phía phần mềm,việc truy xuất bản đồ để in ra vẫn còn nhiều hạn chế trong việc cho phép chỉnh sửa bên cạnh đó phần mềm famis vẫn còn bị lỗi font ở một số máy gây khó khăn cho việc nhập hoặc chỉnh sửa bản đồ.

    2.      KIẾN NGHỊ:

    Trong quá trình đo vẽ thành lập bản đồ hiện trạng Khoa Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên nhóm cũng gặp không ít khó khăn cũng như trở ngại về mặt chủ quan cũng như khách quan. Và sau đây là kiến nghị để các lần học sau hoàn thiện và ít sai sót hơn trong quá trình đo vẽ chi tiết:

       Trong quá trình đo:

    Cần vẽ bản đồ phác thảo khu đo trước khi đo đạc và nhấn mạnh những điểm dễ sai số nhất.

    Sinh viên cần tham khảo tài liệu và học hỏi ở các nhóm thực tập trước để dễ dàng thực hiện đo vẽ chi tiết.

    Cẩn thận và nghiêm túc trong quá trình đo đạc trực tiếp, ghi lại số liệu và nhập số liệu vào phần mềm để xử lý. Tránh đùa giỡn trong quá trình đo. Điều này giúp bảo quản máy tốt và hạn chế sai số.

    Các nghành chức năng cũng như cơ sở đào tạo nghành quản lý đất đai cần quan tâm hơn nữa về việc hoàn thiện công cụ xuất file trên phần mềm Microstation nhằm đảm bảo việc chỉnh sửa dữ liệu được tốt hơn.

    CHƯƠNG VTài liệu tham khảo

    1.    ThS. Trần Văn Hùng – ThS. Trương Trí Quang, 2006. Giáo trình Hệ thống quản lý thông tin đất đai.

    2.    CN. Đặng Thị Liên, 2000. Số hóa và biên tập bản đồ số - Sử dụng phần mềm Microstation. Nhà xuất bản Hà Nội.

    3.    PGS.TS Nguyễn Trọng San, 2006. Giáo trình Đo đạc địa chính. Nhà xuất bản Hà Nội.

    4.    Hướng dẫn sử dụng Máy toàn đạc điện tử series-GTS-230N GPT-3000N/LT GTS-105Ncủa công ty Cổ Phần Thiết Bị Thắng Lợi.

    BÀI PHÚC TRÌNH ĐO ĐẠC ĐỊA CHÍNH