trang Blog

SkepticTham gia: 24/11/2012
  • Ảnh hưởng của gia tăng dân số và phát triển kinh tế đến môi trường
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Ảnh hưởng của gia tăng dân số và phát triển kinh tế đến môi trường

    Sự tăng nhanh của dân số và phát triển kinh tế

    dẫn đến hệ quả như thế nào với môi trường?

    Dân số và môi trường

    Trong vài thập kỷ qua, trái đất ngày càng nghèo và xơ xác hơn, đe doạ sự sống của con người. Nhưng trớ trêu thay, lại chính con người là thủ phạm gây ra những thay đổi ghê gớm đó. Trước hết, phải kể đến sự bùng nổ dân số trên phạm vi toàn thế giới.

    Hơn 2.000 năm trước đây, trái đất chỉ có khoảng 250 triệu người; năm 1820, tăng lên 1 tỷ; năm 1930, đã là 2 tỷ; 30 năm sau - năm 1960 - 3 tỷ; 15 năm sau - năm 1975 - 4 tỷ. Tỷ thứ 5 đạt vào năm 1987. Năm 1998, dân số thế giới đạt 6 tỷ. Các nhà nghiên cứu về dân số dự đoán với mức độ tăng dân số của cả thế giới như hiện nay thì đến năm 2055, số dân sẽ lên tới 10 tỷ người. Sự bùng nổ dân số trên toàn thế giới đã ở mức báo động

                                        

                                      Biểu đồ dân số thế giới từ năm 1950 và dự báo đến năm 2050

    Dân số Việt Nam cũng tăng nhanh qua các thời kỳ: Năm 1900,  chỉ có 13 triệu người; năm 1930, sau 30 năm, 17 triệu người; năm 1945, 25 triệu người; năm 1960, sau 15 năm, 30 triệu người; năm 1989, 46.412 nghìn người; năm 1998, 77,9 triệu người; hiện nay, 86 triệu người. Với quy mô dân số đó, Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông - Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a); thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (sau Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản, Băng-la-đét, Pa-kis-xtan); thứ 12 trên thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, In-đô-nê-xi-a, Bra-xin, Nga, Nhật Bản, Ni-gê-ri-a, Băng-la-đét, Pa-kis-xtan, Đức). Nếu coi mật độ dân số là thước đo về mức độ đông dân thì Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông - Nam Á (sau Xinh-ga-po).

    Theo dự báo của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), số dân Việt Nam sẽ tăng lên 110,1 triệu vào năm 2025.

    Bùng nổ dân số đang là một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Cũng không hẳn nó chỉ có tác động tiêu cực. Dân số tăng nhanh tạo nguồn lao động dồi dào, năng động, là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, là một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Còn bây giờ chúng ta sẽ phân tích những tác động tiêu cực.

    Nói ngắn gọn, tác động môi trường của sự gia tăng dân số thế giới có thể mô tả bằng công thức tổng quát:

    I = C.P.E. Trong đó:

    C: Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người.

    P: Sự gia tăng tuyệt đối dân số thế giới.

    E: Sự gia tăng tác động đến môi trường của một đơn vị tài nguyên được loài người khai thác.

    I: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số và các yếu tố liên quan đến dân số.

    Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới biểu hiện ở các khía cạnh:

    §                     Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp v.v...

    §                     Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.

    §                     Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá và các nước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức.

    §                     Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng. Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư. Ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng lên. Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị ngày càng khó khăn.

    Cụ thể hơn, ví dụ gia tăng dân số gây sức ép lớn đến nguồn tài nguyên môi trường:

    Với số dân tăng nhanh như đã đề cập ở trên, nguồn tài nguyên hiện có trên trái đất còn nuôi sống loài người được bao lâu nữa? Đó là câu hỏi khó trả lời. Chỉ biết chắc chắn rằng, con người đã dùng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đó để phục vụ cuộc sống của mình, đã làm suy thoái môi trường một cách nhanh chóng. Một vài ví dụ và số liệu cụ thể: nhằm đáp ứng nhu cầu của số dân ngày càng đông, tài nguyên thiên nhiên được khai thác với tốc độ ngày càng nhanh. Lương thực thiếu hụt nên phải mởi rộng diện tích đất canh tác bằng cách phá rừng làm nương rẫy. Nhu cầu các nguồn tài nguyên rừng như gỗ, củi tăng lên, làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp. Nhiều nguồn tài nguyên nhanh chóng bị cạn kiệt do khai thác quá mức.   

    Ở thế kỷ 18, diện tích rừng toàn thế giới là khoảng 7,6 tỷ ha, vậy mà đến nay chỉ còn 2,8 tỷ ha. Năm 1981, trên thế giới, người ta đã phá đi 7,5 triệu ha rừng nhiệt đới. Diện tích rừng bị hủy hoại đến năm 1987 đã lên tới 17 triệu ha. Đến nay, trên 40% diện tích rừng nhiệt đới đã biến mất, gây ra biết bao hậu quả nghiêm trọng. Đất đai bị xói mòn, trở nên cằn cỗi, không thể trồng trọt được. Mất rừng gây nên những trận lũ lụt khủng khiếp, thậm chí còn xảy ra lũ quét, lũ bùn, lũ đá… ở một số nước, đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng con người và gây nên nạn đói cho hàng triệu người trên trái đất. Con người đã phải trả giá quá đắt cho hành động phá hoại môi trường của mình.

         Môi trường nước ta cũng nằm trong tình trạng chung đó. Năm 1945, rừng nước ta chiếm khoảng 44% diện tích toàn lãnh thổ. Đến năm 1989, diện tích rừng còn lại 26,5%, và hiện nay là 36%. Diện tích rừng giảm, ngoài nguyên nhân do chiến tranh tàn phá, còn có nguyên nhân khác mà chủ yếu là do con người khai thác lâm sản, đốt rừng lấy đất canh tác. Trung bình, hằng năm, diện tích rừng mất đi 110.000ha, trong khi ấy, trong những năm qua, chúng ta đã trồng hơn 600.000ha, chỉ bù đắp khoảng 50% diện tích rừng bị mất. Đó là chưa tính đến chất lượng rừng mới được trồng.

    Sự khai thác đất đai trồng cây lương thực ở các nước nghèo và đang phát triển thường không chú ý đến khả năng phục hồi đã làm suy thoái lớp đất màu mỡ. Loài người đã biến 10% đất rừng rậm rạp trở thành sa mạc khô cằn, hiện có khoảng 4,5 tỷ ha đất không thể trồng trọt được. Hằng năm, toàn thế giới mất đi khoảng 21 triệu ha đất canh tác.

    Hiện nay, 60% số nước trên thế giới ở trong tình trạng thiếu nguồn nước ngọt. Và do khai thác quá mức nguồn nước ngọt, nhiều khu vực trên thế giới đã có hiện tượng mặt đất bị sụt lở và hạ thấp.

    Sự đa dạng sinh học hầu hết nằm trong các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, giữ thế cân bằng tự nhiên. Sự đa dạng sinh học phần lớn tập trung trong rừng, đặc biệt là các khu rừng mưa nhiệt đới, giữ vai trò ổn định môi trường… Mất rừng đã mất đi nhiều loại thực vật hoang dã, trong đó có nhiều loài cây dược liệu quý giá, mất nơi ở của nhiều loài động vật hoang dã. Một số loài không còn đủ nơi sinh sống, đã xung đột với con người. Các nhà sinh vật cảnh báo rằng, trong thời gian tới, sẽ có nhiều loài động vật hoang dã bị tuyệt chủng, nếu nạn săn bắt không được ngăn chặn có hiệu quả.


    “Anh dẫn em đi, đường rừng rậm rạp
    Thăm nhiều loài thực vật nguyên sinh
    Gió miền cao cho tâm hồn tươi mát
    Không gian trong lành cảnh sắc thiên nhiên.

    Anh bảo em tầm quan trọng của rừng
    Rừng chắn gió ngăn mùa lũ quét
    Rừng cho đất thêm nhiều màu mỡ
    Không xói mòn cằn cỗi khô khan.

    Rừng cho ta thêm nhiều khoáng sản
    Khai thác từ từ sẽ có lợi cho dân
    Trái đất nóng lên vì mất hết cây rồi
    Rừng ngậm ngùi bất lực trước bão dông.

    Sao không sống hòa hợp với môi trường
    Với cây xanh để tăng phần sự sống 
    Gió của rừng mang nhiều hơi mát
    Vẫn hơn là quạt điện của ngày nay.”


    Mất rừng sẽ gây nên sự suy thoái nghiêm trọng tính đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái, đẩy loài người trước những thách thức với những hậu quả thật to lớn. Nguy cơ này đến nay đã mang tính toàn cầu, rất khó được cải thiện, nếu tốc độ gia tăng dân số không được kiềm chế.

    Dân số là một biến số của bài toán: dân số với môi trường, dân số với tài nguyên, dân số với phát triển, dân số với chất lượng cuộc sống, dân số với lao động và việc làm, dân số với chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, dân số với giáo dục nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài… Bài toán này cần tìm ra đáp số. Ngày nay, loài người chỉ có hai cách lựa chọn. Một là tiếp tục con đường “cưỡng bóc” vô tội môi trường, tài nguyên thiên nhiên, và cuối cùng là đi đến chỗ nghèo đói, bệnh tật, tình trạng lạc hậu, kém phát triển và mọi thảm họa khác. Hai là, thích ứng với thiên nhiên, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, tạo ra sự cân bằng giữa tăng dân số của loài người, sản xuất vật chất của con người và môi trường, tài nguyên thiên nhiên mà trái đất có được. Chỉ có hạn chế sự gia tăng dân số mới có khả năng đẩy lùi sự nghèo đói và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, đó là kế hoạch hóa gia đình.

     Loài người là một bộ phận của thiên nhiên, luôn phụ thuộc vào thiên nhiên. Mọi hoạt động của con người phải đặt trong giới hạn nhất định của thiên nhiên, sức chịu đựng của trái đất và khả năng hồi phục của nó.

    Vấn đề dân số mang tính toàn cầu, có ý nghĩa chiến lược đối với hầu hết các nước, đặc biệt, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam./.

    Kinh tế và môi trường

    Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.

     Tác động hoạt động phát triển đến với môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó. Mặt khác, kinh tế xã hội cũng tác động đến nguồn tài nguyên thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường từ đó dẫn đến gia tăng các thảm họa, thiên tai gây ảnh hưởng ngược lại đến sự phát triển các hoạt động kinh tế xã hôi trong khu vực. Đó chính là sự tác động nhiều chiều, là mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển.

    Một số hệ quả của phát kinh tế ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường như là hoạt động giao thông vận tải, , hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp và khu chế xuất gây khí thải và tiếng ồn ảnh hưởng đến môi trường không khí...

     Trong những năm gần đây, ngành kinh tế biển có nhiều chuyển biến mới so với các đô thị khác. Đi đôi với sự phát triển kinh tế biển là vấn đề môi trường vùng bờ và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng ven biển và những nguời lao động trong ngành kinh tế biển do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vấn đề khai thác nguồn tài nguyên biển và ven bờ chưa hợp lý từ đó dẫn đến ô nhiễm môi trường vùng bờ, sự giảm sút đa dạng hoá sinh học và tài nguyên biển. Ô nhiễm môi trường biển đang ở mức khống chế tuy nhiên nếu không có các giải pháp phát triển kinh tế hợp lý thì sẽ dẫn đến hậu quả khó lường.

                Nuôi trồng thuỷ sản là hướng phát triển đột phá trong ngành thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản đem lại lợi nhuận khá cao (dao động lợi nhuận/chi phí từ 50%-70%). Phong trào nuôi tôm ven biển đột phá trong những năm vừa qua, không có qui hoạch cụ thể gây hậu quả vùng cát ven biển, dẫn tới sạt lỡ, xoá mòn vùng bờ. Chất thải từ các trại nuôi trồng thuỷ sản ven biển và trên biển là nguồn gây ô nhiễm hữu cơ quan trọng.

                Phát triển du lịch đem lại nguồn thu ngân sách thành phố, tạo công ăn việc làm và cải thiện thu nhập của người dân thành phố. Mặt trái của vấn đề, do việc phát triển chưa theo đúng qui hoạch đã làm giảm đi độ che phủ của cây xanh ảnh hưởng đến môi trường và phòng chống bão lũ cũng như giảm sút sự đa dạng sinh vật.

                Du lịch phát triển kéo theo các hoạt động chặt phá rừng, xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, sân gôn, bãi đỗ xe, các cơ sở du lịch một cách ồ ạt, không đúng qui hoạch. Thị trường quà lưu niệm, nhu cầu ăn uống kích thích việc khai thác quá mức các nguồn lợi biển (sò, đồi mồi, san hô, cá), các loại quí hiếm, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển và suy giảm đa dạng sinh học.

                Nguồn ô nhiễm dầu do hoạt động của các tàu vận tải và đánh cá trong nước ước tính hàng năm thải ra biển Việt Nam khoảng 337 tấn.

    Năm 1970 các nhà khoa học câu lạc bộ Roma đưa ra khuyến cáo: Dân số tăng theo cấp số nhân, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường ngày càng ô nhiễm dẫn đến sự đói kém, loài người dẫn đến diệt vong do đói và ô nhiễm môi trường.

    Chính vì thế một số lý thuyết cho rằng để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Trái Đất, quốc gia và khu vực cần ngăn chặn sự nghiên cứu, khai thác tài nguyên thiên nhiên, làm cho tăng trưởng kinh tế bằng không hoặc mang giá trị âm. Điều này không thực tế với các nước nghèo. Ví như ở Việt Nam, muốn bảo vệ môi trường phải ngừng phát triển, hay bảo vệ di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long phải ngừng khai thác than.

    Thực tế cho thấy, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước cũng gây tác động không tốt đến môi trường.

    Ở các nước giàu đang xảy ra tình trạng ô nhiễm do dư thừa trong việc sử dụng thức ăn. Môi trường và tài nguyên. 20% dân số thế giới sử dụng 80% của cải và năng lượng loài người trong khi 80% còn lại chỉ sử dụng 20% còn lại.

    Ở các nước nghèo, con đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, nông nghiệp). Nhưng đây cũng là một trong những con đường gây ra nghèo đói.

    Thực trạng nước ta

    Theo tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu người nước ta năm 2004 là 484.400 đồng/tháng trong khi đó chênh lệch giữa nông thôn và thành thị là gần 440.000 đồng/tháng. Tỉ lệ hộ nghèo trong nước năm 2004 là 19.5% và có sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị (3,6% ở thành thị và 25,0% ở nông thôn). Quá trình phát triển kinh tế bằng công nghiệp hóa đòi hỏi nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu ngày càng to lớn kéo theo chất lượng sống ngày càng xấu đi nếu không có các biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu. Mặt khác quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực lại không được quán triệt đầy đủ nghĩa là chưa tính toán đầy đủ các yếu tố môi trường trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt 6 - 6,5% trong năm 2012 và ổn định theo mức đó trong những năm tiếp theo. Theo tính toán của các chuyên gia nước ngoài, nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ chất thải tăng gấp 3 – 5 lần. Và nếu trình độ công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất, trình độ quản lý sản xuất, trình độ môi trường không được cải tiến thì tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên và năng lượng. Điều này dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự gia tăng các loại chất thải gây ô nhiễm môi trường gây sức ép cho môi trường. Trong khi đó, môi trường đô thị, các trung tâm kinh tế - xã hội, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hệ thống cấp thoát nước lạc hậu, xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu. Mức ô nhiễm không khí về bụi, các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nôi, thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép 2 – 3 lần. Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.

    Trước thực trạng trên, thiết nghỉ nhà nước ta cần quan tâm, có những giải pháp đúng đắn, đồng bộ và hợp lý để đưa nền kinh tế - xã hội nước ta kết hợp với các biện pháp bảo vệ môi trường ngày càng phát triển. Phát triển kinh tế - xã hôi cũng như bảo vệ môi trường không phải là mục tiêu, nhiệm vụ của riêng ai mà là của cả cộng đồng chúng ta.

    Ảnh hưởng của gia tăng dân số và phát triển kinh tế đến môi trường