trang Blog

Hương NgọcTham gia: 22/01/2010
  • Sự khác biệt cơ bản giữa đô thị và nông thôn
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Sự khác biệt cơ bản giữa đô thị và nông thôn

    Phân tích những khác biệt cơ bản giữa đô thị và nông thôn từ đó phân tích nhưng bất cập trong QLNN về đô thị và nông thôn.

    Sau khi từ bỏ cuộc sống du canh du cư, con người định cư trong các điểm dân cư tập trung như làng, bản, ấp…gọi chung là điểm dân cư nông thôn, do biết khai thác thiên nhiên mà sản phẩm lương thực ngày càng dư thừa so với nhu cầu nên xuất hiện nhừng người tách ra khỏi SX nông nghiệp để thực hiện trao đổi hàng hóa. Do nhu cầu cuộc sống ngày càng đòi hỏi cao hơn, một bộ phận người khác nữa tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làm dịch vụ và quản lý XH, những người lao động này và gia đình của họ đã tập trung lại tại địa điểm thích hợp, thay đổi môi trường định cư thành các điểm dân cư mơí chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, đó là điểm dân cư đô thị.

    Vậy sự hình thành và phát triển các điểm dân cư đô thị là do sự phát triển của phân công lao động xã hội, là do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp.

    Có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị theo các góc độ tiếp cận, Khái niệm chung nhất cho rằng đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao. Đó là phong cách, lối sống thành thị, lối sống công nghiệp. 

    Dưới khía cạnh xã hội học đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau. Các nhà xã hội học đã đưa ra rất nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn. Sự phân chia đó có thể dựa trên cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ,... hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, gia đình.. hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay theo bình diện lãnh thỗ.

    Cũng có một số nhà quản lý lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và nông thôn theo sự khác biệt giữa chúng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Như về mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự khác biệt về lao động, nghề nghiệp, mức độ và cách thu nhập về dịch vụ, v.v... Về mặt xã hội thì đó là sự khác biệt trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở, v.v... Về mặt môi trường thì chủ yếu ở đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm, v.v...

    Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội. Vì vậy, trước hết đô thị và nông thôn cần được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

    Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng được chấp nhận, là việc coi đô thị và nông thôn như các hệ hệ thống xã hội được phân biệt dưới các đặc trưng cơ bản sau:

    + Về quy mô dân số: Quy mô dân số của đô thị lớn hơn, mật độ dân cư đông đúc hơn so với nông thôn. Ở nước ta theo quy định tại nghị định 72/2001/NĐ – CP ngày 5/10/2001 các đô thị chia thành 5 loại, lớn nhất là đô thị đặc biệt quy mô dân số từ 1,5 triệu trở lên, mật độ dân số 15.000 người/km2 trở lên, nhỏ nhất là đô thị loại 5, dân số từ 4.000 người trở lên, mật độ dân số từ 2.000ng/km2 trở lên. Hiện nay ở nước ta thủ đô HN và TPHCM là 2 đô thị đặc biệt có quy mô và mật độ dân số cao nhất. Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức, v.v... Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v...

    + Về cơ cấu lao động và  lĩnh vực sản xuất: chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần, v.v... Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

    + Về cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng ở đô thị nhiều và tốt hơn ở nông thôn

    + Về lối sống, văn hóa: thì đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng cho khu vực đô thị. Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,... đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,... ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống tách biệt nhau. Đây là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn. Chính đặc trưng này đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho ta phân biệt rõ  nét hơn giữa hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn.

    ** Phân tích những bất cập trong quản lý NN về đô thị và nông thôn:

    + QLNN về đô thị:

    -Cơ sở pháp lý còn thiếu cụ thể và không đồng bộ, rõ ràng trong phân cấp quản lý, đồng thời lại thiếu tính thống nhất giữa trung ương và địa phương, giữa các ban, ngành có khi lại cồng chéo, mâu thuẫn nhau.

    -Bộ máy QLNN về đô thị còn cồng kềnh, chuyển đổi chậm so với sự phát triển và nhu cầu quản lý kinh tế thị trường. Một phần lớn cán bộ công chức quản lý chưa vững nghiệp vụ và chuyên môn, một bộ không nhỏ còn thái hóa, biến chất

    -Chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan, ban, ngành cùng tham gia quản lý đô thị. Thực thi công tác quản lý còn chồng chéo để trống. đối lập nhau còn xẩy ra trong điều hành, trong thanh tra xử lý vi phạm. Còn nhiều biểu hiện dây dưa, đùn đẩy trách nhiệm.

    -Thủ tục hành chính còn phiền hà, cửa quyền, độc đoán tham nhũng đã hạn chế không nhỏ hiệu lực của công tác quản lý NN trong các đô thị.

    -Trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành luật còn yếu, thiếu tính thường xuyên liên tục và rộng rãi trong cộng đồng dân cư đô thị.

    + QLNN về nông thôn: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, việc ứng dụng khoa học công nghệ nhất là cây, con giống còn hạn chế, công nghiệp chế biến và ngành nghề thủ công kém phát triển, thị trường tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn, khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa yếu, lao động dư thừa nhiều, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông thôn và đời sống ở một số vùng còn rất thấp, quan hệ sản xuất nông thôn chậm đổi mới, tiềm năng to lớn về đất đai, rừng biển và lao động một số vùng còn chưa được khai thác có hiệu quả, đời sống một số bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Việc xây dựng nông thôn mới còn tiến hành tự phát, chưa có quy hoạch nên còn nhiều bất hợp lý, lãng phí đất đai vật liệu xây dựng. Mặc khác cũng còn trình trạng xây dựng lộn xộn, phong cách kiến trúc và cảnh quan chẳn có chất lượng, không những ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, ăn ở, nghỉ ngơi, đi lại, giao tiếp của nhân dân mà còn ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường.

    Hương Ngọc Blog

    Sự khác biệt cơ bản giữa đô thị và nông thôn