trang Blog

Hoàng Anh TuấnTham gia: 02/04/2009
  • NHẬN DIỆN THÀNH NGỮ TỤC NGỮ
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    NHẬN DIỆN THÀNH NGỮ TỤC NGỮ

    1. Hầu hết các từ điển tục ngữ (TN) hiện có ở ta đều gộp chung TN với thành ngữ (ThN) vào làm một rồi xử lí (*). Lẽ nào “ranh giới” giữa hai thứ đơn vị ngôn từ đó lại “mong manh” đến như vậy? (Lê Xuân Mậu 2002). Hay “ngay tự khởi nguồn đã có sự bất phân rồi”? (Lê Xuân Mậu 2003: 33).

    Để trả lời thoả đáng hai câu hỏi đó, có lẽ chúng ta nên điểm lại những cố gắng nhằm phân biệt TN với ThN từng được đưa ra từ trước tới nay.

    2. Người đầu tiên cảm thấy cần phân biệt TN với ThN là nhà học giả Dương Quảng Hàm. Trong Việt Nam văn học sử yếu, ông cho rằng: “Một câu TN tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn ThN chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” (Dương Quảng Hàm 1943: 15).

    Ra đời vào những năm ngành ngữ học nước nhà chưa mấy phát triển, cách nhận diện TN và ThN của nhà học giả khả kính này rõ ràng còn có chỗ chưa thật rõ. Chính vì vậy mà Vũ Ngọc Phan đã không lấy gì là tâm đắc lắm với giải pháp đó và đã định nghĩa lại như sau trong bộ Tục ngữ – ca dao – dân ca của ông: “TN là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn ThN chỉ là một phần câu sẵn có, một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” (Vũ Ngọc Phan 1971: 31).

    Tiếc thay, cả định nghĩa này nữa vẫn chưa hé mở cho chúng ta một viễn cảnh nào sáng sủa cả, nhất là khi đem vận dụng vào thực tiễn (như tuyển chọn TN cho các bộ sưu tập, chẳng hạn). Bởi vậy, ngay sau ngày tạp chí Ngôn ngữ ra đời (từ 1969), nhiều chuyên gia về tiếng Việt đã phải lần lượt lên tiếng với hi vọng đưa ra một giải pháp hữu hiệu hơn.

    Tiếng nói đầu tiên trên Ngôn ngữ về đề tài đó là của nhà giáo Nguyễn Văn Mệnh. Theo ông, “về hình thức ngữ pháp, mỗi ThN chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu […]. TN thì khác hẳn. Mỗi TN tối thiểu phải là một câu” (Nguyễn Văn Mệnh 1972: 13).

    Giải pháp này bị Cù Đình Tú, một chuyên gia về phong cách học, bài bác, cho là “chưa thật xác đáng”, vì chỉ “dựa vào nội dung lô gích” [!?] để chỉ ra và giải thích sự khác nhau giữa hai thứ đơn vị đó; trong khi “sự khác nhau cơ bản giữa ThN và TN là sự khác nhau về chức năng”. “ThN là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh”; còn “TN […] có chức năng khác hẳn”, đảm nhiệm phận sự “thông báo: […] thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy, mỗi TN đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng […]” (Cù Đình Tú 1973: 41).

    Đáng buồn là cả giải pháp này nữa cũng chưa giúp ích được bao nhiêu cho việc sàng lọc các đơn vị cụ thể. Có lẽ chính vì thế mà chất lượng các bộ sưu tập TN ra đời sau Tục ngữ Phong dao (1928) của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc đến gần nửa thế kỉ, như Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên – Lương Văn Đang – Phương Tri (1975) chẳng hạn, vẫn chưa được người đọc đánh giá cao.

    "Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ"

    3. Thực trạng đáng suy nghĩ này rõ ràng chỉ là hậu quả khó tránh của việc những tác giả đi sau chỉ “cải biến” chút đỉnh quan niệm của nhà học giả Dương Quảng Hàm. Thật vậy, như tất cả chúng ta đều biết, chức năng chính của “cụm từ” là định danh; còn chức năng chính của câu là thông báo. Và khi hình dung ThN là “cụm từ” và TN là câu, chắc ai trong số các tác giả vừa nhắc cũng đều ngầm hiểu phận sự của các đơn vị đó y hệt như Cù Đình Tú. Và sở dĩ họ không nói thẳng ra điều đó chung qui chỉ vì họ tự thấy không nhất thiết phải nhắc lại những tri thức cơ bản mà ai cũng đã biết rõ mười mươi. Nói khác đi, việc chúng ta chưa thể phân biệt được thật rạch ròi TN với ThN chẳng qua chỉ vì chúng ta chưa có được trong tay một dấu hiệu hình thức giúp nhận biết dễ dàng và mau lẹ đơn vị nào là câu, đơn vị nào không phải là câu, chứ không phải vì chúng ta lúng túng với việc định rõ chức năng của hai thứ đơn vị đang bàn.

    Và chẳng phải vô cớ mà đến tận bây giờ, gần 30 năm sau ngày Cù Đình Tú “hoàn tất” việc phân định ranh giới, chuyện phân biệt TN với ThN, đối với rất nhiều người, vẫn đang là vấn đề cần được làm rõ (xin x., chẳng hạn, Lê Xuân Mậu 2002 và 2003, Phạm Thuận Thành 2003).

    "Gà nhà bôi mặt đá nhau"

    Nhân đây, chúng tôi cũng xin mở ngoặc nói thêm: chúng tôi mạn phép không bàn đến ở đây một cách nhận diện nữa, cách của Chu Xuân Diên (1975),– một nhà khảo cứu văn chương dân gian dày dạn kinh nghiệm. Theo nhà khảo cứu này, hai thứ đơn vị đang xét vốn có một ranh giới “khá dễ xác định”: TN là những sản phẩm thuộc lĩnh vực “ý thức xã hội” ; còn ThN – thuộc “lĩnh vực ngôn ngữ”. Sở dĩ chúng tôi phải né tránh chuyện đó chung qui chỉ vì cho tới bây giờ chúng tôi vẫn chưa trả lời nổi câu hỏi vốn đậm màu sắc triết học: ngôn ngữ, – một hiện tượng xã hội đặc biệt” (như sách vở thường giảng), – có thuộc lĩnh vực “ý thức xã hội” hay không ?

    4. Tóm lại, biện pháp tiện dụng và hữu hiệu hơn cả để nhận diện TN chính là phải xác định xem cái đơn vị ngôn từ cần nhận diện ấy có phải là câu hay không. Bởi lẽ phàm đã là TN thì đơn vị nào cũng phải được lập thức dưới dạng câu, như Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) từng nêu rõ: Tục ngữ là những câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết những tri thức, những kinh nghiệm sống và đạo đức mà nhân dân đã chắt lọc được từ thực tiễn.

    Tuy nhiên, việc làm sáng tỏ vấn đề đơn vị nào là câu (hay đơn vị nào không phải là câu) là đề tài của một bài viết khác, mà chúng tôi hứa sẽ bàn đến vào một dịp khác.

    NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG

    (*) Chẳng hạn, Nguyễn Lân (1989). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hoá; Vũ Dung – Vũ Thuý Anh – Vũ Quang Hào (1993). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Giáo dục; Việt Chương (1995). Từ điển thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam, 2 tập, Nxb Đồng Nai; v.v...

    TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

    - Chu Xuân Diên – Lương văn Đang & Phương Tri 1975. Tục ngữ Việt Nam. Nxb. KHXH, Hà Nội.

    - Dương Quảng Hàm 1951 [1943]. Việt Nam Văn học sử yếu, in lần thứ hai. Hà Nội.

    - Hoàng Văn Hành (chủ biên) 1988. Kể chuyện ThN – TN. Nxb. KHXH. Hà Nội.

    - Lê Xuân Mậu 2002. Ranh giới mong manh. Ngôn ngữ & Đời sống, số 7 (81).

    - Lê Xuân Mậu 2003. Bàn thêm về ThN, TN. Ngôn ngữ & Đời sống, số 5 (91).

    - Nguyễn Văn Mệnh 1972. Ranh giới giữa ThN và TN. Ngôn ngữ, số 3.

    - Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc 1928. Tục ngữ – phong dao, tập 1, Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản. Hà Nội.

    - Vũ Ngọc Phan 1971. Tục ngữ – ca dao – dân ca, in lần thứ bảy, NXB. KHXH. Hà Nội.

    - Phạm Thuận Thành 2003. Bàn thêm về ranh giới ThN – TN. Ngôn ngữ & Đời sống, số 1+2 (87+88).

    - Cù Đình Tú 1973. Góp ý kiến về việc phân biệt ThN với TN. Ngôn ngữ, số 2.

    NHẬN DIỆN THÀNH NGỮ TỤC NGỮ