trang Blog

kimquiufcTham gia: 24/09/2008
  • Tay trống dân tộc số 1
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Tay trống dân tộc số 1

    Tay trống dân tộc số 1

    Nhà hát múa rối nước Rồng Vàng (Cung Văn hóa Lao động TP.HCM) của ông bầu Huỳnh Anh Tuấn - Công ty TNHH sân khấu nghệ thuật Thái Dương - khai trương đến nay đã hơn BA tháng với đều đặn mỗi ngày hai Suất, có lúc “đột biến” lên đến 8 suất.

    Suất nào cũng có một nghệ sĩ mặc áo dài khăn đóng, ôm bộ trống dân tộc cầm trịch cho buổi diễn. Sướng, vui, buồn, khổ... của các nhân vật đều nương theo roi trống ấy mà đi vào lòng khán giả.

    Đó là nghệ sĩ Đức Dũng, một tài năng hiếm hoi trong lĩnh vực trống dân tộc hiện nay. Anh là “đầu tàu” của ban nhạc gõ Phù Đổng lừng lẫy một thời, từng là thành viên của các “đội tuyển” được cử đi nước ngoài giới thiệu nền âm nhạc dân tộc nước nhà và hiện là nghệ sĩ trống dân tộc lớn tuổi duy nhất còn đứng trên sân khấu.

    Đến được với trống nhờ Tôn Ngộ Không

    Có bố là nghệ nhân đàn bầu nên năm 3 tuổi Đức Dũng đã ẵm được một giải thưởng nho nhỏ về thi giọng ca cải lương ở địa phương. Lớn lên chút nữa, cậu được mẹ cho đi xem phim Tôn Ngộ Không, bị mê hoặc nên ngày nào Đức Dũng cũng khoèo tay khoèo chân làm khỉ cho trẻ con hàng xóm xem. Năm 12 tuổi, cậu đem tiết mục Tôn Ngộ Không này thi vào lớp đào tạo diễn viên của Đoàn tuồng Liên khu 5.

    Đức Dũng học diễn viên chưa được bao lâu, các thầy ở đoàn tuồng chuyển anh sang bộ môn trống vì thấy anh có năng khiếu đặc biệt ở lĩnh vực này. Năng khiếu ấy được chắp thêm cánh khi anh được những bậc thầy nổi tiếng giỏi nghề trọng đức như: Dương Long Căn, Bùi Thông, Đinh Quả (Bình Định), Nguyễn Nho Túy (Quảng Nam), Mạnh Cầm (Huế), Nguyễn Đắc Hán... truyền thụ nghề nghiệp.

    Ở nghệ thuật tuồng, nghệ sĩ chơi trống được mệnh danh là “phó sư”, tức người thầy thứ hai, linh hồn của đêm diễn. Tiếng trống như một “mệnh lệnh”, vừa dìu dắt, nâng đỡ, vừa đưa đường chỉ lối cho các hành động của nhân vật. Người trong nghề thường nói: “Phi trống bất thành tuồng”. Việc Đức Dũng mới 16 tuổi, chỉ vừa học xong bốn năm trung cấp đã được các thầy cho ra nghề, đánh trống chính thức cho các vở tuồng khiến không ít người trong nghề thán phục.

    Những roi trống của anh không chỉ khuất phục được các diễn viên đáng tuổi cha chú mình mà còn đem lại cho khán giả một sự ngưỡng mộ đặc biệt. Tiếng lành đồn xa, nhiều vị ở đoàn khác muốn xin anh về nhưng những người đang quản lý anh thì giận dỗi: “Muốn giải tán Đoàn tuồng Liên khu 5 này thì cứ lấy đi Đức Dũng”.

    Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, anh theo Đoàn tuồng Liên khu 5 về thăm đất tổ Bình Định. Sau đó về lại đất Bắc, anh trở thành “của quí hiếm” bởi nơi nào cũng muốn được sở hữu anh. Anh lần lượt đầu quân cho Đoàn tuồng Nam trung ương, rồi Nhà hát Ca múa nhạc trung ương... Năm 1981, trong chuyến đi biểu diễn tại Liên Xô (cũ), Đức và Bulgaria (cùng với Nhà hát Ca múa nhạc trung ương), anh đã làm khán giả nước bạn khen không tiếc lời khi biểu diễn tiết mục Trống trận Quang Trung do chính anh sáng tác. Dạo đó báo chí Liên Xô nhận xét về anh như sau: “Nghệ sĩ Đức Dũng đã làm phép phù thủy trên dàn trống dân tộc VN khiến người ta tưởng anh từng học ở Nhạc viện Tchaikovsky”.

    Thăng hoa cùng “Phù Đổng”

    Tôi đã gặp Đức Dũng khi cậu ấy còn trẻ tuổi, biểu diễn trong nhóm trống Phù Đổng. Đây là một nghệ sĩ trống không chỉ biểu diễn bằng các kỹ năng điêu luyện của đôi tay mà còn bằng cả tâm hồn và thân pháp của mình để truyền cho khán giả những cảm xúc sống động trong mỗi tiếng trống. Với tôi, Đức Dũng không chỉ là một học trò giỏi mà thật sự là một nghệ sĩ trống rất tài năng. GSTS Trần Văn Khê

    Có một nhà buôn bánh kẹo nổi tiếng ở phố Huế (Hà Nội) là cụ Đức Thành Ký đến xin anh cho các con mình được thọ giáo nghề trống. Các con của cụ là Đức Lợi, Đức Tâm, Đức Bình, Đức Dậu, Đức Quang... đều đã tốt nghiệp chính qui một nhạc cụ phương Tây trước đó như clarinette, cello, flute... Sẵn mang ý định muốn thành lập một ban nhạc gõ, Đức Dũng vui vẻ nhận lời. Anh được cụ Đức Thành Ký nhận làm con nuôi để rồi cùng với các con của cụ lập nên ban nhạc gõ Phù Đổng.

    Năm 1986, Phù Đổng lần đầu tiên làm một cuộc Nam tiến để kiếm sống. Khi bước chân xuống ga Sài Gòn, họ xác định đây là quê hương thứ hai của mình vì cảm nhận được sự tiếp đón nồng nhiệt và ân tình của người Sài Gòn.

    Đêm đầu tiên, diễn ở một hội quán nhỏ trên đường Nguyễn Văn Trỗi và đêm thứ hai ở rạp Rex, Phù Đổng đã gây xôn xao cho khán giả Sài thành. Nhưng hoành tráng đến ngỡ ngàng là đêm Gala Sài Gòn diễn ra ở câu lạc bộ Phan Đình Phùng (Q.3) vào năm 1988. Lần đầu tiên đông đảo khán giả TP.HCM được chứng kiến một cuộc “lên ngôi” huy hoàng của bộ gõ dân tộc.

    Riêng Đức Dũng, cũng lần đầu tiên dùng roi trống tài hoa của mình để dẫn dắt cho tiếng hát nhí nhảnh của Hồng Vân trong bài Lý ngựa ô và giọng ca đầy tâm trạng của Bảo Yến trong ca khúc Hương thầm. Và đỉnh điểm là khi anh “làm xiếc” với cặp dùi trong tiết mục Vó ngựa mang tin cấp báo do chính anh sáng tác. 5.000 người xem đã đứng bật dậy với tiếng vỗ tay vang dội.

    Khi về nước và cùng với các nhạc sư Tô Vũ, Lưu Hữu Phước đến xem ban nhạc gõ Phù Đổng biểu diễn, giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê bước đến ôm lấy Đức Dũng rồi khóc như đứa trẻ: “Điều thầy mong ước tưởng khó có được không ngờ đã thành hiện thực với Phù Đổng”. Và rồi, giáo sư Khê tìm mọi cách đưa ban Phù Đổng đi nước ngoài biểu diễn. Hai chuyến đi rực rỡ nhất của Phù Đổng là chuyến đi Mỹ và Nhật năm 1996. Điều đáng nói ở chỗ Nhật cũng là một xứ sở của nghệ thuật trống, nhưng khi xem Phù Đổng, khán giả Nhật đã đến kín rạp và ngợi khen bằng những tràng pháo tay không ngớt.

    Giới làm nghề ai cũng hiểu rất rõ rằng tìm được một người có năng khiếu bẩm sinh về trống đã khó, học trống cho đến nơi đến chốn, có được một roi trống đủ sức làm thấu trời dậy đất lại càng khó hơn. Nghề chơi trống đòi hỏi một sức khỏe bền bỉ, dẻo dai, nhất là đôi tay. Lực lấy từ bên trong truyền qua hai cánh tay xuống những đầu ngón. Người không biết kỹ thuật chỉ cần cầm dùi độ năm mười phút là có thể bị ngất.

    Nhưng tiếng trống “tròn trĩnh” hay không còn tùy thuộc độ tinh tế của từng nghệ sĩ. May mắn có được năng khiếu thiên bẩm về trống nhưng cả quãng đời hơn 40 năm theo nghề trống của Đức Dũng là những ngày tháng vắt kiệt sức cho việc rèn luyện. Đôi tay anh không ngày nào dám buông dùi trống và anh cũng không bao giờ cho phép mình hài lòng dừng lại với những roi trống đã qua.

    Đến với sân khấu múa rối nước Rồng Vàng, Đức Dũng phải làm một cuộc giao duyên giữa chất bi hùng của trống tuồng và chất trữ tình của trống chèo. Với vai trò nhạc trưởng, anh đã hướng các nhạc công thành những diễn viên hào hứng với các con rối, để vở có được sự lôi cuốn từ khi mở màn cho đến lúc kết thúc.

    Đức Dũng bảo với tôi rằng ngón nghề mà anh thành danh bao năm qua, tất cả đều nhờ ơn ông bà để lại. Anh chỉ tiếc đã không giữ được ban nhạc gõ Phù Đổng lừng lẫy như xưa. Và riêng anh, vẫn chưa có được một đệ tử “chân truyền” nào để có thể yên tâm buông dùi trống.

    Trống cổ Nam Bộ có thất truyền?

    Đức Dũng và dàn nhạc Phù Đổng biểu diễn tại tư gia GS Trần Văn Khê.
    Đã lâu mới có một đêm trình diễn trống cổ hấp dẫn như vậy (3.4). Người dẫn chuyện là GS Trần Văn Khê, người nghe là lớp trẻ, người trình diễn là gia đình nghệ nhân Tám Nhứt và đoàn Phù Đổng.

    Nghệ sĩ Nhứt Dũng và ban nhạc lễ Gò Vấp trình diễn những điệu chính trong nhạc lễ miền Nam như đánh thét, trống lạy, bồng ba, bồng tư, bồng thét, ba hồi chín chập, tiền bần hậu phú, nghênh thiên tiếp giá... Trong đó có hai điệu nhạc ít được nghe, chỉ dành cho những cuộc đại lễ của Phật giáo. Chiếc bồng hình dáng như bình bông, trên có miếng da trâu, được chằng lại bằng vài sợi dây. Vỗ bồng cũng phải tay nặng, tay nhẹ, hoà cùng tiếng đàn cò, trống lễ, thanh la, mõ sừng trâu... nghe rất thú vị. GS Trần Văn Khê bình luận về nghệ thuật vỗ bồng của NS Nhứt Dũng - con trai nghệ nhân Tám Nhứt: "Tiếng bồng tưởng chết lịm cùng thời gian, nay sống lại dưới bàn tay của Nhứt Dũng. Trống VN chân phương mà hoa lá. Khi tôi mời các vị đại sứ đến nghe những điệu trống cổ, họ lắc đầu bái phục vì chưa từng được nghe những giai điệu như vậy bao giờ. Nghệ thuật trống của VN đa dạng về hình thức, độc đáo trong màu âm và tinh tế trong biểu diễn".

    Khi ban nhạc Phù Đổng biểu diễn, nhiều người tò mò tìm hiểu các loại nhạc cụ khéo kết hợp với nhau làm thành những bài hoà tấu độc đáo. Đó là bộ gõ bằng tre nứa, sanh sứa của hát bài chòi kết hợp với angklung của Indonesia, cùng hoà thanh với dàn trống lớn nhỏ và dàn cồng Tây Nguyên. Lúc nghe tiếng pháo râm ran, khi nghe tiếng ve gọi hè náo nhiệt, lẫn vó ngựa cấp báo tin vui... tất cả là một cuộc trình diễn âm thanh sống động.

    Nghệ sĩ Đức Dũng cho biết, khi hay tin cả nước chỉ còn một nghệ nhân biết chơi sanh sứa, nay làm nghề gác cổng ở một rạp hát ở Hà Nội, anh đã lặn lội ra đó để học cho được những ngón nghề của thầy. Học xong lại vào Huế tìm hiểu về trống cung đình, trống cổ miền Nam. Anh cho biết: "Nghệ thuật trống cổ không dễ mất đi nếu có sự đầu tư của Nhà nước, coi đó là một loại hình nghệ thuật cần bảo tồn và là một sản phẩm du lịch độc đáo của VN. Tôi từng đi diễn ở nhiều nước trên thế giới, có những nghệ sĩ trống jazz ngồi nghe trống Việt mê mẩn vì thấy lạ. Lạ một điều, là khác với dân Tây, người Việt mình còn chưa am hiểu rõ về các bài trống dân tộc".

    GS Trần Văn Khê nhìn nhận: VN không chỉ có nhã nhạc, ca trù, cồng chiêng, mà còn có cả nghệ thuật trống đặc sắc, mang đậm tâm hồn Việt. Làm sao để mình không tự ti, mang tất cả những đặc sản đó cho thế giới thưởng thức. Thế giới khi hội nhập không hề muốn đến VN xem đánh trống jazz hay như người Mỹ da đen, mà là để thấy cá tính VN như thế nào. Để nghệ thuật trống phát triển, chúng ta bảo vệ truyền thống chứ không nệ cổ, đó chính là khi sinh lực âm nhạc VN trở lại.