trang Blog

11 8 2010Tham gia: 10/10/2008
  • cach lam kiem nhat
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    cach lam kiem nhat

    II - Chế tác kiếm :

    a/ Công đoạn rèn kiếm :


    "Rèn kiếm là 1 nghệ thuật, và trong đó, ng` thợ rèn là người nghệ sỹ" - Trik unknown

    Rèn kiếm là 1 dạng truyền thống lâu đời ở Nhật, gắn liền với văn hóa xứ phù tang cũng như ikebana, bonsai, chado, etc .. ( khi na`o sẽ lập 1 vài topic về mấy cái na`y nếu thik ) cũng vì thanh kiếm ở Nhật không chỉ là một món đồ đem ra chém giết thuần túy, mà còn mang trong mình danh dự của chủ nhân nó, ng` võ sĩ đạo.
    Như đã giới thiệu ở phần trên, do có ảnh hưởng từ văn hóa Tàu, nên kiếm Nhật cũng dc chế tạo từ các loại quặng kim loại, ma` thông dụng la` sắt thép. Đây cũng la` nguyên liệu chủ yếu để chế tạo vũ khí, chắc ai cũng biết. Tuy nhiên, qua thời gian, ng` Nhật dần hoàn thành các tuyệt kỹ trong nghệ thuật chế tác kiếm, và đã vượt xa các cách chế tác kiếm của các nước # trên thế giới. Đó là do họ luôn vươn lên phấn đấu, tìm tòi, cần cù trong lao động sản xuất. Tìm ra được cách chế tác kiếm chuyên dụng khó hơn nhiều so với cách chế tác kiếm ở dạng phổ thông. SAu đây là các công đoạn rèn kiếm cụ thể :

    1/ Nguyên liệu :

    Từ rất lâu rồi, cái nôi của nghệ thuật làm kiếm - tỉnh shoshu đã biết pha chế hàm lượng carbon cũng như tạp chất trong thép tạo ra dc thép cứng mềm vừa ý, làm nguyên liệu chính trong rèn lưỡi kiếm. Các loại thép họ tạo ra, rèn dc những lưỡi kiếm sắc bén, ít mẻ. Họ cũng tiêu chuẩn hoá chiều dài và cải thiện mũi kiếm để khi kiếm bị gãy vẫn có thể mài lại, dùng dc tiếp. Tùy từng lựơng carbon dc pha với sắt, mà mỗi thanh kiếm tạo ra sẽ có 1 đặc tính # nhau.
    Nguyên liệu chính :
    Quặng oxit sắt dc nung trong lò và than củi. Các loại thép luyện thành dc gọi là Tamahagane, 1 loại thép tạp nham cùng với các lớp carbon nằm trộn ko đồng đều theo khía cạnh mật độ. Lượng carbon dc điều chỉnh sao cho có chỉ số hàm lượng phù hợp với từng kiểu kiếm, = phương pháp oxi hóa.

    2/ Công đoạn chế tác :

    Khi mà thép đã đạt dc tiêu chuẩn về hàm lượng carbon, chúng sẽ dc liên kết với nhau, để tạo thân kiếm. Các mảnh thép thủ công, dc gói = giấy, sau đó bọc trong một lớp đất sét dẻo trước khi đưa vào lò nung tiếp. Nung đến 1 nhiệt độ thik hợp, những mẩu thép sẽ dc kết dính với nhau = bàn tay của ng` thợ rèn qua những nhát búa mạnh. Lặp lại công đoạn trên nhiều lần. Thỉnh thoảng thép nóng lại dc vùi trong tro rơm cháy để chống lại quá trình oxi hóa carbon. Vì khj có quá nhiều carbon trong thép, gươm sẽ giòn và dễ gãy, carbon quá ít thì gươm sẽ dẻo, rất khó dùng, dù rất bén. Thời cận đại, họ còn chovào rơm một lượng nhỏ silicon, tan luôn trong thép luyện.
    Thép dc làm = cách nung nóng rồi lại dc ngâm trong nước để làm lạnh. Họ làm như vậy cho đến khi cấu trúc tinh thể của thép phải # đi. Sử dụng nước nóng lạnh. Nếu làm lạnh nhanh thì thép sẽ cứng. Một điều đặc biệt nữa là luyện thép phải làm vào ban đêm, để có thể quan sát được màu đỏ của sắt nung. Và 1 điều như vậy chứng tỏ mắt của người thợ rèn cũng phải rất tinh tường, ng` thợ rèn càng giàu kinh nghiệm bao nhiêu, khả năng quan sát vật thể càng tốt hơn bấy nhiêu. Có như thế mới duy trì đúng nhiệt độ phù hợp. Tôi luyện nhiều lần như vậy, thép dc dát mỏng, rồi lại thu thành cục dày nhiều lần. Lần cuối cùng người ta dát mỏng thành hình chữ U. 1 mẩu thép mềm dc đặt vào bên trong chữ U này, tạo nên độ đàn hồi tốt cho kiếm. Thanh thép này được nung thêm nhiều lần nữa và tạo thành hình một Sunobe ( dạng thô của Kanata ). Trong khi kiếm Tây chỉ là một bản thép rộng duy nhất, thi` kiếm Nhật bao gồm lá thép, sắt non và thép già, mỗi loại có hàm lượng carbon khác nhau. Lõi của thanh kiếm ( shingane ) dc rèn = cách pha trộn giữa sắt thô với thép lá. Sau đó đến vỏ bao ngoài ( hadagane ), cũng = kỹ thuật trên, nhưng dùng sắt non và thép lá. Vỏ bao cần dát ra rồi gập lại > 13~14 lần nhưng nếu dao động nhiều hơn nữa có thể làm thép trở nên gjòn và không đều. Lưỡi kiếm, dc cho vào giữa những lớp vỏ bao, rèn thật liền vào.. Lớp vỏ mềm giúp lõi cứng từ bên trong, làm lưỡi kiếm chống va đập mạnh, dẻo hơn kiếm đúc theo kiểu thằng Tây. Người Nhật đã tìm ra cách đúc kiếm nhiều lớp = cách rèn dài và mỏng phôi của sắt, rồi chém đôi, nung lên lại chập hai nửa lại, tiếp tục rèn, tạo được những đường vân ( jihada ) uốn lượn khác lạ được gọi dưới những tên như :
    - Itame Hada - trường phái kiếm tỉnh Soushu - lưỡi Midareba trong Nie Deki
    - Masame Hada - tỉnh Yamato - lưỡi Suguha trong Nie Deki
    - Mokume Hada - các tỉnh Bizen ( Midareba hamon - nioi deki ), Yamashiro ( Midareba hamon - nie deki ), Mino
    etc ...
    ( Chính xác thi` các đường vân được đặt tên theo các xưởng kiếm nổi tiếng xưa, tiêu biểu la` 5 trường phái kiếm :

    Sōshū School, known for itame hada and midareba hamon in nie deki.
    Yamato School, known for masame hada and suguha hamon in nie deki.
    Bizen School, known for mokume hada and midareba hamon in nioi deki.
    Yamashiro School, known for mokume hada and suguha hamon in nei deki.
    Mino School, known for hard mokume hada and midareba mixed with togari-ba.

    - wikipedia )
    -> kiếm Nhật dc cấu thành từ hàng lớp thép, vừa dẻo dai vừa cứng rắn. Bí quyết truyền thống để chế tác 1 thanh kiếm Nhật hoàn hảo là ở nghệ thuật đắp thêm đất sét vào bên ngoài mẫu thép. Trước khi tôi luyện, họ phủ một lớp đất sét dày lên phần lưng gươm và phủ lớp mỏng trên phần lưỡi cắt. Làm như vậy, phần lưng kiếm sẽ cứng vì có hàm lượng carbon cao, phần lưỡi sẽ rất sắc và đàn hồi tốt vì hàm lượng carbon ít. Công đoạn còn lại được làm = những con dao cứng cực sắc, làm bằng crom. Đôi khi người ta còn tạo những đường rãnh trên kiếm, để tiết kiệm thép nhưng độ cứng vẫn dc bảo toàn theo nguyên tắc vật lý, sau đó là tăng khả năng sát thương cho kiếm. Đây là một trong những đặc thù nổi bật của kiếm Nhật. Người Nhật cũng sử dụng phương pháp bao một lớp vỏ mềm bên ngoài để tạo nên những làn sóng trang điểm cho lưỡi kiếm. KHi đã định dạng dc thanh kiếm, 1 loại hợp chất gồm tro rơm và bùn đỏ sẽ dc trét lên mặt lưỡi kiếm, sau đó để khô. Người ta dùng 1 thanh bamboo để khắc hoa văn lên bùn đỏ, rồi để vào lò nung tiếp, rồi lại lấy ra, khắc theo mẫu lên lưỡi kiếm để đến khi chà láng những hình vẽ đó sẽ hiện ra. Giai đoạn này lưỡi kiếm được bao bằng đất và tro phải thật nóng. Lớp bùn đó chỗ dày chỗ mỏng, thường ở lưỡi kiếm mỏng nhất, các nơi khác dày hơn để khi nung, lưỡi kiếm sẽ cứng mềm khác nhau tuỳ theo từng khu vực. Lưỡi chém, phần cứng nhất của kiếm ( hamon ), có những hạt khác nhau gọi là nie và nioi. Nie ( nước sôi ) tượng trưng cho tinh thần hùng dũng, cứng cỏi, nioi ( hương thơm nhìn được ) tượng trưng cho sự cao thượng, quí phái. Những hạt này có được do sự gập đi gập lại và cũng là 1 dấu hiệu của môi trường vì mỗi phương pháp có những đường vân riêng. Nioi mắt thường không trông thấy, chỉ gợn lên như 1 làn sương mỏng, giải ngân hà 1 đêm sao. Hạt Nie thì to và thô hơn, trông lấm tấm như 1 chùm tinh tú. Những hoa văn đó được đặt tên, hoặc mây ( Kumo ), sóng biển ( Tsunami ), dãy núi ( Yama ), hoa ( Hana - Kikuichimọni la` 1 vd điển hình ... ).Kiếm tốt luôn đj kèm với vẻ đẹp của nó, kiếm Nhật la` 1 dạng đặc biệt.

       

    11 Posts
     

       

    II - Chế tác kiếm :

    a/ Công đoạn rèn kiếm :


    "Rèn kiếm là 1 nghệ thuật, và trong đó, ng` thợ rèn là người nghệ sỹ" - Trik unknown
    Rèn kiếm là 1 dạng truyền thống lâu đời ở Nhật, gắn liền với văn hóa xứ phù tang cũng như ikebana, bonsai, chado, etc .. ( khi na`o sẽ lập 1 vài topic về mấy cái na`y nếu thik ) cũng vì thanh kiếm ở Nhật không chỉ là một món đồ đem ra chém giết thuần túy, mà còn mang trong mình danh dự của chủ nhân nó, ng` võ sĩ đạo.
    Như đã giới thiệu ở phần trên, do có ảnh hưởng từ văn hóa Tàu, nên kiếm Nhật cũng dc chế tạo từ các loại quặng kim loại, ma` thông dụng la` sắt thép. Đây cũng la` nguyên liệu chủ yếu để chế tạo vũ khí, chắc ai cũng biết. Tuy nhiên, qua thời gian, ng` Nhật dần hoàn thành các tuyệt kỹ trong nghệ thuật chế tác kiếm, và đã vượt xa các cách chế tác kiếm của các nước # trên thế giới. Đó là do họ luôn vươn lên phấn đấu, tìm tòi, cần cù trong lao động sản xuất. Tìm ra được cách chế tác kiếm chuyên dụng khó hơn nhiều so với cách chế tác kiếm ở dạng phổ thông. SAu đây là các công đoạn rèn kiếm cụ thể :

    1/ Nguyên liệu :

    Từ rất lâu rồi, cái nôi của nghệ thuật làm kiếm - tỉnh shoshu đã biết pha chế hàm lượng carbon cũng như tạp chất trong thép tạo ra dc thép cứng mềm vừa ý, làm nguyên liệu chính trong rèn lưỡi kiếm. Các loại thép họ tạo ra, rèn dc những lưỡi kiếm sắc bén, ít mẻ. Họ cũng tiêu chuẩn hoá chiều dài và cải thiện mũi kiếm để khi kiếm bị gãy vẫn có thể mài lại, dùng dc tiếp. Tùy từng lựơng carbon dc pha với sắt, mà mỗi thanh kiếm tạo ra sẽ có 1 đặc tính # nhau.
    Nguyên liệu chính :
    Quặng oxit sắt dc nung trong lò và than củi. Các loại thép luyện thành dc gọi là Tamahagane, 1 loại thép tạp nham cùng với các lớp carbon nằm trộn ko đồng đều theo khía cạnh mật độ. Lượng carbon dc điều chỉnh sao cho có chỉ số hàm lượng phù hợp với từng kiểu kiếm, = phương pháp oxi hóa.

    2/ Công đoạn chế tác :

    Khi mà thép đã đạt dc tiêu chuẩn về hàm lượng carbon, chúng sẽ dc liên kết với nhau, để tạo thân kiếm. Các mảnh thép thủ công, dc gói = giấy, sau đó bọc trong một lớp đất sét dẻo trước khi đưa vào lò nung tiếp. Nung đến 1 nhiệt độ thik hợp, những mẩu thép sẽ dc kết dính với nhau = bàn tay của ng` thợ rèn qua những nhát búa mạnh. Lặp lại công đoạn trên nhiều lần. Thỉnh thoảng thép nóng lại dc vùi trong tro rơm cháy để chống lại quá trình oxi hóa carbon. Vì khj có quá nhiều carbon trong thép, gươm sẽ giòn và dễ gãy, carbon quá ít thì gươm sẽ dẻo, rất khó dùng, dù rất bén. Thời cận đại, họ còn chovào rơm một lượng nhỏ silicon, tan luôn trong thép luyện.
    Thép dc làm = cách nung nóng rồi lại dc ngâm trong nước để làm lạnh. Họ làm như vậy cho đến khi cấu trúc tinh thể của thép phải # đi. Sử dụng nước nóng lạnh. Nếu làm lạnh nhanh thì thép sẽ cứng. Một điều đặc biệt nữa là luyện thép phải làm vào ban đêm, để có thể quan sát được màu đỏ của sắt nung. Và 1 điều như vậy chứng tỏ mắt của người thợ rèn cũng phải rất tinh tường, ng` thợ rèn càng giàu kinh nghiệm bao nhiêu, khả năng quan sát vật thể càng tốt hơn bấy nhiêu. Có như thế mới duy trì đúng nhiệt độ phù hợp. Tôi luyện nhiều lần như vậy, thép dc dát mỏng, rồi lại thu thành cục dày nhiều lần. Lần cuối cùng người ta dát mỏng thành hình chữ U. 1 mẩu thép mềm dc đặt vào bên trong chữ U này, tạo nên độ đàn hồi tốt cho kiếm. Thanh thép này được nung thêm nhiều lần nữa và tạo thành hình một Sunobe ( dạng thô của Kanata ). Trong khi kiếm Tây chỉ là một bản thép rộng duy nhất, thi` kiếm Nhật bao gồm lá thép, sắt non và thép già, mỗi loại có hàm lượng carbon khác nhau. Lõi của thanh kiếm ( shingane ) dc rèn = cách pha trộn giữa sắt thô với thép lá. Sau đó đến vỏ bao ngoài ( hadagane ), cũng = kỹ thuật trên, nhưng dùng sắt non và thép lá. Vỏ bao cần dát ra rồi gập lại > 13~14 lần nhưng nếu dao động nhiều hơn nữa có thể làm thép trở nên gjòn và không đều. Lưỡi kiếm, dc cho vào giữa những lớp vỏ bao, rèn thật liền vào.. Lớp vỏ mềm giúp lõi cứng từ bên trong, làm lưỡi kiếm chống va đập mạnh, dẻo hơn kiếm đúc theo kiểu thằng Tây. Người Nhật đã tìm ra cách đúc kiếm nhiều lớp = cách rèn dài và mỏng phôi của sắt, rồi chém đôi, nung lên lại chập hai nửa lại, tiếp tục rèn, tạo được những đường vân ( jihada ) uốn lượn khác lạ được gọi dưới những tên như :
    - Itame Hada - trường phái kiếm tỉnh Soushu - lưỡi Midareba trong Nie Deki
    - Masame Hada - tỉnh Yamato - lưỡi Suguha trong Nie Deki
    - Mokume Hada - các tỉnh Bizen ( Midareba hamon - nioi deki ), Yamashiro ( Midareba hamon - nie deki ), Mino
    etc ...
    ( Chính xác thi` các đường vân được đặt tên theo các xưởng kiếm nổi tiếng xưa, tiêu biểu la` 5 trường phái kiếm :
    Sōshū School, known for itame hada and midareba hamon in nie deki.
    Yamato School, known for masame hada and suguha hamon in nie deki.
    Bizen School, known for mokume hada and midareba hamon in nioi deki.
    Yamashiro School, known for mokume hada and suguha hamon in nei deki.
    Mino School, known for hard mokume hada and midareba mixed with togari-ba.
    - wikipedia )
    -> kiếm Nhật dc cấu thành từ hàng lớp thép, vừa dẻo dai vừa cứng rắn. Bí quyết truyền thống để chế tác 1 thanh kiếm Nhật hoàn hảo là ở nghệ thuật đắp thêm đất sét vào bên ngoài mẫu thép. Trước khi tôi luyện, họ phủ một lớp đất sét dày lên phần lưng gươm và phủ lớp mỏng trên phần lưỡi cắt. Làm như vậy, phần lưng kiếm sẽ cứng vì có hàm lượng carbon cao, phần lưỡi sẽ rất sắc và đàn hồi tốt vì hàm lượng carbon ít. Công đoạn còn lại được làm = những con dao cứng cực sắc, làm bằng crom. Đôi khi người ta còn tạo những đường rãnh trên kiếm, để tiết kiệm thép nhưng độ cứng vẫn dc bảo toàn theo nguyên tắc vật lý, sau đó là tăng khả năng sát thương cho kiếm. Đây là một trong những đặc thù nổi bật của kiếm Nhật. Người Nhật cũng sử dụng phương pháp bao một lớp vỏ mềm bên ngoài để tạo nên những làn sóng trang điểm cho lưỡi kiếm. KHi đã định dạng dc thanh kiếm, 1 loại hợp chất gồm tro rơm và bùn đỏ sẽ dc trét lên mặt lưỡi kiếm, sau đó để khô. Người ta dùng 1 thanh bamboo để khắc hoa văn lên bùn đỏ, rồi để vào lò nung tiếp, rồi lại lấy ra, khắc theo mẫu lên lưỡi kiếm để đến khi chà láng những hình vẽ đó sẽ hiện ra. Giai đoạn này lưỡi kiếm được bao bằng đất và tro phải thật nóng. Lớp bùn đó chỗ dày chỗ mỏng, thường ở lưỡi kiếm mỏng nhất, các nơi khác dày hơn để khi nung, lưỡi kiếm sẽ cứng mềm khác nhau tuỳ theo từng khu vực. Lưỡi chém, phần cứng nhất của kiếm ( hamon ), có những hạt khác nhau gọi là nie và nioi. Nie ( nước sôi ) tượng trưng cho tinh thần hùng dũng, cứng cỏi, nioi ( hương thơm nhìn được ) tượng trưng cho sự cao thượng, quí phái. Những hạt này có được do sự gập đi gập lại và cũng là 1 dấu hiệu của môi trường vì mỗi phương pháp có những đường vân riêng. Nioi mắt thường không trông thấy, chỉ gợn lên như 1 làn sương mỏng, giải ngân hà 1 đêm sao. Hạt Nie thì to và thô hơn, trông lấm tấm như 1 chùm tinh tú. Những hoa văn đó được đặt tên, hoặc mây ( Kumo ), sóng biển ( Tsunami ), dãy núi ( Yama ), hoa ( Hana - Kikuichimọni la` 1 vd điển hình ... ).Kiếm tốt luôn đj kèm với vẻ đẹp của nó, kiếm Nhật la` 1 dạng đặc biệt.

    This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 820x772.



    b/ Công đoạn mài kiếm


    "Thừa hơi mài sắt, có ngày gãy tay" - Trik unknown
    Để làm sáng tỏ nhận định trên, hãy tìm hiểu qua 1 chút về việc mài kiếm - chà láng hay đánh bóng, etc ....
    Đánh bóng 1 thanh kiếm, tùy từng thợ mài # nhau mà có các cách mài # nhau, nhưng thông thường phải wa 15 giai đoạn, dùng 15 loại đá mài # nhau và rất nhiều động tác # nhau, tiêu tốn ~ 120 h, 1 con số kỷ lục. Chỉ riêng để mài 1 lưỡi kiếm, thợ mài fa?i sử dụng 6 cục đá mài khác nhau, từ loại nhám xuống dần loại mịn hơn và sau cùng để đánh bóng. Trước khi mài, phải nghiên cứu kỹ thớ + mẫu của kiếm, không phải cùng một lúc, ngay 1 lượt, mà chỉ từng khoảng 2~4 cm 1 lượt. Phải giữ sao cho tay phải và tay trái cân bằng là một công tác cực wan trọng, vì nếu 2 tay chỉ lệch đi một khoảnh khắc thì có thể hỏng luôn cả lưỡi kiếm.
    Khi mài xong, thợ mài ( lưu ý, ko phải thợ rèn - thợ mài ) kẹp 2 hòn đá mài mỏng dính trên đầu ngón tay và vuốt theo lưỡi kiếm để đánh bóng. Công việc diễn ra vào ban ngày. Họ cầm ngang lưỡi kiếm để cho ánh nắng soi lên từng mm để kiểm soát công trình của mình lần cuối cùng. Không có hai thanh kiếm nào giống hệt nhau, mỗi thanh kiếm có hình dáng khác nhau và có những đặc tính khác nhau. Mài kiếm chính là làm sao cho thanh kiếm thể hiện được tối ưu cái thần của nó, để hiển lộ cái sự hoàn hảo, toát ra từ lưỡi thép đã hoàn thành. Kiếm mài đúng cách mới có thể hiển hiện được hết tài năng của người mài kiếm.
    Và cũng là để chém nhau cho nó thoải mái

     

    III - Phụ kiện :

    a/ Saya


    [Only Registered Users Can See Links. Click Here To Register...]

    1/ Đầu tiên la` nên định nghĩa 1 saya thế na`o cho hợp lý, hay cứ đơn giản gọi nó la` 1 cái bao kiếm ?

    Nếu như cho thanh kiếm 1 linh hồn, để nó có thể cảm nhận va` suy nghĩ, thi` tôi chắc hẳn, nó sẽ rất vô cảm va` cô đơn. Cuộc sống của 1 Nihontou la` 1 cuộc sống kinh khủng, dc bao phủ bởi ma`u đỏ thẫm của máu tươi cung` mùi tanh tưởi của xác chết. Cái lời dẫn ở đây có vẻ hơi lạc với cái đề của bài này, nhưng hãy ngẫm cho kỹ. Trong Iaido có 1 nghệ thuật, đó chính la` nghệ thuật chiburi - thuật chui` kiếm vấy máu. Một thanh kiếm, khi thực hiện công việc wen thuộc của mi`nh xong đương nhiên sẽ dính máu. Va` khi đấy, saya sẽ la` thứ đứng ra đóng vai tro` như 1 "vợ", lau sạch, tẩy đi các vết hoen ố của thanh kiếm, bao bọc va` bảo vệ thanh kiếm. Mỗi thanh kiếm la`m ra sẽ dc tra vào 1 saya khác nhau, va` mỗi saya la`m ra chỉ để phục vụ cho 1 thanh kiếm. Có thể nói saya không khác j 1 ng` bạn đường của thanh kiếm. Va`, chính saya cũng la` thứ toát lên vẻ đẹp hoa`n mỹ của 1 thanh kiếm nhờ sự trang trí tinh tế của nó. Khi saya "hư hỏng", kiếm có thể ti`m 1 saya khác nhưng 1 khi kiếm hỏng, saya cũng sẽ lìa đời, vi` ng` ta ko thừa hơi chế tạo 1 thanh kiếm mới cho phù hợp với 1 saya cho sẵn. Va` mỗi thanh kiếm khi sinh ra, đều đã có 1 saya sinh ra cu`ng để nương tựa. Nếu như kiếm coi người sử dụng mi`nh là chủ nhân, thi` saya cũng vậy. Kiếm gãy, saya sẽ la` 1 thanh "tuýp" đắc lực cho ng` sử dụng Va` co`n rất nhiều điều để nói về saya, nhưng lan man vậy đủ r, tôi cũng tin các bạn ko muốn nghe nữa.

    2/ Cấu tạo của 1 saya :

    Ng` ta la`m saya theo nhiều kiểu, mỗi kiểu lại có nhiều cách, nhưng nguyên liệu chính để chế tạo 1 bao kiếm hoàn hảo la` gỗ của những cây cổ thụ lâu đời. Saya tốt hay vớ vẩn wan trọng nhất vẫn la` chất lượng gỗ. Ng` ta cho rằng, chế 1 bao kiếm từ những cây cổ thụ nguyên sinh luôn la` tốt nhất, với chất lượng gỗ tuyệt hảo. Va` tùy từng loại cây # nhau cũng cho ra các loại saya # nhau, ở đây la` cây j tốt nhất, thi` unknown cũng ko dám chắc, nó thuộc về vấn đề chuyên môn, chúng ta ko cần ti`m hiểu sâu. Gỗ từ cây dc chặt ra phải xem phơi thật khô, tránh gây cho kiếm bị rỷ.
    Việc bao` gỗ thành 1 nửa của bao kiếm cũng rất khó khăn, đòi hỏi trình độ cao cùng tay la`nh nghề. Tại sao lại la` 1 nửa ? Bởi vi` 1 bao kiếm cấu tạo từ 2 nửa dán chập lại. Va` để ba`o dc 1 nửa saya, thợ mộc phải tốn rất nhiều loại công cụ khác nhau ( ~ 32 loại đồ nghề ).
    Đầu tiên la` phải đo dáng chuẩn của thanh kiếm cần la`m saya, sau đó thợ mộc phải ba`o làm sao ra dc 2 mảnh gỗ có độ cong phù hợp với nó. Mảnh gỗ dc bào ra phải thật vừa, nhưng ko khít. Nó có thể nới hơi lỏng 1 chút, thuận tiện cho việc tra kiếm. Chất keo dán 2 mảnh gỗ cũng la` cái đáng lưu ý. Đó la` 1 dạng gạo bột dc nấu chín, xay nhuyễn. Về sự đảm bảo chắc chắn, thi` keo dán loại na`y ko phải la` thứ nổi trội. Tuy nhiên, Nó có thể khiến bao kiếm trở nên linh hoạt trong việc tháo ra, lắp lại, cũng như tránh ti`nh trạng rỷ sét của hamon. Va` cũng la` 1 truyền thống trong thuật la`m saya Nhật Bản.

    3/ Trang trí 1 saya :
    Hẳn la` mọi ng` đều đã thấy những bao kiếm của Tàu dc trạm trổ rồng phượng r, đúng ko ? Saya Nhật cũng ko khác j. Mỗi saya dc chế tác ra đều dc đem đi sơn sửa, đánh bóng, quét chất chống mối mọt, sau đó có thể khắc, trạm trổ, đính vàng bạc, kim cương, etc j thi` tùy. Nhưng đa số kiểu cách cầu ky` đó chỉ la` những cách trang trí saya cho shogun hay daimyo, la`m ra chỉ có để ngắm, với những giá trị nghệ thuật cao, ko mang ra chiến trường ma` đồ sát nhau dc Trang trí Saya lại là 1 nghệ thuật thủ công truyền thống nữa của Nhật Bản, đòi hỏi sự tỷ mỷ trong tất cả các giai đoạn chế tác. Suy cho cung`, 1 bao kiếm quý luôn mang lại cho thanh kiếm nó bảo lưu bên trong 1 giá trị ngang tầm.

    b/ Tsuba

    Tsuba la` thanh chắn giữa lưỡi kiếm Nhật và tay cầm, hay co`n dc gọi la` cán kiếm. Nó khống chế lực ma` tay ng` đánh kiếm tạo ra, ngăn cản sự trượt theo quán tính xuống lưỡi kiếm khi sử dụng kiếm. Chính xác la` để bảo vệ các ngón tay ko bị thương bởi lưỡi kiếm. Đường kính mỗi Tsuba của Katana trung bình vào khoảng 8 ~ 10 cm ( 3.15 ~ 3.9375 inches ), của Wakizashi la` 6 ~ 6.6 cm ( 2.441 ~ 2.598 inches ), va` của tantou la` 4.5 ~ 5.5 cm ( 1.772 ~ 2.165 inches ).
    Trong thời đại 2 thời ky` Muromachi va` Momoyama ( 1333 - 1603 ), tsuba dc chú ý chế tác hơn, từ khâu chọn nguyên liệu sản xuất, kiểm định chất lượng đến việc đánh bóng, trang trí. Đến thời đại Edo, ( 1603-1868 ), chiến tranh qua đi, tsuba không co`n dc chú trọng nhiều đến việc sử dụng đúng mục đích của nó, thay vào đó, nó như 1 đồ vật dc thêm vào để nâng cao giá trị cho mỗi thanh kiếm. Vào thời đại này ng` ta có thể thấy nhiều miếng tsuba = vàng bạc, bạch kim etc, hay = những miếng đá quý, dc chạm khắc rất công phu, tinh xảo. Va` cho đến bây h, những miếng tsuba trở nên rất có giá trị, thường la` để sưu tập. Nhắc lại 1 chút : ko phải 1 ng` thợ la`m ra 1 thanh kiếm, ma` bao gồm rất nhiều ng` thợ mới la`m dc 1thanh katana hoàn hảo. Thợ la`m kiếm # thợ ma`i kiếm # thợ la`m saya va` # thợ la`m tsuba. Tsuba dc chế tạo bởi những ng` thợ thủ công la`nh nghề, riêng biệt với những ng` thợ còn lại. Có thể nói, thợ la`m tsuba la` ng` thợ mang lại vẻ thanh tú nhất cho mỗi thanh kiếm, vì đa số những chi tiết cầu kỳ của kiếm chỉ thể hiện ở saya va` tsuba. Nguyên liệu chế tạo tsuba rất đa dạng, từ những miếng gỗ, hợp kim sắt thép đến kim loại quý hiếm, shakudo .