trang Blog

Tiểu XuKaTham gia: 18/01/2010
  • tiểu luận tốt nghiệp
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    tiểu luận tốt nghiệp

    LỜI CẢM ƠN

    Em bày tỏ lời cảm ơn đến Thạc sỹ Đỗ Văn Trọng- người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện tiểu luận này.

    Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa báo chí- Trường cao đẳng phát thanh- truyền hình I, các thầy cô giảng dạy các bộ môn đã tạo điều kiện cho em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp.

    Đồng thời em cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Trung tâm Tin- Đài Tiếng nói Việt Nam, nơi em thực tập đã giúp đỡ em hoàn thành tốt nhiệm vụ trong suốt quá trình em thực tập tại quý Đài.

    Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng cuốn tiểu luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên đánh giá góp ý để cuốn tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Sinh viên thực tập

    Vũ Thị Hương Dịu

    TRƯỜNG CAO ĐẲNG PT- TH

                 KHOA BÁO CHÍ

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Độc lập- tự do- hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2011

    BÁO CÁO

    KẾT QUẢ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

    Kính gửi               : Ban giám hiệu trường Cao Đẳng PT - TH I

    Khoa báo chí

    Hội đồng chấm báo cáo thực tập tốt nghiệp CĐBC Khóa 5

    Tên em là              : Vũ Thị Hương Dịu

    Lớp                       : BC5E

    Đơn vị thực tập     : Đài Tiếng nói Việt Nam

    Thời gian thực tập : 15/02- 30/03

    *Đặc điểm chung:

    Thực hiện kế hoạch chương trình đào tạo của nhà trường cho sinh viên đi thực tập tốt nghiệp và được sự tiếp nhận của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến nay em đã hoàn thành quá trình thực tập, em xin được báo cáo thực tập tốt nghiệp và kết quả thực tập.

    1.Thuận lợi.

    Trong thời gian học tập tại trường em đã được các thầy cô trang bị cho nhiều kiến thức về nghiệp vụ báo chí, nhờ đó em đã bớt phần nào bỡ ngỡ khi bước vào thực hành, lý thuyết ở trường.

    Khi về Trung tâm tin- ĐTNVN, em đã được lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên giúp đỡ tận tình, từ đó em có điều kiện cùng các anh chị đi thực tế, khai thác tài liệu . Từ đó có thể nắm bắt được thông tin phục vụ cho việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách, theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Chính điều đó đã tạo điều kiện bổ ích trong nghề nghiệp.

    2. khó khăn.

    Bên cạnh những thuận lợi, em còn gặp không ít những khó khăn. Chưa quen địa hình, kiến thức, kinh nghiệm còn yếu, hạn chế trong việc thông tin những sự kiện mang tính thời sự nóng hổi.

    Hạn chế về văn phòng, ngôn ngữ báo chí, thuật ngữ chuyên ngành, hạn chế việc tiếp xúc và khả năng lấy thông tin không được nhạy bén.

    3. kết quả thực tập.

    Trong quá trình thực tập, được sự giúp đỡ của anh, chị phóng viên Trong Trung tâm tin, trong Đài, cùng lỗ lực của bản thân em đã hoàn thành vượt chỉ tiêu 6 tin 2 bài của nhà trường đề ra.

    Trong thời gian thực tập em thấy mình đã học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn và vận dụng những kiến thức đã học ở trường trong việc tiếp cận cơ sở, khai thác thông tin nhin nhận vấn đề.

    Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, anh chị phóng viên ĐTNVN đã tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa thực tập này.

    Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2011

                                                               Sinh viên thực tập

                                                         Vũ Thị Hương Dịu

    MỤC LỤC

     Mở đầu……………………………………………………………

    1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………

    2. Lịch sử nghiên cứu đề tài……………………………………………

    3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu………………………………………

    4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….

    5. Kết cấu………………………………………………………………

    Nội dung…………………………………………………………….....

    Chương I………………………………………………………………

    Một số vấn đề lí luận vềnguồn nhân lựcvà nhân lựccơ quan báo chí.

    I.Quan niệm về nguồn nhân lực……………………………………...

    I.1 Khái niệm…………………………………………………………

    I.1.1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin về nguồn nhân lực…….

    I.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực……………………..

    I.2 Vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự nghiệp xây dựng CNXH…………………………………………………….

    I.2.1 Trong lĩnh vực kinh tế…………………………………………..

    I.2.2 nguồn lực con người trong lĩnh vực chính trị…………………...

    I.2.3 Nguồn lực con người trong lĩnh vực văn hóa…………………...

    I.3  Quan niệm và Đặc điểm về nguồn nhân lực của cơ quan báo chí

    I.3.1 Quan niệm về nguồn nhân lực cơ quan báo chí……………

    I.3.2 Đặc điểm nguồn nhân lực cơ quan báo chí…………………......

    I.4 Cơ cấu nguồn nhân lực cơ quan báo chí…………………………

    I.4.1Ban lãnh đạo……………………………………………………….

    I.4.2 Đội ngũ phóng viên, Biên tập viên…………………………….

    I.4 Xu hướng phát triển của nguồn nhân lực báo chí……………

    Chương II. …………………………………………………………..

    Thực trạngvà những giải pháp chonguồn nhân lực tại TTTin- Đài TNVN

    II.1 Sơ lược về Trung tâm Tin………………………………………..

    II.1.1 Sơ lược về vị trí…………………………………………………...

    II.1.2 Một vài nét khái quát về Trung tâm Tin…………………………..

    II.2 Thực trạng nguồn nhân lực tại Trung tâm Tin – ĐTNVN…….

    II.2.1 Cơ cấu tổ chức của Trung Tâm Tin………………………………

    II.2.2  Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực tại trung tâm Tin……………….

    II.2.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung, phát triển nguồn nhân lực tại Trung tâm Tin……………………………………………………….

    II.2.4 Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Trung tâm Tin-ĐTNVN

    II.3 Một số giải pháp nâng cao nguồn nhân lực Trung tâm Tin………….

    II.3.1 Bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ nhà báo………………………...

    II.3.2 Đổi mới cơ chế quản lý phóng viên……………………………..

    II.3.3 Tổ chức bồi dưỡng chính trị cho nhà báo……………………….

    II.3.4 Có chế độ đãi ngộ hợp lý………………………………………..

    Kết luận……………………………………………………………….

    Tài liệu tham khảo…………………………………………………….

    MỞ ĐẦU

    Báo chí là một vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, với vai trò cung cấp, phân tích, đánhgiá nhận xét thông tin, từ đó định hướng hoạt động cho công chúng.

    Không những thế báo chí còn mang đến cho công chúng những chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như xu hướng phát triển chung của thế giới. Báo chí đã đưa con người ra khỏi thời kì mông muội và cho công chúng được tắm mình trong nhu cầu thông tin và ngược lại nhờ thông tin mà con người trở nên thông minh hơn.

    Ngay khi loài người vừa xuất hiện, để tạo cho con người có điều kiện hợp tác cần thiết để cùng đạt được một mục đích, họ đã biết bẻ lá cây, đốt lửa trên núi cao làm tín hiệu, dần dần họ có nhu cầu tích lũy kinh nghiệm quý báu từ cuộc sống, từ đó xuất hiện nhu cầu thông tin.

    Sự ra đời của báo chí là nấc thang tiếng nói đầu tiên, quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển, tăng cường thông tin giao tiếp cho xã hội loài người.

    Nhu cầu thông tin ngày càng phát triển trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, xã hội, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng.v.v… luôn là đề tài phong phú, sát thực để cơ quan báo chí khai thác, phản ánh qua nhiều góc độ khác nhau. Tất cả những lĩnh vực đó đều được thể hiện một cách phong phú, đa dạng, đa chiều qua các đề tài của báo chí và trở thành loại tin nhanh cung cấp  cho người đọc, người nghe những thông tin nhanh nhất, nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đời sống kinh tế.

    Vai trò, tầm quan trọng của báo chí đặt ra yêu cầu đầu tiên, đó là: Chúng ta cần phải có những con người làm báo chuyên nghiệp, nhạy bén, đủ đức đủ tài. Tùy từng nhiệm vụ mà mỗi cơ quan báo chí cần đặt nguồn nhân lực hoạt động nhịp nhàng dưới yêu cầu của thông tin thời sự của mỗi cơ quan báo chí.

    1. Lí do chọn đề tài:            

    Báo chí nước ta ngày càng phát triển. Theo thống kê của bộ thông tin và truyền thông, đến năm 2010 toàn quốc có 702 cơ quan truyền thông đại chúng từ trung ương đến địa phương (tòa soạn, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình). Đài Tiếng nói Việt Nam (ĐTNVN) hiện có 6 hệ phát thanh, gồm 4 hệ đối nội và 2 hệ đối ngoại. Đã có 14.000 nhà báo được cấp thẻ cùng hàng ngàn sinh viên theo học tại các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành báo chí.

    Trong hoạt động báo chí hiện nay, một vấn đề dặt ra là nguồn lực con người bắt đầu từ khâu đào tạo đến việc lựa chọn, bố trí đào tạo lại. Đảng và nhà nước ta coi trọng sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ vì nhận thức sâu sắc về nguồn nhân lực con người và đào tạo con người để sử dụng con người tốt hơn. Muốn cho sự nghiệp báo chí phát triển, ngoài các yếu tố cơ sở vật chất, tôn chỉ mục đích hoạt động thì vấn đề nguồn lực con người là một yêu cầu không thể thiếu. Nguồn nhân lực có chất lượng thì cơ quan báo chí sẽ phát triển có hiệu quả, ổn định. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề nguồn nhân lực trong các cơ quan báo chí đã có nhiều sự thay đổi phù hợp, đáp ứng được nhu cầu thực tế. Tuy nhiên vần còn có những tồn tại cần phải khắc phục.

    Chính những lý do, tầm quan trọng của báo chí nằm trong tay các nhà báo và cách sắp xếp tổ chức con người của mỗi cơ quan báo chí. Nên tôi chọn đề tài: “Thực trạngvà những giải pháp chonguồn nhân lực” và khảo sát thực tế tại Trung tâm Tin-Đài tiếng nói Việt Nam(TTTin- ĐTNVN)

    2. Mục đíchnghiên cứu đề tài:

    Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm khảo sát thực trạng nguồn nhân lực tạiTTTin- Đài TNVN. Từ đó, phát huy những ưu điểm đồng thời đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho TTTin- Đài TNVN, vàđây là mối quan tâm của những người lãnh đạo trong các cơ quan báo chí, các đơn vị đào tạo và những người sẽ là nhà báo trong tương lai.

    3. Đối tượng vàphạm vi nghiên cứu:

    Nghiên cứu về công tác đào tạo, vấn đề sử dụng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực của TTTin- ĐTNVN. Phạm vi nghiên cứu trong thời gian thực tập (từ 15 tháng 02 đến ngày 30 tháng 03 năm 2011).

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    Sử dụng tổng hợp phương pháp:đi từ nghiên cứu lý luận đến khảo sát thực tiễn,nghiên cứu tài liệu, so sánh, thống kê, phân loại phỏng vấn, phân tích, khảo sát,.v.v…để có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này.

    5. Kết cấu:

    Tiểu luận gồm:

    A: Mở đầu.

    1. Lí do chọn đề tài.

    2. Mục đích nghiên cứu đề tài.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.

    4. Phương pháp nghiên cứu.

    B: Nội dung.

    Chương I: Một số vấn đề lí luận vềnguồn nhân lựcvà nhân lựccơ quan báo chí.

    Chương II: Thực trạngvà những giải pháp chonguồn nhân lực tại TTTin- Đài TNVN

    C. Kết luận

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG I:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NHÂN LỰC CƠ QUAN BÁO CHÍ

     I. QUAN NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

     I.1. Khái niệm.

    Hiểu đơn thuần nhân (người) lực (sức mạnh) nhân lực: Sức mạnh con người.

    Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người như: thể lực, trí tuệ, kĩ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay trong một hoạt động nào đó­.

    Qua nhiều khái nệm, tổng thể lại: Nguồn lực con người là tổng thể các yếu tố thuộc về vật chất, tinh thần, phẩm chất đạo đức, trình độ chi thức, vị thế xã hội tạo nên năng lực của con người, công đồng người có thể sử dụng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động của xã hội. Không những nói đến vai trò, quan trọng nhất đó là đặc điểm số lượng, chất lượng của nguồn nhân lực và đặc điểm này được xác định trên qui mô dân số, cơ cấu, độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bổ dân cư giữa các vùng miền trong nước, giữa các lĩnh vực đời sống, chính trị.

    Chất lượng nguồn nhân lực lại là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý, tình yêu quê hương, đất nước, ý thức giai cấp, ý thức trách nhiệm cá nhân với công việc, gia đình, xã hội, giác ngộ, bản lĩnh chính trị, lập trường, tư tưởng,v.v. ..trong các yếu tố trên thì phẩm chất đạo đức, học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức độ trưởng thành của con người. Quy định phương hướng, tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi con người chúng ta.

    Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực có quan  hệ với nhau rất chặt che, nếu số lượng ít gây khó khăn cho phân công lao động, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng. Nhưng ngược lại chất lượng được nâng cao sẽ góp phần giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất kinh doang, hay số người trong một tổ chức xã hội.

    Vì vậy: Xã hội muốn phát triển  nhanh, bền vững thì cần phải quan tâm đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, để nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao. Muốn thực hiện được điều đó cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, sử dung, phân công lao động.

     I.1.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn nhân lực:

    Theo quan điểm của Mác-Lênin cho rằng: Nguồn nhân lực con người là tổng thể các yếu tố thuộc vật chất, tinh thần, đạo đức, phẩm giá, trình độ, tri thức, vị thế xã hội tạo nên năng lực con người của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế-văn hóa-xã hộicủa đất nước và trong những hoạt động xã hội.

    Trong bất cứ lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân lực cũng là yếu tố quan trọng nhất. Trong lĩnh vực kinh tế Mác-Lênin nhận xét “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại công nhân, người lao động”. Như vậy: Nhân lực là rất quan trọng trong lực lượng sản xuất, con người khi được tạo ra một cách chu đáo, bài bản sẽ có thể vận dụng được hết khả năng của mình trong quá trình sản xuất.

    Ở nước ta, mộ nước đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN)thì người lao động đã thực sự trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ quá trình sản xuất.

     I.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực:

    Hồ Chí Minh coi con người là vốn quý. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người XHCN. Tiêu chuẩn của con người XHCNlà có tư tưởng XHCN, mình vì mọi người, mọi người vì mình, có ý thức và năng lực làm chủ, có đạo đức, lối sống XHCN, lao động kĩ thuật, kĩ thuật có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh phẩm giá, khả năng vươn lên chân-thiện-mỹ của con người.

    I.2. vai trò và tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Chủ nghĩa xã hội được xây dựng tùy thuộc vào việc chúng ta có phát huy tốt nguồn nhân lực hay không? Khi Việt Nam bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định : “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những người XHCN” nghiên cứu vai trò nguồn nhân lực con người sẽ hiểu rõ hơn quan điểm Hồ Chí Minh.

     I.2.1. Trong lĩnh vực kinh tế:

    Trong kinh tế xem xét con người với tư cách là lực lượng sản xuất và vai trò trong quan hệ sản xuất. Trong bất cứ xã hội nào người lao động cũng là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển, hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hóa ngày càng cao thì vai trò của người lao động trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng sản xuất. Lênin khẳng định: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động”. Con người khi được làm chủ tư liệu sản xuất, được đào tạo một cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế, sẽ có khả năng khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất như: huy động vốn, khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu, vật tư. Do vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn. Ngày nay, vai trò của người quản lý trong sản xuất kinh doanh ngày càng trở lên quan trọng, do vậy các quốc gia thường rất quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này.

    Ở nước ta hiện nay, người lao động trở thành những người chủ đất nước, làm chủ quá trình tổ chức sản xuất. Điều đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn nhân lực của con người, phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng, bền vững làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp.

    I.1.2. Nguồn nhân lực con người trong lĩnh vực chính trị:

    Từ khi giai cấp công nhân và Đảng cộng sản lãnh đạo toàn xã hội thì con người được giải phóng khỏi ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp và trở thành người làm chủ đất nước, nhân dân tự do, làm chủ vận mệnh của mình, tổ chức thành nhà nước dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

    Xét  nguồn lực chính trị, khi mà người dân có đủ năng lực, tri thức thì sẽ thấy rõ được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người xứng đáng có đủ năng lực, đạo đức, phẩm chất, xứng đáng đứng vào cơ quan nhà nước, góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh.

    Những người cán bộ nhà nước, hiểu biết được lý luận cũng như thực tiễn sẽ thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Người cán bộ nhà nước tích cực tuyên truyền, phổ biến, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Làm cho dân hiểu, dân tin thì người dân sẽ tích cực, chủ động thực hiện đường lối đó. Có ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân và hiểu rõ những quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh loại trừ những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, làm tăng sức mạnh của nhà nước, đất nước ngày càng phát triển phồn vinh, văn minh giàu đẹp.

     I.2.3. Nguồn lực con người trong lĩnh vực văn hóa:

    Khi con người ta có tri thức, hiểu biết về các hình thức nghệ thuật sẽ tham gia sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, đó là những công trình văn hóa có giá trị, dễ đi vào lòng người, có tác dụng giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân cách mỗi con người trong xã hội. Con người có văn hóa, cũng là những con người có nghĩa vụ bảo tồn những di sản văn hóa tinh thần chảu đất nước, nhân loại. Trong khi giao lưu quốc tế ngày càng mở rông, mỗi con người chúng ta có điều kiện tiếp cận với  nền văn hóa nhiều nước trên thế giới và trình độ tri thức của mỗi người. Văn hóa sẽ là tiền đề để họ tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình, làm phong phú đời sống tinh thần cá nhân. Con người có tri thức văn hóa, khoa học, có năng lực nghiên cứu tạo ra những khả năng để họ đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Nguồn lực con người xét trên mỗi cá nhân là tiềm năng, hiệu quả của việc phát huy nguồn lực ấy tùy thuộc vào chế độ xã hội, tùy thuộc vào cách quản lý xã hội, năng lực, nghệ thuật của người quản lý nguồn lực con người không được khai thác, không phát huy có hiệu quả đó là sự lãng phí lớn nhất, đặc biệt là đối với đội ngũ tri thức càng hoạt động, càng nghiên cứu, càng làm việc trí tuệ của họ càng phong phú, càng đa dạng.

    I.3. Quan niệm và đặc điểm nguồn nhân lực cơ quan báo chí

    I.3.1. Quan niệm về nguồn nhân lực tại cơ quan báo chí     

    Con người là trung tâm của mọi hoạt động xã hội, cùng với hoạt động tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ. Nguồn lực con người giúp tạo nên nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển.

    Ngành nghề nào cũng vậy, nguồn nhân lực tốt sẽ quyết định ngành nghề đó phát triển và như vậy đòi hỏi nguồn nhân lực phải có kinh nghiệm, có ý thức đạo đức tốt.

    Nghề báo cũng vậy, lao động báo chí mang tính đặc thù. Tính chất nghề nghiệp có nhiều yếu tố, điều kiện chi phối hoạt động của nhà báo trong đó có số lượng và chất lượng nhà báo.

    I.3.2. Đặc điểm nguồn nhân lựctại cơ quan báo chí

    Nguồn nhân lực của cơ quan báo chí là toàn bộ những con người làm trong cơ quan báo chí. Trong đó, người đứng đầu giữ vai trò quan trọng trong việc điều hành, lãnh đạo. Đội ngũ phóng viên(PV), biên tập viên(BTV), giữ vai trò chủ chốt, hiện nền báo chí nước ta có hơn 14000 nhà báo , gần 1000 cơ quan báo chí. Đội ngũ PV, BTV, báo chí nước ta có tính kế thừa với xu hướng ngày càng trẻ hóa và được đào tạo chính quy, lớp phóng viên có độ tuổi từ 25 đến 40.

    Báo chí nước ta ngày càng được kiện toàn tổ chức, điều chỉnh, bố trí lại cán bộ ở các phòng ban, tạo sự hợp lý tính chuyên sâu trong công việc. Tiếp tục xây dựng đội ngũ chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, được đào tạo, rèn luyện nghiệp vụ báo chí, pháp luật, kiến thức kinh tế, xã hội, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức của người làm báo.

    Cán bộ, PV, BTVyêu nghề, say sưa gắn bó với nghề không chủ quan, tự mãn, luôn ý thức phấn đấu, không ngừng trở thành những nhà báo vững vàng chính trị, có chuyên môn vững để đáp ứng nhu cầu hội nhập ngày càng cao.

    Hạn chế:

    Hạn chế phổ biến nhất của đội ngũ cán bộ, PVbáo chí nước ta hiện nay là: tỉ lệ thành thạo ngoại ngữ quá ít, số PVgiỏi chưa nhiều, phóng viên giỏi đã chuyển sang làm quản lý. Một số PVtrẻ nhiệt tình, xông xáo, nhưng do vốn sống hạn chế nên chưa đủ sắc sảo. Ở những lĩnh vực như xây dựng Đảng, kinh tế, hai mảng đề tài này cực kì quan trọngđang thiếu những cây bút đủ tầm. Kinh tế nước ta đang dần hội nhập, một số PVkinh tế thị trường cho ra đời những tác phẩm xa rời đường lối của Đảng hay những tác phẩm câu khách mang tính chất thị trường.

    I.4. Cơ cấu nguồn nhân lực của cơ quan báo chí.

     I.4.1. Ban lãnh đạo:

    Ban lãnh đạo được coi là linh hồn, bộ não của tòa soạn có vai trò quyết định đến nội dung, hình thức. Lãnh đạo thực hiện đúng những chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, thực hiện đúng mục đích tờ báo đặt ra, tổ chức lập kế hoạch trước mắt, lâu dài cho tòa báo.

    Đề xuất những sáng kiến, tổ chức thực hiện những sáng kiến đó. Tổ chức hội nghị cộng tác viên, gặp gỡ bạn đọc. Ban lãnh đạo có thể tham gia viết bài, duyệt bài. Người lãnh đạo là người trực tiếp tổ chức, phân công và lên kế hoạch. Là người chịu trách nhiệm quản lí bao quát cơ quan. Vì vậy, người lãnh đạo không ngừng tu dưỡng nhân cách, phẩm chất và trình độ, thích ứng nhanh, rà soát, kiểm tra, phát hiện, sửa chữa những sai sót từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan báo chí phát triển.

      *Tổng biên tập:

    Tổng biên tập là người giữ vai trò quan trọng trong cơ quan báo chí, là người trực tiếp lên kế hoạch, tổ chức tin, bài cho PV, cộng tác viên. Vì vậy, tổng biên tập phải có phẩm chất, tư tưởng vững vàng, có chuyên môn nghiệp vụ.

    Là người có quan hệ rộng rãi với chính quyền và các tổ chức xã hôi, phải nghiên cứu, nắm vững đường lối, chính sách, tình hình thực tế, đầu mối công tác. Xây dựng chương trình, kế hoạch đưa tin, gợi ý chủ đề cho PV, tổ chức mạng lưới thông tin viên, cộng tác viên phải thường xuyên kiểm tra, giám sát, tổ chức đào tạo cho nguồn nhân lực.

    II.4.2. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên:

    * Biên tập viên:

    BTV là người xử lý tin bài của PV, cộng tác viên, thông tin viên, hoàn thiện tin bài nhằm nâng cao chất lượng lên mức tối đa để đảm bảo toàn diện các tính chất của tin tức, bài vở, tranh ảnh cho việc xuất bản, phát hành.

    Khai thác tổ các nguồn tư liệu, tài liệu, tin bài đề tài kịch bản theo phương hướng đơn vị.

    BTV nhằm nâng cao chất lượng, tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, chịu trách nhiệm về nội dung bản thảo.

    Thuyết minh về chủ đề tư tưởng, chỉ dẫn các yêu cầu về trình bày kĩ thuật, theo dõi quá trình dàn dựng, sản xuất.

    Chuẩn bị nội dung tuyên truyền quảng cáo, tập hợp, phân tích ý kiến dư luận của người xem, người đọc, người nghe.

    Tổ chức đội ngũ cộng tác viên để tác giả hoàn thành bản thảo, tham gia tổng kết chuyên môn nghiệp vụ.

    * Phóng viên:

    Là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan báo chí. Thực hiện viết, chụp ảnh, quay phim, các loại hình báo chí có nội dung, mức độ phức tạp trung bình.

    Xây dựng đề cương, thực hiện viết tin, bài theo sự phân công hướng dẫn của trưởng ban biên tập.

    Viết, chụp ảnh, quay phim các thể lọai tin, phóng sự, điều tra có nội dung phức tạp ở mức độ trung bình, chịu trách nhiệm cá nhân về tác phẩm báo chí của mình.

    Tổ chức làm việc với thông tin viên, giao dịch, đặt, viết tin bài theo đề cương đã duyệt.

    I.4. Xu hướng phát triển của ngồn nhân lực báo chí

    Nguồn tri thức về chính trị, tư tưởng, xã hội giúp người cán bộ báo chí

    Có quan điểm, lập trường vững vàng, có kiến thức cơ bản rộng về xã hội, có phương pháp xem xét các hiện tượng, sự kiện trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa một cách toàn diện, biện chứng.

    - Các chi thức về quản lí và quản trị kinh doanh: Nhằm trang bị cho người cán bộ báo chí nắm được những vấn đề cơ bản về quản lí, kinh doanh, biết vận dụng vào công tác quản lí các cơ quan báo chí, vào hạch toán kinh doanh tiếp thị của báo, đài.

    - Các tri thức về chuyên môn nghiệp vụ: Làm báo là một nghề hơn thế, là một nghề rất phức tạp và gian khổ. Do đó ngoài việc trang bị các tri thức về chính trị, tư tưởng, xã hội, các tri thức về quản lí và quản trị kinh doanh, họ phải được bồi dưỡng, đào tạo, các tri thức về quản lí  và quản trị kinh doanh, họ phải được bồi dưỡng, đào tạo các tri thức về nghiệp vụ làm báo, về đạo đức nghề nghiệp. Lượng tri thức này chiếm một vị trí rất quan trọng trong cấu tạo chương trình đào tạo cử nhân báo chí.

     - Người làm báo còn phải biết sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện do cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ mang lại được sử dụng vào hoạt động báo chí, đồng thời họ còn phải biết ngoại ngữ, vi tính để giao tiếp và hoạt động nghề nghiệp. Tóm lại, trong điều kiện kinh tế thị trường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước người làm báo càng biết nhiều, càng hiểu rộng, càng tốt cho hoạt động nghề nghiệp.

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG GIẢI PHÁP CHO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM TIN - ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM.

    II.1. SƠ LƯỢC VỀ VỊ TRÍ  VÀ VÀI NÉT KHÁI QUÁT TRUNG TÂM TIN- ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

    II.1.1. Sơ lược về vị trí

    Trung tâm Tin trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam. Trụ sở chính tầng 7, nhà biên tập phát thanh 41-43 Bà Triệu- Quận Hoàn Kiếm Hà Nội.

    II.1.2. Vài nét khái quát về Trung tâm Tin- Đài tiếng nói Việt Nam

    TTTin là đơn vị sản xuất, khai thác tin, bài từ các nguồn; là đầu mối duy nhất tiếp nhận, quản lí, biên tập, xử lí đã thành phẩm, TTTin chuyển kịp thời đến các đơn vị sử dụng thông qua cổng thông tin điện tử, mạng nội bộ, mạng Office hoặc bằng văn bản có chữ kí của lãnh đạo TTTin.

              TTTin phát triển qua ba giai đoạn:

    • Giai đoạn thứ nhất: TTTin thành lập năm 1994. Ban đầu là một phòng gồm 8 phóng viên, biên tập viên, nằm trong ban thời sự và chủ yếu cung cấp tin bài cho ban thời sự ĐTNVN.
    • Giai đoạn thứ hai: Năm 2007 TTTin tách ra đơn vị độc lập ngang cấp hệ, nhưng tin, bài hầu như cung cấp cho phòng thời sự là chủ yếu, một ngày sản xuất được hơn 100 tin.
    • Giai đoạn thứ ba: Từ năm 2007 đến nay TTTin hoạt động có hiệu quả, một ngày sản xuất, khai thác, xử lí hơn 500 tin, bài, dùng cho tất cả các hệ, 4 hệ phát thanh của Đài, báo hình ( PT có hình), báo điện tử, báo viết, và cung cấp tin cho tất cả các Đài phát thanh địa phương của 60 tỉnh thành trong cả nước, bán tin cho các đơn vị truyền thông ở trong nước.

    Đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kĩ thuật viên của TTTin khá trẻ trung, vững vàng chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị, tâm huyết với nghề nghiệp.

    Hiện TTTin phấn đấu 5 năm tới sẽ phát triển trở thành ngân hàng tin tức, chiếm 80% lượng tin tức của Đài.Thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ PV gấp rưỡi so với hiện tại, tương lai ngoài lực lượng PV các cơ quan thường trú, PV của TTTin sẽ có mặt khắp nơi trên thế giới, TTTin sẽ có mạng lưới cộng tác viên đều khắp trong cả nước.

    TTTin đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý hạng nhất- nhì- ba, bằng khen của chính phủ, bằng khen giám đốc Đài TNVN, nhiều huy chương vàng, bạc, bằng khen giải báo chí quốc gia.

    II.2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM TIN - ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

    II.2.1. cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tin.

     
     

    II.2.2. Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực của Trung tâm Tin

    Trung tâm Tin- ĐTNVN hiện có 5 phòng ban, một đội ngũ phóng viên thường trú. Có tất cả 108 phóng viên, biên tập viên và lãnh đạo TTTin.

    * Ban lãnh đạo Trung tâm Tin

    • Giám đốc Trung tâm Tin: phan Vân Hương, sinh năm 1956, giới tính nữ, tốt nghiệp Tuyên Huấn (nay là Học Viện Báo Chí Tuyên Truyền), cao cấp chính trị. Là người lãnh đạo TTTin, người trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý cán bộ, công nhân viên của TTTin, là người phân công công việc tại Trung tâm và chịu trách nhiệm về hoạt động của TTTin. Là người cùng với ban lãnh đạo ĐTNVN tổ chức những kế hoạch hoạt động lâu dài và trước mắt cưa TTTin. Đối với giám đốc là người thực hiện công tác đối ngoại, tổ chức hội nghị và quyết định đến công tác cán bộ trong TTTin.
    • Phó giám đốc: Nguyễn Vũ Duy, sinh năm1973, giới tính nam, tốt nghiệp Đại học Luật , cao cấp chính trị, văn bằng II nghiệp vụ báo chí. Là người chuyên phụ trách về mảng nội dung, biên tập, chỉnh sửa, duyệt nội dung tin bài.
    • Phó giám đốc: Lê Huy Nam, sinh năm1972, giới tính nam, tốt nghiệp Học viện Ngân hàng, cao cấp chính trị, văn bằng II nghiệp vụ báo chí. Là người chịu trách nhiệm lên chương trình, kế hoạch cho những mảng thời sự nóng, hiện trường, đồng thời duyệt nội dung tin, bài cùng ban Giám đốc quản lí nhân sự.
    • Phó giám đốc: Vũ Xuân Cường, sinh năm 1964, giới tính nam, tốt nghiệp Đại học Bách Khoa, cao cấp chính trị, Văn bằng II nghiệp vụ báo chí. Là người chịu trách nhiệm về chất lượng cũng như quản lí về mặt kĩ thuật cho toàn TTTin.

    * Các phòng ban chức năng

    • Phòng tin trong nước: Đây là phòng chuyên chịu trách nhiệm tiếp nhận, xử lí, sản xuất tin, bài qua hai hình thức sản xuất Tin tại chỗ kết nối qua điện thoại và sản xuất Tin hiện trường. Phòng có hai phó phòng, chuyên lên kế hoạch, duyệt nội dung, biên tập lại tin, bài của các phóng viên trước khi đưa lãnh đạo duyệt phát sóng. Hiện phòng có 19 người, trong đó 100% trình độ Đại học. Trình độ chính trị cao cấp 2, Thạc sỹ 1 đạt (14,3%). Độ tuổi trên 50 có 2 người (45%), từ 30-50 có 10 người (44,5%), dưới 30 có 7 người (26%). Giới tính nam 5 người (40%), nữ 14 người (70% ).
    • Phòng tin thế giới: Phòng có 15 người, trong đó có 1 trưởng phòng, 1 phó phòng. 100% trình độ Đại học, trung cấp chính trị 5 (30%), Thạc sỹ 2 (7,5%). Độ tuổi trên 50 (31%), từ 30-50 (19%), dưới 30 (30%). Phòng chịu trách nhiệm khai thác xử lí tin, bài từ phóng viên thường trú nước ngoài gửi về, khai thác mọi thông tin diễn ra trên thế giới.
    • Phòng phóng viên thời sự- Kinh tế- Chính trị: Phòng có 30 phóng viên biên tập viên, trong đó có 1 trưởng phòng, 2 phó phòng. 100% tốt nghiệp Đại học, trình độ chính trị cao cấp 2 chiếm ( 6,7%), chính trị trung cấp 20 chiếm (67% ), chính trị sơ cấp 5 chiếm ( 16%). Độ tuổi trên 50 có 7 người ( 23%), từ 30-50 có 18 người (60%), dưới 30 tuổi có 5 người (17%). Phòng có 10 nữ (30%), 20 nam (77%). Chức năng của phòng chịu trách nhiệm sản xuất các tin bài ở ngoài hiện trường, thông tin thời sự nóng, cập nhật nhanh tất cả vấn đề xã hội.
    • Phòng thể thao văn hóa: Phòng có 15 người, trong đó có 1 trưởng phòng và 2 phó phòng. 100% tốt nghiệp Đại học, cao cấp chính trị 2 (14%), trung cấp chính trị 8 (53%). Độ tuổi từ 30-50 có 10 người (67%), dưới 30 tuổi có 5 người (33%).  Chuyên phụ trách sản xuất Tin Thể thao- Văn hóa, tổ chức các hoạt động giải trí.
    • Phòng hành chính tổng hợp: phòng có 4 cán bộ, trong đó có 1 phó phòng. 100% tốt nghiệp Đại học, trình độ lí luận chính trị cao cấp 1 (40%), trung cấp chính trị 3 (60%). Độ tuổi trên 50 có 1 người ( 40%), từ 30-50 có 3 người (60%). Phòng có 3 nữ (60%), 1 nam (40%). Làm công tác hành chính, công văn, giải quyết thắc mắc, những vấn đề liên quan đến thủ quỹ hành chính và là nơi quản lý, sắp xếp, cơ cấu bộ máy nguồn nhân lực TTTin.
    • Phòng công nghệ thông tin: Phòng có 10 cán bộ kỹ thuật, trong đó có 1 trưởng phòng. 100% tốt nghiệp Đại học, cao cấp chính trị 1 (10%), trung cấp chính trị 9 (90%). Giới tính nữ 3 (30%), nam 7 người (70%). Độ tuổi trên 50 có 1 người (10%), 30-50 tuổi 6 người (60%), dưới 30 tuổi  3 người (30%). Các kỹ thuật viên có trách nhiệm giải quyết kịp thời những sự cố kỹ thuật, hỗ trợ thu- phát tín hiệu, quản lý máy chủ và tất cả các thiết bị máy móc của TTTin.
    • Đội ngũ phóng viên thường trú của TTTin: Hiện có 11 phóng viên. 100% tốt nghiệp Đại học, cao cấp lý luận chính trị 10 (90%), trung cấp chính trị 1 (10%). Độ tuổi chủ yếu từ 30-50 tuổi, giới tính nam 11(100%). Nhiệm vụ cập nhật tin tức và đưa về TTTin.

    Bắt đầu từ năm 2008 Đài cải cách hành chính, đổi mới, sắp xếp lại các ban, TTTin cải cách hành chính từ 1 phòng nằm trong ban thời sự, đã tách riêng thành 1 hệ TTTin trực thuộc ĐTNVN và gồm có tất cả 5 phòng ban, chuyên cung cấp sản xuất tin cho toàn Đài, các hệ... Do vậy có sự chuyên môn hóa và quản lý sát sao hơn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nhà báo .v.v…Bên cạnh đó TTTin còn thành lập, mở thêm các lớp đào tạo chuyên môn nghiệp vụ theo các khóa…Nhiều đồng chí đã trưởng thành trong công tác, được cán bộ quản lý cấp ban giám đốc, trưởng, phó phòng.

    II.2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung, phát triển nguồn nhân lực của Trung tâm Tin.

    Đất nước ta đang ngày càng phát triển mạnh cả về kinh tế- chính trị- văn hóa xã hội, Đảng, nhà nước, có nhiều chiến lược phát triển đất nước trong thời gian tới. Nhu cầu thông tin của nhân dân ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng. Nắm bắt được tình hình đó và để phát huy vai trò, xứng đáng là cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng, Nhà nước, trong thời gian qua lãnh đạo TTTin cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ của lãnh đạo ĐTNVN đã đề ra phương hướng, chiến lược phát triển cho TTTin. Để Trung tâm Tin phấn đấu trở thành ngân hàng tin tức, ngày càng làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, nhằm hoàn thiện hệ thống hoạt động của Đài trung ương ĐTNVN.

    TTTin có đội ngũ PV, BTV, kỹ thuật viên trẻ, năng động, sáng tạo, nhiệt tình, ham học hỏi, vì vậy khả năng tiếp thu khoa học kỹ thật, chuyên môn nghiệp vụ là khá cao. Trong những năm qua, TTTin luôn khuyến khích phóng viên, kỹ thuật viên tham gia các lớp đào tạo chuyên ngành báo chí, kỹ thuật do các Đài nước ngoài tổ chức. Lãnh đạo TTTin luôn tạo điều kiện cho đội ngũ PV, kỹ thuật viên có nhu cầu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. TTTin có nhiều hình thức để động viên, phát huy trình độ chuyên môn PV:

    VD: Phân công các phóng viên thay nhau biên tập trong tuần để các phóng viên tự học hỏi và rút kinh nghiệm lẫn nhau. Ngoài ra chủ trương phát huy mạnh lưới cộng tác viên, đảm bảo chất lượng.

    TTTin thường xuyên tiến hành cải cách hành chính và thay đổi về nguồn nhân sự để đạt hiệu quả làm việc tốt nhất: Cụ thể, năm 2008 TTTin giải quyết cho 8 người không đủ trình độ, không đáp ứng công việc cho nghỉ theo chế độ theo nghị định 16. Năm 2010 giải quyết cho nghỉ 5 người theo nghị định 32. Tuyển dụng những người có trình độ, tuyển 15 người vào biên chế, hợp đồng tự trang trải 20 lao động, cử 15 cán bộ theo học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chính trị và quản lý nhà nước. Tổ chức tập huấn cho 50 lao động hợp đồng về luật lao động, pháp lệnh công chức, bảo hiểm xã hội, luật báo chí, qui chế ngành. Nâng cao vai trò trách nhiệm của lãnh đạo phòng , lấy phòng phóng viên thời sự- chính trị- kinh tế làm lòng cốt. Tổ chức rà soát và đánh giá nhận xét cán bộ trẻ, có triển vọng đưa vào diện quy hoạch.

    II.2.4. Đánh giá chung về nguồn nhân lực của Trung tâm Tin.

    Trong những năm qua, Trung tâm Tin của Đài tiếng nói Việt Nam đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của ban lãnh đạo ĐTNVN, cùng sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền thành phố Hà Nội, cùng với sự phấn đấu nỗ lực của các cán bộ công nhân viên trong TTTin, nguồn nhân lực của TTTin đã phần nào được nâng cao, thể hiện qua chất lượng nội dung các sản phẩm tin bài, là đầu mối duy nhất tiếp nhận, quản lý, biên tập, xử lý tin bài của các cơ quan thường trú và tin, bài của phóng viên, biên tập viên trong Đài. Tin bài qua khâu biên tập, xử lý thành phẩm chuyển kịp thời, hiệu quả tới các đơn vị sử dụng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng. Có được những thành quả đó là nhờ:

    Thế mạnh

    * Ban lãnh đạo: là những người được sang lọc kỹ về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp.

    - cán bộ phụ trách trưởng- phó các các phòng ban đều là những người tâm huyết, chuyên môn vững.

    * Phóng viên- biên tập viên- kỹ thuật viên- cộng tác viên: đây là lực lượng đông nhất của TTTin. Hiện nay Trung tâm Tin có 108 PV, BTV, trong đó 20 PV kiêm phát thanh viên dẫn chương trình, 10 kỹ thuật viên. Qua quá trình công tác, hiện nay đội ngũ PV, BTV Trung tâm đã có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có kinh nghiệm trong cách khai thác tin bài, xử lý tài liệu. Các phóng viên tác nghiệp đều tốt nghiệp ngành báo chí và có phóng viên đang theo học cao học nên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt. Là những người trẻ, năng động, sáng tạo, ham học hỏi, tiếp thu nhanh về khoa học kỹ thuật. Lãnh đạo TTTin đã dựa vào những thuận lợi đó để xây dựng, phân công PV thực hiện những đề tài phù hợp với khả năng từng người để phát huy hết năng lực trong công việc. Chính vì vậy nội dung của ĐTNVN ngày càng phong phú, đa dạng, được quần chúng nhân dân nhiệt tình hưởng ứng. Chất lượng các tin bài của các phóng viên ngày càng phong phú, sâu sắc, mang tính chuyên nghiệp cao. Lãnh đạo TTTin luôn luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phóng viên đi cơ sở, khai thác thông tin, tìm đề tài, bằng cách không sử dụng tin chay. TTTin đã thúc đẩy phóng viên đi xâm nhập thực tế. Từ đó nội dung chương trình đã phản ánh kịp thời và sinh động những sự kiện xảy ra. Ngoài những đề tài được phân công, lãnh đạo Trung tâm luôn động viên cổ vũ phóng viên tìm tòi những đề tài mới, hấp dẫn, mang ý nghĩa xã hội. Trong thời gian qua đội ngũ PV đã phản ánh, tuyên truyền kịp thời những thông tin của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt là mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh.

    Ngoài đội ngũ PV, BTV còn có đội ngũ cộng tác viên trên khắp cả nước, họ thường xuyên viết tin bài, bài phản ánh quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Đội ngũ này đã mang lại cho nội dung chương trình cái nhìn mới, bao quát hơn về đời sống nhân dân.

     Đội ngũ PV, BTV của TTTin còn thường xuyên cộng tác với tờ báo trung ương và cơ sở. Trung tâm vận động các phóng viên thể hiện các tác phẩm của mình ở các cuộc thi báo chí và đều đạt kết quả cao với các huy chương vàng, bạc, bằng khen, trong các kì liên hoan.

    Kỹ thuật viên: Là đội ngũ trẻ, năng động, vững vàng về chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp. Tuy không trực tiếp xây dựng nội dung chương trình nhưng đội ngũ này là bộ phận không thể thiếu trong công tác tuyên truyền của Đài. Với công việc chính như ghi âm, thu tín hiệu chương trình, truyền dẫn phát sóng, kéo đường dây, hỗ trợ kĩ thuật trong quá trình khai thác tin của phóng viên tại Trung tâm và tại Đài. Trong những năm qua, kỹ thuật viên của TTTin đã làm tốt nhiệm vụ của mình. Mỗi kỹ thuật viên được phân công công việc cụ thể, rõ ràng. Với cách làn này đội ngũ kỹ thuật viên của TTTin đã nhận thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc. Khi công việc được phân định rõ ràng như vậy sẽ không gây chồng chéo giữa các kỹ thuật viên, tạo được hiệu quả cao trong công việc. Tay nghề cao và có nhiều kinh nghiệm trong công việc.

    Tuy nhiên nguồn nhân lực vẫn có một số hạn chế.

    Nguyên nhân:

    Những hạn chế về nguồn nhân lực như trên do nhiều yếu tố:

    • Do kinh phí của Đài còn hạn chế nên phương tiện kĩ thuật tại các phòng, ban còn thiếu, phương tiện đi lại thiếu, gây khó khăn cho việc tác nghiệp.
    • Số ít cán bộ trẻ chưa thực sự chuyên tâm rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
    • Trình độ ngoại ngữ còn nhiều hạn chế.

    Tuy nhiên theo đánh giá chung: Nguồn nhân lực tại TTTin khá đồng đều về trình độ, chuyên môn và có ý thức đoàn kết, học hỏi trau dồi.

    II.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM TIN-ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

    Trong quá trình xây dựng và phát triển TTTin- ĐTNVN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác truyền thông đại chúng. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số khó khăn làm ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tuyên truyền. Để khắc phục những khó khăn, hạn chế đó làm cho TTTin phát huy tốt vai trò của mình, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng của đất nước. TTTin- ĐTNVN cần áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao nguồn nhân lực như:

    II.3.1. Bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ nhà báo.

    - Trong xu thế phát triển của nhu cầu thông tin như hiện nay để có thể phát triển,s TTTin cần quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ nhà báo. Đặc biệt là đội ngũ trẻ và đội ngũ do ảnh hưởng của chiến tranh chưa được đào tạo hoàn chỉnh. Cụ thể khuyến khích, tạo mọi điều kiện để PV, BTV, kĩ thuật viên tham gia các lớp đào tạo báo chí liên kết với nước ngoài tổ chức để nâng cao trình độ, tiếp cận khoa học kĩ thuật, phương pháp thể hiện mới.

    - Thường xuyên tham gia các cuộc thi do Đài tổ chức và có những buổi gặp mặt, giao lưu trao đổi kinh nghiệm giữa các phóng viên, kĩ thuật viên trong TTTin, trong Đài hoặc mở rộng với Đài nước ngoài. Điều này tạo mối quan hệ mật thiết giữa các PV, kĩ thuật viên giúp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phối hợp tốt trong quá trình tác nghiệp.

    - Thường xuyên cho các PV. BTV kĩ thuật viên tham gia các đợt tập huấn để giúp họ vững vàng hơn trong quá trình tác nghiệp của mình.

    - Nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chấ kĩ thuật  đồng bộ cho Trung tâm, nhất là các phương tiện kĩ thuật hiện đại, giúp cho quá trình tác nghiệp được thuận lợi.

    II.3.2. Đổi mới cơ chế quản lí phóng viên

    - Cần phân rõ nhiệm vụ của từng cán bộ nhân viên, không để phóng viên cùng một lúc nắm giữ nhiều công tác khác nhau. Điều này dẫn đến sự chồng cháo trong công việc, PV sẽ không làm tốt được vai trò của mình.

    - Rà soát bố trí sắp xếp lại, phân công phân nhiệm cho hợp lí đối với năng lực chuyên môn của từng người.

    - Các cán bộ nhân viên của TTTin vẫn còn đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Do vậy đối với cán bộ cần phân công công việc cụ thể, đối với phóng viên cần phân chia mảng, đề tài, nguồn khai thác tin theo đúng sở trường và năng lực của từng người.

    - Tính dân chủ vẫn chưa được thể hiện rõ. Do vậy để có thể giúp các nhân viên cạnh tranh lành mạnh với nhau TTTin cần phát huy quyền dân chủ của cán bộ công nhân viên chức và lao động trong các hoạt động của cơ quan.

    - Phát huy tính chủ động sáng tạo của PV, kịp thời giúp đỡ, trao đổi với cộng tác viên về chuyên môn nghiệp vụ để họ nắm rõ được phương hướng tuyên truyền.

    - Với nhũng hạn chế về nguồn lực con người do khâu tuyển dụng và quá trình làm việc, TTTin cần tiếp tục củng cố đội ngũ, coi trọng chất lượng con người. Tăng cường công tác chỉ đạo gắn với việc thường xuyên kiểm tra đôn đốc, hoàn thiện bộ máy tổ chức, phân công lao động hợp lí, coi trọng chất lượng tuyển dụng con người theo hướng xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi công việc để từ đó có một đội ngũ PV có chất lượng tốt.

    Khắc phục được hạn chế trên về con người chắc chắn chất lượng chương trình sẽ được nâng cao.

    II.3.3. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ phóng viên

    - Trình độ chính trị được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tạo nên hai yếu tố quan trọng nhất của người làm báo dố là tư tưởng và định hướng. Tuy nhiên trình độ chính trị của các cán bộ ở TTTin vẫn còn hạn chế, do vậy TTTin cần thường xuyên tổ chức cho cán bộ nhân viên nhất là đội ngũ PV trẻ tham gia các lớp lí luận chính trị để củng cố, nắm bắt được chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước của địa phương.

    - Tổ chức lớp học tìm hiểu, nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin để từ đó nâng cao trình độ lí luận trong đội ngũ PV, BTV.

    - Mở các lớp học chuyên môn để các PV, BTV, nhận thức đúng được vai trò và công việc của mình trong cơ quan.

    - Đặc biệt là cần nâng cao trình độ ngoại ngữ cho các PV,…

    - Tổ chức các buổi giao lưu, trao đổi để đội ngũ PV, BTV trong TTTin và trong Đài để có thể học hỏi kinh nghiệm làm báo và nhân cách đạo đức của đồng nghiệp mình.

    - Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để từ đó PV, BTV, kĩ thuật viên có thể nâng cao trình độ nhận thức và phẩm chất đạo đức của mình.

    II.3.4. Có chế độ đãi ngộ hợp lí.

    - Một trong những yêu cầu thiết yếu của các cán bộ PV ở TTTin là vấn đề chế độ đãi ngộ. Vì làm báo có những đặc thù riêng về thời gian cũng như mức độ nguy hiểm, đòi hỏi chất lượng ngày càng cao do vậy, để người làm báo an tâm công tác, phát huy được khả năng thế mạnh của mình thì TTTin cần có chế độ chính sách ưu đãi hợp lí với cán bộ viên chức, nhất là PV.

    - Đưa công tác thi đua khen thưởng vào hoạt động có nề nếp, có sơ tổng kết kịp thời.

    - Cần có những quan tâm đặc biệt đối với phóng viên có năng lực và tài năng. Để từ đó họ có điều kiện khai thác và phát huy được hết khả năng của mình.

    - đối với những phóng viên có hoàn cảnh khó khăn thì cần có trợ cấp để họ an tâp hoạt động tác nghiệp.

    KẾT LUẬN

    Báo chí là một loại hình thông tin mang tính chính trị xã hội, là một phương tiện không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện nay. Trong lịch sử cách mạng nước ta, báo chí đã gắn bó với những bước thăng trầm và có đóng góp cho thắng lợi cuối cùng, bởi chính đặc thù, quyền lực báo chí và niềm tin của nhân dân vào loại hình thông tin này.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau khi tìm đường cứu nước người đã dung báo chí làm phương thức tuyên truyền đầu tiên vào các tầng lớp tri thức. Do vậy, báo chí là người dẫn đường tin cậy của đồng bào cả nước, cổ vũ nhân dân đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã chọn và trở thành vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và các thế lực thù địch.

    Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh với nền tri thức toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, báo chí càng có nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề. Không những làm cho dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trên mọi lĩnh vực của công cuộc xây dựng CNXH. Báo chí phải góp phần làm cho thế giới quan, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ một vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Động viên toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn thử thách, năng động sáng tạo giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN. Đồng thời cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố, tích cực đi lên với việc phê phán các hành vi tiêu cực, bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại.v.v…

    Để thực hiện nhiệm vụ của báo chi vai trò của nhà báo đòi hỏi báo chí phải mạnh, muốn vậy phụ thuộc vào nguồn nhân lực báo chí. Do vậy, các cơ sở đào tạo phải chú trọng ngay từ khan tuyển chọn, đào tạo, nội dung và phương pháp đào tạo đem lại hiệu quả cao.

    Những người làm báo phải không ngừng đào tạo, học hỏi kinh nghiệm. Đảng và nhà nước cần quan tâm hơn cho công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan báo chí, Đài phát thanh- truyền hình. Hy vọng rằng trong tương lai chúng ta sẽ có một nguồn nhân lực báo chí mạnh để có nền báo chí hiệu quả./.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nhiều tác giả:

    - 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam- NXB Chính trị quốc gia.

    2. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang:

    - Cơ sở lý luận báo chí truyền thông- NXB Văn hóa thông tin.

    3. Đinh Văn Hường:

     - Tổ chức và hoạt động tòa soạn- NXB Quốc gia.

    4. Đức Dũng:

    - Viết báo như thế nào- NXB Văn hóa thông tin.

    5. Bộ Giáo dục và Đào tạo:

    - Giáo trình CNXH Khoa học- NXB Chính trị Quốc gia

    6. Bộ Giáo dục và Đào tạo:

    - Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh- NXB Chính trị Quốc gia

    7. Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn- Tập 6- NXB Đại học  Quốc gia

    8. Tạp chí: Nghề báo

    9. trungtamtin.tnvn.vn- ĐTNVN

    10. Một số Website.www.nghebao.com./.

    DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

    1. ĐTNVN :  Đài tiếng nói Việt Nam.

    2.TTTin      : Trung tâm Tin.

    3. NXB       : Nhà xuất bản.

    4. CNXH     : Chủ nghĩa xã hội.

    5. PV          : Phóng viên.

    6. BTV       : Biên tập viên.

    tiểu luận tốt nghiệp