Đăng nhập

LỂ HỘI DÂN GIAN MIỀN NAM

KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN LỄ HỘI DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ

Với tư cách là một vùng văn hoá mang tính chất như một bộ phận của nền văn hoá Việt Nam thông nhất, văn hoá Nam bộ theo bước chân những người lưu dân Việt ra đi từ “cái gốc” của nền văn hoá truyền thống Việt Nam, cái “đồng” vẫn là truyền thống văn hoá Đại Việt, nhưng cái “dị” là yếu tố giao tiếp văn hoá dân tộc (VHDT) giữa người Việt cùng các dân tộc khác, giữa văn hoá truyền thống với văn hoá hiện đại trên vùng đất mới, trong hoàn cảnh lịch sử mới… tất cả góp phần tạo ra nhiều nét đặc thù mang tinh thần văn hoá (mentalité culturelle) Nam bộ thể hiện ra không phải chỉ qua phương ngữ, tâm lý xã hội, lối sống,v.v mà còn qua cả tôn giáo, tín ngưỡng và các sinh hoạt lễ hội dân gian (LHDG) nơi đây.
Hoạt động LHDG nói riêng, văn hoá dân gian nói chung, ngoài sự tự thân vận động bởi các qui luật đặc thù tạo ra các đặc điểm nội tại chi phối sự phát triển “ bên trong” bản thân mang tính chất như những nhân tố “nội sinh”, nó còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những nhân tố khác mang tính chất “bên ngoài”, trong đó tác động của các thể chế nhà nước thuộc các chế độ xã hội đương thời có vai trò quan trọng. Các tác động ấy một mặt vừa là nhân tố “nội sinh” trong tiến trình phát triển của các LHDG dưới sự ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hoá của giai cấp thống trị với tư cách là dòng văn hoá chính thống (mà thực chất đó vẫn là sự tích hợp các giá trị thuộc các dòng văn hoá khác nhau dựa trên cơ sở kế thừa vốn VHDT đã được bội tụ như những “trầm tích” lắng đọng từ hàng trăm, hàng ngàn năm), vừa mang tính chất “ngoại sinh” vì nó chi phối mạnh mẽ quá trình “thiết chế hoá” làm cho các LHDG không dừng lại chỉ là những sinh hoạt folklore thông thường mà còn từng bước trở thành như những thiết chế xã hội với chức năng cơ sở vật chất; cơ chế tổ chức và các hoạt động đặc thù…
Ở đỉnh cao giai đoạn thịnh trị cuối cùng của triều Nguyễn và cũng là của chế độ phong kiến Việt Nam, Minh điều hương ước (năm Tự Đức thứ năm, 1852) ban hành khắp Nam bộ nhằm đưa ra quy định về cơ chế bộ máy tổ chức chính quyền cơ sở (xã, thôn, ấp), trong đó có các chức dịch lo việc đình, miếu, lễ hội. Việc tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội lúc này không tách rời với nhiệm vụ quản lý hành chính, trật tự trị an.. của chính quyền cơ sở. Màu sắc chính thống và khuôn mẫu phong kiến nhờ vậy mà có cơ hội đi vào chi phối mạnh mọi hình thức, nội dung các LHDG, đặc biệt là ở các ngôi đình Nam bộ. Xu hướng “đình hoá” các LHDG Nam bộ nói chung có lẽ cũng phát triển từ đó. Cùng lúc ấy, việc ban hành hàng loạt sắc phong cho các thần thành hoàng ở Nam bộ, việc công nhận các phúc thần, các nhân vật có công trạng trong quá trình khai phá, mở mang vùng đất mới.v.v. tất cả nhằm khẳng định giềng mối , kỷ cương chế độ phong kiến trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của Nam bộ. Dù rằng, các yếu tố phong kiến trong đời sống văn hoá tinh thần, cụ thể là trong các sinh hoạt LHDG của người Việt ở Nam bộ vẫn chưa phải thật sâu đậm lắm nhưng cũng đủ góp phần tạo thêm nét thống nhất về cơ bản của nền văn hoá truyền thống Việt Nam từ Bắc đến Nam kịp trước khi các thế lực thực dân đế quốc ra tay xâm lược và xâu xé nó.
Điều đó càng rất có ý nghĩa đối với việc lý giải thái độ tiếp biến văn hoá khá biệt của người Việt ở Nam bộ đối với văn hoá phong kiến lúc ấy.
Xét về bản chất và trên tổng thể, bởi nhiều nguyên nhân, văn hoá của những lưu dân Việt trên đất Nam bộ ngay buổi đầu vốn là một nền văn hoá ít chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp của văn hoá phong kiến đồng thời có thể nhanh chóng tiếp thu nhiều nguồn văn hoá khác nhau tại vùng đất mới. Tính chất năng động, cởi mở trong các quá trình giao tiếp văn hoá của người Việt ở Nam bộ cũng bắt nguồn từ đó và hệ quả của nó là rất rõ rệt, thậm chí còn tác động ngược lại đối với chế độ phong kiến đương thời. Minh triều hương ước chỉ qui định việc xây đình, người dân tự động dựng thêm cả chùa và miếu (với số lượng rất lớn)… Tiếp sau đó, sắc phong của triều đình rõ ràng không chỉ dành cho các thần thành hoàng mà còn phải thừa nhận chính thức các thần thánh thuộc tín ngưỡng dân gian ảnh hưởng từ các dân tộc khác đang được đông đảo dân Việt cùng tôn thờ như Thiên y a na, Đại càn thánh nương nương, Linh sơn thánh mẫu.v.v… thậm chí có cả những “con vật thiêng” như Rải cá (Lang lại nhị đại tướng quân), Cá voi (Nam Hải cự tộc ngọc lân tôn thần), Ngựa trắng (Bạch Mã thái giám)v.v… Đặc biệt, sau này người ta còn trân trọng tôn thờ cả những nhân vật công thần triều đình phong kiến từng chịu nhiều oan khuất bởi chính chế độ phong kiến, như Lê Văn Duyệt chẳn hạn…
Tuy nhiên, bên cạnh đó có một xu hướng ngược lại rất rõ nét. Mặc dù không có hương ước thành văn như ở miền Bắc, các làng xã Nam bộ thực sự là một “không gian mở” trên mọi mặt nhưng dường như lúc nào cũng vẫn có những “lệ làng” mang tính chất như một tâm thức vô hình chi phối mọi hành vi văn hoá của con người nơi đây. Cụ thể là trong các sinh hoạt LHDG của người lưu dân Việt trên vùng đất mới thường có những hình thức, nội dung luôn nhắc nhở họ hướng về “gốc rễ” của mình, mà “gốc rễ” ở đây gần như là được đồng hoá với hình ảnh ông vua, với triều đình phong kiến. Nhìn chung LHDG người Việt ở Nam bộ trước sau vẫn có xu hướng nặng lễ hơn hội (chú trọng lễ hơn là đầu tư phát triển hội), trong lễ (nhất là ở các lễ hội lớn) lại chiếm vị trí phổ biến là các nghi thức cung đình (xu hướng “đình hoá”) mà chủ yếu đó là những nghi lễ truyền thống mang tính chất điển chế hoá theo phong cách cung đình với các nội dung ca ngợi chế độ phong kiến. Cũng với tinh thần ấy mà các sắc phong cho các thần thánh do vua ban đều trở thành như những báu vật thiêng liêng nhất. Người ta giữ gìn nó hết sức cẩn trọng, long trọng làm lễ rước sắc, khai sắc, hồi sắc để mở đầu và kết thúc mỗi kỳ, cuộc lễ hội. Thậm chí có lúc vì mong muốn có nó mà người ta phải tổ chức đánh cắp sắc phong ở nơi khác v.v.. Tóm lại, do chưa có một mẫu mực xã hội nào mới mẻ so với mô hình phong kiến đương thời và đặc biệt là xuất phát từ ý thức không bao giờ quên hướng về cội nguồn dân tộc trong hoàn cảnh lịch sử chung của đất nước và riêng của Nam bộ lúc ấy : việc “thiết chế hoá” các sinh hoạt LHDG của người Việt ở Nam bộ giai đoạn đầu không có lối nào khác hơn là phải đi theo con đường phong kiến hoá. Tính chất nông nghiệp cổ truyền gắn với màu sắc phong kiến ít nhiều trở thành như một bản sắc của toàn bộ hệ thống LHDG của người Việt ở Nam bộ bắt đầu từ đấy.
Đến giai đoạn Pháp thuộc, nhằm khống chê các sinh hoạt VHDT và ngăn ngừa sự “nổi loạn” của những con người tích cực tham gia tổ chức và tham dự vào các sinh hoạt ấy, chính quyền thực dân Pháp tìm cách tách tôn giáo, tín ngưỡng ra khởi chức năng bộ máy hành chính ở cơ sở lúc bấy giờ. Tập Tổng lý qui điều (1887), sau đó cải biến nâng cao thành Tân thơ tổng lý qui điều (1913) được ban hành xem như là cẩm nang cho hương chức hội tề thời ấy thực hiện chức trách của mình, chủ yếu là hành chính, anh ninh, thuế khoá, giáo dục, y tế… Riêng các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, lễ hội thì lại hoàn toàn bịc tách biệt ra khỏi những việc đó; hơn nữa, việc trùng tu, xây dựng đình , chùa…. Còn bị qui định chặt chẽ rằng nhất thiết phải xin phép quan tham biện chủ tỉnh v.v… Tuy vậy, vì ý thức giữ gìn vốn văn hoá dân tộc và tinh thần đấu tranh chống văn hoá “lai căng mất gốc” mà phong trào trùng tu, xây dựng đình, chùa, miếu, võ… trong giai đoạn khó khăn này lại được phát triển mạnh mẽ đặc biệt là vào những năm 1905-1930. Nhiều nơi người ta còn chủ động tự xây dựng bộ máy tổ chức quản lý các sinh hoạt LHDG, ví dụ họ bày ra ba loại hương chức hội tề, trong đó loại ba, tức Hội hương (Hương lễ, Hương nhạc, Hương văn v.v..) chuyên lo phục vụ hoạt động lễ hội. Sau đó, người ta tiếp tục đặt ra thêm nhiều chức vụ khác nữa (như Tri Lễ, Tiếp Lễ, Lễ sinh, Tri nhạc, Tiếp nhạc v.v..) chủ yếu không phải vì quyền lợi “ăn trên ngồi trước” mà vì cùng lo gánh vác về kinh tế theo tinh thần “trách nhiệm càng cao, sự đóng góp càng nặng” (cho nên càng đông người thì càng “nhẹ gánh hơn”!) trong đó, có lẽ trên tất cả vẫn là vì nhu cầu văn hoá tinh thần của bản thân và của cộng đồng, vì ý thức phục vụ việc bảo vệ di sản VHDT của những con người tích cực… Cũng bằng tinh thần ấy, ngay lực lượng trí thức tây học người Việt (như Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương, sau này là Huỳnh Công Thạnh, Đỗ Văn Rỡ, v.v..) đã từng tích cực tham gia nghiên cứu, sưu tầm hoặc trực tiếp tổ chức, quản lý các hoạt động LHDG với những nỗ lực cải cách đáng kể. Đến khi do ảnh hưởng của phong trào Duy Tân cùng các xáo trộn về địa giới hành chính v.v.. làm cho đình làng trở thành đình hội kết hợp với những đổi mới về tổ chức (Hội trưởng, Hội phó, Thư ký, Thủ bổn…), hoạt động của hệ thống LHDG người Việt ở Nam bộ bắt đầu mang thêm tính chất phường, hội, hoặc nhen nhóm một hình thức sơ khai của hoạt động câu lạc bộ (club). Việc tổ chức hoạt động LHDG từ đó ngày càng chặt chẽ, nề nếp và mang tính hiện đại nhiều hơn. Trên cơ sở các thiết chế tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là ngôi đình ngày càng có thêm điều kiện gắn bó hơn nữa trong đời sống xã hội của cộng đồng. Ví dụ, việc sử dụng chiên trống, mõ trong các nghi thức cúng tế (tế thần thánh, tế người chết, tế thần thành hoàng…) sau đó là trong việc gọi dân (khi có thuỷ,hoả, đạo tặc, án mạng..) trong việc gọi các chức dịch (khi có công việc) v.v.. được qui định nghiêm túc, rõ ràng vừa làm tăng thêm tính chất “bài bản” cho quá trình “thiết chế hoá” của các cơ sở tín ngưỡng, các sinh hoạt LHDG ấy vừa khẳng định vị trí các “thiết chế” đó trong đời sống chung của cộng đồng với tư cách như là một đầu mối trực tiếp góp phần tự quản các hoạt động văn hoá- xã hội ở cơ sở và vừa có thể thực hiện tinh thần tự bảo vệ, giữ gìn lấy vốn văn hoá truyền thống của dân tộc mình.
Sau Hiệp định Genève năm 1954 chính quyền Ngô Đình Nhiệm và những chính quyền tiếp theo ở miền Nam Việt Nam mặc dù có đồng ý cấp chứng nhận cho các hương chức, thừa nhận và duy trì các sinh hoạt LHDG, cải cách tổ chức hoạt động và một số nghi thức lễ hội theo hướng đơn giản hơn… nhưng những qui định ngặt nghèo về việc dời địa điểm các ngôi đình ra gần mặt lộ các biện pháp khắc nghiệt để thực hiện chủ trương gom dân lập ấp chiến lược cộng với hoàn cảnh chiến tranh ngày càng tràn lan và khốc liệt…. Tất cả đã làm hạn chế rất nhiều sự phát triển bình thường của tín ngưỡng và lễ hội. Thậm chí việc xây dựng, trùng tu đình miếu giai đoạn này còn kém hơn cả thời Pháp thuộc! Ngoài ra, ngay thời ấy, xu hướng “dịch vụ hoá” các hoạt động LHDG đã bắt đầu xuất hiện, và người ta có thể nhân danh khẩu hiệu khoa học hoá, đơn giản hoá để “mạnh dạn” cắt sửa văn tế, sắp đặt lại nghi thức v.v. đôi khi đã vô tình làm hư hỏng khá nhiều giá trị VHDT trong các sinh hoạt LHDG. Dù sao đi nữa, trước nhu cầu tinh thần bức xúc của con người trong chiến tranh, với điều kiện dân trí, kinh tế- xã hội khác hơn so với trước, dù quá trình “thiết chế hoá” còn mang nặng tính tự phát hoặc bị cưỡng bức, hệ thống LHDG của người Việt ở Nam bộ giai đoạn này vẫn có những chuyển động nhất định, ví dụ như Lễ hội Bà Chúa Xứ – Núi Sam, Châu Đốc từng bước trở thành một trung tâm lễ hội lớn của Nam bộ bên cạnh Lễ hội Bà Đen- Tây Ninh và một số lễ hội vùng khác v.v…
Sau ngày giải phóng 30 tháng 04 năm 1975, một thời kỳ lịch sử mới với một môi trường xã hội mới khác về chất so với mọi giai đoạn trước đó vừa mở ra những triển vọng thuận lợi vừa tạo nên những tình huống bất thường đối với các hoạt động LHDG. Một đất nước thực sự thống nhất về hành chính, về chế độ chính trị, là điều kiện cho sự tích hợp và phát huy mọi tiềm năng văn hoá tinh thần vốn có của dân tộc, là tiền đề cho sự mở rộng mọi mối quan hệ giao lưu và tiếp biến văn hoá giữa các tộc người, các vùng, miền trong nước, giữa trong nước và với khu vực, với quốc tế. Nhưng, cũng đồng thời cùng lúc ấy, hàng loạt vấn đề đặt ra về quan điểm chính thống kết hợp giữa đường lối chính trị với các định hướng văn hoá – xã hội, các chủ trương, chính sách và biện pháp toàn diện, lâu dài và trước mắt để xây dựng, phát triển đất nước trên mọi mặt, trong đó có văn hoá, bao gồm cả việc kế thừa, khai thác, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Tương tự như toàn bộ mọi lĩnh vực hoạt động xã hội khác, LHDG của người Việt ở Nam bộ lúc này phải trực tiếp hoặc gián tiếp đối đầu với những vấn đề lớn lao như vậy và trong thực tế đã gặp không ít những thử thách gay gắt.
Trên tinh thần cách mạnh, tích cực trong việc kiến tạo lại đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một mô hình xã hội chưa từng có trước đó, chế độ mới vừa được xác lập đã có những nỗ lực rất cao để xây dựng đời sống mới cả về kinh tế lẫn văn hoá. Nhưng do những khó khăn chung buổi đầu sau ngày giải phóng do những hạn chế về quan điểm, nhận thức và phương pháp đối với việc nghiên cứu, kế thừa và phát huy các giá trị trong vốn văn hoá cổ truyền của dân tộc, vì vậy hoạt động LHDG ở Nam bộ giai đoạn này nhìn chung có nhiều khó khăn, thậm chí một số lễ hội có xu hướng trì trệ hoặc bị tan rã… Kịp khi chủ trương “đổi mới” và “mở cửa” được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện trên mọi miền đất nước, trong điều kiện nền kinh tế thị trường “bung ra” bao trùm lên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, cùng với những quan điểm, đường lối, biện pháp đúng đắn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam nhằm “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, các hoạt động LHDG lại có cơ hội phục hồi và phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong môi trường xã hội mới ấy. Tuy nhiên, nhìn trong mối tương quan với các hoạt động văn hoá – xã hội khác, sự phát triển của các LHDG trên cả nước nói chung, các LHDG của người Việt ở Nam bộ nói riêng, do nhiều nguyên nhân cho đến hôm nay rõ ràng vẫn có những dấu hiệu không bình thường. Sự bất bình thường nổi rõ nhất là mặc dù số lượng và quy mô các hoạt dộng LHDG có vẻ phát triển mạnh mẽ, rầm rộ nhưng vị trí, tác dụng xã hội của nó, các quan điểm biện pháp quản lý nó… vẫn chưa được mọi người nhìn nhận một cách thống nhất và dứt khoát. Với đại đa số, nhất là những người “thành tâm” đến tham gia tổ chức và dự lễ hội thì đó là do nhu cầu tinh thần (tín ngưỡng, tâm linh.. hoặc ít nhất là nhu cầu văn hoá – du lịch), một số trong đó thì hưởng ứng như một “thói quen” phong tục tập quán hoặc, có thể với động cơ chân thành là nhằm giữ truyền thống. Cũng cần nhấn mạnh khía cạnh “động lực kinh tế” chi phối khá sâu đậm trong các sinh hoạt LHDG hiện nay, đó là động cơ “cầu tài cầu lộc” trong số đông người đến với các lễ hội, đó là xu hướng “dịch vụ hoá”, thậm chí là “kinh doanh hoá” việc tổ chức hoạt động các lễ hội ấy… tóm lại là quy luật kinh tế thị trường từng bước và chừng mức nào đó đã ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của các LHDG, trong đó mạnh nhất , rõ nét nhất vẫn là nơi hệ thống LHDG của người Việt ở Nam bộ. Ngoài ra vẫn có một số ý kiến nhận định rằng hệ thống LHDG vốn là sản phẩm đặc trưng mang tính tàn dư của xã hội cũ tức xã hội phong kiến nông nghiệp cổ truyền, đồng thời dường như sinh hoạt ấy đồng dạng với sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, thậm chí cả với mê tín, dị đoan… tóm lại đó là những hoạt động không còn phụ hợp với đời sống hiện đại của xã hội công nghiệp, khoa học và văn minh, tiến bộ ngày nay (!). Trong thực tế quản lý xây dựng văn hoá của chính quyền và ngành văn hoá thông tin ở các địa phương, sinh hoạt LHDG thường được xem là “ở bên ngoài” các chỉ tiêu kế hoạch, nội dung hoạt động của các phong trào và thiết chế “văn hoá mới” như nhà văn hoá – câu lạc bộ văn nghệ quần chúng v.v..
Tuy nhiên, trong điều kiện, hoàn cảnh như vậy, dù bị chi phối bởi nhiều lực lượng với nhiều động cơ khác nhau nói riêng các LHDG của người Việt ở Nam bộ dường như vẫn tự thân vận động và phát triển bằng chính những nội lực có thật của mình, trong đó bản lĩnh giao lưu và tiếp biến văn hoá vốn có của nó. Số lượt người với nhiều thành phần ngành nghề, tầng lớp, dân tộc (kể cả khách du lịch nước ngoài được thu hút đến với các hoạt động LHDG ngày càng đông đảo, đa dạng. Nội dung, hình thức sinh hoạt của từng LHDG có dấu hiệu được nâng cao bởi tính cảnh diễn hoá (spectaculariser) thành chương trình, kịch bản (scènaric) chặt chẽ hơn các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại được khai thác có hiệu quả như máy tăng âm, ánh sáng điện v.v.. Phong cách và điều kiện tổ chức, phục vụ làm lễ, dự hội hoặc ăn, ở đi lại… cho đông đảo khách dự lễ hội nói chung là chu đáo, thuận tiện hơn. Một số địa phương ở Nam bộ còn mạnh dạn đưa liệt sĩ (thậm chí có nơi còn đưa cả Chủ tịch Hồ Chí Minh) vào thờ ở trong các ngôi đình, đềnvà ngoài việc cúng tế kết hợp nhân dịp lễ hội chung, người ta còn tổ chức hẳn hoi những chương trình tế lễ riêng vào ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 hàng năm!… Ý tưởng khai thác các LHDG gắn với các di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh kết hợp trong các tuyến điểm (tours) du lịch hoặc quy hoạch xây dựng hẳn thành những khu (trung tâm) văn hoá- du lịch đang ngày càng phát triển mạnh…
Tuy vậy, nhìn trên tổng thể như đã phân tích ở trên, hệ thống LHDG của người Việt ở Nam bộ mặc dù đã từng vượt qua bao thử thách lịch sử để ngày nay thật sự đã trở thành là những thiết chế văn hoá cổ truyền quan trọng nhưng nói chung nó vẫn đã và đang vận động bằng con đường tự phát là chủ yếu và trong sự “bất thường” ấy nếu được nghiêm túc nghiên cứu để lý giải và hoá giải bằng những nhận thức, chủ trương, biện pháp đúng đắn, hợp lý để làm cho các hoạt động LHDG nơi đây có thể khắc phục được các hạn chế của nó, thật sự trở thành là những sinh hoạt văn hoá dân gian hoặc văn hoá tâm linh từng bước được “cổ điển hoá” (classique hoá) theo cách vận dụng phương pháp tổ chức lễ hội mới nhằm nâng cao tính tự giác, tính hiện đại và tính khoa học để có thể đạt hiệu quả xã hội nhiều hơn, vừa có sức mạnh chi phối một khối lượng quần chúng đông đảo vừa là nơi tàng giữ và toả sáng các giá trị văn hoá dân tộc và hơn nữa, đó còn là một trong những trọng điểm giao tiếp văn hoá có thể góp phần tích cực vào quá trình hình thành, phát triển vùng văn hoá Nam bộ và nền văn hoá đất nước nói chung trong giai đoạn lịch sử mới hiện nay.

1. Lễhội dân gian - Nét đẹp sinh hoạt văn hóa Nam Bộ

Tháng Giêng "Mùa hành hương"
Nếu xưa kia người ta cho "tháng giêng là tháng ăn chơi..."thì ngày nay dư hương những ngày tết kéo dài bằng sinh hoạt lễ hội, nên tháng giêng được coi là "mùa hành hương". - Mặc dù mỗi đình, chùa, di tích danh thắng, đều có ngày kỳ yên, lễ hội riêng. Những ngày đầu năm vẫn là dịp để người ta cầu tài, cầu phúc cho năm mới, đến tham quan một số điểm thấm đượm màu sắc văn hóa dân gian, ôn lại truyền thống đấu tranh cách mạng anh hùng của nhân dân ta.
Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam
Dù lễ hội vía bà chỉ thực sự diễn ra vào ngày 25 tháng 4 âm lịch, nhưng từ những ngày đầu năm đã lác đác từng đoàn người hành hương đến núi Sam. Ðây là ngọn núi cao 284 mét, cách thị xã Châu Ðốc 5 cây số. Thời Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại lãnh ấn đi khai hoang lập ấp vùng Thất Sơn đã đặt ngọn núi tên chữ "Học Lĩnh Sơn". Theo truyền thuyết, vào thế kỷ 19, người dân phát hiện đỉnh núi Sam, 1 tượng "Phật bà" dạng thần Visnu. Tin vào điềm lành, dân địa phương huy động tráng đinh chuyển tượng bà xuống núi, nhưng bất thành. Sau có dân làng được bà về ứng mộng "chỉ 9 thiếu nữ đồng trinh thỉnh, bà mới xuống núi". Quả nhiên 9 cô gái di dời bà nhẹ nhàng. Người ta muốn đưa tượng bà về làng, bỗng dưng tượng nặng lạ lùng, không cách gì lay chuyển. Ai cũng cho là bà muốn tọa tại đó nên người ta lập miếu thờ. Theo nguyện vọng tin hữu, dân chúng địa phương, năm 1972, miếu bà được xây dựng khang trang, bề thế theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng.

Lễ kỳ yên miếu bà Chúa Xứ được coi là "ngày tết" riêng của địa phương bởi không khí lễ hội rầm rộ, hàng đoàn rồng rắn khách thập phương đổ về tạo cảnh quang tưng bừng hiếm có. Trọng tâm lễ hội bắt đầu bằng nghi thức lệ tắm bà vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 âm lịch. Nửa đêm 25 là lễ túc yết do ban nghi lễ đọc văn tế nói lên công đức bà tế độ dân lành. Hết phần túc yết là lễ xây chầu tại võ ca, đối diện chánh điện. Lễ xây chầu nói nôm na là hát bội (hoặc cải lương Hồ Quảng) cho bà, và công chúng xem. Ðến 4 giờ sáng ngày 27 cử hành lễ chánh tế, cầu quốc thái dân an, và đến chiều ngày 27 cử hành lễ chánh tế, cầu quốc thái dân an, và đến chiều ngày là 27 là kết thúc lễ hội. Ngoài cảnh quang và không khí lễ hội, miếu bà Chúa Xứ núi Sam còn thu hút khách du lịch với cụm di tích danh thắng Bộ Văn hóa xếp hạng, như lăng Thoại Ngọc Hầu, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Tây An Cổ Tự, Chùa Hang.
Châu Thới Sơn Tự: Một di tích anh hùng
Châu Thới Sơn Tự được dựng từ năm 1662 trên nền cũ của một thảo am. Lúc bấy giờ sư Khánh Long - người lập chùa - đặt tên "Hội Sơn Tự". Sau vài đời trụ trì đổi thành Châu Thới Sơn Tự như ngày nay. Chùa tọa lạc trên đỉnh núi Châu Thới, thuộc xã Bình An, huyện Thuận An (Bình Dương). Ðây là điểm lành hương rất thuận tiện, gần trục lộ giao thông giữa Biên Hòa, Thủ Dầu Một, và TP. Hồ chí Minh.
Núi cao gần 90 mét, có 90 bậc thang để lên chùa, nằm ẩn giữa những tàng cổ thụ xanh mát. Quanh núi là những hồ sen, súng, và đồng ruộng bao la, lộng gió. Dù xây dựng với phương tiện, vật liệu liện đại, chùa vẫn giữ được kiến trúc cổ kính, hài hòa phù lợp cảnh quang u nhã, thoát phàm. Quả vậy, giữa thinh không tịch mịch, độ cao, làn gió trong lành, và âm hưởng ngân nga tiếng đại hồng chung vang vọng, người ta thấy hồn lâng lâng, trút bỏ mọi phiền não kiếp nhân sinh.
Ngoài phong cảnh hữu tình, giá trị mỹ thuật, và hiện vật cổ quý giá, chùa còn là di tích anh hùng, nơi từng lưu dấu nhà cách mạng lão thành - luật sư Huỳnh Tấn Phát, cơ sở nuôi chứa cán bộ hoạt động bí mật qua các thời kỳ kháng chiến. Ngoài là điểm tiếp tế lương thực cho bộ đội Cụ Hồ (chi đội 10 Biên Hòa) chùa còn hiến cả đại hồng chung cho công binh xưởng cách mạng chế tạo vũ khí chống giặc.
... văn chung thinh. phiền não khinh...
trí huệ tưởng, bồ đề sinh...
Qua những giây phút trầm mặc, tẩy trần với khói hương thoang thoảng mùi trầm, tiếng chim muông ríu rít bên tai, trước khi trở về bạn có thể ghé qua chùa Tam Bảo độ ngọ bữa cơm chay đạm bạc, hay thả hồn lênh đênh theo mái chèo trên làn nước xanh biếc hồ Bình An. Nếu còn hứng thú bạn có thể xắn quần lội suối LỒ Ồ... là những điểm hành hương, tham quan du lịch trên địa bàn xã Bình An thuộc vùng đất Bình Dương 300 năm thơ mộng.
Ðình Phong Phú: Nôi Cách Mạng Vùng "Bưng 6 xã"
Ðình Phong Phú được dựng lên cách nay khoảng 150 năm để tưởng nhớ công lao vị thành hoàng - người khai khẩn vùng Phong Phú hoang vu xưa kia. Nằm trong mặt bằng 4 màu cây xanh, bóng mát, đình thuộc địa bàn ấp Phong Phú, phường Hiệp Phú (Q.9 TP.HCM). Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo đình hiện nay có khuôn viên khoảng nửa mẫu với quần thể miếu thờ ngựa thần, cọp linh, miếu quan công. Trung tâm sân đình là hồ cá cảnh, với non bộ. Sau hồ cá là võ ca đối diện chánh điện, bên cạnh là nhà truyền thống hội trường. Phía sau là hậu liều và hầm bí mật. Bước qua hàng cột chạm khắc long phụng chầu ngoài chánh điện, trên bệ thờ là tượng ông mắt sáng quắc, uy nghi. Dưới bệ thờ là hầm bí mật - nơi từng là chiếc nôi bao bọc Huyện ủy Thủ Ðức, cán bộ lãnh đạo; lực lượng cách mạng võ trang "vùng bưng 6 xã" trong 2 thời kỳ kháng chiến. Sau đình có một hầm bí mật và địa đạo, do Năm Lý - anh hùng Nguyễn Văn Bá - kiến tạo năm 1959. Tại đây đã cho ra đời kế hoạch tập kích vào lực lượng Mỹ tại khách sạn Victoria năm 1966, chiếm đài phát thanh Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân (1968) gây kinh hoàng cho địch, tạo tiếng vang khắp nơi.
Trước khi rời vùng đất địa linh nhân kiệt này. Bước qua cổng đình, khách như còn thấy lẫn khuất đâu đây anh linh bao con người anh hùng bỏ mình vì tự do dân tộc. Tại cổng đình, tháng 11 năm 1947, thực dân Pháp từng hành quyết tập thể 44 đồng bào đoàn thể, thanh niên, phụ nữ, nông dân Phpng Phú kiên cường quyết không đầu hàng giặc.
Với thành tích đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, ngày 7-7-1993 Bộ VHTT công nhận Ðình Phong Phú là di tíci lịch sử văn hoá dân tộc. Hàng năm vào trung tuần tháng 11 (âm lịch) là lệ "vía đức ông" cũng là dịp khách thập phương hội về chiêm bái, và ôn lại truyền thống hào hùng viết nên trang sử vẻ vang cho dân tộc ta.
Nam thiên nhất trụ: Chùa Một Cột sừng sững giữa trời Nam
Người ta từng biết Chùa Một Cột tại kinh thành Thăng Long, xây du65ng vào triều Lý Nhân Tông (thế kỷ XI), dù chưa một lần đặt chân đến, qua sử sách, không người Việt nào không biết đến ngôi chùa nổi danh - chứng tích lịch sử - niềm tự hào của người dân Hà Nội. Xuất phát từ lòng ngưỡng vọng này, năm 1958 hòa thượng Thích Trí Dũng- một người con đất Bắc - bắt tay xây dựng một bản sao ngôi chùa Một Cột ở phương Nam. Ngôi chùa Một Cột thứ 2 này tọa lạc trong một khuôn viên hơn 1000m2, trên đường Nguyễn Du, cách Quận Thủ Ðức (TP.HCM) khoảng 2 km. Ngoài mô hình chùa Một Cột giữa ao sen như chùa Một Cột Hà Nội. Nơi đây còn có hồ cá với non bộ, các Phật đài Quan âm Bồ Tát, Di Lạc Bồ Tát, Tam Tạng, chánh điện thờ Phật Tổ, dược phòng bắt mạch hốt thuốc cho dân, các bảo tháp... Ðặc biệt chùa có nhiều cây bồ đề được chính các cao tăng từ Ấn Ðộ mang qua trồng. Dọc các lối đi lại lót gạch sạch sẽ là từng hàng sứ trắng ngát hương; dăm tàng liễu rủ soi bóng dưới mặt hồ. Dưới hồ sen vô vàn cá lý ngư vàng óng, lượn lờ quanh những chú tai tượng đen đúa, và hàng đàn đủ chủng loại rùa, ba ba... Ðây đó những khóm trúc vàng bên bãi cỏ xanh non, mượt mà như thảm nhung là hình ảnh đẹp, thơ, không du khách nào chẳng muốn ghi lại vài kiểu ảnh cho "bộ sưu tập Nam Thiên Nhất Trụ Tự".
Trong chiến dịch Mậu Thân (1968) nhang án giữa chánh điện Nam Thiên Nhất Trụ Tự từng là nơi ẩn giấu 11 chiến sĩ giải phóng quân. Trong số này có các anh hùng quân đội nhân dân - đại tá Nguyễn Văn Tăng, Nguyễn Thái Bá, và nhiều chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn. Nam Thiên Nhất Trụ Tự - Chùa Một Cột giữa trời Nam - niềm ao ước của người dân phương Nam đã thành hiện thực. Chiêm ngưỡng ngôi chùa lịch sử, nên thơ, người ta không quên công lao hòa thượng Thích Trí Dũng - người lập chùa - từng vào tù ra khám vì chính quyền Ngô Ðình Diệm nghi "tư tưởng ...", lập Chùa Một Cột để "vọng tưởng đất Bắc". Chính khí thế bất khuất, không chùn bước trước mọi áp lực của kẻ thù, Chùa Một Cột xứng đáng là di tích văn hóa lịch sử độc đáo duy nhất ở phương Nam.

2.      Lễ hội đua ghe ngo Khmer Nam Bộ!!!

Dân gian kể rằng, đã lâu lắm, cách đây bảy, tám trăm năm về trước, ghe Ngo đã xuất hiện ở đồng bằng này. Lúc đó vùng này còn hoang dại lắm, đất ẩm thấp, cây rậm rạp, có nhiều rắn rết và thú dữ...
Ông Prach – Chhum và Mom – Sun, nghệ sĩ Chom – Riêng đã từng hát câu hát dân gian nhắc lại một đoạn bài hát rất mộc mạc về nguồn gốc xuất xứ lịch sử ghe Ngo. Tôi xin tạm dịch nôm na:

Ngày xưa đến ở nơi đây
Rừng đầy thú dữ rắn bò thi nhau
Đi lại trên chiếc cây Sao
Con thuyền độc mộc dềnh dàng trên sông...


Con rắn bò nhanh và nhanh thật, nhất là trườn đi trên mặt nước. Hình ảnh con rắn trườn đi trên mặt nước phản ảnh gần đúng hệt như chiếc ghe Ngo, và chiếc ghe Ngo được tạo dáng giống như con rắn thật.
Chiếc ghe làm bằng cây Sao phải tổ chức đi đốn tận miền xa nơi vùng núi cao mới có. Đốn xong dùng voi kéo xuống sông kết thành bè thả theo dòng nước để trôi xuôi về. Các cụ truyền nhau kể lại: hồi đó trên rừng lắm thú dữ, ở dưới sông cá sấu như bánh canh, sấu con bò lên bè gỗ như nhái con. Mỗi lần đi thế nào cũng mất năm bảy mạng cọp bắt, sấu nuốt.
Xuất phát từ hình tượng rắn bò chúng sợ bén mạng thi nhau chạy thoát thân khi người đến xục xạo khai phá đã đập vào mắt người Khmer và tư duy sáng tạo ra chiếc ghe độc mộc này.
Trải qua những năm tháng lớn lên của lịch sử thiên nhiên, phù sa biển bồi đắp ngày một lớn dần. Nhiều sông ngòi do thiên nhiên tạo ra, đổ nghiên theo chiều mặt bằng, việc đi lại rất khó khăn. Người Khmer đến cư trú vùng này lúc đó chưa ổn định, người ta chưa đủ sức đắp đường đi mà bắc cầu qua lại giao tiếp với nhau, hơn nữa mang tâm lý sợ thú dữ nên cố tạo phương tiện đi lại bằng ghe độc mộc dưới sông, đi có tập thể để đối phó với thú dữ. Từ ghe độc mộc đơn sơ ấy. Sau này do yêu cầu tự vệ và chống chiến tranh giữa các tộc người xung quanh, người Khmer nghĩ đến cách đục đẽo ra “tuk ngo” để cho gọn nhẹ dễ bơi và bơi nhanh hơn. Hình thù ghe Ngo tựa như con rắn mình thon thon thoai thoải về hai phía, đầu uốn cong và thấp hơn đằng sau lái một chút. Ghe Ngo có chiều cong và có cây đóng cặp chặt ở đáy nối dài từ đầu tới sau lái, trên cong đóng nhiều thanh cây ngang, chiều ngang độ 1,20 m vừa để cho hai người ngồi bơi thoải mái theo từng cặp song song. Ghe Ngo thường có từ 46, 48 tới 50 chỗ cho người ngồi bơi và chỉ huy. Thân ghe người ta sơn bằng màu đỏ với độ dày khoảng 5 cm, và hai bên be trạm trổ hoặc vẽ vẩy rồng, rắn theo mô tiếp Naga. Đầu ghe vẽ các hình con thú, như con chim công, con sư tử, con cọp, con voi... vừa tượng trưng cho vẻ đẹp đồng thời biểu hiện cho sức mạnh của ghe mình.
Vì ghe thân hình thon thon thắt dài kéo về hai phía, đầu và sau lái đều cong, nên nếu bơi động tác phối hợp không ăn ý nghịp nhàng rất dễ mất thăng bằng và bị lật chìm. Nên trước khi đưa xuống nước, người ta tổ chức tập bơi cho nhuần nhuyễn động tác ở trên cạn, sau đó mới đưa xuống tập bơi dưới nước. Người được chọn để bơi phải là thanh niên trai tráng khỏe mạnh quen bơi và bơi có nghệ thuật. Người bơi đã quan trọng, người ngồi đầu đánh đều đưa nhịp xòe tay ra chỉ huy qua từng nhịp lướt sóng, người đứng giữa đánh cồng thúc giục đưa nhịp động viên và người cầm lái lại càng quan trọng hơn. Người ngồi đầu chỉ huy được chọn từ những người có uy tín và thông tạo về môn đua ghe Ngo. Công dụng ghe Ngo thời ấy được coi như là một môn thể thao quân sự. Lúc có giặc, lúc thời bình ghe Ngo được dùng để đua vui chơi giải trí biểu dương sức sống văn hóa của dân tộc vào ngày lễ Oc – om – bóc vào rằm tháng 10 theo âm lịch Khmer (xê xích ít ngày, ngày rằm tháng 10 âm lịch Việt). Vì âm lịch Khmer trong một năm nhiều tháng, có ngày thiếu và một năm thiếu tới 11 ngày, nên không vào những ngày tháng dương lịch. Nhưng ngày hội đua ghe Ngo có nằm trong các ngày tháng 11 dương lịch. Từ xa xưa hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch dân tộc đồng bào Khmer tổ chức lễ cúng trăng Oc – Om – boc. Vào đêm ngày rằm này, trăng tròn đẹp, gió bấc thổi nhẹ, thời tiết mát mẻ, lúc này lúa đã no hạt và lốm đốm chín, người ta cắt những bông lúa chín đầu mùa đem về đâm cốm dẹp, tổ chức cúng trăng. Người Khmer có ý niệm về trăng, tôn thờ trăng coi trăng tượng trưng cho niềm ước mơ đẹp nhất và đem đến cho con người cuộc sống no ấm hạnh phúc, nhất là đối với tuổi trẻ. Vào những ngày tháng này họ rủ nhau ra trước sân nhà và đi trên con đường làng ngắm trăng, tắm trăng, đồng thời cũng là dịp con trai gái tâm sự tỏ tình.

Người Khmer vốn sống bằng nghề trồng lúa nước. Trồng lúa nước ngày xưa rất khó khăn, tai họa thiên nhiên thường xảy ra luôn, có khi trồng xong lúa bị gió mưa, lụt lội cuốn trôi hết, nên việc đấu tranh chinh phục thiên nhiên bằng cách đắp bờ ngăn mặn giữ người nước ngọt, chọn giống lúa để sinh trưởng phù hợp với đất và thời tiết. Từ đó, mùa vụ đầu tiên không bị gió mưa tai họa thiên nhiên hủy hoại, lúa bụi to, trỏ đều, no hạt, được gặt hái thu hoạch tốt đẹp vào những ngày tháng nói trên. Nên lễ “Óc-om-boc” mang ý nghĩa mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng, mưa gió chấm dứt, nước từ từ rút xuống, mở đầu cho một mùa khô ráo sau những ngày tháng lao động vất vả.
Người ta cúng trăng vào đầu hôm ngày rằm lúc trăng vừa ló dạng. Cách cúng, người ta đem ra trước nhà một cái bàn tròn hoặc vuông tùy ý, trãi phủ lên một tấm vải màu đẹp, chưng lên đó một bình bông thật trang trọng. Sau đó người ta bưng mâm cúng lên đó, gồm đĩa cốm dẹp, chuối chín, dừa tươi vạt vỏ, khoai môn, khoai mì, mía, ... Ông bà gọi con cháu quy tụ lại, trãi chiếu quây quần ngồi xếp bằng về một phía chắp tay vái hướng về mặt trăng . Khi cúng xong, ông hoặc bà nắm một nắm cốm dẹp gọi từng đứa con cháu lên và đút cốm dẹp vào miệng cho từng cháu và hỏi: cháu muốn gì? Có cháu trả lời : cháu ước mơ kiếp sau muốn có thật nhiều vàng, bạc, châu báu, ngọc ngà, trâu bò, voi, ngựa ... có cháu trả lời : cháu ước mơ kiếp sau có vợ thật đẹp và giàu sang phú quý, một em gái nhỏ nhất trả lời câu hỏi rất ngây thơ: con chỉ mơ có nhiều cốm dẹp ăn hoài ... Sau khi cúng xong, ông bà bưng mâm cúng xuống gọi cả nhà ra ngồi quây quần cùng nhau ăn vui vẻ. Người Khmer gọi lễ này là lễ Óc-om-boc.
Theo phong tục cổ truyền của dân tộc, để phục vụ ngày vui này, người ta tổ chức thi và chơi các trò chơi dân tộc như ném còn, kéo co, đấu võ, đua thuyền và biểu diễn văn nghệ,... Đặc biệt môn đua ghe Ngo và biểu diễn băn nghệ là hai môn được đồng bào ưa thích nhất. Nói đến Óc-om-boc, người ta bàn tán với nhau rất sôi nổi về ghe Ngo. Để tham gia vào cuộc đua ghe này, các địa phương thi nhau tu sửa, trang trí lại ghe của mình cho thật chắc và đẹp. Có nơi tu sửa xong họ tổ chức tập dượt cả tháng trước. Thanh nhiên nam nữ mua sắm quần áo mới để chuẩn bị đi chơi hội và xem đua ghe Ngo.
Ngày xưa có lẽ cách đây hàng trăm năm về trước, vào ngày lễ Óc-om-bóc hàng năm, người Khmer thường tổ chức đua ghe ở Peam-kên-thô, tức là Vàm Tho, thuộc huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Ở đó, ghe Ngo của các nơi từ vùng Bạc Liêu lên, các vùng Kiên Giang xuống đều thuận tiện, vì ở đó có một đoạn sông thẳng, dòng nước chảy đều, trên bờ có chợ búa, dân chúng cất nhà ở đông vui. Những người đến xem đua ghe lúc đó thường là đi bằng ghe “Ca hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Ca chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc hai bên bờ, họ đem theo nồi nêu, bếp củi tự nấu ăn. Sau này, khi Tây vào, chúng bắt phải dời điểm đua từ Vàm Tho về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên bây giờ.
Trong thời kỳ Mỹ Ngụy, điểm đua ghe Ngo hàng năm được đời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – Thị xã Sóc Trăng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, điểm đua ghe Ngo được đưa trở lại ở Nhu Gia và tổ chức chu đáo hơn. Mấy năm đầu cuộc đua ghe Ngo vào ngày “Óc-Om-bóc” được tổ chức ở Nhu Gia cũng rất vui, vui gấp trăm lần hơn so với các chế độ trước đây, nhưng vẫn chưa thỏa mãn đáp ứng theo nguyện vọng của khán giả. Để biểu hiện sự trân trọng và đáp ứng theo yêu cầu của quần chúng, và để tạo điều kiện cho mọi người đến xem dễ dàng, đông vui, ăn ở thuận lợi và thoải mái hơn, cuộc đua ghe Ngo lại được đưa trở lại tổ chức tại Sóc Trăng. Từ đó cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch dân tộc cuộc đua ghe Ngo lại tái diễn ở Kinh Xáng thị xã Sóc Trăng (tức TP. Sóc Trăng ngày nay). Ở trung tâm thị xã Sóc Trăng vào những ngày ấy – trước ngày đua ghe một đêm, người từ khắp nơi đổ về như nước đổ về nguồn, và đêm hôm ấy, người đông chật không còn đường đi nữa. Các loại xe phải dừng lăn bánh. Đêm đó được gọi là một đêm không ngủ. Ở dưới sông ánh đèn rực sáng như hội hoa đăng. Từng cụm ghe Ngo tập kết là từng cụm hoa sáng.

Tiếng trống Chhay dăm đối đáp nhau
Tiếng sáo đối lại xé bầu trời
Nhạc romvoong đua đưa nụ cười
Nam nữ múa hát, từng đôi mặn mà
Và các đoàn dù kê cũng say sưa diễn suốt đêm. Mãn lớp này chuyển sang lớp khác. Khán giả cứ lũ lượt kéo vào rồi lại kéo ra như thay ca nhau vậy. Đường Giữa là đường mạch thị xã chứ đừng hòng ai mà qua nổi:

Ôi đẹp sao những đôi trẻ,
Kề vai nhau trổ nụ cười.
Sáng hôm sau mới thật là một ngày sôi nổi. Các ghe đua bắt đầu vào chung cuộc đọ sức thi tài. Hai bên bờ sông kéo dài trên cây số, hàng trăm người đứng chật ních không một khoảng trống, biển người như sóng lượn rực rỡ màu sắc như một vườn hoa.
Rất đáng vinh dự tự hào, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ năm 1990, Đảng – Nhà Nước đã tổ chức Hội văn hóa thể thao các dân tộc, ghe Ngo cũng được đưa lên đua ở tại Bến Nhà Rồng – sông Bạch Đằng – TP.HCM để giới thiệu với khán giả Thành Phố – khán giả cả nước đã gây tiếng vang lớn cho môn thể thao dân tộc này.
Năm nay tỉnh Sóc Trăng tổ chức vào dịp lễ cúng trăng “Óc-om-bóc” sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người.
Nhờ tạo được điều kiện thuận lợi hơn, nên người xem đến đông hơn. Các khán giả đến xem không chỉ gồm những người trong Tỉnh mà khách các tỉnh xa đến xem cũng nhiều. Không phải chỉ người Khmer thích xem đua ghe Ngo mà người Việt, người Hoa cũng hâm mộ. Lượng người xem so với những năm trước tổ chức ở tại Nhu Gia đông vui hơn nhiều.
Có những nơi do địa lý thiên nhiên bất lợi, ít có con sông và thuận tiện, đồng bào không sắm ghe Ngo, nhưng họ vẫn giữ truyền thống phong tục ngày hội đua ghe Ngo và lễ Óc-om-bóc của dân tộc. Họ tổ chức đua ghe theo quy mô nhỏ bằng chiếc ghe con hoặc bằng bơi giả trên cạn, bằng cách ngồi hoặc đứng xếp hình theo hình tượng ghe Ngo, trên mặt nước lấy điểm chuẩn chấm bằng nhịp bước, động tác bơi tay đưa dầm lên xuống, kỹ thuật bơi đều, khỏe mạnh, nhịp nhàng và đẹp… cũng vui, hấp dẫn và sôi nổi. Hình tượng ấy, nay đã được cách điệu đưa lên sân khấu nghệ thuật, bổ sung cho nền múa dân tộc Khmer thêm phong phú và đa dạng.
Rõ ràng cuộc đua ghe Ngo hàng năm quy tụ ở Sóc Trăng đã trở thành ngày hội chung của ba dân tộc Khmer-Việt-Hoa, làm cho mối quan hệ cộng đồng các dân tộc ở khu vực ngày càng gần gũi nhau về tâm lý, tình cảm, đoàn kết gắn bó nhu hơn trong lao động sản xuất, xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ cuộc sống và xây dựng hạnh phúc chung của cộng đồng.

3.      Lễ hội núi Bà Đen_Tây Ninh- Thời gian: 15/1 âm lịch
Địa điểm: huyện Tràng Bảng, tỉnh Tây Ninh.
Đối tượng suy tôn: Linh Sơn Thánh Mẫu
Đặc điểm: Hội xuân Núi Bà không chỉ là sự tự do tín ngưỡng tôn giáo mà còn biểu hiện đậm đà bản sắc dân tộc.
Núi Bà - thường được gọi là Núi Bà Ðen do truyền thuyết, có một người con gái tên là Ðênh (sau gọi chệch sang là Ðen) sùng phật đạo, con một viên quan trấn thủ người Miên. Do từ chối ép duyên với con quan trấn vùng Trảng Bàng, nàng Ðênh bỏ nhà trốn lên núi xuất gia cầu đạo và chết ở đó. Sau này triều đình nhà Nguyễn đã cho đúc tượng đồng đen và sắc phong cho bà là "Linh Sơn Thánh Mẫu". Hàng năm vào dịp xuân về, từ chiều 30 tết nguyên Ðán đến suốt tháng Giêng, tháng Hai âm lịch - nhất là ngày rằm tháng Giêng, du khách trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác ở Nam Bộ đổ về hành hương, lễ bái và tham quan du lịch rất đông đúc.
Từ chân núi, khách trẩy Hội phải đi bộ và leo núi. Ðến lưng chừng núi khách vào lễ đền Linh Sơn Thánh Mẫu rồi nghỉ ngơi. Ai khoẻ chân lại tiếp tục đường mòn leo núi để lễ chùa. Nơi đây, nhà chùa có cơm chay đãi khách, khách cứ việc dùng rồi cúng tiền vào chùa, có hoặc không, nhiều hoặc ít tuỳ tâm. Thậm chí nếu khách muốn lưu lại chùa một, hai ngày vẫn được nhà chùa thết đãi nồng hậu - vì rằng ở chốn tu hành, đồng tiền không có nghĩa và người mộ đạo ai cũng như ai. Lên cao chút nữa, gần đỉnh núi là Miếu Sơn Thần. Dừng tại đây, du khách có cảm giác nhiều đám mây còn bay dưới chân mình và từ đấy có thể ngắm toàn ảnh hồ nước Dầu Tiếng - Một công trình thuỷ lợi đẹp và lớn ở nước ta hiện nay. Những năm gần đây mỗi mùa Xuân tới, dân chúng Nam Bộ kéo tới lễ Ðiện Bà đông như nước chảy. Mọi người tin rằng lễ Ðiện Bà để cầu phù hộ, giải toả nhu cầu tâm linh, cũng nhân dịp du lịch ngắm phong cảnh hùng vĩ của Núi Bà.

4.                  LễgiỗNguyễn Trung Trực

Đền Nguyễn Trung Trực ở xã Long Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thờ ông Nguyễn Trung Trực là thủ lĩnh nghĩa quân chông Pháp ở Nam Bộ. Lễ giỗ ông được tổ chức hàng năm vào ngày 18, 19 thang 10 âm lịch. Trước lễ giỗ chính thức 5-7 ngày hàng trăm người từ các tỉnh Ðông bằng sông Cửu Long đã kéo về ... để làm công quả. Họ chung tay sửa sang đền thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm... thành tâm như con cháu lo cung giỗ cho ông bà vâỵ nhiều người tiếp tục nấu cơm, rửa bát đũa, don dẹp cho đến hết lễ hội 3-5 ngày mới quay về nhà.
Trong lễ giỗ đóng góp là tuỳ tâm. Các bà, các chị buôn bán ở chợ thì thường 5-7 người góp lại gạo, rau cho đủ một xe đạp, xe lôi rồi gọi một xe nào ở gần, nói là gửi cho đền cụ Nguyễn. Chỉ cần nói vậy là đảm bảo số hàng trên được chuyển đến nợi chu đáo. Nhiều người đạp xe lôi còn không lấy tiền chở đò đến đền cụ Nguyễn.
Trong và sau lễ giỗ 3-5 ngày, nhân dân tự nguyện kê lo ở một khu riêng trong đền để nấu cơm chay phục vụ miễn phí cho tất cả khách đến dự lễ. Cơm và thức ăn được dọn lên mâm, ai đói cứ việc ăn, ăn xong lại có người dẹp. Nhà bếp phục vụ bà con tư 3 giờ sáng đến 12 giờ đêm hàng ngày. Gạo và thức ăn do người dân hỷ cúng, năm nào sau lễ giỗ cúng dư và trăm kg và Ban quản lý đem tặng người nghèo.
Chị Sáu Hồng ở An Giang năm nào cũng về đền thờ làm công quả cho biết : "Ðoàn chúng tôi đi hơn 10 người, đạp xe từ An Giang qua đây làm tiếp nhà bếp. Khách ăn đông, làm mệt nhưng bù lại rất vui. Có lẽ chỉ ở lễ giỗ cụ Nguyễn mọi người mới được bình đẳng trước mâm cơm như thế. Giầu có hay sang hèn đến đâu đều được phụ vụ chu đáo ". Một du khách từ Nha Trang vào thì ngạc nhiên: "Tôi chưa thấy lễ hội nào đông mà trật tư như thế này. Ban ngày hay ban đêm đường phố chật như nêm nhưng không hề xẩy ra chuyện lộn xộn".
Khách xa đi thành đoàn có nhu cầu còn được bố trí chỗ ngủ chu đáo, miễn phí. Ðó có thể là trụ sở cơ quan nhà nươc hoặc nhà dân gần đền...

5.                  Lễ Dolta và hội đua bò của người Khơme Nam Bộ

Hàng năm, ngoài Tết Chol – chnăm - thmây vào khoảng giữa tháng 4 dương lịch và Lễ Oóc - om - boc cổ truyền (rằm tháng 10 âm lịch), cứ vào khoảng cuối tháng 8 âm lịch (Khmer gọi là tháng photrobot) đồng bào Khmer lại tổ chức mừng lễ hội Sen Đolta, còn gọi là tết Sen Dolta, nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, họ hàng, cầu phước cho linh hồn những người đã khuất và tri ân tổ tiên đã khai phá đất đai, phù hộ cho phum, sóc an vui.Không tưng bừng, náo nức như lễ vào năm mới Chôl Chnăm Thmây, cũng không nhộn nhịp như ngày hội Oóc Omboc, lễ Sen Đolta thâm trầm hơn, mang đậm những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng văn hoá của người Khmer Nam bộ.
Và trong những ngày diễn ra lễ Dolta, tại các chùa Khmer còn diễn ra nhiều lễ hội, biểu
diễn nghệ thuật với các loại hình đặc sắc mang đậm đà bản sắc văn hóa
Khmer như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa truyền thống… nhiều họat động tín ngưỡng, tôn giáo và các họat động khác biểu hiện phong tục, tập quán của đồng bào Khmer Nam bộ.
Sen Dolta - Lễ vu lan, báo hiếu của đồng bào Khmer Nam bộ
Cũng như các dân tộc khác, người Khmer ở Nam bộ có cách thức làm lễ báo hiếu riêng của mình và lễ đó được gọi là Sen Dolta (lễ ông bà). Lễ Sen Dolta được tiến hành trong vòng 16 ngày kể từ ngày 16 đến ngày 30 tháng Bhaddapada.
“Sen Dolta” dịch ra tiếng phổ thông có nghĩa là “cúng ông bà”, do đó lễ hội SeneDolta bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian. Từ xa xưa, đồng bào Khmer cho rằng ngoài thế giới hiện hữu còn có thế giới hồn linh; con người chỉ chết đi về thể xác, còn linh hồn thì vẫn tồn tại ở cõi vĩnh hằng. Xuất phát từ đó, hình thức “Sen” (cúng) là một lễ thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là để vừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đức của người đang sống đối với người đã chết. Việc “Sen” chủ yếu nhằm vào 2 đối tượng là hồn linh những người đã chết có quan hệ huyết thống với mình và những người có công tạo lập, bảo vệ cộng đồng dân tộc.
Chùa Khmer là nơi sinh hoạt văn hóa dành cho cả cộng đồng, nên bất kỳ cuộc lễ nào cũng đều được tổ chức ở đó. Vào những ngày Sen Dolta, hầu như bà con thức suốt đêm để vui chơi bên nhau. Đêm đến, các đôi trai gái sánh vai nhau nhịp nhàng với điệu lăm-thon trong tiếng nhạc ngũ âm trầm trầm vang vang như làm hăng thêm nhịp múa. Nơi kia, từng cặp, từng đôi say sưa với điệu hát à-day.

Trích dẫn:

Thời xưa, khi người đất phương Nam còn “làm chơi ăn thiệt”, Theo phong tục của đồng bào Khmer Nam bộ Sen Dolta cổ truyền kéo dài đến nửa tháng, lúc công việc ruộng nương đã hoàn tất phần cày cấy cho vụ lúa mùa. Những ngày này, mọi người trong nhà chuẩn bị cơm cùng bánh trái và hoa quả ngon mang đến chùa, tổ chức thành lễ hội chung của phum sóc, nhờ sư sãi tụng kinh cầu nguyện mọi điều tốt lành cho vong linh những người thân ở cõi vĩnh hằng, để tỏ lòng báo hiếu và tri ơn ông bà tổ tiên.
Lễ hội Sen Dolta của đồng bào Khmer Nam bộ là lễ hội lớn trong năm của đồng bào, mang màu sắc tín ngưỡng dân gian xen lẫn tôn giáo, chứa đựng nhiều yếu tố tích cực. Lễ hội thể hiện được truyền thống đạo lý “cây có cội, nước có nguồn” của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn và tính giáo dục đạo đức sâu sắc. Bên cạnh đó, qua nội dung của lễ hội đã giúp cho gia đình sum họp, đầm ấm; thắt chặt tình đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau trong phum sóc. Vật Sen Dolta tượng trưng không thể thiếu được là bánh tét (đồng bào gọi là num - Chruôt) nhằm tượng trưng cho ý nghĩa đó.
Ph-chum Benh là một tên gọi của lễ Sen Dolta thường được ghi trong sách vở. Ph-chum Benh nghĩa là lễ tụ hội phước đức, vì người Khmer xem lễ này là lễ lớn nhất trong các lễ lộc tạo phước đức. Từ "lễ" trong tiếng Khmer là "Pinda" hoặc "Punya" (nhân, tăng thêm... hay Punna) nghĩa là công đức, phúc đức.... Người Khmer làm bất cứ một lễ gì hầu như để tạo phước đức.
Nguồn gốc Lễ Sen Dolta
Truyền thống lễ Sene Dolta của người Khmer ở Nam bộ đã có từ thời xa xưa, trước khi đạo Phật truyền vào xã hội người Khmer. Những truyền thuyết về nguồn gốc của lễ Sen Dolta được nói đến như sau:
Người Khmer ở Nam bộ thường làm nghề nông, trồng lúa nước. Nghề trồng lúa nước bắt đầu khoảng tháng 4 Âm lịch là gieo mạ, tháng 6-7 đầu tháng 8 là nhổ mạ cấy lúa. Đến đây mùa cấy đã sắp xong và mùa này cũng là mùa mưa, nước lũ lại đến. Sau mùa mưa rảnh rỗi, những người nam nữ con cháu thường hay chống xuồng chèo ghe tìm đến để thăm hỏi ông bà cha mẹ già yếu cộng thêm giữa mùa thiếu hụt và mùa mưa lũ lụt này, có người phải chống xuồng chèo ghe đi xa mới tới được nơi ở của ông bà cha mẹ, nên phải mang theo cơm khô, gạo, trái cây, vật thực... để vừa dâng biếu cho ông bà cha mẹ vừa là cho mình ăn theo dọc đường đi. Có người thì tìm gặp được ông bà cha mẹ, người thì không gặp vì qua mùa nước lũ lụt, tuổi già sức yếu, đã qua đời mà con cháu lo làm lụng không luôn đến thăm hỏi nên không hay biết... Dần dần những người cùng đi, họ hẹn hò gặp nhau ở một chỗ nào đó để làm lễ nhớ ơn chẳng hạn, hoặc cùng chia buồn với bạn bè là người tìm không gặp ông bà cha mẹ... Sau khi có chùa chiền Phật giáo thì họ hẹn hò nhau tụ hội về chùa. Vậy là họ đã qui định với nhau rằng làm lễ Sen Dolta từ ngày 16 cho đến 30 tháng Bhaddapada.
Lâu dần Lễ Sen Dolta được đồng bào Khmer Nam bộ gọi đây là Lễ ông bà.
Đến khi đạo Phật xâm nhập vào đời sống dân cư của đồng bào Khmer Nam bộ, thì cũng có những quan niệm Lễ Sen Dolta bắt nguồn từ sự tích rút ra từ kinh điển Phật giáo. Sự tích kể rằng, một hôm, vào lúc đêm khuya canh vắng, tại hoàng cung của Vua Ping-pis-sara, bỗng vang dội tiếng gào thét, khóc lóc thảm thiết, kèm theo là tiếng van xin: Hãy cho chúng tôi ăn, cho chúng tôi uống với, vì chúng tôi đang đói lắm! Nhà vua bèn truyền lệnh triệu tập các nhà tiên tri đến hỏi, các nhà này cho rằng : "Đây là các ma quỉ chết oan, chết ức, không cha mẹ, không nhà cửa anh em, nay họ đến xin ăn uống. Nếu Hoàng Thượng không lo cúng tế e sợ có chuyện bắt 100 người nam, 100 người nữ và 100 con vật để làm lễ cúng tế. Nghe tin đó, bà hoàng hậu can gián : "Nếu Hoàng Thượng làm như vậy, 200 người này bị chết oan ức, những người thân của họ càng phẫn uất, vậy nó sẽ càng có hại cho mình và vương quốc. Quốc Vương nghe vậy, mới ngự giá tìm đến Chùa thỉnh ý Phật Thích Ca. Phật bảo rằng: Đó là những đầu bếp (do gian lận ăn cắp cơm gạo, thức ăn trong các lễ cúng dường ở thời Quốc Vương Mahinta – cách nay đã 92 kiếp) khi chết đi thành quỷ ở cõi âm và bị phạt phải nhịn ăn, nhịn uống đến nay là 92 kiếp – nay biết Ngài (tức Quốc Vương Ping-pis-sara) là chủ của họ hồi tiến kiếp, nên họ mới đến đòi ăn. Vậy Ngài nên cúng dường, dâng cơm cho các tu sĩ, nhờ ân đức và lời kinh của các vị này chuyền phước đến bọn quỷ đó. Nhưng ma quỉ chúng ta không thể cho vật thực, đồ ăn trực tiếp được, mà phải dâng cúng vật thực đồ ăn đến các vị có giới đức rồi nhờ các vị có giới đức ấy tụng kinh hồi hướng thì các ma quỉ thuộc ân nhân đã quá cố mới thọ hưởng được do phép hồi hướng đó.
Nhà vua vâng lời Đức Phật, bọn quỷ được ăn uống no nê. Ma quỉ được hưởng đầy đủ vật thực nên đêm thứ nhất không có nghe tiếng rên khóc. Qua đêm thứ hai nhà vua lại nghe tiếng rên khóc tiếp. Sáng sớm hôm sau, nhà vua đến chùa chỗ Đức Phật ngự, bạch với Đức Phật. Đức Phật dạy tiếp rằng : "Đêm trước ma quỉ được ăn no đầy đủ nên không rên la. Đêm sau lại rên la tiếp là vì chỉ ăn uống đầy đủ mà chưa có đồ mặc nên lại rên la tiếp vì bị rét lạnh". Nhà vua nghe xong, về cho người chuẩn bị y áo cùng vật thực làm lễ dâng cúng đến chư tăng và nhờ chư tăng hồi hướng tiếp. Nhà vua không còn nghe tiếng rên than của ma quỉ nữa.
Từ đó về sau mỗi năm cứ đến mùa là nhà vua lại cho thỉnh mời chư tăng đến để làm lễ hồi hướng cho ma quỉ và những người đã quá cố. Từ sự tích trong Kinh điển Phật giáo trên, nên người dân tộc Khmer Nam bộ tổ chức Lễ Sen Dolta hằng năm thành phong tục, gắn với nghi thức tôn giáo nhằm nhờ sư sãi tụng kinh cầu phước cho ông bà, cha mẹ, họ tộc quá cố được mau chóng đầu thai kiếp khác sung sướng hơn.

Nghi lễ vu lan, báo hiếu của Lễ Sen Dolta
Lễ hội Sen Dolta thường diễn ra dưới 2 dạng hình thức đó là Sen Dolta tổ chức tại nhà và Phchumbinh (có nghĩa là hội cơm nắm, cơm vắt) tổ chức tại chùa. Sene Dolta mang màu sắc tín ngưỡng dân gian, còn Phchumbinh mang màu sắc tôn giáo và là cách gọi chung của 3 lễ tiết được cử hành tại chùa trong thời gian diễn ra lễ hội. Ngày nay, giữa hai dạng thức Sen Dolta và Phchumbinh đã có sự kết hợp hài hoà, tế nhị, sâu sắc và rất thú vị mà thường được gọi chung là lễ Sen Dolta.
Lễ Sen Dolta kéo dài từ ngày 16 đến 30/8 âm lịch hằng năm, với 04 lễ thức chính tại Chùa và tại mỗi nhà người dân tộc Khmer Nam bộ, đó là:
-Lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh)
-Lễ cúng ông bà (Banh Sen Dolta)
-Lễ hội (Banh phchum banh)
-Lễ tiễn ông bà (Banh chuônh Dolta)
*Nghi thức Lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh):
Được tổ chức tại Chùa dân tộc, từ 16 đến cuối tháng 8 âm lịch hàng năm. Các vị Tà – à cha phân công cho từng nhà, hoặc từng tổ (vênh) thay phiên nhau đem gạo nếp, thực phẩm, nhang đèn, tiền bạc… về Chùa để tổ chức nấu nướng và cúng liên tục thời gian 15 ngày. Mỗi ngày nấu nhiều mâm cơm, đặc biệt có một mâm cơm được vắt cơm thành từng viên tròn bằng trái cam – người Khmer gọi là bai banh.
Theo các vị chức sắc ở phum sóc thì: Từ này bắt nguồn từ phạm ngữ Banh-đa có nghĩa là phầm cơm dâng cúng cho người đã chết. Cơm vắt (bai banh) được đặt trong mâm cùng với bánh trái, thức ăn, thức uống đem lên nhà hội (sa la) cúng Tam Bảo, có sự chứng kiến, tụng kinh nhằm cầu phước của sư sãi cho linh hồn những người trong họ tộc đã quá cố. Sau đó đem cơm vắt ra ngoài cúng cho ma quỷ. Lễ đặt cơm vắt được cúng liên tục tại chùa trong 15 ngày như thế.
* Nghi thức Lễ cúng Ông Bà (Banh Sen đolta) :
Được tổ chức vào ngày cuối của thời gian Lễ đặt cơm vắt (ngày 30/8 Âm lịch) và vào chiều cùng ngày, sau khi cúng trên Chùa xong, được tổ chức tại mỗi gia đình người dân tộc Khmer Nam bộ. Trước đó, từng nhà dọn dẹp, trang hoàng sạch sẽ và ngày cúng Ông Bà được mỗi gia đình sắm sửa một mâm cơm thịnh soạn, có hoa quả, nhang đèn… rồi mời họ hàng và gia đình sum họp đầy đủ cùng nhau cúng vái.
Thường là khấn vái, mời linh hồn những người trong họ tộc đã quá cố về ăn uống. Người chủ hộ khấn vái ba lần, mỗi lần rót trà, rượu và gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén… Tiếp đó là đem ra sân để cạnh hàng rào nơi sạch sẽ, đốt nhang mời ma quỷ đã dẫn dắt ông bà họ về cùng ăn. Vì theo người dân tộc, những linh hồn ma quỷ ấy không dám lên ăn chung mâm với ông bà nên phải đem ra ngoài cho ăn riêng.
Họ khấn vái, mời ông bà, dòng họ quá cố và ma quỷ ở lại ăn uống, vui chơi trong ngày lễ. Sau đó, gia đình, họ tộc, bạn bè (có nhà mời bạn bè là người Kinh láng giềng) cùng nhau ăn nhậu mừng đón Lễ.
* Lễ Hội (Banh phchum banh):
Theo nghiên cứu của Trần Văn Bổn, trong sách "Một số lễ tục dân tộc Khmer Nam bộ", có nơi còn gọi Lễ Hội linh.
Lễ này được tổ chức linh đình tại Chùa, tất cả các gia đình trong phum sóc đều nấu một mâm cơm thật tươm tất mang đi chùa cúng vào ngày 30/ 08 Âm lịch. Trước khi đem mâm cơm đến Chùa – chủ gia đình khấn vái, đại để. Cũng có nhiều mâm cơm vắt (Bai banh) để cúng cho ma quỷ. Nơi đây, tất cả cùng nhau ăn uống, thết đãi bạn bè (cócả người Kinh đến dự).
* Lễ tiễn đưa Ông Bà (Banh chuônh đônta):
Được tổ chức vào 3 ngày sau, tức qua mùng 3/9 âm lịch tại mỗi gia đình. Mỗi gia đình đều làm một chiếc thuyền bằng bẹ chuối – dài từ 5 đến 7 tấc, trang trí cờ phướn màu sắc rực rỡ. Sau khi nấu mâm cơm thịnh soạn, họ bới 4 chén cơm gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén rồi khấn vái và mang ra đặt trên thuyền, cùng với lúa, gạo, muối, đậu, bánh trái… người chủ gia đình đem thả trên sông hoặc kênh rạch, mé ruộng gần nhà, nhằm đưa tiễn ông bà và ma quỷ cùng trở về âm phủ. Sau đó, tập trung về nhà cùng quây quần ăn uống vui chơi với gia đình, họ hàng, bè bạn. Đến đây, coi như lễ Sen Dolta đã chấm dứt .
Ngày nay, đồng bào Khmer Nam bộ tổ chức lễ Sen Dolta chỉ trong ba ngày. Trong bangày lễ Sen Dolta diễn ra có nhiều họat động tín ngưỡng, tôn giáo và các họat động khác biểu hiện phong tục, tập quán diễn ra đan xen với nhau thể hiện bản sắc văn hóa riêng của đồng bào Khmer Nam bộ, đó là:
1. Ngày Cúng tiếp đón:Mỗi gia đình đều dọn dẹp nhà cửa khang trang, lau chùi bàn thờ tổ tiên sạch sẽ, trang hoàng lộng lẫy. Sau đó, dọn mâm cơm ngon cùng bánh trái, rượu trà và để bốn chén cơm với bốn đôi đũa ở bốn góc giường thờ, mời họ hàng thân tộc trong phum sóc đến thắp nhang đèn cúng kiến. Quanh mâm cơm, đàn bà ngồi xếp chân sang một bên, đàn ông ngồi chồm hổm, cùng chắp tay lạy và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn những người thân quá cô. Sau ba lần rót rượu và trà khấn vái, gia chủ gắp thức ăn mỗi món một ít, rót một chút rượu và trà cúng lên bốn chén cơm, xong đem đi đổ ở bốn góc rào chung quanh nhà, mỗi nơi cắm một nén nhang mời linh hồn ông bà về dự cùng con cháu. Buổi chiều, mọi người trong nhà ăn mặc tươm tất, dọn mâm cơm mới cúng ông bà, đủ ba lần rót rượu và trà khấn vái, chủ nhà mời linh hồn ông bà cùng đến chùa nghe sư sãi tụng kinh cầu siêu và thuyết pháp cho đến tối. Buổi tối, các vị achar lấy những nắm cơm vắt đựng trên mâm cúng tam bảo, mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn những người quá cố, rồi đem ra ngoài để chung quanh chính điện cúng cho những vong hồn cô đơn, không có con cháu đến cúng. Các trò chơi dân gian, văn nghệ và thể thao được tổ chức tại sân chùa, thu hút đông đảo bà con trong phum sóc đến vui chơi trong các ngày lễ Sen Dolta.
2. Ngày Cúng chính: Đồng bào Khmer quan niệm, linh hồn ông bà mình đã ở chùa từ tối hôm qua, đến trưa ngày hôm sau thì mọi nhà chuẩn bị mâm cơm ngon cùng bánh trái mang vào chùa tổ chức lễ cúng chính, mọi người tham dự mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn ông bà của tất cả mọi nhà trong phum sóc. Sau khi các vị sư độ cơm xong, bà con phật tử trong phum sóc cùng ăn, trao đổi kinh nghiệm trong công việc đồng áng và vui chơi tại chùa. Buổi chiều, rước linh hồn ông bà về nhà, làm mâm cơm mới cúng ông bà và mời ông bà ở lại chứng kiến cuộc sống sung túc của con cháu. Cúng xong, họ hàng thân tộc cùng bà con láng giềng trong phum sóc mời nhau ăn uống từ nhà này đến nhà khác, họ cùng nhau vui chơi múa hát theo điệu nhạc và tiếng trống cho đến đêm tối.
3. Ngày Cúng tiễn: Mỗi nhà làm một mâm cơm ngon, đặt bốn chén cơm với bốn đôi đũa ở bốn góc giường thờ, mời vài vị sư sãi cùng họ hàng thân tộc trong phum sóc đến nhà tụng kinh cầu siêu để tiễn đưa linh hồn ông bà và những người thân quá cố. Sau ba lần rót rượu và trà khấn vái, chủ nhà gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén, xong đổ bốn chén này vào chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, gắn thêm hình nộm cá sấu và treo cờ phướn hình tam giác, (có nơi người ta còn để thêm các gói đậu, mè, muối, bánh trái... mỗi thứ một gói nhỏ để ông bà có thức ăn dự phòng và tránh tai nạn xảy ra dọc đường), thắp một nén nhang rồi thả chiếc thuyền này xuống sông rạch gần nhà để tống tiễn ông bà trở về thế giới bên kia. Cúng xong, mọi người cùng dự lại mời nhau ăn uống và chung vui cho hết ngày Cúng tiễn.
Kết thúc ba ngày Lễ, chủ nhà thu xếp mùng, mềm, chiếu, gối và bộ đồ mới trên giường thờ cất vào tủ để đón lễ Sen Dolta năm sau.
Đồng bào Khmer thấm nhuần giáo lý nhà Phật, luôn tâm niệm tưởng nhớ công đức sinh thành dưỡng dục thể hiện ở tấm lòng thành kính, bởi vậy lễ vật dâng cúng ông bà tổ tiên trong lễ Dolta không phô trương hình thức, mâm cao cổ đầy, mà tùy theo điều kiện kinh tế mỗi gia đình. Lễ vật thường là những món ăn bình dị, gần gũi hàng ngày, như trái cây vườn nhà, sản vật chợ quê. Trong lễ Sen Dolta, con cháu người Khmer còn chuẩn bị các thức ăn ngon, lễ vật có ý nghĩa, dâng lên ông bà cha mẹ còn sống để tỏ lòng hiếu kính.
Lễ hội đua bò của đồng bào Khmer Nam bộ
Những ngày lễ Sen Dolta tại các chùa Khmer còn diễn ra nhiều lễ hội, biểu diễn nghệ thuật với các loại hình đặc sắc mang đậm đà bản sắc văn hóa Khmer như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa truyền thống… Đặc biệt là đông đảo bà con tập trung về một chùa để tổ chức đua bò kéo bừa truyền thống. Nổi bật nhất là Hội đua bò Bảy Núi của đồng bào Khmer tỉnh An Giang.
Lễ hội đua bò kéo bừa truyền thống là nét sinh hoạt văn hoá, là một trong những lễ hội được tổ chức hằng năm vào dịp Lễ Sen Đolta của đồng bào Khmer Nam Bộ, từ ngày 29 - 8 đến ngày 1 tháng 9 âm lịch hằng năm. Đây là một môn thể thao “độc nhất vô nhị” mang đậm màu sắc dân gian truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ nói chung và đồng bào Khmer tỉnh An Giang nói riêng vào dịp lễ Dolta.
Tục đua bò đã có từ lâu đời. Cuộc đua thường được tổ chức trên ruộng có nước xâm xấp, gọi là “đua bò bừa”. Ngày xưa, lễ Sen Dolta thường trùng khớp vào dịp xuống giống vụ lúa Thu Đông nên bà con nào trong phum, sóc có bò mang đến bừa cho thửa ruộng ngôi chùa trong phum, sóc gọi là “bừa công quả”. Để tạo không khí vui chơi, các chủ bò ngầm thi đua với nhau xem đôi bò nào khoẻ, bừa nhanh. Để động viên cổ vũ thêm, Sải Cả khen thưởng cho đôi bò thắng cuộc bằng phần thưởng tinh thần như sợi dây “Cà tha” có lục lạc đeo ở cổ bò. Về sau hình thành tục đua được tổ chức một cách tự phát ở nhiều nơi trong 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, thu hút cả chủ bò người Kinh tham gia.
Dần dần, lễ hội đua bò được nâng cấp và trở thành một sản phẩm du lịch lễ hội, thể thao độc đáo của địa phương. Ngay từ đêm hôm trước diễn ra ngày hội chính, nhân dân, du khách về dự hội cùng nhau thưởng thức các tiết mục văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc và những điệu múa lăm vông hào hứng, đầy lôi cuốn, để rồi sáng sớm hôm sau cùng nhau vào cuộc đua bò đầy tính đua tranh, đòi hỏi sự khéo léo và quả cảm.
Bắt đầu từ năm 1992 lễ hội đua bò thu hút hàng chục ngàn người từ các nơi đến xem. Năm 2003 lễ hội đặc sắc này đã được Tổng cục Du lịch công nhận là sản phẩm du lịch.
Đua bò có thể thức không giống môn thể thao nào: từng đôi bò, đôi trước- đôi sau! Mỗi đôi còn phải lôi theo sau một giàn bừa đã được cưa ngắn răng lại. Người điều khiển đứng trên giàn bừa vung roi như khi đang bừa đất ruộng. Trường đua là một mảnh ruộng bất kỳ ở sau phum, sóc có chiều dài từ 150 - 200m, ngang nhỏ hơn phân nửa, giữa vẫn là ruộng, đường viền cặp theo ranh được nạo sâu vài tấc với bề ngang khoảng 3m, đường đua lấp xấp nước. Đến lượt đua, mỗi đôi bò đi rảo một vòng quanh trường đua để “khoe tướng” và “khởi động”- gọi là vòng hô. Hết vòng hô, ngang vạch xuất phát, thấy người phất cờ là vào vòng thả ăn thua. Hai đôi một lượt bám sát nhau. Quá trình đua, đôi sau đạp lên bừa đôi trước là thắng và ngược lại.
Mỗi giải đua ấn định 38 đôi bò được lựa chọn sau các lần đua ở vòng loại tại các xã. Nhiều con tham gia giải nhiều năm, chúng đều to khoẻ, dáng đẹp: đầu to, lưng thẳng, xương chắc, đuôi dài, tai ngắn và nhỏ, cổ tròn và cặp mắt hiền lành. Đối với những người có kinh nghiệm chọn bò lâu năm thì đôi bò tốt còn là tài sản theo đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng, vì đôi bò thắng trận sẽ có gần 20 triệu đồng. Tuy nhiên chủ bò không bao giờ bán đôi bò của mình nếu giành giải nhất, vì đó là niềm vinh dự của gia đình và cộng đồng.
Vào cuộc đua, đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, gọng bừa là bàn đạp bao gồm một tấm gỗ rộng 30cm, dài 90cm, bên dưới là răng bừa. Lúc này các tài xế được phân thành cặp và làm thủ tục chọn cặp đua trước, đua sau.
Không giống như đua xe, tất cả xuất phát cùng một lúc. Đua bò lại thi hai đôi một: đôi trước, đôi sau. Mỗi cặp bò đều phải kéo theo một giàn bừa đã được cưa ngắn bớt răng. Người điều khiển đứng trên giàn bừa vung roi như khi đang bừa trên ruộng, do vậy họ phải đứng để không bị ngã, nếu ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa thì phạm luật và thua cuộc. Ngày nay thể thức đua bò đã được cải tiến hơn xưa rất nhiều: cuộc đua diễn ra trên mặt ruộng có nước chứ không phải trên mặt đường như trước đây, vì vậy tính mạng của người điều khiển bò an toàn hơn. Tuy có một số thay đổi nhưng lệ vẫn giữ nhiều quy ước cũ.
Cuộc đua chia làm hai vòng: vòng hu và vòng thả, hết vòng hu đến vòng thả. Có thể hiểu vòng hu là vòng loại của cuộc đua, còn vòng thả mới phản ánh đầy đủ sức mạnh của cặp bò cùng tay nghề, bản lĩnh của người điều khiển.
Vào vòng hu, mỗi đôi bò phải đi dạo hai vòng quanh trường đua để trình diễn và khởi động. Nếu đôi bò nào đạp vào bừa của đôi bò khác là bị loại. Ngược lại, lệ quy định ở vòng thả khác với vòng hu, nếu đôi bò nào ở phía sau đạp vào bừa của đôi bò trước thì lại thắng cuộc.
Đua bò ở An Giang đã có từ hàng trăm năm nay. Sự kiện này là dịp những người đàn ông trong phum sóc trổ tài dũng cảm, sự khôn khéo của mình trước cộng đồng. Hàng ngày những tài xế, chủ bò là những nhà nông chân lấm tay bùn, nhưng lúc này họ được tôn vinh là nhân vật chính của ngày hội.
Theo quan niệm của đồng bào vùng Bảy Núi, đua bò có một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Đua bò giành được giải cao trong năm không những mang lại cho chủ nhân của đôi bò niềm kiêu hãnh mà con mang đến cho cả phum sóc một niềm vui, một nghị lực để giành nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực khác, như bò của phum khỏe mạnh có sức dẻo dai, cày bừa tốt, giúp cho người dân thực hiện gieo trồng được dễ dàng, đem lại một mùa bội thu, dân làng no ấm.
Từ nhiều năm nay, lễ hội đua bò Bảy Núi đã lôi cuốn đông các đội đua bò của các huyện trong tỉnh An Giang và cả một số đội bò ở các địa phương Cam-pu-chia giáp An Giang tham dự cùng nhiều du khách trong nước và ngoài nước.
Lễ Sen Đolta bằng việc thông qua nghi lễ tôn giáo để khẳng định tính nhân bản, thuần hậu trong khát vọng, tâm linh của đồng bào Khmer. Ngày nay, lễ Sen Đolta còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về lòng hiếu thảo, thiện nghĩa với ông bà, cha mẹ, với cộng đồng xã hội và xa tránh điều ác làm tổn hại đến sự đoàn kết gắn bó giữa gia đình, dòng tộc, làng xóm và giữa các dân tộc anh em đang cùng chung sống.
Lễ hội như một nét độc đáo mà người Khmer Nam bộ góp chung vào sự đa dạng, đặc sắc của nền văn hóa Việt. Một lần đến với lễ hội Khmer Nam bộ du khách sẽ được hiểu thêm về con người ở một vùng đất, cũng như dấu ấn đặc sắc mà nền văn minh lúa nước tác động đến vùng đất này như thế nào.

6.                  Lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn, Vĩnh Long

Lăng Ông - theo cách gọi đã quen thuộc từ nhiều đời của người dân địa phương, là khu di tích văn hóa lễ hội đình thần, tọa lạc tại giồng Thanh Bạch thuộc ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, cách thị trấn Trà Ôn (Vĩnh Long) khoảng hai cây số. Đây là nơi phần mộ và miếu thờ phụng để tri ân, cầu phước bởi công đức của một ông quan triều đình Nhà Nguyễn là ông Nguyễn Văn Tồn. Khu Lăng mộ, miếu thờ này đã được Bộ Văn hóa -Thông tin đã công nhận là di tích văn hóa vào ngày 13-02-1996.
Quan Tiền tướng quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (1763 – 1820) là người dân tộc Khơ-me, quê ở làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh). Ông tên thật là Thạch Duồng. Vì ông hết lòng tận trung và có công với nhà Nguyễn nên được cho mang “quốc tính” và được lấy họ nhà vua làm tự danh. Đời nhà Nguyễn, ông được phân công đi chiêu mộ thành lập một đội quân người dân tộc Khơ-me và lãnh nhiệm vụ thống quản đội quân đó. Năm Gia Long thứ nhất (1802) ông được thăng Cai cơ, trấn giữ đồn Trà Ôn (thuộc Trấn Giang) kiêm Quản hóa phủ Trà Vinh và Mang Thít thuộc Vĩnh Trấn. Thời kỳ này, ông đã có công giúp nhà Nguyễn dẹp loạn ngoại xâm, nội phản ở biên giới Tây Nam. Năm Gia Long thứ bảy (1808) và Gia Long thứ mười một (1811) ông được thăng Thống Chế. Năm 1819 ông được phân công trông coi dân phu, cùng giúp Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế. Do lao tâm, lao lực ông bị bệnh, mất đầu năm Canh Thìn 1820. Công đức của ông là giúp dân vùng Trà Ôn, Trà Vinh, Măng Thít khai khẩn đất hoang, thành lập xóm làng.
Hiện nay ngày giỗ đầu tháng Giêng hàng năm, được gọi là Lễ hội Lăng Ông, mang ý nghĩa cầu phước vào những ngày xuân và quan Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn trở thành vị phúc thần của bà con ba dân tộc: Kinh, Khơ-me, Hoa. Trong ngày lễ thường có hàng ngàn khách đến tham dự lễ hội. Lễ lớn khi cả chục nghìn khách. Người ta nói, ông là bậc tiền bối linh thiêng trên đất này, cầu phước trong dịp ngày giỗ của ông thì vùng đất này mới được mưa thuận gió hòa, bà con sẽ làm ăn phát đạt, thịnh vượng trong làm ăn, gia cư, xóm ấp yên lành. Đây cũng là địa chỉ du lịch văn hóa lễ hội đình làng truyền thống, đã được du khách thập phương ghé đến thưởng ngoạn phong cảnh, thắp hương cầu may và được xem nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian, làm phong phú thêm nhu cầu tâm thức, tâm linh và nâng cao vốn hiểu biết về văn hóa các vùng quê thuộc miệt vuờn Nam bộ.

7.                  những lễ hội ở tỉnh Tiền Giang

Hội Nghinh ông

Thời gian: 9 - 10/3 âm lịch.
Địa điểm:Lăng ông Nam Hải, xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đối tượng suy tôn: Cá Ông.
Đặc điểm: Rước sắc Thần, lế xô giàn thí, cúng thủy lục, hát bội, hát thày, làm lễ nghinh ông trên biển với hàng trăm tàu thuyền trang hoàng lộng lẫy.

Hội Tứ Kiệt- Thời gian: 15 - 16/8 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Hòa, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Đối tượng suy tôn: Bốn anh hùng thời chống Pháp, đó là các ông: Đước, Long, Rộng, Thận.
Đặc điểm: Dâng hương tưởng niệm.

8.                  những lễ hội ở thành phố Hồ Chí Minh

Lễ hội lăng Cá Ông - Bà Chiểu
Thời gian: 30/7 - 1/8 âm lịch.
Địa điểm: Lăng Ông, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Lê Văn Duyệt và phu nhân.
Đặc điểm: Lễ cầu yên, diễn xướng của nhiều nhân vật

Lễ hội Nghinh Ông
Thời gian: Từ 15 đến 17 tháng 8 âm lịch.
Địa điểm: Xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Cá Ông.
Đặc điểm: Lễ cúng cá Ông của ngư dân miền ven biển. Có lễ rước và lễ tế truyền thống.

Lễ hội nghinh "Ông", hay là lễ cúng cá "Ông" (cá voi) gắn liền với tục thờ cá ông phổ biến từ đèo Ngang trở vào đến Hà Tiên, đảo Phú Quốc, là loại lễ hội nước lớn nhất của ngư dân. Bằng nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá "Ông", lễ cúng "Ông", lễ nghinh "Ông", lễ nghinh ông Thuỷ tướng, nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên.
Lăng ông Thuỷ tướng được vua Tự Đức ban sắc phong gọi là Nam hải Tướng quân. Tại đây hàng năm diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ để tưởng nhớ công ơn cá "Ông".
Ngày 15/8 không khí lễ hội đã diễn ra nhộn nhịp ở bên ngoài lăng với nhiều hoạt động văn hoá sôi nổi.
Sáng ngày 16/8, khoảng 10h, các vị trong hội lăng trong trang phục chỉnh tề làm lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Đoàn ghe nghinh xuất phát tại bến đò Cần Giờ - Vũng Tàu. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con hai bên phố bày lễ vật nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thuỷ tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vật. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước đi khoảng hai giờ thì quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thuỷ tướng. Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng.
Khi rước ông vào lăng, các nghi thức đón và tế diễn ra trang trọng, đúng với nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thuỷ tướng. Ngoài lăng, có các hoạt động văn hoá văn nghệ. Vào khoảng 20 - 23h cùng ngày lễ cúng tế, hát bội vẫn tiếp tục diễn ra trong lăng.
Sáng 17/8: từ 8h - 22h tại lăng ông Thuỷ tướng diễn ra lễ tôn vương ông Thuỷ tướng theo sắc phong. Lễ cúng có hát thờ. Sau phần lễ tôn ông theo sắc phong cũng là lúc chấm dứt lễ hội.

Lễ Kỳ Yên đình Bình Đông
Thời gian: 10 - 14/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường 7, quận 8, TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Các bậc thầy dạy nghề trong thôn.
Đặc điểm: Lễ cúng Tổ nghề và lễ cầu an.

Đình Bình Đông nằm trên bờ rạch Bà Tàng, là một trong hai ngôi đình có lượng khách tham quan, lễ bái đông nhất thành phố. Lễ Kỳ Yên gồm có: lễ cúng tiên sư tưởng nhớ những bậc thầy dạy nghề trong thôn, lễ tụng kinh cầu an theo nghi thức Phật giáo, hoàn sắc, lễ tế thần, lễ tế tiền hiền, hậu hiền những thế hệ khai hoang lập ấp và xây dựng các công trình phúc lợi cho thôn làng. Có hát bội cúng thần.

Lễ kỳ yên đình Phú Nhuận
Thời gian: 16 - 18/1 âm lịch.
Địa điểm: 18 đường Mai Văn Ngọc, phường 10 quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Phật, thần, các vị tiền hiền, hậu hiền.
Đặc điểm: Tụng kinh cầu an, lễ tế, nghi thức tôn vương và hồi chầu

Lễ hội bắt đầu bằng nghi thức tụng kinh cầu an của Phật giáo, tiếp theo là phần múa lân và biểu diễn võ thuật cổ truyền, các nghi thức tế thần, tế tiền hiền, hậu hiền. Buổi tối có phần xây chầu, đại bội và hát bội. Ngày thứ hai và thứ ba có nghi thức tế nam quan, nữ quan theo truyền thống Bắc bộ. Chấm dứt lễ hội là nghi thức tôn vương và hồi chầu theo truyền thống các đình Nam bộ.

Lễ kỳ yên đình Trường Thọ
Thời gian: 17/2 âm lịch.

Địa điểm: Phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Thần Thành hoàng, các vị tiền hiền, hậu hiền.
Đặc điểm: Lễ vật tế bên cạnh các thức cúng như hoa quả, trà, bánh... thì luôn luôn phải có một con heo sống. Lễ kỳ yên đình Trường Thọ theo truyền thống không có hát bội như nhiều ngôi đình khác ở Nam bộ, do kiêng kỵ với thần linh.

9.                  Lễ dâng bông của người Khmer Nam Bộ

Đoàn dâng bông với những dầy (bà), những mìn (cô), những bòn (chị), mặc những chiếc xà rông (y phục truyền thống của dân tộc Khmer) mới tinh bưng những cây bông rực rỡ, lặng lẽ nối thành hàng, lũ lượt dọc đường quê mênh mang nắng gió, hướng về phía những ngôi chùa Khmer thâm nghiêm dưới những “rừng” cây xanh mát...
Những cô gái đẹp được chọn bưng những cây bông rực rỡ, lung linh bao sắc màu huyền ảo. Trong con mắt trẻ thơ của tôi, cây bông mới lạ lẫm và đẹp đẽ làm sao! Những cây bông được trang trí bằng những sợi tua rua đong đưa theo bước chân người, lấp lánh bởi những chiếc gương tròn nhỏ, xinh xinh. Đong đưa theo nhịp chân bước còn là những đồng tiền giấy được xếp gọn và cột lại rất xinh xẻo. Lễ dâng bông tiếng Khmer gọi là Bon phkar. Lễ được tiến hành theo nghi thức Phật giáo. Vào lễ, ngày đầu tiên bắt đầu vào buổi tối. Trước hết các sư sãi đọc kinh cầu nguyện, xong tới các chương trình ca nhạc, vui chơi giải trí phục vụ người đến dự lễ. Con sóc (người dân sống trong sóc) đến chùa đầy đủ. Khuôn viên chùa rộng vài héc-ta chật cứng người. Qua một đêm lễ hội, sáng hôm sau, đồng bào Phật tử mới làm lễ dâng bông dâng lên sư sãi.
Khi những cây bông cuối cùng được dâng lên, buổi lễ kết thúc.
Dâng bông là một tục lệ rất có ý nghĩa trong đời sống cộng đồng: Người ta tổ chức quyên góp để đắp đường, tu sửa trường học, nhà tăng, nhà hội... Lễ dâng bông của từng địa phương, tuy cách làm cây bông mỗi nơi có khác nhau đôi chút nhưng việc tiến hành lễ và mục đích lễ ở cả khu vực miền Tây Nam bộ nói chung đều rất giống nhau. Tất cả đều thể hiện một ý thức cộng đồng rất cao. Điều này dễ dàng nhận thấy qua hình ảnh ngôi chùa ở từng phum sóc. Dù nhà ở của con sóc còn đơn sơ, đời sống còn khó khăn nhưng ngôi chùa của họ vẫn cứ uy nghi, tráng lệ. Trong không gian yên bình, ngôi chùa vươn mái cong lên nền trời xanh như một niềm kiêu hãnh, một niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tươi sáng.

10.              Lễ hội Gò Tháp - Đồng Tháp

Lễ hội Gò Tháp được tổ chức mỗi năm hai lần vào tháng Ba và tháng Mười một âm lịch, từ chiều 14 đến rạng sáng 16 tháng Ba là lễ hội tưởng niệm bà Chúa Xứ, tương truyền là người có công lao trong việc khai phá, tạo dựng và phát triển vùng này, từ chiều 14 đến rạng sáng 16 tháng Mười một là lễ hội tưởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương) và Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều), những thủ lĩnh nghĩa quân đã kiên cường chống thực dân Pháp đến xâm lược hồi nửa cuối thế kỷ 19. Cứ mỗi độ lễ hội, dường như nhịp sống của người dân Tháp Mười khác đi. Từng đoàn, từng đoàn khách thập phương từ các nơi kéo về với đủ mọi phương tiện: xe khách, xe lam, tàu, ghe... bình quân trên, dưới năm mươi nghìn người mỗi kỳ.
Lễ hội ở Gò Tháp có hai phần rõ rệt: phần nghi thức cúng lễ và phần hội hè. Ngoài các lễ cúng chính trong mỗi kỳ hội như cúng bà Chúa Xứ, cúng Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều còn cử hành một số lễ phụ khác như: lễ cầu an, cúng Thần nông, lễ thỉnh sinh... Mỗi nội dung lễ cúng có nghi thức hành lễ không giống nhau nhưng có nét chung nhất là đều có bài văn tế do bô lão chánh bái vừa đọc vừa diễn. Kèm theo là các tiết mục lễ nghi phụ họa như: dàn nhạc lễ réo rắt, dâng trà, rượu, hương. Nội dung văn tế là ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân hay cầu khẩn đất trời, cho "quốc thái, dân an", mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu... Trong phần hội hè, những tiết mục như múa hát, trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật rất phong phú làm cho con người quên đi những vất vả của cuộc sống thường nhật để tìm đến với nhau trong nỗi đồng cảm hướng về cái thiện.
Đến với lễ hội Gò Tháp là bước vào hoạt động văn hóa tổng hợp, đan xen và hòa lẫn vào nhau: giữa vật chất và tinh thần, giữa tín ngưỡng và văn hóa, giữa cái thiêng liêng và cái đời thường, giữa cổ xưa và đương đại... Lễ hội Gò Tháp mang tính chất dân gian và in đậm dấu ấn một thời mở cõi, phản ánh những khát vọng và ước mong tha thiết của người nông dân Đồng Tháp Mười. Do vậy, có sức cuốn hút ngày càng đông khách thăm.

11.              Lễ hội Sen Đolta

Hàng năm, ngoài Tết Chol – chnăm - thmây vào khoảng giữa tháng 4 dương lịch và Lễ Oóc - om - boc cổ truyền (rằm tháng 10 âm lịch), cứ vào khoảng cuối tháng 8 âm lịch (Khmer gọi là tháng photrobot) đồng bào Khmer lại tổ chức mừng lễ hội Sen Đolta, còn gọi là tết Sen Dolta, nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, họ hàng, cầu phước cho linh hồn những người đã khuất và tri ân tổ tiên đã khai phá đất đai, phù hộ cho phum, sóc an vui.
......Không tưng bừng, náo nức như lễ vào năm mới Chôl Chnăm Thmây, cũng không nhộn nhịp như ngày hội Oóc Omboc, lễ Sen Đolta thâm trầm hơn, mang đậm những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng văn hoá của người Khmer Nam bộ.
......Và trong những ngày diễn ra lễ Dolta, tại các chùa Khmer còn diễn ra nhiều lễ hội, biểu
diễn nghệ thuật với các loại hình đặc sắc mang đậm đà bản sắc văn hóa
Khmer như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa truyền thống… nhiều họat động tín ngưỡng, tôn giáo và các họat động khác biểu hiện phong tục, tập quán của đồng bào Khmer Nam bộ.
Sen Dolta - Lễ vu lan, báo hiếu của đồng bào Khmer Nam bộ
......Cũng như các dân tộc khác, người Khmer ở Nam bộ có cách thức làm lễ báo hiếu riêng của mình và lễ đó được gọi là Sen Dolta (lễ ông bà). Lễ Sen Dolta được tiến hành trong vòng 16 ngày kể từ ngày 16 đến ngày 30 tháng Bhaddapada.
......“Sen Dolta” dịch ra tiếng phổ thông có nghĩa là “cúng ông bà”, do đó lễ hội SeneDolta bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian. Từ xa xưa, đồng bào Khmer cho rằng ngoài thế giới hiện hữu còn có thế giới hồn linh; con người chỉ chết đi về thể xác, còn linh hồn thì vẫn tồn tại ở cõi vĩnh hằng. Xuất phát từ đó, hình thức “Sen” (cúng) là một lễ thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là để vừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đức của người đang sống đối với người đã chết. Việc “Sen” chủ yếu nhằm vào 2 đối tượng là hồn linh những người đã chết có quan hệ huyết thống với mình và những người có công tạo lập, bảo vệ cộng đồng dân tộc.
......Chùa Khmer là nơi sinh hoạt văn hóa dành cho cả cộng đồng, nên bất kỳ cuộc lễ nào cũng đều được tổ chức ở đó. Vào những ngày Sen Dolta, hầu như bà con thức suốt đêm để vui chơi bên nhau. Đêm đến, các đôi trai gái sánh vai nhau nhịp nhàng với điệu lăm-thon trong tiếng nhạc ngũ âm trầm trầm vang vang như làm hăng thêm nhịp múa. Nơi kia, từng cặp, từng đôi say sưa với điệu hát à-day.
......Thời xưa, khi người đất phương Nam còn “làm chơi ăn thiệt”, Theo phong tục của đồng bào Khmer Nam bộ Sen Dolta cổ truyền kéo dài đến nửa tháng, lúc công việc ruộng nương đã hoàn tất phần cày cấy cho vụ lúa mùa. Những ngày này, mọi người trong nhà chuẩn bị cơm cùng bánh trái và hoa quả ngon mang đến chùa, tổ chức thành lễ hội chung của phum sóc, nhờ sư sãi tụng kinh cầu nguyện mọi điều tốt lành cho vong linh những người thân ở cõi vĩnh hằng, để tỏ lòng báo hiếu và tri ơn ông bà tổ tiên.
......Lễ hội Sen Dolta của đồng bào Khmer Nam bộ là lễ hội lớn trong năm của đồng bào, mang màu sắc tín ngưỡng dân gian xen lẫn tôn giáo, chứa đựng nhiều yếu tố tích cực. Lễ hội thể hiện được truyền thống đạo lý “cây có cội, nước có nguồn” của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn và tính giáo dục đạo đức sâu sắc. Bên cạnh đó, qua nội dung của lễ hội đã giúp cho gia đình sum họp, đầm ấm; thắt chặt tình đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau trong phum sóc. Vật Sen Dolta tượng trưng không thể thiếu được là bánh tét (đồng bào gọi là num - Chruôt) nhằm tượng trưng cho ý nghĩa đó.
......Ph-chum Benh là một tên gọi của lễ Sen Dolta thường được ghi trong sách vở. Ph-chum Benh nghĩa là lễ tụ hội phước đức, vì người Khmer xem lễ này là lễ lớn nhất trong các lễ lộc tạo phước đức. Từ "lễ" trong tiếng Khmer là "Pinda" hoặc "Punya" (nhân, tăng thêm... hay Punna) nghĩa là công đức, phúc đức.... Người Khmer làm bất cứ một lễ gì hầu như để tạo phước đức.
Nguồn gốc Lễ Sen Dolta
......Truyền thống lễ Sene Dolta của người Khmer ở Nam bộ đã có từ thời xa xưa, trước khi đạo Phật truyền vào xã hội người Khmer. Những truyền thuyết về nguồn gốc của lễ Sen Dolta được nói đến như sau:
......Người Khmer ở Nam bộ thường làm nghề nông, trồng lúa nước. Nghề trồng lúa nước bắt đầu khoảng tháng 4 Âm lịch là gieo mạ, tháng 6-7 đầu tháng 8 là nhổ mạ cấy lúa. Đến đây mùa cấy đã sắp xong và mùa này cũng là mùa mưa, nước lũ lại đến. Sau mùa mưa rảnh rỗi, những người nam nữ con cháu thường hay chống xuồng chèo ghe tìm đến để thăm hỏi ông bà cha mẹ già yếu cộng thêm giữa mùa thiếu hụt và mùa mưa lũ lụt này, có người phải chống xuồng chèo ghe đi xa mới tới được nơi ở của ông bà cha mẹ, nên phải mang theo cơm khô, gạo, trái cây, vật thực... để vừa dâng biếu cho ông bà cha mẹ vừa là cho mình ăn theo dọc đường đi. Có người thì tìm gặp được ông bà cha mẹ, người thì không gặp vì qua mùa nước lũ lụt, tuổi già sức yếu, đã qua đời mà con cháu lo làm lụng không luôn đến thăm hỏi nên không hay biết... Dần dần những người cùng đi, họ hẹn hò gặp nhau ở một chỗ nào đó để làm lễ nhớ ơn chẳng hạn, hoặc cùng chia buồn với bạn bè là người tìm không gặp ông bà cha mẹ... Sau khi có chùa chiền Phật giáo thì họ hẹn hò nhau tụ hội về chùa. Vậy là họ đã qui định với nhau rằng làm lễ Sen Dolta từ ngày 16 cho đến 30 tháng Bhaddapada.
......Lâu dần Lễ Sen Dolta được đồng bào Khmer Nam bộ gọi đây là Lễ ông bà.
......Đến khi đạo Phật xâm nhập vào đời sống dân cư của đồng bào Khmer Nam bộ, thì cũng có những quan niệm Lễ Sen Dolta bắt nguồn từ sự tích rút ra từ kinh điển Phật giáo. Sự tích kể rằng, một hôm, vào lúc đêm khuya canh vắng, tại hoàng cung của Vua Ping-pis-sara, bỗng vang dội tiếng gào thét, khóc lóc thảm thiết, kèm theo là tiếng van xin: Hãy cho chúng tôi ăn, cho chúng tôi uống với, vì chúng tôi đang đói lắm! Nhà vua bèn truyền lệnh triệu tập các nhà tiên tri đến hỏi, các nhà này cho rằng : "Đây là các ma quỉ chết oan, chết ức, không cha mẹ, không nhà cửa anh em, nay họ đến xin ăn uống. Nếu Hoàng Thượng không lo cúng tế e sợ có chuyện bắt 100 người nam, 100 người nữ và 100 con vật để làm lễ cúng tế. Nghe tin đó, bà hoàng hậu can gián : "Nếu Hoàng Thượng làm như vậy, 200 người này bị chết oan ức, những người thân của họ càng phẫn uất, vậy nó sẽ càng có hại cho mình và vương quốc. Quốc Vương nghe vậy, mới ngự giá tìm đến Chùa thỉnh ý Phật Thích Ca. Phật bảo rằng: Đó là những đầu bếp (do gian lận ăn cắp cơm gạo, thức ăn trong các lễ cúng dường ở thời Quốc Vương Mahinta – cách nay đã 92 kiếp) khi chết đi thành quỷ ở cõi âm và bị phạt phải nhịn ăn, nhịn uống đến nay là 92 kiếp – nay biết Ngài (tức Quốc Vương Ping-pis-sara) là chủ của họ hồi tiến kiếp, nên họ mới đến đòi ăn. Vậy Ngài nên cúng dường, dâng cơm cho các tu sĩ, nhờ ân đức và lời kinh của các vị này chuyền phước đến bọn quỷ đó. Nhưng ma quỉ chúng ta không thể cho vật thực, đồ ăn trực tiếp được, mà phải dâng cúng vật thực đồ ăn đến các vị có giới đức rồi nhờ các vị có giới đức ấy tụng kinh hồi hướng thì các ma quỉ thuộc ân nhân đã quá cố mới thọ hưởng được do phép hồi hướng đó.
......Nhà vua vâng lời Đức Phật, bọn quỷ được ăn uống no nê. Ma quỉ được hưởng đầy đủ vật thực nên đêm thứ nhất không có nghe tiếng rên khóc. Qua đêm thứ hai nhà vua lại nghe tiếng rên khóc tiếp. Sáng sớm hôm sau, nhà vua đến chùa chỗ Đức Phật ngự, bạch với Đức Phật. Đức Phật dạy tiếp rằng : "Đêm trước ma quỉ được ăn no đầy đủ nên không rên la. Đêm sau lại rên la tiếp là vì chỉ ăn uống đầy đủ mà chưa có đồ mặc nên lại rên la tiếp vì bị rét lạnh". Nhà vua nghe xong, về cho người chuẩn bị y áo cùng vật thực làm lễ dâng cúng đến chư tăng và nhờ chư tăng hồi hướng tiếp. Nhà vua không còn nghe tiếng rên than của ma quỉ nữa.
......Từ đó về sau mỗi năm cứ đến mùa là nhà vua lại cho thỉnh mời chư tăng đến để làm lễ hồi hướng cho ma quỉ và những người đã quá cố. Từ sự tích trong Kinh điển Phật giáo trên, nên người dân tộc Khmer Nam bộ tổ chức Lễ Sen Dolta hằng năm thành phong tục, gắn với nghi thức tôn giáo nhằm nhờ sư sãi tụng kinh cầu phước cho ông bà, cha mẹ, họ tộc quá cố được mau chóng đầu thai kiếp khác sung sướng hơn.
Nghi lễ vu lan, báo hiếu của Lễ Sen Dolta
......Lễ hội Sen Dolta thường diễn ra dưới 2 dạng hình thức đó là Sen Dolta tổ chức tại nhà và Phchumbinh (có nghĩa là hội cơm nắm, cơm vắt) tổ chức tại chùa. Sene Dolta mang màu sắc tín ngưỡng dân gian, còn Phchumbinh mang màu sắc tôn giáo và là cách gọi chung của 3 lễ tiết được cử hành tại chùa trong thời gian diễn ra lễ hội. Ngày nay, giữa hai dạng thức Sen Dolta và Phchumbinh đã có sự kết hợp hài hoà, tế nhị, sâu sắc và rất thú vị mà thường được gọi chung là lễ Sen Dolta.
......Lễ Sen Dolta kéo dài từ ngày 16 đến 30/8 âm lịch hằng năm, với 04 lễ thức chính tại Chùa và tại mỗi nhà người dân tộc Khmer Nam bộ, đó là:
Lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh)
Lễ cúng ông bà (Banh Sen Dolta)
Lễ hội (Banh phchum banh)
Lễ tiễn ông bà (Banh chuônh Dolta)
* Nghi thức Lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh):
......Được tổ chức tại Chùa dân tộc, từ 16 đến cuối tháng 8 âm lịch hàng năm. Các vị Tà – à cha phân công cho từng nhà, hoặc từng tổ (vênh) thay phiên nhau đem gạo nếp, thực phẩm, nhang đèn, tiền bạc… về Chùa để tổ chức nấu nướng và cúng liên tục thời gian 15 ngày. Mỗi ngày nấu nhiều mâm cơm, đặc biệt có một mâm cơm được vắt cơm thành từng viên tròn bằng trái cam – người Khmer gọi là bai banh.
......Theo các vị chức sắc ở phum sóc thì: Từ này bắt nguồn từ phạm ngữ Banh-đa có nghĩa là phầm cơm dâng cúng cho người đã chết. Cơm vắt (bai banh) được đặt trong mâm cùng với bánh trái, thức ăn, thức uống đem lên nhà hội (sa la) cúng Tam Bảo, có sự chứng kiến, tụng kinh nhằm cầu phước của sư sãi cho linh hồn những người trong họ tộc đã quá cố. Sau đó đem cơm vắt ra ngoài cúng cho ma quỷ. Lễ đặt cơm vắt được cúng liên tục tại chùa trong 15 ngày như thế.
* Nghi thức Lễ cúng Ông Bà (Banh Sen đolta):
......Được tổ chức vào ngày cuối của thời gian Lễ đặt cơm vắt (ngày 30/8 Âm lịch) và vào chiều cùng ngày, sau khi cúng trên Chùa xong, được tổ chức tại mỗi gia đình người dân tộc Khmer Nam bộ. Trước đó, từng nhà dọn dẹp, trang hoàng sạch sẽ và ngày cúng Ông Bà được mỗi gia đình sắm sửa một mâm cơm thịnh soạn, có hoa quả, nhang đèn… rồi mời họ hàng và gia đình sum họp đầy đủ cùng nhau cúng vái.
......Thường là khấn vái, mời linh hồn những người trong họ tộc đã quá cố về ăn uống. Người chủ hộ khấn vái ba lần, mỗi lần rót trà, rượu và gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén… Tiếp đó là đem ra sân để cạnh hàng rào nơi sạch sẽ, đốt nhang mời ma quỷ đã dẫn dắt ông bà họ về cùng ăn. Vì theo người dân tộc, những linh hồn ma quỷ ấy không dám lên ăn chung mâm với ông bà nên phải đem ra ngoài cho ăn riêng.
......Họ khấn vái, mời ông bà, dòng họ quá cố và ma quỷ ở lại ăn uống, vui chơi trong ngày lễ. Sau đó, gia đình, họ tộc, bạn bè (có nhà mời bạn bè là người Kinh láng giềng) cùng nhau ăn nhậu mừng đón Lễ.
* Lễ Hội (Banh phchum banh):
......Theo nghiên cứu của Trần Văn Bổn, trong sách "Một số lễ tục dân tộc Khmer Nam bộ", có nơi còn gọi Lễ Hội linh.
......Lễ này được tổ chức linh đình tại Chùa, tất cả các gia đình trong phum sóc đều nấu một mâm cơm thật tươm tất mang đi chùa cúng vào ngày 30/ 08 Âm lịch. Trước khi đem mâm cơm đến Chùa – chủ gia đình khấn vái, đại để. Cũng có nhiều mâm cơm vắt (Bai banh) để cúng cho ma quỷ. Nơi đây, tất cả cùng nhau ăn uống, thết đãi bạn bè (có cả người Kinh đến dự).
* Lễ tiễn đưa Ông Bà (Banh chuônh đônta):
......Được tổ chức vào 3 ngày sau, tức qua mùng 3/9 âm lịch tại mỗi gia đình. Mỗi gia đình đều làm một chiếc thuyền bằng bẹ chuối – dài từ 5 đến 7 tấc, trang trí cờ phướn màu sắc rực rỡ. Sau khi nấu mâm cơm thịnh soạn, họ bới 4 chén cơm gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén rồi khấn vái và mang ra đặt trên thuyền, cùng với lúa, gạo, muối, đậu, bánh trái… người chủ gia đình đem thả trên sông hoặc kênh rạch, mé ruộng gần nhà, nhằm đưa tiễn ông bà và ma quỷ cùng trở về âm phủ. Sau đó, tập trung về nhà cùng quây quần ăn uống vui chơi với gia đình, họ hàng, bè bạn. Đến đây, coi như lễ Sen Dolta đã chấm dứt .
......Ngày nay, đồng bào Khmer Nam bộ tổ chức lễ Sen Dolta chỉ trong ba ngày. Trong ba ngày lễ Sen Dolta diễn ra có nhiều họat động tín ngưỡng, tôn giáo và các họat động khác biểu hiện phong tục, tập quán diễn ra đan xen với nhau thể hiện bản sắc văn hóa riêng của đồng bào Khmer Nam bộ, đó là:
...1.Ngày Cúng tiếp đón: Mỗi gia đình đều dọn dẹp nhà cửa khang trang, lau chùi bàn thờ tổ tiên sạch sẽ, trang hoàng lộng lẫy. Sau đó, dọn mâm cơm ngon cùng bánh trái, rượu trà và để bốn chén cơm với bốn đôi đũa ở bốn góc giường thờ, mời họ hàng thân tộc trong phum sóc đến thắp nhang đèn cúng kiến. Quanh mâm cơm, đàn bà ngồi xếp chân sang một bên, đàn ông ngồi chồm hổm, cùng chắp tay lạy và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn những người thân quá cô. Sau ba lần rót rượu và trà khấn vái, gia chủ gắp thức ăn mỗi món một ít, rót một chút rượu và trà cúng lên bốn chén cơm, xong đem đi đổ ở bốn góc rào chung quanh nhà, mỗi nơi cắm một nén nhang mời linh hồn ông bà về dự cùng con cháu. Buổi chiều, mọi người trong nhà ăn mặc tươm tất, dọn mâm cơm mới cúng ông bà, đủ ba lần rót rượu và trà khấn vái, chủ nhà mời linh hồn ông bà cùng đến chùa nghe sư sãi tụng kinh cầu siêu và thuyết pháp cho đến tối. Buổi tối, các vị achar lấy những nắm cơm vắt đựng trên mâm cúng tam bảo, mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn những người quá cố, rồi đem ra ngoài để chung quanh chính điện cúng cho những vong hồn cô đơn, không có con cháu đến cúng. Các trò chơi dân gian, văn nghệ và thể thao được tổ chức tại sân chùa, thu hút đông đảo bà con trong phum sóc đến vui chơi trong các ngày lễ Sen Dolta.
...2. Ngày Cúng chính: Đồng bào Khmer quan niệm, linh hồn ông bà mình đã ở chùa từ tối hôm qua, đến trưa ngày hôm sau thì mọi nhà chuẩn bị mâm cơm ngon cùng bánh trái mang vào chùa tổ chức lễ cúng chính, mọi người tham dự mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn ông bà của tất cả mọi nhà trong phum sóc. Sau khi các vị sư độ cơm xong, bà con phật tử trong phum sóc cùng ăn, trao đổi kinh nghiệm trong công việc đồng áng và vui chơi tại chùa. Buổi chiều, rước linh hồn ông bà về nhà, làm mâm cơm mới cúng ông bà và mời ông bà ở lại chứng kiến cuộc sống sung túc của con cháu. Cúng xong, họ hàng thân tộc cùng bà con láng giềng trong phum sóc mời nhau ăn uống từ nhà này đến nhà khác, họ cùng nhau vui chơi múa hát theo điệu nhạc và tiếng trống cho đến đêm tối.

...3. Ngày Cúng tiễn: Mỗi nhà làm một mâm cơm ngon, đặt bốn chén cơm với bốn đôi đũa ở bốn góc giường thờ, mời vài vị sư sãi cùng họ hàng thân tộc trong phum sóc đến nhà tụng kinh cầu siêu để tiễn đưa linh hồn ông bà và những người thân quá cố. Sau ba lần rót rượu và trà khấn vái, chủ nhà gắp thức ăn mỗi thứ một ít vào chén, xong đổ bốn chén này vào chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, gắn thêm hình nộm cá sấu và treo cờ phướn hình tam giác, (có nơi người ta còn để thêm các gói đậu, mè, muối, bánh trái... mỗi thứ một gói nhỏ để ông bà có thức ăn dự phòng và tránh tai nạn xảy ra dọc đường), thắp một nén nhang rồi thả chiếc thuyền này xuống sông rạch gần nhà để tống tiễn ông bà trở về thế giới bên kia. Cúng xong, mọi người cùng dự lại mời nhau ăn uống và chung vui cho hết ngày Cúng tiễn.
......Kết thúc ba ngày Lễ, chủ nhà thu xếp mùng, mềm, chiếu, gối và bộ đồ mới trên giường thờ cất vào tủ để đón lễ Sen Dolta năm sau.
......Đồng bào Khmer thấm nhuần giáo lý nhà Phật, luôn tâm niệm tưởng nhớ công đức sinh thành dưỡng dục thể hiện ở tấm lòng thành kính, bởi vậy lễ vật dâng cúng ông bà tổ tiên trong lễ Dolta không phô trương hình thức, mâm cao cổ đầy, mà tùy theo điều kiện kinh tế mỗi gia đình. Lễ vật thường là những món ăn bình dị, gần gũi hàng ngày, như trái cây vườn nhà, sản vật chợ quê. Trong lễ Sen Dolta, con cháu người Khmer còn chuẩn bị các thức ăn ngon, lễ vật có ý nghĩa, dâng lên ông bà cha mẹ còn sống để tỏ lòng hiếu kính.
Lễ hội đua bò của đồng bào Khmer Nam bộ
......Những ngày lễ Sen Dolta tại các chùa Khmer còn diễn ra nhiều lễ hội, biểu diễn nghệ thuật với các loại hình đặc sắc mang đậm đà bản sắc văn hóa Khmer như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa truyền thống… Đặc biệt là đông đảo bà con tập trung về một chùa để tổ chức đua bò kéo bừa truyền thống. Nổi bật nhất là Hội đua bò Bảy Núi của đồng bào Khmer tỉnh An Giang.
......Lễ hội đua bò kéo bừa truyền thống là nét sinh hoạt văn hoá, là một trong những lễ hội được tổ chức hằng năm vào dịp Lễ Sen Đolta của đồng bào Khmer Nam Bộ, từ ngày 29 - 8 đến ngày 1 tháng 9 âm lịch hằng năm. Đây là một môn thể thao “độc nhất vô nhị” mang đậm màu sắc dân gian truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ nói chung và đồng bào Khmer tỉnh An Giang nói riêng vào dịp lễ Dolta.
......Tục đua bò đã có từ lâu đời. Cuộc đua thường được tổ chức trên ruộng có nước xâm xấp, gọi là “đua bò bừa”. Ngày xưa, lễ Sen Dolta thường trùng khớp vào dịp xuống giống vụ lúa Thu Đông nên bà con nào trong phum, sóc có bò mang đến bừa cho thửa ruộng ngôi chùa trong phum, sóc gọi là “bừa công quả”. Để tạo không khí vui chơi, các chủ bò ngầm thi đua với nhau xem đôi bò nào khoẻ, bừa nhanh. Để động viên cổ vũ thêm, Sải Cả khen thưởng cho đôi bò thắng cuộc bằng phần thưởng tinh thần như sợi dây “Cà tha” có lục lạc đeo ở cổ bò. Về sau hình thành tục đua được tổ chức một cách tự phát ở nhiều nơi trong 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, thu hút cả chủ bò người Kinh tham gia.
......Dần dần, lễ hội đua bò được nâng cấp và trở thành một sản phẩm du lịch lễ hội, thể thao độc đáo của địa phương. Ngay từ đêm hôm trước diễn ra ngày hội chính, nhân dân, du khách về dự hội cùng nhau thưởng thức các tiết mục văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc và những điệu múa lăm vông hào hứng, đầy lôi cuốn, để rồi sáng sớm hôm sau cùng nhau vào cuộc đua bò đầy tính đua tranh, đòi hỏi sự khéo léo và quả cảm.
.......Bắt đầu từ năm 1992 lễ hội đua bò thu hút hàng chục ngàn người từ các nơi đến xem. Năm 2003 lễ hội đặc sắc này đã được Tổng cục Du lịch công nhận là sản phẩm du lịch.
......Đua bò có thể thức không giống môn thể thao nào: từng đôi bò, đôi trước- đôi sau! Mỗi đôi còn phải lôi theo sau một giàn bừa đã được cưa ngắn răng lại. Người điều khiển đứng trên giàn bừa vung roi như khi đang bừa đất ruộng. Trường đua là một mảnh ruộng bất kỳ ở sau phum, sóc có chiều dài từ 150 - 200m, ngang nhỏ hơn phân nửa, giữa vẫn là ruộng, đường viền cặp theo ranh được nạo sâu vài tấc với bề ngang khoảng 3m, đường đua lấp xấp nước. Đến lượt đua, mỗi đôi bò đi rảo một vòng quanh trường đua để “khoe tướng” và “khởi động”- gọi là vòng hô. Hết vòng hô, ngang vạch xuất phát, thấy người phất cờ là vào vòng thả ăn thua. Hai đôi một lượt bám sát nhau. Quá trình đua, đôi sau đạp lên bừa đôi trước là thắng và ngược lại.
......Mỗi giải đua ấn định 38 đôi bò được lựa chọn sau các lần đua ở vòng loại tại các xã. Nhiều con tham gia giải nhiều năm, chúng đều to khoẻ, dáng đẹp: đầu to, lưng thẳng, xương chắc, đuôi dài, tai ngắn và nhỏ, cổ tròn và cặp mắt hiền lành. Đối với những người có kinh nghiệm chọn bò lâu năm thì đôi bò tốt còn là tài sản theo đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng, vì đôi bò thắng trận sẽ có gần 20 triệu đồng. Tuy nhiên chủ bò không bao giờ bán đôi bò của mình nếu giành giải nhất, vì đó là niềm vinh dự của gia đình và cộng đồng.
......Vào cuộc đua, đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, gọng bừa là bàn đạp bao gồm một tấm gỗ rộng 30cm, dài 90cm, bên dưới là răng bừa. Lúc này các tài xế được phân thành cặp và làm thủ tục chọn cặp đua trước, đua sau.
......Không giống như đua xe, tất cả xuất phát cùng một lúc. Đua bò lại thi hai đôi một: đôi trước, đôi sau. Mỗi cặp bò đều phải kéo theo một giàn bừa đã được cưa ngắn bớt răng. Người điều khiển đứng trên giàn bừa vung roi như khi đang bừa trên ruộng, do vậy họ phải đứng để không bị ngã, nếu ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa thì phạm luật và thua cuộc. Ngày nay thể thức đua bò đã được cải tiến hơn xưa rất nhiều: cuộc đua diễn ra trên mặt ruộng có nước chứ không phải trên mặt đường như trước đây, vì vậy tính mạng của người điều khiển bò an toàn hơn. Tuy có một số thay đổi nhưng lệ vẫn giữ nhiều quy ước cũ.
......Cuộc đua chia làm hai vòng: vòng hu và vòng thả, hết vòng hu đến vòng thả. Có thể hiểu vòng hu là vòng loại của cuộc đua, còn vòng thả mới phản ánh đầy đủ sức mạnh của cặp bò cùng tay nghề, bản lĩnh của người điều khiển.
......Vào vòng hu, mỗi đôi bò phải đi dạo hai vòng quanh trường đua để trình diễn và khởi động. Nếu đôi bò nào đạp vào bừa của đôi bò khác là bị loại. Ngược lại, lệ quy định ở vòng thả khác với vòng hu, nếu đôi bò nào ở phía sau đạp vào bừa của đôi bò trước thì lại thắng cuộc.
......Đua bò ở An Giang đã có từ hàng trăm năm nay. Sự kiện này là dịp những người đàn ông trong phum sóc trổ tài dũng cảm, sự khôn khéo của mình trước cộng đồng. Hàng ngày những tài xế, chủ bò là những nhà nông chân lấm tay bùn, nhưng lúc này họ được tôn vinh là nhân vật chính của ngày hội.
......Theo quan niệm của đồng bào vùng Bảy Núi, đua bò có một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Đua bò giành được giải cao trong năm không những mang lại cho chủ nhân của đôi bò niềm kiêu hãnh mà con mang đến cho cả phum sóc một niềm vui, một nghị lực để giành nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực khác, như bò của phum khỏe mạnh có sức dẻo dai, cày bừa tốt, giúp cho người dân thực hiện gieo trồng được dễ dàng, đem lại một mùa bội thu, dân làng no ấm.
......Từ nhiều năm nay, lễ hội đua bò Bảy Núi đã lôi cuốn đông các đội đua bò của các huyện trong tỉnh An Giang và cả một số đội bò ở các địa phương Cam-pu-chia giáp An Giang tham dự cùng nhiều du khách trong nước và ngoài nước.
......Lễ Sen Đolta bằng việc thông qua nghi lễ tôn giáo để khẳng định tính nhân bản, thuần hậu trong khát vọng, tâm linh của đồng bào Khmer. Ngày nay, lễ Sen Đolta còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về lòng hiếu thảo, thiện nghĩa với ông bà, cha mẹ, với cộng đồng xã hội và xa tránh điều ác làm tổn hại đến sự đoàn kết gắn bó giữa gia đình, dòng tộc, làng xóm và giữa các dân tộc anh em đang cùng chung sống.
......Lễ hội như một nét độc đáo mà người Khmer Nam bộ góp chung vào sự đa dạng, đặc sắc của nền văn hóa Việt. Một lần đến với lễ hội Khmer Nam bộ du khách sẽ được hiểu thêm về con người ở một vùng đất, cũng như dấu ấn đặc sắc mà nền văn minh lúa nước tác động đến vùng đất này như thế nào.

12.              Lễ Hội Chùa Bà

Thờ: Chùa (Miếu) người Hoa
Bà Thiên Hậu
Thời gian: Ngày 15 tháng giêng và 15 tháng 10
Chính hội: Ngày 23 tháng 3
Địa điểm: Miếu Thiên Hậu, 710 Nguyễn Trải, Quận 5
Đặc điểm: Lễ vật nhiều (heo quay)
Tiền “Phước Sương” dùng vào việc công ích xã hội
Chùa bà Thiên Hậu còn được gọi là chùa Bà (Chợ Lớn) của người Hoa tọa lạc tại số 710 Nguyễn Trải, Quận 5, TP.HCM. Bà con người Hoa còn gọi là “Phò Miếu”, tên chữ Hán là Thiên Hậu Miếu. Chùa do nhóm người Hoa Quảng Đông xây dựng vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ XVIII, lúc đầu chỉ là một ngôi miếu và đã trải qua 4 lần trùng tu (theo thứ tự thời gian: 1800, 1842, 1890 và 1916) mới có được quy mô bề thế như hiện tại. Chùa Bà Thiên Hậu là một trong các ngôi chùa lớn và đẹp nhất của hơn 30 ngôi chùa Hoa ở TP.HCM. Chùa thờ Nữ thần Thiên Hậu. Dựa theo truyền thuyết được ghi trên tấm bia đá đặt ở chùa, bà sinh vào thời Tống, niên hiệu Kiến Long thứ nhất (960), là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi mới lọt lòng mẹ, bà đã tỏa ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển và du ngoạn nhiều nơi. Đến niên hiệu Ung Hy năm thứ 4 (987), bà từ giã cỏi trần, mới 27 tuổi và trở thành hiển linh. Đời Nguyên bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại mãi cho đến nay.
Từ truyền thuyết dân gian đã chuyển hóa thành tính ngưỡng và được những thế hệ sau hương khói phụng thờ ở nhiều nơi. So những điều ghi ở bia đá nói trên với một số truyền thuyết về bà ở các chùa khác thì có ít nhiều khác biệt, nhưng tựu trung đều ca ngợi, suy tôn bà là một người phụ nữ đức hạnh, có lòng hiếu thảo, xả thân cứu đời, được các triều đại phong kiến Trung Quốc phong tặng. Đề cao bà Thiên Hậu, ngưỡng mộ và phụng thờ bà như một vị hiển thánh, bà con người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà mà giáo dục cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhân hậu của bà, sống có đạo nghĩa.
Mặt khác, trên con đường vượt sóng gió biển khơi, đi về hướng Nam tìm đất lập nghiệp đầy gian truân, họ luôn cầu nguyện bà giúp đỡ, phù hộ. Và sau khi đã định cư, ổn định đời sống, sum họp đông vui, làm ăn phát đạt trên đất Việt Nam, quê hương thứ 2 của họ, họ cùng nhau lập đền thờ để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Bà.
Trải qua nhiều năm tháng, chùa Bà Thiên Hậu đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tâm linh không chỉ của người Hoa Quảng Đông, mà cả người Triều Châu, Phúc Kiến, người Hẹ. Nhiều người Việt cũng thường đến cúng bái ở chùa, tham gia các hội lễ, ngày Tết hằng năm với lòng thành kính. Điều đó nói lên sự gần gũi về mặt tính ngưỡng, đồng thời cũng phản ánh tinh thần đoàn kết cộng đồng Hoa và Việt được hình thành trong quá trình khai phá vùng đất mới.
Xây dựng tương đối sớm so với nhiều chùa Hoa khác trong thành phố, trải qua nhiều lần trùng tu chùa bà Thiên Hậu vẫn giữ được phong cách của một chùa Hoa, từ cách bố trí mặt bằng, đường nét kiến trúc (cửa vòm, mái ngói, nóc chùa) cho đến các tổ hợp điện thờ , hành lang, sân thiên tĩnh... cùng nghệ thuật trang trí bên trong.
Chùa Bà Thiên Hậu được xây dựng theo hình chữ Quốc hay còn gọib là hình “cái ấn” - một kiểu kiến trúc đặc biệt mang tính Trung Hoa - trên một diện tích khá rộng.
Ơ tiền điện, bên trong hai cánh cửa có hai bia đá đặt sát tường, ghi lại truyền thuyết về bà bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Bên phải có bệ thờ tượng Phúc Đức chánh thần (tức Ông Bổn) bên trái thờ môn quan Vương Tả (thần giữ cửa). Trên cửa, một bức tranh cao gần sát nóc miêu tả bà đang bay lướt trên sóng nước giữa trùng khơi.
Ơ nơi trung điện không có trang thờ mà chỉ đặt một bộ lư “Phát lan” (mang niên hiệu Quang Tự năm thứ 12) trên một bàn đá. Một bên bộ lư là chiếc kiệu lớn sơn son thiếp vàng, và một bên là chiếc thuyền rồng Thuận Phong (biểu tượng của sự may mắn , an lành trên biển) cũng sơn son thiếp vàng, có chạm hình nhân. Xưa kia kiệu và thuyền được khiêng đi trong đám rước, nay tục này đã bỏ.
Sân thiên tĩnh (giếng trời) đã được các nhà kiến trúc tính toán bố trí khá chặt chẽ, hài hòa, vừa có đủ diện tích thoáng, rộng để thông gió vừa đón nhận được ánh sáng tự nhiên đầy đủ, tạo cho bên trong chính diện một không khí trang nghiêm, thanh nhã của một kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng.
Chùa được xây dựng để thờ bà Thiên Hậu, nên tượng bà được đặt ở nơi trang nghiêm nhất của chính điện. Bên trong trang thờ, 3 tượng bà đặt theo thứ tự từ lớn đến nhỏ thành một hàng thẳng, hai bên có 4 quân hầu. Phía bên trên điện thờ có khắc dòng chữ Hán (Thiên Hậu Cung). Trước điện là một dãy bàn đá nơi để kễ vật dâng cúng. Bên phải chính điện là trang thờ bà Kim Huê, bên trái thờ bà Long Mẫu Nương Nương. Đặc biệt trong tủ kính còn lưu giữ một “tướng lệnh” do Ariès ký năm 1860 (chữ viết bị mờ trên giấy ố vàng) cấm binh sĩ Pháp và Y Pha Nho không dược phá phách chùa. Chùa còn thờ một số nhân vật khác như Quan Đế, Địa Tạng và Thần Tài ở gian phụ nằm hai bên chính điện.
Ngoài những vật liệu xây dựng mang từ vùng Nam Trung Quôc sang, ở Chùa Bà Thiên Hậu còn có nhiều tượng gốm nung với nghệ thuật thể hiện sắc sảo rút từ những đề tài lịch sử trong các tiểu thuyết cổ Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc... Các nhóm tượng đất nung này được bố trí một cách hài hòa với các hình tượng thuộc đề tài cổ điển khác như “tứ linh” (long, lân, quy phụng) “lưỡng long tranh châu”, “bái tổ vinh quy”... Các mẫu vật trang trí bằng gốm màu này được bố trí dọc trên các đường diềm mái ngói, trên nóc chùa rêu phong tạo nên vẻ đạp đa dạng pha màu huyền thoại, làm tăng thêm tính chất mỹ thuật cũng như nội dung tính ngưởng của công trình.
Bên trong chùa, có thể nói là một sự phối hợp của nhiều bộ môn điêu khắc, trang trí hội họa khá đa dạng và phong phú phục vụ cho mục đích tôn giáo tín ngưỡng của người Hoa. Bên cạnh những tượng tròn được tạc bằng những nét tả thực chân phương, các phù điêu chiếm một vị trí quan trọng trong việc trang trí, từ các bao lơn, hòanh phi, câu đối cho đến bậu cửa, vòm mái, những bức chạm lộng và chạm nổi về đề tài chim muông, hoa trái xen lãnh với những đề tài huyền thoại, vừa tạo nên không khí cổ kính trang nghiêm, vừa hiện thực, thể hiện hoài bão, ước vọng một cuộc sống thái bình, thịnh vượng nơi mãnh đất mà những người Hoa di cư đã chọn làm quê hương thứ hai của họ.
Cũng như ở nhiều chùa Hoa khác, hằng ngày vẫn có người đi lễ chùa Bà, nhưng tập trung đông nhất ở đây là các ngày sóc (mồng một) và ngày vọng (ngày rằm), đặc biệt là ngày rằm tháng giêng, rằm tháng 10 và buổi cúng tất niên chiều 29 tháng chạp.
Lễ vía bà Thiên Hậu (23 tháng 3) được xem là lễ hội lớn nhất hằng năm của chùa Bà, trong đó số nữ bao giờ đi lễ cũng đông hơn nam giới nhiều lần. Lễ hội không chỉ thu hút người Việt và người Hoa ở trong quận và thành phố, mà còn có đong đảo người ở các tỉnh khác về dự.

Trước đây, lễ vía bà thường kéo dài cả tuần, việc cúng tiến, lễ vật mang đến cũng rất linh đình (riêng heo quay có năm đến 200 con). Có cả lễ rước tượng à đặt trong kiệu sơn son thếp vàng cùng thuyền Thuận Phong và các nghi trượng ghi tên các vị thần có thờ ở chùa. Ngày nay, đám rước trên đường phố đã được giảm đi, chỉ còn tổ chức ở khuôn viên nhà chùa.
Để chuẩn bị cho ngày lễ vía bà, từ những ngày trước đó, ban quản trị nhà chùa đã tổ chức trang hoàng, sửa sang lại bên trong nội thất và chang đèn kết hoa ở bên ngoài. Ngay từ chiều ngày 22 tháng 3, ban quý tế tổ chức lễ cúng và với thành phần tham dự gồm có ban quản trị, những thiện tín có nhiều đóng góp công sức, tiền của cho nhà chùa, các quan khách địa phương và nhiều thiện nam tín nữ khác. Lễ vật dâng cúng gồm có heo quay, ga, ngỗng (nói chung là thức cúng mặn) cùng các loại hoa quả, bánh trái. Xưa lễ vía Bà thường phải cúng đủ “tam sanh” –heo, gà, dê làm thịt, mổ ruột và để sống. Nay thì tục lệ như vậy dâng cúng đã giảm lược hơn.
Sau lời khấn khai mạc của vị chánh tế, người phụ nữ đọc bản văn viết sẵn bằng tiếng Quảng Đông ca tụng công đức của Bà, nay nhân ngày vía bà, mọi người xin tỏ lòng biết ơn chân thành và mong sao Bà phù hộ cho mọi người, mọi nhà sống yên vui, làm ăn phát đạt, đoàn kết tương thân tương ái với nhau...Sau bài văn tế, các thành viên trong ban quản trị tổ chức bốc thăm để lựa chọn người “cầm ấn” (một chiếc ấn bằng đồng khắc cổ tự) lên trước ngai thờ Bà, đóng lên tấm giấy đỏ mang dòng chữ Khai ấn đại kết và Hợp cảnh bình an viết bằng mực xạ, để dán lên hai bên các điện thời trong chùa.
Sau nghi lễ ba tuần rượu và ba tuần trà ở nơi chính điện thì ở phía trước, nơi sân thiên tĩnh bắt đầu đốt vàng mã và đốt pháo. Khi tràng pháo dài chấm dứt, mọi người làm lễ chào Bà lần cuối, một người trong ban quản trị đi thâu nhang tận tay của từng người dự lễ, để đem đi cắm rải rác chung quanh chùa.
Bước sang ngày 23 – ngày chánh vía Bà từ 4h sáng, trong chùa, trên các điện thời, đèn nến thắp sáng choang, nhang trầm hương ngào ngạt. Sau một hồi chuông dóng lên, cửa chùa từ từ mở rộng để đón các đoàn khách đến cúng Bà. Lễ vật dâng cúng thì tuỳ hoàn cảnh và lòng hảo tâm của từng người, riêng món nhang đèn, giấy vàng bạc, giấy tiền là những lễ vật không thể thiếu, vì người Hoa quan niệm đây là quà biết dâng lên các vị thần. Ngoài phần lễ bái ở nơi chính điện thờ Bà Thiên Hậu, khách còn tuỳ theo nhu cầu và ước vọng riêng của từng người, từ việc gia đạo, đến tình duyên, con cái, từ việc cầu sức khoẻ đến chuyện buôn bán làm ăn... mà mang lễ vật tiếp tục đến cúng bái ở các điện thờ nhân vật khác.
Sau khi cúng lễ xong, thân chủ thường để lại cho nhà chùa một phần còn một phần thì mang về nhà, gọi là để “hưởng lộc thánh”. Trong khi cúng lễ, khách có thể mua ngay tại chỗ những “vòng nhang cầu an” có đường kính trung bình từ 50 đến 60cm, có loại đường kính đến 1 mét. Nhà chùa ghi tên người đó trên một miếng giấy đỏ đính kèm vòng nhang rồi treo lên trần đốt. Mỗi “vòng nhang cầu an” như thế cứ cháy suốt đêm trong vòng một tháng trời. Đây là một nét đặc trưng ở chùa Hoa, đặc biệt ở chùa Bà Thiên Hậu và chùa Ông (Nghĩa An hội quán).
Người đi lễ sau khi cúng bái thường được nhận của nhà chùa 3 tấm giấy (khổ 12 x 25cm) trên có in dòng chữ Hán và đóng triện son: “Thánh Mẫu toạ trấn, hợp gia bình an, bảo hộ an khang”. Theo cách gọi của người Hoa, đây là “rước vía Bà” đưa về nơi bàn thờ ở gia đình.
Đến chiều 24 tháng 3, lễ vía Bà kết thúc. Vào lúc đó, những đội lân cùng xuất hiện, trình diễn nơi sân chùa, rồi toả về một số ngả phố như để báo hiệu với mọi người một lễ hôi vía Bà diễn ra thuận lợi, tốt lành và hy vọng sẽ gặp nhau lại trong lễ hội năm sau.
Trước ngày giải phóng, lễ vía Bà Thiên Hậu, ngoài việc cúng bái linh đình, kéo dài cả tuần lễ, còn có các tục mê tín như xin xăm, bói toán, coi ngày, bay tiền thần... nay những tục lệ ấy đã giảm đi khá nhiều.
Chùa Bà Thiên Hậu là một ngôi chủa lớn của thành phố, là một di tích văn hoá có giá trị cao về mặt nghệ thuật và kiến trúc. Nếu như sự hình thành của các chùa Hoa nói chung, trong đó có chùa Bà Thiên Hậu, gắn liền với lịch sử định cư của khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn, thì trên bình diện tôn giáo, tín ngưỡng, việc thờ cúng, sinh hoạt lễ hội hàng năm ở đây là một biểu hiện rõ nét quá trình hội nhập của người Hoa vào cộng đồng tổ quốc Việt Nam từ vô thức đến ý thức. Đã từ khá sớm, chùa Hoa ở thành phố không chỉ là riêng của người Hoa mà không ít chùa có sự đóng góp xây dựng của bà con người Việt, và bà con người Việt cũng chân thành chia sẻ những tín ngưỡng của bà con người Hoa. Không ít thợ thủ công, nghệ nhân người Việt đã đóng góp vào nghệ thuật xây dựng, trang trí làm tăng thêm vẻ đẹp của các chùa Hoa.
Bên cạnh những nhu cầu về tinh thần và đời sống tâm linh được phản ảnh rõ nét trong lễ hội, ý thức hoà nhập cộng đồng và đoàn kết giữa bà con người Hoa và bà con người Việt còn được thể hiện rõ hơn ở những mặt hoạt động xã hội, từ thiện mà nhà chùa ở đây đang đóng góp vai trò trung tâm. Như ta biết, số tiền “phục sương” của chùa Bà Thiên Hậu hàng năm rất lớn, do bá tánh tự nguyên đóng góp. Phần lớn số tiền này đã được sử dụng các việc công ích như: xây dựng trường học, bảo trợ học sinh nghèo học giỏi hay những em thiếu điều kiện đến trường, đỡ đầu cung cấp thuốc men, phương tiện cho một số bệnh viện, bênh xá, cung cấp thêm tiền ăn cho các cụ già ở trại dưỡng lão, cho bệnh nhân các trại phong...

13.              Lễ Hội Chôl Chhnăm Thmây

Dân tộc : Khmer Nam Bộ
Thờ : Phật (Tiểu thừa)
Thời gian : Khoảng đầu tháng Chín theo Phật lịch của người Khmer
Địa điểm : tại chùa (là chính)
Đặc điểm : - Lễ mừng năm mới
- Tắm tượng phật bằng nước thơm
- Tắm các vị sư cao niên (Rửa sạch cái cũ, đón mừng cái mới tinh khiết)
- Đắp núi cát
Đạo Phật Tiểu thừa là tôn giáo chính của người Khmer Nam Bộ, đã thâm nhập khá sâu vào trong sinh hoạt đời sống của quần chúng, nên những lễ hội của họ, dù bắt nguồn từ đâu, vẫn mang màu sắc tôn giáo và không thoát khỏi cổng chùa. Trong quá trình phát triển lịch sử , các lễ hội còn chịu sự pha tạp của những yếu tố tôn giáo khác nhau như đạo Bà-la-môn, song ở đây cũng tồn tại khá rõ nguồn gốc lễ nghi nông nghiệp của cư dân trồng lúa nước. Điều đó cũng dễn nhận biết qua các lễ hội tiêu biểu dù đó là lễ Chôl Chhnăm Thmây, lễ Đônta (lễ cúng ông bà), hay lễ Ok om bôk (lễ cúng trăng).
Các ngày lễ của người khmer theo tập quán lâu đời, được tổ chức theo phật lịch, dù hiện nay, hàng ngày trong đời sống họ vẫn sử dụng dương lịch. Lễ Chôl Chhnăm Thmây có nghĩa là “vào năm mới” (phật lịch) tức là lễ tết lớn nhất hàng năm của người khmer, còn gọi là lễ chịu tuổi, thường diễn ra vào tháng tư dương lịch (tức đầu tháng Chét của người khmer). Đây là thời điểm giao mùa nắng và mùa mưa, trong đó khi lễ Ok om bôk (lễ cúng trăng) lại diễn ra vào giữa thời điểm giữa mùa mưa nắng (tống tiễn mùa ẩm ướt để đón ánh nắng mặt trời). Lễ thường kéo dài trong 3 ngày, ngoài ý nghĩa đón mừng năm mới, lễ Chôl Chhnăm Thmây còn có nghĩa chấm dứt thời kỳ nắng hạn, bước sang thời kỳ có nước trời dồi dào để chuẩn bị cho vụ mùa tới.
Theo lệ thường hàng năm, gần đến lễ Chôl Chhnăm Thmây bà con khmer lo chuẩn bị rất chu đáo, mà trước hết tập trung ở việc ăn, mặc, ở. Các cháu nhỏ được ông bà cha mẹ ưu tiên sắm những bộ đồ quần áo mới để đi chùa và đi chơi tết với bạn bè.
Để chuẩn bị cho việc ăn uống, đãi khách, dâng cho nhà chùa, gia đình nào cũng lo chà gạo để sẵn, làm bánh, chuẩn bị thịt heo, gà, vịt... nước sinh hoạt cũng được đổ đầy ghè, đầy chum. Mọi người sửa sang bàn thời Phật, trang hoàng nhà cửa, quét dọn sân nhà, giẫy cỏ đường đi, kết cổng chào... Mọi công việc ruộng rẫy lúc này cũng dừng lại. Ngay người giúp việc gia đình trong những ngày này cũng được nghỉ ngơi để về thăm viếng cha mẹ, gia đình, bạn bè. Trâu, bò trong ba ngày này cũng được chuẩn bị rơm rạ có đầy đủ, để ở trong chuồng hoặc tha tự do ở nơi có điều kiện.
Trong đêm giao thừa, trên bàn có bày sẵn 5 nhánh hoa, 5 cây đèn cầy, 5 cây nhang, 5 hạt cốm và nhiều loại trái cây. Cha mẹ, ông bà tụ tập con cháu lại, ngồi xếp chân trước bàn thời tổ tiên, đốt nhang đèn, với 3 vái tiễn đưa Têvêđa cũ và rước ông Têvêđa mới, mong được ban phúc lành. Họ tin rằng Têvêđa là ông tiên được trời sai xuống chăm sóc dân chúng trong thời gian một năm, hết nhiệm kỳ sẽ có vị khác xuống thay thế.
Sáng ngày thứ nhất (Săngk-ran) lễ rước “Maha Săngkran mới”. Lễ này có thể tổ chức sớm hay muộn trong ngày miễn là chọn đúng giờ tốt theo quan niệm của người Khmer. Mọi người được tắm gội, mặc quần áo đẹp, mang nhang đèn lễ vật đến chùa. Dưới sự điều hành của ông Acha, mọi người xếp hàng đi vòng quanh chính điện 3 lần để làm lễ chào mừng năm mới...
Ngày thứ hai (Wonbót), mỗi gia đình làm lễ dâng cơm buổi sớm và buổi trưa cho các vị sư sãi. Theo đạo phật Tiểu thừa, thì trong các ngày lễ tín đồ đi chùa lễ Phật có bổn phận mang theo cơm và thức ăn dâng các sư sãi. Trước khi ăn, sư sãi tụng kinh tạ ơn người làm vật thực.
Buổi chiều, người ta làm lễ “đắp núi cát” (Puôn phnôm khsach) ngay tại khuôn viên chùa để mong gặp được nhiều điều tốt lành theo sự hướng dẫn của vị Acha. Tập tục này cũng bắt nguồn từ một sự tích của một thợ săn bắn gắn với ma thuật cầu mưa của người xưa.
Ngày thứ ba (Lơnsắk), sau khi đã dâng cơm sang cho các vị sư ở chùa, người ta làm lễ tắm tượng Phật bằng nước ướp hương thơm, rồi sau đó tắm cho các vị sư cao niên ở chùa, nhằm rửa hết cái cũ, những bụi bặm của trần thế trong năm cũ, để bước sang năm mới với một thân thể sạch sẽ, hoàn toàn mới.
Tiếp theo đó là lễ cầu siêu (Băng skôl). Các vị sư được mời đến tháp lưu giữ hài cốt của những người quá cố để cầu kinh cho linh hồn của họ được siêu thoát. Đến trưa mọi người về nhà làm lễ tắm tượng Phật thờ trong gia đình, rồi chúc mừng mẹ cha, ông bà, dâng bánh trái để tạ ơn. Cũng có khi họ tổ chức lễ tắm ông bà, cha mẹ, gọi là để báo hiếu.
Trong ba ngày hội Chool, bà con Khmerr còn đi thăm hỏi, mừng tuổi năm mới cho nhau, chúc nhau sức khoẻ, cuộc sống yên vui, phát đạt. Tối đến, người ta đốt pháo thăng thiên, đốt ông lói, thả diều, đánh quay lửa. Các cụ già kể chuyện thần thoại, cổ tích cho con cháu. Gái trai tham gia các cuộc hát đối đáp aday, hát dùkê, múa romvông, romxaravan, mua trống xàdăm ...

14.              LễOk Om Bôk Và Hội Đua Ghe Ngo

Dân tộc : khmer Nam Bộ
Thờ: Thần mặt trăng
Thời gian : rằm tháng 12 (Phậtlịch khmer)
Địa điểm : lễcửhành tại các chùa và gia đình
Đặc điểm : -Thảđèn trên nước
- Đua ghe ngô tại Sóc Trăng (các tỉnh về dự)
I. LỄOK OM BÔK :
LễOk Om Bôk ,tiếng Khmer có tên khác là lễCúng Trăng (vì tổchức vào đúng đêm hôm trăng rằmvà bắt đầu từkhi trăng lên) của người Khmer Nam Bộsống ởcác tỉnh đồng bằngsông Cửu Long: Cần Thơ, Sóc Trăng, Minh Hải cũ, Kiên Giang.
Xuất phát từ một tín ngưỡng dân gian cho rằngmặt trăng là thần bảo vệmùa màng, người Khmerhằng năm cứđến ngày rằm tháng 12 theo Phật lịch, tương ứng tháng 10 âm lịch, tổ chức lễOk Om Bôk đểtỏlòng biết ơn vịthần đã làm cho mùa màng tốt tươi, manglại lương thực dồi dào cho con người. Đặc điểm của nghi lễnày là sựcó mặt củanhững em nhỏ, được người ta lấy những hạt cốm dẹt đút vào miệng để“lấykhước”.
Vào lúc này, thời tiết bắt đầu khô ráo, gió chướng thổi nhẹ, lúangoài đồng bắt đầu chín lốm đốm. Đặc biệt đối với tuổi trẻ, vào những ngày này trai gái thường rủnhau đi chơi, ngắm trăng, tâm sựvà tỏtình.
Đểchuẩnbịcho đêm lễcúng Trăng người ta đào lỗtrước sân nhà, hay sân chùa (nơi dự định cúng lễ) đểchôn hai cây trụtre, cây tầm vông, bên trên có một cây xàngang dài độ3 mét, giống nhưmột cổng chào có trang trí hoa lá. Dưới cổng có kêmột chiếc bàn phủvải đẹp, bên trên đểmột lọhoa, nhang, đèn và các thứcúnggồm có trái cây nhưchuối, bưởi, cam, thơm cùng các loại củcó chất bột như khoai lang, khoai mì, khoai môn và bánh kẹo, đặcbiệt là món cốm dẹt được chế biến từnhững bông nếp vừa chín đầu mùa lấy từngoài đồng về. Mọi người từgiàđến trẻđều mặc đẹp, dọn dẹp trang hoàng nhà cửa đểđón trăng.
Buổi tối,khi ông trăng rằm to nhưchiếc đĩa màu vàng đỏvà vừa nhô lên khỏi ngọn cây thì dân chúng đã tềtựu đông đủtại nơi khuôn viên chùa, hay ởnơi sân nhà, hoặcnhiều nhà cùng tập hợp nhau lại tại một địa điểm rộng rãi, thuận lợi nhất để chuẩn bịlễcúng. Bà con đến dựlễđược mời ngồi trên những chiếc chiếu hay támđệm trải sẵn trên đất, hai tay cung kính chắp lại đểra trước mặt hướng vềphíamặt trăng đang lên. Một cụgià làm chủlễđứng ra đọc lời khấn, nói lên lòngbiết ơn của con người đối với thần, xin thần tiếp nhận những lễvật và cầu mongtrong những ngày tháng tới, thần Trăng sẽđem lại cho mọi nhà, mọi người nhữngniềm vui mới: sức khoẻ, thời tiết tốt đẹp, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu,cuộc sống thái bình, no ấm.
Lễxong, khi tuần hương vừa cháy hết, người giàgọi các em bé lại ngồi xếp bằng thành hàng, hai tay chắp lại, rồi từtừbốcnhững nhúm cốm đét vào mồm từng em một, tay kia đấm nhè nhẹsau lưng, vàhỏi:
Các cháu ngoan của ông (hoặc bà) năm nay muốn gì?
Câu trảlờicủa các cháu rất đa dạng. Có cháu mong ước có nhiều vàng bạc, châu báu, trâu bò.Có cháu mong sau này có vợđẹp, giàu sang. Có cháu muốn được ăn no, được họchành...
Năm nào, những câu trảlời của đám trẻsuôn sẻ, lễđộ, rành rọtthì người lớn coi nhưđó là những tín hiệu của điềm lành đối với dân trong sóc,trong xã vào những ngày sắp đến. Kếđó, mọi người hạmâm cúng cùng nhau hưởng lễ vật, vừa ăn vừa kểchuyện sản xuất, chuyện làng xóm thay đổi... Trẻem, thanhniên thì vui chơi, múa hát. Nếu có khách từxa đến dự, chủnhà gói một ít cốmdẹt đểlàm quà.
Ởnhững nơi thịtứ, thịtrấn vào đêm lễnày, người ta đỗ ra đường đông nghẹt đểvui lễcúng Trăng. Tham gia lễnày, không chỉcó ngườiKhmer mà còn có đông đảo người Hoa, người Việt cùng vui chung. Chỗnày tổchứcđấu võ, kéo co, chỗkia biểu diễn văn nghệnhưhát Dùkê, hát tập thểRomvông,Romxaravan, Lawmteo, Aday... Những đêm văn nghệ, vui chơi diễn ra trong tiếngnhạc, tiếng trống rộn ràng, dồn dập, có khi kéo dài suốt đêm, cuốn hút hàng ngànngười tham gia.
Trong khi đó, ởcác ngôi chùa Khmer, người ta tổchức thả đèn nước trên sông, rạch hoặc ao hồvà thảđèn giấy bay theo gió. Đèn nước đượckết bằng thân bẹchuối trắng theo mô hình ngôi đền nhỏ, có trang trí hoa cờ,phướng, bên trong bày một ít lễvật trái cây, bánh kẹo, muối...Mởđầu, một vịsư thắp đèn cầy và nhang, rồi hướng dẫn mọi người đọc kinh tưởng nhớđến đức Phật.Sau đó, người ta rước đèn ra bến nước hoặc ao hồgần đó, có đoàn múa trống xàdăm đi theo biểu diễn. Đến địa điểm đã định, những chiếc bè chuối có nhang đèncháy sáng được đưa xuống nước và đẩy ra xa. Những chiếc đèn từtừtrôi theo dòngnước, trong khi tiếng hoan hô, cười nói của đám dông đứng trên bờvẫn rộn lênkhông dứt.
Theo quan niệm của người Khmer, tục thảđèn nước nhằm xua tanbóng tối, sựô uếvà buồn bã, giống nhưlễtống ôn, tống dịch của người Việt, để chỉcòn lại sựbình yên, niềm vui và tình đoàn kết xóm làng.
Là một dạnglễhội nông nghiệp, lễCúng Trăng với những hy vọng điều lành, may mắn và hạnhphúc phản ánh được đặc tính, tâm lý chất phác và hồn nhiên của người nông dânKhmer cùng những ước mơbình dị: mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, mọi ngườiấm no, hạnhphúc.

15.              Hội Đua Ghe Ngo

Theo phong tục của người Khmer, tiếp theo đêm lễ Cúng Trăng, sáng hôm sau là hội đua ghe ngo. Đây là hội tưng bừng, náo nhiệt nhất, được chuẩn bị khá công phu, một sinh hoạt văn hoá, thể thao có sức thu hút hàng chục vạn người tham gia, không những chỉ có đồng bào Khmer, mà có đông đảo người Việt, người Hoa cùng hưởng ứng một cách cuồng nhiệt. Ghe Ngo, tiếng Khmer là “Tuk Ngo”, một loại thuyền độc mộc khoét từ thân cây gỗ tốt, ra đời từ nhiều thế kỷ trước đây. Đây là một loại ghe đua đặc trưng của người Khmer Nam Bộ. Tương truyền, ghe Ngo tượng trưng cho sức mạnh và sự hung dữ. Ghe Ngo đã từng là phương tiện trong các cuộc thuỷ chiến, nên đua ghe Ngo được coi như môn thể thao quân sự.
Khác với ghe đua của người Việt thường có bề dài ngắn hơn, bề ngang rộng hơn và có sức chở trung bình từ 15 đến 20 tay đua, được ghép từ nhiều miếng ván, ghe Ngo được thiết kế đặc biệt dài từ 25 đến 30 mét, mình thon như con rắn lướt sóng tốt nhờ lực cản nhỏ, mũi và lái đều cong vát lên, mũi có thấp hơn lái một ít. Mũi ghe thường chạm đầu xiết (một loại rắn nước), hay đầu chim phượng. Từ be xuống đến nước được trang trí bằng những hình sơn trắng, xanh, đỏ, vàng. Phần lườn ghe thường sơn đen. Do chiều dài của ghe quá lớn, có đủ chỗ ngồi cho 45 đến 50 tay bơi, để đảm bảo an toàn, tránh được hiện tượng vỡ, gãy hay “xoắn võ đỗ” trong khi tăng tốc ở nước rút hoặc ngoặt gấp, người ta đã cố định thêm một cây gỗ chắc làm đà chịu lực dọc theo thân ghe chạy suốt từ mũi đến lái.
Với kiểu ghe được thiết kế như vậy, cho nên khi bơi đua đòi hỏi người điều khiển phải có một nghệ thuật điêu luyện, giàu kinh nghiệm. Nếu không quen, động tác bơi không nhịp nhàng, ghe rất dễ bị lật úp. Thường trước khi đưa ghe xuống dưới nước, người ta tổ chức tập bơi trên cạn để cho thuần thục một số động tác. Người Khmer coi ghe Ngo đua không giống như các ghe thông thường mà là một vật thiêng. Vì vậy, trước khi đi dự thi, họ thường làm lễ tạ thần, thắp hương cúng vái, sau đó chọn người điều khiển, người lái, quân dầm bơi, và tổ chức chiêu đãi những người tham gia cuộc thi. Đội quân bơi đều gồm những trai tráng khoẻ mạnh, có kinh nghiệm, biết phối hợp động tác chặt chẽ, mặc trang phục đẹp, đội mũ đồng phù. Người ngồi đầu chỉ huy được chọn từ những người có uy tín và thông thạo đường nước.
Cuộc đua diễn ra nghiêm trang và đầy hào hứng, có sức cuốn hút hàng chục vạn người xem. Trên chặng đường đua kéo dài tới mấy kilômét, hai bên bờ sông người xem đứng đông nghẹt – đúng là đông như hội – trẻ con leo lên cành cây để quan sát, người thì lội xuống nước để xem cho gần, cho rõ.
Khi pháo lệnh nổ, những chiếc ghe dài như những con rắn khổng lồ nổi lên trên mặt nước lao vút đi như tên bắn theo hướng chỉ đường của những cọc tiêu cắm trên dòng sông.

Theo nhịp thúc quân bằng tiếng cồng của người đứng ở giữa ghe, cả mấy chục chiếc giầm giơ lên, bổ xuống rập ràng như những cánh tay máy. Tiếng hò reo cổ vũ náo nhiệt, tiếng trống thôi thúc vang động cả một vùng, nhất là khi có một chiếc ghe về đến đích. Công chúng vẫy mũ, vẫy nón, hoan hô vang dậy, cuồng nhiệt.
Ngày xưa, cách đây hàng trăm năm, vào dịp lễ Ok Om Bôk, người Khmer tổ chức đua ghe ở Vàm Tho (Pomkentho) thuộc Mỹ Xuyên, vì ở đó ghe Ngo từ vùng Bạc Liêu, Cà Mau lên, từ vùng Kiên Giang xuống đều thuận tiện. Đoạn sông dành cho cuộc đua khá thẳng, dòng nước chảy chậm và đều, trên bờ có chợ búa, có nhà cửa đông vui. Những người đi xem đua thường đi bằng thuyền cà châu và thuyền cà chai đậu dọc hai bên bờ sông. Họ đem theo cả lương thực, nồi niêu để nấu nướng và ăn ngủ tại chỗ.
Hằng năm, các tỉnh đồng bằng Nam Bộ có đông người Khmer, vào dịp lễ Ok Om Bôk đều có tổ chức đua ghe Ngo như một sinh hoạt văn hoá thể thao truyền thống.
Từ sau ngày giải phóng, nhiều cuộc đua ghe Ngo cho cả khu vực đồng bằng sống Cửu Long được tổ chức đều đặn tại thị xã Sóc Trăng – nơi đây có điều kiện thuận lợi về đường đua trên sông tốt, cũng như chỗ ăn nghỉ của khách thập phương về dự hội- số người xem có năm lên tới 30 vạn.
Trong vài năm trở lại đây thành phố Hồ Chí Minh, vào dịp Quốc khánh hàng năm cũng đã tổ chức hội đua thuyền truyền thống trên sông Sài Gòn với hai loại ghe bầu và ghe Ngo. Hầu hết các hội đua ghe Ngo (còn gọi là thuyền rồng) là các đội nổi tiếng của những tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang về tham gia tranh giải.

16.              LễHội Tầm Vu

Thờ: Tiêu Diện Đại Sĩ
Địa điểm : Thịtrấn Tầm Vu, huyện Châu Thành
Thờigian : Ngày 15 tháng giêng
Đặc điểm :Xô giàn, cướp bánh trái.
ThịtrấnTầm Vu thuộc huyện Châu Thành, Long An, thời kháng Pháp lừng danh với bài ca TầmVu. Ngôi chợthịtrấn ngày nay sầm uất, có tuổi đời trên một thếkỷ, là mộttrong sốít ngôi chợthịtrấn có tuổi đời lâu nhất vẫn còn phát triển. Đối diệnchợlà ngôi đình làng Tầm Vu, nơi thờTiêu Diện Đại Sĩ, một vịthần trừma, đốcquỉ.
Tương truyền rằng: Ngày xưa, một hôm trờiđang quang đãng bỗng tốisẫm lại, rồi một con trốt (gió xoáy) cuốn sập ngôi nhà lồng chợ. Tin rằng có“người khuất mày khuất mặt quấy phá, dân quanh đó tổchức cúng vái. Từđó có lễ hội “làm chay” với lịch sửcũng đã trên một trăm năm.
Thông thường, lễ hội được tổchức ởsân đình, nhưng cũng không nhất thiết phải vậy. Người ta còntổchức bất cứởnơi nào thuận tiện, lắm khi chọn nơi giữa đồng cho thoải mái vàkhông dựng rạp, lập đàn long trọng nhưnhững lễhội khác, thậm chí đến bàn thờ cũng không có. Vỏn vẹn chỉcó một giàn cúng dã chiến làm bằng tre, nhưng cái độcđáo là thay cho những bức liễn, hoành phi, tượng thần thánh... là hoa trái trongvùng được tỉa tót, lắp ghép thành các con vật long, lân, quy, phụng. Cổng chàovà quanh giàn cúng cũng được trang trí bằng hoa trái rất sinh động. Người dựlễ cúng cũng mang hoa trái và bánh kẹp, hoàn toàn không có đồmặn linh đình, khôngchén, bát, đĩa. Đồcúng của ai cứtựnhiên xếp lên giàn, cúng xong ai ăn gì cứ lấy...
Ngày lễđầu đúng rằm tháng giêng, nghi thức trước tiên là rước ôngTiêu Diện Đại Sĩ. Cờphướng rợp trời, múa lân, nhạc lễtưng bừng. Ông Tiêu từ chùa được rước vềlễđài đểlàm “chủtoạ”. Tiếp theo là các lễnhưthỉnh kinh,thỉnh Phật, khai lễđặt tràng hoa, đốt trầm, khai kinh, tụng cầu an.
Ngày 16 tháng giêng, không khí tiếp tục náo nhiệt. Sau đêm vui chơi, sáng ra mọingười lại vào hội. Lễđầu tiên là cúng cô hồn ởmiếu âm hồn. Sau đó, thỉnh TiêuDiện Đại Sĩxuống giàn chuẩn bị“hồi cung”, thỉnh cô hồn, thỉnh cỗvới một độilân “liên quân”, hùng hậu, thỉnh kinh, đánh động, thỉnh thầy, phóng đăng xâm lễ,kiếm đàn, thỉnh thầy lại lên đàn cúng. Kết thúc các nghi lễlà xô giàn cúng chosập!
Suốt thời gian lễhội, không khí luôn tưng bừng náo nhiệt, các tròchơi dân gian nhưkéo co, thảvịt, leo cột mỡ, đạp nồi... được chen vào các nghilễlàm cho ngày hội không nhàm chán, nặng nề. Trai gái lũlượt chen chúc thamgia, trẻcon thì hò reo nô nức.
Khi lễhội kết thúc thì bằng nghi thức xôsập giàn, người ta ào đến, tranh nhau giành lấy bánh trái. Ai giành được lưỡiÔng Tiêu thì tin rằng năm đó mình sẽcó thêm sức mạnh và may mắn đểvượt qua mọikhó khăn. Chẳng biết lòng tin này bắt nguồn từđâu, nhưng thật thú vị.
Lễ hội Tầm Vu cho ta cảm giác vềhội mùa cây trái chứkhông phải lễhội văn hoá dângian bình thường. Phần lễngắn gọn, phần hội kéo dài cho người dựvui chơi, cườinói, thưgiãn... sau những ngày bận rộn mùa màng, sông biển. Chất tài tử, phóngkhoáng của hào khí Đồng Nai có cái gì đó rất khác biệt với chất hội hè của xứ Kinh Bắc.

17.              Hội Tứ Kiệt

Thờ :4 ông Đuốc, Long, Rông, Thận chống thực dân Pháp
Thời gian : Ngày 15 đến 16 tháng 8
Tại :Xã Thanh Hoá, huyện Cai Lậy
Đặc điểm :Nêu cao tinh thần bất khuất của tứ kiệt làm gương sáng soi chung.
Bốn người anh hùng được gọi là tứ kiệt này tên là Đuốc, Long Rông và Thận (không ai nhớ họ của các ông) đều quê xã Thanh Hoà, huyện Cai Lậy, tỉnh Đồng Tháp.
Truyền rằng, khi quân Pháp chiếm Nam Bộ (cuối thế kỷ XIX) bộc lộ rõ âm mưu cướp nước bằng những hành động tàn ác và biến dân ta thành nô lệ, thì 4 ông đã tìm tới nhau, đồng tâm nhất trí kêu gọi mọi người hợp lực đánh đuổi chúng đi.
Các ông dùng chiến thuật du kích quấy phá chúng. Không có cách nào bắt được các ông, chúng đã hèn hạ dùng mưu hiểm độc, bất ngờ bắt tất cả cha mẹ, vợ con các ông làm con tin và thông báo, nếu các ông không chịu ra hàng, chúng sẽ giết hết.
Vì lòng hiếu thảo và tình cảm với những người thân yêu, các ông buộc phải để chúng bắt. Kết cục thật bi thảm: quân giặc đã hành quyết và bêu đầu các ông ở chợ, rồi rêu rao ầm ĩ để uy hiếp tinh thần dân chúng.
Dân làng vô cùng thương tiếc và kính phục các ông, đã nhặt 4 thủ cấp rồi xây cho mỗi vị một ngôi mộ riêng bên nhau, hợp thành khu lăng gọi là lăng Tứ kiệt.
Hằng năm, vào 2 ngày 15, 16 tháng 8 âm lịch, dân địa phương tổ chức lễ viếng lăng rất trang nghiêm. Dân trong vùng kéo về dự lễ, dâng hương rất đông. Cuộc lễ tưởng niệm các anh hùng trở thành ngày hội.
Các cụ cho biết, các vị rất linh ứng, thường âm phù trong mọi việc trừ gian cùng phù trợ các việc nghĩa giúp dân.

18.              Lễ Hội Nghinh Ông Ở Vũng Tàu

Lễ Hội Nghinh Ông Ở Vũng Tàu
Nghinh Ông Vũng Tàu là một trong những lễ hội được Bộ văn hoá Thông tin và Tổng cục Du lịch chọn trong 15 lễ hội lớn của cả nước năm 2000.
Lễ hội Nghinh Ông và tục thờ cá Ông (cá voi) bắt nguồn từ dạng tín ngưỡng vật tổ cư dân vùng ven biển nước ta, phổ biến rộng rãi từ vùng biển Thanh Hoá đến tận Kiên Giang.
Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bà con cư dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông: Xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện Long Đất), Ðình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (TP.Vũng Tàu)... trong đó tiêu biểu nhất là Lễ hội Lăng Ông - đình Thắng Tam.

Theo truyền thuyết, tục thờ cá Ông được xuất phát từ tín ngưỡng của dân tộc Chăm: "Vị thần tên là Cha-aih-va, vì quá nôn nóng trở về xứ sở sau thời gian khổ luyện phép thuật, đã cãi lại thầy của mình và tự ý biến thành cá Voi.
Từ đó, mỗi khi có thuyền lâm nạn vị thần đều nâng đỡ và đưa người lâm nạn vào bờ". Truyền thuyết dân gian của dân tộc Kinh thì cho rằng: "Cá Voi do Phật Quan Âm Bồ Tát xé chiếc áo cà sa thành muôn mảnh thả trên mặt biển để cứu vớt chúng sinh đi biển bị lâm nạn".
Trong lịch sử triều Nguyễn có ghi lại: Khi Chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ngoài đảo Phú Quốc (Kiên Giang) bị bão lớn, thuyền sắp đắm, ông đã cầu nguyện và được cứu thoát nạn. Sau khi phục quốc lên ngôi, vua Gia Long (tức Chúa Nguyễn Ánh) phong cho cá Voi là "Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần"
Những người dân vùng ven biển tôn vinh cá Ông (cá Voi) thành một vị thần rất đỗi thiêng liêng, là chỗ dựa tinh thần mỗi khi gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm, con người bị hiểm nguy đe doạ.
Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Trong Lăng Ông còn lưu giữ nhiều bộ xương cá Ông, bộ xương sớm nhất được đưa vào năm 1868, khi cá Ông dạt tới bãi biển Thùy Vân, thành phố Vũng Tàu. Bộ xương này nặng khoảng 4 tấn và có chiều dài khoảng 30 mét. Hiện nay, Lăng Ông còn giữ được hai sắc thần được phong vào năm 1846 và 1850 dưới triều Tự Đức
Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức với sự tham dự của nhân dân trong vùng. Lễ hội bắt đầu từ sáng sớm với một đoàn người gồm các vị kỳ lão, kỳ hương... lên một chiếc ghe lớn (có trang trí hoa, cờ, bàn thờ và bài vị thuỷ tướng, có đoàn nhạc ngũ âm, chiêng, trống và đội múa lân rộn ràng) đi đến địa điểm đã định rồi dâng hương, rượu.
Sau đó, đoàn thuyền về bến rước Ông đến lăng, tiếp đến là các lễ cúng Tiền Hiền, Hậu Hiền, đọc văn tế, sắc phong, học trò dâng trà, hoa, rượu...
Đến với lễ hội, du khách còn được thưởng thức các tiết mục: Võ thuật, múa lân, hát Bội... cùng với nhịp điệu hoà âm của chiêng, trống trong khói hương nghi ngút.
Lễ hội Nghinh Ông là dịp cho ngư dân cầu mong bình yên khi đi biển, đánh bắt được nhiều tôm cá, cuộc sống được no ấm thịnh vượng, hạnh phúc trường tồn. Lễ hội Nghinh Ông còn là nơi cho mọi người tưởng nhớ đến việc báo nghĩa, đền ơn, uống nước nhớ nguồn
Tổ chức 3 ngày, từ ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch. Cũng như "Chúa Hòn" ở Kiên Giang, "Núi Sam" ở An Giang, tên gọi "Dinh Cô" ở Long Hải đã trở nên quen thuộc với khách thập phương.
Là ngôi miếu nhỏ thờ một trinh nữ chết nước, nằm trên mỏm đồi lộng gió ở bãi tắm Long Hải. Dinh Cô được dựng lên bằng lòng tin, sự tín ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân. Tương truyền, 186 năm trước, xác một người con gái khoảng 16 tuổi dạt vào bãi, tên cô là Lê Thị Hồng Thuỷ, quê ở Phan Rang, theo cha Lê Văn Khương dong ghe bầu xuôi ngược Trung - Nam để đánh bắt cá và trao đổi hàng đan lát bằng tre. Mỗi lần ghe bầu qua vùng biển Long Hải, Cô nhìn cảnh sơn thuỷ hữu tình, thường ao ước được ở lại đây chung sống. Một đêm bão tố, trời chiều lòng Cô, đưa Cô theo sóng biển dạt vào, nằm lại trên bãi cát trắng xoá, nơi mà Cô từng mong ước. Cát đùn lên che chở, sóng vỗ muôn nghìn lời ru cho Cô yên giấc. Dân làng xem Cô là nữ thần thiêng liêng nên lập mộ trên đồi, dựng miếu thờ bên cạnh. Đầu tiên chỉ là một nấm mộ đất, miếu tre lá. Miếu và mộ thay đổi dần theo sự linh ứng ngày càng lan rộng. Một lần (vào khoảng năm 1966), miếu phát hoả, được trùng tu thành ngôi đền khang trang hơn. Đầu năm 1990, Dinh Cô lại được trùng tu bằng kinh phí quyên góp của khách thập phương, trở thành một dinh thự kiên cố như hiện nay.
Từ khi có Dinh Cô để hương khói, ngư dân Long Hải có thêm sức mạnh tinh thần trong lồng ngực để đương đầu với vất vả, gian nan. Thành tích của mình, dân làng thường gán cho Cô, dệt thành nhiều huyền thoại thi vị, chú yếu là chuyện Cô ứng linh ứng giúp người hiền vượt khó khăn. Sự tôn kính dành cho Cô đã trở thành tập quán của người Long Hải, trong đó ẩn chứa khát vọng và niềm tin về cuộc sống thanh bình, thịnh vượng.
Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10 - 11 - 12 tháng 2 âm lịch), suốt cả ngày cả đêm. Hàng chục vạn khách thập phương từ miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Thuận... lũ lượt kéo về Long Hải dự "Giỗ Cô", chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, ở những hành lang, khoảng trống để nghỉ qua đêm, dự trọn 3 ngày hội. Có người phải đến trước mấy ngày mới mong kiếm được chỗ trọ. Có gia đình mang theo cả con cái cả đồ dùng nội trợ để ăn nghỉ tại chỗ. Đêm buông màn, rừng dương lao xao, sóng biển rì rào, lấp loáng trăng, lồng lộng gió... cảnh hữu tình khiến người ta quên vất vả mà vui với cuộc hành hương mang tính chất dã ngoại.
Từ rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, người ta đã bắt đầu viếng Cô. Mỗi người thường cầm trong tay một nhành huệ trắng tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già sùng tín đều chen nhau vượt 187 bậc đờ để dâng hương xin lộc nơi chính điện. Đêm 10 và 11 là đêm hội hoa đăng. ánh đèn sáng rực hoà cùng ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền quay mũi về Dinh chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng thâu đêm.
Lễ chính được tổ chức từ rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, ra khơi làm lễ "Nghinh Cô". Lễ "Nghinh Cô" được cử hành long trọng. Vị Chánh bái dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước, có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to đặt bày hướng án được xem là ghe dành "Nghinh Cô". Ghe được hộ tống bởi vài chục chiếc ghe khác. Đoàn ghe nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô, đoàn người xuống ghe lên viếng mộ, nghênh đón Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ "Nghinh Cô", còn duy trì được hình thức diễn xướng "Hát bả trạo". Theo TS Tôn Thất Bình, "Hát bả trạo" có nghĩa là hát có nắm mái chèo, một thể loại dân ca nghi lễ phổ biến của cư dân vùng biển từ Bình Trị Thiên (cũ) đến Bình Thuận. Ngư dân thường tổ chức hát bả trạo trong nghi lễ đưa ma Cá Ông. ở Long Hải, hát bả trạo lại gắn với lễ "Nghinh Cô". Hình thức diễn xướng không khác hát bả trạo của cư dân vùng biển Nam Trung bộ, cũng có tổng khoang (hoặc tổng thương), tổng mũi, tổng lái và đám bạn chèo từ 12 đến 16 người. Các bạn chèo và các tổng đề trong trang phục cổ truyền, vừa hát vừa diễn (xướng - xô) mô phỏng thao tác của người đi biển vượt ngàn trùng sóng gió. Chỉ khác ở nội dung bài hát ngưỡng vọng Cô (thay vì ca ngợi, thương tiếc Cá Ông) và lời nguyện cầu cho trời lên biển lặng, tôm cá đầy khoang. Làn điệu và bài hát cho thấy hát bả trạo Nghinh Cô ở Long Hải phóng khoáng và trữ tình hơn lối hát "nặng nỗi âu lo" của vùng biển Nam Trung bộ. Câu lối của một tổng mũi ở Quảng Nam
Thú vị nhất của khách hữu tình không phải ở nội điện, mà là toàn cảnh bãi Long Hải trong những ngày hội rộn ràng, đứng ở hành lang của chính điện, có cảm giác như đang ở vùng giao thoa giữa biển và trời, giữa đời thực và hư, giữa sóng biển dập dềnh như đang dệt lụa và Dinh Cô trong thế "phục long" đang muốn bay lên. Bởi vậy, đến Dinh Cô trong ngày hội không chỉ có người sùng tín mà còn có những văn sĩ, thi nhân và các đôi trai gái đi tìm rung cảm cho con tim

19.              Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ

Hàng năm vào tháng 4 âm lịch, mùa lễ vía Bà Chúa Xứ lại bắt đầu vào hội. Người dân trong vùng và các tỉnh khác bắt đầu hành hương về Núi Sam (Châu Đốc) vía Bà, nhưng rộ nhất là vào những ngày từ 23 – 27/4 âm lịch (năm nay trùng vào các ngày từ 10 – 14/6/2004).Vía chính là ngày 24/4 âm lịch (11/6/2004). Đây cũng là dịp người dân trong vùng xuống giống đã xong, có thời gian rảnh rỗi để tổ chức lễ hội ăn mừng và tạ ơn bề trên.
Có người lại cho rằng: ngày 25/4 là ngày người dân trong vùng đưa tượng Bà xuống núi hoặc là ngày Bà đạp đồng xưng tước vị “Bà Chúa Xứ”. Đêm 23/4 âm lịch là đêm đông du khách tới dự lễ nhất. Tại chợ Châu Đốc, các khách sạn, nhà trọ đều kín chỗ. Ngoài đường hàng ngàn người dập dìu tiến chậm rãi về miếu Bà.
Lễ đầu tiên là “Lễ Tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/3 âm lịch. Mở đầu là 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản tự chùa niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng tạc ở tư thế ngồi bằng đá xanh, đường nét tạc tinh tế, sắc sảo. Cánh tay trái bị gãy đã được phục chế lại rất khó phân biệt được. Bà được tắm bằng một loại nước thơm ướp từ nhiều loại hoa và trộn thêm nước hoa đắt tiền. Sau đó bộ đồ đẹp nhất của khách đến cúng viếng được khoác lên bức tượng cùng với áo mũ, cân đai. Chiếc màn vải kéo qua, khách hành hương đến thắp hương, dâng lễ xin lộc. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…
Tiếp theo là “Lễ Cúng Túc Yết”, được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26/4 âm lịch. Đây là lễ cúng chánh thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, nhị vị phu nhân và các tướng lĩnh của ông về miếu Bà. Đoàn thỉnh sắc có đội lân đi trước, tiếp theo là chiếc kiệu sơn son thiếp vàng do 4 người khiêng. Hai hàng học trò đứng lễ tay cầm cờ phướn suốt đoạn đường lên lăng Nguyễn Ngọc Thoại. Lễ vật dâng cúng gồm một con heo trắng làm sẵn (chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết, một ít lông heo gọi là “mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây – trầu cau và một đĩa gạo – muối. Đúng giờ hành lễ, ban quản trị đốt hưong đèn nghi ngút, dâng tuần trà rượu và đọc văn tế, sau đó đốt đi cùng với một ít vàng mã, con heo cũng được lật trở lại.
Các ngày lễ tiếp theo gồm có: Xây chầu, Lễ Cúng Chánh Tế, Lễ Hồi Sắc… sẽ nối tiếp diễn ra nhằm nhớ ơn các bậc tiền nhân có công trong những buổi đầu mở đất - cầu mong cho mưa thuận gió hòa, nhân dân khỏe mạnh, trường thọ… Cuối dịp lễ sẽ là Lễ Thỉnh Sắc Thần (tức Lễ Rước sắc Thoại Ngọc Hầu cùng chư vị về lại lăng) - kết thúc nghi lễ dịp lễ hội vía Bà.
Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đang ngày càng chứng tỏ là một lễ hội văn hóa dân gian lớn ở Nam bộ. Mỗi năm thu hút hàng chục vạn khách thập phương về hành lễ. Khách về đây không những chỉ xin lộc của Bà mà còn muốn tận mắt được chứng kiến những chứng tích lịch sử dân tộc khác nữa mà cha ông ta đã dày công vun dựng trên vùng đất An Giang hùng vĩ.
Thăm lăng Thoại Ngọc Hầu cùng với công trình vĩ đại của ông thời mở đất là dòng kinh đào Vĩnh Tế, kinh Thoại Hà, chùa Tây An, đồi Tức Dựp, di tích Căm Thù Ba Chúc, v.v… Đây chính là nét đẹp trong tín ngưỡng văn hóa của nhân dân, luôn hướng về và tự hào về nguồn cội.


LỂ HỘI MIỀN TRUNG

1.      Lễ hội Ariêuping của dân tộc Pa Cô!!!

Lễ hội Ariêuping (lễ nhà mồ) truyền thống của đồng bào dân tộc Pa Cô, đã diễn ra từ ngày 29 đến 31/8, tại huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
Đây là một lễ hội mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhằm tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ đến những người đã khuất của đồng bào dân tộc Pa Cô trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Nội dung của lễ hội Ariêuping là tổ chức cất bốc những ngôi mộ người thân trong gia đình của tất cả các dòng họ trong làng đã chết trước đó được an táng rải rác các nơi và cải táng quy tập về một khu vực để tiện thăm viếng, chăm sóc, hương khói.
Già làng Hồ Văn Hinh ở thôn Kì Nơi, xã A Túc, huyện Hướng Hóa, nơi diễn ra lễ hội, cho biết lễ hội Ariêuping thường được tổ chức 10 năm một lần, khoảng tháng 3 đến tháng 4 vì lúc này mùa vụ gieo trỉa (phát cốt) đã xong.
Thời gian diễn ra lễ là 3 ngày với các nghi lễ như tổ chức cất bốc và an táng hài cốt, lễ cúng ma, hội đâm trâu, múa cồng chiêng...
Lễ hội Ariêuping là một lễ hội tín ngưỡng độc đáo của đồng bào dân tộc Pa Cô ở Quảng Trị. Năm nay lễ hội được tổ chức vào tháng 7 âm lịch là do yêu cầu của tỉnh Quảng Trị, với mong muốn phục dựng, duy trì bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời quảng bá hình ảnh du lịch về phong tục tập quán của người Pa Cô nói riêng và các dân tộc anh em trên địa bàn Quảng Trị nói chung./.

2.      Lễ hội Cầu Ngư ở Thai Dương Hạ

Thời gian: 12/1 âm lịch
Địa điểm: làng Thai Dương Hạ, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng của làng là Trương Quý Công (biệt danh của Trương Thiều), người gốc Thanh Hoá, có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành.
Đặc điểm: lễ tế thần linh, lễ cầu ngư, đua trải.
Lễ tế thần diễn ra khoảng 2 giờ sáng ngày 12. Một bài văn tế dâng lên các vị thần linh và tiền bối của làng, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, đánh bắt được mùa, dân làng no ấm, mọi người hạnh phúc. Khoảng 4 giờ sáng lễ chánh tế kết thúc. Tiếp sau đó là phần hội cầu ngư Thuận An. Có nhiều màn diễn diễn tả những sinh hoạt nghề biển. Trò diễn "bủa lưới" là trò diễn trình nghề mang đậm tính chất lễ nghi. Tiếp theo trò bủa lưới bắt cá là màn trình diễn của các ngư dân bán thuỷ hải sản cho các "bà rỗi" (người bán cá) đang chờ sẵn. Màn mua bán kéo dài khoảng hơn một giờ.
Chương trình ngày hội được tiếp tục bằng cuộc đua trải trên phá Tam Giang. Cuộc đua mang ý nghĩa cầu cho no ấm, vừa được mùa cá, vừa được mùa lúa, thoả mãn ước vọng no ấm của cư dân.
Lễ hội Cầu Ngư là ngày hội của cả cộng đồng, tràn đầy lạc quan và hy vọng. Lễ hội là nguồn cổ vũ cho cư dân có thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn trong nghề sông nước.

3.      Hội xuân Gia Lạc

Thời gian: 1 - 3/1 âm lịch.
Địa điểm: Xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đối tượng suy tôn: Định Viễn Công, hoàng tử thứ 6 con vua Gia Long.
Đặc điểm: Hội vui xuân, chỉ họp trong 3 ngày Tết hàng năm.
Hội đã được tổ chức từ thời Minh Mạng nhưng chỉ cho những người trong phủ, dần dần mới trở thành hội chợ vui xuân dành cho cả nhân dân. Chợ họp từ sáng mùng 1 Tết tại Gia Lạc cách trung tâm thành phố Huế 3km, về phía Vĩ Dạ. Hàng hóa phong phú, thay đổi theo từng năm, từ đồ gia dụng như chén bát, cơi trầu, ấm chén, hoa quả bánh trái đến đồ chơi trẻ em. Một số quán ăn đặc sản như heo quay, bê thui... cũng có mặt.
Trong ngày hội còn diễn ra nhiều hoạt động vui chơi, ca hát như hát bài chòi, bài vè, hò giã gạo, hát đối nam nữ... Khách đến hội chợ xuân Gia Lạc để vui chơi, cầu may và cũng là thói quen, một tập tục lâu đời.

4.      Lễ Yôh Yang

Thời gian: Ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm (khoảng 25/9 - 5/10 dương lịch)
Địa điểm: đền tháp Pô Nagar (thôn Hữu Đức), tháp Pô Klông Garai (phường Đô Vinh, tháp Chàm), tháp Pô Rôme (thôn Hậu Sanh), tỉnh Ninh Thuận.
Đối tượng tôn vinh: các vị Nam thần: Pô Klông Garai, Pô Rôme.
Đặc điểm: theo nghi lễ của dân tộc Chăm.
Lễ hội Katê của người Chăm diễn ra trong 3 ngày trên một không gian rộng lớn, lần lượt từ đền tháp (Bi môn, Ka lan) đến làng (Paley) và từng gia đình (Nga wôm), tạo thành một dòng chảy phong phú, đa dạng.
Đây là một lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hoá của cộng đồng người Chăm. Lễ hội không chỉ gắn với đền tháp cổ kính - nơi lưu giữ những giá trị kỹ thuật và mỹ thuật cao nhất của nền văn hoá Chăm mà còn gắn tới lĩnh vực khác của văn hoá: đồ cúng tế, y phục, nhạc cụ; những bài thánh ca, ca ngợi các vị vua hiền có công với nước với dân. Lễ hội còn là dịp để những người tham dự được thưởng thức một nền nghệ thuật ca - múa - nhạc dân gian với phong cách độc đáo. Những người tham dự lễ hội được hoà cùng điệu múa của các cô thiếu nữ Chăm, say sưa cùng tiếng trống Gi năng, kèn Saranai. Lễ hội Katê là minh chứng về sự phong phú, đa dạng trong kho tàng văn hoá của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Lễ hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận diễn ra ở 3 đền tháp trong cùng ngày, cùng giờ. Các nghi lễ cơ bản giống nhau về nội dung, nghi thức hành lễ. Tiến hành lễ hội gồm có:
Thầy cả sư trụ trì đền tháp làm chủ lễ,
Thầy kéo đàn Kanhi hát thánh ca,
Bà bóng dâng lễ vật lên các vị thần,
Ông từ chủ trì lễ tắm tượng,
Cùng một số tu sĩ Bà la môn phụ lễ.
Lễ vật dâng cúng Katê tại đền tháp bao gồm:
1 con dê,
3 con gà làm lễ tẩy uế ở tháp,
5 mâm cơm, canh cúng với thịt dê,
1 mâm cơm với muối vừng,
3 ổ bánh gạo và hoa quả.
Ngoài ra còn có rượu, trứng, trầu cau, xôi chè...
Lễ hội Katê gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội. Trình tự theo các bước:
Ngày thứ nhất: đón rước y phục của nữ thần Pô Nagar ở thôn Hữu Đức
Ngày thứ hai: lễ hội Katê ở các tháp Chăm
Phần lễ
Lễ đón rước y phục (thường từ 7 giờ sáng)
Lễ mở cửa tháp (diễn ra tại 3 đền, tháp)
Lễ tắm tượng thần (diễn ra trong 3 đền, tháp)
Lễ mặc y phục cho tượng thần (tại 3 đền, tháp)
Đại lễ (thường bắt đầu từ 9h sáng kéo dài đến 11h trưa tại 3 đền, tháp)
Phần hội
Ngày thứ ba:
Lễ hội Katê ở làng
Sau khi lễ hội Katê ở tháp kết thúc thì không khí lễ hội lại bùng lên ở các làng Chăm. Trước ngày lễ dân làng phân công nhau quét dọn đền thờ, ngôi nhà chung của làng, chuẩn bị sân khấu, sân bãi...
Cùng thời gian đó một bộ phận khác lại chuẩn bị lễ vật cúng thần.
Buổi sáng ngày thứ ba, một người làm lễ cúng Katê ở ngôi nhà chung của làng để cầu mong thần phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt. Mỗi làng Chăm thờ một vị thần riêng. Trong lễ cúng tế thần làng, chủ tế lễ không phải là chức sắc tôn giáo mà thường được dân làng tôn vinh hoặc người có uy tín và tinh thông phong tục tập quán. Ông thay mặt cho dân làng cúng lễ vật cho thần và cầu mong thần phù hộ cho dân làng. Nếu như lễ hội Katê nặng về phần lễ ở các đền tháp thì tại làng phần lễ đơn giản hơn phần hội. Đó là các trò như thi dệt vải (làng Mỹ Nghiệp), thi đội nước, đá bóng, văn nghệ...
Vào cuối buổi chiều thì cuộc vui kết thúc, hội Katê ở làng cũng vãn. Mọi người về nhà để tiến hành lễ Katê gia đình.
Lễ Katê ở gia đình
Kết thúc lễ Katê ở làng là lễ Katê ở các gia đình mới bắt đầu. Nghi lễ này phụ thuộc điều kiện kinh tế của từng gia đình, nếu có thì tổ chức nếu không thì thôi.
Chủ lễ cúng Katê là người trong gia đình hoặc là người lớn tuổi trong tộc họ. Vào ngày lễ, mọi thành viên trong gia đình đều có mặt đông đủ, cầu mong tổ tiên, thần linh phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn. Đây cũng là dịp ông bà, cha mẹ, giáo dục con cháu kính trọng tổ tiên. Cũng dịp này các gia đình đều chuẩn bị bánh trái mời người thân tới thăm viếng chúc tụng nhau. Cả làng đều ngập tràn niềm vui, thân thiện, tình đoàn kết xóm giềng. Hầu như tất cả đều quên đi những vất vả, lo âu của đời thường để tận hưởng những phút giây tràn đầy hạnh phúc.

5.      Lễ Đâm Trâu_Gia Lai

Thời gian: Khi cây H’lưng đầu buôn, cây Ê-táp giữa làng ra nụ, nở hoa, đó chính là lúc buôn làng Gia Lai chuẩn bị đón Hội đâm Trâu.
Địa điểm: Lễ hội đâm Trâu được tổ chức tại buôn làng Gia Lai.
Đối tượng suy tôn: Giàng (thần).
Đặc điểm: Lễ hội đâm Trâu là do người Gia Rai và Bà Na tổ chức. Con Trâu được cột quanh cây nêu và có một thanh niên lực lưỡng được cử ra để lãnh trách nhiệm đâm Trâu. Máu hòa với rượu để cúng Giàng (thần).
Mỗi khi cây H’lưng đầu buôn, cây Ê-táp giữa làng ra nụ, nở hoa, đó chính là lúc con trai, con gái các buôn làng Gia Lai chuẩn bị đón hội hè. Gặt hái xong xuôi là thời gian nghỉ ngơi, mọi nhà, buôn làng đều tổ chức các lễ hội như Hội bỏ mả (Mnăm Lui Msat), Lễ ăn cơm mới (Huă Esei Mrâo), Lễ đâm trâu (Mnăm thu)... tưng bừng, rộn rịp với các trò vui chơi, ăn uống no say.
Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Gia Rai, Bà Na ở Gia Lai tổ chức Lễ hội đâm trâu vô cùng hào hứng thu hút đông đảo mọi người cùng tham dự. Tùy theo gia cảnh và tùy theo số lượng người đến tham dự mà gia chủ có thể giết nhiều trâu để đãi khách. Và lần lượt mọi nhà có thể thay phiên nhau tổ chức những cuộc vui suốt sáng thâu đêm bên ghè rượu cần thơm ngon, bên gùi cơm lam nóng hổi và những xâu thịt nướng thơm phức...
Gần ngày lễ Mnăm Thu. Gia chủ cử người vào rừng chặt tre, cây blang (cây gòn núi) đem về làm cột blang Kbâo. Cột blang Kbâo giống như cây nêu ở miền xuôi nhưng công dụng thì khác hẳn.
Thầy cúng sẽ giúp gia chủ chọn chỗ để đào lỗ trồng cây nêu, thường là ở giữa sân nhà. Trong lúc đào lỗ, cả nhà ăn mặc quần áo mới đứng vây quanh, vừa la vừa hú, vừa khấn vái trời đất, xong mới chôn trụ nêu.
Sau khi dựng nêu xong, họ đem trâu đến cột dưới cây nêu. Dây cột trâu phải lựa dây thật mềm và chắc. Thế rồi giờ cử hành lễ bắt đầu. Người trong buôn làng kéo đến vây quanh cây blang Kbâo, khua chiêng, thúc trống rồi múa hát với giọng ê a. Trong lúc đó, thầy cúng lấy một chiếc nồi đồng đem ra đặt ở trước nhà, đứng hai chân trên miệng nồi rồi làm phép cúng vái. Một thanh niên nhanh nhẹn, thông minh và lực lưỡng nhất được cử ra để nhận lãnh trách nhiệm đâm trâu.
Anh chạy theo con trâu quanh cột cây nêu, tay cầm con dao Kgã, vừa chạy vừa múa dao, thừa lúc thuận tiện anh chém đứt khuỷu chân trái sau con trâu. Bị đau, con vật lồng lộn chạy bằng ba chân, anh rượt theo, vừa múa dao, thừa lúc thuận tiện nhất anh chém tiếp chân phải của nó. Con vật ngã khuỵu hai chân sau, lết quanh chân nêu. Lúc bấy giờ anh mới dùng cây giáo dài, vừa múa vừa chạy theo con trâu trong tiếng reo hò cổ vũ của mọi người tham dự. Đúng lúc thuận tiện, anh đâm mạnh cây giáo vào sườn trâu, trúng thẳng vào tim con vật làm cho nó chết ngay tức khắc.
Qua tài đâm trâu của anh, mọi người đều nhiệt liệt tán thưởng, còn các cô gái thì bàn tán xôn xao.
Con trâu vừa chết, các thanh niên trong buôn làng nhào ra phanh thây trong khi thầy cúng mang sẵn chiếc nồi đồng to tướng trong đó có chứa ít rượu đem đặt ngay cạnh vết thương con vật để hứng lấy máu. Máu hòa với rượu để cúng Giàng (thần). Người thầy cúng còn cắt một tí tai, mũi, mắt và lông đuôi con trâu rồi lấy máu bôi vào hai que tre để xin keo. Sau đó, thầy cúng đem những thứ nói trên vào nhà làm lễ và đặt hai que tre lên mái nhà.
Buổi lễ kể như đã xong, mọi người cùng nhau uống rượu cần, ăn thịt trâu nướng, dùng cơm lam và trứng gà...Trong khi đó, từng tốp thanh niên lực lưỡng khua chiêng, trống âm vang lan tỏa khắp buôn làng, nương rẫy, sông suối, núi rừng...
Nhiều bà con đến tham dự cũng mang theo các ghè rượu cần để góp vui cùng gia chủ. Rượu vào, lời ra. Các cụ già bắt đầu kể Khan Hơmon, còn gái trai Trường Sơn ra sức múa hát, quay cuồng bên bếp lửa hồng cho đến thâu đêm.
Con gái lớn lên để ngực trần
Tay tròn trịa múa mềm ngọn lửa
Họ đâm trâu thiêng liêng tiếng hú
Đôi mắt em thăm thẳm hoang sơ
Hơmon ơi có tự bao giờ
Nghe ai hát em theo về làm bạn
Không uống rượu sao ấm nồng giữa ngực
Bài hơmon nào không có chuyện yêu đương
(Thơ Xuân Mai)
Người ta túm tụm xung quanh các ghè rượu cần thơm ngon. Kẻ kéo, người mời, tiếng cười nói râm ran. Người ăn cứ ăn, người uống cứ uống, ai kể khan cứ kể, ai múa hát cứ tiếp tục... nguồn vui kéo dài hầu như bất tận. Nhiều người no say quá nằm ngủ ngay tại chỗ mãi đến ngày hôm sau mới trở về nhà.
Cứ như thế, từ gia đình này đến gia đình khác, từ buôn làng này đến buôn làng khác, lễ Mnăm Thu - tức lễ đâm trâu - được tổ chức suốt mùa tạnh ráo khắp buôn làng Gia Lai.

6.      Lễhội văn hóa ởThừa Thiên Huế

Huế là vùng có truyền thống văn hóa phong phú và đặc sắc. Huế có rất nhiều lễ hội dân gian. Đặc điểm của các lễ hội ở Huế là được tổ chức rất công phu, bài bản
Hội đua ghe truyền thống
Hội đua ghe truyền thống tỉnh TTHuế là một lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam nam 1975. Hội được tổ chức trong một ngày nhằm ngày lễ Quốc khánh 2-9(dương lịch)
Ðịa điểm đua là bờ Nam sông Hương trước trường Quốc học. Hội nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài trên sông nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khoẻ và tạo không khí vui tươi lành mạnh cho nhân dân. Ðây cũng là dịp để biểu lộ lòng vui mừng của nhân dân nhân ngày Quốc khánh.
Quy mô hội có tính chất rộng rãi liên phường xã và các huyện trong tỉnh. Hội tổ chức theo định kỳ, mỗi năm một lần theo phong tục.

Hội vật Làng Sình
Dù ai đi đó đi đây
Ngày mười hội vật nhớ quay về Sình
Ðó là câu ca dao ở Huế nhắc nhở mọi người hãy nhớ ngày mồng mười tháng giêng âm lịch hàng năm quay về làng Sình (Lại An), xã Phú Mậu huyện Phú Vang để xem đấu vật. Sân vật được dựng ngay trước đình làng Sình.
Vật võ cũng là một hình thức để tưởng nhớ ngài khai canh làng đã truyền dạy dân làng nghề vật. Nên đến ngày giỗ Ngài, dân làng tổ chức vật võ. Lễ chính tế Ngài khai canh được cử hành vào sáng mồng mười tháng giêng âm lịch lúc 2h sáng. Lễ tất mới vật võ, lúc 7h sáng.
Thể thức thi đấu hễ "tấm lưng trắng bụng" là thua nhưng có cuộc tranh tài quá quyết liệt, có khi đô vật bị tử vong. Trọng tài của hội vật do một người có uy tín trong làng đảm nhiệm. Lễ vật không hạn chế số đô vật ở các làng xã khác tham dự. Thứ tự cuộc đấu chiến bắt đầu là các thiếu niên, sau đó là cuộc thi vật của thanh niên và trung niên.
Sự tổ chức cũng theo thời gian mà thay đổi. Người thắng cuộc vật thời trước là tay thượng võ đài chiến thắng mọi đối thủ đến phút cuối, khi không còn ai dám lên đấu vật nữa mới được gọi là vô địch. Ngày nay các đô vật được chia thành từng cặp đấu chiến, để qua các vòng sơ kết, bán kết và chung kết. Người thắng vòng chung kết là vô địch. Như vậy đô vật khỏi bị mất sức vì phải đấu liên tiếp với nhiều người.
Lễ hội Ðiện Hòn Chén
Tại Huế, Thánh Mẫu được thờ tại điện Hòn Chén, làng Hải Cát, huyện Hương Trà. Nghi lễ tại Ðiện Hòn Chén rất long trọng. Dân làng tổ chức tế tại đình, trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả các vị thần trong làng về đình. Ðám rước Thiên Y A Na Thánh Mẫu từ Huệ Nam đến đình làng Hải Cát tổ chức trọng thể hơn cả.
Lễ hội giống như một festival về văn hóa dân gian trên sông Hương, tấp nập những chiếc “bằng” (thuyền kết đôi) với cờ phướn, hương án đủ màu sắc, hành hương về điện Hòn Chén, nơi thờ Thánh Mẫu. Tại khu vực điện sẽ diễn ra Thánh Mẫu tuần du làng Hải Cát, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh, phóng đăng...
Ðám rước cử hành trên những chiếc “bằng”. Trên mỗi bằng có bàn thờ Thánh Mẫu cùng với long kiệu. Trên long kiệu có hòm sắc của vua ban Thánh Mẫu, liền kế đó là một bằng khác có bàn thờ, kiệu và hòm sắc của nhị vị thượng Ngàn và Thuỷ Cung Thánh Mẫu. Sau đó là những chiếc bằng chở các tự khí, tàn tán cờ quạt.
Trải qua những thăng trầm lịch sử, những năm gần đây lễ hội này đã được phục hồi theo các tập tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương. Lễ hội điện Hòn Chén còn được gọi là Lễ Vía Mẹ, không chỉ là của những tín đồ Thiên Tiên Thanh Giáo, mà còn là của những người theo đạo thờ Mẹ, đạo hiếu, đạo làm người. Theo ý nghĩa đó, việc phục hồi lễ hội điện Hòn Chén là phục hồi một giá trị văn hóa truyền thống của một vùng đất.
Hội chợ xuân Gia Lạc
Trong ba ngày Tết cũng như nhiều vùng khác, tất cả các chợ ở Huế đều nghỉ mua bán để mọi người tổ chức lễ hội, cúng ông bà, thăm hỏi nhau. Tuy nhiên, chỉ có một chợ Tết độc nhất đã mở trong những ngày đầu xuân- Ðó là chợ Gia Lạc- đông vui chỉ trong 3 ngày Tết.
Có thể hiểu Gia Lạc theo 2 cách:” nhà nhà vui tươi”; hoặc “thêm vui” (ngụ ý ngày xuân đã vui rồi, chợ lập ra để tăng thêm nguồn vui- cách lý giải này được nhiều người chấp nhận)
Chợ lập được từ thời Minh Mạng (1820-1840) do Ðịnh Viễn Công Nguyễn Phước Binh, con thứ tư của Gia Long. Lúc đầu chợ chỉ họp nhóm trong giới hạn thân nhân nơi phủ đệ của ông nhằm trao đổi hàng hóa, vui chơi.
Sau thấy vui, nhân dân quanh vùng đến mua bán, rồi bày các trò chơi dân gian. Do vậy, chợ Gia Lạc trở thành một hình thức hội chợ xuân, loại chợ phiên trong ngày Tết. Ðịa điểm chợ ở tại ngã 3, giáp ranh làng Nam Phổ, trên 2 nẻo đường, 1 về Dương Nổ, 1 về Ngọc Anh- cách trung tâm thành Huế, đi theo hướng về Vĩ Dạ khoảng 3km. Chợ cách bờ sông Hương khỏang 300m. Bên kia sông là chợ Dinh hiện nay.
Hàng mua bán ở chợ Gia Lạc rất phong phú, thay đổi theo năm: từ những đồ gia dụng đến đồ chơi trẻ em, thay đổi theo năm: từ những đồ gia dụng đến đồ chơi trẻ em, thức ăn uống. Ðó là hình thức “chợ trời” ngày nay.
Chợ còn là điểm tập trung vui chơi trong 3 ngày Tết: các cuộc chơi bài chòi, bài ghế, hò giã gạo, bài thái đều được tổ chức.
Người đi chợ ăn mặc thật chải chuốc, chỉnh tề. Các bà, các chị với y phục cổ truyền, áo mớ năm, mớ ba...ngoài việc mua bán, còn có ăn uống, vui chơi. Cả người bán lẫn người mua ăn nói, ứng xử lịch sự, vui vẻ, không có cảnh ồn ào cãi cọ thiếu văn hóa. Cuộc vui chơi diễn ra trong 3 ngày Tết. Qua ngày mồng Bốn, tất cả chợ trời trở lại sinh hoạt bình thường. Ðây là nơi biểu hiện nền văn hóa Huế tương đối tập trung và rõ nét, từ phong cách ăn mặc đến ngôn ngữ.
Lễ hội Cầu Ngư ở Thai Dương Hạ
Hội của nhân dân làng Thai Dương hạ, huyện Phú Quang, tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hằng năm, để tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quý Công (Trương Thiều), người gốc Thanh Hóa, có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành.
Thường cứ 3 năm một lần làng lại tổ chức đại lễ rất linh đình, có tổ chức các trò mô tả những sinh hoạt nghề đánh cá, trong đó trò "bủa lưới" mang ý nghĩa trình nghề, khắc họa đậm nét lễ nghi dân gian của cư dân ven biển.
Lễ hội Cầu Ngư Thai Dương Hạ là một lễ hội lớn ở Thừa Thiên Huế và ở Việt Nam.

7.      Lễ bỏ mả của người Gia Rai Mthur

Người Giarai Mthur thuộc một nhóm người Giarai vừa khá lớn vừa khá đặc biệt của dân tộc Giarai. Địa bàn cư trú chính của người Giarai Mthur là huyện Krông Pa và phía nam huyện Ayun Pa (xã Ia Rbol) của tỉnh Gia Lai. Nếu nhìn trên bản đồ, chúng ta sẽ thấy, người Giarai Mthur sống ở phía đông nam của tỉnh Gia Lai và cũng thuộc phía đông nam địa bàn cư trú của người Giarai. Nơi cư trú của người Giarai Mthur nằm gọn trong khu vực giáp ranh với hai nhóm dân tộc lớn cùng thuộc ngữ hệ Malayô - pôlinêdiêng; người Chăm ở phía đông.
Điều khá đặc biệt là, cái tên Mthur (nghĩa là nghèo nàn) không chỉ là cái tên để chỉ một nhánh của người Giarai mà cũng là cái tên chỉ một nhánh người Êđê phía đông - người Êđê Mthur. Còn người Giarai Mthur ở giáp với người Chăm (như ở xã Đắc Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai) lại tự gọi mình là người Chăm Hroi. Ngoài người Êđê Mthur ra, người Êđê Ktul, Êđê Mã Laiô và Êđê Kđrắc đều có rất nhiều nét tương đồng về văn hóa với người Giarai Mthur. Do đó, có thể nói, trong văn hóa truyền thống của người Giarai Mthur có nhiều sắc thái chung cho cả người Êđê và người Chăm Hroi. Ngay trong tang ma nói chung và lễ bỏ mả nói riêng của người Giarai Mthur, theo những kết quả điều tra nghiên cứu của chúng tôi, có không ít những yếu tố gần với người Êđê.
Theo quan niệm của người Giarai Mthur ở Đắc Bằng và Ia Rto, khi người ta chết thì hồn người chết (m'ngắt dêi) biến thành ma (atầu). Sau khi làm lễ bỏ mả, hồn ma của người chết mới được đi tới thế giới của bà Jung, các hồn ma sinh sống và làm việc như những người sống, nghĩa là cùng ăn uống, lấy vợ, lấy chồng, ốm đau và chết. Sau khi chết, hồn ma biến thành con nhện (vak vai). Bà Jung thả con nhện lên mặt đất. Khi chết, nhện biến thành giọt sương (ia ngom) rồi tan vào đất. Bà Jung lấy đất có thấm giọt sương đó làm ra người - rồi cho nhập vào những người phụ nữ có chửa. Khi người phụ nữ sinh con thì hồn ma lại trở về với kiếp người. Người Ê Đê cũng có những truyền thuyết và quan niệm tương tự về buôn làng tổ tiên (buôn Atao) do vợ chồng thần Băng Bơ Dung, Băng Bơ Đai cai quản. Vì thế, để cho hồn ma của người chết đến được với buôn làng của tổ tiên, người Giarai Mthur và các nhóm người Êđê phía đông đều có tục làm lễ bỏ mả cho người chết. Tập tục này đã có từ lâu và còn tồn tại cho đến tận hôm nay. Ngay trong các trường ca (khan) của người Giarai Mthur và người Êđê, có những đoạn nói về lễ bỏ mả thật sinh động. Ví dụ, trường ca Xing Nhã của người Êđê và Giarai mô tả việc Xing Nhã làm lễ bỏ mả cho cha mình như sau: "Mãn mùa lúa. Vào một buổi sáng đẹp trời, sương trốn nắng. Xing Nhã sai nô lệ vào rừng chặt cây kơnia, chặt những cây gòn to nhất để dựng nhà mồ cho cha là Giarơ Kốt ở gần núi Bơlô. Tin ấy truyền đi buôn phía đông. Tin ấy lan sang làng phía tây. Từ người Bi Kơrông sống dọc bờ sông, tối người Mơnông cắm lông chim trên đầu ở bên bờ suối; tất cả đều nô nức mang rượu,thịt, chiêng trống đến mừng chàng Xing Nhã dựng nhà mồ cho cha". Còn lễ bỏ mả cho Đăm Bi và Xinh Chơ Niếp được trường ca Xinh Chơ Niếp mô tả: "Về phần Chiêm Tơ Mun, thì sau mấy mùa trăng lặn, trăng lên, sức khỏe của mẹ chàng đã phục, làn da đã trở lại như xưa. Một buổi tối đầy sao, nhiều gió, chàng gọi Chiên Mơ Nga tới nhà bàn việc làm lễ bỏ mả cho Đăm Bi và Xinh Chơ Niếp. Sau đấy, họ đem rượu ra uống suốt mấy ngày liên tiếp bên đồi Lơ Mui. Mả Xinh Chơ Niếp và Đăm Bi làm chung một chỗ, xây chung một hướng. Cây nêu cao tận trời, khắc chạm tận gốc. Bốn phía mồ đều đẽo tượng gỗ lớn. Tượng ngồi, tượng đứng, trông rất linh thiêng. Trai gái ở buôn gần dắt bò, ở buôn xa đem rượu tới ăn lễ. Chiêng trống không ngừng, nhảy múa không ngớt. Âm vang, chấn động cả vách núi, lưng trời".
Mặc dầu không còn những lễ bỏ mả lớn của các tù trưởng lớn mà các trường ca mô tả, nhưng người Giarai hôm nay vẫn làm cho người chết những ngôi nhà mồ kút (bơxát kut hay nok kut). Đồ sộ uy nghi và tổ chức lễ bỏ mả trọng thể, đông vui.
Như các nhóm Giarai khác, người Giarai Mthur vẫn giữ tục chôn chung và bỏ mả chung. Do đó, để tổ chức được lễ bỏ mả, trước đó cả tháng trời, các gia đình có người chết cùng dân làng đã phải bắt tay vào chuẩn bị. Mọi người phải lên rừng chặt gỗ đem về đẽo các cột kút, kơlao, chạm khắc tượng người, tượng thú, phải chuẩn bị rượu, thịt, gạo nước cho lễ bỏ mả. Chỉ sau khi mọi thứ đã làm xong, lễ bỏ mả mới có thể tổ chức được.
Người Giarai Mthur thường chọn những ngày trăng sáng nhất (tuần thứ hai tức tuần trăng tròn của tháng) để bắt đầu làm lễ bỏ mả hay ăn bỏ mả (hoă lui bơxát) như người Giarai thường gọi. Khi vầng trăng của ngày 14 đã nhô lên treo lơ lửng trên đỉnh các cây cột kút và klao của nhà mả (tức khoảng 10-11 giờ đêm) các gia đình có người thân phải làm lễ bỏ mả cùng cả dân làng tấp nập đi ra khu nhà mồ đã được dọn dẹp sạch sẽ để bắt đầu lễ hội bỏ mả của làng. Vì thế mà người Giarai Mthur gọi hôm đầu tiên của lễ bỏ mả là ngày vào nhà mả (mưt bơxát).
Trước khi cuộc vui của lễ hội bùng lên, người chủ của lễ (người đại diện cho gia đình có người chết được chôn đầu tiên ở khu nhà mả) đến bên ngôi nhà mồ mới, xụp trước bàn thờ (P'nang) đã bầy sẵn rượu, thịt cúng và đọc bài cúng với những lời mở đầu như sau: lễ bỏ mả đến ngay sau lưng rồi. Từ nay, người sống ăn cơm trắng, còn ma thì ăn cơm đỏ, ăn hoa tím, hoa đỏ của các thần... Sau đấy, người chủ lễ mới bày tỏ tâm tư và nguyện vọng của những người sống: "xin ma đừng gọi, đừng lại gần, đừng thương yêu con cháu nữa. Từ nay, chúng tôi sẽ không còn mang cơm, sẽ không còn mang nước cho ma nữa. Nếu muốn ăn thịt gì, xin ma hãy hỏi thần Trăng; nếu muốn ăn cá, ăn thịt, xin may hãy hỏi thần trên trời. Thôi, từ nay, thế là hết, như lá m'nang đã lìa cành như lá m'tư đã tàn úa".
Khi tế cúng vừa xong, thì lập tức, trong ánh lửa bập bùng của hàng chục đống lửa và dưới ánh trăng mát dịu, tiếng cồng chiêng rộn rã nổi lên. Theo nhịp âm thanh cồng chiêng mọi người hòa vào đoàn múa diễu quanh ngôi nhà mồ nhấp nhô huyền ảo trong đêm. tiếng nhạc cồng chiêng của đêm bỏ mả, như một sức hút diệu kỳ, kéo tất cả dân làng, kéo bà con họ hàng ở buôn gần, buôn xa tới. Càng về khuya, tiếng cồng chiêng càng rộn rã, thôi thúc, các đống lửa càng bùng to hơn, nhịp chân múa nhảy càng rộn rã hơn. Hầu như suốt cả đêm cho đến sáng, cả làng quây quần bên ngôi nhà mồ: ai múa nhảy cứ múa nhảy, ai đánh cồng chiêng cứ đánh; ai uống rượu cứ uống, ai mệt thì ngủ ngay bên những đống lửa ấm áp để sáng hôm sau bước vào ngày hội chính của lễ bỏ mả - ngày vỡ (p'chăh) hay ngày ăn lớn (hoă prong).
Sáng hôm hoă prong, vào khoảng 6, 7 giờ sáng, các gia đình cùng chung làm lễ bỏ mả dắt trâu hoặc bò đến buộc quanh ngôi nhà mả; đem những ché rượu tới cột thành từng hàng dài bên nhà mả. Sau đấy, những con vật bị giết đem thui và làm thịt. Thịt, xương trâu bò được chế biến ra thành nhiều loại thức ăn, nhiều món thức ăn: có loại dành riêng để chia cho những người chết được gọi là thịt tế lễ (m'nong dưm), có loại để chia cho những người tới dự (chơnút m'nong). Khi thức ăn đã được chế biến xong, các bà, các chị nổi lửa đun nấu thức ăn rồi chia ra những chiếc mâm lá chuối được bày la liệt quanh ngôi nhà mồ.
Trong khi dân làng lo chuẩn bị cho bữa ăn lớn hay bữa cơm bỏ mả (hoă sơi bơxat), thì các gia đình có người chết đem mía (phun tbou) và chuối (phun a'tơi) đến trồng bên cạnh nấm mộ, đem gói cơm và gói thịt cùng ché rượu và con gà nhỏ (ană mnu) đặt lên mộ rồi ngồi khóc lần cuối vĩnh biệt người chết. Để không khí hôm bỏ mả đỡ buồn, dân làng và khách các nơi tới đánh cồng chiêng, múa nhảy thành đoàn đi quanh nhà mả. Đến quá trưa, cả khu nhà mả thật sự đã thành một bữa ăn cộng cảm lớn. Từng tốp, từng tốp ngồi quây quần bên các mâm cơm (mâm bằng lá chuối) cạnh những ché rượu cần vừa ăn uống vừa trò chuyện vui vẻ. Các bà, các cô cũng đem phần cơm, thịt và rượu vào nhà mả để những người trong các gia đình có người chết ăn uống và tâm sự lần cuối với người thân đã khuất của gia đình mình.
Lúc bữa cơm cộng cảm kết thúc cũng là lúc người chủ lễ đến bên bàn thờ đọc lời cúng bỏ mả với nội dung như sau: "Xin ma đừng gọi, đừng lại gần, đừng thương yêu con cháu của ma nữa. Chúng tôi đã làm nhà mồ rồi, đã tạc những cột kút, cột klao, đã vẽ những hình vẽ bằng máu trâu, máu bò rồi. Ché rượu cúng đã đặt xuống mà rồi, con gà con đã được thả rồi. Chúng tôi đã bỏ ma rồi". Đợi cho người chủ lễ đọc lời khấn xong, mọi người vào nhà mả đưa những người góa ra sông tắm, chải đầu, mặc áo váy, khố mới cho họ rồi đưa họ về khu nhà mồ đang rộn ràng tiếng cồng chiêng và nhịp chân múa nhảy. Ai nấy đều vui vẻ, hồ hởi mời, kéo những người góa vào vòng múa của dân làng. Lúc này, những người góa không còn xõa tóc, không còn mặc khố, váy bẩn rách của thời kỳ để tang nữa. Lúc này họ đã mặc lên người những bộ quần áo lễ hội mới, đã nở nụ cười trên môi. Khi những người góa nhập vào đoạn nhảy múa của dân làng là lúc họ đã được giải phóng, đã không còn phải ràng buộc gì với người đã chết nữa. Từ nay, họ được sống cuộc sống bình thường như mọi người, nghĩa là được đi ăn uống vui chơi ở các lễ hội, được quyền tái giá nếu họ muốn. Nước sông đã rửa sạch những năm tháng chịu tang trên người họ, lễ cúng cuối cùng đã cắt đứt mọi quan hệ giữa họ và những người chết. Còn những hồn ma của người chết thì, sau lễ cũng cuối cùng, đã được con gà con đưa về buôn làng tổ tiên bắt đầu một cuộc sống mới - cuộc sống của những hồn ma để chu kỳ tiếp theo sẽ lại trở về làm người.
Sau những vòng múa tưng bừng sôi nổi giữa dân làng và những người góa, lễ bỏ mả coi như đã kết thúc và mọi người ai nấy về nhà nấy, bỏ lại phía sau ngôi nhà mả xinh đẹp mà mình vừa làm xong cho thời gian và thiên nhiên hủy hoại. Trước khi ra về, mọi người bốc thóc ném lên mái nhà mồ rồi tranh nhau cướp lấy một số hạt thóc từ mái nhà mồ rơi xuống đem về để được phúc và để mùa tới làm ăn thịnh vượng. Khi mọi người ném thóc lên mái nhà mồ, ông chủ lễ nói lời cuối cùng tuyên bố (p'thao) bỏ mả: Thế là xong hết tất cả rồi. Gia đình và dân làng đã bỏ mả rồi. Từ nay chúng tôi không còn dính líu gì với nhà mả nữa. Từ nay, nếu xảy ra chuyện gì không hay, không tốt với nhà mả thì cũng đành vậy thôi vì chúng tôi không còn gì dính líu nữa.
Mặc dầu các nghi lễ đã chấm dứt, ngôi nhà mồ đã bị bỏ và các hồn ma đã ra đi, những hội lễ bỏ mả còn tiếp tục thêm một ngày nữa tại các gia đình của những người chết vào ngày hôm sau. Hôm đó, bà con họ hàng tới thăm hỏi, ăn uống, vui chơi cùng các gia đình tại nhà họ chứ không ra nhà mả nữa. Thức ăn còn gì, gia chủ đem hết ra đãi khách. Vì thế ngày cuối cùng này của lễ bỏ mả được gọi là ngày rửa nồi (săch go).

8.      Lễăn cơm mới ởTây Nguyên

Các dân tộc ít người ởTây Nguyên, nhìn chung theo đa thần giáo. Với tâm hồnthuần phác còn in đậm dấu ấn của tưduy con người thời nguyên thuỷ, họcho rằngcác vịthần linh, từcác vịthần lớn giữchức năng cai quản đến các vịthần nhỏ hơn cũng đều có tình cảm nhưcon người, cũng vui buồn, giận ghét, yêu thương...Cúng thần nhiều lễvật, và nhất là tấm lòng trung thành, thì sẽnhận lại sựgiúpđỡ, chởche, ủng hộ, bênh vực tương ứng.
Trong các thần (Yang) được tôn thờ,thì thần lúa được tôn trọng không kém thần nước, thần núi, thần cây. Do đó,nương rẫy là nơi thiêng liêng, hạt lúa sinh ra từnương rẫy là sản phẩm được cácthần ban phát đểnuôi sống con người.
Hằng năm, sau khi thu hoạch, người tatổchức lễăn cơm mới, vừa đểtạơn thần, vừa đểvui mừngchung hưởng kết quả của một quá trình lao động nhọc nhằn, vất vả. Tuy cách tổchức cùng vài nghithức tiến hành của từng tộc người có những nét khác nhau, nhưng đều mang chungmột ý nghĩa : tạơn thần sau khi kết thúc một chu kỳsản xuất chính củanăm.
Ởngười Mạ, lễmừng thu hoạch xong (Nhu R he) là lễhội lớn nhất của nămởtrong buôn, và thường kéo dài 7 ngày. Lễăn cơm mới của người Êđê (Hma Ngắt)cũng có ý nghĩa tương tựnhưlễcúng Mpan Bar của người M nông sau mùa lúa về kho không chỉđơn thuần là việc lao động cụthể, mà coi nhưmột cách "thu hồnlúa vềnhà", và "kho chứa lúa là nơi trú ngụcủa hồn lúa", một "chốn thiêngliêng trong gia đình". Cũng chỉtừsau lễcúng này, mọi kiêng kỵtrong thưhoạchmùa mới chấm dứt. Trong khi đó lễăn cốm mới (Samớk) của người Bana diễn ratrong 3 ngày, k hi bắt đầu thu hoạch, đểrồi tiếp đến có lễSơmắh Kek khi đi vàosuốt lúa đại trà, sau hết đến lễđóng cửa kho (Sơmăh Teng Amăng) khi gùi lúacuối cùng được vềkho.
Sốngười Bana theo đạo Thiên Chúa, tuy không cúng bái vẫn giết heo, gà, dê trong lễcúng cơm mới, còn những người Giarai theo đạo TinLành thì chỉbỏtục uống rượu, không cúng thần mà tạơn Chúa.
Giống nhưngườiKinh ăn tết Nguyên đán, ởcác dân tộc vùng Tây Nguyên sau mùa thu hoạch, cũngtrùng vào dịp cuối năm âm lịch, tổchức lễăn cơm mới. Có điều là cách tổchứckhông diễn ra đồng loạt, mà tuần tựhết nhà này sang nhà khác trong buôn làngtheo một trật tựđã thoảthuận trước. Việc tổchức lễăn mừng lớn hay nhỏlà tuỳ thuộc vào khảnăng thu hoạch nhiều hay ít của từng gia đình, và cũng tuỳtheo đómà thời gian có thểkéo dài một hay nhiều ngày. Đây cũng là dịp gia chủmời bàcon, họhàng, bạn bè các buôn lân cận cùng vui chơi, ăn uống. Nhà nào có đôngkhách coi nhưlà niềm vinh dự. Vì thế, ngoài việc cúng thần, hồn lúa và tổtiêncùng với việc cầu mong sức khoẻcho gia đình, người ta đánh cồng, chiêng, trống,vui chơi ca hát suốt nhiều ngày đêm liền.
Lễăn cơm mới của người Êđê diễn ranhưsau:
Khi lúa trên rẫy đã được gùi vềđổđầy các kho đểlúa (Sang mđiê), gia chủbắt tay vào việc tổchức lễcúng cơm mới. Lễkhông tổchức cho toàn buônmột lúc, mà lần lượt từng nhà. Phụnữlo việc bếp núc, nấu nướng. Đàn ông thì lorượu cần, chuẩn bịheo, gà đểgiết thịt, vào rừng chặt cây, đẽo cột gơng (cột để buộcché rượu cần trong lễ). Khách mời, họhàng từcác buôn xa gần được báo. Contrai lo chặt củi, con gái lo giã gạo; tiếng chày trong buôn vọng lên từsáng sớmđến lúc ông mặt trời đi ngủ. Đám trẻcon háo hức chơi đùa, hoặc vây quanh các bàgià đang soạn từcác gùi dliêng lớn những áo, váy, khốđẹp, những tấm chăn đen,đỏrực rỡdùng cho ngày lễ. Nếu gia chủlà trưởng tộc, thì họhàng trong buônphải mang thêm đồcúng đến đóng góp.
Mọi việc đã chuẩn bịđầy đủ. Cột gơng đãdựng, các ché rượu đã buộc vào dây, chiêng Ana, chiêng Sar đã treo lên xà nhà. Nước từsuối đã đem vềđổđầy các nồi năm, nồi mười. Heo đã mổ, gà đã thui, cáclễvật đã bày ra ởsàn nhà.
Thầy cúng trong bộlễphục chỉnh tềbước ra, hútrượu cần vào một cái bát hoà với tiết heo, trân trọng mờinữchủnhân (cao tuổinhất) ngồi trước mâm, chân đặt lên lưỡi rìu nhận lễ. Tiếng chiêng với nhịp điệuvừa trầm hùng, vừa náo nức nổi lên. Thầy cúng đọc lời khấn nguyện tỏlòng biếtơn các thần:
"ƠYang phía đông, ƠYang phía tây, ƠYang mây, Yang đất, Yang mưa, Yang núi... Nay lúa dã suốt về, heo đực đã mổ, rượu đã đầy ché... Xin mờicác Yang hãy cầm cần rượu, ăn miếng thịt heo, bát cơm mới đầu mùa. Mong Yang chomùa sau lúa ngoài rẫy sai bông, mẩy hạt, đến kỳthu hoạch đầy gùi, ngậpkho..."
Khấn xong, thầy đi vẩy rượu chúc phúc nơi bếp lửa, dàn chiêng, cầuthang, kho lúa. Tiếp theo phần nghi lễ, bắt đầu cuộc tiệc vui. Ông bà, cha mẹ trong buôn, khách khứa xa gần, bạn bè ăn uống no say, tựnhiên, thoảimái.
Người nữchủnhà được mời vít cần rượu đầu tiên, rồi lần lượt người già,người trẻ, trong họtrước, trong buôn sau... Mọi người vừa ăn uống, vừa vuichơi, ca hát cho đến khi ai không thích nữa thì về. Người ởlại được mời nối taytrên cần rượu, nghe chiêng, nghe hát Aday (một loại dân ca trữtình) giãi bày tâm sự. Khách đến dựlễcòn được gia chủtrao tay mỗi người một gói nhỏthức ănkhi ra về, nhưđểcùng chia đều sựmay mắn cho mọi bếp.
Vềkhuya, một ông giàtừng trải và giỏi giang, được mời kểKhan-khúc tráng ca truyền thống của ngườiÊđê. Cảngười kểvà người nghe nhưchìm đắm trong không khí cổxưa của những bảnanh hùng ca trác tuyệt với hình ảnh những dũng sĩnhưĐăm San, Đăm Di, mà nhữngchiến công của họmãi mãi là niềm tựhào của bộtộc. Giọng kểcủa nghệnhân khitrầm hùng nhưdòng sông chảy bênvách núi, lúc dồn dập, ồạt nhưbăng qua thácghềnh hiểm trởkhi thầm thì nhưgió thoảng, lúc nhẹnhàng nhưtiếng lá rơi giữarừng khuya.
Cứthế, lễăn cơm mới kéo dài từnhà này sang nhà khác, suốttháng chạp sang tháng giêng. Lễăn cơm mới của người Êđêmang đậm nét dấu ấn củatục "ăn năm, uống tháng", nhàn hạtrong không khí mùa xuân núi rừng. Họvui saythoảthích, ca hát thâu đêm, đểrồi sau đó lại hăng hái chuẩn bịcho mùa trồngtỉa mới với nhiều hy vọng mới.

9.      Hội đua voi

Với đồng bào các tộc dọc theo dãy Trường Sơn, voi là vật quý hiếm nhất, là hiện thân của sức mạnh và sự giàu có của mỗi gia đình, mỗi buôn làng. Từ một giống vật hoang dã, khi được bắt về và thuần dưỡng, voi trở thành người bạn thân thiết với con người trong đời sống hàng ngày: vận chuyển, đi lại, làm rẫy, kéo gỗ, làm thuỷ lợi...
Voi là loài vật có thân hình to lớn, nhưng cũng là con vật thông minh và giàu tình nghĩa nhất trong quần thể động vật hoang dã. Sử sách xưa đã từng ghi lại nhiều mẩu chuyện về đức tính này của voi đối với người. Chuyện hai voi chiến của hai bà Trưng đã rủ nhau về bên đông Hát, nơi hai bà tự tử, rồi nhịn ăn cho đến chết. Đền thờ Voi Phục (Hà Nội) là nơi ghi lại sự tích này. Cảm động biết bao khi giữa pháp trường, con voi không chịu dày nữ tưởng Bùi Thị Xuân - người chủ của mình - đã bị Gia Long khép vào tội hình. Bà phải gọi nó, vỗ về: "Mi hãy giết ta, nếu không mi sẽ chết oan, ta tha tội cho mi". Con voi chiến cúi đầu, cong vòi, bái bà ba cái, nước mắt ràn rụa, rồi dùng vòi quấn bà tung lên cao, đưa cạp ngà nhọn đón chủ, để bà chỉ đau một lần khi chết. Sau đó, voi tìm cách phá xích chạy vào rừng sâu. Chuyện những con voi chiến trong mũi tiến công đánh đồn Ngọc Hồi của quân Tây Sơn dưới sự chủ huy của đô đốc Đặng Tiến Đông năm Ất Dậu (1789); chuyện con voi già của vua Hàm Nghi phá xích chạy vào rừng nhịn ăn cho đến chết, khi vua bị bắt v.v... là những hình ảnh đẹp về lòng trung nghĩa của con vật này.
Nhìn chung trong cả nước, voi tập trung nhiều nhất ở tỉnh Đắc Lắc (hơn 400 con voi nhà), trong đó huyện Ea Súp có đàn voi đông nhất. Bản Đôn là nơi quy tụ nhiều tộc người M nông, Êđê, Lào... không những nổi tiếng với đàn voi nhà hàng trăm con, mà còn là xử sở của nghề săn bắt và nuôi dạy voi từ lâu đời. Săn bắt voi là một nghề vô cùng lý thú, nhưng đầy gian lao nguy hiểm, đòi hỏi sự thông minh, lòng dũng cảm tuyệt vời và sự phản ứng nhanh nhạy của nghề thợ săn trong mọi tình huống.
Hội đua voi thường diễn ra vào mùa xuân, cụ thể hơn vào dịp tháng ba âm lịch, đó là tháng đẹp nhất trong năm ở đây: trời nắng dịu, đất rừng khô ráo, dọc bên các bờ sông, bờ suối, các loại hoa rừng đua nhau khoe sắc, trắng, vàng, tím, hồng... Người Tây Nguyên thường ví von đó là mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông uống nước; mùa em đi phát rẫy làm nương; anh vào rừng đặt bẫy gài chông.
Để chuẩn bị cho ngày hội, từ vài tháng trước đó, những chàng trai trong buôn cũng như những mơgát (người quản tượng) đưa voi đến những cụm rừng có nhiều cây cỏ làm thức ăn cho voi để chúng được ăn uống no nê. Họ còn bồi dưỡng thêm chuối chín, đu đủ chín, mía cây, bắp ngô, khoai lang, cám gạo và hầu như không bắt voi phải làm những việc nặng nhọc để giữ sức.
Đến ngày hội, những đàn voi từ các buôn làng xa gần nườm nượp kéo về buôn Đôn, tập trung ở một số bãi, hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốc. Cùng với những đàn voi, dân chúng khắp nơi đổ về dự hội với những bộ áo quần màu sắc rực rỡ.
Bãi đua là một dải đất tương đối bằng phẳng (thường là khu rừng bằng, ít cây to) bề ngang đủ để 10 con voi giăng hàng đi một lúc, bề dài từ một đến hai kilômét.
Một hồi tù và rúc lên, đàn voi dưới sự điều khiển của những chàng mơgát lần lượt tiến vào khoảng đất bằng, dàn thành hàng ngang ngay ngắn. Nhiều con rống vang, như để báo hiệu rằng chúng sắp bước vào một cuộc thi tài quan trọng. Theo lệnh điều khiển, từng tốp voi đi vào đứng ở tuyến xuất phát. Con đầu đàn bước lên phía trước, trong tư thế uy nghi, hai chân trước đứng thẳng, ngẩng cao, quay cái vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả hai bên, xong lại lùi vào vị trí cũ. Tiếng hoan hô cùng những tràng vỗ tay cổ vũ vang dậy, trong khi tiếng chiêng, tiếng trống dóng lên từng hồi rộn rã như thúc, như giục. Không khí trường đua lúc này lặng im, căng thẳng, mọi người hồi hộp chờ đợi. Trên mỗi con voi có hai chàng mơgát dũng mãnh, trong bộ trang phục sặc sỡ kiểu tướng lĩnh ngày xưa đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Một tiếng tù và rúc to báo lệnh xuất phát.
Những chiếc chân voi to như cây cột nhà, thường ngày nhấc lên từng bước ung dung, uể oải, thẳng tuột, đột nhiên bật lên như những chiếc lò xo phóng về phía trước trong tiếng hò reo, la hét của khán giả cùng tiếng chiêng, tiếng trống âm vang cả núi rừng. Chàng mơgát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, ngẩng đầu quan sát và điều khiển voi bằng một thanh sắt nhọn dài độ một mét gọi là kreo (tiếng M nông là gậy điều khiển) dùng để đâm mạnh vào da, thúc voi tăng tốc độ, còn anh chàng mơgát thứ hai ngồi ở phía sau thì dùng chiếc búa gỗ kốc nện mạnh vào mông voi để voi chạy nhanh và thẳng đường. Trên đường đua, bụi đất, lá cây khô bốc lên, tiếng gió rít, tiếng cành lá bị va quật xen lẫn với tiếng rậm rịch của những bước chân voi...
Khi bóng dáng chàng mơgát ngồi trên lưng chú voi đi đầu vừa xuất hiện từ xa trong vòng quay trở về đích, thì tiếng reo hò của khán giả vang lên như sấm. Tiếng trống, tiếng chiêng giục giã liên hồi. Tiếp theo là tiếng hoan hô những người thắng cuộc. Những chú voi được giải, giơ cao chiếc vòi vẫy chào mọi người, rồi ngoan ngoãn bước đi ung dung, đôi tai phe phẩy, mắt lim dim đưa vòi nhận những khúc mía màu tím hay ống đường của bà con các nơi mang đến ủng hộ.
Cuộc đua voi kết thúc, những chú voi dự thi lần lượt trở lại các buôn làng xa xôi, mang theo tiếng hát, lời ca và không khí rộn ràng của ngày hội, khi về buôn làng, lại một lần nữa được dân chúng kéo nhau ra tận đầu buôn để hân hoắm chào đón, thưởng quà như những người chiến thắng. Thường thường những con voi thắng cuộc vẫn thuộc về buôn Đôn, một buôn của người M nông có nhiều voi nhất và có truyền thống chăm sóc, huấn luyện voi giỏi nhất trong vùng.
Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nó phản ánh tinh thần thượng võ của người M nông, một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, đã từng quen với tốc độ, từng đối diện với bao tình huống hiểm nguy căng thẳng trong những cuộc săn bắt voi rừng. Chính cái khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên - nơi diễn ra cuộc đua đặc sắc - đã làm tăng lên bội phần chất hùng tráng của ngày hội cổ truyền của họ.

10.  Đến Hội An nhớ xem hội bài chòi

Khi đã hiểu luật chơi, dường như ai cũng muốn ít nhất được một lần thử khám phá tên gọi các quân cờ. Hay chí ít, khi đến với hội bài chòi, ai ai cũng đều được thưởng thức những làn điệu dân ca vừa như quen, vừa như lạ qua tiếng hát của người hô. Ra về, những câu hát sẽ như còn đọng lại mãi, quyến luyến, khó quên...
Cảnh tượng nơi đây thật lạ, có ca sĩ, nhạc sĩ, có diễn viên, có sân khấu hẳn hoi, nhưng khán giả thì chẳng hề ngồi không thưởng thức như thường thấy. Trên sân khấu, lũ trẻ tha hồ... chạy nhảy, chơi đùa. Đám đông xung quanh không chỉ lắng nghe từng câu hát, mà chốc chốc lại thấy reo lên với những chiếc thẻ gỗ trên tay để rồi hớn hở đón nhận những chiếc cờ vàng từ tay các "anh thị vệ" của đoàn diễn. Những cụ già thì dường như lại như chỉ biết đến lời ca và ngồi gõ nhịp phách say sưa cùng tiếng trống...
Phố cổ Hội An nhỏ lắm và cũng yên tĩnh lắm. Vọng đến tai hầu như chỉ thấy có tiếng cười, tiếng nói của những người khách du lịch. Vậy mà bỗng dưng đêm nay, nơi cuối con phố lại bỗng rộn ràng những âm thanh của lời ca, tiếng trống hoà trong giai điệu lả lướt của chiếc đàn nhị. Tò mò tìm tới... Dường như toàn bộ cư dân của khu phố cổ đang tập trung tại sân chơi cũng nho nhỏ và ngập đầy sắc màu vàng xuộm hắt ra từ những chiếc đèn "măng - xông hiện đại" này. Tách một em gái nhỏ ra khỏi dòng chảy sôi động của cuộc vui, chúng tôi được biết, đây là đêm hội bài chòi thường được tổ chức vào tối thứ bảy hàng tuần tại khu phố cổ Hội An.
Một sân chơi đầy lý thú
Đêm hội bài chòi hiện nay đã trở thành một sân chơi quen thuộc của người dân Hội An. Cứ vào tối các ngày thứ bảy, mọi người lại tụ tập về khoảng sân giữa phố Hội và sông Hoài (hay còn gọi là sông Bạch Đằng) để được có những giờ phút thư giãn một cách đầy hứng khởi cho kỳ nghỉ cuối tuần. Chính sân chơi này đã đem lại chút không khí sôi nổi giúp khu phố cổ thêm phần sinh động mà vẫn không hề làm mất đi vẻ đẹp yên bình rất đặc trưng của Hội An. Vì rằng, đêm hội bài chòi vừa mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống hiện đại, vừa chứa đựng vẻ dịu dàng, duyên dáng của một nét văn hoá truyền thống đầy ý nghĩa.
Không ai biết chính xác hội bài chòi xuất hiện vào thời điểm nào. Tuy nhiên, từ khoảng 300 - 400 năm trước đây, loại hình vui chơi này đã được tổ chức thường xuyên ở các tỉnh Thừa Thiên - Huế vào những dịp lễ hội ngày xuân. Sau đó, bởi nhiều lý do nên hội bài chòi không còn phổ biến được như trước, thậm chí là đứng trước nguy cơ "thất truyền". Cho đến khi khu phố cổ Hội An được tổ chức UNESSCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, Trung tâm văn hoá thể thao Hội An đã quyết định khôi phục lại sân chơi văn hoá này tại đây, vừa để bảo tồn, vừa để quảng bá một nét văn hoá đặc sắc của dân tộc tới khách du lịch cả trong và ngoài nước.
Có thể hiểu một cách nôm na rằng hội bài chòi là sân chơi của những ván cờ. Mỗi ván gồm có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi "nhà cái" phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh "hiệu" (người hô) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ... Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên liên tục, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc... Nhiều người có thể cho rằng hình thức vui chơi này có vẻ dễ dàng và đơn giản, dựa vào sự may rủi là chính, chẳng khác chơi... xổ số lô tô. Nhưng thực ra, ý nghĩa và cách thức chơi hội bài chòi không hẳn vậy. Và thực tế, đây là một hoạt động văn hoá đáng được tôn trọng và giữ gìn.
Điều gửi gắm sau những cuộc vui
Thuở ban đầu, luật chơi hội bài chòi khá nghiêm khắc. Tên quân cờ sẽ không được nhắc đến trực tiếp trong mỗi câu hát mà người nghe sẽ phải tự suy đoán lấy. Ví dụ, nếu tên quân cờ là chữ "nghèo", người hô sẽ hát một số câu có nội dung nói về chữ nghèo, người nghe tự suy luận ra và giơ thẻ của mình lên để nhận cờ vàng. Người nào không đoán được sẽ mất cơ hội được nhận phần thưởng.
Tuy nhiên, nhiều người hiện giờ chưa theo được luật chơi này, bởi vậy, nhiều khi người hô đã sử dụng các câu hát gọi trực tiếp tên quân cờ để người chơi dễ theo dõi. Dù đã có đôi chút biến đổi song hội bài chòi vẫn giữ được đặc thù riêng của mình: là một loại hình sinh hoạt văn hoá lý thú và bổ ích. Có thể khẳng định như vậy là bởi nội dung các câu hát sử dụng trong hội bài chòi đều mang ý nghĩa nhân văn và có tính giáo dục cao (nét khác biệt căn bản để có thể phân biệt hội bài chòi với các trò... cờ bạc khác). Các câu hát được sử dụng ở đây thường nói về tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi tình phụ mẫu, tình phu thê, đề cao những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của con người, phê phán những tệ nạn xã hội, những tập tục lỗi thời, lạc hậu... Vì vậy, hình thức vui chơi này không chỉ có ý nghĩa giải trí đơn thuần. Đồng thời, còn có thể coi hội bài chòi chính là một sân khấu trình diễn của làn điệu dân ca đặc trưng khu Nam (Nam Trung Bộ).
Phần thưởng dành cho người thắng cuộc trong hội bài chòi thực ra không lớn và không mang giá trị vật chất. Thông thường, cuối mỗi cuộc vui, người thắng cuộc sẽ được nhận một chiếc đèn lồng, "đặc sản" của Hội An. Song, điều quan trọng nhất đối với người chơi hiện nay không phải ở những món quà ấy mà ở chỗ họ đã có được một sân chơi văn hoá sôi nổi và đặc biệt lôi cuốn.

Nếu hát bội được tổ chức hát vào ban đêm, địa điểm thường ở đình chùa, thì Bài Chòi lại tổ chức vào ban ngày, thường là mượn địa điểm nơi chợ trong những ngày chợ nghỉ bán.
Đó là theo truyền thống xưa còn nay du khách có thể thưởng thức Bài Chòi một cách thường xuyên tại bùng binh An Hội ở đầu đường Nguyễn Thái Học (khu phố cổ Hội An) vào các ngày thứ 2,4,7 trong tuần từ 15h-16h30 và từ 21h-23h. Hay lễ Hội đêm rằm phố cổ vào đêm 14 AL hằng tháng tại Hội An từ 19h-21h30.

11.  Lễhội giỗtổngành thêu ởĐà Lạt

Hằng năm cứ vào ngày 12/6 AL (nhằm vào tháng 7), tất cả các nghệ nhân, nghệ sĩ ngành thêu cả nước và trên thế giới đều đổ về Đà Lạt (XQ - Sử quán) để tham gia lễ giỗ tổ của ngành thêu.
Năm nay lễ hội giỗ tổ ngành thêu được thực hiện qui mô hơn. UBND thành phố Đà Lạt coi chương trình này như một trong những chương trình khởi đầu cho lễ hội Festival Hoa sẽ được khai mạc vào tháng 12. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày. Ngày thứ nhất là những nghi thức về “Hội hành hương” diễn ra ở XQ –Sử quán.
Trong đó có các lễ rước như “Buộc chỉ ước nguyện nghề thêu”; “Làm nguôi giận các vị thần linh” và các chương trình khác như “Thời trang của người thợ thêu”; “Đêm nhạc Guitar tưởng nhớ về cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn”…
Lễ “Buộc chỉ ước nguyện ngành thêu” được tổ chức tại đền Ước nguyện XQ – Sử quán với ý nghĩa nói lên tâm nguyện của người thợ thêu ước muốn xóa bỏ những điều ác độc, mong những điều hạnh phúc phồn vinh sẽ đến với cuộc sống
Tham gia những lễ hội này, mọi người sẽ được nghe về câu chuyện của những người thợ thêu ngày xưa ở Đà Lạt. Ngày xưa trên một bình nguyên, chim muông và các loài vật có thể trò chuyện với nhau và cùng được quản lý bởi hai vị thần linh, đó là thần sống và thần chết.
Hai vị cho con người lên sinh sống và xây dựng vùng đất này. Ban đầu họ yêu thương, đoàn kết và chung tay xây dựng cuộc sống. Nhưng theo thời gian, những tính cách kiêu ngạo, ganh tỵ đã khiến họ trở nên độc ác. Hai vị thần liền xuống trần và đem theo những sợi dây để buộc vào tay con người và muốn họ phải cam kết xóa bỏ những tật xấu, sống là phải yêu thương nhau…Mỗi một lễ rước là một truyền thuyết xưa, đưa con người trở về cõi tĩnh lặng và huyền ảo.
Tối thứ bảy (ngày thứ 2 của lễ hội) là hội thi “Người đẹp ngành thêu”; “Đêm ẩm thực” và chương trình thời trang qua các bộ sưu tập “Hành trình chiếc lá rơi”; “Nắng thủy tinh”…Tất cả chương trình này đều được 150 nghệ sĩ của XQ trình diễn trên phố đi bộ tại Tp. Đà Lạt, qua các con đường Phan Bội Châu, Lê Đại Hành và Nguyễn Thị Minh Khai. “Du khách có thể tham gia các chương trình ảo thuật đường phố vào đêm 16/7/2005”.
“Ta cúi xuống nhặt dấu chân trên cỏ; Thấy tiền thân sương ướt áo chưa khô” những lời dẫn dắt bắt đầu cho chương trình “Vũ khúc dâng trà”. Các nghệ nhân pha trà sẽ thuyết minh về các loại trà: từ trà Hành Thâm, Tâm Vọng đến U Hương .v.v trong tất cả những tên gọi ấy đều chứa đựng một ý nghĩa sâu sắc về tình tri kỷ tri âm, về hành trình tìm kiếm quê hương trong hoài niệm. “Nghi thức pha trà” giới thiệu bàn trà “Tri kỷ không về, ta với ta” chắc chắn sẽ là điểm nhấn thu hút nhiều người tham gia.
Lâu nay, Tp. Đà Lạt vẫn luôn được coi là điểm du lịch hấp dẫn khách thập phương bởi những thắng cảnh tham quan lãng mạn như thác Damb’ri, Thung lũng tình yêu, thác Prenn, Pongour cũng như vườn hoa thành phố nhưng chắn rằng trong những ngày kết hợp lễ hội giỗ tổ ngành thêu, được hòa mình vào những lễ rước trên đường phố Đà Lạt, có lẽ ai cũng sẽ cảm thấy thật tuyệt vời.

12.  Lễ"Pa Sưm" của người KhơMú

Người Khơ Mú ở Nghệ An thường làm lễ Pa Sưm trước lúc tra hạt trên nương rẫy. Đây là lễ cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu.
Chủ lễ là người phụ nữ trong nhà. Bà đóng vai Mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở. Trước tiên, Mẹ lúa dọn một khoảnh đất khoảng 2m2, đủ để đặt mâm làm lễ cúng ở một chỗ tương đối bằng phẳng trên rẫy, gọi là Mắt rúc. Mẹ lúa đặt mâm cúng vào giữa Mắt rúc, trong mâm ngoài xôi, rượu, muối nhất thiết phải có một con gà luộc và con gà này phải là gà trống lông đen. Mẹ lúa trong trang phục cổ truyền chỉnh tề, trước mâm lễ đọc bài cúng, nội dung cầu khấn Hrôi Yvang (Thần Ông trời) làm cho mưa thuận gió hòa, Hrôi Ptê (Thần Đất), Hrôi Hrê (Thần Nương rẫy) làm cho hạt giống mau nẩy mầm, lên xanh tốt, bông to, hạt mẩy, muông thú không phá hoại.
Mẹ lúa làm lễ xong, mọi người bắt tay vào tra hạt. Tra hạt xong Mẹ lúa làm lễ tưới nước, kết thúc lễ Pa Sưm. Vào buổi chiều tối ngày tra hạt xong, Mẹ lúa bảo mọi người lấy nước rửa tay, rửa gậy chọc lỗ cho sạch, đứng trước chòi lúa. Sau đó, Mẹ lúa cầm ống nước đi vòng quanh chòi lúa, tưới nước ra xung quanh, vừa làm vừa khấn: "Tưới cho cây lúa mọc, cho cây lúa nẩy mầm, cho hạt chắc bông dài, gốc lúa bằng gốc lau, bông lúa dài bằng quả núc nác…". Mẹ lúa khấn xong mọi người vào chòi ăn cơm, uống rượu, kết thúc công việc tra hạt.
Lễ Pa Sưm là một lễ trong hệ thống các lễ tục nông nghiệp của người Khơ Mú. Nó phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên (trời, đất, nương rẫy…) có linh hồn, phản ánh ước muốn của họ về mùa màng bội thu, cuộc sống đầy đủ.
Người Khơ Mú ở Nghệ An thường làm lễ Pa Sưm trước lúc tra hạt trên nương rẫy. Đây là lễ cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu.
Chủ lễ là người phụ nữ trong nhà. Bà đóng vai Mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở. Trước tiên, Mẹ lúa dọn một khoảnh đất khoảng 2m2, đủ để đặt mâm làm lễ cúng ở một chỗ tương đối bằng phẳng trên rẫy, gọi là Mắt rúc. Mẹ lúa đặt mâm cúng vào giữa Mắt rúc, trong mâm ngoài xôi, rượu, muối nhất thiết phải có một con gà luộc và con gà này phải là gà trống lông đen. Mẹ lúa trong trang phục cổ truyền chỉnh tề, trước mâm lễ đọc bài cúng, nội dung cầu khấn Hrôi Yvang (Thần Ông trời) làm cho mưa thuận gió hòa, Hrôi Ptê (Thần Đất), Hrôi Hrê (Thần Nương rẫy) làm cho hạt giống mau nẩy mầm, lên xanh tốt, bông to, hạt mẩy, muông thú không phá hoại.
Mẹ lúa làm lễ xong, mọi người bắt tay vào tra hạt. Tra hạt xong Mẹ lúa làm lễ tưới nước, kết thúc lễ Pa Sưm. Vào buổi chiều tối ngày tra hạt xong, Mẹ lúa bảo mọi người lấy nước rửa tay, rửa gậy chọc lỗ cho sạch, đứng trước chòi lúa. Sau đó, Mẹ lúa cầm ống nước đi vòng quanh chòi lúa, tưới nước ra xung quanh, vừa làm vừa khấn: "Tưới cho cây lúa mọc, cho cây lúa nẩy mầm, cho hạt chắc bông dài, gốc lúa bằng gốc lau, bông lúa dài bằng quả núc nác…". Mẹ lúa khấn xong mọi người vào chòi ăn cơm, uống rượu, kết thúc công việc tra hạt.
Lễ Pa Sưm là một lễ trong hệ thống các lễ tục nông nghiệp của người Khơ Mú. Nó phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên (trời, đất, nương rẫy…) có linh hồn, phản ánh ước muốn của họ về mùa màng bội thu, cuộc sống đầy đủ.

13.  Lễ hội nghinh ông -bình thuận

Đây là lễ hội truyền thống tiêu biểu cho phong tục tập quán và tín ngưỡng của Người Hoa ở Phan thiết, với ước mong cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa cho một cuộc sống thanh bình, mọi người trong xã hội được ấm no hạnh phúc.
Nơi thường diễn ra các họat động chính của Lễ hội là Chùa Ông hay còn gọi là chùa Quang Đế Miếu, tọa lạc tại phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết. Đây là ngồi chùa cổ và quy mô khá lớn của cộng đồng người Hoa ở Bình Thuận. Chùa được xây dựng từ năm 1770, khởi nguyên là mội ngôi miếu lớn thờ Quan Công. Ngôi chùa hiện nay nằm trong một khuôn viên khá rộng, có lối kiến trúc và trang trí nghệ thuật đặc trưng của người Hoa. Các dãy nhà được xây dựng nối tiếp nhau tạo thành hình chữ kim, các vì kèo được chạm khắc tinh vi; ở các cột chính đều có các câu đối sơn son thiếp vàng rực rỡ. Ngay gian chính diện là tượng Quan Công bằng gỗ đặt trang trọng trên bệ thờ, chung quanh là hàng chục pho tượng cổ khác. Bên trong chùa hiện vẫn còn lưu giữ nhiều chiếc chuông cổ có giá trị.
Lễ hội được tổ chức với nhiều họat động như :Lễ Thỉnh Kiệu Bà Thiên Hậu, Lễ Thỉnh nước, Lễ Thỉnh Kinh, Lễ Thỉnh Kiệu thần Chiêu Ứng Công, Lễ Yết Quan Thánh, cáo Tiền Hiền, Lễ Chiêu vong linh Tiền Hiền.Các Đoàn làm lễ gồm: Hội Quán Triều Châu, Hội Quán Hải Nam,
Đoàn Rồng Thanh Long Quan Đế Miếu; Lễ phóng sanh; Cúng ngọ; cúng thí thực; Thả thuyền ( cửa biển Phan Thiết ) và Lễ Hoàn mãn.


Lễ hội đường phố thỉnh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du qua các đường phố Thành phố Phan Thiết.
Bắt đầu từ 5h00 sáng Đoàn thỉnh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du gồm 900 người là thành viên các Hội Quán với băng rol mã lộ, băng rol đại kỳ, lồng đèn, bàn hương án, đoàn nhạc cổ, đoàn Bát Tiên đi cà kheo, đội thiếu nhi - thiếu nữ gánh hoa, múa hoa, múa Thái cực kiếm, đội múa đèn, đội múa quạt, xe hoa Đồng tử bái Quan âm, đội Tam Tạng Thỉnh kinh, đội Phước Lộc Thọ, Thần tài, Bao công xử án, đoàn Lân Sư Rồng cung đình, đội mang Bát Bửu, Kiệu Chiêu Ứng Công, kiệu Bà Chúa Sanh Nương Nương, kiệu Thiên Hậu Thánh Mẫu, ngai Phước Đức Chánh Thần, Quan Bình cuỡi ngựa, Châu Xương, lính hầu, người cầm trống, người dắt ngựa, kiệu Quan Thánh, Đoàn rồng Thanh Long…

14.  Lễ hội Dinh Thầy - Thím Bình Thuận

Lễ hội dinh Thầy Thím thị xã La Gi (Bình Thuận) là một lễ hội văn hóa độc đáo và đầy sắc màu tín ngưỡng dân gian. Hàng năm lễ hội không chỉ trở thành nét văn hóa truyền thống của riêng người dân địa phương mà còn thu hút hàng trăm nghìn lượt du khách khắp nơi về xin lộc ơn phước của thầy.
Theo sự tích, Thầy Thím quê gốc ở Điện Bàn (Quảng Nam), đức tài vẹn toàn. Dưới thời vua Gia Long, gia đình Thầy bị kết tội tử hình oan. Trước giờ thi hành án, thầy được vua ban một tấm lụa đào để múa từ biệt vua.
Theo truyền thuyết, tấm lụa quấn lấy Thầy Thím và đưa vợ chồng thầy bay vào phương nam. Đến ngảnh Tam Tân (xã Tân Tiến, thị xã La Gi, Bình Thuận ngày nay), Thầy Thím cải trang thành một dân thường, từ đó thầy giúp đỡ dân nghèo ở đây bằng cách bốc thuốc chữa bệnh; đóng ghe thuyền giúp ngư dân; khẩn khai đồng ruộng.
Những năm sau ngày Thầy Thím mất, cứ mùng 5 tháng Giêng lại có hai con hổ về mộ thầy thăm, rồi lại buồn bã ra đi. Biết ơn công lao Thầy Thím, dân làng đã lập đền thờ thầy và thờ cả hai con hổ. Nghe tiếng lành đồn xa, năm 1906 (đời vua Thành Thái thứ 18) vua đã hủy bỏ bản án oan trước đây của thầy và phong cho thầy sắc phong "Chí đức Tiên sinh, chí đức Nương Nương Tôn thần".
Dinh Thầy Thím ban đầu được tạo dựng bằng tranh lá đơn sơ; về sau, khi đời sống ổn định, nhân dân đã đóng góp thêm để tôn tạo và nâng cấp dinh Thầy Thím: lần tôn tạo lớn nhất diễn ra vào khoảng tháng 12/1879; đến nay, dù đã thêm nhiều lần tôn tạo, trùng tu nữa nhưng dinh Thầy Thím hiện nay vẫn giữ được những nét kiến trúc theo nghệ thuật chạm khắc, trang trí nội ngoại thất theo cung cách nghệ thuật cung đình; các tượng thần linh được bố trí hài hòa xung quanh dinh như ngày xưa. Chính những nét kiến trúc độc đáo này cùng với những nghi lễ đầy màu sắc văn hóa vùng biển của hai ngày lễ lớn là Tảo Mộ (mồng 5 tháng giêng âm lịch) và Tế Thu vào rằm tháng 9 âm lịch, dinh Thầy-Thím đã được bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử -văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 27/9/1997.

15.  Lễ hội chém trâu tế thần của người Chăm Lạc Tánh

Nếu như lễ hội đâm trâu là một nét văn hóa đặc trưng mang tính phổ biến của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, thì đối với người Chăm nghi lễ chém trâu tế thần rất hiếm khi diễn ra. Có thể nói lễ chém trâu được coi là một phong tục độc đáo mang tính riêng biệt của cộng đồng người Chăm Lạc Tánh.
Lễ chém trâu tế thần được tổ chức vào tháng 4 Chăm lịch để dâng cúng cho Pô Rum Păn và các vị thần linh. Khác với người Chăm ở các địa phương khác phải đúng chu kỳ 7 năm một lần họ mới tổ chức lễ chém trâu để dâng cúng thần linh. Như lễ tế 1 con trâu trắng tại núi Đá Trắng của người Chăm Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận. Người Chăm ở Lạc Tánh năm nào cũng tế một con trâu cho thần linh tại đền Pô Rum Păn. Người Chăm Lạc Tánh quan niệm rằng cuộc sống và mùa màng của dân làng hoàn toàn phụ thuộc vào ngài, do đó phải dâng tế trâu cho ngài để ngài vui và phù hộ, ngược lại ngài sẽ giận dữ và quở trách. Theo họ, sau một năm làm ăn dù mùa màng có bội thu hay thất vụ thì dân làng cũng phải hiến tế cho ngài một con trâu để tạ lễ.
Lễ chém trâu (Săm lé) diễn ra vào tháng tư Chăm lịch trong thời gian một đêm một ngày. Ngay từ chiều hôm trước dân làng tiến hành đưa con trâu tế thần đến buộc tại đền thờ. Theo tập tục thì con trâu tế thần phải là trâu đực lành lặn không bị thương tật, tốt nhất là trâu trong khoảng từ 3-5 tuổi.
Chiều tối hôm đó, các chức sắc trong làng họp mặt đông đủ tại đền thờ Pô Rum Păn để làm nghi thức khấn báo các vị thần xin phép làm lễ chém trâu vào sáng hôm sau.
Sáng hôm sau khung cảnh đền thờ đông vui nhộn nhịp, dân làng tập trung đông đúc về đền để chứng kiến lễ chém trâu tế thần. Theo tập tục sáng sớm hôm đó các chức sắc có vai vế đến gia đình người giữ thanh kiếm báu làm nghi thức xin thỉnh rước thanh kiếm về đền để thực hiện nghi lễ chém trâu. Khi kết thúc nghi lễ chém trâu, các vị chức sắc đưa kiếm trở lại nhà người giữ kiếm và phải thực hiện nghi lễ như lúc xin thỉnh rước kiếm đi.
Trước khi thực hiện nghi lễ chém trâu, thầy Bóng chính (Ka-Ing) và hai thầy Bóng phụ làm nghi thức khấn báo, mời gọi Pô Rum Păn và 11 vị thần khác gồm: Pô Sah Inư, Pô Klong Ga Rai, Pô Nít, Pô Ôn... và các chức sắc đã khuất về hưởng lễ và cho phép dân làng được chém trâu tế thần. Lễ vật trong nghi thức này gồm có nước, rượu, trà, trầu cau, trứng và 3 thúng gạo. Số gạo lễ trên sau đó sẽ được nấu thành cơm cùng với các món thịt trâu đã nấu chín để cúng tế thần một lần nữa. Những lễ vật này mang đặc trưng lễ nghi nông nghiệp truyền thống của một cư dân có nền văn minh lúa nước.
Thực hiện xong nghi thức khấn báo, mời gọi 12 vị thần, thầy Bóng chính và 2 thầy Bóng phụ cùng choàng khăn đỏ vào cổ, riêng thầy Bóng chính choàng thêm lên đầu một chiếc khăn đỏ. Thầy Bóng chính lấy thanh kiếm báu tuốt vỏ ra, dùng khăn vuốt dọc lưỡi kiếm, hai tay vác kiếm mũi hướng lên trời, cả ba thầy Bóng theo trình tự: đi đầu là thầy Bóng chính, theo sau là hai thầy Bóng phụ và hai thầy trò ông Săm lé (người chém trâu) từ từ đi qua cửa chính và cổng chính của đền, tiến về con trâu đã buộc sẵn bốn chân và miệng ngay phía trước cổng đền. Con trâu được đặt nằm nghiêng, mặt và bụng quay về cửa đền, lưng quay về phía mặt trời mọc, cổ trâu đặt trên một lỗ đào sẵn sâu 40cm, đường kính 45cm. Trước khi thực hiện nghi thức chém trâu, thầy Bóng chính vác kiếm đi đầu, phía sau là hai thầy Bóng phụ và hai thầy trò ông Săm lé cùng đi ba vòng theo chiều kim đồng hồ quanh con trâu, cứ mỗi vòng thầy Bóng chính dùng đầu ngón bàn chân phải làm phép vẽ bùa xuống đất (2 lần dưới 4 chân trâu và 1 lần chỗ đuôi trâu) để mời gọi 3 vị thần về giữ trâu (1 vị giữ 2 chân trước, 1 vị giữ 2 chân sau và 1 vị giữ đuôi trâu). Kế đó ông lấy đất vẽ bùa làm phép trên cổ trâu, lấy nước rửa sạch cổ trâu 3 lần và kê miệng sát vào tai trâu cầu khấn: Mày sẽ lên thiêng đàng, mày không có tội lỗi gì, mày là vật dân làng hiến tế cho thần linh, hãy mang những ước nguyện của dân làng đến với thần linh... Khấn xong ông lấy thanh kiếm có kẹp một chùm lá làm động tác chém tượng trưng lên cổ trâu, sau đó thanh kiếm được trao lại cho ông Săm lé. Ông Săm lé kề miệng sát vào tai trâu đọc câu thần chú: Cầu cho linh hồn mày được về cõi trên, nơi đó có nhiều cỏ để ăn và nước để uống cho mày béo mập, thịt trâu xin dâng lên cho Pô Rum Păn và các vị thần hưởng, xương trâu giao cho thần đất, cát; lông trâu giao cho thần lửa; máu trâu tế cho thần đất. Sau đó ông lấy nước rửa cổ trâu 3 lần, dùng ngón tay điểm chỉ lên lưỡi kiếm rồi chém vào cổ trâu. Trong quá trình chém trâu, ông Săm lé luôn ấn chặt lưỡi kiếm vào cổ trâu, bên trên lưỡi kiếm có kẹp một chùm lá để che giấu lưỡi kiếm không cho thần thánh biết đang sát sinh. Trong lúc ông Săm lé chém trâu, thầy Bóng chính và hai thầy Bóng phụ phải rời xa con trâu và cùng nhìn về hướng Đông chứ không được nhìn vào con trâu đang bị chém.

Trước khi đưa thanh kiếm báu trở vào đền, ông Săm lé dùng kiếm chặt chùm lá thấm đỏ máu trâu bỏ xuống lỗ và cầu khấn cho linh hồn trâu được giải thoát về cõi trên. Kế đó thầy Bóng chính lấy kiếm mổ tượng trưng lên bụng trâu rồi cùng trở vào đền. Khi đến sân đền, thầy Bóng chính dùng kiếm chặt một đống cành lá để sẵn làm nơi lót thịt trâu theo tập tục, vào đến cửa đền thầy Bóng chính dùng mũi kiếm hất chùm lá chuối đậy sẵn trên một chai rượu để mời các vị thần dùng rượu lai rai với con gà nướng trước khi dân làng nấu chín các món thịt trâu dâng lên các vị thần. Thịt trâu dâng tế thần gồm các món: luộc, kho, xào, canh... riêng 4 chân, đuôi và 2 cái tai trâu phải để sống nguyên lông và lưỡi, đôi mắt, óc trâu luộc chín để riêng dâng tế cho thần.
Nghi lễ dâng tế thịt trâu cho thần cũng do thầy Bóng chính và hai thầy Bóng phụ thực hiện, động tác và lời khấn giống như nghi thức cầu khấn xin phép thần làm lễ chém trâu vào sáng hôm đó.

16.  Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ

Dân tộc: Raglai
Thờ: tạ nơn cha mẹ
Thời gian: khi cha mẹ già yếu hoặc có bệnh
Địa điểm: tại nhà của người con
Đặc điểm: bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ
Một nét đẹp đã trở thành truyền thống trong đời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên dải đất Việt Nam là lòng tôn kính, yêu thương và biết ơn sâu sắc ôngbà, cha mẹ. đã có biết bao câu tục ngữ , ca dao nói về công ơn của các bậc sinh thành, về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ… ăn ở hiếu thảo đối với cha mẹ đã trở thành đạo lý quan trọng trong đạo làm người. lễ mừng thọ, lễ chúc thọ cha mẹ khi về già là những biểu hiện cụ thể của lòng yêu thương và kính trọng đối vời người sinh ra mình. Đặc biệt, tục thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Việt đã trở thành một thứ” Đạo” trong nhân dân theo quan niệm “ uống nước nhớ nguồn”.
Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ của người Raglai cũng nằm trong quan niệm “ cây có cội , nước có nguồn” nhưng cách thể hiện có những nét độc đáo riêng và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của họ. người Raglai coi lễ này không phải là chuyện nội bộ của một gia đình, mà là việc chung cuả cả cộng đồng, và do đó được xếp vào trong hệ thống lễ hội chung, như lễ bỏ mả, lễ cưới, lễ ăn cơm mới,… bên cạnh phần lễ với các nghi thức mang tính chất tập tục , bao giờ cũng có phần sinh hoạt văn nghệ , vui chơi hào hứng, nhiệt thành của cả cộng đồng. nét đặc trưng này phản ánh truyền thống đòan kết tương trợ lâu đời của xã hội Raglai trong quá trình chinh phục thiên nhiên, bảo vệ đời sống yên lành ở nơi rừng núi vốn thường có nhiều tai họa bất trắc xảy ra.
Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ, tiếng Raglai là “ Ea tixâu pilâu dhadha”( dịch nghĩa đen từng chữ có nghĩa là : nuớc, sữa, vú , lông ở người, ở ngực). theo tập quán của người Raglai, đứa bé từ lúc sơ sinh luôn luôn được cha mẹ , đặc biệt là mẹ, ấp ủ , nâng niu trong chiếc địu mang bên mình khi lên rẫy, lên nương, lúc ra suối, lúc đi đường và cả khi lao động ở trong nhà. Tim con hòa nhịp cùng tim mẹ cha, thở theo nhịp thở của mẹ cha, và ngược lại, mẹ cha cũng theo dõi hiểu con qua từng hơi thở, nhịp tim .Những đêm thanh vắng ,những lúc rãnh rỗi ,lời ru ấm ngọt ngào ,giọng hát trầm bỗng akha guikar của mẹ cha rót vào lòng con dòng suối âm thanh trong trẻo được tổ tiên truyền lại từ xa xưa .Đứa bé lớn lên bằng bầu sữa mẹ và làn điệu dân ca akha guikar cùng hơi ấm ủ bên ngực ,bên tim củ mẹ cha .Con chỉ rời khỏi địu khi đôi chân đã cứng cáp ,có thể chạy lăng xăng bên mẹ ,bên cha khi lên rẫy ,vào rừng ,học theo cha từng động tác nhỏ khi lội qua suối ,trèo cây ,săn bắt con chim ,con thú …Cho đến khi cái ty đã biết chặt cây ,phát rẫy ,khéo léo cầm dao,cầm xà gạc,cái châ đã đi hết rừng núi này ,núi khác ,thì người cha mới bắt đầu dạy con lấy ống trúc làm tắc cung ,lấy ống tre làm choai,học hát các làn điệu dân ca ,tập các điệu múa ,cách vỗ mã la,cách treo patau tileng ở ngoài suối nước .Cứ thế cùng với năm tháng lớn khôn người con được cha mẹ dần dần trao cho đầy đủ hành trang để bước vào đời .
Bất cứ người Raglai nào cũng đều nói “như một miệng”là :công lao của cha mẹ như núi cao ,như nước từ mạch nguồn chảy ra .Và họ tâm niệm sẽ đền đáp xứng đáng ngay từ khi còn ở chung nhà ,chung bếp cho đến khi đã có vợ ,có chồng ra ở riêng .Nhưng như thế chưa đủ ,theo tập tục cúa người Raglai việc đền ơn đáp nghĩa mẹ cha đối với họ phải được nâng lên thành nghi lễ ,được họ tộc và buôn làng chứng kiến thừa nhận ,như thế mới được coi là trọn vẹn .Theo quan niệm đã có từ lâu đời của người Raglai điều bất hạnh lớn nhất của con người là cha mẹ qua đời mà người con chư kịp làm lễ Ea tixâu pilâu dhadha .Sự ân hận này nhiều khi rauy rứt người con suốt cả đời .Do đó ,mỗi người Raglai khi trưởng thành rồi ,ngoài trách nhiệm chăm sóc ,kính yêu cha mẹ thường ngày ,nếu cảm thấy cha mê có dấu hiệu già yếu ,thì phải chuẩn bị lễ vật để tổ chức lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ .
Thông thường lễ vật thường có thịt heo ,thịt gà ,gạo nếp,rượu cần,một ít trầu cau thuốc lá …Nhà nhiều của thì chuẩn bị làm lễ lớn ,giết trâu ,heo…người nghèo thì tùy theo khả năng kinh tế của mình mà tổ chức .Vật chát không phải là tiêu chuẩn để đánh giá tấm lòng hiếu thảo ,cái chính là thái độ ,là tấm lòng của con người dối với cha mẹ trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng Sự có mặt của bà con trong buôn làng vừa để biểu thị tình cảm quý mến,vừa để chứng kiến việcthực hiện một tập tục xã hội .Họ mang đến những lời chúc tụng chân thành của cộng đồng đối với gia đình nói chung và cha mẹ của gia chủ nói riêng .Những gia đình khá giả hoặc gặp những năm được mùa ,thường tổ chức cuộc lễ này rất lớn và vui chơi kéo dài hai ba ngày đêm .
Về nghi thức, khi cỗ bàn đọc bày ở giữa nhà, thì mẹ cha –đối tượng chính của buổi lễ - được mời ngồi vào vị trí trung tâm nơi trên mâm cổ có đặt một đĩa thịt và lòng heo đủ món. Những người khác gồm bà con ,họ hàng ,người trong buôn …đều tề tựu đông đủ chung quanh. Sau khi tiến hành lễ khấn vái các Yang, mời gọi tổ tiên, ông bà và những người khuất mặt cùng về chứng kiến tấm lòng củ con đối với cha mẹ, người con rót một chum rượu trắng thật đầy kính cẩn mời mẹ, cha. Tiếp đó, người con tự tay bưng đĩa thịt, gắp từng miếng đút cho cha mẹ ăn để tỏ lòng hiếu thảo, trứơc sự chứng kiến của cộng đồng. Nếu đĩa thịt được ăn hết, thì đó là một niềm hạnh phúc rất lớn đối vời gia đình người con. Hoặc có thể cha mẹ chỉ ăn vài miếng tượng trưng,như thế cũng đã đủ là điều vui sướng. Trong không khí hân hoan ấy, chủ nhà mời bà con, họ hàng cùng nhau chia sẻ niềm vui. Họ vừa ăn uống, vửa trao đổi những lời chuác tụng tốt đẹp đối với gia đình và những người cao tuổi trong buông. Lễ vật còn được dành ra một phần để mẽ cha đưa về cúng ông bà tại nhà mình và biếu cho một số người thận. Sau bữa tiệc, đến phần sinh hoạt văn nghệ, vui chơi. Khi tiếng mã la nổi lên cùng dàn nhạc hòa theo, nam nữ thanh niên và cả những người lớn tuổi cùng nhau nhảy múa, hát ca. Cuộc vui kéo dài đến suốt đêm.
Lễ đền ơn đáp nghĩa mẹ cha của người Raglai nhìn về hình thức có vẻ như đơn sơ,mộc mạc, nhưng bên trong hàm chứa một đạo lý sâu sắc,được cả cộng đồng thừa nhận và hưởng ứng nhiệt thành, đầy tình nghĩa. Truyền thống đạo lý mang đậm tính nhân văn này đã được các thế hệ người Raglai kế thừa và bảo tồn cho đến nay .Nếu không xuất phát từ tấm lòng yêu thương và biết ơn sâu sắc đối với cha mẹ, thì dù tổ chức tiệc tùng, ăn uống linh đình tới đâu cũng chỉ là một thứ hư trương, khoe danh, khoe của nhạt nhẽo.

17.  Lễ mừng tuổi lớn khôn

Dân tộc :Êđê
Trong nếp sống cổ truyền của người Êđê,có những lễ hội liên quan tới đời sống chung của cộng đồng ,cũng có những lễ hội của gia đình ,hoặc cho một thành viên …Trong số đó thì lễ mừng tuổi lớn khôn (hay Mpuh)được coi là rất đặc sắc .Có thể đây là vang bòng của lễ trưởng thành dành cho thanh niên trong bộ tộc xưa .
Lễ được tiến hành khi chàng trai Êđê đã biết dùng rìu đẵn gỗ ,ngã cây dùng rựa phát rẫy trồng lúa ,lại biết cầm khiên múa kiếm ,giương nỏ bắn gục con thú hoang dại của rừng về phá họai nương rẫy ,và cao hơn nữ là biết phóng lao đâm chết cả hổ ,heo rừng…
Xưa,luật tục Êđê định rằng ,hễ nghe Mtao(tù trưởng )kêu gọi ,lập tức tất cả trai tráng đều lên đường đánh giặc ,đuổi cướp ,giữ plây giữ bến nước của ông bà ,cha mẹ.Người già kể rằng ,vào thời anh hùng Đam San làm tù trưởng ,buôn của chàng là buôn lớn nhất trong vùng ,trâu bò đếm không xuể .Nhà tù trưởng Đam San có nhiều ché túc,ché tang với những dàn chiêng mỗi khi lên tiếng thì âm thanh bay khắp bầu trời .Các thần Trời,thần Núi ,thần Sông đều lắng nghe và hết lòng giúp sức cho người anh hùng thu phục núi rừng về một mối ,cho người Êđê yên ổn làm ăn trên buôn rẫy vủa mình .
Muốn làm trán đinh của Đam San thì phải bắt được con heo rừng ,bò rừng về mổ thịt đãi cả buôn như để trình báo tài năng của mình trước cộng đồng .Ché rượu cần thơm nhất sẽ dược mở ra mời người chiến thắng .Từ buổi ấy ,chàng trai được già làng công nhận là “chàng trai Êđê”.Chàng được trao khiên ,kiếm,được làm lễ cúng trời để đi laập chiến công khắp nuí xa rừng gần .Chàng trai Êđê từ buồi lớn khôn cóp trách nhiệm góp sức mình làm cho buôn rẫy giàu mạnh lên mãi .Người già Êđê thời nào cũng nhắc nhở con cháu hãy nhớ lấy cội nguồn của bộ tộc mình .
Từ tinh mơ ,chàng trai đã thức dậy ,mặc quần áo cổ truyền mới nhất ,đóng chiếc khố đẹp nhất ,quấn chiếc khăn mềm mại nhất ,chân đi đôi dép da trâu mà ông bà xưa thường dùng để đi rừng ,vai đeo bầu nước .
Những tia nắng mặt trời buổi sáng chiếu xuyên qua vòm lá vào thẳng cửa sổ phía đông nhà dài .Lúc này các bếp trong buôn cũng đã đỏ lửa .Ngọn lửa của người cùng ngọn lửa của trời nuôi sống ,sưởi ấm con người ,đuổi ma quỷ và xua tan mọi điều xấu gở ,rủi ro ra khỏi đời sống buôn rẫy .Tay phai cầm kiếm ,tay trái cầm khiên,chàng trai Êđê đi ra bến nứớc tắm để tẩy rửa mọi tội lỗi của quá khứ .Bến nước sáng ngày được dành riêng cho ngừơi Ê đê sắp bước vào làm lễ Mpuh .Một hành động tượng trưng :chàng trai tới nơi máng nước ,tháo khăn rồi gội đầu ,rửa mặt trước sự chứng giám của trời ,đất và thần bến nước ,cùng sự hiện diện của bà con trong buôn .Chàng hứng đầy một bầu nước tinh khôi chảy ra từ lòng đất ,đem về để cúng thần cầu sức khỏe cho mọi người .Đất và nước ,lửa và ánh sáng ,lúa ngô trên rẫy ,đóa là nguồn sống bất tận trong buôn …
Heo đã mổ xong ,đầu được giữ để làm lễ cúng ,một thăn thịt dài lóc từ gáy tới đuôi cuốn một vòng vào cột Piê,nơi buộc ché rưỡu để cúng thần .Người điều hành lễ cắm hai cần vào ché rượu quay về hướng đông :một cần dành cho thần ,một cần dành cho đương sự .
Chàng trai bước tới gần cầu thang ,ở đây có hai cây chuối đã trồng sẵn .Chàng vung kiếm chém một nhát đứt cây bên phải ,nhát thứ hai đứt cây bên trái .sau đó chàng từ từ bước lên cầu thang .Bà mẹ Êđê mặc Yêng (váy)áo mới trang nghiêm và hiền từ đứng sẵn ở đầu sàn ,bên cầu thang đợpi đứa con về .Bà cất giọng hỏi :
-Chào con trai của mẹ ,con từ đâu đến ?Có phải con đi đánh giặc phía đông ,múa khiêng phía tây ,thắng trận trở về ?
Chàng trai lễ độ đáp :
-Chào mẹ ,con chào người mẹ của đất rừng Êđê .Đúng như mẹ nói ,con đã múa khiêng từ phía tây ,múa kiếm từ phía đông …giờ đây con đem vinh quang về cho mẹ .
Tất cả dân chúng trong buôn đều nghe rõ cuộc đối thoại giữa người mẹ và ngừơi con trai .Bà mẹ đứng lui ra một bên .Chàng trai bước vào nhà ,dựa kiếm vào vách phía đông ,rồi ra ngồi đối diện với thầy cúng .Bảy ché rượu cần được buộc vào bảy chiếc cột thành một hàng dọc giữ ngôi nhà .Thầy cúng ngồi trước ché rượu đầu tiên ,mặt hướng về phía đông ,ngón trỏ tay phải đặt trên miệng ché .
Trống chiêng nổi lên từng hồi dồn dập ,hối hả mở đầu buổi lễ .Dân trong buôn kéo tới mỗi lúc một đông .Gịong thầy cúng vang lên đều đều ,nhưng phải ngồi sát một bên mới nghe rõ .bởi tiếng nhạc ,tiếng chiêng đã át đi mất phần nào :
“Hỡi các thần ,
Tôi gọi vị thần hướng đông ,thần hướng tây ,thần hộ mệnh ,thần nuôi dưỡng
Người này sáng hôm nay ,ngày hôm kia
ở chòi đã yên ,về nhà được lành ,
biết làm ra lúa ,ra bắp ,nay đã lớn khôn .
Trồng chuối ,chuối sai quả ;trồng mía ,mía ngọt .
Người này nhờ thần giúp cho:bền như gang ,dẻo như đồng , cừng như sắt .
Sức mới ,hơi thở mới ,con người luôn luôn khỏe mạnh ,bình yên.
Heo thiến cùng bảy ché rượu đã được bày sẵn cúng thần .
Thịt cũng đã chia phần cho tất cả các bếp trong buôn .
R ượu nồng hay nhat xin hãy cùng uống .
Cầu cho mọi người đều gặp may mắn tốt lành .
Hỡi các thần”
Thầy cúng đứng lên trao khiêng và kiếm cho chàng trai ,trong khi chiêng trống rền vang ca ngợi hạnh phúc cả buôn .Cuộc lễ lần thứ nhất đã xong .
Chàng trai múa khiên,múa kiếm vui chơi .Các cô gái té nước ,chàng trai giơ khiên đỡ mặt ,đỡ ngực .Bà con chen nhau ở vòng ngòai xem cuộc đua tài ,đua vui.Té nước là trò chơi vui khỏe của thanh niên nam nữ Êđê .Mỗi lần chàng trai tránh né được thì một cô gái mang thịt đến tặng chàng một miếng như tiếp sức ,khen ngợi , chúc nừng .Còn ngược lại ,mặt hay ngực bị ướt thì cũng coi như đó là điều may.
Trong khi đó ông Pô kai piê(người mời rượu )đi mời lần lượt từng người tới ngồi bên ché rượu và vít đầu cần .Phụ nữ bao giờ cũng được mời uống trước ,nam giới uống sau .Họ hàng gần uống trước ,người xa uống sau .Vui chơi thỏai mái ,nhưng tục lệ nề nếp phải giữ
Trời đã về chiều .Sau khi đã ăn uống no say ,mỗi người tự do chọn chỗ nghỉ tạm để chờ cuộc lễ thứ 2 .
Nghi lễ lần này bắt đầu vào khỏang 10h đêm,khởi đầu bằng việc đốt sáng 7 ngọn đuốc làm bằng nhựa cây trai.Anh lửa cháy sáng như có sức đẩy lùi bóng đêm (mà theo quan niệm của người Êđê là nơi ma quỷ hay ẩn náu ),mang lại niềm vui và sức mạnh cho mọi người .
Ông Pô chất đing (người điều khiển lễ )trao khiên và kiếm cho chàng trai rồi dẫn anh đến ngồi đối diện với thần cúng .Chàng trai trong tư thế của người sắp lên đường ,vai mang bầu nước ,chân đi dép da trâu .Ánh sáng từ 7 ngọn đuốc soi lên mặt đầy cương nghị của người chấp lễ đang ngồi bất động như một pho tượng .
Chiêng trống vẫn nổi lên dồn dập từng hồi .Không gian đầy ắp âm thanh hào hùng và ánh sáng lung linh của 7 ngọn đuốc bằng nhựa cây rừng đang cháy như thúc giục ,gợi mở trong tâm trí mọi người ý thức vươn tới lối sống cao đẹp ,xứng đáng là những con cháu của Đam San .Và đêm nay ,chàng trai phải thức trắng cùng với buôn làng.
Người thầy cúng cầm 2 chiếc khăn đỏ ,bước 7 bước ngắn ,cứ mỗi bước lại hô lên một tiếng ,đến trước mặt người chịu lễ ,đưa tay quàng chiếc khăn vào cổ,dẫn đi trình Yang với lờ khấn như sau:”Chàng trai này xứng đáng là con cháu của người Êđê”
Người ta cắt dãi thịt buộc vòng quanh cột cúng Piê ,đem xắt nhỏ ,gói từng nhúm trong lá chuối ,chia đều cho người trong buôn .Riêng vẫn còn một ché rượu cần đầy nguyên vẹn dành cho cuộc vui tiếp theo. Một cụ già được mời tới bên ché rượu. cụ đưa tay vít cần, thưởng thức ngụm rượu đầu tiên. Ánh đuốc soi sáng bộ mặt xương xương của ngừoi già từng trải với chiệc tảu nhồi đầy thuốc lá đang bộc khói giữa đôi môi miếm lại. sau khi hút một hơi rượu cần thứ hai , cụ già bắt đầu lên giọng kể Khan ( trường ca Ê Đê). Tiếng cụ vang lên ấm áp. Mọi c6au chuyện trao đổi riêng tư của nhóm này, người nọ đang xôn xao bỗng nhiên ngừng hẳn. người ta lắng nghe từng lời kể như hớp ngụm rượu nồng cay trong ché quý. Cứ thế, bằng giọng kể khi trầm khi bổng, cụ đưa mọi người trở về sống lại trong không khí lịch sử xa xưa và đầy tự hào với bao chiến công huy hoàng, rực rỡ…
Tiếng gà trong Buôn đã gáy sang canh tử từ lâu, nhưng lời kể Khan vẫn vang lên không dứt. lúc này, ai nấy cũng đã ngà ngà say. Riêng chàng trai Ê Đê được thụ lễ hôm nay như được truyền thêm sức mạnh mới , sức mạnh của bao thế hệ người Ê Đê đã được chắt lại trong lời ca , trong chuyện tích và cả trong tiếng nói đầy ắp tục ngữ, ca dao:
Có măng mới có cây le
Có tắc kè vì có cây
Có hàng trăm hàng ngàn con người
Vì có cha có mẹ…
Đằng đông trời bắt đầu rạng sáng. Trong phút chốc, những tia nắng vàng rực rỡ xuyên thủng khói mây màu sữa, chiếu thẳng lên không trung, báo hiệu một ngày mới bắt đầu.
Thế là chàng trai Ê Đê trong lễ Mpuh đã sống qua một vòng thời gian liên tục từ ngày sang đêm, rồi từ đêm nối ngày, gắn bó với cộng đồng của mình cả hiện tại và quá khứ, trong lễ công nhận đến tuổi lớn khôn , người thầy cúng đã cầu mong cho chàng nhận được sự truyền nối sức mạnh truyện thống của bộ tộc mình.

18.  Lễbỏmả

Dân tộc:Giarai,Bana,Êđê…
Khác với người Kinh vốn rất coi trọngviệc giữgìn chăm sóc phần mộcủa người quá cố,tổchức thăm viếng mồmảông bà,tổtiên người thân …vào những ngày Tết ,ngày lễ,ngày giỗvà tiến hành tảo mộ hằng năm ,phần lớn các dân tộcởTây Nguyên có cách đối xửvới người chết gầngiống theo quan niệm ngược lại .Người Gia rai,Bana,Êđê…không có phong tục thờtổ tiên ,không có kỵgiỗngười thân qua đời hằng năm .Họcho rằng người ta chết làdo những ác thần gây ra .Của cải chia cho ngườichết được đem đặt ngay ởnơi nhàmồngòai rừng .Thương tiếc người đã chết ,họchỉgiữgìn và quan tâm mồmảmộtthời gian nhất định,đểrồi sau đó sẽtiễn họra đi vĩnh hằng bằng một lễbỏmả .Đây là lễcuối cùng tiễn đưa người chết vềhẳthếgiới khác ,lễ lớn nhất trongtang lễ.Từsau lễnày ,mọi ràng buộc ,mọi liên hệgiữa ngừoi sống và ngừơi chếtcoi nhưchấdứt .Người chết trởthành “ma “ thuộc vềcõi âm ,một thếgiới khác.Vềtục lệcũng nhưvềtình cảm ,người sống không còn trách nhiệm ,ràng buộc gìvới người chết . Người vợgóa (hay chồng góa)có quyền đi bước nữa.
Nhìn chung lễbỏmảcủa một sốtộc người ởTây Nguyên vềcơbản giống nhau ,vì đềuxuất phát từmột quan niệm vềngười chết và người sống.Nhưng lễbỏmảcủa ngườiGia rai với tên gọi là lễ Pơthi hoặc Hua lui được tổchức trọng thểvà độc đáohơn cả.Lễđược tiến hành sau một thời gian qua đời (độvài năm)hoặc có khi thêmmột thời gian tương ứng với lễmãn tang ,nhằm đểcho tình cảm nguôi ngoai ,mặtkhác cũng là đểgia chủcó điều kiện tích lũy ,chuẩn bịđầy đủvềmặt vật chấtnhưgạo nếp ,trâu ,bò…cho cuộc lễ.Tuy là việc của một vài nhà ,một vài gia đình,nhưng theo tập tục lâu đời của người Gia rai thì đó là việc của cảcộng đồngcác plơi,có sốngười tham gia đông nhất với quy mô lớn nhất so với các lễkhác.Thông thường ,lễpơthi được tổchức sau mùa thu họach ,nhằm lúc trăng sáng,tương ứng với các tháng đầu năm âm lịch .Đây là lúc nông nhàn ,lại vào dịp xuân,khí trời ấm áp ,hoa cỏđua nhau khoe sắc ,đường rừng khô ráo thuận tiện choviệc đi lại cũng nhưviệc tổchúc hội hè ,vui chơi .Lễhội trước đây kéo dàitrong 5 ngày ,thường thì 3 ngày 2 đêm ,tối thiểu cũng phải 2 ngày .
Khi gia chủngừơi quá cốđã chuẩn bịđày đủlễvật ,kểcảmột sốđồdùng gia đình,công cụsản xuất để“chia phầncho người chết”,thì báo cho dân trong lòng biếtvà yêu cầu bà con giúp đỡ.Vài ngày trước lễbỏmả,không khí trong plơi rộn rãhẳn lên .Một ngừơi thân hay già làng đứng ra làm lễkhấn báo cho người chết về tham dựlần chia tay vĩnh viễn này .Sau đó nhữngthanh niên trai tráng trong làng vác dao vào rừng lấy tre ,gỗlàm nhà chòi ,dựng bàn tế,sửa sang nhà mồ .Những người đàn ông khéo tay thì trang trí ,đan hoa văn ,vẽ,tạc tượng mồgồmhình người ,voi ,hươu ,nai,,,Đây là những tác phẩm nghệthuât dận gian độc đáokết hợp kiến trúc với điêu khắc trang trí .Chung quanh mộđược rào bằng nhữngkhúc cây rừng đặt sát vào nhau .Đàn tế(pơnang)được đặt ngay ởtrước nhà mồ .
Những cô gái đi lấy củi ,lá ,chặt lồông ,chuẩn bịthức ăn .Người giàtrung niên thì lo dựnglều chung quanh nhà mồđểche nắng ,che sương ,làm chỗ nghỉđêm cho nhiều người .
Một sốngười khác đến đào hố,chôn cột nêu sátnhà mồởphía mặt trời lặn.
Khỏang xếchiều ,người ta đưa trâu (dựkiến giétthịt)đến cột vào cây nêu ,giết heo ,vác những ché rượu đặt ởphía mặt trời mọccủa nhà mồthành một dãy.
Khi mọi việc đã chuẩn bịxong xuôi thì nhữngthanh niên trong làng mởmàn buổi lễbằng bằng việc đem chiêng ,trống ,thanh lara nơi mộ,đánh liên tục đểgọi hồn người chết hãy thức tỉnh vềdựcuộc chia ly lần cuối với bà con thân thuộc .Trong khi đó ,chủnhà tiến đến ché rượu gốc ,bàythịt heo,thịt gà rồi khấn gọi hồn ma .Sau đó lần lượt gia đình có người được làmlễbỏmảđến khấn .Các chàng trai mặc những tấm khốcó tua cườm ,lưng thắt dâybạc,đầu cắm lông chim ,đánh cồng chiêng ,trống lớn với giai điệu buồn ,những côgái áo váy sặc sỡ,vừa đi vừa làm động tác xát vòng chung quanh nhà mồ.
Mỗilần tiếng trống lớn vang lên ,thì tiếng chiêng cái điểm từng tiếng trầm hùng,những tiếng chiêng con khua lên vang dậy ,hòa thành một bản nhạc rừng trầm bổng,du dương trong không khí mùa xuân đầy nhựa sống .
Nơi nghĩa địa hằngngày vốn hoang vắng ,âm u ,thỉnh thỏang mới có tiếng chim hót ,tiếng sột soạtcủa con chồn,con sóc chạy nhảy ,nay bỗng dưng trởnên nhôn nhịp ,tưng bừng vớitiếng chiêng,tiếng chân người rậm rịch xen lẫn tiếng nói cười .Đêm đến ,ánh đuốcbập bùng từcác nẻo đường nối đuôi nhau ẩn hiện qua cây lá đi vềnhiều ngảDâncác plơi lân cận nhân dịp này cũng theo đến góp phần bằng những ché rượu cần vàmột sốlễvật .Mọi người đều mặc áo đẹp ,chủyếu là màu đỏvà đen.Các cô gái đemtheo kiềng bạc ởcổ.Những dàn chiêng cổthi nhau đánh những bài hay nhất.
Sáng ngày thứ2 ,các gia đình chủlễbỏmảcửngười giết trâu bò ,làmthịt gà …bên canh nhữngbếp lửa được nhóm lên trên khu đất bằng gần bên mộvớinhững chảo lớn đầy thức ăn ăn sôi sục là nhũng ché rượu cần đầy ắp .
Sau khi già làng và những người có uy quyền ,các thầy cúng hút những ngụm rượu cầnđầu tiên ,lớp thanh niên bắt đầu vào cuộc .Những xâu thịt nướng ,thịt trâu thui,lòng luộc ,trứng ,ống xôi nướng …bày la liệt trên những tấm lá dong ,lá chuốihay trong bát đĩa đặt quanh các ché rượu cần .Người nào việc nấy ,ai lo phục vụ thì chăm chỉmà làm ,ai đánh chiêng ,đánh trống cứđánh ,ai múa cứmúa ,ai ănuống cứmặc sức thỏa lòng .Vừa ăn,vừa uống rượu ,vừa nhảy ,vừa múa hát ,mọingười vui chơi thỏa thích.Đây cũng là dịp trai gái gần gũi ,vui chơi và tìm hiểunhau .Các cụgià vừa thưởng thức những giọng hát ,điệu múa ,vừa chậm rãi nhainhững miếng thịt nướng ,uống rượu cần ,vừa nói chuyện râm ran.Ăn uống xong ,cácgia đình chuẩn bịkhấn vái với những ché rượu riêng của mình.Các plơi đến dựlễ tổchức thành từng cụm ,mời các gia chủuống rượu nếp và biếu phần thịt của họ ,gói từng gói nhỏ.Trongkhi đó thì dân các làng ,gì cũng nhưtrẻ,ra múa chungquanh nhà mồtheo nhịp chiêng ,cùng ăn uống ,cộng cảm.

Xếchiều ,người tađưa những người góa ra suối tắm ,mặc trang phục đẹp ,đúng tục lệ,rồi đua về nhập vào cuộc ,cùng nhảy múa vui chơi .Họlà những người được hòan tòan đượcgiải phóng từgiờphút này .Tối đến họcùng nhau kéo vềnhà .
Từngàythứ3 trởđi cho đến ngày cuối ,việc ăn uống ,vui chơi chủyếu tổchức trongtừng gia đình .Sau cùng là việc đãi những thanh niên ,những người phục vụkhách trong suốt những ngày lễhội.
Lễbỏmảlà dịp sinh hoạt động vui mangtính hội hè ởnơi rừng núi .Đối với những người thân của kẻquá cố,lễbỏmả đánh dấu “một cuộc chia tay vui vẻ“tròn phận sự.Điều đó được thểhiện khá rõtrong đời sống của thân chủ :”Thôi từnay sẽkhông còn ai mang cơm ,mang nước,chăm sóc nữa .Nếu hồn muốn ăn cơm,thì hãy hỏi xin các vì sao ,nếu muốn ăn thịtgà thì hỏi thần mặt trăng,nếu ăn cá xin hỏi thần cai quản ởtrên trời .Một vị thần khác sẽđến trông nom .Thôi từnay thếlà hết .Nhưlá mnang đã lìa cành,nhưlá mtưđã tàn úa …”
Hiện nay,các dân tộc Giarai,Bahnar,Êđê vẫn cònduy trì lễbỏmảvới tính cộng đồng cao ,tổchức ăn uống vui chơi cộng cảm trêntinh thần bình đẳng giữa các thành viên trong plơi ,đồng thời cũng thểhiện rõnhững nét đặc thù vềtín ngưỡng ,cách tổchức hệthống lễthức .Lễbỏmảgiữmộtvịtrí quan trọng không thểthiếu được trong đòi sống tinh thần của họ.

19.  Lễăn cơm mới

Thờ:tạơn thần
Thời gian:tổn chức sau vụthu họach
Địa điểm:vùng TâyNguyên
Đặc điểm:bày tỏniềm vui được mùa
Các dận tộc ít người ởTâyNguyên ,nhìn chung là theo tín ngưỡng đa thần .Với tâm hồn thuần phác ,còn inđậm dấu ấn của tín ngưỡng nguyên thủy ,họcho rằng các vịthần đều có tình cảmnhưcon người ,cũng vui buồn ,giận ghét ,yêu thương …Cúng thần nhiều lễvật ,vànhất là tấm lòng thành ,thì sẽnhận lại sựgiúp ỡ,chởche,ủng hộ,bênh vực tươngứng.Trong các thần (Yang)được tôn thờ,thì thần lúa được tôn trọng không kémthần Nước ,thần núi ,thần cây.Do đó,nương rẫy là nơi thiêng liêng ; hạt lúa sinhra từnương rẫy là sản phẩm được các thần ban phát đểnuôi sống con người.
Hằng năm ,sau khi thu họach,người ta tổchức lễăn cơm mới ,vừa đểtạ ơn thần ,vừa đểvui mừng chung hưởng kết quảcủa một quá trình lao động nhọcnhằn vất vả.Tuy cách tổchức cũng nhưnghi thức tiến hành của từng tộc người cónhững nét khác nhau ,nhưng đều chung mang một ý nghĩa :tạơn thần sau khi kếtthúc một chu kỳsản xuấtchính củnăm.Ởngười Mạ,lễmừng thu họach xong (NhuR”he)là lễhội lớn nhất ởtrong buôn ,và thường kéo dài 7 ngày .Lễăn cơm mớicủa người Êđê(Hma Ngắt)cũng có ý nghĩa tương tựnhưlễcúng Mpan Bar của ngườiM”nông sau mùa lúa ,đều xuất phát từmột quan niệm chung :hành động đem lúa về kho không chỉđơn thuần là việc lao động cụthể,mà coi nhưmột cách “thu hồn lúavềnhà “,và “kho chứa lúa là hơi trú ngụcủa hồn lúa “,một “chốn thiêng liêngtrong gia đình “.Cũng chỉtừsau lễcúng này ,mọi kiêng kịtrongthu họach mùamới chấm dứt .Trong khi đó ,lễăn cơm mới (Samớk)của người Bahnar diễn ra trong3 ngày ,khi bắt đầu thu họach ,đểrồi tiếp đến có lễcó lễSơmắt Kekkhi đi vàosuốt lúa đại trà ,sau hết đến lễđóng cứa (Sơmăh Teng Amăng)khi gùi lúa cuốicùng được vềkho.Những người Bahar theo đạo Thiên Chúa ,tuy không cúng bái nhưngvẫn giết heo,gà,dê trong lễcúng cơm mới ,còn những người Gia rai theo đạo tinlành thì chỉbỏtục uống rượu ,không cúng thần mà tạơn Chúa.

Giống như người Kinh ăn tết Nguyên Đán,các dân tộc Tây Nguyên sau mùa thu họach ,cũngtrùng vào dịp cuối năm âm lịch ,tổchức lễăn cơm mới .Có điều là cách tổchứckhông diễn ra đồng lọat ,mà tuần tựhết nhà này sang nhà khác trong buôn làngtheo một trật tựđã thõa thuận trước .Việc tổchứclễăn mừng lớn hay nhỏlà tùythuộc vào khảnăng thu họach nhiều hay ít của từng gia đình ,và cũng tùy theo đómà thời gian có thểkéo dài một hay nhiều ngày .Đây cũng là dịp gia chủmời bàcon ,họhàng,bạn bè các vùng lân cận cùng vui chơi ,ăn uống .Nhà nào có đông khách coi nhưlà niềm vinh dự.Vì thếngoài việc cúng thần ,hồn lúa và tổtiêncùng nới việc cầu mong sức khỏe cho gia đình ,người ta đánh cồng ,chiêng,trống,vui chơi ca hát suốt ngày đêm liền.Dưới đây là lễăn cơm mới cúa ngườiÊđê.
Khi lúa trên rẫy đã được gùi vềđổđầy các Sang mđiê(kho đểlúa),giachủbắt tay vào việc tổchức lễăn cơm mới. Lễkhông tổchức cho tòan buôn mộtlúc ,mà lần lượt từng nhà .Phụnữlo việc bếp núc ,nấu nướng .Đàn ông thì lorượu cần ,chuẩn bịheo gà đểgiết thịt ,vào rừng chặt cây ,đẽo cột gơng (cột để buộc ché rượu cần trong lễ).Khách mời ,họhàng từcác buôn xa gần đã được báo.Con trai lo chặt củi ,con gái lo giã gạo ,tiếng chày trong buôn vọng lên từ sáng sớm đến lúc ông mặt trời đi ngủ.Đám trẻcon háo hức chơi đùa ,hoặc vâyquanh những bà già đang sọan từcác gùi liêng lớn những áo ,váy,khốđẹp,nhữngtấm chăn đen đỏrực rỡdùng cho ngày lễ.Nếu gia chủlà trưởng tộc ,thì họhàngtrong buôn phải mang thêm đồcúng đến đóng góp.
Mọi việc đã chuẩn bịđầyđủ.Cột gơng đã dựng ,các ché rượu đã buộc chặt vào dây ,chiêng Ana,chiêng Sarđã treo lên xan nhà Nước từsuối đã đem vềđổđầy các nồi năm ,nồi mười .Heo đãmổ,gà đã thui,các lễvật khác đã bày ra ởsàn nhà .
Thầy cúng trong bộ lễphục chỉnh tềbước ra ,hút rượu cần vào một cái bát hòa với tiết heo ,trântrọng mòi nữchủnhân (cao tuổi nhất)ngồi trước mâm ,chân đặt lên lưỡi rìu nhậnlễ.Tiếng chiêng với nhịp điệu trầm bõng ,vừa náo nức nổi lên .Thầy cúng đọc lờikhấn nguyện tỏlòng biết ôn các thần.
Khấn xong ,thầy đi vẩy rượu chúcphúc nơi bếp lửa ,dàn chiêng ,cầu thang ,kho lúa.Tiếp theo phần nghi lễlà bắtđầu cuộc tiệc vui .Ông bà ,cha mẹtrong buôn,khách khứa xa gần,bạn bè ăn uống nosay,tựnhiên thoải mái.
Người nữchủnhà được mời vít cần rượu đầu tiên,rồi lần lượt người già ,người trẻ,trong họtrước ,trong buôn sau …Mọi người vừa ănuống,vừa vui chơi ,ca hát cho đến khi ai không thíach nữthì về.Người ởlạiđược mời nối tay trên cần rượu nghe chiêng ,nghe hát A-day (một loại dân ca trữ tình) giãi bày tâm sự.Khách đến dựlễ, còn được gia chủtrao tay mỗi người mộtgói nhỏthức ăn khi ra về,nhưđểcùng chia đều sựmay mắn cho mọi bếp.
Về khuya,một ông già từng trải và giỏi giang ,được mời kểKhan-khúc tráng ca truyềnthống của người Êđê.Cảngười kểnvà người nghe nhưchìm đắm trong không khí cổ xưa của bản anh hùng ca trác tuyệt với hình ảnh của những dũng sĩnhưĐamSan,Đam Di ,mà những chiến công của họmãi mãi là niềm tựhào của bộtộc.
Gịong kểcủa nghệnhân khi trầm hùng nhưdòng sông chảy bên váchnúi ,lúc dồn dập ,ồạt nhưbăng qua thác ghềnh hiểm trở,khi thầm thì nhưgió thỏang,lúc nhẹnhàng nhưtiếng lá rơi giữa rừng khuya.
Cứthế,lễăn cơm mớikéo dài từnhà này sang nhà khác ,suốt tháng chạp sang tháng giêng .Lễăn cơmcủa người Êđê mang đậm dấu ấn của tục “ăn nằm ,uống tháng”nhàn hạtrong khôngkhí mùa xuân núi rừng .Họvui say thỏa thích,ca hát thâu đêm ,đểrồi sau đó lạihăng hái chuẩn bịmùa trồng tỉa mới với nhiều hy vọng mới.

20.  Hội đua voiThời gian:tháng 3
Địa điểm: vùng tây nguyên
Đặc điểm:ngày hội vui lớn của tây nguyên
Với đồng bào các dân tộc ít người,dọc theo dãy trường sơn, voi là vật quý hiếm nhất, là hiện thân của sức mạnh và sự giàu có của mỗi gia đình , mỗi buôn, làng. Từ mộtTừ một giống vật hoang dã, khi được bắt về và thuần dưỡng .voi trở thành người bạn thân thiếtcủa con người trong đời sống hàng ngày: vận chuyển, đi lại, làm rẫy, kéo gỗ, làm thủy lợi…
Voi là loài vật có thân hình to lớn , nhưng là con vật thông minh nhất trong quấn thể động vật hoang dã, đồng thời cũng là con vật giàu tình nghĩa. Sử sách xưa ghi lại nhiều mẩu chuyện về đức tính này của laòi voi. Chuyện hai voi chiến của hai bà trưng đã rủ nhau về bên sông hát, nơi hai bà tự tử, thi hài nổi lên, rồi nhịt ăn cho đến chết. đền thờ voi phục( hà nội) là nơi ghi lại sự tích này .cảm động biết bao khi giữa pháp trường , con voi không chịu dày nữ tướng Buì Thị Xuân- người chủ của mình – đã bị gia long khép vào tội hình. Bà phải gọi nó, vỗ về:”mi hãy giết ta, nếu không mi sẽ chết oan, ta tha tội cho mi.” con voi chiến cúi đầu , cong vòi , vái bà ba cái , nước mắt ràn rụa , rồi dùng vòi cuốn bà tung lên cao , đua cặp ngà nhọn đón chủ, chỉ để bà đau một lần khi chết. sau đó, voi tìm cách phá xích chạy vào rừng sâu. Chuyện những con voi chiến trong mũi tiến công đánh đồn Ngọc Hồi của quân tây sơn dưới sự chỉ huy của đô đốc Đặng Tiến Đông năm ất dậu( 1789) ,chuyệncon voi già của vua hàm nghi phá xích chạy vào rừng nhịn ăn cho đến chết ,khi nhà vua bị bắt… là những hình ảnh đẹp về lòng trung nghĩa của loài vật này.
Nhìn chung trong cả nứơc ,v oi tập trung nhiều nhất ở tỉnh Đăk Lăk( hơn 400 con voi nhà) trong đó huyện Ea Súp có đàn voi đông nhất.bản đôn thuộc huyên Ea Súp , nơi quy tụ nhiều tộc người m”nông, ÊĐê, Lào… không những nổi tiếng với những đàn voi nhà trăm con, mà còn là xứ sở của nghề săn bắt và nuôi dạy voi từ lâu đời.
Săn bắt voi là một nghề vô cùng lý thú nhưng đầy gian lao ,nguy hiểm,đòi hỏi sự thông minh lòng dũng cảm tuyệt vời và sự phản ứng nhanh nhạy của thợ săn trong mọi tình huống.
Hội đua voi thường diễn ra vào mùa xuân ,cụ thể là tháng 3 âm lịch ,đó là tháng đẹp nhất trong năm ở đây :trời nắng dịu đất rừng khô ráo ,dọc các bờ sông ,bờ suối,các loài hoa rừng đua nhau khoe sấc trắng ,hồng ,vàng…Người Tây Nguyên thường ví đó là”mùa con ong đi lấy mật ,mùa con voi xuống sông uống nước,mùa em đi phát rẫy ,làm nương,anh vào rừng đặt bẫy gài chông”.
Để chuẩn bị cho ngày hội, từ vài tháng trước đó , những chàng trai trong buôn cũng như những mơgát đưa voi đến những cụm rừng có nhiều cây cỏ làm thức ăn cho Voi để chùng được ăn uống no nê. Họ còn bồi dưỡng thêm chuối chín ,mía cây, bắp ngô, khoai lang , cám gạo, và hầu như không bắt Voi làm những việc nặng nhọc để giữ sức .
Đến ngày hội , những đàn voi từ các buôn làng xa, gần nườm nuợp kéo về buôn Đôn, tập trung ở một số bãi, hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốk. cùng với những đàn voi, dân chúng khắp nơi đổ về dự hội vời nhũng bộ quần áo màu sắc rực rỡ.
Bãi đua là một dải đất tương đối bằng phẳng( thường là khu rừng bằng ít cây to) bề ngang đủ để mười con voi giăng hàng đi một lúc, bề dài từ 1 đến 2km.
Một hồi tù và rúc lên, đàn voi dưới sự điều khiển của những chành mơgát lần lượt tiến vào khoảng đất bằng, dàn thành hàng ngang ngay ngắn. hniều con giống vang, như để báo hiệu rằng chúng sắp bước vào một cuộc thi tài quan trọng. theo lệnh người điều khiển, từng tóp voi đi vào đứng ở tuyến xuất phát. Con đầu đàn bước lên phía trước , trong tư thế uy nghi, hai chân trước đúng thẳng, ngẩn cao, quay vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả hai bên, xong lại lui vào vị trí cũ. Tiếng hoan hô cùng những tràng vỗ tay cổ vũ vang dậy, trong khi tiếng chiêng ,tiếng trống dóng lên tửng hồi rộn rã thúc giục.
Không khí trường đua lúc này lặng im, căng thẳng, mọi người hồi hộp chờ đợi. trên mỗi con voi có hai chàng mơgát dũng mãnh trong bộ trang phục sặc sỡ kiểu tướng lĩnh ngày xưa đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Một tiếng tù và rúc to báo hiệu lệnh xuất phát. Những chiếc chân voi to như cây cột nhà, thường ngày nhấc lên từng bước ung dung , uể oải, thẳng tuột,đột nhiên bật lên như những lò xo phóng về phía trước trong tiếng hò reo, la hét của khán giả cùng tiếng chiêng, tiếng trống ầm vang cả núi rừng. chàng mơgát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, ngẩn đầu quan sát và kịch động voi bẳng một thanh săt dài độ 1m gọi là kreo( tiếng m”nông là gậy điều khiển) dùng để đam mạnh vào da, thúc voi tăng tốc độ, còn anh chàng mogát thứ hai ngồi ở phái sau thì dùng chiếc búa gỗ cốc nện mạnh vào mông voi để voi chạy nhanh và thẳng đường . trên đường đua, bụi đất , lá cây khô bốc lên, tiêng gió rích lên, tiếng cành lá bị quật sen lẫn tiếng rậm rịch của những bước chân voi…
Khi bóng dáng chàng mogát ngồi trên lưng chú voi đi đầu vừa xuất hiện từ xatrong vòng quay trở về đích ,thì tiếng reo hò của khán giả vang lên như sấm .tiếng trống tiếng chiêng giục giã liên hồi.tiếp theo là tiếng hoan hô cúa những người thắng cuộc. những con voi thắng giải giơ cao chiếc vòi vẫy chào mọi người ,rồi ngoan ngoãn bước đi ung dung , đôi tai phe phẩy,mắt lim dim, đưa vòi nhận những khúc mía màu tím hay ống đường của bà con từ các nơi mang đến ủng hộ .
Cuộc đua voi kết` thúc ,những chú voi dự thi lần lượt trở lại các buôn plây xa xôi,mang theo tiếng hát lời ca,và không khí rộn ràng của ngày hội.đối với những con voi và chàng mơgát thắng cuộc trong hội thi,khi về buôn plây lại một lần nữa được dân chúng trong kéo nhau ra tận đầu buôn để hân hoan chào đón thưởng quà như những người chiến thắng .thường thường những con voi thắng cuộc vẫn thuộc về buôn đôn,một buôn của người m”nông có nhiều voi nhất và có truyền thống chăm sóc , huấn luyện voi giỏi nhất vùng.
Ngày hội đua voi là ngày hội vui lớn ở tây nguyên,nó phản ánh tinh thần thượng võ của người M”nông,một dân tộc giàu đức tính dũng cảm đã từng quen sống với tốc độ, từng đối diện với bao tình huống nguy hiểm,căng thẳng trong những cuộc săn bắt voi rừng.chính cái khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên-nơi diễn ra cuộc đua đặc sắc-đã làm tăng lên bội phần tính chất hùng tráng ngày hội cổ truyền của họ.
Tháng tư năm 1993 (tức tháng 3 âm lịch)một lễ hội lớn mang tên “liên hoan lễ hội cồng chiêng và đua voi Tây Nguyên”được tổ chức tại Buôn Mê Thuật,thủ phủ của tỉnh Đắc Lắc.những người anh em Gia Rai,Êđê,M”nông… sống ở các tỉnh gia lai,Kom Tum,Đắc Lắc ,Lâm Đồng và dọc theo dãy trường sơn miền trung đã về đây gặp gỡ trong ngàyhội lớn .tham gia lễ hội còn có các đoàn nghệ thuật nhiều tỉnh bạn , kể cả thành phố Hồ Chí Minh
Mở đầu lễ hội là cuộc diễu hành của 35 con voi thuộc các huyện Ea súp,Krông Bông,Lắc,H”lao,Đắc Min thuộc tỉnh Đắc Lắc từ các buôn xa xôi xuống dự hội trên đường phố Buôn Ma Thuật.những chú voi cao lớn , hùng dũng,lưng phủ khăn thêu rực rỡ,do con voi già trên 160 tuổi dẫn đầu , bước đi trong sự hân hoan của dân chúng.
Cuộ đua voi diễn ra ngày 8-4 trên sân vận động của thị xã cùng với những trò diễn như đá bóng ,ném gỗ đá gây nên 1 số ngạc nhiên và phấn khởi đối với hàng vạn người xem trên các khán đài hôm ấy.Tuy nhiên,phạm vi mặt bằng và cấu trúc chật hẹp ở đường đuc ở sân vận động chỉ thích hợp với con người nhưng lại không phù hop với những cuộc tranh tài của các chú voi to lớn cồng kềnh vốn quen hoạt động giữa một thiên nhiên rộng rãi ,thóang đãng có cây cỏ ,suối nước chảy ,có trời xanh và gió lộng .Do đó ,sức hấp dẫn của cuộc đua không cao.

21.  Lễăn trâu của gia đình

Khác với lễăn trâu mùng chiến thắng ,mừng thắng lợi của cộng đồng , lễhội ở dạng thứhai này mang mục đích hạn hẹp hơn: trảơn thần.
Vềmặt nghi thứctiến hành lễtức nhưviệc dựng dàn tế, dựng cột việc dựng dàn tế, dựng cộtGingGa ,quy trình và động tác đâm trâu, sựtham gia của đội chinh chiêng trongxuốt cuộc lễ, cũng nhưphần hội, cảhai dạng lễăn trâu không có khác biệt lớn.có khác chăng là ởmột sốviệc , sốđiều cụthểnhưsau,con trâu đểhiến tếthầnvà những vật cúng khác ởtrường hợp thứnhất là việc trung của cộng đồng tronglàng đóng góp lại, còn ởtrường hợp thứhai là của gia chủtựchuẩnbị.
Khi vào lễăn trâu của gia đình, thì cảgia đình thân chủphải tậptrung đông đủtrước sân nhà với trang phục lễhội. chủnhà đứng trước ,tay cầm một bát gạo đầy, bốc từng nắm rắc vào lưng trâu, mồm lâm râm lời khán mời thầnchứng giám lòng tri ân của gia đình . sau đó,cảnhà lần lượt sờvào đuôi trâu,hoặc nắm dây buộc con vật tếthần. Chủnhà dùng gậy đập chết một con heo(vậtcúng cùng với một con gà) rồi đem đặt lên cột LingGa lấy máu vấy vào cột. Chérượu của gia chủđược đặt giữa nhà , trong khi những ché rượu của bà co, bạn bèhay của những nhà khác nhau trong plây mang đến thì xếp thành hàng dài ởphíatrước. Thêm một vài động tác khác: thayvì già làng đại diện cho cảcộng đồng(lễăn trâu mừng thắng lợi)đứng ra thực hiện ,thì ởđây người chủnhà tựđảmtrách lấy ,ví nhưsựđáp lại sự”đòi hỏi trảcông” của đội chinh chiêng trongsuốt cuộc lễchẳng hạn .người chủgia đình tựtay mình bốc thịtnhét vào mồmtừng người ,khi đội chinh chiêng bước qua cửa nhà gia chủ…
Tuy gọi là lễ ăn trâu của gia đình (phân biệt với lễcủa cộng đồng) nhưng trong thực tếthìcông sức đóng góp ,sựtham gia của bà con trong plây rất lớn ,từkhâu chuẩn bị đến các hoạt động trong buổi lễ,việc vui chơi, múa hát , ăn uống .bởi lẽrằng,hai dạng lễhội đều xuất phát từmột quan niệm thống nhất là đểtri ân thầnlinh, đều hướng vềmột mục đích chung nhằm mang lại sựno ấm ,yên lành cho cả cộng đồng ,trong đó thiên nhiên, con người, và đời sống thực tại hòa quyện vàonhau một cách chặt chẽ.

22.  Lễ rước hồn lúa của người M'nông

Lễ rước hồn lúa của tộc người M’nông là nghi thức rất trang trọng. Mùa gặt, sau khi thu hoạch xong, mỗi gia đình thường để chừa ra một vạt lúa nhỏ. Khi tổ chức rước hồn lúa, người trong gia đình mới ra cắt nốt vạt lúa này, bó thành từng bó lúa. Các bó lúa được các cô gái bỏ vào gùi đeo trên lưng và cầm trên tay một bó nhỏ.
Lễ rước hồn lúa diễn ra không gian rất rộng, từ sườn đồi về đến tận nơi ở của người M'nông. Những người phụ nữ trong gia đình tổ chức rước hồn lúa (hoặc là những người phụ nữ trong một buôn) sẽ se những sợi dây rừng hoặc dây mây lại rồi sau đó nối với nhau từ rẫy về đến buôn làng (dài khoảng 5-8 km) đến tận chân cầu thang của kho thóc. Trên vài cây số, những người phụ nữ gùi lúa tay nối sợi dây rừng để hồn của nàng tiên lúa biết đường về kho thóc. Nhiều khi đường xa không kiếm đủ sợi dây rừng thì họ tước bẹ lá chuối khô se lại thành dây (người M’nông gọi đó là Răng- ba (tức là thần lúa). Rước thần lúa về kho lúa trong nhà mình, đây mới chỉ là nghi lễ.
Theo quan niệm của người M'nông, thần lúa, hồn lúa là một cô gái rất xinh đẹp, hiền dịu, nhưng ham chơi. Lúa chín rồi, gặt rồi, cắt rồi nhưng nàng tiên lúa đang còn mải đi chơi không về. Nếu để nàng tiên lúa rong ruổi mãi như thế năm nay sẽ mất mùa. Cho nên người ta phải dẫn đường để cho hồn lúa về và cột ở chân cầu thang kho lúa của gia chủ. Kho lúa phải có một trái bầu to, làm thật sạch sẽ treo ở cửa. Đây là nơi để hồn lúa, nàng tiên lúa trú ngụ ở kho lúa. Người M'nông quan niệm, mình có chứa bao nhiêu lúa đi chăng nữa mà hồn lúa không ở với mình thì cũng coi như không có kết quả gì.
Lễ rước hồn lúa của người M’nông mang ý nghĩa tâm linh rất riêng. Khi rước hồn lúa về đến nơi rồi thì lúc đó họ mới tổ chức cúng. Tất cả những ước nguyện, cầu mong của gia đình, buôn làng mới được thể hiện trong lễ cúng đó".
Một nét nữa trong lễ rước hồn lúa là người ta không dùng chiêng đồng, mặc dù người M’nông có hai đội chiêng đồng. Chiêng không có núm gọi là chiêng churgbor. Bộ chiêng có núm có thể là 3 chiếc hoặc 4 chiếc gọi là gondbeh. Nếu đánh bằng chiêng đồng tiếng to, ồn, nàng tiên lúa hoảng sợ bỏ đi thì sang năm lại mất mùa. Cho nên, họ dùng đàn đá, hoặc nhạc cụ thổi bằng tre, nứa để tiếng êm dịu. Vì tre, nứa đều là chị em nhà lúa nên nàng tiên lúa không hoảng sợ, không cảm thấy lạ.

23.  Lễ Hội Tạ Ơn Mùa Của Người Pakô

Adalà lễ hội ăn mừng mùa vụ của người Pakô. Sự kiện thường được tổ chức vào tháng 10, tháng 11 năm âm lịch.
Là lễ hội của cộng đồng làng, để làm ada, già làng cùng các vị gia trưởng phải họp để định ngày cùng đưa ra "chỉ tiêu" đóng góp tùy theo mức được mùa cúng như năng lực kinh tế của dân làng.
Người Pakô trước đây thường sống trong những nhà dài, trong đó gồm nhiều bếp, nghĩa là nhiều hộ gia đình, thường quây quanh một sân lớn được dùng cho các sinh hoạt chung (của làng). Lễ cúng được tổ chức trước hết ở từng nhà. Mỗi bếp (hộ) mang lễ vật của mình đến trưng dọn ở moong - gian (buồng) ở chính giữa mỗi ngôi nhà dài dùng làm nơi cúng tế, tiếp khách và là chỗ ngủ (bắt buộc) cho những thanh niên chưa cưới vợ - để cúng. Như để tượng trưng cho linh hồn của những loài được cúng vọng, mỗi bếp trưng ra ở đây đủ các loại giống lúa và các loại cốc được trồng khác như kê, bắp, đậu, mè... cũng như các loại hoa màu khác như sắn, lang, đu đủ chuối... để vái mời dự hưởng những lễ vật được dâng cúng.
Nhưng người Pakô không chỉ tri ân mùa màng với những gì họ gieo trồng trên đất. Và lễ tạ ơn mùa màng của họ phần chính là để tạ ơn đất trời, nắng mưa, dông gió, sông suối, núi rừng, cây cối và cả ma quỷ.
Điều cầu mong chính ở cúng ada ấy là mỗi nhà mỗi bếp cũng như cả làng được bình yên, con người được mạnh khỏe, mùa vụ năm tới được bội thu. Và để làm tin, họ đã xin thần linh làm chứng trong cách cầu xin tựa như cách khấn âm dương của người miền xuôi: dùng hai nửa miếng trúc ngắn (khoảng 30cm) nắm thảy xuống, nếu cả hai cùng nằm ngửa là việc cầu xin đã được như ý, nếu không họ sẽ làm cho đến kỳ được nhưng không được quá 5 lần!
Người Pakô không có nhà làng nên sân làng được dành cho các sinh hoạt của cộng đồng, trong đó có việc bày biện lễ cúng cũng như đặt trụ đâm trâu. Với ada xong lễ cúng ở mỗi nhà, chủ nhà cũng như mỗi chủ bếp lại mang lễ vật đến sân làng để cùng già làng cúng lễ. Ngoài cồng chiêng (như lễ cúng ở nhà), lễ cúng ở sân làng còn dùng các loại nhạc cụ khác như kèn ống, kèn sừng trâu, đàn, phách gõ hòa tấu vang lên để lễ cúng thêm phần long trọng. Người nhà này đến thăm nhà kia được các chai, avó tiếp ở moong. Vừa uống rượu vừa ăn và vừa chuyện trò rôm rả. Trong cái tiệc vui đó nói như lời cư dân, nồng ấm hơn cả khi họ chia nhau miếng thịt con thú rừng săn bẫy được, họ thấy yêu thương nhau hơn và mối kết đoàn càng được thắt chặt hơn, chốn quê với cái rừng cái núi như càng đẹp hơn với họ. Nhưng ada sẽ đông vui náo nhiệt hơn nếu có khách mời đến từ các làng lân cận, trong đó có khách riêng của từng bếp từng nhà và khách của làng. Cái "chỉ tiêu" mà làng định ra trong lần họp tổ chức ada chính là mức đóng góp vật thực (cơm-xôi-rượu-thịt) của mỗi bếp cho mỗi nhà cũng như của mỗi nhà cho làng để đãi khách đến chung vui. Tạo nên sự rộn ràng, sôi nổi và hấp dẫn chính là những hình thức vui chơi, hát múa suốt trong lễ hội, nhiều khi kéo dài đến hai ngày đêm.
Cha-chấp, ba-bói, câr-lơi, các thể hát với giọng cao, giọng thấp, với các tư thế ngồi, đứng hay vừa mời rượu nhau vừa hát, với các ca từ tự ứng tác, hoặc trữ tình hay đối lý nhặt khoan, trầm bổng cùng với tiếng đệm của các loại nhạc cụ, với các điệu mút điệu nhảy lả lơi, cuồng nhiệt đã làm ada níu bước người trong - ngoài làng cùng đến chung vui. Làng nào cũng có ada, làng làm trước, làng làm sau, cùng đến với nhau, ada như một mùa vui kéo dài, thật tuyệt vời, như chính cư dân đã nói.
Ada, linh hồn của niềm vui, biểu trưng của tình yêu cuộc sống, nền móng của giao hòa để tồn tại với thiên nhiên, người Pakô gìn giữ ada như lưu giữ hạt giống để gieo trồng mùa vụ. Ngay đến ngày nay, dù cuộc sống đã có nhiều đổi thay, người Pakô vẫn duy trì lễ hội ada.

24.  Lễ ăn trâu

Thờ:Cúng trời-tạ ơn thần
Thời gian:tổ chức sau vụ thu họach,kéo dài 3 ngày
Địa điểm:trong buôn,play của các dân tộc tây nguyên
Đặc điểm:múa hát trong nhà rông
Khái niệm”lễ đâm trâu”mà ta quen dùng lâu nay chưa thật đúng với ý nghĩa nội dung của một lễ hội còn mang đậm màu sắc phong tục-tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên,mà con trâu chỉ là vật hiến tế thần linh.Trong thực tế,khái niệm này cũng không bao quát được tòan bộ quá trình diễn biến của lễ hội.Động tác “đâm trâu”chỉ là một khâu của quá trình đó.
Lại có một số ý kiến lên án tính chất “dữ tợn”,’dã man”của tục đâm trâu ,cho đó là tàn dư của một quan niệm cổ sơ cần được sửa đổi,bởi vì con trâu vốn là vật hiền lành ,gần gũi với con người,đã trở thành một ‘nạn nhân bi thảm và tội nghiệp”.
Theo 1 số nhà nghiên cứu, thì nên gọi là“lễ ăn trâu”.Lễ ăn trâu phổ biến ở nhiều dân tộc Tây Nguyên ,là một sinh hoạt văn hóa nổi bật nhất ,mang tính hỗn hợp cao.Nhiều loại hình nghệ thuật dân gianđược huy động tham gia vào lễ hội này:âm nhạc,sân khấu,múa kiếm,nghệ thuật tạo hình.Lễ ăn trâu được tổ chức vào những dịp mừng chiến thắng ,mừng thắng lợi của cộng đồng ,khánh thành nhà rông,lễ cầu an,lễ xóa điềm xấu,điềm gỡ cho cả buôn làng…cũng co khi do gia đình trong làng đứng ra tổ chức để tạ ơn thần,nhưng tham gia lễ hội là cả cộng đồng .Nếu người Kinh nuôi trâu bò là để lấy sức kéo ,lấy thịt,thì các dân tộc Tây Nguyên nuôi trâu chủ yếu là để tế thần.Đương nhiên ,trâu cũng được coi là thú tài sản quý giá bên cạnh những chiêng ,ché xưa .Không phải con trâu nào cũng trở thành vật tế thần cả,nhất là làm vật hiến tế trong lễ ăn trâu .Người ta chọn lự khá kĩ theo những tiêu chuẩn đã được quy định :con trâu đó phải có sức vóc khỏe,vừa độ tuổi ,đôi sừng phải cân đối,không tì vết,có một xoáy mang đặc điểm riêng trên lưng.Nếu là trâu để hiến tế thần,thì thường con vật phải được nuôi dưỡng đặc biệt từ vài năm trước.
Lễ ăn trâu mừng chiến thắng,thắng lợi.
Thông thường ,lễ hội đươc tổ chức tại sân nhà rông của làng , và kéo dài trong 3 ngày.Chủ trì lễ là già làng .Nội dung cơ bản của lễ hội là hiến tế thần ,mừng chiến công của cộng đồng này với cộng đồng kia(thường diễn ra xưa kia),hoặc hòanh thành một việc trọng đại như khánh thành nhà rông.
Ngòai con trâu được chọn lựa đúng tiêu chuẩn ,còn phải chuẩn bị đầy đủ các lễ vật khác như:heo, gà,rượu cần, gạo, nếp…Số lễ vật này do dân trong làng đóng góp.Trước khi tiến hành lễ,già làng kiểm lại số lễ vật,phân công người phụ trách từng công đọan ,từng sự việc,chiều vàng rực đang trùm xuống núi rừng,cũng là lúc đàn chinh chiêng vang lên các bài quen thuộc từ bao đời của người Tây Nguyên.Đó là bài Dual,bài Krum tha thiết mời gọi,thúc giục mọi người hãy nhanh chân đến dự buổi khai mạc lễ hội.Khi mọi người đã tề tựu đông đủ,già làng (nếu là lễ ăn trâu của cộng đồng ),hoặc người chủ gia đình (nếu là lễ ăn trâu của gia đình ),đến đứng gần cột GingGa,cất giọng trang nghiêm cầu khẩn các vị thần linh về chứng giám tấm long thành của bà con và nhận những lễ vật dâng tặng .Tiếng cầu khẩn vừa dứt,âm thanh của các loại cồng ,chiêng,trống nổi lên hòa với tiếng hú từng hồi của người làm cho không khí lễ hội them rộn rang náo nức.Đội chinh chiêng đánh bài Juar,đi vòng quanh cây nêu nhiều vòng .Khi người thổi tù và rúc lên một hồi,người kéo rố giật dây các con rối biễu diễn say sưa.
Đội chinh chiêng chuyển nhịp đánh sang bài Trum với giai điệu nhịp nhàng,hơi chậm.Hai thanh niên ăn mặc kiểu dũng sĩ ,tay cầm gươm sáng lóang và chiếc khiêng từ phía nhà rông tiến đến gần cây nêu.Hai người trong tư thế vờn nhau,như để tìm thế yếu của đối phương .Bất thình lình xuất hiện một nhân vật thứ 3,cũng với trang phục dũng sĩ ,nhưng có vẻ oai phong hơn,tay cầm gậy dài,đưa ra vờn trước con trâu .Bị khiêu khích,con vật lồng lên giữ sự reo vui của dân chúng đang quây quần thành vòng tròn chung quanh .Hai dũng sĩ múa khiên và gươm diễn lại cuộc đọ sức gay go càng lúc càng căng thẳng .Cuối cùng một trong 2 đối thủ đuối sức ,thua cuộc , cuối đầu xuống bước về vị trí cũ .Người dũng sĩ thắng cuộc ,giơ cao chiếc khiên và thanh gươm sang lóang ngang ngực ,bước đi hiên ngang giữ tiếng hò reo của mọi người .
T iếp theo ,đội múa làng xuất hiện .Hai người vỗ trống dồn dập .Bốn thiếu nữ áo quần sặc sỡ đeo kiềng bạc ,còng bạc sáng lóang bước ra với điệu múa nhịp nhàng,uyển chuyển đi vòng quanh cây nêu theo chiều ngược kim đồng hồ ,vẻ mặt tươi vui,hớn hở .Ba nguời khác đánh cồng với nhịp điệu nhanh,hòa cùng tiếng trống ,làm náo động không khí núi rừng về đêm trong ánh lửa cháy bập bùng.Trong khi đó ,các cụ già say rượu thiếp đi .Cuộc vui cứ thế ,kéo dài cho tới sang. Ngày hôm sau ,khi bình minh vừa rạng,mọi người đã tề tựu đông đủ quanh cây nêu buộc trâu để chuẩn bị vào màn chính thức .Hai chàng trai bước ra từ đám đông ,một người cầm chiếc mác nhọn hoắt .một người cầm chiếc lái(dao lớn như mã tấu) sáng loáng từ từ tiến về phía con trâu đang đướng , vung tay chém một nhát vào khủy chân con vật.trâu lồng lên dữ tợn ,chạy vòng quanh cây nêu. Một thanh niên vạm vỡ múa lữơi giáo theon nhịp trống giữ tiếng hò gieo của mọi người, rồi chọn lúc thuận lợi,bằng một động tác mạnh và chính xác đưa lưỡi giáo xuyên vào nách trâu thấu tận tim.
Con vật vùng vẫy, chạy thêm vài vòng quanh cây nêu rồi ngã khụy xuống đất. hai thanh niên khác khiêng đến chiếc nồi đồng, trong đó có đựng một ít rượu, đưa kề vào chỗ vết đâm hứng lấy huyết.huyết trâu được hòa với rượi để cúng thầnn trước khi uống.thầy cúng còn cắt một tý tai, mũi,mi mắt,lông đuôi,đem vào để làm lễ.trong khi đó.tiếng nhạc cồng chiêng vang lên ,nam nữ thanh niên tiếp tục múa hát, diễu vòng quanh chỗ con vật vừa ngã theo ngược chiều kim đồng hồ, thỉnh thoảng xen lẫn cả tiếng hú dài vang vọng vào tận rừng xâu.
Sau đó con trâu được hiến lễ được đem thui, xẻ thịt để làm thức cúng và các món đãi khách . phần còn lại thì phận phối cho các bếp trong làng. Thức cúng gốm có thịt nướng , thịt thăn, gan bì, tiết đem đặt vào nơi ché rượu góc. Lúc này,túi thiêng( yang kơdung) được đưa từ cây nêu xuống dàn tế, và người ta lấy máu trâu để “rửa” túi thiêng.
Đến nửa buổi chiều, dàn chinh chiêng đánh ầm vang, đội múa khiêng từ từ bước ra chỗ trống trong sự reo hò của dân làng . đội múa leo lên sàn nhà rông, đòi công . họ vừa đánh chiêng, vừa cất tiếng hú vang. Một người già đưa rượu , thít, thuốc lá ra mời. lúc bấy giờ cả đội thôi đánh chiêng , cùng ngồi quanh các ché rượu cần đang bầy sẵn, vừa ăn uống vừa cười nói râm ran.
Sáng ngày thứ ba, người già xẻ đầu trâu , băm óc trâu với thịt, làm món cúng, đặt ngay tại cột lơu(cột mốc giũa nhà rông) để khấn Yang Rông chinh chiêng , trống lớn,trống nhỏ lại nổi lên ầm vang, sau đó tiệc rưộu vui chơi kéo dài tới khuya mới kết thúc .
Ơ một số dân tộc,sau lễ ăn trâu người trong làng lại có tục kiêng trong ba ngày, không đi ra rừng , cũng không tiếp khách lạ.

25.  Lễ Cúng Bến Nước Của Đồng Bào Êđê (Đắk Lắk)

Một trong những phong tục tập quán lâu đời nhất của đồng bào dân tộc Êđê là Lễ cúng bến nước được tổ chức hằng năm sau mùa thu hoạch để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đây cũng là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang nhiều ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Êđê.
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương nên phong tục này đã được bảo tồn và tổ chức hàng năm nhằm đáp ứng lòng tin của đồng bào dân tộc và thể hiện chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Buổi Lễ cúng bến nước thường diễn ra như một ngày hội của buôn làng Êđê. Sau hồi chiêng ngân dài như đưa ta vào thế giới tâm linh sâu thẳm và trang nghiêm, Lễ cúng bến nước được bắt đầu bằng việc lễ cúng ông bà tổ tiên để thông báo cho ông bà về sự có mặt đông đủ con cháu trong buôn làng. Khi lễ cúng cho ông bà tổ tiên kết thúc, một hồi chiêng nữa ngân lên và đó cũng là khi thầy cúng bắt đầu làm lễ cúng Yàng (Trời) cầu mưa. Kết thúc lễ cúng Yàng, những hồi chuông dài tiếp tục ngân vang, những cô gái trong trang phục truyền thống, lưng đeo gùi, cùng mọi người theo bước chân thầy cúng về bến nước đầu buôn.
Lễ cúng bến nước diễn ra trong không khí linh thiêng, trang trọng. Thầy cúng đọc lời khấn cầu mong Thần nước mang nước, nguồn sức sống quan trọng nhất đến cho buôn làng. Sau lễ cúng những bầu nước mát ngọt được những người con của buôn làng gùi về trong niềm vui hân hoan. Mọi người lại quây quần bên nhau uống rượu cần trong âm hưởng rộn ràng của cồng chiêng Tây Nguyên – một di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia

26.  LễHội Cúng Đất Làng Của Người Ba Na ƠKon Tum Và Gia Lai

Con người từkhi sinh ra đến khi xuống mồphải trải qua nhiều quá trình của mốiquan hệứng xử; mối quan hệNgười - Người (cá nhân với cá nhân), mối quan hệcánhân với cộng đồng; mối quan hệcá nhân, cộng đồng với đấng siêu nhiên - Giàng.Trong khi điều kiện sinh tồn của các dận tộc còn gặp rất nhiều khó khăn phảichống chọi với thiên nhiên, thú dữ, bệnh tật, đói nghèo, chết chóc... mà trìnhđộnhận thức khoa học của con người hạn chế. Do đó, vòng đời người cũng gắn liềnvới hệthống Lễ- Hội tương ứng trong mỗi thời kỳ, tình huống cụthể. Có LễBỏ Mả(PơThi), LễĂn Trâu, Lễhội mừng Nhà rông mới, Lễcúng Đất làng...
Lễ Cúng Đất Làng là Lễhội của người Ba Na sống ởKon Tum và Gia Lai. Dân làng BaNa làm lễcúng đất làng vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch khi chuẩn bịvào vụ sản xuất hoặc khi dọn đến vùng đất mới. Trước hôm dựng làng đồng bào Ba Na làmlễkéo dài 2 ngày. Họkhấn các thần linh phù hộcho công việc làm ăn thuận lợi,và thông báo cho thần linh biết công việc làm ăn trong nămmới.

27. Lễ hội “rước nước” ở làng bồng thượng, thanh hoá

Bồng Thượng là một làng cổ của xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc. Theo tư liệu khảo cổ của Viễn đông Bác cổ khai quật vào thế kỷ XX ở khu di chỉ Đa Bút (Vĩnh Tân) đã có kết luận bộ xương người tìm được thì cách đây 6.500 năm đã có cư dân sinh sống. Hiện nay, Bồng Thượng là một làng lớn có dân số 5.000/7.500 người cả xã.
Dân cư bố trí ở theo 7 ngõ (ngày nay gọi là thôn), năm ngõ nội đê, hai ngõ ngoại đê ở thế bốn góc chữ điền hướng ra dòng sông Mã. Sau làng là đồng, có núi Hùng Lĩnh, núi Báo làm thế tựa vững chắc. Theo truyền ngôn, một thầy địa lý Trung Quốc đến vùng đất này đã nói: “Vạn thủy thiên sơn giai triều phục” và tiên tri vùng đất này sẽ phát tích sinh vương hầu khanh tướng. Không biết từ bao giờ làng Bồng Thượng đã có câu: “Mạch tòng Hùng Lĩnh trung linh khí/Thế xuất công hầu tráng đế hương”.
Núi Báo làng Bồng Thượng có dược liệu nổi tiếng đó là “Sâm báo” các vua chúa phong kiến đặt cho sâm Báo làng Bồng Thượng cái danh “Đại việt đệ nhất danh sâm” Nghiên cứu sự hình thành làng Bồng Thượng có ba tên gọi khác nhau: Làng Biện Thượng xuất hiện năm 886, làng Báo xuất hiện đầu thế kỷ thứ X gắn với tên gọi chùa Báo Ân. Làng Bồng Thượng xuất hiện thời vua Minh Mạng (1820 - 1840). Là một làng cổ nên có truyền thống văn hóa khá nổi tiếng. Các danh nhân qua các thời đại của xã Vĩnh Hùng đều tập trung ở làng Bồng Thượng.
Thái Vương Trịnh Kiểm và 11 chúa Trịnh nối nhau điều hành đất nước 243 năm (1545 - 1788): Trạng nguyên Trịnh Tuệ thời vua Lê Hiển Tông 1736, Quốc Công Hoàng Đình Ái thời Lê Trung Hưng, Đường Công Lê Quang Lộc thời vua Lê Tương Dực (1509 - 1516): Quận Công Hoàng Đình Phùng thời Lê Trung Hưng, Tiến sĩ Trịnh Khắc Tụy năm 1442 thời vua Lê Thánh Tông, Tiến sĩ Lê Đăng Phụ (1662 - 1731) thời vua Lê Huy Thông, Nữ học giả Trịnh Thị Ngọc Trúc chính cung hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619 - 1643), Đề Giơi là phó tướng cho Tống Duy Tân trong phong trào Cần Vương.
Bồng Thượng cũng là vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng, 6 di tích được nhà nước xếp hạng quốc gia, cấp tỉnh đều nằm trong đất làng. Bồng Thượng đó là các di tích quốc gia: Phủ Trịnh, Nghè Vẹt, đền thờ Quốc Công Hoàng Đình Ái.
Di tích cấp tỉnh: đền thờ Quận Công Hoàng Đình phùng, đền thờ Đường Công Lê Quang Lộc và chùa Báo Ân.
Thành hoàng làng Bồng Thượng là Trịnh Ra tức là Quản gia Đô Bác Vương – ông mất ngày 14/11 (âm lịch) bài vị ông được thờ ở di tích Nghè Vẹt. Làng Bồng Thượng có nhiều lễ hội lớn in đậm truyền thống văn hóa còn lưu giữ đến ngày nay. Lễ hội Ky Thần ngày 14/11 (âm lịch) tại Nghè Vẹt. Lễ hội đánh chuột (hiện không còn – khu lễ hội đã bị phá thời bao cấp và có quốc lộ 217 chạy qua). Gần đây có lễ hội “Giỗ Thái Vương Trịnh Kiểm” vào 17, 18/2 (âm lịch).
Đặc biệt lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân với nhiều nghi lễ, với những chiếc thuyền rồng trên sông, với những giọng hát, điệu múa chèo thuyền giữa dòng sông Mã trong xanh đang được các nhà nghiên cứu văn hóa hết sức quan tâm. Chính dự án “khôi phục tiếng hát chèo thuyền trên sông” trong lễ hội đã được quỹ Ford tài trợ 75 triệu đồng năm 2005 để khôi phục lại.
Nói về nguồn gốc lễ hội này một nhà thơ đã viết: Hơn năm rồi em có biết không/Lễ “Rước nước” bắt nguồn từ lửa...Chùa Báo Ân được xây dựng ở chân núi Báo, nhìn ra sông Mã, lễ hội diễn ra trên phạm vi rộng, ven bờ sông Mã, trên dòng sông mã và khu vực chùa Báo. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 27 đến hết ngày 30 tháng 2 (âm lịch) hàng năm.
Tối 27/2 (âm lịch) khi làng xóm lên đèn thì tại chùa Báo Ân và bến sông Mã (bến đò Hoành) mọi người đèn nến sáng trưng cả một vùng sông nước. Những chiếc thuyền (bè) đã tập kết trên sông. Sau lời tuyên bố của già làng thuyền, bè, người được chở lướt trên mặt sông đến giữa dòng nước biếc gọi là vụng Quần Tiên. Thuyền hạ cây nêu giữa dòng sông gió lộng đèn nến lung linh. Giữa vùng cạnh cây nêu đặt một cây đèn to sáng hắt lên sông. Đoàn người vừa chèo thuyền quanh cây nêu vừa hát. Giữa đêm xuân tháng hai, gió mát nhẹ đưa lên từng gương mặt mỗi con người, những giọng hát văn, trống quân, hát đối đáp ngân lên vang vọng một khúc sông: Những chiếc đèn hoa sen được thả bạt ngàn trên sông (đoạn sông thả đèn trong vụng Quần Tiên có nhiều đá ngầm nên nước ở đây xoáy nhẹ chạy quanh rồi mới theo dòng xuôi về biển. Đứng trên dòng sông nhìn những đèn hoa sen hàng hàng lung linh sáng lập lờ trên sông nước về xuôi thật là đẹp – Một cái đẹp thanh cao tao nhã và thơ mộng. Đó là hội “Hoa đăng” trong lễ hội. Từ vịnh thuyền (hoặc bè) trở về bến Báo Ân hát bài hát dâng trên bến cô Ba, lên bờ lên tháp Viên Quang, vào chùa, bái phật, tạ Mẫu). Sau hội “Hoa đăng” từ 22 giờ đến 24 giờ đêm có lễ “Mục Dục” tại chùa (lễ tắm gọi là Mẫu).
Sáng ngày 28/2 âm lịch là lễ chính ở chùa Báo Ân đó là lễ hội “Rước nước”. Đoàn người được phân công chuẩn bị, ăn mặc lễ hội “Kiệu Mẫu” qua ngõ Vạn, lên ngõ Chùa, qua Nghè Vẹt lên chân núi Báo qua nền Trời đất, sang khe Mang cá đến nền “Rước bóng” về chùa.
Đoàn người rước kiệu Mẫu xong là đến phần “Rước nước”, trên bến Báo Ân đã tập kết 5 chiếc thuyền. Thuyền đi đầu là thuyền Rồng lớn gọi là thuyền Phật lấy nước. Thuyền thứ hai là thuyền Mẫu rất lớn. Thuyền Rồng thứ 3 là thuyền các cô, các cậu. Thuyền thứ 4 nhỏ hơn là thuyền chỉ huy. Thuyền thứ 5 là thuyền giám sát việc lấy nước.Trên 3 thuyền rộng lớn mỗi thuyền có từ 8 đến 10 thủy thủ chèo thuyền: chiếc đầu tiên trở lọng vàng, cờ quạt, 12 nữ mặc áo tứ thân; đi hài trắng, trâm cài, đầu đội các mâm hoa quả, bình sứ hình quả bầu dục để đựng nước. Thuyền thứ 2 gọi là thuyền cô “ba Thoải” gồm các nữ ăn mặc lễ hội hát múa. Trên thuyền có phường bát âm đánh nhạc làm nền cho giọng hát, điệu múa. Số người có trên 5 chiếc thuyền có khoảng 90 đến 100 người.
Hai bên bờ sông Mã người đứng tham quan lễ hội đông đảo vô cùng. Đoàn thuyền chèo ra giữa sông Mã, qua hòn đá Bàn, vượt hòn đá Ngốc, rẽ lái sang ngang. Sau ba vòng lượn đến hòn đá giữa dòng sông thì cắm nêu dừng thuyền.Trong các ngày diễn ra lễ hội tại khuôn viên chùa tổ chức nhiều trò chơi dân gian truyền thống: So đẩy gậy, kéo co của chị em phụ nữ, cờ người, tổ tôm, bài đếm của các cụ cao niên.
Ngoài lễ hoa đăng, rước nước tối 29/2 âm lịch bước sang mùng 1/3 âm lịch có lễ tế tạ (ngày hóa của Mẫu)... Lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân xã Vĩnh Hùng là lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa hàng ngàn năm thu hút khách thập phương đến dự lễ hội rất đông.
Hiện nay, nhằm thực hiện nghị quyết TW5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân đang được chính quyền địa phương chỉ đạo, khôi phục, được các ngành chức năng quan tâm để lễ hội trở về nguồn gốc giá trị của nó.
Trong sự phát triển kinh tế du lịch huyện Vĩnh Lộc lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân, xã Vĩnh Hùng có ý nghĩa tác dụng tích cực không những đối với địa phương mà còn trong phạm vi toàn tỉnh Thanh Hoá.

27.  Hội vật cù ở thanh chương

Theo các bậc cao niên thuộc vùng trung du tỉnh Nghệ An, hội vật cù ở đây có từ khoảng đầu thế kỷ 15. Bắt nguồn từ việc chọn những lực sĩ khỏe mạnh, nhanh nhẹn để sung vào đội quân của tướng Phan Đàn - một võ tướng của vua Lê Thái Tổ, coi việc quân ở vùng này, dần dà hội vật cù trở thành một sinh hoạt mang tính hội lễ đậm nét dân gian được mọi người ưa thích và phổ biến, đi vào đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào vùng Thanh Chương, Đô Lương, Nam Đàn, mà sôi nổi, náo nhiệt hơn cả là ở những vùng dọc hai bờ sông Găng (một nhánh của sông Lam) - Thanh Chương, nơi được xem là xuất xứ của trò chơi này.
Trước ngày vào hội, người ta đã lựa tìm những gốc chuối, đặc biệt thích hợp là gốc chuối hột loại lớn, đào lên lấy củ. Dùng dao sắc đẽo củ chuối thành hình tròn có đường kính cở 30cm, trọng lượng 5 - 7kg là có quả cù đảm bảo yêu cầu. Quả cù phải sạch nhựa và có độ dẻo cần thiết, bởi nó thường xuyên bị giành giật, quăng ném mạnh dễ vỡ trong khi chơi. Vì vậy, quả cù sau khi lược đẽo xong, được luộc qua nước sôi, vớt ra phơi nắng khá kỹ. Lúc này quả cù có màu sẫm và rất dẻo, không bị nứt vỡ khi chơi. Sân chơi cù thường là những sân cát bên bờ sông hay trong làng, chiều dài độ 50m, ngang độ 25m. Có ba hình thức chơi củ: cù gôn, cù đẩy và củ nước. Cả ba lối chơi này đều có chung hình thức tính điểm và bố trí giống nhau, ở hai đầu sân của mỗi bên là hai chiếc sọt đan bằng nan tre, nứa cao 1,5m, đường kính 50cm (cù gôn, củ nước), hay đào một hố sâu rộng 50 x 50cm (cù đẩy). Bên nào giành và đưa được cù vào sọt (hay vào hố) của đối phương được một điềm. Để đưa được quả cù vào đích cũng không phải dễ dàng gì bởi phải giành giật, tranh cướp quyết liệt, bên nào cũng tìm mọi cách nhằm cản phá đối phương đưa cù vào sọt (hố) của mình. Hội vật cù vì thế rất sôi nổi, hào hứng, cuốn hút mọi người dự khán.

Ở cù gôn, khi vào cuộc hai bên dàn đội hình ngay giữa sân, quả cù đặt dưới đất; có hiệu lệnh của người cầm trịch (trọng tài) , hai bên bắt đầu vào cuộc tranh cướp, giành giật chuyền nhau . . . Ở cù đẩy, quả cù được chôn sâu dưới cát giữa sân, khi có hiệu lệnh hai bên tranh nhau đào moi lấy cù bằng tay không. Lúc một trong hai bên đã có cù, các cầu thủ của hai đội đứng sau đội trưởng - người cầm cù – và bắt đầu dùng sức đẩy thông qua quả cù . Bên nào qua lần đẩy này tỏ ra mạnh hơn làm cho bên đối phương phải lùi sẽ giành được quyền ôm cù, ngay sau đó rất nhanh và khéo léo chạy chuyền cù cho nhau để đưa cù tới đích.
Đặc biệt vui và hào hứng lối chơi cù nước. Sân chơi cù nước là một bãi cát ngập nước sâu độ 30 - 40cm ven sông, quả cù được chôn sâu dưới cát ngập nước; khai cuộc cả hai đội dầm mình trong nước tranh nhau moi quả cù sau đó vừa chạy vừa lội với quả cù to nặng, vừa phải luồn lách qua đối phương đang tìm mọi cách đề giành giật quả cù. Người ta tổ chức thi vật cù giữa các làng xã, thời gian mỗi cuộc chơi không qui định cụ thể, số người tham gia mỗi bên cũng không hạn chế. Có khi hội vật cù lên đến đỉnh điểm, đàn ông trai tráng trong làng đều hăng hái vào cuộc không kể tuổi tác, lúc ấy thường là vào dịp Tết Nguyên đán. Người tham gia vật cù đều cởi trần đóng khố. Đề phân biệt người của hai đội, ban tổ chức qui định rnàu sắc của khố hay dải khăn màu vấn trên đầu. Tuy từ xưa không có một điều luật cụ thể, nhưng trong hội vật cù không hề có lối chơi thô bạo, ác ý. Rất quyết liệt nhưng cũng rất trong sáng. Kết thúc cuộc chơi, đội nào có số lần đưa cù vào đích của đối phương nhiều hơn là đội thắng. Giải thướng chỉ mang tính tượng trưng, danh dự. Ở hội cù, người các làng xem và cổ vũ rất đông, hò reo, đánh trống chiêng cuồng nhiệt cổ vũ cho đội nhà và tán thưởng những đường chạy cù ngoạn mục... Ai đã một lần được xem hôi vật cù ở Thanh Chương hẳn sẽ vô cùng thích thú.

28.  Hội đền công (cuông)

"Bỏ con, bỏ cháu không bỏ mồng sáu tháng giêng".
Mồng sáu tháng giêng (âm lịch) lễ hội Cổ Loa. Và chỉ sau đó 1 tháng 10 ngày, tại Diễn Châu -Nghệ An lễ hội tế Thần Thục An Dương Vương lại một lần nữa diễn ra: Lễ hội Đền Công - 15 tháng 2 âm lịch. Đây là một lễ hội lớn ở Nghệ An, thu hút hàng vạn lượt người từ khắp nơi đổ về trẩy hội. Không giống như lễ hội Cổ Loa, luôn có ba phần: lễ tế thần, lễ rước kiệu, khách thập phương dâng hương, vui hội, lễ hội Đền Công chỉ có lễ tế thần, sau đó là các sinh hoạt văn hoá: hát tuồng, chèo, thả đèn hoa.
Mùa xuân, đến với Đền Công không chỉ là dịp cầu phúc, cầu tài mà còn là dịp để lòng người ghi dấu đoạn kết của câu chuyện Loa Thành: An Dương Vương đem công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù, tới Diễn Châu thì dừng lại. Nhận ra sự thật, vua chém con gái yêu rồi theo thần Kim Quy đi về phía biển... Truyền thuyết và lịch sử, thực và hư, những dấu tích đã rêu phong, đã hoen mờ cùng thời gian, chỉ còn lại đó là một Đền Công linh thiêng và lòng ngưỡng vọng của nhân dân nhưng cũng đủ để ta rút ra bao điều đáng chiêm nghiệm...
Đền Công là một di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng và cũng là một danh thắng mà bất cứ ai đã đến sẽ khó quên bởi sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc và cảnh sắc thiên nhiên như thể đã có một sự thoả thuận từ ngàn đời trước giữa tạo hoá và bàn tay con người.
Đền nằm ở lưng chừng núi Mộ Dạ, ngay kề Quốc lộ I. Phía sau núi là biển cả mênh mông, ngày đêm sóng vỗ rì rào. Mỗi ban mai, vầng dương từ biển nhô lên phủ cho cảnh vật một vầng hào quang rực rỡ.
Đứng từ Quốc lộ I nhìn lên, Nghi môn cao vời vợi. Ba tầng lầu như được tôn thêm vẻ cổ kính bởi lớp rêu phong và những cây si nảy mầm từ các kẽ đá bám rễ leo lên đến tận lầu thượng. Kiến trúc bên trong đền phần lớn đều được tu bổ lại nhưng dáng xưa vẫn còn đó trên các cây cột đồ sộ, những chạm nổi rồng phượng tinh xảo, những câu đối viết bằng chữ Hán của các quan lại, danh nho thời trước muốn tỏ lòng tôn kính với vua Thục An Dương Vương.
Bước vào bên trong đền thờ Thần An Dương Vương, ta gặp được cõi tĩnh mịch, trở ra ngoài lại thấy cảnh núi non, trời, biển... Chính cái địa thế ấy đã khiến tâm hồn con người thanh thoát như lời của rất nhiều du khách thập phương. Phải chăng vì lẽ đó hay vì sự linh thiêng của ngôi Đền mà người đến với chốn ấy ngày một đông?! Những năm gần đây, du khách trẩy hội Đền Công muốn vào thắp hương trong ngày tế lễ luôn phải vất vả vì chen chân từ dưới chân núi.
Lòng thành kính, cầu an khiến ngay chính những người tổ chức lễ hội cũng phải ngạc nhiên. Chốn ấy là đất thiêng "cho nên cũng tuỳ lòng tín ngưỡng của nhân dân chứ không ngăn cấm được" - (Lời của Phạm Hy Lương - quan phó bảng ở Nghệ An năm 1874 viết trong bài văn bia khắc vào đá ở đền).

29.  Lễ hội cổ truyền phố cổ hội an

Hội An, tỉnh lỵ cũ tỉnh Quảng Nam, một phố cổ miền Trung, có truyền thống thường xuyên tổ chức nhiều lễ hội, mỗi năm theo âm lịch, bởi tại đó, phần lớn cư dân đều là con cháu của các thương gia Hoa kiều, những nhà lập nghiệp tiên phong đến Hội An đã mấy trăm năm, đã chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Khổng Giáo, nên tổ chức các lễ hội tùy theo thời tiết trong năm. Tết Nguyên Đán cử hành xong, tiếp theo là những đêm hát bội công cộng miễn phí tại các Chùa, các Bang Hội Hoa kiều, trong suốt tháng giêng, cử hành đại lễ Rằm Thượng Nguyên, tháng hai thì liên hoan giữa các chùa, tháng 3 thì tiết Thanh Minh, tảo mộ, tháng tư lễ Phật Đản v.v... cư dân muốn tìm những sinh hoạt náo nhiệt qua các lễ hội vui nhộn hầu lay động không khí tĩnh mịch của phố cổ này. Ngoài những lễ lớn 2 lần trong một năm mà thường gọi là Xuân kỳ, Thu tế, ngày trước, tại Hội An cư dân hay tổ chức thường niên, 3 loại lễ hội lớn, mà mỗi khi nhắc đến thì người dân Hội An hiểu rõ tường tận. Đó là lễ Xô Cộ, lễ Cúng Xóm và lễ Siêu Bạt và Soi Môi.
1.- Lễ Xô Cộ
Lễ này thường tổ chức vào tháng giêng hay tháng 7 âm lịch, có mục đích dâng cúng các phẩm vật lên các vị thần hộ mạng thờ trong chùa các Ban Hội, cầu xin sự an bình trong cuộc sống, sự tiến đạt trong công việc làm ăn, buôn bán, và dâng cúng cho các giới vô hình như ma, qủy, các cô hồn...khỏi quấy phá địa phương. Số người Hoa tại Hội An được sắp xếp vào 5 Ban Hội lớn: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam. Mỗi Bang đều có riêng một Chùa, vừa làm chỗ thờ tự vị Thần Bổn Mạng bên trong, vừa làm văn phòng điều hành bên ngoài, và 2 cánh 2 bên dùng làm hội trường và phòng họp. Ngoài việc tổ chức các ngày rằm lớn: Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên để dâng lễ cúng bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần bảo hộ các thuyền nhân trên biển cả, Quan D9ế Quân hay Phục Ba đại tướng Mã Viện, các Bang Hội còn tổ chức trọng thể lễ Xô Cộ tại các chùa Bang Hội. Mỗi Bang Hội tổ chức xô cộ riêng biệt của Bang Hội mình. Tùy theo khả năng tài chánh thu hoạch mỗi năm, tùy theo sự cầu nguyện của mỗi Bang Hội, các cộ quả phẩm dâng cúng được đặt làm theo tiêu chuẩn khác nhau, như cộ heo, cộ bánh, cộ gạo nếp, cộ muối, cộ trái cây v.v... Mỗi cộ có một sườn cốt làm bằng tre, đan vành tròn làm đế, và trên đế tre nầy, người ta đan một vĩ tre hình chóp nón, bên ngoài phất bằng giấy màu, thường là màu vàng hay đỏ từ dưới đế lên tận trên chóp cộ. Nếu là cộ heo, thì phải dùng 3 con heo quay, rọc xẻ trước ngực, căng 4 chân, gắn úp vào trên sườn giàn tre chóp nón. Nếu là cộ bánh, thì sườn tre được đắp bằng bánh như bánh thuẩn, bánh bò ngũ sắc, bánh lá đủ màu mang các danh hiệu các cửa tiệm buôn, hay các công ty đắp từ dưới đế lên tận trên chóp cộ, trông từ xa như một trái bắp mà các bánh là các hột bắp sắp theo hàng lối đủ màu. Nếu là cộ gạo muối thì sắp các bao vải đủ màu, to bằng nắm tay, độn gạo và muối cho căng đầy, may miệng bao lại, sắp từ dưới lên tới chóp, gắn trên đầu chóp một trái châu đỏ quay tròn theo gió như một chong chóng. Nếu là cộ bánh lá, bánh chưng hay bánh giò thì các bánh nầy cũng được sắp như vậy. Các cộ được đặt trên một giàn tre cao hơn 3 thước, dựng trước cổng chùa. Một vị cao tăng, đầu đội mũ hiệp chưởng, mặc điều y, ngồi trên giàn tre, tay bắt ấn, miệng trì chú lâm râm giữa âm thanh của chiêng trống vang rền pha lẫn với tiếng tang, linh theo nghi lễ Phật giáo, kêu gọi các linh hồn uổng tử, cô hồn thập loại tập trung đông đủ tại lễ đàn. Theo tiếng hú của vị Hòa thượng vừa dứt thì lệnh đẩy các cộ đầy quả phẩm được xô từ trên giàn tre xuống đất, do đó người ta mới đặt cho cái tên là Xô Cộ. Một số cư dân trong phố, trang bị gậy gộc, nai nịt gọn gàng đã tập trung sẵn dưới chân giàn, chờ cộ xô xuống là nhào vô giành chiếm. Những binh sĩ các đồn trại cũng đứng chờ sẵn, xông vào giựt cả một cộ heo quay ôm chạy về đồn, có các đàn em bao che tập hậu, trong khi các băng đoàn khác đuổi theo giành lại trong tiếng la ó gào thét. Theo tín ngưởng dân gian, người ta tin rằng những phẩm vật bắt được từ các cộ xô xuống mang nhiều may mắn, vì đó là các tặng phẩm của các vị thần linh đã làm phép, có khả năng làm cho những bệnh nhân kinh niên mau lành, con trẻ khó nuôi sẽ khoẻ mạnh chóng lớn. Lễ xô cộ nầy không còn tổ chức hằng năm nữa, vì Trung Hoa đã bị Nhật Bản chiếm đóng và quân đội Nhật đổ bộ ở bán đảo Đông Dương nên cư dân người Hoa bỏ lễ hội nầy từ năm 1940.
2. Lễ Rước Long Chu Và Cúng Xóm
Lễ nầy không nhất thiết tổ chức đúng định kỳ, và tùy thuộc vào tình hình an ninh trong khu xóm. Khi một khu phố bị mất an ninh, như bị một bệnh dịch hoành hành, tư gia bị mất trộm hay hàng xóm thường hay gây gổ chưởi bới nhau vì một vài việc lặt vặt thì người ta nghĩ rằng khu xóm bị đất động và các vị thần quản nhiệm các khu xóm ấy quở trách, cần phải Cúng Xóm và rước Long Chu để trừ tà, trị quỷ đem lại bình an trong xóm. Một vài bô lão tự nguyện đi lạc quyên từng nhà trong xóm để gây quỹ tổ chức buổi lễ, sau đó chọn một góc phố nào đó dựng rạp, căng lều, che vải phía trên và bố trí bàn thờ, bài vị thổ thần, đầy đủ lư hương, chân đèn bằng đồng, trướng liễn, lọng tàn mượn của các nhà trong xóm, dâng đủ quả phẩm bông hoa và trái cây. Ngoài các lễ vật trên, còn có Long Chu. Long tức là Rồng, và Chu là chiếc thuyền làm bằng tre., bề dài khoảng 3 thước, bề ngang 1 thước rưởi, phất giấy màu ngũ sắc, mang hình một con rồng uốn khúc đủ cả râu ria, vi vảy, mắt lồi, nhe răng nhọn. Trên thuyền có bố trí một chỗ có ghế ngồi, bên cạnh một cột buồm bằng tre, trước mặt có chè xôi, chuối và giấy vàng mã. Trong buổi sáng ngày lễ, chiêng trống được gióng lên inh ỏi báo hiệu cho xóm biết buổi lễ cúng xóm bắt đầu để mọi người tập trung dự lễ. Một vị bô lão cao niên nhất trong xóm, mặc áo thụng xanh, đứng chủ tế cùng một số gia chủ thắp nhang khấn vái trước bàn thờ cầu mong sự bình an trong khu xóm, tiếp theo là lễ dâng sớ do một vị tăng sĩ rước từ chùa đến tụng kinh, và ông trưởng khu xóm qùy xuống đọc sớ văn theo nhịp điệu của chuông mõ, chiêng linh, tay bắt ấn, day mặt bốn phương hướng kêu gọi cô hồn các loại tập trung về đây để hưởng cúng thí thực. Vị pháp sư bốc những nắm muối gạo từ trong các tô lớn, miệng lâm râm niệm chú và tung vãi bốn phương, rót mấy tuần trà và rượu dâng lên bàn thờ và đốt các giấy vàng mã. Chiếc Long Chu được kê trên một cái giá gỗ đặt trước sân. Vị pháp sư miệng niệm chú, tay lần chuổi bước lên ngồi trên ghế đặt trên Long Chu, tay nắm chặt cột buồm và được đỡ bổng lên bởi 4 tay lực lưỡng mặc áo dài đen, bịt khăn, lưng thắt giây lụa đỏ ngang hông, khiêng trên vai giàn tre, trên ấy Long Chu được đặt và xuất hành từ nơi cúng để chạy rong trong thành phố. Thế là đám rước khởi hành mang theo sau một đám con trẻ và một số người hiếu kỳ rượt đuổi theo, khua chuông trống tạo thành những âm thanh rầm rộ, inh ỏi. Sau những người khiêng chiêng trống, có một số đi sau, cầm các roi dâu, vừa chạy vừa quất hai bên đường để đuổi tà ma chạy theo Long Chu. Các nhà bên lề đường đổ ra xem và có nhà đốt pháo và khua tiếng động đuổi tà, chạy theo Long Chu. Sau khi chạy qua các con đường chính, Long Chu đổi hướng chạy ra bờ sông và dừng lại ở bến sông, hạ Long Chu xuống đất, vị pháp sư bước ra khỏi thuyền. Long Chu được gở ra khỏi đòn tre và vị pháp sư khai hỏa đốt Long Chu và đẩy xuống nước, sau khi để cho trẻ con và các người ăn xin rước hết quả phẩm: chè xôi, cây trái. Ðoàn chạy Long Chu trở về lại xóm, vái trước bàn thờ và buổi lễ kết thúc. Rạp sẽ được hạ xuống, lư hương, chân đèn, liễn trướng, tàn lọng được tháo xuống đem trả lại cho gia chủ. Mọi người tỏ vẻ hân hoan nghĩ rằng các điều xấu xa, bất lợi đã được tống khứ theo Long Chu để đốt ra mây khói.
3.- Lễ Siêu Bạt và Soi Môi
Lễ này xuất phát từ chùa Kim Sơn của Bang Hội Phúc Kiến vào dịp rằm tháng bảy Trung Nguyên để cúng Thiên Hậu Thánh Mẫu là vị Thần hay che chở các ghe thuyền buôn bán, vượt biển khơi, mà thủy thủ phần đông là người Phúc Kiến, để truy điệu những người mất tích và phải vớt vong hồn họ ra khỏi biển cả, siêu độ họ. Sau chánh điện của chùa Kim Sơn, sau bàn thờ của Thiên Hậu Thánh Mẫu, 2 bên có 2 vị thần Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ, có thờ 6 vị tướng nhà Minh chống đối triều Mãn Thanh bị tử nạn trên đường vượt biển. Trong 6 vị tướng này, có một vị rất linh thiêng thường xuất hiện qua các đồng cốt, mặt màu xanh nên người Hoa thường gọi là ông Mặt Xanh. Nhiều giai thoại linh thiêng thường được kể về vị thần này, thường hay giúp đỡ các trường hợp oan ức mà nạn nhân đến kêu ca. Một gia đình công chức bị mất một số nữ trang dấu trong tủ và nghi là cô tớ gái trong nhà lấy. Cô này bị chủ nhà đưa ra pháp luật tra hỏi, oan ức quá, đến chùa Kim Sơn kêu oan. Ông tướng Mặt Xanh lên đồng qua một người buôn bán ngoài chợ, bổng nhiên người này chạy vào chùa Kim Sơn la hét, bảo mọi người chạy theo ông ta. Đoàn người chạy thẳng vào nhà cô cháu gái của gia đình công chức mất nữ trang, ra sân sau và trong một chậu hoa để sau nhà, móc lên một gói giấy đựng số nữ trang bị mất, mà thủ phạm không ai khác là cô cháu gái của chủ nhà. Cô tớ gái được minh oan. Ông tướng Mặt Xanh này mỗi lần xuất hiện thích đi trên than hồng và những nhà hai bên phố thường đốt các lò than cho đỏ rực đem ra đổ ngoài đường, và những người lên đồng bước đi trên than đỏ ấy mà chân không bị cháy phỏng tí nào. Ngoài những vụ thi thố thần lực nói trên, ông Mặt Xanh còn giúp cho những người chết bất đắc kỳ tử như chết sông, chết tai nạn xe tàu hay những người tự tử hiện về khai với gia đình lý do của cái chết bất tử ấy, đồng thời siêu độ vong linh họ. Cư dân phố cổ Hội An đã một thời quen thuộc với các lễ hội nầy và không quên nhắc nhở những sự kiện xảy ra chung quanh các lễ hội nói trên, tiếc rẽ những đổi thay của xã hội đã đưa các lễ hội này vào quên lãng.
4. Đến Hội An nhớ xem hội bài chòi...
Khi đã hiểu luật chơi, dường như ai cũng muốn ít nhất được một lần thử khám phá tên gọi các quân cờ. Hay chí ít, khi đến với hội bài chòi, ai ai cũng đều được thưởng thức những làn điệu dân ca vừa như quen, vừa như lạ qua tiếng hát của người hô. Ra về, những câu hát sẽ như còn đọng lại mãi, quyến luyến, khó quên...
Cảnh tượng nơi đây thật lạ, có ca sĩ, nhạc sĩ, có diễn viên, có sân khấu hẳn hoi, nhưng khán giả thì chẳng hề ngồi không thưởng thức như thường thấy. Trên sân khấu, lũ trẻ tha hồ... chạy nhảy, chơi đùa. Đám đông xung quanh không chỉ lắng nghe từng câu hát, mà chốc chốc lại thấy reo lên với những chiếc thẻ gỗ trên tay để rồi hớn hở đón nhận những chiếc cờ vàng từ tay các "anh thị vệ" của đoàn diễn. Những cụ già thì dường như lại như chỉ biết đến lời ca và ngồi gõ nhịp phách say sưa cùng tiếng trống...
Phố cổ Hội An nhỏ lắm và cũng yên tĩnh lắm. Vọng đến tai hầu như chỉ thấy có tiếng cười, tiếng nói của những người khách du lịch. Vậy mà bỗng dưng đêm nay, nơi cuối con phố lại bỗng rộn ràng những âm thanh của lời ca, tiếng trống hoà trong giai điệu lả lướt của chiếc đàn nhị. Tò mò tìm tới... Dường như toàn bộ cư dân của khu phố cổ đang tập trung tại sân chơi cũng nho nhỏ và ngập đầy sắc màu vàng xuộm hắt ra từ những chiếc đèn "măng - xông hiện đại" này. Tách một em gái nhỏ ra khỏi dòng chảy sôi động của cuộc vui, chúng tôi được biết, đây là đêm hội bài chòi thường được tổ chức vào tối thứ bảy hàng tuần tại khu phố cổ Hội An.
Đêm hội bài chòi hiện nay đã trở thành một sân chơi quen thuộc của người dân Hội An. Cứ vào tối các ngày thứ bảy, mọi người lại tụ tập về khoảng sân giữa phố Hội và sông Hoài (hay còn gọi là sông Bạch Đằng) để được có những giờ phút thư giãn một cách đầy hứng khởi cho kỳ nghỉ cuối tuần. Chính sân chơi này đã đem lại chút không khí sôi nổi giúp khu phố cổ thêm phần sinh động mà vẫn không hề làm mất đi vẻ đẹp yên bình rất đặc trưng của Hội An. Vì rằng, đêm hội bài chòi vừa mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống hiện đại, vừa chứa đựng vẻ dịu dàng, duyên dáng của một nét văn hoá truyền thống đầy ý nghĩa.
Không ai biết chính xác hội bài chòi xuất hiện vào thời điểm nào. Tuy nhiên, từ khoảng 300 - 400 năm trước đây, loại hình vui chơi này đã được tổ chức thường xuyên ở các tỉnh Thừa Thiên - Huế vào những dịp lễ hội ngày xuân. Sau đó, bởi nhiều lý do nên hội bài chòi không còn phổ biến được như trước, thậm chí là đứng trước nguy cơ "thất truyền". Cho đến khi khu phố cổ Hội An được tổ chức UNESSCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, Trung tâm văn hoá thể thao Hội An đã quyết định khôi phục lại sân chơi văn hoá này tại đây, vừa để bảo tồn, vừa để quảng bá một nét văn hoá đặc sắc của dân tộc tới khách du lịch cả trong và ngoài nước.
Có thể hiểu một cách nôm na rằng hội bài chòi là sân chơi của những ván cờ. Mỗi ván gồm có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi "nhà cái" phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh "hiệu" (người hô) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ... Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên liên tục, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc... Nhiều người có thể cho rằng hình thức vui chơi này có vẻ dễ dàng và đơn giản, dựa vào sự may rủi là chính, chẳng khác chơi... xổ số lô tô. Nhưng thực ra, ý nghĩa và cách thức chơi hội bài chòi không hẳn vậy. Và thực tế, đây là một hoạt động văn hoá đáng được tôn trọng và giữ gìn.
Thuở ban đầu, luật chơi hội bài chòi khá nghiêm khắc. Tên quân cờ sẽ không được nhắc đến trực tiếp trong mỗi câu hát mà người nghe sẽ phải tự suy đoán lấy. Ví dụ, nếu tên quân cờ là chữ "nghèo", người hô sẽ hát một số câu có nội dung nói về chữ nghèo, người nghe tự suy luận ra và giơ thẻ của mình lên để nhận cờ vàng. Người nào không đoán được sẽ mất cơ hội được nhận phần thưởng.
Tuy nhiên, nhiều người hiện giờ chưa theo được luật chơi này, bởi vậy, nhiều khi người hô đã sử dụng các câu hát gọi trực tiếp tên quân cờ để người chơi dễ theo dõi. Dù đã có đôi chút biến đổi song hội bài chòi vẫn giữ được đặc thù riêng của mình: là một loại hình sinh hoạt văn hoá lý thú và bổ ích. Có thể khẳng định như vậy là bởi nội dung các câu hát sử dụng trong hội bài chòi đều mang ý nghĩa nhân văn và có tính giáo dục cao (nét khác biệt căn bản để có thể phân biệt hội bài chòi với các trò... cờ bạc khác). Các câu hát được sử dụng ở đây thường nói về tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi tình phụ mẫu, tình phu thê, đề cao những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của con người, phê phán những tệ nạn xã hội, những tập tục lỗi thời, lạc hậu... Vì vậy, hình thức vui chơi này không chỉ có ý nghĩa giải trí đơn thuần. Đồng thời, còn có thể coi hội bài chòi chính là một sân khấu trình diễn của làn điệu dân ca đặc trưng khu Nam (Nam Trung Bộ).

Phần thưởng dành cho người thắng cuộc trong hội bài chòi thực ra không lớn và không mang giá trị vật chất. Thông thường, cuối mỗi cuộc vui, người thắng cuộc sẽ được nhận một chiếc đèn lồng, "đặc sản" của Hội An. Song, điều quan trọng nhất đối với người chơi hiện nay không phải ở những món quà ấy mà ở chỗ họ đã có được một sân chơi văn hoá sôi nổi và đặc biệt lôi cuốn.

30.  Lễ hội đua thuyền ở quảng ngãi

Ở Quảng Ngãi, lễ hội đua thuyền cổ truyền được tổ chức ở ba nơi: Bình Châu (Sa Kỳ), Tịnh Long (Sơn Tịnh) và ở đảo Lý Sơn. Nhưng lễ hội đua thuyền ở Bình Châu trên thuỷ trường là của Sa Kỳ được tổ chức với qui mô nhỏ, không có thuyền đua chuyên và không được tổ chức định kỳ nên nói đến lễ hội đua thuyền truyền thống ở Quảng Ngãi là người ta nói đến Tịnh Long và Lý Sơn - một ở sông và một ở biển.
Lễ Hội Đua Thuyền Ơ Tịnh Long
Là một xã ở đông nam huyện Sơn Tịnh, Tịnh Long nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, gần sát cửa Đại Cổ Luỹ xưa vốn là một thương cảng chính, khá sầm uất của tỉnh Quảng Ngãi. Bởi vậy, bên cạnh nghề nông với ruộng vườn xanh tốt, cư dân Tịnh Long còn làm nghề trên sông, biển. Chắc hẳn đó là lý do sinh ra hội đua thuyền có từ nhiều thế kỷ trước. Xét về thuỷ trường thì đoạn sông Trà Khúc ở Tịnh Long nước êm, có độ sâu trung bình 2-3 mét, lòng sông phẳng. Phía bắc Tịnh Long có các đồi núi thấp, phía nam, nơi hữu ngạn, là Cổ Luỹ cô thôn, với các đồn Thạc Sơn, Bàn Cờ... cùng tạo nên một phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, một khung cảnh thiên nhiên lý tưởng cho một lễ hội tưng bừng rộng thoáng như lễ hội đua thuyền.
Hàng năm, cứ vào mồng bốn, mồng năm tháng Giêng Âm lịch, người dân địa phương cũng như dân ở nhiều xã khác kéo về Tịnh Long, đứng chật trên bờ sông mát rượi bóng cây cổ vũ náo nhiệt cho hội đua thuyền. Thế nhưng việc chuẩn bị cho cuộc đua đã được tiến hành từ vài mươi ngày trước. Từ khoảng giữa tháng Chạp, trong khi đang bận rộn chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán, người Tịnh Long đồng thời cũng sửa soạn quyên góp tiền bạc, chọn vận động viên và tập dượt để chuẩn bị cho lễ hội đua thuyền đầu Xuân. Tịnh Long có 4 thôn (An Lộc, An Đạo, Gia Hoà, Tăng Long), mỗi thôn hình thành một đội đua gồm trai tráng ở cỡ tuổi 18-35, mỗi đội đua có 22 đà công, thuỷ thủ, được nuôi ăn tập và phải chấp hành đúng nội quy cũng như những điều cấm kỵ khác.
Thuyền đua là loại thuyền đặc biệt, không giống thuyền thường, với dáng thon và dài để hạn chế tối đa lực cản của nước. Khi đóng thuyền, người ta phải chọn ngày lành tháng tốt. Thuyền đóng xong, được trang trí đẹp, từ đầu đến đuôi trang trí theo hình con vật trong tứ linh. Bốn thôn trong xã mỗi thôn có một thuyền đua, được trang trí theo hình Long (rồng), Ly (lân), Qui (rùa), Phụng (phượng). Hiển nhiên, thuyền đua gắn với tín ngưỡng của nhân dân và được thờ ở am miếu của thôn, hàng năm, đến kỳ đua mới được làm lễ hạ thủy, có cờ, trống rộn ràng và khi đua xong lại đưa về am miếu cùng với thủ tục như vậy. Trường đua có tổng diện tích khoảng 60.000m2 với chiều dài 500 mét, rộng 120 mét (chia làm 4 ô, mỗi ô rộng 30mét) cho 4 thuyền đua. Sau khi bốc thăm, đội trưởng đội đua thuyền về cọc tiêu qui định để chuẩn bị sẵn sàng khi có lệnh xuất phát. Trong mỗi thuyền đua có 15 đà công, thuỷ thủ, mặc đồng phục và ở tất cả các thuyền đều chít khăn đỏ. Khi có lệnh xuất phát, các thuyền lập tức lao lên. Tiếng trống giục liên hồi, tiếng reo hò vang dậy ở hai bên bờ sông, những chiếc nón huơ lên cao cổ vũ, tạo nên một không khí tưng bừng náo nức. Mỗi lần đua gồm 8 vòng với 4 km, chia thành hai đợt đua, khoảng giữa 2 đợt đua là thời gian nghỉ giải lao để đà công, thuỷ thủ lấy lại sức. Cách tính điểm là thuyền về nhất được 10 điểm, thuyền về thứ nhì được 8 điểm, thuyền về ba 6 điểm, thuyền về cuối cùng 4 điểm. Tổng cộng cả 2 ngày đua tài, thuyền nào có số điểm cao nhất sẽ giành phần thắng và các thuyền khác cũng tuỳ theo số điểm đạt được mà xếp hạng nhì, ba, tư. Ngày hội đua thuyền ở Tịnh Long thật sự là một hội vui Xuân lành mạnh, tưng bừng náo nức của cư dân cả một vùng đất.
Lễ Hội Đua Thuyền Lý Sơn
Lễ hội đua thuyền truyền thống ở đảo Lý Sơn có những nét tương đồng nhưng đồng thời cũng có những nét dị biệt so với lễ hội đua thuyền ở Tịnh Long. Theo các thư tịch cổ, thì người Việt ra khẩn hoang lập ấp ở Lý Sơn vào đầu thế kỷ XVII, muộn hơn ít nhất một thế kỷ so với ở đất liền. Trong gia phả của các dòng họ đầu tiên ra khai phá đảo, thì họ từ đất liền Quảng Ngãi ra khai phá, chứ không phải trực tiếp từ Bắc vào đảo. Gia phả của nhiều dòng họ này còn cho biết, nhiều người có gốc từ Huế, vào Quảng Ngãi định cư ở Rừng Lăng, sau chuyển xuống vùng Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Kỳ... bây giờ, trước khi ra định cư ở đảo. Như vậy, lễ hội đua thuyền ở Lý Sơn có thể đã có mối quan hệ nào đó với lễ hội ở Tịnh Long, hoặc xa hơn nữa, là Huế. Theo văn tế cúng "bát tổ" (8 vị tổ) và "thất tộc" (7 vị tiền hiền), thì lễ hội đua thuyền ở Lý Sơn bắt đầu từ năm 1826, nghĩa là trên 100 năm sau khi những người Việt đầu tiên ra định cư ở đảo. Điều này không có gì là khó hiểu. Phải có một thời gian lâu dài dành cho việc khai khẩn, ổn định chỗ ở, dân số phát triển đủ đông, người ta mới có thể tổ chức một lễ hội cộng đồng qui mô, đòi hỏi nhiều công của cũng như trình độ nghệ thuật cao như đua thuyền.
Lễ hội đua thuyền ở Lý Sơn có thể xuất hiện sau lễ hội người Tịnh Long, cũng không thể thu hút nhiều người ở vùng khác đến như Tịnh Long, vì Lý Sơn là một đảo nhỏ, cách đất liền 25 km, nhưng chắc chắn việc đua thuyền ở đây có quy mô và qui củ hơn nhiều. Lý Sơn có 2 đơn vị hành chính ngang nhau là 2 xã trước kia là Bình Vĩnh và Bình Yến, sau lập huyện đổi lại là Lý Vĩnh và Lý Hải và mỗi xã đều hình thành 4 thuyền, đủ bộ "tứ linh" (long, ly, qui, phụng).
Các thuyền cũng đặt ở nơi am miếu để thờ cúng: ở xã Lý Vĩnh, thuyền long thờ tại miếu Hoà Lân, thuyền phụng tại Lăng Cồn, thuyền ly tại Dinh Chàm, thuyền qui ở lăng Nghĩa Tự. Ở xã Lý Hải, thuyền long thờ ở Lăng Cồn, thuyền ly đặt ở Trung Hoà, thuyền qui ở Trung Yên, thuyền phụng ở dinh Tam Toà. Cũng như ở Tịnh Long, thuyền đua ở Lý Sơn có dáng thon dài, ngang nơi rộng nhất 1,4 mét, dài 9,5 mét; trước kia thuyền được làm bằng khung gỗ, mê tre (tất nhiên có trát đầu rái); sau này mê tre được thay bằng mê nhôm hoặc đuya-ra, vừa bảo quản được lâu, vừa đỡ được sức cản của nước hơn. Trên thuyền các phần được trang trí công phu hơn ở sự chạm khắc (chứ không chỉ vẽ như ở Tịnh Long). Khi ghe được đưa đi hạ thuỷ, người ta cũng tổ chức cầu cúng vào đêm trước, sáng sớm trước khi đua và sau khi đua, để tạ ơn tổ tiên và các vị thần linh. Hàng năm vào rằm tháng Bảy, cúng tế các vị tiền hiền, người ta cũng tổ chức đua thuyền, nhưng chủ yếu vẫn là đua thuyền vào dịp đầu Xuân, kéo dài 4 ngày, từ mồng 4 đến mồng 8 tháng Giêng Âm lịch. Mỗi thuyền đua có từ 18 đến 20 người, trong đó có người Đập then (còn gọn là lái nhịp) và Tổng lái (đội trưởng). Cũng như ở Tịnh Long, mỗi thuyền đua ở Lý Sơn đều có một đồng phục riêng tùy thích, nhưng bao giờ các vận động viên cũng chít khăn đỏ trên đầu. Cách tính điểm đua cũng tương tự như ở Tịnh Long, tuy nhiên trường đua ở đây dài hơn (từ 800 đến 1000 mét) và kéo dài ngày gấp đôi ở Tịnh Long. Tất nhiên, sự thắng bại trong cuộc đua tùy thuộc ở toàn đội, ở sự khoẻ mạnh, dẻo dai của các thành viên trong đội; nhưng ở đây không thể không kể đến người lái nhịp và tổng lái. Người lái nhịp đứng ở giữa thuyền, giữ một trọng trách lớn, là phải dùng then (thanh tre) đánh nhịp rõ to để các thuyền viên bơi đúng theo nhịp. Nhiệm vụ của người đạp then nặng nề ở chỗ, phải đứng ở giữa thuyền, giữ được thăng bằng và phải bằng sức vóc mà liên tục đánh nhịp. Nhịp đánh thưa quá thì thuyền đi chậm, ngặt quá có thể làm các thuyền viên đuối sức, nhịp không đều thì dẫn đến chuệch choạc. Một khi nhịp đã vừa mà có thuyền viên không theo đúng nhịp, gây lực cản thì phải kịp thời phát hiện để thay bằng người khác. Tổng lái là người đứng ở cuối thuyền quan sát đều khắp, đồng thời đảm đương nhiệm vụ lái thuyền. Thuyền đua ở biển có đặc điểm là thủy truờng không êm như ở sông, bởi vậy, tổng lái vừa phải nhắm thẳng đến cột tiêu, đồng thời phải lượn tránh sóng. Đến giáp cọc tiêu rồi phải bẻ lái thế nào đó để không phải mất công vòng rộng, lại không quá gấp thuyền dễ bị chòng chành và nhọc công sức của thuyền viên. Cách quyên góp để tổ chức hội đua thuyền cũng tương tự như ở Tịnh Long, nhưng việc tập dượt để chuẩn bị đua lại hoàn toàn khác. Nếu như để bước vào cuộc đua chính thức, các thuyền viên ở Tịnh Long phải bỏ ra nhiều ngày tập dượt, thì ở đây chỉ cần vài ba ngày. Khi cả đội tập luyện, đội trưởng sẽ xem xét mực ghe để có thể thay thuyền viên cho vừa, mực ghe vừa rồi thì tập cho nhịp nhàng và quen tay. Sở dĩ chỉ cần ít ngày tập luyện bởi những người tham gia đua thuyền đều là những người hàng ngày đánh bắt cá trên biển, rất thông thạo với nghề đi biển.
Tuy không thu hút được dân nhiều địa phương khác đến, nhưng để đổi lại, những ngày đua thuyền thật sự là những ngày hội của người dân toàn đảo. Cùng với tiếng trống giục, cờ phất là tiếng reo hò vang dậy suốt dọc bờ biển trong những ngày đầu Xuân khiến không khí ắng lặng hàng ngày đã hoàn toàn được xua tan, thay vào đó là niềm vui tươi, phấn chấn. Người ta tin rằng những thuyền đua thắng cuộc thì việc làm ăn trong năm sẽ được khấm khá, phát đạt và gặp nhiều may mắn.
Lớp tín ngưỡng xa xưa của lễ hội đua thuyền có thể là tín ngưỡng thờ mặt trăng, nếu cần tìm ở một tầng sâu hơn sẽ là tín ngưỡng thờ thần biển, nhưng hiện tại, lớp tín ngưỡng ấy đã nhạt nhoà. Vì vậy, trên lát cắt đồng đại, lễ hội đua thuyền chỉ còn lắng đọng niềm tin tín ngưỡng của người dân.
Lễ hội đua thuyền hàng năm ở Tịnh Long và Lý Sơn, ngoài những ý nghĩa như đã nói, còn là nơi tập luyện và thử thách sự dẻo dai, rèn luyện ý chí, kích thích con người phấn đấu vươn lên làm ăn, xây dựng quê hương giàu đẹp.

32. Lễ hội làng kiên mỹ

Hàng năm, cứ vào mồng 5 Tết Nguyễn Đán, khi phố phường thủ đô chưa nhạt màu xác pháo, những cành đào xuân vẫn đâm lộc nở hồng, thì người Hà Nội sớm ấy, đều nô nức đổ về phía tây nam thành phố đến Gò Đống Đa (thuộc quận Đống Đa) dự hội. Đây là Lễ hội chiến thắng, mừng công tích lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, do Quang Trung- Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải Tây Sơn lãnh đạo. Cùng thời điểm đó tại nhiều nơi ở tỉnh Bình Định như làng Kiên Mỹ, thành Hoàng Đế (tức thành Bồ Bàn xưa), nơi quân Tây Sơn đặt bản doanh thời kỳ đầu cuộc khởi nghĩa, thành phố Qui Nhơn... đều có tổ chức lễ hội kỷ niệm chiến công oanh liệt của Quang Trung- Nguyễn Huệ. Nhưng đông đảo và tưng bừng nhất vẫn là lễ hội tại làng Kiên Mỹ- quê hương và cũng là nơi dấy binh của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.
Ngay từ ngày mồng 3 và mồng 4 Tết, nơi đây đã rộn rịp trong không khí chuẩn bị cho ngày hội. Người ta chăng đèn, kết hoa, treo cờ, dựng cổng chào, quét dọn, sửa sang đường sá, điện thờ, dựng sân khấu, trại, cả mô hình miêu tả lại trận đánh Ngọc Hồ- Đống Đa lịch sử trên bãi cát bên bờ sông Côn... Từ chiều mồng 4, tại huyện lỵ Tây Sơn, khách từ các nơi xa cũng đã bắt đầu tề tựu về. Đến sáng mồng 5 thì những dòng người từ phía Quy Nhơn và các huyện đồng bằng ngược lên, từ phía An Khê, Plây Ku đổ xuống với đủ loại các phương tiện. Người ta thấy có mặt đầy đủ các tầng lớp già, trẻ, gái, trai ăn mặc đẹp đẽ về dự hội. Có những đoàn đại biểu từ các tỉnh bạn như Quảng Nam- Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, có cả những đoàn khách từ Huế vào, từ Sài Gòn ra. Đặc biệt các thầy cô nhiều trường học nhân dịp này, đưa học sinh của mình đến dự lễ như tham gia một buổi ngoại khóa về lịch sử sinh động nhất, nhằm nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc chính đáng cũng như lòng biết ơn đối với tiền nhân. Vào những năm kỷ niệm chẵn, khách dự lễ còn gặp đoàn đại biểu của dân tộc Bana với trang phục ngày lễ độc đáo từ phía Tây Sơn thượng đạo về dự lễ, mang theo cả dàn cồng chiêng và những điệu múa thượng võ của họ.
Sau dây pháo nổ kéo dài đến 10 phút đồng hồ, tiếng trống đại vang lên giục giã báo hiệu buổi lễ khai mạc. Trong không khí trang nghiêm thơm ngát mùi trần, hàng ngàn người đứng trước sân điện thờ và nhà bảo tàng cúi đầu tưởng niệm vua Quang Trung và những tướng lĩnh, những chiến hữu của Người. Sau khi vụ chánh tế đọc bài văn tế ôn lại quá trình phát triển của phong trào tây Sơn mà đỉnh cao là chiến thắng Đống Đa cùng những thành tựu về các mặt quân sự, kinh tế, văn hóa của triều đại Tây Sơn, các đoàn đại biểu bắt đầu dâng hương trước điện thờ. Cùng lúc đó, dàn nhạc võ 12 trống vang lên các khúc quân và khúc khải hoàn.
Khách dự hội bắt đầu tỏa ra tham quan các di tích chung quanh được xem được nghe kể những truyền thuyết, giai thoại, về các địa danh lịch sử như Bải tập voi và Trường võ, nơi nữ tướng Bùi Thị Xuân, người đã từng chỉ huy đội tượng binh trong đợt dàn quân chủ lực của Tây Sơn làm nên đại thắng Ngọc Hồi- Đống Đa; hòn Tam Phước (thuộc xã Bình Giang), nơi đặt những lò rèn bí mật rèn khí giới chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa; đồng Cô Hầu (xã Tú An, huyện An Khê), nơi Nguyễn Nhạc giao cho người vợ thứ, con gái của một tù trưởng Ba Na, quản lý việc sản xuất lương thực nuôi quân; hòn Yến, hòn Lãnh lương, tương truền nơi Nguyễn Nhạc phát lương và khao thưởng quân sĩ: gò Dinh, gò Đá Đen, những bãi tập luyện của đội quân nông dân vào buổi đầu cuộc khởi nghĩa.
Đến dự hội, du khách còn có dịp thưởng thức điệu múa trống võ Tây Sơn qua tài nghệ của một thiếu nữ tuổi đôi tám, mặc áo chẽn đỏ, quần màu hồng nhạt, lưng thắt dải khăn xanh, hai tay cầm dùi lướt trên 12 mặt trống một cách điêu luyện. Từng tốp nam nữ thiếu niên và thanh niên biểu diễn song kiếm, côn, quyền, đại đao... Đây là lớp môn sinh của những lò võ nổi tiếng từ nhiều thế kỷ qua của một vùng đất giàu truyền thống thượng võ từng in dấu trong ký ức dân gian: "Roi Thuận Truyền, quyền An Thái".
Đất Tây Sơn cũng là cái nôi của nghệ thuật hát bội đặc sắc. Khách về đây dự hội cũng là dịp để thưởng thức những đêm biểu diễn tuồng, hát bài chòi, nhắm rượu Bầu Đá nổi tiếng với món thịt bò thưng cuốn với bánh tráng. Thịt bò thưng là món thịt bò rim khô với nước mắm ngon, đường, hạt tiêu và mè rang, đã có một thòi là món "lương khô" của nghĩa quân Tây Sơn trên đường hành quân thần tốc.

33. Lễ hội katê - di sản văn hóa chăm độc đáo

Lễ hội Katê được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 theo lịch Chăm
Lễ hội Katê là biểu hiện của một nửa cấu trúc lưỡng hợp thuộc về Dương đối lập với yếu tố Âm - lễ Chabur (lễ cúng các ngư thần tháng 9). Cấu trúc lưỡng hợp là một đặc trưng phổ quát ở người Chăm được thể hiện trên nhiều bình diện sâu sắc như: ăn mặc, màu sắc, nghi lễ, hội hè cho đến loại hình biểu diễn nghệ thuật.
Theo tinh thần đó người Chăm luôn phân chia sự vật làm hai nửa: đực - cái, ngày - đêm, sáng - tối, cao - thấp (bộ lạc Cau - bộ lạc Dừa). Tất cả đều thể hiện ước vọng phồn thực trong sự liên kết lức đôi, hầu mong cho sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi và mùa màng tươi tốt của một cư dân nông nghiệp. Bản thân lễ hội Katê chứa đựng triết lý ấy.
Katê là lễ hội lớn của cộng đồng làng Chăm diễn ra trên một không gian rộng lớn từ đến tháp (Bi Môn - Kalan) - làng (Paley) - gia đình (Nga Wôm). Lễ hội được lần lượt tổ chức theo thứ tự trước sau tạo thành một dòng chảy lễ hội Chăm phong phú, đa dạng.
Lễ hội Katê ở đền tháp: Lễ hội Katê ở Ninh Thuận diễn ra ở Đền Pô Naga (thờ thần mẹ xứ sở) tại Hữu Đức, tháp Pôklong Garai tại Đô Vinh, tháp Chàm và tháp Pô Rôme tại Hậu sanh.

Lễ diễn ra ở 3 nơi cùng lúc, cùng ngày, cùng giờ. Sau khi lễ vật đã được chuẩn bị xong thì lễ Katê được tiến hành theo 4 bước: Lễ rước y phục - Lễ mở cửa tháp - Lễ mộc dục (lễ tắm tượng thần Siva và tượng vua trong tháp) - Lễ mặc y phục - Đại lễ - Hội. Đặc trưng của lễ hội Katê là trong mỗi bước hành lễ thì thầy cả sư (Pô Dhia) đọc kinh, ông thầy kéo đàn Kanhi hát thánh ca lần lượt mời các vị thần, bà bóng rót rượu, dâng lễ vật lên thần linh và bà con dự lễ khấn vái cầu thần linh ban cho may mắn, sức khỏe, mùa màng....
Kết thúc của cuộc lễ là điệu múa thiêng của bà bóng trong tháp thì bên ngoài bắt đầu vang lên không khí trẩy hội, những chàng trai cô gái Chăm với sắc phục truyền thống nghiêng mình múa hát những điệu dân ca, dân vũ Chăm rộn ràng theo nhịp trống Ginăng, kèn Sarainai...không khí náo nhiệt kéo dài đến mặt trời ngả về chiều thì lễ hội kết thúc.
Lễ Katê ở gia đình: sau khi lễ Katê kết thúc thì mọi thành viên trong gia đình, dòng tộc mới được tổ chức lễ cúng. Lễ Katê gia đình kéo dài 3 ngày (xưa kia được tổ chức 1 tháng). Trong dịp này ngoài lễ vật dâng cúng, từng gia đình có chuẩn bị qùa bánh để viếng đón bạn bè, làng xóm. Họ viếng thăm và chúc lẫn nhau. Lễ Katê gia đình thường do người chủ gia đình hoặc trưởng tộc làm chủ lễ tế. Mọi thành viên trong gia đình, tộc họ sum họp, ngồi quây quần bên hương hồn tổ tiên- những người đã khuất phù hộ độ trì cho con cháu.
Đó là 3 cuộc gặp gỡ linh thiêng của người Chăm - cuộc gặp gỡ ấy vừa trang nghiêm tĩnh lặng trong lễ vừa sôi động trong ngày hội, làm cho cả cộng đồng Chăm trở thành một khối thống nhất trong một khoảng khắc tâm linh. Lễ hội Katê Chăm thực chất là lễ nghi nông nghiệp tôn thờ các vị thần nông, thần thủy lợi, thờ các anh hùng dân tộc, anh hùng văn hóa như vua Pôklong Garai, Pô Rôme... Đây là mùa tương đối nông nhàn, do đó ngày hội Katê đa dạng trong sắc thái biểu hiện, trong đối tượng tờ cúng, trong không gian văn hóa và trong cách diễn xướng dân gian. Lễ hội Katê không những thu hút dân làng, du khách bởi những sinh hoạt văn hóa đặc sắc như đấu bóng, văn nghệ, thi dệt vải, đội nước...mà còn hướng người Chăm về cội nguồn dân tộc, về Tháp Chăm cổ kính.
Lễ hội Katê Chăm chính là tấm gương phản chiếu những sinh hoạt của một cộng đồng, là nơi hội tụ di sản văn hóa Chăm đồ sộ mà người Chăm tích lũy được trên dặm đường dài lịch sử gian truân của mình.
Ngày nay lễ hội Katê được Đảng - Nhà nước quan tâm bảo tồn, phát huy đang trở thành một hương sắc trong vườn hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

34. Lễ hội cầu ngư Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội. Ngay sau Tết Nguyên đán cả nước lại rộn ràng tưng bừng với hàng ngàn lễ hội lớn nhỏ thấm đẫm văn hoá truyền thống gắn liền với đời sống tâm linh của con người Việt Nam.
Suốt một dải duyên hải miền Trung từ Thanh Hoá đến Bình Thuận, Tết Nguyên Đán vừa xong, người dân của hầu hết các làng chài đã bắt tay chuẩn bị ngay lễ hội cầu ngư.
Theo tục lệ đã có từ vài trăm năm trước, lễ hội thường được tổ chức ba năm một lần, vui chơi, lễ tế trong vòng 3 ngày, rải rác từ giữa tháng giêng đến tháng 3 âm lịch. Thông thường lễ chánh tế được cử hành vào lúc nửa đêm, nhằm cầu an cho xóm làng và tưởng niệm những người đã khuất, khoảng 5 giờ sáng là lễ cầu ngư, diễn trò bên bờ và dưới nước. Vui và thu hút nhất ba ngày lễ hội là cuộc đua ghe trải giữa các làng chài. Cuộc đua trải cũng phải qua hình thức nghi lễ. Các trải đua phải thi tài vượt qua giai đoạn nghi lễ đầu, gồm 4 chặn, mỗi chặn lấy một thẻ có ghi các câu chúc cho tử dân làm ăn thịnh vượng, mưa thuận gió hoà.
Ở làng chài Thuận An tỉnh Thừa Thiên- Huế, còn có trò diễn bủa lưới, tái tạo sinh hoạt của cư dân vùng biển. Bắt đầu vào lễ, người cao niên, được trọng vọng nhất làng khấn vái thần hoàng, thổ địa, thần sông thần biển... cho dân làng làm ăn thịnh vượng, sau đó đánh 3 hồi báo hiệu buổi lễ khai diễn. Sau hồi trống lệnh một vị cao niên tung tiền và phẩm vật xuống sân đình cho các em bé tranh giành nhau lượm. Các em bé này được hoá trang thành các loài cá, mực, tôm. Đó là các hải sản tượng trưng.
Đang lúc các em mải mê giành giực, đám chủ thuyền khiêng một chiếc khe mành, cốt bằng tre, đan chắc chắn, phất bằng giấy, trên khe có một người ngồi, tiến vào sân đình. Người này tung lưới vây quanh đám trẻ: Các chủ thuyền theo ghe, đồng giữ lưới thành một vòng tròn, càng lúc càng thu hẹp lại, vây kín đám trẻ. Đây là giai đoạn bủa lưới.
Các đứa trẻ tượng trưng cho các đàn cá đang ăn mồi tìm cách thoát khỏi lưới. Các chủ thuyền làm các động tác gọi cá, bắt cá. Họ bắt vài con cá đẹp lên cúng trên bàn thờ vị khai canh. Những con cá khác được các bà buôn cá gánh ra chợ bán, hoặc gánh xuống bờ phá cạnh đó rửa nước muối. Hoạt cảnh bán cá, mua cá diễn ra nhộn nhịp. Họ cũng mặc cả ồn ào như buổi bán cá thực sự…
Ở Quảng Nam, Đà Nẵng, lễ hội thường diễn ra vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Ngư dân địa phương thường kết hợp lễ hội cầu ngư, lễ hội Cá Ông cùng với lễ hội ra quân đánh bắt cá vụ Nam hàng năm. Vào những ngày này tàu thuyền ở khơi xa đều tranh thủ về tập trung đầy đủ. Ngay trong ngày đầu, các nhà đều bày hương án để tế lễ, sau đó lễ cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng. Sáng hôm sau là lễ rước trên biển, có cả dàn nhạc trình diễn cùng với hát bả trạo, hát tuồng.
Lễ hội cầu ngư của cư dân các làng chài duyên hải miền Trung, ngoài ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu... đem lại cuộc sống ngày càng no đủ hơn, còn thể hiện ý thức "Uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, có công lập làng, dựng nghề.
* Lễ hội cầu ngư ở Phan Thiết - Bình Thuận
Lễ cầu ngư mang đậm các yếu tố văn hóa dân gian chủ yếu của ngư dân người Việt. Một loại hình lễ hội đặc trưng ở chỗ vừa thực hiện trên bờ, vừa thực hiện trên mặt biển, kết hợp nhiều hoạt động lễ nghi đa dạng và các loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc.
Tham gia lễ cầu ngư từ khi mở đầu đến kết thúc, theo chương trình của ban lễ nghi ở Vạn Thủy Tú bao gồm nhiều lễ nghi, đáng chú ý là lễ Nghệ sắc (Ban lâm tế cúng vái thần, đưa sắc phong xuống các hương án và báo cáo lễ tế chính thức bắt đầu và mời các thần về chứng giám). Lễ cúng nghinh Ông Sanh Thủy lục diễn ra tại biển phía ngoài cảng Phan Thiết, thời gian thực hiện 2 giờ. Đoàn chèo Bá Trạo trình diễn lễ cung nghinh Thần Nam Hải từ biển khơi xa về. Về đến vạn tiếp tục hát chèo mời các vị thần vào ngự trong vạn. Lễ phóng sanh, lễ phóng đăng, lễ thả thuyền trên biển… Và còn một chuỗi lễ liên quan cho đến khi kết thúc. Sau gần một tháng chuẩn bị và 5 ngày lễ hội diễn ra, trừ đi thời gian và các giai đoạn lễ hội diễn ra tại Vạn Thủy Tú. Phần hội diễn ra bên ngoài và trên biển như lễ Nghinh Ông (rước thần Nam Hải) từ biển về, trong đó thời gian chủ yếu là biểu diễn chèo Bá trạo trên thuyền, trên quãng đường rước từ cửa biển về Vạn Thủy Tú với trang phục đặc sắc của lễ nghi.
Ngoài ra còn có lễ phóng đăng trên biển, lễ thả thuyền cúng các linh hồn đã khuất trên biển, lễ phóng sanh, lễ phá cộ… bao hàm cả hai yếu tố: Lễ và hội phối hợp, lễ cầu ngư là một loại hình văn hóa dân gian của ngư dân người Việt có nguồn gốc từ lâu đời, trong đó có sự tiếp biến và kế thừa nội dung từ các lễ nghi mang tính cầu ngư của người Chăm xưa. Ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á, làm nghề gì thì thờ Thần của nghề đó như nghề mộc, nề, may… đều thờ ông Tổ của họ. Riêng nghề nông và nghề ngư là hai nghề có các loại hình lễ nghi phong phú, cuốn hút số người tham gia thực hiện nhiều hơn.
Trên thực tế lễ hội cầu ngư là một hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt, một hình thái văn hóa đồng thời đây còn là một môi trường văn hóa đặc thù, nhiều loại hình nghệ thuật đã ra đời và được giữ gìn trong môi trường này. Lễ Cầu Ngư còn có vai trò to lớn trong việc tích lũy, kế thừa và củng cố các giá trị về tính cố kết cộng đồng.

Trong đó lễ rước Thần Nam Hải là lễ nghi quan trọng nhất mang tính cộng đồng rõ nét, mở đầu cho hàng chục lễ nghi nối tiếp theo. Nội dung của lễ nghi nay mới thực là lễ chính và là điểm nhấn của lễ cầu ngư. Đoàn rước gồm nhiều người tham gia, trong đó có đoàn lễ, đoàn nhạc lễ, đoàn chèo bá trạo, các nhà sư… đủ các loại trang phục ngày hội và chỉ trong ngày hội mới có. Đặc biệt là hàng chục chiếc thuyền lớn được trang bị cờ quạt và đông đảo người tham gia cùng các điệu hò chèo bá trạo diễn ra một giờ để nghinh Thần trên biển gây ấn tượng lớn và xúc cảm cho người xem.

LỂ HỘI MIỀN BẮC

1. Lễ hội tạ thần mặt trăng

Lễ hội Oóc-om-bóc (tục gọi cúng trăng hay lễ đúc cốm dẹp) của người Khmer Nam Bộ được tổ chức vào giữa đêm rằm tháng 10 âm lịch hàng năm. Đây là dịp để bà con tạ ơn Thần Mặt trăng - vị thần lo việc thời tiết giúp bà con trồng trọt được mùa.
Oóc-om-bóc thật sự đông vui vì bao hàm luôn cả phần lễ và hội. Lễ là lễ cúng trăng, còn hội luôn gắn liền với cuộc đua ghe ngo, mà nay đã trở thành một giải truyền thống của Sóc Trăng. Oóc-om-bóc năm nay ở Sóc Trăng tổ chức trong hai ngày 7 và 8/11...
Lễ cúng trăng được tổ chức đêm 14/10 âm lịch tại các gia đình, ngay khi trăng vừa lên. Một mâm sản vật (không thể thiếu cốm dẹp) được bày giữa sân. Gia chủ khấn nguyện cúng lên thần những sản vật của vụ mùa vừa qua. Kết thúc lễ, một vị lão niên hốt một nắm cốm dẹp và "oóc" (đút, nhét) vào miệng những đứa trẻ để chúng "om-bóc" (nuốt cốm). Trong khi đứa bé với cái miệng đầy cốm (biểu trưng cho sự sung túc, no đủ) cố gắng nuốt thì cụ già hỏi đứa trẻ ước muốn gì trong năm tới. Mọi người đều tin lời ước này sẽ được chuyển đến Thần Mặt trăng và trở thành hiện thực.

http://herevietnam.vn/public/ufiles/...ang/comdep.jpg
Cốm dẹp
Sau lễ cúng trăng, các gia đình đến chùa xem thả đèn gió, đèn Lôipratip (đèn nước-hoa đăng). Bầu trời rực sáng với những chùm đèn gió bay cao, trên sông lung linh đủ màu sắc của những ngọn nến được cắm trong những con thuyền hoặc bè nhỏ kết bằng cây chuối, trang trí giấy đủ màu sắc... http://herevietnam.vn/public/ufiles/...thadentroi.jpg
Thả đèn trời
Vào đêm này, người ta đổ ra đường đông nghẹt, không chỉ có người Khmer, mà còn có đông đảo bà con người Hoa, người Kinh cùng vui chung. Chỗ này tổ chức đấu võ, kéo co, chỗ kia biểu diễn văn nghệ như hát Dù kê, hát, múa tập thể Romvông, Romxaravan, Lăm leo, A day... có khi kéo dài trắng đêm.
"Cái đinh" của lễ hội là đua ghe ngo được tổ chức vào ngày 15/10 âm lịch, mà trên 10 năm nay được tổ chức tại đoạn sông Sung Dinh. Ngay từ tối hôm trước, thị xã Sóc Trăng đã chật ních người từ các nơi đổ về. Ước tính, hàng năm có trên 500.000 người về đây xem hội đua. Trên hai khán đài ở đích đến, không thể thiếu dàn nhạc ngũ âm. Tiếng trống, tiếng cồng... hoà với tiếng hô - hụi của các đội đua tạo thành không khí hào hứng, sôi nổi.
Đua ghe ngo
Một chiếc ghe ngo dài khoảng trên 30m, chứa từ 52 đến 58 tay bơi. Mũi và đuôi ghe ngo cong vút tạc hình rắn thần Naga, thân ghe chạm hoa văn hình kỷ hà và được sơn màu sặc sỡ. Ngồi mũi ghe là một vị lão làng cầm chịch, giữa ghe là một vị giữ nhịp bằng cồng hoặc bằng còi. Trong đua ghe ngo, việc cầm lái, giữ lái để chiếc ghe đi đúng hướng, nhịp bơi của những mái dầm phải thật nhịp nhàng là những yếu tố quyết định đến tốc độ. Để được ngồi mũi, ngoài kinh nghiệm về bơi đua, còn phải là "Mạnh Thường Quân" đã có nhiều đóng góp về tài vật cho đội ghe. Với người Khmer, chiếc ghe ngo chính là một hình ảnh đại diện cho phum sóc của mình, biểu tượng của sự ấm no, sung túc. Nếu chưa dự lễ cúng trăng, chưa xem đua ghe ngo thì có thể nói bạn... vẫn chưa biết gì về Sóc Trăng.

2. Hội Phong Chúa Rước Vua

Nhà vua gương mặt uy nghiêm, mình khoác long bào, đầu đội mũ ngự ngồi trên ngai vàng, xung quanh cờ lọng rợp trời, trống chiêng rộn rã, đoàn người kéo dài cả cây số rùng rùng rước kiệu vàng vào đền làm lễ... Đó là khung cảnh của lễ rước vua giả độc đáo có một không hai diễn ra ở làng Thụỵ Lôi, xã Thụỵ Lâm, Đông Anh, Hà Nội

Tích xưa kể rằng sau nhiều lần xây thành Cổ Loa không xong, cứ ngày xây đêm lại đổ, vua Thục Phán An Dương Vương được thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp diệt trừ yêu tinh, từ đó thành xây lên mới vững chãi. Để tạc ghi công đức của thần, nhà vua cho xây dựng đền Sái, thờ thần Trấn Vũ và hàng năm cứ vào mùa xuân nhà vua lại đích thân xa giá về bái yết tại đền. Về sau, việc đi lại khó khăn, tốn kém tiền bạc của nhân dân nên nhà vua ban chiếu cho làng Thụỵ Lôi thực hành nghi lễ này. Từ đó xuất hiện lễ hội “Rước vua giả”, còn gọi là lễ rước vua sống của nhân dân làng Thụỵ Lôi.
Lễ hội rước vua ở làng Thụỵ Lôi được tổ chức vào ngày 11 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Để chuẩn bị cho ngày hội lớn này, n_ từ những ngày đầu năm mới dân làng đã cho sửa sang lại đường sá, những cụ có uy tín trong làng tìm chỗ dựng dinh cho vua, chúa và các quan lại; dân làng làm bánh chưng, bánh dày tiến vua cùng nhiều sản vật khác... Trước ngày diễn ra hội chính, làng cho giết trâu, bò, lợn để khao dân tại đình làng... Sáng 11 tháng Giêng là ngày hội chính, ngoài người được chọn làm vua còn có chúa và bốn vị quan đầu triều cùng tham gia lễ rước. Vua giả ngồi trên kiệu được trai tráng trong làng rước ra đình cùng các quan. Trong khi rước, thỉnh thoảng đám trai tráng khênh kiệu “chúa” lại hô vang rồi chạy để dẹp đường cho “vua”. Sau khi “vua”, “chúa” cùng bá quan yên vị, yến tiệc bắt đầu; tan tiệc trống chiêng nổi lên rộn rã, theo nghi lễ truyền thống, “chúa” lên kiệu vào yết “vua”, sau đó “vua” lên kiệu và cuộc rước bắt đầu: “vua” lên bái vọng đức Huyền Thiên ở đền Sái và thực hiện nhiều nghi lễ khác ở đình, chùa... Lễ hội diễn ra trong không khí trang nghiêm mà náo nhiệt, chiêng trống nổi liên hồi, ai nấy đều hồ hởi dõi theo đám rước, hàng vạn người nối nhau làm ngày xuân như dài mãi... Đặc biệt sau lễ rước, “vua” trở về dinh là... nhà mình, ngự trên ngai vàng, bà con làng xóm vui mừng tới dinh “vua” chúc mừng. Theo các cụ cao niên trong làng, những người được phong “vua” phải đáp ứng nhiều yêu cầu khắt khe về đức độ, sức khỏe, tuổi tác (trên 70 tuổi)... Vị “vua” được chọn sẽ có uy tín rất lớn trong những việc nghi lễ của làng cho đến lễ rước tiếp theo có “vua” mới được bầu chọn. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lễ rước vua giả ở Thụy Lôi bị gián đoạn, từ năm 1984 đến nay được duy trì rất đều đặn. Xưa kia, nhà vua cắt ruộng đất cho những người được giao chuẩn bị lợn, trâu làm lễ khi đón rước vua, nay ở Thụỵ Lôi vẫn còn những cánh đồng mang tên dõng Vua, khu Trâu đô, Lợn đô...
Trước kia lễ hội rước vua diễn ra trong ba ngày, nay chỉ tổ chức gọn một ngày cho phù hợp với đời sống văn hóa mới. Ngày 11 tháng Giêng hàng năm, du khách khắp nơi lại đổ về Thụy Lôi để dự lễ rước vua giả độc đáo của làng và càng thêm tự hào về một nét văn hóa đặc sắc của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội.
Để tìm hiểu về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội mời các bạn ghé thăm Website : http://1000namthanglonghanoi.vn .Website là 1 kho tư liệu quý giá viết về Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến.Các bạn sẽ tìm được những tư liệu quý để phục vụ cho việc học tập của mình và cùng chung tay hướng về đại lễ của dân tộc.

3. Hội Gióng - xã Phù Đổng - Gia Lâm - Hà Nội!!!

Hàng năm cứ đến ngày 9/4 âm lịch (ngày ông Gióng thắng giặc Ân), người dân bốn phương từ mọi ngả xa gần lại đổ về để xem lễ, dự hội tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm (Hà Nội).
Đây là mảnh đất đã sinh ra một trong bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam - “Phù Đổng thiên vương”. Người xã Phù Đổng vẫn truyền nhau câu ca dao: “Ai ơi mùng Chín tháng Tư/ Không đi hội Gióng cũng hư mất đời…”
Hội Gióng thực sự là một lễ hội “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam. Nó là một “hội trận”, vừa thể hiện tinh thần chống giặc ngoại xâm của người Việt cổ, vừa thể hiện mong ước “Quốc thái dân an” của nhân dân.
Lễ hội Gióng được cử hành trong một không gian rộng lớn dài khoảng 3km gồm đền Thượng, đền Mẫu (thờ mẹ Gióng) và chùa Kiến Sơ…
Hội bắt đầu từ ngày mồng 6/4 đến 12/4 (âm lịch). Trong những ngày 6-8/4 dân làng tổ chức lễ rước cờ tới đền Mẫu, rước cơm chay lên đền Thượng.
Ngày chính hội (9/4) có lễ rước kiệu võng từ đền Mẫu lên đền Thượng và tổ chức hội trận (diễn lại trận phá giặc Ân).
Ngày mồng 10 làm lễ duyệt quân tạ ơn Gióng. Ngày 11 lễ rửa khí giới. Ngày 12 lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất. Cuối cùng là lễ khao quân, đến đêm có hát chèo mừng thắng trận.
Để biểu đạt những ý tưởng và triết lý dân gian, Hội Gióng có dàn vai diễn hết sức phong phú và độc đáo. Ví dụ, các ông “Hiệu” là hệ thống tướng lĩnh của ông Gióng; “Phù Giá”, đội quân chính quy của ông Gióng; các “Ông Hổ”, đội quân tổng hợp; “Làng áo đen”, đội dân binh; “Cô Tướng”, tượng trưng các đạo quân xâm lược…
Hội Gióng là một kịch trường dân gian rộng lớn với hàng trăm vai diễn tiến hành theo một kịch bản đã được chuẩn hóa từ xa xưa để lại. Bên cạnh đó, các đạo cụ, y phục, mỗi một chương mục, một vai diễn đều chứa đựng những ý nghĩa hết sức sâu sắc.
Sự hấp dẫn của Hội Gióng trước hết phải kể đến ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, truyền thống võ công, ý chí quật cường và khát vọng độc lập, tự do của dân tộc.
Trong lời khai mạc Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “Đảng ta vĩ đại thật. Một thí dụ: Trong lịch sử ta có ghi chuyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã lãnh đạo hàng nghìn hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông đánh thực dân Pháp…”
Ông Hoàng Đức Cường - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Phù Đổng, kiêm Trưởng Ban quản lý khu di tích Đền Gióng cho biết xã đang chuẩn bị Hội Gióng năm 2010. Hội Gióng năm tới sẽ được tổ chức lớn hơn mọi năm, vì là năm chính hội. Đây cũng là dịp để Phù Đổng chào mừng 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.
Trước ngày 31/8, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội và các bộ, ngành liên quan sẽ hoàn thiện hồ sơ "Lễ hội Gióng" trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./.

4. Lễrước Thánh Tản Viên vềthăm đất tổ

Nghi thức đầu tiên của lễ hội được tiến hành vào đêm 30 tết, là lễ rước Thánh Tản qua sông Đà để ngài về thăm bố vợ. Một ông lái đò, được chọn trước theo các tiêu chuẩn: khoẻ mạnh, gia thế đề huề, có đạo đức tốt, và chay tịnh để bảo đảm trong sạch hàng tuần trước ngày lễ. Sau lễ tế tại đình, lễ tiễn tiến hành tại bến đò làng Khê Thượng. Người lái đò trong lễ phục màu đỏ chèo chiếc đò không, sang bến đò Bộ thuộc xã Thạch Đồng, huyện Tam Thanh, Phú Thọ. Mọi người đều hiểu Đức Thánh đã lên đò, sang sông. Đức Thánh không đi một mình, mà có nhiều quân, quan hộ tống, nên người chèo đò đưa con đò đi lại ba lần qua sông. Khi người lái đò "thấy" Đức Thánh và đoàn quân của ngài đã sang sông hết, mới đốt tràng pháo báo tin. Cuộc hành lễ đã xong. Dân làng kéo về nhà đón năm mới.
Khớp với lễ rước Chúa Ông bên làng Khê Thượng, ở làng Triệu Phú bên Hy Cương, Phong Châu, Phú Thọ có lễ hội rước tiễn Chúa Bà theo chồng về núi Tản Viên. Tương truyền rằng từ trước Tết, bà Ngọc Hoa đã xin phép chồng về thăm bố mẹ. Đến khi Sơn Tinh (Thánh Tản) sang tết bố vợ thì đón luôn vợ trở về. Bà Ngọc Hoa ra đi rất bịn rịn. Đoàn kiệu về đến làng Triệu Phú, bà không chịu đi nữa, Thánh Tản dỗ mãi không được phải vào làng bảo dân làng tổ chức trò vui bách nghệ khôi hài và trò rưóc để bà Ngọc Hoa vui vẻ lên đường...Và, tiếp tục rước Chúa Bà lên làng Triệu Phú, ở Khê Thượng tiến hành lễ đón Chúa Ông vào rạng sáng mồng 2 tết.
Sau lễ là đến hội. Hội Khê Thượng diễn ra tưng bừng từ mồng 3 tết, các dân làng chung quanh cũng nô nức đến tham dự. Các trò chơi dân gian được tổ chức để trai gái đua tài, đua sức: chọi gà, đấu vật, đánh cờ, rồi hát tuồng, diễn chèo...suốt ngày, suốt tối. Trong số các trò chơi suốt cả tuần đầu mùa xuân, thì trò đấu vật thờ Thánh được đặc biệt chú ý. Tục này được giữ gìn như một nghi lễ để nhắc nhớ sự kiện oanh liệt của Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ Tinh. Trò đấu vật thờ Thánh trở nên lừng danh còn bởi một nguyên do ở Khê Thượng xưa vốn là một lò vật nổi tiếng, nhiều thời kế truyền có những đô vật, tiếng địa phương gọi là hói, kiệt xuất bậc nhất, nhì của bản hội. Do vậy, cứ sau một keo vật tượng trưng để thờ thánh, hói nhất được ngồi một mình một chiếu hoa trước sới, xem các đàn em thi tài. Ngày thứ 6, thứ 7, ngày cuối của hội vật, có trò trồng voi trước cửa đình. Thật kỳ khu và ngộ nghĩnh, có hai nhóm, mỗi nhóm gồm 3 đô vật, kết thành hai con voi. Đô khoẻ nhất đứng tấn, đô thứ hai ngồi trên vai đô đứng, chắp tay trước ngực làm quản voi. Đô thứ ba quặp chân ngang bụng đô đứng, nhoài ngang người, đầu vươn ra làm đầu voi... Do luyện tập công phu, chỉ sau hồi trống lệnh, hai con voi đã được trồng xong, sóng hàng đứng chầu vào cửa đình. Khi ấy, hói nhất mới đứng dậy, bước tới dùng dải lụa đào quàng qua hai đầu voi, dắt cặp voi tiến về phía cửa đình trong tiếng hò reo vang dậy của dân làng...
Trò cuối cùng được chọn để kết thúc hội xuân là trò chém may. Có trò này, bởi trong dân gian vẫn tương truyền câu chuyện rằng trên đường từ núi Tản về Đền Hùng, Thánh Tản bắt được kẻ gian. Ngài giao cho dân giữ, rồi cho xử tội để làm răn kẻ khác vào dịp trước khi tan hội. Người được giao trọng trách chém may là thủ phiên của giáp đăng cai hội xuân. Ông thủ phiên mình trần, đầu chít khăn, mặc quần lá toạ, thắt lưng lục, thảy đều là màu đỏ. Tay phải cầm dao dài nom như thanh kiếm, tay trái cầm chiếc mộc hình thuyền đan bằng tre và cũng được sơn đỏ. Lễ Thánh xong, thủ phiên theo nhịp trống tiến đến võ đài, cùng lúc có hai cánh quân cuồn cuộn tiến theo. Cho đến khi trống thúc dồn, đường đao phủ phiên múa tít, chủ tế xướng lên: "khởi trừ tà đạo", bách pháo được châm ngòi nổ ran, thì thủ phiên đã áp sát cây chuối - vật chịu tội. Nhanh như chớp, lưỡi dao thủ phiên phạt xuống, thân chuối đứt đôi, và theo đà, lưỡi dao phất ngược lên chém đứt đôi ngọn chuối đang đổ xuống. Nếu chém trước tràng pháo, hoặc chém xong khi pháo đã nổ hết, là không đạt, sẽ bị làng phạt vạ, bởi đó là điềm không may. Còn chém đạt, sẽ được thưởng bởi như vậy là xóm làng năm đó sẽ may mắn, được mùa, an khang thịnh vượng...

5. Thái Bình-Hội Sáo Đền: Lễ hội thả diều độc đáo

Thả diều là một thú vui dễ say mê. Tìm tre làm một cái khung diều đơn sơ, chắc chắn. Phất giấy lên, cho thêm mấy dải giấy dài làm đuôi. Cột diều vào một cuộn dây. Thế là có một con diều, sẵn sàng bốc mình lên cao.
Buổi chiều trời có gió, đem diều ra cánh đồng, nương theo chiều gió mà phóng con diều lên. Con diều chao đảo một chút rồi là là và cao lên dần. Người chơi diều cứ từ từ thả sợi dây dài thêm để con diều càng lúc càng bay cao hơn. Khi lên cao, diều vui với nắng, với gió, với bầu trời xanh, còn người chơi thì vui với niềm vui của con diều. Lúc ấy, buộc sợi dây vào một vật nặng nào đó, người chơi nằm dưới một gốc cây, ngửa mặt lên trời mà ngắm cánh diều thân yêu của mình mà ngẫm nghĩ: giá mình lúc nào cũng được bay thật cao như con diều vậy. Bay cao, bay bổng vốn là ước mơ muôn thuở của con người.
Những ai say mê với thú thả diều có thể ghé về Thái Bình vào dịp cuối tháng Ba âm lịch để dự hội Sáo đền, lễ hội thả diều độc đáo được ít người biết đến. Hội thả diều Sáo đền diễn ra từ ngày 20 đến 27.3 ÂL hằng năm tại xã Song An, huyện Vũ Thư. Về đây người ta còn tìm về một trong những cái nôi của làn điệu chèo ngọt ngào nổi tiếng.
Ngày nay Sáo đền được biết đến với trò chơi thả diều độc đáo. Cũng như mọi lễ hội khác ngoài phần lễ là phần hội. Phần hội với đủ các trò chơi như: chọi gà, cờ người, bắn cung, bắt vịt... và trò thi diều sáo. Đã từ hàng trăm năm nay luật chơi không hề thay đổi. Người chủ diều chọn đúng hướng gió kéo dây. Ban tổ chức cắm hai cây sào trên đầu có buộc hai lưỡi mác rất bén cắm hai cây sào đó hai bên dây diều, khoảng cách của hai cây sào là 50cm. Trống lệnh nổi lên, các chủ diều kéo căng dây và đâm lên. Con diều nào không chuẩn đảo qua đảo lại, dây diều sẽ chạm phải hai lưỡi mác trên hai ngọn sào là đứt dây ngay! Như vậy cánh diều đó bị loại khỏi cuộc chơi, cứ thế diều nào đậu được đến ngày cuối cùng của hội thì chủ diều đó đoạt giải. Mỗi năm chỉ duy nhất một người đoạt giải, có năm không có ai đoạt được giải diều.
Ngoài việc đậu đến hết hội ở giữa hai lưỡi mác thì con diều giải nhất phải có tiếng sáo thật hay. Sáo hay là bộ sáo gồm 2 sáo trở lên, tiếng sáo trong trẻo, âm thanh giữa các sáo trong bộ sáo phải phối hợp cho nhau hài hoà, ngọt ngào, du dương...
Về dự lễ hội, du khách như nghe văng vẳng trong tiếng sáo diều bài thơ “Thả diều” của Trần Đăng Khoa:

Trời như cánh đồng
Xong mùa gặt hái
Diều em - lưỡi liềm
Ai quên bỏ lại
Cánh diều no gió
Nhạc trời réo vang
Tiếng diều xanh lúa
Uốn cong tre làng

6. Lễ hội Chùa Keo (Thái Bình)

bắt đầu vào khoảng trung tuần tháng 9 âm lịch. Từ xa, khách trẩy hội đã nhìn thấy cây cột cờ thần cao 25m dựng ở sân chùa. Ngày đầu mở hội là phần tiến hành đám rước và một số trò vui khác. Sang ngày hôm sau là ngày cuối hội, kết thúc bằng lễ Bơi cạn Chầu Thánh. Ðội bơi gồm 12 người, đầu đội mã võ, cởi trần, đóng khố đứng thành hai hàng trước nhang thờ tựa như hai bên mạn thuyền. Ðộng tác bơi cạn với tay trái ngửa, tay phải úp, trông giống lúc đang nắm mái chèo. Theo nhịp trống mõ, họ cất tiếng hò dô nghe rất vui tai cùng với tư thế nhịp nhàng, uyển chuyển thật đẹp mắt.
Bơi chải
Hằng năm, từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, làng Ðào Xá, huyện Tam Thanh, Phú Thọ có tục chơi chải, từ trước cửa đền ở bờ ra giữa đầm lớn (nối sông Hồng với sông Ðà). Tục này gắn liền với một chiến tích chống quân xâm lược Tống thế kỷ 11, được ghi trong bản thần phả chép năm 1573 hiện còn lưu ở làng. Theo bảng thần phả thì vào năm 1076, trên đường đi kinh lý các nơi xem xét địa thế để bố trí lực lượng xây dựng phương án đánh địch, Lý Thường Kiệt đã ngược sông Hồng để nghiên cứu đường thủy nối kinh thành Thăng Long với vùng Tây Bắc, sang Vân Nam (Trung Quốc). Ông đã ghé vào làng Ðào Xá nghỉ chân và xem xét nơi gặp nhau của sông Hồng và sông Ðà. Các bô lão cùng dân làng vui mừng bày tiệc đón Lý Thường Kiệt và cùng ông xây dựng phòng tuyến đánh giặc. Xong việc, Lý Thường Kiệt vào đền cầu khẩn thần linh (đền và đình Ðào Xá thờ Hùng Hải Công, một bộ tướng của Hùng Vương, cùng 3 người con của ông có công giúp dân trị thủy). Thần hiện lên và đọc bốn câu thơ ca ngợi công đức của nhà vua dẹp giặc phương Bắc, thu non sông về một mối. Ngài vừa dứt lời thì từ phía ngoài đầm hiện ra hai thuyền rồng, mỗi thuyền vài trăm người hò reo, bơi thuyền thưởng vào đền. Lý Thường Kiệt tưởng quân nhà Tống bèn bày quân dàn trận ra đánh. Nhưng từ trên thuyền có tiếng: "Thuyền của quan thủy quân đến cùng ông bình Tống, xin đừng ngại". Rồi quân từ hai thuyền lên bờ, tiến vào đền. Quân tướng Lý Thường Kiệt và quan quân trên hai chiến thuyền cùng làm lễ xuất quân đánh giặc. Giặc tan, Lý Thường Kiệt về kinh đô tâu vua, xin phong Hùng Hải Công và tam vị Ðại Vương làm thưởng đấng phúc thần.
Dân làng Ðào Xá mở hội ăn mừng, tổ chức bơi chải để diễn lại sự tích trên. Trước đây, từ ngày 9 đến 15 tháng 7, trai đinh bốn giáp thi bơi chải. Có hai giáp một chải: giáp Ðông và giáp Bắc chải Ðực, giáp Tây và giáp Nam chải Cái. Mỗi chải có 27 người: 24 người ở 12 khoang cầm chèo, một người giữa đầu chải, một người bẻ lái, một người gõ mõ. Tất cả đều mặc áo đỏ, đội khăn đỏ.
Khi hạ chải, tức bơi từ cửa đền ra thì bơi êm ả, nhẹ nhàng không động hiệu lệnh. Ðến dãy đồi Gọc, cách đền khoảng năm trăm mét thì quay về. Lúc này trống mõ ở trên thuyền và trên bờ mới nổi lên. Các trai đinh trên thuyền phải ra sức bơi nhanh, chải nào về tới cửa đền trước sẽ thắng cuộc. Cứ như thế, mỗi ngày phải bơi 3 lần vào buổi chiều. Chải nào có nhiều lần về đích trước thì năm đó, người giáp đó sẽ gặp nhiều may mắn. Chiều ngày 15, kết thúc hội, làng lập đền tế lễ ở đền hạ. Tục bơi chải của dân làng Ðào Xá vừa là nghi thức lễ cầu mưa, cầu mùa của cư dân nông nghiệp vừa để thể hiện tinh thần thượng võ
Bơi thuyền
Hằng năm, làng Văn Trưng (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) có tục thi bơi thuyền trên đầm Dưng trước cửa đình làng. Những chiếc thuyền dự thi là những chiếc thuyền ván, dài chừng 5-6 thước, trên mỗi thuyền có 6 tay đua. Ðặc biệt họ không được dùng mái chèo để bơi, mà phải bơi bằng những đĩa phố, mỗi tay cầm 1 chiếc. Trước cuộc thi, ban tổ chức cho các đội rút thăm lấy thuyền. Thuyền sắp thành một dãy mé trước đình, mỗi thuyền mang một số. Ðội nào rút trúng thuyền nào thì sẽ bơi bằng thuyền đó. Ðể gọn gàng trong lúc bơi, các tuyển thủ chỉ đóng một chiếc khố màu.
Mỗi đội mang khố một màu. Các tuyển thủ bước xuống thuyền, xếp hàng chờ lệnh. Trên bờ người xem đông nghịt. Một hồi trống ngũ liên nổi lên, cuộc đua bắt đầu. Những chiếc thuyền chen nhau lao vút trên mặt đầm. Mỗi chiếc thuyền đều nhắm đích-cây tre cắm ở giữa đồng. Theo nhịp tay của các tuyển thủ, những chiếc thuyền phăng phăng rẽ nước ra đi. Những đầu người cúi xuống ngẩng lên theo đà tay, nhấp nhô khiến cả đoàn thuyền trông giống như một con rồng lượn. Bơi thuyền cần phải có lối chơi đồng đội, đều tay đều nhịp, thuyền sẽ đi nhanh. Thuyền nào tới đích trước, nhổ lấy cây tre đó, mang về đình lĩnh thưởng.

7. Hội Long VânHội Long Vânhàm nghĩa rồng mây gặp hội, ý chỉ sự gặp gỡ may mắn, sự thỏa nguyện những ước vọng lớn lao.

"Thỏa duyên cá nước, gặp hội mây rồng"
"Bây giờ cha tuổi tác này
Mong con gặp hội rồng mây kịp người"


Cái tên Long Vân đầy ý nghĩa đã được chọn đặt cho hội làng Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà-quê hương của nhà bác học Lê Quí Đôn. Lịch sử hội Long Vân đã trải qua một thời gian dài hơn với nhiều sự kiện không chỉ đơn thuần là một hoạt động văn hóa dân gian truyền thống. Lần tìm về thế kỷ 18, dân thôn Đồng Phú đã có lệ mở hội chùa từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 6 âm lịch hàng năm. Thuở ấy, ngày nào cũng vậy, ở làng tiếng chuông chùa vẫn ngân vang như lời nhắc nhở về giáo lý nhà Phật về sự từ bi bác ái với quảng đại chúng sinh. Truyền ngôn được biết, kể từ đó tới tận những năm đầu thế kỷ 20, làng mới có tục múa rồng, múa cờ, múa gậy, múa xênh tiền và tục rước nước... trong hội.
Những thập niên đầu thế kỷ 20 dân tộc Việt Nam đang phải chịu ách đô hộ của thực dân Pháp xâm lược và tay sai. Trong thời điểm lịch sử và hoàn cảnh đất nước lúc này, ở Đồng Phú trên cơ sở dựa vào những hoạt động tín ngưỡng, một tổ chức xã hội được thành lập có tên là Ái Hữu nhằm tập hợp những người đồng cảnh ngộ, đoàn kết lại và giúp đỡ nhau trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. Không bao lâu, hội lại đổi tên là hội Quản Trò cũng giữ tôn chỉ mục đích ban đầu, đồng thời đề ra vấn đề tự quản làng xóm cho các thành viên hoạt động. Những tên được đổi tiếp như Tam Khúc, Tiệp Trung để vận động người giàu giúp đỡ người nghèo, tập hợp những người đồng tâm, đồng nguyện vào hội là nội dung cơ bản trong thời gian này của hội. Năm 1930 trước sự kiện Đảng cộng sản ra đời, tạo bước chuyển vĩ đại cho cách mạng Việt Nam, với hàm ý thể hiện sự vui mừng về duyên kỳ ngộ của nhân dân ta khi có Đảng lãnh đạo, tổ chức hội quyết định đổi tên thành Long Vân và cái tên được giữ mãi cho đến ngày nay.
Trong muôn vàn khó khăn do chiến tranh với đời sống thực tại, người dân Đồng Phú vẫn lưu tâm tới vốn quí văn hóa cổ truyền của làng quê, vì vậy khoảng những năm 1960, nhiều hoạt động văn hóa trong đó có tục múa rồng dân gian được khôi phục. Hội làng lại được gọi đích tên: Long Vân. Từ đây con rồng-hình tượng của sự cao quí được sống lại ở Đồng Phú, ngạo nghễ và kiêu hãnh uốn lượn, biểu diễn những động tác mềm mại điêu luyện trong các lễ hội cách mạng, hội lễ cổ truyền tổ chức ở làng, ở vùng hay ở các trung tâm văn hóa công cộng của tỉnh, cả trong hội chợ triển lãm toàn quốc, tiếng ngày một lan xa, vang xa.
Không chỉ lấy tên Hội Long Vân đặt tên cho hội làng, người Đồng Phú dường như còn muốn thể hiện ý tưởng thầm kín của mình trong việc chuyển dịch thời gian lễ hội từ tháng 6 về tháng 4 âm lịch-đúng dịp giỗ bảng nhãn Lê Quí Đôn-con người mà tên tuổi và sự nghiệp làm rạng rỡ quê hương.

8. Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà ThẻnNhảy lửa là một lễ hội độc đáo, mang đậm nét huyền bí, hoang sơ của dân tộc Pà Thẻn, đang sinh sống ở hai huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang) và Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang) trong dịp đầu năm để mừng lúa mới, cầu chúc cho cả năm khoẻ mạnh, sung túc, mùa màng bội thu.
Lễ hội nhảy lửa được tổ chức khi đồng áng đã thu hoạch xong từ giáp Tết (15/12 âm lịch) cho đến hết ngày rằm tháng giêng, trên một bãi đất rộng, bằng phẳng trong làng hoặc trước sân nhà thầy cúng. Tại lễ hội này, mỗi người tham gia lế nhảy lửa đều đem củi tới góp vui.
Để bắt đầu lễ hội, thầy mo làm lễ cầu thần linh. Lễ vật gồm có một bát hương, đàn sắt, con gà, 10 chén rượu và tiền giấy.
Một đống lửa lớn được đốt lên và thầy mo bắt đầu hành lễ. Thời gian làm lễ kéo dài một, hai giờ trước khi được bắt đầu lễ hội nhảy lửa. Khi thầy mo gõ vào đàn và làm lễ cúng, từng thanh niên sẽ ngồi đối diện với thầy và đó chính là lúc nhập đồng cho người nhảy lửa.

Những động tác lắc lư của các chàng trai mạnh dần. Họ bắt đầu bật lên và nhảy ra gần đống lửa. Trong phút xuất thần, họ bỗng thăng hoa mạnh mẽ, phi thường và biến ảo.
Trong khi thanh niên nhảy lửa, thầy mo vẫn tiếp tục làm lễ với tiếng nhạc đều đều huyền bí lẫn với lời khấn lầm rầm. Đồng bào Pà Thẻn cho rằng, thời gian nhảy trên lửa của họ tuỳ theo sức mạnh được thần linh ban cho. Khi hết sức mạnh, họ tự bị đẩy ra khỏi đống lửa, trở về ngồi lễ và lại lắc lư trong tiếng nhạc, chờ thần linh ban sức mạnh cho đợt nhảy mới.
Cứ sau 20 phút nhập thần, lại có một đợt nhảy như vậy. Vũ điệu cùng lửa càng về sau càng trở nên sôi động. Người xem ngày càng bị cuốn hút vào từng bước nhảy của các nghệ nhân và dường như chính bản thân họ cũng bị cuốn vào không khí linh thiêng này.
Ở đợt nhảy cuối cùng, chính thầy mo, linh hồn của buổi lễ, cũng thăng hoa, tung lên những bước nhảy mạnh mẽ, oai phong. Chiếc áo khoác đỏ và chiếc mũ sặc sỡ hoà cùng những hoa lửa rực rỡ tạo thành một khung cảnh vừa hoành tráng vừa mê hoặc.
Ngày nay, tại các bản làng của người Pà Thẻn, lễ hội nhảy lửa vẫn tổ chức thường xuyên vào dịp Tết với nét nguyên sơ. Đây cũng là một trong những tâm điểm của khách du lịch khi muốn khám phá văn hóa độc đáo của dân tộc Pà Thẻn nói riêng cũng như các dân tộc miền núi phía Bắc nói chung.

9. Lễ Mụ Thố của người Mường (Hoà Bình)Là người con của vùng đất Mường Bi, tôi nhớ thời thơ ấu, bố, mế thường kể cho tôi nghe về áng mo “Đẻ đất, Đẻ nước” nổi tiếng, được học hát thường rang, bọ mẹng, được đắm mình vào các ngày hội của bản, của Mường. Thế nhưng trong ký ức đó, tôi không bao giờ quên không khí thành kính đầy ý nghĩa của lễ vía mụ Thố
Một lễ nghi chỉ được tổ chức cho người già lúc ốm đau bệnh tật. Gia đình sợ vía của người già đi xa mất, mọi người tổ chức làm vía cho người già để cầu mong sức khoẻ. Trở về với Mường Bi hôm nay, một lần nữa tôi được hoà mình vào nghi lễ trang trọng này.
Bao giờ cũng vậy, trước khi tổ chức lễ vía mụ Thố, mỗi một gia đình người Mường thường nhờ ông Mo chọn ngày lành tháng tốt để làm vía. Ngày lành tháng tốt đến người con dâu cả trong gia đình đội nón chống gậy cầm ớp khọ đi xin gạo, xin vải của hàng xóm. Số gia đình người con dâu vào xin gạo tương ứng với thứ tự ngày hôm đó. Nếu là ngày mùng 3 cô đi xin gạo vào 3 nhà, ngày mùng 5 sẽ vào 5 nhà. Lúc này, người con dâu không khác gì ăn xin, song dù ít nhiều không quan trọng, điều quan trọng hơn cả là sự đùm bọc thương yêu nhau của xóm giềng đối với người già.
Cùng lúc đó, người con trai trưởng trong gia đình là chồng cô đi vào rừng tìm cây si mọc ở nơi cao ráo đem về. Trong nghi lễ này không thể thiếu cành si bởi trong đời sống tâm linh của đồng bào Mường hình tượng cây si được tôn vinh như một vị thần có sức sống kỳ diệu. Và theo quan niệm của đồng bào, cây si truyền sức sống mạnh mẽ kỳ diệu cho những người cao tuổi để họ luôn có sức khoẻ không gặp ốm đau bệnh tật sống lâu trăm tuổi.
Đối với người Mường, bữa ăn thường ngày rất đơn giản, đạm bạc, nhưng bất kỳ ngày lễ, Tết hay nhà có công có việc, mâm cỗ được chuẩn bị khá tỉ mỉ. Khi những tia nắng cuối ngày khuất dần sau núi cũng là lúc gia đình tổ chức lễ Mụ Thố. Ngay trong lễ mụ Thố, điều nhận thấy đó là công việc bếp núc cỗ bàn hầu hết do người đàn ông đảm nhận. Đây cũng là thói quen lâu đời của người Mường. Còn người phụ nữ chỉ đảm nhận tiệc chay trong buổi lễ. Đồ xôi, gói bánh, từ hái rau hay ở vóng trong phụ giúp.
Nhận được lời mời họ hàng thân thích, anh em hàng xóm mang theo một gói cơm hoặc một bát gạo, một chai rượu đến với ý nghĩa để góp lễ mời vía người ốm ăn gọi là làm “cấp”.
Cỗ cúng trong ngày lễ mụ Thố thường được sắp đặt 5 mâm. Trên các mâm cúng đều có xôi, rượu, vải, tiền đặt lễ, đồ chay. Thế nhưng trong 5 mâm thờ đó, mỗi mâm thời vị thần khác nhau. Mâm đầu tiên có một cái vai lợn đùi trước, một lá thịt đầu thăm, đĩa muối và bát nước canh. Mâm này dâng lên tổ tiên ông mo. Mâm thứ 2 thờ ông hộ gốc kéo si, bà hộ lộc kéo sang. Hai vị này ngự ở cửa liền đến Nam Chu nơi đình chân vua Pán quán vua trời. Mâm thứ 3 thờ ông Kem cầm sổ trạng, mâm thứ tư thờ vua Pua sang nàng mụ thêm già. Hai vị này ngự tại vòm si hoa, cành si thơm, bờm si ngọt. Mâm thứ năm thờ hai Pua sang nàng mụ, vị này cũng ngự tại vòm si hoa, cành si thơm, bờm si ngọt. Mâm cỗ đặt thứ tự từ ngoài vào trong ở vị trí trang trọng nhất trên sàn. Bên cạnh các mâm cúng là 1 cái rá đựng cành si và các vật dụng làm lễ khác như cuốc, nón, quần áo.
Trong đời sống tinh thần của đồng bào Mường, thầy Mo có vai trò hết sức quan trọng. Ông là nhân vật có quyền năng thông quan với thế giới thần linh. Vì thế một trong những người không thể thiếu trong lễ mụ Thố là ông Mo. Khi các mâm cỗ đã sắp đặt đầy đủ, thay mặt cho gia đình, thầy mo khăn áo chỉnh tề thắp hương rồi khấn. Phải năm trời không thuận, đất không lành, người già ốm lắm đau nhiều, hôm nay họ hàng con cháu có lòng đức, lòng đạo, lòng thảo, lòng nhân, soạn lên mâm vía lễ mụ thố, cầu mong giữ vía cho người già mạnh khoẻ trở lại, sống xa già lâu cùng con cháu họ hàng”. Sau khi trình bày lý do xong, ông mo tiếp tục khấn để mời mụ thố về. Dân gian tương truyền, nhà mụ trú ở gốc cây si trên trời cao nên thầy mo phải lên trời đi tìm mụ về. Dâng đủ 10 “thông” cơm chay, 10 “thông” cơm rượu. Con cháu ngồi dưới vái lạy mời các thần và mụ thố. Sau đó, thầy Mo gieo quẻ âm dương. Khi công việc thuận lợi, bà mụ xuống chứng giám, ông Mo thay mặt bà mụ đội nón tay cầm mảnh vải viết lên sổ trạng xin được thêm số, thêm phận cho người già đang đau ốm.
Viết sổ trạng xong, người nhà một sợi dây được buộc vào cành si để tiến hành nghi lễ kéo si, đây là nghi lễ quan trọng nhất trong buổi lễ này. Trước khi kéo, ông Mo tiếp tục khấn. Con cháu ở đâu hãy lại đây! Cầm dây kéo cây si dậy. Cho hồn người mạnh mẽ trở lại, để người sống lâu nghìn năm trăm tuổi. Buổi nào cây si đổ, người mới đổ. Chỗ nào cây si héo người mới héo. Con cháu hỡi, con cháu hà, ta cùng kéo cây si dậy! Để cây si mãi chắc gốc bân cành. Để người sống lâu ngàn năm. Để người sống lâu trăm tuổi. Dậy dậy si hỡi! Dậy dậy si hà. Lúc này con cháu cùng xúm vào cùng kéo, mỗi nhịp kéo mọi người lại đồng thanh “ hò....hơ” cho đến khi cây si dựng vưng chắc mới thội.
Cây si được dựng lên vững chắc, ai nấy trong gia đình cảm thấy trong lòng thư thái. Người già trong nhà thì cảm thấy yên lòng, yên dạ, tinh thần sảng khoái như được tăng hêm sinh lực. Làm lễ xong ông Mo tuyên bố kéo si đã lành, xanh lá gốc, lá ngọn con cháu hãy cùng mời ông bà uống rượu, ăn uống no say. Con cháu bê mâm cơm vía đến cho người già ăn gọi là ăn lấy vía.
Trong không khí hân hoan của bà con và gia đình làm lễ, ông Mo cho phép mọi người ăn cơm, uống rượu cần để hưởng phúc, hưởng lộc của thần linh. Không ồn ào, náo nhiệt như những lễ hội khác, lễ vía mụ Thố gần gũi với đời sống tâm linh của người Mường. Ngày nay, nghi lễ này vẫn được tổ chức ở khắp các bản mường khi gia đình nào có người già yếu.
Được đắm mình vào lễ mụ, tôi càng hiểu thêm tâm hồn và lẽ sống của đồng bào Mường. Nghi lễ này còn thể hiện sự gắn kết hoà đồng giữa thiên nhiên và con người. Con người vun đắp cho cuộc sống, thiên nhiên thêm tươi, thêm đẹp. Thiên nhiên tạo ra môi trường sống trong lành cho con người.

10. Lễ hội Trường Yên_Ninh BìnhĐối tượng suy tôn: Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành.
Thời gian: 9 - 11/3 (âm lịch). Chính hội 10/3.
Địa điểm: Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, Ninh Bình.
Đặc điểm: Lễ rước nước và trò diễn cờ lau tập trận, kéo chữ.
Hội Trường Yên diễn ra hàng năm vào đầu tháng ba âm lịch, chính hội ngày mồng 10 tháng ba, tại mảnh đất cố đô Hoa Lư của nước Đại Cồ Việt xa xưa - nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Tương truyền, ngày 10/3 là ngày vua Đinh lên ngôi Hoàng đế.
Hai nghi lễ trang nghiêm là lễ rước nước và lễ tế.
Vào giờ phút thiêng liêng trong ngày 10 tháng 3, đoàn rước nước khởi hành từ đền vua Đinh Tiên Hoàng, đi đầu là cờ ngũ hành, cờ hành thuỷ (màu đen) đi giữa, sau đến đoàn múa rồng biểu hiện cho ý thức cầu nước và là biểu tượng vật thiêng (rồng vàng) từng cứu Đinh Tiên Hoàng thuở hàn vi; rồi tới phường bát âm đi hàng đôi, tiếp theo đến kiệu long đình do bốn chàng trai khiêng, trên đặt một cái choé để đựng nước Thánh, đoàn rước tiến về phía sông Hoàng Long.
Khi đoàn rước đến sông Hoàng Long, xuống thuyền. Đoàn rước có một thuyền rồng (thuyền chính) chèo ra giữa sông làm lễ, sau đó thả đồ vàng mã và đồ lễ xuống sông tạ ơn Hà Bá. Tiếp đó người chủ tế thả một chiếc vòng tròn vải đỏ xuống dòng sông, nước được múc từ trong vòng tròn này, đổ vào choé qua một lớp vải đỏ trên miệng. Nước trong vòng tròn vải đỏ là được lọc qua lớp vải sẽ càng tinh khiết hơn. Khi nước đã đầy choé, các thuyền tản ra, quay mũi về bến, riêng thuyền rước choé nước còn quay sang bên trái rồi mới trở lại bến cũ và tiếp tục cuộc rước nước về đền.
Lễ tế diễn ra vào ban đêm cùng lúc ở hai đền vua Đinh và đền vua Lê. Bài văn tế chia thành chín đoạn (cửu khúc). Sau khi chủ tế xướng xong một đoạn có hai người phường nhà trò (một nam - đàn; một nữ - hát) diễn giải lại nội dung đoạn văn tế bằng điệu ca trù. Kết thúc lễ tế, khách hành hương trảy hội vào điện thờ ở hai đền dâng hương làm lễ và chiêm bái di tích.
Khách trảy hội có thể tham dự các trò vui, cuộc đấu như: võ, vật, đua thuyền, đu bay, hát chầu văn, bình thơ, thi thơ, trò kéo chữ, múa gậy, múa rồng, múa lân hoặc chơi cờ người...
Độc đáo nhất của hội Trường Yên là trò "Cờ lau tập trận", diễn lại sự tích quãng đời chăn trâu thuở nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh trên đất Trường Yên.
Mùa xuân trẩy hội Trường Yên cũng là dịp du khách đi thăm di tích đền vua Đinh, đền vua Lê, thăm lăng vua Đinh trên đỉnh núi Mã Yên, độ cao khoảng 150m, tưởng nhớ về nguồn cội, tổ tiên - một vùng đất “địa linh nhân kiệt

11. Lễhội Triều Khúc

Nằm tại km số 8, trên đoạn đường Hà Nội - Hoà Bình, làng Triều Khúc còn có tên gọi là Kẻ Đơ, nay thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Kẻ Đơ xưa vốn đã là một vùng quê nổi tiếng với nghề làm nón quai thao, vì thế, làng còn được gọi là làng Đơ Thao. Ngoài quai thao, làng còn nổi tiếng bởi nghề thêu may những đồ thờ như: lọng, tàn, trướng, y môn, tán tía.
Tương truyền, nghề này do một người họ Vũ truyền dạy lại. Do có nghề thủ công nên từ xưa dân làng Triều Khúc đã sống tương đối phong lưu. Để nhớ ơn người đã đem lại cuộc sống ấm no cho mình, dân làng đã thờ ông tổ nghề tại đình Lớn cùng với vị Thành hoàng là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (770 -798). Hằng năm, làng tổ chức lễ hội tại đình Lớn để ghi nhớ công ơn tổ nghề và thao diễn lại trận đánh oanh liệt của vị Đại vương mà dân làng vẫn tôn kính phụng thờ.
Lễ hội Triều Khúc được tổ chức trong ba ngày từ 9 đến 12 tháng Giêng. Mở đầu là lễ rước long bào - triều phục của Hoàng đế Phùng Hưng từ đình Sắc về đình Lớn (Triều Khúc có hai đình) để bắt đầu cuộc tế gọi là lễ “hoàn cung”. Khi cuộc tế lễ trong đình bắt đầu thì ngoài sân đình các trò vui cũng được tổ chức, một trong những trò vui được nhiều người ưa thích nhất là trò “đĩ đánh bồng”. Đây là một điệu múa cổ do hai chàng trai đóng giả gái biểu diễn, trong bộ quần áo mớ ba mớ bẩy, cộng với hoá trang má phấn môi son, răng đen hạt huyền, mắt lá răm, khăn mỏ quạ, hai “cô gái” vừa nhún nhảy vừa vỗ trống Bồng đeo trước bụng một cách nhí nhảnh, nom rất vui mắt và cũng gây cười. Tiết mục này thường thu hút người dự hội nhiều nhất và cũng là tiết muc sinh động và độc đáo nhất trong lễ hội Triều Khúc.
Ngoài ra, trong hội làng Triều Khúc còn có nhiều trò vui khác như múa lân hí cầu, đấu vật, hát Chèo Tàu. Sới vật Triều Khúc cũng là một trong những sới nổi tiếng, thu hút khá đông các đô vật nơi khác về tham dự: Bắc Ninh, Gia Lâm, Mai động... Múa rồng trong hội Triều Khúc cũng có nhiều nét độc đáo, kỹ thuật điêu luyện. Tương truyền đây là điệu múa có từ thời Bố Cái Đại Vương. Do múa hay, múa đẹp như vậy nên hằng năm đội múa rồng Triều Khúc thường được mời về tham dự và múa rồng ở hội Đống Đa.
Ngày 12 là ngày rã hội. Trong ngày này có lễ rã đám, và kết thúc bằng điệu múa cờ (còn gọi là chạy cờ). Điệu múa phản ánh sự tích Phùng Hưng kén chọn người tài để bổ sung quân ngũ trước lúc lên đường quyết chiến với quân xâm lược.
Khi mọi nghi lễ kết thúc, cũng là lúc mọi người cùng ngồi vào chiếu hưởng lộc thánh. Họ cùng nhau chia vui chén rượu, miếng trầu. Hội kết thúc trong niềm vui tươi phấn khởi và hy vọng của dân làng về một năm mùa màng bội thu, nghề nghiệp sẽ thịnh đạt, dân làng sẽ khoẻ mạnh hơn trước.

12. Lễ hội chém lợn ở Bắc NinhCứ vào mồng 6 tết âm lịch, hàng ngàn người từ các vùng lân cận lại đến thôn Ném Thượng, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham dự một lễ hội liên quan đến tín ngưỡng phồn thực: lễ hội chém lợn tế thánh.
“Đi qua Kinh Bắc bến hồ,
Về hội đình Thượng lễ chùa Đại Bi.
Đi hội Ném Thượng cùng đi,
Hội thi xôi nếp chém thi lợn thờ”.
Tục truyền rằng: có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hằng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất hoang vu này.
Theo tín ngưỡng dân gian của vùng quê Kinh Bắc, máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu...
Hai cụ ỉ (lợn, còn gọi là ỉn) được rước đi vòng quanh làng với các phường trống, kèn, cờ, táng lọng cùng các đội múa sênh tiền, đội tế lễ, đội dâng hương bồi bái viên...
Dân làng bày mâm cúng, góp tiền công đức khi đoàn rước lễ đi qua.
Khi lễ rước trở lại sân đình, hai thủ đao Nguyễn Văn Sơn và Nguyễn Đăng Mạnh- được dân làng chọn từ những gia đình hạnh phúc, con cháu đề huề, nuôi lợn mát tay, khỏe mạnh và phải đúng 50 tuổi - ra tay chém hai cụ ỉ tế thánh.
Người dân mang tiền, dây cột gia súc, nông cụ... ra thấm máu lợn cầu may.
Thịt lợn tế thánh được chia cho mọi người với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc.

13. Hội đền Hai Bà TrưngNằm cách đường Nguyễn Công Trứ chừng 500 mét, thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng là một ngôi đền kiến trúc theo lối xưa. Trước cửa đền là một cây đa lớn cành lá xum xuê tạo cho ngôi đền một vẻ linh tú, nghiêm trang. Đây chính là nơi thờ hai vị nữ vương duy nhất của Việt Nam là Trưng Trắc và Trưng Nhị.
Sau ba năm kiên cường chống quân xâm lược phương Bắc (40-43), cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, nhưng đã để lại cho dân tộc ta tấm gương trung trinh của nhị vị nữ anh hùng, làm rạng ngời ý chí và bản lĩnh của phụ nữ Việt Nam. Tưởng nhớ sự nghiệp vẻ vang của Hai Bà cùng các tướng lĩnh, nhân dân đã lập đền thờ ở nhiều nơi. Nhưng nổi tiếng hơn cả, phải kể đến ba ngôi đền: đền Hát Môn (Hà Tây), đền Hạ Lôi (Vĩnh Phúc) và đền Đồng Nhân (Hà Nội).
Đền Đồng Nhân được khởi dựng vào năm 1142 đời Lý Anh Tông, sau sự kiện huyền kỳ về pho tượng Hai Bà bằng đá trôi theo dòng sông Hồng dạt vào bờ và toả sáng bãi Đồng Nhân đêm 6 tháng 2. Từ đó thành lệ cứ vào dịp này hằng năm dân làng tổ chức lễ hội. Đến năm 1819, bãi sông lở, đền chuyển về Sở Võ (giảng võ đường thời Lê) tại thôn Hương Viên, nay là phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội.
Hội đền Đồng Nhân kéo dài trong bốn ngày từ 3 đến 6 tháng Hai. Lễ hội bắt đầu bằng lễ mở cửa đền ngày mồng 3. Sáng ngày mồng 4 dân làng đã bắt đầu tế (là lễ nhập tịch). Đến ngày mồng 5 là ngày chính hội. Trong ngày này có lễ tắm tượng, tế nữ quan và tổ chức múa đèn, ngày mồng 6 tế lễ chay. Theo tục cũ mọi việc dâng cúng trong hậu cung đều do các lão bà thực hiện.
Sau tế lễ, đến múa đèn. Tốp múa đèn gồm từ 10 đến 12 cô gái độ tuổi thanh xuân đẹp đẽ và tầm vóc như nhau đã được tập luyện chu đáo. Tất cả các nữ vũ công này đều mặc áo dài đen, quần hồng, thắt lưng đỏ, đầu chít khăn lụa màu. Mỗi người cầm trên hai tay hai đèn làm bằng đài gỗ, dán giấy màu xung quanh và thắp nến cháy sáng ở giữa. Tốp múa này sắp thành hàng trước hương án và múa uyển chuyển, lúc lên lúc xuống, lúc đan xen, lúc tách hàng theo tiếng trống cơm bập bùng nhịp nhàng của hai cô gái đánh bồng (do nam giới cải trang) làm nhịp cho điệu múa.
Ngày mồng 6 rã hội có lễ dâng hương và đóng cửa đền.

14. Lễ hội Phủ Giầy - Nam ĐịnhLễ hội Phủ Giầy là lễ hội tôn vinh Thái Mẫu Liễu Hạnh - một bậc "Thiên hạ mẫu nghi", vị thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và là một vị Thánh trong Tứ bất tử của dân tộc Việt Nam. Liễu Hạnh đã được phụng thờ ở nhiều nơi: Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ, Phủ Sòng và rất nhiều các phủ, đền khác. Nhưng lễ hội Phủ Giầy là lễ hội lớn nhất và có tính quy mô nhất.
Phủ Giầy là tên gọi của quần thể di tích thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. Phủ Giầy trước có tên cổ là Kẻ Giầy, cho tới khi Liễu Hạnh được suy tôn là Mẫu nghi Thiên hạ thì Kẻ Giầy được đổi thành Phủ Giầy.
Phủ Giầy là một quần thể kiến trúc độc đáo giữa một vùng đồng bằng bát ngát, sông nước mênh mông. Dải núi đất bao bọc những con sông uốn lượn tạo nên một khung cảnh sơn thuỷ hữu tình. Các dãy núi này được dân gian hình dung như một con rồng khổng lồ mà đầu là núi Ngăm, các khúc mình rồng là núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và đưới nó là núi Thổ. Di tích Phủ Giầy tuy chưa phải là một công trình kiến trúc đẹp và có quy mô hoành tráng trong hệ thống kiến trúc tôn giáo Việt Nam. Những nét văn hóa của triều đại nhà Nguyễn được in đậm trong công trình này. Có hai đền lớn trong Phủ Giầy. Một là thôn Vân Cát - quê cha và một là thôn Tiên Hương - quê chồng của bà chúa Liễu Hạnh. Ngoài hai phủ chính này, bao quanh còn có một loạt các đền miếu khác như đền Khâm Sai, đền Thượng, đền Đức Vua. đền Công Đồng, đền Giếng Gàng, đền Cây Đa, đình ông Khổng, Phủ Tổ, làng Mẫu… Nhờ có hệ thống đền miếu này mà quy mô về sự thờ phụng cũng như sự tôn nghiêm của Phủ Giầy được tăng lên.
Ở Phủ Giầy có bộ ba kiến trúc liên quan chặt chẽ với Liễu Hạnh là: Phủ Tiên Hương (Chính phủ), phủ Vân Cát và lăng chúa Liễu.
Phủ chính là một công trình đẹp. Trước phủ là một giếng tròn giữa có cột cờ rồi đến một sân rộng nối với hệ thống nghi môn trụ, trên đỉnh đắp chim phượng và lân. Tiếp đến là ba tòa nhà ngang: nhà bia, nhà trống, nhà chiêng. Một hồ bán nguyệt có lan can thấp bao quanh, có bình phong và hai cầu vượt đều bằng đá. Điện thờ chính, thờ hệ thống Mẫu Tứ Phủ. Mẫu Thượng Thiên (Trời) ớ giữa, Mẫu Địa (đất) ở bên phải, Mẫu Thoải (Nước) ở bên trái, Mẫu Thượng Ngàn (núi, rừng) ở phía trước.
Phủ Vân Cát không cách xa phủ chính, mang một vẻ đẹp khác, phía trước là hồ bán nguyệt, rồi tới ngũ môn uy nghi. Trung tâm là nơi thờ Chúa Liễu. Khu vực bên trái là chùa thờ Phật, bên phải là đền thờ Lý Nam Đế.
Lăng chúa Liễu, bên cạnh phủ chính, chiếm một khu vực riêng hình chữ nhật. Toàn bộ công trình đều xây bằng đá, chạm trổ đẹp. Giữa lăng là một ngôi mộ hình bát giác, mỗi cạnh chừng một mét.
Thái Mẫu Liễu Hạnh là nhân vật trung tâm được thờ phụng trong các di tích ở Phủ Giầy cũng như trong lê hội Phủ Giầy. Đây là một nhân vật vừa là thiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo. Nguồn tư liệu về bà Chúa Liễu Hạnh rất phong phú, bao gồm các truyền thuyết, thần tích, các gia phả, ngọc phả của các dòng họ sinh sống tại Phủ Giầy. Theo các sách, truyện hay tầm phả còn chép thì bà Liễu Hạnh sinh năm 1557 tại làng Vân Cát, là con của ông bà Lê Công Chính và Trần Thị Phúc. Năm 18 tuổi bà lấy ông Đào Long ở làng Tiên Hương gần kề với làng Vân Cát. Bà mất năm 21 tuổi không biết vì lý do gì để lại một con thơ. Miếu thờ bà hiện nay được lập ở hai làng Vân Cát và Tiên Hương.
Sự thật này lại được bao phủ bởi nhiều huyền thoại đan xen. Có người cho rằng, cha bà Liễu Hạnh đã từng nằm mộng được lên thiên đình. Tại đây ông chứng kiến cảnh Đệ nhị Tiên chúa Quỳnh Nương do phạm lỗi
đánh vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần gian. Khi ông tỉnh giấc, vợ ông đã sinh được một con gái. Đêm ấy có hương lạ thơm nức ở trong nhà, trăng sáng soi vào cửa sổ. Nhớ lại giấc mộng ông bà liền đặt tên con là Lê Thị Thắng và mang biệt hiệu là Giáng Tiên (Tiên giáng trần). Ngoài ra, còn nhiều huyền thoại khác về sự hiển linh của bà như việc bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc, hội kiến với trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) khi ông đi xứ Trung Quốc về… Trong phủ còn có hẳn một bài thơ về cuộc du ngoạn tao phùng giữa bà với trạng Bùng được chạm khắc rất rõ ràng. Vì thế mà dường như không ở đâu có được sự đan xen quấn quýt giữa hiện thực và huyền thoại như một bài thơ làm đẹp thêm cho đời bằng vùng đất lễ hội Phủ Giầy này. Chính lẽ đó mà hàng năm hàng chục vạn trai thanh gái lịch vẫn từ muôn phương đổ về đây dập dìu trảy hội, góp phần tăng thêm sự nổi tiếng cho lễ hội đặc sắc này.
Hội kéo dài 10 ngày từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch. Đồ lễ phổ biến là hương, hoa quả tinh khiết đặt tại cung Đệ nhất thờ Mẫu. Đồ lễ mặn đặt tại ban Công Đồng và ban thờ các quan. Ngoài những hình thức lễ thông thường như ở các di tích tôn giáo khác như đặt lễ, thắp hương, khấn vái, xin âm dương, hóa vàng lễ ở các di tích thờ Mẫu nói chung và Phủ Giầy nói riêng có thêm hình thức đặc biệt là hầu đồng (hầu bóng).
Hầu bóng gắn với hát văn và múa thiêng là hình thức lễ phổ biến nhất ở Phủ Giầy. Hát văn cùng với múa thiêng - những điệu múa mang đậm chất dân gian (múa sinh hoạt, múa chèo đò, múa hẻo...) đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho nghi lễ hầu bóng. Người ta quan niệm rằng một số người “có căn" có khả năng giao tiếp với thần linh, có thể được Thánh nhập và quan thân xác họ. Để chuẩn bị cho một buổi hầu đồng, họ phải chuẩn bị khá kỹ và khá tốn kém từ việc chọn ngày tốt chọn người hầu dâng và cung văn đến việc mua sắm trang phục, mua đồ lễ... Tùy điều kiện kinh tế mà quần áo, đồ lễ sang trọng hay bình dân, nhiều hay ít. Thông thường, quy trình của một buổi hầu đồng diễn ra qua mấy bước: với sự giúp đỡ của hai người hầu dâng, người hầu đồng trùm khăn phủ diện, lắc lư, khi Thánh giáng thì giơ tay ra hiệu cho cung văn biết. Nếu Thánh đã nhập thì tung khăn phủ diện.
Hầu bóng diễn ra liên tục trong năm, nhưng có thể nói, hình thức lễ bái, đội bát nhang, trình đồng, lên đồng diễn ra đặc biệt sôi nổi trong các ngày hội. Lễ là nguyên nhân đầu tiên quyết định thành hình hội trong các lễ hội, vì vậy nếu mất đi những sắc vẻ truyền thống và thiêng liêng của lễ thì hội cũng khó có điều kiện tồn tại lâu đời.

Rước kiệu Mẫu Liễu trong ngày tổ chức lễ hội Phủ Giầy là một nghi thức quan trọng. Lễ rước được diễn ra khá náo nhiệt với sự tham gia của các nam nữ thanh đồng, của nhân dân trong thôn, đặc biệt là có các xe tay chở sư chùa Thiên Hương đi thỉnh kinh, đoàn xe tay chở các quan, các vị chức sắc hàng huyện, tổng...
Đám rước diễn ra trong không khí hào hứng, đầy nhiệt tình của dòng người náo nhiệt trải dài. Từ các cụ già 70 - 80 tuổi đến những cháu bé, từ những người giàu có đến các thành thị cho đến lớp nghèo khó, mặt ai cũng ánh lên vẻ phấn chấn. Đoạn đường rước Mẫu không ngắn những người ta không thấy mệt mỏi vì dường như Mẫu đã tiếp thêm cho họ một nguồn sinh lực mà không dễ gì có được. Đám rước ước chừng vài nghìn người từ nhiều miền quê khác nhau nhưng đều có một điểm chung - con cháu của Mẫu.
Trong đám rước còn có sự xuất hiện của các đội múa rồng, múa sư tử, múa tứ linh, múa võ rất đẹp mắt. Có 6 con rồng với nhiều màu, đặc biệt có một con rồng mây mà theo lời một số người dân địa phương, đó gọi là rồng Thanh Long (rồng xanh), luôn múa đôi cùng rồng Hoàng Long (rồng vang). Hai con rồng này cặp đôi, hòa quyện với nhau thì đất nước sẽ hưng thịnh. Đặc biệt, trong đám rước từ Phủ Thiên Hương còn có 3 con rồng được kết bằng hàng nghìn quả bóng bay với ba màu đỏ, xanh, vàng tượng trưng cho Tam tòa Thánh Mẫu trông rất sinh động.
Trò kéo chữ đây cũng là một nét đặc sắc của Phủ Giầy. Hội kéo chữ thường được tiến hành vào ba ngày 7, 8, 9 tháng 3 hàng năm.
Trước khi tổ chức kéo chữ, lý kỳ lý dịch phải lên lễ Mẫu để xin kẻo chư. Cũng có năm người lên Phủ Thông - nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh và bà Ngọc Đài để xin chữ xếp, xin được chữ gì thì dán lên bảng gỗ rồi đem treo trước phượng du. Mỗi làng cử từ 20 - 30 thanh niên được gọi là phu cờ, họ thường quấn khăn đỏ, mặc áo vàng, bụng thắt khăn đỏ, quần trắng, chân quấn xà cạp đỏ. Mỗi phu cờ cầm một gậy xếp chữ dài khoảng 4 thước dán giấy xanh, đỏ, trắng, vàng buộc nhiều tua rua, đầu gậy có ngù bằng lòng gà.
Tổng cờ sẽ là người điều khiển các phu cờ. Dưới sự điều khiển của tổng cờ, phu cờ chạy thành hàng một, vòng theo đường quanh hồ trước cửa Phủ rồi trở về sân và đứng vào vị trí đã định hình, hình thành dần cả nét chữ cho đến khi xếp xong. Nhìn từ xa trên đỉnh núi hay ngồi ở phương du cũng đều thấy nét chữ vàng nổi bật trên nền của những màu sắc sặc sỡ trông rất đẹp mắt. Chữ xếp thường là 4 chữ: "Mẫu nghi thiên hạ”, “Quang phục thánh thiện" hoặc "Hòa cốc phong đăng", "Thiên hạ thái bình". Người dân Phủ Giầy cho rằng tuỳ theo chữ
kéo đầu năm mà năm đó Mẫu sẽ "gia ân" hay “gia uy" cho con nhang đệ tử.
Có thể nói đây là một hình thức vừa là lễ nghi, nhưng cũng vừa là trò chơi thể thao quy mô và đẹp mắt thu hút được hàng nghìn người tham gia và cổ vũ tán thưởng.
Đến bất cứ di tích nào trong khu vực quần thể di tích Phủ Giầy, chúng ta đều bắt gặp các làn điệu chầu văn vang lên từ sáng sớm đến đêm khuya. Hát chầu văn trở thành một nghi thức không thể thiếu trong các nghi lễ chính của tục thờ Mẫu, phục vụ cho lễ lên đồng.
Chợ Viềng là một chợ xuân của cư dân nông nghiệp, nó có truyền thống từ xa xưa và vẫn được bảo lưu như một nét đẹp văn hóa. Chợ đã tạo một không khí hội hè sôi động cho cả vùng Phủ Giầy.
Chợ Viềng không chỉ đơn thuần là một chợ kinh tế mà còn một hội chợ tâm linh - chợ văn hóa. Người mua chẳng cần mua rẻ, người bán cũng chẳng cần bán đắt. Người ta quan niệm chỉ cần mua được một vật dụng gì đó là cả năm tới sẽ làm ăn may mắn, phúc lộc dồi dào. Đặc biệt, trong hội chợ này dường như có mặt tất cả các sản vật của đa phương cũng như sản phẩm của các vùng lân cận. Các mặt hàng được bày bán la liệt với đủ mọi chủng loại: từ các sản phẩm nông nghiệp như gạo, ngô, khoai sắn đến các vật dụng sinh hoạt như ấm chén, rổ rá, từ các đồ thờ cúng, các trang phục sinh hoạt tín ngưỡng đến các đồ trang trí, trang sức mỹ nghệ.
Đi chợ Viềng ai cũng muốn được nếm thử những món đặc sản như thịt bò thui chấm với tương gừng, mua bánh dày giò...
Chợ Viềng ở đây còn gắn với các di tích, mà bao trùm lên cả quần thể này là thờ Mẫu Liễu Hạnh. Bởi vậy người ta tới chợ Viềng còn với tâm thức đến lễ Mẫu, xin lộc Mẫu. Họ tin rằng mọi vật dụng mà họ mua trong chợ sẽ được Mẫu - Mẹ chúng giám và phù hộ. Vì thế, người ta vừa đi chơi, vãn cảnh chợ, vừa mua bán những vật dụng may mắn, vừa vào Phủ lễ Mẫu Liễu, lên đền Mẫu Thượng, xuống cả đền Mẫu Thoải cầu mọi sự may mắn, bình an, làm ăn phát đạt, cầu mưa thuận gió hòa để mùa màng tươi tốt.
Như vậy, Lễ hội Phủ Giầy là một hình thức sinh hoạt văn hóa - tâm linh đáp ứng nhu cầu tinh thần - tình cảm của đông đảo nhân dân. Bằng hoạt động lễ hội, con người vừa có thể bày tỏ những tâm tư, khát vọng của mình vừa có dịp bộc lộ các khả năng sáng tạo của chính mình. Sống trong khung cảnh lễ hội, con người có được những giây phút “thăng hoa" để tạm quên đi những nỗi cực nhọc vất vả hàng ngày. Chính lễ hội đã tiếp thêm nguồn sức mạnh thiêng liêng để con người tiếp tục sống và lao động.

15. Hội vật Liễu Đôi

Hội vật Liễu Đôi được tổ chức ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Ở các lễ hội khác, vật võ chỉ là trò vui thể thao thì trong lễ hội Liễu Ðôi này, vật võ lại là nội dung chính của ngày hội.
Liễu Đôi là một mảnh đất giàu truyền thống thượng võ. Ở đây có hội vật nổi tiếng, thu hút các đồ vật gần xa đến tham dự đua tài. Người dân Liễu Đôi lưu truyền rất nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của hội vật và cả những truyền thuyết liên quan đến vật võ và hội vật võ mà di tích còn in dấu đậm đặc trên mảnh đất này.
Truyền thuyết Liễu Đôi kể rằng ở đây có một chàng trai họ Đoàn có sức mạnh phi thường lại giỏi võ, một mình địch nổi năm trai tráng trên sới vật. Một hôm, ở Nương Cửi, tự nhiên có một ánh sáng xanh chói lòa phát ra, dân làng vô cùng hoảng sợ, chỉ có chàng trai họ Đoàn nọ dám đi tới và nhận thấy ánh sáng ấy phát ra từ một thanh gươm đặt trên một tấm khăn đào. Chàng trái bái tạ thần linh, tay cầm gươm, lưng thắt chiếc khăn đào, múa gươm cho dân làng xem.
Khi có giặc phương Bắc kéo tới, chàng trai mang gươm ra trận. Trong đoàn quân của chàng có nữ tướng họ Bùi rất dũng cảm, hai người thề ước với nhau. Nhưng không may, chàng trai bị tử trận, thi hài được mang về quê hương. Giặc tan, nữ tướng họ Bùi đến viếng mộ chàng nhưng quá đau thương nên đã chết trên ngựa khi cách mộ chàng chừng vài trăm bước. Dân Liễu Đôi thương nhớ, lập đền Ông thờ chàng, gọi là Thánh Ông, lập đền Bà thờ nữ tướng, gọi là đền Tiên Bà. Hàng năm làng mở hội vật để tưởng niệm, gọi là hội Thánh Tiên (gọi tắt hai chữ Thánh Ông–Tiên Bà), đó là hội vật võ Liễu Đôi.
Hội kéo dài từ mùng 5 tháng Giêng cho đến hết ngày mồng 10 tháng Giêng, trong không khí chuẩn bị Tết nguyên đán, dân Liễu Đôi làm mọi công việc cần thiết cho hội vật võ. Đoạn đường từ đền Ông đến xới vật (tức Nương Cửi) được dọn quang. Ngày mùng 5 Tết, hội vật võ bắt đầu. Trường diễn hay gọi là đóng vật được chọn đặt trên mảnh đất truyền thống, đó là Nương Cửi, nơi chàng trai họ Đoàn được gươm thần thuở trước. Tham dự hội là dân làng Liễu Đôi và các làng có truyền thống vật võ gần xa. Hội vật võ Liễu Đôi cho phép phụ nữ được tham gia, chị em cũng được ra đóng với đao, côn, kiếm, quyền… không thua kém con trai. Nghi thức tiến hành hội như sau:
Đầu tiên là lễ rước Thánh vào đóng: Đóng tức là nơi tổ chức vật, rước thánh vào đóng tức rước kiệu Thánh Ông từ đền vào đóng vật. Lễ vật dâng thánh là lễ chay, gồm mấy phẩm oản, vài bẹ chuối, một nậm trà (thay cho rượu). Một cụ già tay cầm gương đi giật lùi dẫn đầu cuộc rước, khi kiệu Thánh vào đóng thì làm lễ tế. Sau lễ tế Thánh là lễ phát hoả. Người ta đốt lên một ngọn lửa lớn để tưởng nhớ lại ngọn lửa xanh thần diệu bốc lên từ thanh gươm phát hỏa mà trời ban cho đất Liễu Đôi ở cánh Nương Cửi. Tiếp đó là lễ trao gươm và thắt khăn đào tưởng nhớ việc chàng trai họ Đoàn nhận thanh gươm thần và tấm khăn đào.
Ông Trùm là một người cao tuổi có uy tín được cử cầm trống cái cho hội trao chiếc gươm trên kiệu thánh và thắt khăn đào cho một đô vật danh dự được cử ra ngồi dưới cây dải trước rạp. Sau đó là lễ múa cờ tụ nghĩa, điệu múa này còn có tên là "thiên nhân kỳ trận". Điệu múa này có hai hoặc bốn người tham gia, mỗi người một lá cờ đỏ hình vuông, tiến từ hai bên kiệu thánh ra giữa đóng theo hiệu trống mà múa. Theo tiếp là lễ thanh động. Lễ này bắt đầu bằng tiếng trống cái ở đóng nổi lên liên hồi cùng với tiếng pháo nổ ran, tiếng chuông, cồng, mõ, thanh la tại khu vật võ và tất cả các đền chùa trong vùng đều nhất tề hưởng ứng hoà với tiếng reo hò cổ vũ sôi nổi.
Sau những nghi thức trên thì đến cuộc vật võ. Hội vật võ có nhiều nghi thức bắt buộc. Đầu tiên là nghi thức gọi là năm keo trai rốt. Trai rốt là hai cậu con trai của làng ra đời cuối cùng trong năm qua. Mở đầu cuộc vật, làng gọi tên hai trai rốt ra vật năm keo trình làng, lễ thánh. Tất nhiên trai rốt hãy còn bé chưa vật được nên bố phải ra vật thay. Lệ quy định, hai ông bố chỉ vật biểu diễn, không được vật thật để đối phương ngã, bởi vì hai ông bố ra vật với mục đích trình làng, trình Thánh chứng giám để hai đứa trẻ tương lai sẽ trở thành hai đồ vật võ. Vì vậy nếu để bị ngã thì làng sẽ bắt phạt cả hai. Có khi bố đi vắng thì ông ra vật thay, không được bỏ cuộc. Với lệ này, người dân Liễu Đôi muốn nhắn nhủ con cháu là sinh ra làm anh con trai thì trước hết phải là trai vật võ.
Tiếp theo là nghi thức đô xã làm nền, có nghĩa là đô Liễu Đôi vào đóng trước, giao đấu trước để gây không khí, khuyến khích tinh thần cho đô vật bốn phương. Khi đô vật bốn phương đã hăng say rồi thì đô vật Liễu Đôi rút ra, nhường đóng cho khách, chỉ đứng ngoài cổ vũ động viên là chính. Vào giải, ai thắng được 5 keo liền thì được vào vòng giải. Ai thắng hết các đô trong vòng giải thì được giải cọc. Giải cọc là giải đặc biệt, tiếp đến là giải thứ: nhất, nhì, ba, cuối cùng là giải cuộc trao cho tất cả những người vào đóng vật. Như vậy, cả người thua cũng có giải. Phần thưởng trao giải là tiền hảo tâm của thập phương công đức, ngoài việc chi vào đèn nhang, còn lại bao nhiêu phải chi hết vào giải, nếu còn chút ít thì cho người nghèo ngay tại chỗ, tuyệt không được chi dùng vào việc khác.
Vào đóng, đô vật chỉ được đóng khố, không được mặc quần áo. Các đô vật có tục kiêng cởi áo và xỏ áo tay phải trước, vì tay phải là tay cầm giáo, cầm gươm, tay lợi thế trong đấu vật. Cần cởi áo hoặc xỏ áo, họ dùng tay trái trước, vì thế, tay trái còn gọi là tay áo. Trong đóng, những miếng hiểm độc làm hại đối phương bị cấm ngặt. Ai phạm luật bị xử rất nghiêm khắc. Người phạm luật bị phạt đứng giữa đóng cho một đô vật khoẻ hơn bê vứt ra khỏi đóng và năm đời con cháu không được tham gia vật võ.
Liên quan đến hội vật võ Liễu Đôi còn có hội thi món ăn đặc sản trước hôm mở hội, món ăn nào được làng trao giải mới được đem bán phục vụ khách thập phương trong những ngày hội.
Tinh thần thượng võ của người dân Liễu Đôi còn được thể hiện ở lễ trầm tự, được tiến hành vào đêm 30 tết tại chùa Ba Chạ. Trầm tự có nghĩa là chém chữ. Tương truyền có một vị tướng đời nhà Trần khi về đây thao binh luyện tướng đến khi ra quân đã trao lại cho 5 làng của xã Liễu Đôi một cuốn binh thư có tên là Võ trận. Người dân Liễu Đôi truyền đời phải học thuộc cuốn binh thư đó. Đêm ba mươi tết, các tộc trưởng đeo gươm vào đền thờ Thánh trước mặt là băng giấy ghi chữ đầu trang của tập Võ trận. Đúng giao thừa, đèn nên vụt tắt, mỗi tộc trưởng vung gươm chém một nhát lên băng giấy trước mặt. Chém được đoạn giấy nào thì nhận lấy đoạn giấy ấy. Xong lễ, đèn nến sáng trở lại, từng họ xem các chữ đầu của băng giấy biết được họ mình năm đó phải học thuộc đoạn nào trong sách. Nhiều năm như thế, các dòng họ có thể thuộc lòng quyển binh thư. Đến thời Pháp thuộc, việc dùng gươm chém băng giấy đã được thay bằng việc rút thẻ. Ngày nay, cuốn Võ trận không còn nên lễ trầm tự cũng không còn nhưng ký ức về tục lệ đó đã chứng tỏ tinh thần thượng võ sâu đậm của người dân Liễu Đôi.

16. Hội ném Còn - Nét đẹp trong ngày Tết.

Ném còn là nét đẹp văn hoá thểhiện bản sắc dântộc của cưdân miền núi phía Bắc. Mùa xuân về, cứđến ngày mồng 8 tháng giêng âmlịch hàng năm là ngày hội ném Còn của vùng Mường Hoà Bình lại diễn ra tại thịxãHoà Bình, thu hút sựtham gia của đông đảo bà con trong vùng.
Tiếng trống hộivang lên, dàn cồng chiêng được các bà, các cô, các chịphối hợp hoà tấu nhịpnhàng cùng tiếng sáo, tiếng nhịréo rắt. âm hưởng của đất mường hội tụvềđây.Nụcười cụgià, niềm vui em nhỏ, trò chơi ném còn vẫn thu hútnhững cô gái Mườngtrong bộtrang phục dân tộc cùng những chàng trai khoẻmạnh, đang tung những quả Còn tình tứse duyên…
Ném Còn xưa gọi là đánh Còn( đánh đu, đánh đáo)đây là một trò chơi đặc biệt của những vùng Mường và một sốdân tộc khác. Tròchơi này được lưu truyền từthời Hùng Vương nghĩlà từkhi còn có các quan langvà các cô MịNương. Còn là một trò chơi quý phái của các tiểu thưcon của cáclạc hầu lạc tường.
Còn là một trái cầu to bằng quảcam lớn được khâubằng vải trong nhồi bông, hoặc cỏmềm, hoặc vải vụn, bềngoài bọc vải mềm có tuangũsắc trông sặc sỡvà rất đẹp. Mỗi quảcòn thểhiện phong cách riêng của từngthiếu nữtết còn. Những cô gái trầm tính thường thểhiện cá tính của mình quaquảcòn màu xanh- màu của cây cỏ, núi rừng. Nhữngcô gái có cá tính mạnh mẽbiểuhiện qua quảcòn màu đỏ– màu của sức mạnh tình yêu.
Tổchức ném Cònthường chọn trên một khoảng đất rộng người ta trồng một cây tre cao, trên đỉnhthường treo một lá cờngũsắc phấp phới bay biểu hiện cho cuộc vui chơi ngày xuân, tiếp dưới có buộc một vòng tre đường kính ước độhơn một gang tay có quấngiấy xanh đỏxung quanh vòng.
Ngày nay người ta thường dán giấy trắngmỏng, các thiếu nữchơi Còn đứng hai phía sân đểlần lượt thi ném đểCòn lọt quavòng tre. Khán giảphân lớn là các thanh niên đứng vây quanh sân. Mỗi lần tráiCòn đi trúng qua giữa vòng, khán giảhò reo khen ngợi, khích lệ. Trái Còn văngđi trái Còn đánh lại, những con mắt ngước theo và có những con tim hồi hộp khitrái còn từtừlướt tới vòng Còn. Nhiều cô gái ném trái Còn đểbói nhân duyêncủa mình, nếu trái Còn trúng đích thì người đó tin rằng sẽđược may mắn trongnhân duyên.
Sân chơi kéo dài nhiều ngày và chính nơi đây cũng là nhữngđiểm hò hẹn gửi trao những ánh mắt đểtạo mối nhân duyên. Thật đúnglà nhữngngày đầu mùa xuân cây cối sẽnẩy lộc đơm chồi ra

17. Lễ hội Xăng Khan

Từ rất xa xưa, tất cả các bản làng người Thái đều tổ chức lễ hội Xăng Khan, có thể nói đây là ngày hội có quy mô và ý nghĩa cộng đồng lớn nhất của đồng bào. Mỗi địa phương có thể gọi tên hội khác nhau, đồng bào Thái ở Nghệ An và Thanh Hóa gọi lễ hội này là Xăng Khan, một số nơi khác gọi là Kin chiêng boóc mạy, Hội Chá Chiêng... dù gọi thế nào đi chăng nữa nhưng mục đíchvà ý nghĩa của nó là ngày tạ ơn các ông mo đối với tổ tiên và những người thầy đã dạy cách bốc thuốc chữa bệnh cứu vớt chúng sinh.
Thiếu nữ Thái
Không phải ai cũng được tổ chức lễ hội Xăng Khan, mà chỉ những ông mo đã thành tài có uy tín cứu sống nhiều người qua cơn bệnh hiểm nguy, làm dược nhiều việc tốt cho bản giúp được nhiều việc hay cho mường mới được tổ chức lễ hội. Cứ 3 hoặc 5 năm một lần vào khoảng tháng 11 Âm lịch, khi bắp ngô trên nương đã gùi hết về nhà, lúa ngoài đồng đã gánh hết về bản, hoặc tháng 2, tháng 3 Âm lịch của năm sau là tháng tốt, tháng lành ở nhiều bản Thái mở hội Xăng Khan để chào mừng xuân mới và mong sức khỏe. Thời gian mở hội từ 2 đến 3 ngày.
Ba ngày trước ngày lễ hội, tại nhà ông mo chủ gái trai tấp nập, tiếng giã gạo tiếng khua luống ngân vang khắp núi rừng báo hiệu cho thần rừng, thần núi, thần sông, thần suối biết làng mình mở hội. Sáng rực lung linh giữa gian nhà rộng là một cây hoa lớn (co boóc mạy) cao khoảng 4m nhiều mầu sắc xanh, đỏ, tím , vàng. Những bông hoa được gọt đẽo rất cầu kỳ công phu, từ những cây bấc thân mềm, cành hoa rút từ lõi xốp cây sắn huặc ruột cây tang trong rừng, xâu qua que tăm nhỏ tạo thành những cánh hoa rực rỡ, xen kẽ những cánh hoa là hình hài các côn trùng, động vật như: ve sầu,chim, cá, ếch, nhái, thuồng luồng, các vật dụng như: cày, bừa, cuốc, muổng, thuyền, bè... những con giống này đều được tết bằng lạt giang cây hoa (co boóc mạy) là trung tâm của buổi lễ, thể hiện cảm quan thẩm mỹ của từng địa phương, phản ánh vũ trụ quan tộc người.
Thiếu nữ Thái
Xăng khan là ngày vui của họ hàng của bản mường, là dịp của gái trai gặp gỡ, là ngày để dân bản trả ơn thầy mo đã chữa khỏi bệnh cho mình. Không phải chỉ những người trong bản mà cả du khách thập phương, già có, trẻ có kéo về dự hội. Sau lễ cúng, dân làng múa hát xung quanh cây hoa, càng về khuya không khí hội càng nhộn nhịp với những trò diễn độc đáo hài ước đầy ắp tiếng cười, nhộn nhịp hơn là múa tập thể. Tất cả những người đến dự hội từ già đến trẻ đều vào cuộc múa, múa hết mình hoà lẫn trong âm vang nhộn nhịp của tiếng chiêng, trống, tiếng khua luống, tiếp dập của ống nửa (tẳng bù), tượng trưng cho sấm, mưa cho sự phồn thực với mong ước của một mùa màng tươi tốt. Hái hoa (Kếp boóc) là phần cuối của lễ hội Xăng Khan, chủ nhà là người trực tiếp hái hoa đem tặng cho mọi người, mỗi bông hoa là một phần thưởng tượng trưng cho bổng lộc và sự may mắn trong cuộc sống.
Bằng lời hát chia tay thắm thiết hẹn kỳ hội sau gặp lại, và lúc này trời cũng vừa sáng, mọi người trở về tiếp tục với công việc hàng ngày của mình.
Lễ hội Xăng Khan là một lễ hội tín ngưỡng dân gian độc đáo của người Thái, góp phần thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nhất là văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và người Thái nói riêng. Tuy nhiên những năm gần đây, nhiều bản làng Thái không còn lễ hội Xăng Khan nữa, nguyên nhân thì nhiều nhưng quan trọng nhất vẫn là con người và cách ứng xử của con người đối với lễ hội.
18. Hội Lồng tồng (Bắc Cạn)

Hơn nửa thế kỷ qua, câu thơ "Áo em thêu chỉ biếc hồng, Mùa xuân ngày hội lồng tồng thêm vui" của Tố Hữu đã có đời sống riêng của nó trong nhiều thế hệ người đọc và lễ hội Lồng tồng của đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc đã đi vào thơ ca như là lễ hội văn hóa tiêu biểu mỗi dịp Xuân về. Và ngày mồng 10 tháng Giêng mới đây, một lễ hội như vậy được tổ chức ở Ba Bể (Bắc Cạn).
Lồng tồng (còn là lồng tổng theo tiếng Tày - Nùng, hay lồng tộng theo tiếng Dao), có nghĩa là "xuống đồng". Cũng như người Việt, từ xa xưa, đồng bào miền núi phía bắc, nhất là đồng bào Tày - Nùng, đã luôn luôn sinh sống gắn bó với tự nhiên. Bản làng, núi đồi, ruộng đồng, nương rẫy trở thành "bạn đồng hành" của họ và đến hôm nay, nhiều tập quán và phong tục, nhiều ứng xử với thế giới chung quanh vẫn còn mang đậm nét truyền thống xưa kia. Xét về văn hóa, phải nói rằng nền văn hóa của các dân tộc miền núi phía bắc đã phát triển khá cao

Và lễ hội Lồng tồng - lễ hội quan trọng bậc nhất vào dịp đầu năm mới, gắn liền với nền nông nghiệp trồng trọt, được tổ chức nhằm gửi gắm những mong ước của con người, cầu cho mưa thuận gió hòa, cây lúa dưới ruộng, củ sắn trên nương luôn luôn tốt tươi, mang lại thật nhiều no ấm, là một biểu hiện sinh động của nền văn hóa phong phú, đa dạng và giàu bản sắc.
Lễ hội Lồng tồng Ba Bể đã nổi tiếng ở Việt Bắc từ lâu. Sau hàng chục năm bị gián đoạn vì chiến tranh, vì cách nhìn phiến diện của một thời về văn hóa lễ hội và tín ngưỡng dân gian, nên từ năm 1995, Hội mới được khôi phục và được tổ chức ven hồ Ba Bể, phía dưới chân núi Bó Lù, thuộc xã Nam Mẫu. Lễ hội này gắn liền với vùng đất có huyền thoại về sự tích hồ Ba Bể, nơi Pò Già Mải - gò Bà Góa - còn đứng đó như một chứng tích.
Sáng mồng 10 tháng Giêng, trời bỗng mưa rả rích, như muốn làm nản lòng người đi hội. Sắp đến giờ khai hội mà trên bãi cỏ tuyệt đẹp nơi sẽ diễn ra lễ hội, mới chỉ có vài trăm người dạo quanh, cùng mấy cái trại và lều quán lúp xúp của người bán hàng. Vậy rồi, hẳn là vì "trời" thương người Ba Bể cả năm có một ngày hội lớn, nên nắng hửng dần
Trên các nẻo đường từ Chợ Ðồn lên, từ Bắc Cạn vào, từ Tuyên Quang sang, trên những đường mòn từ các bản làng quanh hồ, không khí lễ hội cũng ấm dần lên, theo bước chân của du khách. Họ là người Tày, người Dao, người Mông, người Kinh... từ các nơi. Cả nghìn chiếc xe máy, dăm chục chiếc ô-tô mang biển Bắc Cạn, Hà Nội, Thái Nguyên, Cao Bằng, cả xe mang biển ngoại giao, đã quây kín chỗ đậu xe và dọc theo con đường thoai thoải dẫn vào nơi khai hội. Những chiếc thuyền du lịch cũng tấp vào bờ để khách lên. Bà Vư Thị Chư, người Mông, 73 tuổi đi cùng mười cô gái từ Xuân Lạc, Chợ Ðồn, đến dự hội, phải mất 2 giờ đi bộ mới đến nơi, lại mất thêm hai mươi phút nữa để chỉnh lại váy áo, vì phải lội qua mấy con suối. Vư Thị Vàng, 18 tuổi, cháu ngoại bà Chư, khoe với tôi: "Năm nào bà cũng dẫn chúng em đi hội Lồng tồng!". Nhìn các cô gái người Mông xinh xắn, rực rỡ váy áo, ríu rít quanh bà, nhiều người không giấu được cảm xúc về cái đẹp tươi tắn và đầy sức sống, như bắt gặp mùa xuân đang về khắp non ngàn Việt Bắc. Và ống kính máy ảnh của nhiều du khách liền vội chớp lấy.
Theo lời kể của nhà văn Ma Trường Nguyên, dân tộc Tày, thì ngày trước hội Lồng tồng có rất nhiều nghi thức và thành phần lễ hội sinh động. Ðó là ngày hội của mọi nhà, vì nhà nhà đều tham gia làm lễ. Mà mỗi nhà lại có một mâm cúng riêng. Trên mâm cúng có gà trống luộc, có thịt lợn nạc, có cặp bánh chưng (mon hua) gói bằng lá dong; rồi trứng gà luộc nhuộm phẩm với bốn mầu đỏ - tím - vàng - xanh. Rồi xôi đỏ tượng trưng cho mặt trời, xôi vàng tượng trưng cho mặt trăng, trên mỗi đĩa xôi lại có một con chim én làm bằng giấy đỏ đậu trên, mang theo biểu tượng của mùa xuân, như để gửi gắm ước mơ về sự no ấm, sinh sôi nảy nở, cuộc sống an lành. Vào buổi sáng diễn ra hội Lồng tồng, các gia đình ở bản tổ chức lễ hội cùng nhau đội mâm cúng ra thửa ruộng lớn nhất trên cánh đồng của bản. Các mâm cúng được xếp lần lượt theo hàng, mâm trên cùng là mâm cúng của thầy mo già được kính trọng nhất trong vùng và cũng là người chủ trì lễ hội.
Mọi người đứng vòng tròn quanh mâm cúng. Khi những nén hương được thắp lên, thầy mo đọc bài khấn và thực hiện các nghi thức cầu cúng, lễ tạ thiên địa, cầu thần Nông, thần Phục Hy, Sơn thần, Thủy thần (những vị thần chi phối việc trồng trỉa) và thành hoàng (vị thần bảo hộ cho dân làng) độ trì cho mưa thuận gió hòa, gia cầm sinh sôi, bản, làng bình yên no ấm... Các cô gái đẹp nhất trong vùng sẽ dâng nước cúng đựng trong các vỏ quả bầu. Ðây được coi là nước thiêng, phải lấy từ đầu nguồn. Rồi thầy mo ngửa mặt lên trời, tay bưng cao các "nậm" nước thiêng của các mâm cúng, cầu mong nước từ "mương trời" tưới khắp trần gian, cho ruộng nương. Khấn xong, thầy mo tưới nước ra khắp bốn phương trời, mọi người cùng nhau hứng nước để được hưởng phúc...

Sau phần nghi lễ là phần hội, được mở đầu bằng hội tung còn. Những quả còn được khâu bằng vải, bên trong có hạt thóc, hạt bông được nén chặt, ngoài có tua ngũ sắc, được các nam thanh nữ tú thi ném lên vòng tròn trên ngọn cây nêu. Ðó là hai biểu tượng đặc sắc của Dương và Âm, cái gốc của vũ trụ và vạn vật. Khi quả còn xuyên thủng hồng tâm của vòng tròn, là Âm - Dương đã giao hòa, cuộc sống sẽ sinh sôi, mùa màng sẽ bội thu. Bởi vậy, ở bất cứ hội Lồng tồng nào, việc ném còn trúng hồng tâm cũng là một nghi thức bắt buộc, bởi đồng bào quan niệm rằng, nếu Âm - Dương không giao hòa, năm ấy làng, bản sẽ không may mắn, mùa màng sẽ thất bát. Người ném trúng hồng tâm sẽ được thưởng một mâm cỗ đầy.
Song, thường thì người thắng cuộc chỉ nhận về mình cái danh thơm, còn mâm cỗ lại mang ra khao làng! Một điều thú vị nữa là khi các nam thanh nữ tú bắt được quả còn của nhau thì xem như đã được Trời se duyên đôi lứa, bởi vậy, hội Lồng tồng cũng là dịp để trai gái xa gần tìm hiểu nhau và bén duyên vợ chồng. Sau hội tung còn là các trò chơi như đánh yến, đánh quay, kéo co, bịt mắt bắt dê... Ðêm lễ hội Lồng tồng, trai gái hát sli, hát lượn thâu đêm suốt sáng với lượn mời, lượn nghênh đón, lượn xe kết, lượn mừng và lượn tạm biệt... Theo mô tả của nhà văn thì lễ hội Lồng tồng là một lễ hội dân gian, giàu bản sắc, đa dạng trong hình thức hoạt động.
Cho dù ở mỗi vùng đất, lễ hội Lồng tồng lại mang những nét độc đáo riêng, nhưng phải nói rằng, Lễ hội Lồng tồng ở Ba Bể năm nay chưa thật phong phú. Phần lễ được thực hiện từ hôm trước ở đền An Mã còn đơn giản cả về nghi lễ lẫn đồ thờ cúng. Phần trò chơi cũng vậy. Ðua thuyền độc mộc, nét văn hóa riêng của vùng Ba Bể, chỉ có sáu cặp tham gia. Các trò chơi có ném còn, bịt mắt đánh trống, bịt mắt bắt dê, kéo co. Nhiều trò chơi dân gian khác như đi cà kheo, đánh yến, đánh quay, đẩy gậy, bắn nỏ, thi hát đối đáp (phong slư)... xem như bị bỏ quên.
Các làn điệu then, lượn thi thoảng cất lên đơn lẻ, lẫn trong những bài hát mới, lẫn trong tiếng nhạc nước ngoài xập xình ầm ỹ từ các lán "vui chơi có thưởng", là nơi hấp dẫn thanh thiếu niên hơn cả. Tuy nhiên, nhìn gương mặt hớn hở của người tham dự, từ bà cụ già người Tày khăn vấn túi chéo, đến những em nhỏ người Dao phong phanh áo vải dép lê, nhìn nam thanh nữ tú khăn len áo "phao" tay trong tay dập dìu, càng thấy nhu cầu dự hội, vui chơi, giao lưu văn hóa của người dân vùng cao lớn biết chừng nào!
Nét độc đáo của hội Lồng tồng Ba Bể là bà con đi hội không chỉ để chơi, mà còn để bán những nông sản do nhà mình tự làm ra, khiến hội Lồng tồng còn có mầu sắc của hội chợ nông sản. Du khách thích thú nhìn những chiếc giỏ cá đan bằng trúc, hình dẹt, khá lạ mắt với người dưới xuôi vốn quen với thứ giỏ tre hình quả bầu, nằm lăn lóc dưới chân ông Hà, một lão nông đến từ Nam Cường, huyện Chợ Ðồn. Ông không mời khách, ai thấy lạ thì hỏi, ai thấy cần thì mua. Thứ dụng cụ để đựng cá vốn quen thuộc với dân vùng hồ, nên ông đã bán được mươi chiếc, giá 10 nghìn đồng và 15 nghìn đồng một chiếc, tùy to nhỏ. Cạnh ông, mấy bác, mấy chị người Dao bày bán thịt bò khô với giá 80 nghìn đồng/kg. Một dãy hàng măng tươi trải dài, những búp măng mập mạp bán với giá mười nghìn đồng một xâu, mỗi xâu bốn, năm cái. "Măng đắng nhưng chưa có sấm nên ngọt lắm", các cô bán măng ríu rít mời chào. Rồi là những hàng mía tím, những đống củ đậu to uỳnh to oàng, có củ phải tới ba, bốn kg. Tất cả đều là đặc sản của Ba Bể.
Từ Quảng Khê, cách Ba Bể 15 km, những người đàn bà suốt đêm cặm cụi làm bánh cuốn, bánh ngải, rồi băng rừng mang tới Ba Bể khi trời vừa sáng. Cô gái Tày Nông Thị Hải khoe món bánh "phạ" - làm bằng bột nếp xay, viên tròn, thả trong chảo mỡ rồi lăn vào mật mía, dùng để cúng tế đầu năm ("phạ" trong tiếng Tày nghĩa là "Trời"). Trứng luộc cũng là đặc sản ở đây. Những quả trứng vịt to tròn, nhuộm mầu đỏ tím trông rất bắt mắt, bên trong đầy lòng đỏ, ăn vừa đậm vừa bùi, bởi vịt nuôi bằng ngô chứ không bằng cám tăng trọng như ở nhiều vùng xuôi bây giờ. Lẫn trong hàng bắp cải, măng tươi lại có hai phản thịt lợn.
"Thịt lợn trên này ngon và thơm lắm, mua đi!", chị Châm ở Thái Nguyên vừa mua chiếc chân giò vừa bảo vậy.
Không còn nhiều bản sắc truyền thống - đó là điều mà không ít du khách thốt lên, khi muốn tìm lại các nét độc đáo trong lễ hội Lồng tồng ở Ba Bể. Sự thất vọng lộ rõ trong mắt các giảng viên và sinh viên Khoa Khoa học tự nhiên và xã hội thuộc Ðại học Thái Nguyên, khi chọn Ba Bể làm nơi điền dã và thực hành tiếng Tày - môn học được đưa vào chương trình chính khóa của sinh viên chuyên ngành văn học. Ðồng chí Mạch Văn Biểu, Bí thư Ðảng ủy xã Nam Mẫu cho biết: "Những năm trước, có đến ba chục nghìn người về dự hội, năm nay chẳng được non nửa. Tại trời mưa một phần, lý do chính là người ta nghĩ năm nay hội do cấp xã tổ chức nên quy mô nhỏ, kém vui". Một lễ hội danh tiếng như vậy mà kinh phí tổ chức do cấp xã bỏ ra vẻn vẹn 30 triệu đồng, mặc dù số tiền đó đã chiếm tới gần một phần ba tổng thu ngân sách của xã. Ông cũng cho biết, các năm trước, tỉnh và huyện trực tiếp tổ chức, nên quy mô lớn, nội dung phong phú hơn, khách đến nhiều hơn và ở lại lâu hơn.
Trời về chiều, Hội Lồng tồng Ba Bể kết thúc giữa lúc người còn đông mà trò chơi thì đã cạn. Cầm quả còn nhồi bằng cát, trơ trọi một cái tua, thắt thêm hai cái nút bằng vải khác mầu mà thấy nao lòng. Nó đâu còn là nơi gửi gắm các triết lý nhân sinh tinh tế của người xưa. Một lễ hội truyền thống ở vùng sơn thủy hữu tình xem ra chưa được duy trì và phát triển từ nguyên mẫu để tiếng tăm thơm xa, thơm lâu, để giữ được lời hẹn trở lại của du khách. Thiết nghĩ, xưa kia lễ hội vừa là ngày để bày tỏ lòng quý trọng tự nhiên, lòng thành kính với tổ tiên, với người có công tích với cộng đồng để cầu mong sự phù hộ; vừa là ngày vui chơi của mọi người. Do vậy, các lễ hội truyền thống từ lúc sơ khởi đến khi hình thành, rồi ghi dấu ấn ổn định trong công chúng chính là ở tính đặc biệt của nghi lễ, ở sự độc đáo, phong phú và hấp dẫn của các trò chơi, bên các hoạt động phụ trợ khác. Những năm gần đây, lễ hội truyền thống đã được tổ chức khá nhiều ở các địa phương. Trong một số điều cần bàn về lễ hội, thì sự đơn điệu trong cách thức tổ chức, sự lấn át của phương tiện và hình thức hoạt động hiện đại đối với các giá trị, hình thức hoạt động của văn hóa dân gian là điều rất nên bàn tới. Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở các lễ hội miền xuôi mà đã có mặt ở lễ hội vùng cao, trước đây còn mang đậm dấu ấn truyền thống. Ðó cũng là điều các cơ quan văn hóa cần quan tâm, để tạo ra nội dung - hình thức mới của lễ hội, vừa phù hợp với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, đáp ứng nhu cầu vui chơi và giao lưu văn hóa của mọi người, vừa giữ gìn được bản sắc, nét đẹp truyền thống của các lễ hội.

19.       Lễ hội xuống đồng của người Tày Na Hối ( Lào Cai )

Hàng năm, cứ đến ngày rằm tháng Giêng, người Tày xã Na Hối (huyện Bắc Hà, Lào Cai) lại hồ hởi chuẩn bị cho lễ hội xuống đồng, một lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân gian. Lễ hội xuống đồng ở đây được tổ chức gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ được bắt đầu từ tục rước đất, rước nước. Đoàn rước bao giờ cũng đi từ rất sớm khi trời còn chưa rõ mặt người.
Trong đoàn gồm có: thầy cúng, đội trống, đội khèn, hai đôi nam nữ chưa vợ chưa chồng khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí sặc sỡ nhiều mầu theo biểu tượng âm dương ngũ hành. Đi đầu đoàn rước là thầy cúng, người được dân bản giao trách nhiệm là sứ giả để giao tiếp với thần linh, trên tay thầy cầm cây nêu biểu tượng của sự sinh sôi, nảy nở. Đi sau là kiệu rước nước, nước được đựng trong hai ống bương to một ống bố và một ống mẹ.
Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng được lấy từ trên núi cao gọi là đất mẹ. Sau đó là các mâm lễ để dâng các vị thần linh. Lễ vật gồm một mâm quả còn (bên trong các quả còn có đựng các hạt giống), mâm xôi 7 màu, bánh dày ngũ sắc và thủ lợn, gà luộc, hoa quả... Đội chiêng trống đi hai bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy cúng giao linh với thần linh.
Khi đoàn rước về đến địa điểm làm lễ, thầy cúng ra hiệu cho đội nhạc lễ tấu lên ba hồi kèn trống vang vọng cả núi rừng, trời đất, tiếp đó thầy cúng thực hiện nghi lề cúng. Thầy khấn và phun nước làm phép để xua đuổi ma quỉ, xua đuổi điều không may, rồi thầy tung lộc (là các hạt giống) của thần linh cho dân bản.
Sau phần lễ là phần hội. Phần hội được bắt đầu bằng các điệu múa và các tiết mục văn nghệ dân gian đặc sắc của người tầy như : múa quạt, múa khăn, múa gậy, hát đối, hát giao duyên....Nhưng nổi bật nhất, vui nhất, nhiều người tham gia nhất là những màn xoè, khi tiếng kèn trống vang lên các cô gái tày mở đầu màn xoè với những động tác xoè duyên dáng, điệu nghệ mời mọi người tham gia, vòng xoè cứ rộng mãi đi đều trong tiếng kèn, tiếng trống dập dìu.
Khi các màn xoè kết thúc mọi người lại đổ tới khu chơi trò chơi. Các trò chơi ở đây đa số là trò chơi dân gian. Đầu tiên là trò chơi ném còn, hai đôi nam thanh nữ tú được vinh dự ném quả còn đầu tiên, sau đó tất cả mọi người đều được tham gia. Trò chơi ném còn được tiếp tục cho đến khi quả còn được ai đó ném qua vòng . Tiếp theo là các trò chơi như đẩy gậy, kéo co, đánh quay, đánh bóng...
Hội xuống đồng ở Na Hối được tổ chức trong hai ba ngày, dù là hội của người Tày nhưng nhân dân các dân tộc trong vùng đều kéo về dự rất đông vui vì thế càng làm cho nét xuân nơi đây thêm rộn rã.

20.              Hội Lim - Bắc Ninh

Hội Lim là một lễhội lớn đầu xuân vùng Kinh Bắc được tổchức vàongày 13 tháng giêng hàng năm, trên địa bàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Hội Limlà nét kết tinh độc đáo của vùng văn hoá Kinh Bắc.
Lịch sử
XứKinh Bắcnổi tiếng là vùng đất của những câuchuyện cổ, những sựtích văn hoá đặc sắc. Vìtruyền thống này mà đây là một trong những miền quê sởhữu nhiều lễhội dân giannhất Việt Nam. Lễhội được nhiều người quan tâm nhất là Hội Lim tại thịtrấnLim, Tiên Du, Bắc Ninh. Có giảthuyết cho rằng hội Lim có nguồn gốc từhội chùa,hội hát, liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi trong truyền thuyết TrươngChi - MỵNương mà dấu xưa đểlại là hình vết dòng sông Tiêu Tương khá rõ ởcáclàng quê vùng Lim.
Hội Lim được mởtừngày 12 đến 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm, trong đó ngày 13 là chính hội, thường được kéo dài trong khoảngthời gian 3-5 ngày (11/1 - 15/1 Âm lịch).
Hội Lim là một sinh hoạt ưvănhoá - nghệthuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ởxứBắc và dân caQuan họtrởthành tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loạihình dân ca trữtình Bắc Bộ.
Hội Lim là hội của những làng xã cổnằmquanh núi Lim và đôi bờsông Tiêu Tương. Hội Lim trởthành hội hàng tổng (hộivùng) vào thếkỷ18. Khi quan trấn thủxứThanh HóaNguyễn Đình Diễn là ngườithôn Đình Cả, Nội Duệ, xứKinh Bắc, có nhiều công lao với triều đình, được phongthưởng nhiều bổng lộc, đã tựhiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mởmang hội hè, gìn giữthuần phong mỹtục. ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộcủa mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim. Do cónhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ởchùa Hồng ân, nên khi ông mấtnhân dân tổng Nội Duệđã tôn thờlàm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăngHồng Vân có tên Hồng Vân từbi ký niên đại Cảnh Hưng 30 (1769) hiện giữởđìnhthôn Đình Cảđã cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờphụng hậu hàngtổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào "ngày sinh" và "ngày hóa" của ông tạilăng Hồng Vân và chùa Hồng ân trên núi Lim. Song trải tháng năm lịch sử, hội Limđã có nhiều lớp văn hóa, trong đó người ta chỉtổchức tếlễhậu thần vào mộtdịp là ngày 13 tháng giêng trùng với hội chùa Lim. Chính vì vậy mà có hội Lim vàđây là hội hàng tổng
Phần lễ
Ngày 13/1 Âm lịch, ngày hội chính,.Vào 8h sáng, Hội Lim được mởđầu bằng lễrước. Đoàn rước với đông đảo người dântham gia trong những bộlễphục ngày xưa, sặc sỡsắc màu và cũng vô cùng cầu kì,đẹp mắt kéo dài tới cảgần km.
Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễvàtục tròdân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờhậu. Buổi sáng ngày 13 tháng giêngtoàn thểquan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệphảitềtựu đầy đủtại lăng Hồng Vân đểtếlễhậu thần. Trong khi tếcó nghi thức hátquan họ thờthần. Đểhát thờ, các bọn quan họnam và nữcủa tổng Nội Duệđứngthành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát, họchỉđược hát nhữnggiọng lềlối đểca ngợi công lao của thần
Phần hội
Có nhiềutrò chơi dân gian nhưđấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm.Đặc sắc hơn cảlà phần hát hội
Là phần căn bản và đặc trưng nhất của hộiLim. Từhát mời trầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng. Hộithi hát diễn ra khoảng gần trưa, được tổchức theo hình thức du thuyền hát quanhọ. Tại một hồnước nhỏsát bên cánh đồng làng Lim, chiếc thuyền hình rồng đượcsơn son thiếp vàng rời bến trong những câu hát đậm đà nghĩa tình. Một bên thuyềnlà các liền chị, đối diện là những em nhỏsúng sính trong những tà áo tứthân.Các liền anh thì đứng hoặc ngồi sát hai phía đầu và cuối thuyền. Tối ngày 12 sẽ là đêm hội hát thi quan họgiữa các làng quan họ. Mỗi làng quan họcó được dựngmột trại tại phần sân rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hay nhất của cảlễhộiHội Lim.
Lễhội truyền thống của các làng trong tổng Nội Duệ( NộiDuệĐình Cảvà LộBao, Nội DuệKhánh, Nội DuệNam, Lũng Giang, Xuân Ổvà phườnghát cửa đình Tiên Du, sau là DuệĐông) tồn tại khoảng 40 năm nửa đầu thếkỷ XVII.
Nửa sau thếkỷXVIII, Quan trấn thủxứThanh Hóa Nguyễn Đình Diễncũng là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứKinh Bắc đã bỏtiền mua nửa quảnúi HồngVân (tức núi Lim) đểxây lăng mộcủa mình trên đỉnh núi. Còn Bà MụẢ, người NộiDuệNam, tu ởchùa Hồng Ân (tức chùa Lim) cũng bỏtiền mua nốt phần còn lại củanúi Hồng Vân làm hương hỏa, mởmang chùa Lim ( Đây là một bước ngoặt do sựkếthợp hoàn hảo giữa chính quyền và thần thánh )
Kểtừđó Hội hàng Tổng đãcó sựđổi mới rất căn bản: Từlễhội mùa thu tháng tám sang mùa xuân, thánggiêng; trung tâm lễhội từlàng Đình Cả- Nội Duệđược chuyển lên núi Lim và hộilàng Lũng Giang trởthành lễhội lớn, vì thếcó tên hội Cả. Hội đình, hội chạ hàng tổng được kết hợp và hòa nhập với hội chùa Hồng Ân, nên được gọi là HộiHồng Vân Sơn hay dân gian quen gọi là hội Lim quy định ba năm mởhội một lần tạinúi Lim
Hội Lim đi vào lịch sửvà tồn tại và phát triển cho đến ngày nay(Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹcứu nước, hội Lim khôngđược mởtrong nhiều thập kỷ) được hàng tổng chuẩn bịtập rượt rất chu đáo từ ngày 9 và 10, rồi được diễn ra từngày 11 đến hết ngày 14 tháng giêng. Chính hộilà ngày 13, với các nghi thức rước, tếlễcác thành hoàng các làng, các danhthần liệt nữcủa quê hương tại đền CổLũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy . Trong các nhà thờhọNguyễn, họĐỗởlàng Đình Cả, dâng hương cúngPhật, cúng bà mụẢởchùa Hồng Ân.
Lễhội diễn ra khắp các làng xã trongtổng Nội Duệ, trung tâm là núi Hồng Vân, với nghi thức tếlễrước xách uynghiêm, hùng tráng và nhiều trò vui, đặc sắc mà hấp dẫn nhất là đánh cờngười,tổtôm điếm, thi dệt vải, thi làm cỗvà đón bạn, ca hát Quan họ.

Là lễhội lớn của vùng Kinh Bắc ,với những hoạt động phong phú của lễvà hội đã cónội dung và tầm cỡlễhội văn hóa dân gian Kinh Bắc, gần như hội đủnhững hoạtđộng văn hóa nghệthuật và tín ngưỡng tâm linh của các lễhội trên vùng quê BắcNinh - mảnh đất được coi là vương quốc của lễhội dân gian Việt Nam . Hội Lim đãtrởthành nổi tiếng, được nhân dân khắp các vùng ca ngợi, truyền tụng:
Ba năm hai cái hội chùa, Nào ai có lỡbỏbùa cho ai. Già già, trẻtrẻ, gái trai,Đua nhau ăn mặc, hán hài đi xem. Hội Lim ai thấy chẳng thèm, Tổtôm, bài điếm,giò nem thiếu gì. Đồn sắp có dệt cửi thi, Cao lâu trăm thức thiếu gì thứcngon.
Hội Lim có hai phầnchính : Phần lễĐúng 8h ngày 13/1 Âm lịch, (Ngày hội chính) Hội Lim được mởđầu bằng lễrước. Đoàn rước với đông đảo ngườidân tham gia trong những bộlễphục ngày xưa, sặc sỡsắc màu và cũng vô cùng cầukì, đẹp mắt kéo dài tới cảgần km. Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễvà tục tròdân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờhậu. Buổi sáng ngày 13 tháng giêngtoàn thểquan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệphảitềtựu đầy đủtại lăng Hồng Vân đểtế lễhậu thần. Trong khi tếcó nghi thức hátquan họthờthần. Đểhát thờ, các bọn quan họnam và nữcủa tổng Nội Duệđứngthành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát, họchỉđược hát nhữnggiọng lềlối đểca ngợi công lao của thần Phần hội
Có nhiều trò chơi dângian nhưđấu võ,đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm. Đặc sắc hơn cả là phần hát hội - Là phần căn bản và đặc trưng nhất của hội Lim. Từhát mờitrầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng. Hội thi hát diễn rakhoảng gần trưa, được tổchức theo hình thức du thuyền hát quan họ. Tại một hồ nước nhỏsát bên cánh đồng làng Lim, chiếc thuyền hình rồng được sơn son thiếpvàng rời bến trong những câu hát đậm đà nghĩa tình. Một bên thuyền là các liềnchị, đối diện là những em nhỏsúng sính trong những tàáo tứthân. Các liền anhthì đứng hoặc ngồi sát hai phía đầu và cuối thuyền. Tối ngày 12 sẽlà đêm hộihát thi quan họgiữa các làng quan họ. Mỗi làng quan họcó được dựng một trạitại phần sân rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hay nhất của cảlễhội HộiLim.
Vềvới Hội Lim là vềvới một trời âm thanh, thơvà nhạcnáo nức không gian đến xao xuyến lòng người. Những áo mớbảy mớba, nón ba tầm,quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm...nhưẩn chứa cảsức sống mùa xuâncủa con người và tạo vật. Cách chơi hội củangười quan họvùng Lim cũng là cách chơi độc đáo , mỗi cửchỉgiao tiếp đã mangtrong nó một sắc thái văn hoá cao. Hội Lim luôn đểlại trong lòng người đi hộimột cái gì đẹp lắm.Các cụgià vùng Lim,nói là Hội Lim nay vẫn bảo tồn cốt cáchcủa hội Lim xưa, nhưng đã xen phần dấu ấn của văn hoá thịtrường . Người Lim vẫnhát quan họtrên đồi Lim và dưới thuyền, nhưng phải hát bằng micro qua máy phóngthanh. Không gian giao duyên không còn “ Tù túng “ trong một không gian hạn hẹpmà hát cho cảthiên hạ, cảđất trời và mùa xuân cùng nghe.
Không khí hộihè làm ấm cảkhông gian và làm gần lại khoảng cách giữa những người xa lạ... Cóai xuôi vềcùng quan họmởquán bán hàng? Có ai yêu nhau thì nón cũng nhưdù, đácũng như vàng?
Thông tin thêm
Quận công ĐỗNguyên Thụy, người làngĐình Cảđã hiến dâng hàng tổng 40 mẫu ruộng và hàng ngàn quan tiền cổđểxâydựng tập quán chung và tổchức lễhội. Ông đã xây dựng những quy định vềlệtụclễhội và khắc vào bia đá làm căn cứcho hàng tổng thực hiện , Hội hàng Tổngđược tổchức vào mùa thu từngày Rằm đến 21 tháng tám với nhiều nghi lễrước, tế lễvà các hoạt động nghệthuật dân gian : Hát trống quân, hát chèo, ca trù, háttuồng và hát quan họ… Nếu năm nào không tổchức hát, thìvẫn phải tiến hành việctếlễthần, cầuphúc

Quan họlà loại dân ca đặc sắc của vùng Kinh Bắc xưa và nay là tỉnhBắc Ninh. Lim là tên Nôm của xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cáchHà Nội 18 km. Hội mởtrên đồi Lim, có chùa Lim nơi thờông Hiếu Trung Hầu, ngườisáng lập tục hát quan họ.
Hội Lim mởvào ngày 13 tháng Giêng âmlịch hàng năm. Khách kéo vềdựhội Lim rất đông đểđược xem hát quan họgiữa các"liền anh" "liền chị", hát sau chùa, hát trên đồi, hát đối đáp từng cặp đôi, háttrên thuyền... với đủcác làn điệu quan họkhác nhau. Ngoài ra, trảy hội Lim cònđược xem các cuộc thi dệt của các cô gái Nội Duệ, vừa dệt thi vừa hát quan họ.Cũng nhưcác Hội khác, hội Lim cũng có đủcác phần từlễrước đến tếlễcùngnhiều trò vui khác.
Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá - nghệthuật đặc sắccủa nền văn hoá truyền thống lâu đời ởxứBắc và dân ca Quan họtrởthành tàisản văn hoá chung của dân tộc, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữtình Bắc Bộ.

Đối tượng suy tôn: Vua Bà, Thờ ông Hiếu Trung Hầu, người sáng lập tục hát Quan họ
Địa điểm: Đồi Lim, chùa Lim xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc
Thời gian: 13 tháng giêng
Đặc điểm: Hát quan họ và tục kết bạn, kết chạ
Quan họ là loại dân ca đặc sắc của vùng Kinh Bắc xưa (và nay là tỉnh Hà Bắc). Dân ca Quan họ nổi tiếng không chỉ là nhờ ở lời ca trữ tình, nồng nàn yêu cuộc sống và tình yêu lứa đôi, hoặc với 200 làn điệu âm nhạc đặc sắc mà còn do những đặc điểm khác hiếm thấy ở dân ca nơi khác.
Từ lời ăn tiếng nói hàng ngày cho đến lối ứng xử trong ngày hội, "người Quan họ" đều từ tốn, phong nhã. Tục kết chạ giữa các làng Quan họ, kết bạn giữa các "bọn" Quan họ đã duy trì nếp sống đạo đức tốt đẹp. Người Quan họ đều là "liền anh", "liền chị" và bao giờ cũng tự xưng là "liền em"
Với người Quan họ, ngày xưa khách đến phải là:
Mấy khi khách đến chơi nhà
Lấy than, quạt nước tiễn trà người xơi
Trà này ngon lắm người ơi
Người xơi một chén cho tôi bằng lòng
Và đến lúc phải về, cuộc chia tay thật khó dứt, vì lời ca bao giờ cũng níu chân người ta lại:
"Người ơi người ở đừng về..."
Hội hát Quan họ thường gắn với hội chùa. Cho nên chùa là nơi tụ hội và đón nhận khách Quan họ. Có tới 49 làng hát quan họ, phân bổ trong 4 huyện, thị phía Nam tỉnh Hà Bắc. Nhưng nói tới Quan họ, người ta nghĩ ngay đến Hội Lim. Lim là tên nôm của xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Hội mở trên đồi Lim, nơi có chùa Lim (còn gọi là Hồng Vân Tự). Hội Lim đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội Quan họ. Hội mở vào ngày 13 tháng giêng, đúng phiên đầu năm của chợ Lim.
Đến hội Lim, chúng ta sẽ được xem hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia - lại có thể nghe đối đáp từng cặp đôi (đôi nam, đôi nữ), hoặc từng "bọn" (nam, nữ). Ngoài ra, trẩy hội Lim còn được xem các cuộc thi dệt vải của các cô gái Nội Duệ, vừa dệt thi, vừa hát Quan họ, hoặc dự các trò chơi như lên đu, chọi gà, chọi chim, đấu vật... vốn là trò chơi của hội làng cổ truyền mà hội Lim giữ lại như một "vang bóng".
Hát trong nhà:
Tới nhà Quan họ bạn có thể hát chào ngay, rất tự nhiên
Hôm nay vui vẻ thế này
Vui tày đám hội đốt cây nhang trầm
Chủ đáp:
Hôm nay tứ hải giao tình
Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà
Quan họ đỡ nón, cầm ô đón bạn vào nhà rồi dâng trầu, nước, mời bạn xơi. Rồi cuộc hát bắn đầu ngay sau đó. Cứ từng đôi một, mỗi bên một đôi, đối đáp nhau theo lối đổi giọng hay đổi lời. Hát đến trưa thì cỗ bàn cũng vừa xong. Chủ mời bạn nghỉ xơi cơm. Trời tối hẳn, cuộc hát lại tiếp tục cho đến đoạn giao duyên, ngỏ lời say đắm, rồi giã bạn...
Người về bỏ bạn sao đành
Người về, em vẫn đinh ninh tấc lòng
Người về bỏ vắng phòng không
Người về em vẫn nay trông mai chờ...
Cuộc chia tay đầy lưu luyến diễn ra lúc rạng sáng.
Hát ngoài đồi:
Đồi Lim rộng lớn, quang đãng, thoai thoải. Đất phủ cỏ xanh, chỉ có vài cây cổ thụ bên chùa. Vì vậy, hát Quan họ thường là diễn ra ở ngoài trời, lúc hát nam đều che ô, nữ thì nón quai thao che nửa mặt. Ô và nón làm cho người hát thêm duyên, dễ giữ ý tứ với nhau, mà lúc hát âm thanh cũng nhờ đó trở nên ấm áp hơn, vang hơn.
Hát trên thuyền:
Cạnh đồi Lim có mấy cái ao, hồ dài, nước trong sạch, thuận lợi cho việc tổ chức hát trên thuyền. Mỗi thuyền hát chỉ có 2 đôi: 2 nam và 2 nữ. Hai bên phải hiểu rõ nhau và phải mời nhau trước. Hát trên thuyền giữa cảnh thú vị của mùa Xuân đầy thơ mộng là một cách thưởng ngoại Xuân thú vị, cho nên người trong cuộc thường muốn kéo dài giờ phút gặp gỡ.

Có lẽ giờ đây, những làn điệu dân ca Quan họ không chỉ là niềm tự hào, là vốn riêng của người dân Kinh Bắc mà còn là niềm kiêu hãnh, là nét đẹp văn hoá rất riêng của người dân Việt Nam. Cứ mỗi độ xuân về, người dân Kinh Bắc lại mở hội đón năm mới. Các liền anh, liền chị lại tụ họp cùng nhau, trao cho nhau những lời ca, câu hát sâu nặng nghĩa tình. Và đặc biệt nhất đó là ngày hội Lim được tổ chức từ ngày mồng 10 đến ngày 13 tháng giêng âm lịch hằng năm, trong đó, ngày tưng bừng nhất là ngày 13.
Tục kết nước nghĩa giữa các làng quan họ, các nhóm quan họ ( mà người dân ở đây vẫn gọi là “ bọn” quan họ) đã duy trì nếp sống đạo đức tốt đẹp. Người quan họ thường gọi nhau là “ liền anh”, “ liền chị” và bao giờ cũng tự xưng mình là “ liền em”.
Có tới 49 làng hát quan họ, phân bố trong 4 huyện cũ ( tiên Du, Võ Giảng, Quế Dương, Yên Phong) và thị xã bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nói tới quan họ, người ta nghĩ ngay đến hội Lim.
Lim là tên nôm của xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hội mở trên đồi Lim, xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh- nơi có chùa Lim( còn gọi là Hồng Vân tự). Đây là ngày hội đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội hát quan họ.
Vào những ngày này, trang phục của mọi người cũng có phần hơi khác- phải ăn mặc sao cho đúng với trang phục truyền thống xưa của người dân Kinh Bắc. Nam thì ống sớ, áo the, khăn xếp, tay cầm chiếc ô đen. Còn nữ thì váy lụa dài chấm gót, thân áo dài mớ ba mớ bảy, thắt lưng lục nhiều màu, dây xà tích bạc bên sườn, tay cầm nón quai thao, chân đi dép cổ( luồn ngón chân giưã).
“ Vào hội Lim, em mặc áo the, chân đi guốc mộc đội nón quai thao em bước qua cầu. Hát câu quan họ chung tình làm đôi, hát câu quan họ chung tình làm đôi”
Qua lời ca này, chúng ta nhìn thấy được hình ảnh và nét duyên của người con gái Bắc Bộ nói chung và Bắc Ninh nói riêng. Việt Nam, với nền văn hoá đa dạng từ các vùng trên đất nước nhưng điều đó lại tạo nên nét đặc sắc cho văn hoá Việt Nam, đặc biệt là qua trang phục. Nếu người miền Nam có chiếc áo bà ba, người miền Trung là chiếc áo dài thướt tha xứ Huế, thì ta cũng dễ dàng phân biệt được người miền Bắc có chiếc áo tứ thân và chiếc nón quai thao. Aó tứ thân và nón quai thao lại càng tạo một vẻ đẹp cho người phụ nữ Việt Nam nơi xứ Bắc- tuy cổ kính bởi có nhiều lớp áo nhưng cũng hơi để lộ phần yếm thắm nên dù cổ kính nhưng cũng tạo được một sự hấp dẫn và nét duyên nơi người phụ nữ.
Trong ngày hội Lim, người ta dự các cuộc hát trên đồi, sau chùa, hát trên thuyền và hát tại nhà thâu đêm suốt sáng. Ngoài ra, chúng ta còn có dịp được xem các cuộc thi dệt vải của những cô gái Nội Duệ, vừa thi vừa dệt vừa hát quan họ.
Đến với hội Lim, người ta không chỉ để giao lưu và thưởng thức các làn điệu dân ca quan họ mà còn có thể tham gia các hoạt động khác không kém phần hấp dẫn như đánh đu, đấu vật, chọi gà, đánh cờ…
+ Quan họ trong nhà
Khi biết tin khách đã đến chùa, quan họ chủ lập tức ra tận chùa đón khách. Họ cùng nhau vào chùa thắp nén hương lễ Phật rồi sau đó về nhà quan họ chủ. Điểm đặc biệt ở đây là ngày hội Lim, ngày hội của các làn điệu dân ca quan họ nên các liền anh, liền chị đều đối đáp với nhau toàn những lời ca tiếng hát quan họ. Tới nhà, quan họ bạn có thể hát chào ngay rất tự nhiên: “ hôm nay vui vẻ thế này, vui tay đón hội đốt cây nhang trầm.”- khi đó, chủ sẽ đáp “ Hôm nay tứ hải giao tình, tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà” ( tất cả đều bằng những lời ca làn điệu quan họ). Hát quan họ là hát “ chay”, không có nhạc cụ đệm
Quan họ chủ đỡ nón, cầm ô , đưa bạn vào nhà, mời ngồi rồi dâng trầu nước, hát mời bạn xơi. Các liền anh, liền chị ngồi trên hai giường khác nhau hoặc ngồi đối diện nhau qua một cái bàn để trầu nước. Quan họ khách nhận trầu, nhận nước và hát cảm ơn thịnh tình của chủ. Cuộc hát bắt đầu ngay sau đó. Cứ từng đôi một, mỗi bên một đôi hát đối đáp nhau theo lối đối giọng, đối lời. Cuộc hát như thi nhưng lại như chơi bởi các nghệ nhân đều thành thuộc và giàu vốn.
Hát trong nhà thường khác hát ngoài đồi ở chỗ theo quy cách trình tự trước sau- nơi hát ổn định, thời gian hát ổn định và có thể kéo dài thâu đêm suốt sáng được. Thường là hát chào, thăm hỏi mời nhau trầu, nước rồi mới dần tới những bài giao duyên để rồi cuối cùng là ‘giã bạn”.
Buổi chiều, mọi người ra đồi xem hội. Tối về, cuộc hát lại tiếp tục. Và đã như một thói quen, càng về khuya, tiếng hát quan họ càng nồng nàn, say đắm. Người ta thay phiên nhau hát từng đôi một trong cùng nhóm. Để giữ giọng tốt, các liền anh, liền chị thường ăn trám hay ngậm muối
+ Quan họ trên đồi:
Đồi Lim rộng lớn, quang đãng, thoai thoải. Tiết trời đang xuân, khí hậu ấm áp, nắng không gắt. Nhưng dù trời không nắng thì khi hát, người ta vẫn thường che dù và đội nón quai thao để tạo nét duyên cho người hát và tạo được một nét trữ tình, duyên dáng.
Hát trên đồi không cần lề lối mà là “tình cờ”. Cũng chính vì thế mà không khí buổi hát năng động hơn. Nam, nữ khi gặp nhau có thể cất ngay tiếng hát ở bất kỳ chỗ nào trên đồi. So với hát trong nhà mang tính chất “ thính phòng” thì hát ngoài trời lại mang tính “ đại trà.
+ Quan họ trên thuyền
Mỗi thuyền chỉ có 2 đôi- hai bên phải hiểu rõ nhau và mời nhau trước. Giữa cảnh trời nước mùa xuân trong sáng đầy thơ mộng, con người ta dễ thả hồn vào thiên nhiên để rồi từ đó cất lên những giọng ca mượt mà trao cho nhau. Giữa phong cảnh hưũ tình và không khí trữ tình như thế, người trong cuộc như muốn kéo dài hơn giờ phút gặp gỡ.
+ Thi cỗ chay
Tuy là hội hát diễn ra trên đồi, quanh chùa, trên thuyền và trong nhà nhưng tại đình làng hôm nay cũng diễn ra cuộc tế lễ, đặc biệt có tục thi cỗ chay của các nhà chùa để “ kiêng khem.
Chùa Lim xây dựng từ thời điểm nào, cho đến ngày nay vẫn chưa xác định. Theo truyền thuyết, ngày xưa có một người đàn bà quê ở Duệ Đông, bà tên là Bà Mụ Ả đến đó tu và đắc đạo. Bà có phép hô phong hoán vũ giúp dân làng những lần hạn hán. Để nhớ ơn, dân làng tôn bà làm thành hoàng của làng và ngày hội chùa Lim được tổ chức để ghi nhớ ngày bà tạ thế. ”. Đây có lẽ là dấu vết của lễ cúng chùa cúng hậu cho “ bà mụ Ả”
Mâm cỗ chay có đủ xôi nén, oản, kẹo vừng, chè kho, các loại mứt. Mỗi mâm lại xếp một bó mía tiện sẵn, một quả cam, một điã bánh giò và mật. Mỗi giáp làm 6 cỗ dự thi tại đình.
Có thể nói Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá- nghệ thuật đặc sắc của nên văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc, và dân ca quan họ đã trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc, rất xứng đáng tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc bộ. Dự hội Lim, người ta không chỉ để thưởng thức một loại hình nghệ thuật có nội dung phong phú với lối trình diễn, lối chơi độc đáo mà còn được tìm hiểu một phong cách giao tiếp xã hội đẹp trong đời sống hằng ngày.

Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn: Độc đáo một truyền thống

"Dù ai buôn đâu bán đâu,
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về,
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Mồng chín tháng tám thì về chọi trâu"
Không biết từ bao giờ, câu ca mộc mạc trên đã trở thành tiếng gọi của quê hương, nhắc nhở người Đồ Sơn nhớ về nơi "chôn rau cắt rốn". Nơi có lễ hội truyền thống "độc nhất vô nhị" tại Việt Nam. Đó là Lễ hội chọi trâu được tổ chức hàng năm tại quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Lễ hội chọi trâu có từ bao giờ và bắt đầu từ đâu thì không ai biết, nhưng những truyền thuyết về lễ hội này thì có rất nhiều, mỗi truyền thuyết đều gắn với một sự tích kỳ bí khác nhau nhưng tất cả đều khẳng định: Hội chọi trâu là mỹ tục hào hùng mang đậm tính thượng võ, tính táo bạo và lòng quả cảm rất độc đáo của người Đồ Sơn.
Để có những ngày hội náo nức, người dân Đồ Sơn phải chuẩn bị rất công phu trong khoảng 8 tháng trời. Theo người dân Đồ Sơn thì điều quan trọng bậc nhất là việc tìm và nuôi dưỡng trâu. Thông thường, sau Tết Nguyên đán, các sới chọi đều cử người có nhiều kinh nghiệm đi khắp nơi để mua trâu, có khi họ phải lặn lội hàng tháng trời vào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Định, Thái Bình, thậm chí lên tận Tuyên Quang, Bắc Cạn... mới tìm được con trâu vừa ý.
Qua nhiều năm lặn lội tìm mua trâu, người Đồ Sơn nhận thấy rằng, những con trâu mua được ở chợ Gồi (Nam Định), Thủy Nguyên (Hải Phòng), Thanh Hà (Hải Dương) thường "giật" giải nhiều hơn. Bởi thế, cứ sau Tết âm lịch hằng năm, người Đồ Sơn lại đổ xô đến những địa phương trên lùng mua trâu.
Một chủ trâu có nhiều năm kinh nghiệm cho biết: "Chọn trâu là một công việc cầu kỳ và tỷ mỉ, trâu đủ tiêu chuẩn phải là những con trâu đực khỏe mạnh, có khả năng chống chịu được đòn của đối phương (nghĩa là phải gan lỳ). Thông thường, những chú trâu da đồng, lông móc, một khoang bốn khoáy, hàm đen, tóc tráp (lông trên đầu cứng, dày để tránh nắng)... là trâu gan. Trâu phải có ức rộng, cổ tròn dài và hơi thu nhỏ về phía đầu, lưng càng dày, càng phẳng càng tốt. Háng trâu phải rộng nhưng thu nhỏ về phía hậu càng nhọn càng quý. Sừng trâu phải đen như mun, đầu sừng vênh lên như hai cánh cung, giữa hai sừng có túm tóc hình chóp trên đỉnh đầu là khoáy tròn. Mắt trâu phải đen, tròng đỏ. Mặt trâu giống mặt ngựa là trâu chọi hay...".
Việc chọn mua trâu đã khó khăn, việc chăm sóc, huấn luyện trâu càng khó khăn gấp bội. Những người được giao nhiệm vụ chăm sóc huấn luyện trâu thường là những người có nhiều kinh nghiệm. Trâu chọi được nuôi ở chuồng riêng, tách biệt và kín đáo. Điều đặc biệt là không được để cho trâu chọi trông thấy trâu nhà cốt để trâu chọi khôi phục bản năng hoang dã, đơn độc của nó. Trường huấn luyện trâu thường là những bãi đất rộng, có nhiều người đứng xung quanh gõ chiêng trống và hò hét.
Khi huấn luyện, người ta còn phủ cờ đỏ lên đầu trâu, mình trâu để cho trâu quen dần với không khí của ngày hội. Người huấn luyện còn dạy cho trâu có những miếng đánh hay, đòn hiểm và độc đáo. Sau khi huấn luyện, trâu nào được chọn làm trâu chọi sẽ được gọi một cách tôn kính là "ông trâu". Trâu nào đoạt giải nhất, được tôn lên thành "cụ trâu".
Ở Đồ Sơn, phường nào cũng có người mê trâu chọi, có kinh nghiệm tìm mua trâu, chăm sóc, huấn luyện trâu chọi, những người này được coi là nghệ nhân. Trong ngày lễ hội, tên của họ được nhắc đến với tư cách là chủ của "ông trâu"…
Mở đầu hội chọi trâu là lễ tế thần Điểm Tước (vị thuỷ thần, và cũng là Thành hoàng làng của cả vùng Đồ Sơn). Lễ tế thần ngày hội chọi trâu là lễ lớn nhất trong năm của người Đồ Sơn. Thời gian gần đây, những thủ tục của phần lễ ngày càng bị xem nhẹ, đơn giản hóa. Tuy nhiên, phần hội chọi trâu luôn có sức hấp dẫn lạ kỳ thu hút đông đảo du khách bốn phương đến cổ vũ.
Vào hội, ai cũng náo nức, hồi hộp, chờ đợi… Từ hai phía của sới chọi, "ông trâu" được dẫn ra có người che lọng và múa cờ hai bên. Khi hai "ông trâu" cách nhau 20m, người dắt nhanh chóng rút "sẹo" cho trâu rồi khẩn trương thoát ra ngoài sới chọi. Hai trâu lao vào nhau với tốc độ khủng khiếp, hai đôi sừng đập vào nhau kêu chan chát... Cứ thế, hai trâu chọi nhau quyết liệt giữa tiếng hò reo vang dậy của hàng ngàn khán giả.
Kết thúc hội chọi trâu là một cuộc rước giải trâu nhất về đình làm lễ tế thần. Cuộc rước này phải có tất cả mọi người dân Đồ Sơn (cả chủ trâu thua cuộc) biểu thị sự đoàn kết, vô tư, cùng đồng lòng mừng ngày vui chung. Trâu nhất hàng tổng được phần thưởng là một lá cờ vóc hồng thêu hai chữ "Thượng Đẳng" bằng kim tuyến, một bát hương bằng đá xanh đem theo đám rước trở về.
Theo tập tục của địa phương, các trâu tham gia chọi, dù thắng, dù thua, đều phải giết thịt, dân Đồ Sơn lấy một bát tiết cùng một ít lông của trâu (mao huyết) để cúng thần, sau đó đổ xuống ao để tiễn thần... Du khách đến dự lễ hội có thể mua thịt trâu về ăn để cầu may và chúc phúc…

Với những nét văn hóa truyền thống độc đáo vốn có, Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đã trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo thu hút du khách bốn phương đến với Hải Phòng. Năm 2000, Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được Nhà nước công nhận là một trong 15 lễ hội lớn của cả nước

21.              các lễ hội ở kinh Bắc

Hội Dâu, lễ hội của cư dân nông nghiệp
Thứ Năm, 08/05/2008 - 2:39 PM
Ngày mồng Tám tháng Tư được chọn làm ngày mở hội chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) không phải là sự tình cờ ngẫu nhiên mà có dụng ý sâu sắc của người xưa.
Trước hết đó là ngày sinh của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni (mồng Tám tháng Tư năm 565 trước Công Nguyên), vị giáo chủ đầu tiên của đạo Phật. Đến thế kỷ thứ III trước CN, vua A dục đã xây hơn 8 vạn tháp thờ Phật và thúc đẩy việc truyền đạo ra nước ngoài. Theo sách “Thủy Kinh chú”, một trong những ngôi tháp ấy được xây ở Dâu-Luy Lâu. Đó là dấu tích Phật giáo sớm nhất Việt Nam.

Tuy nhiên trước khi đạo Phật được truyền vào thì người dân bản địa đã có tín ngưỡng thờ Thần Nước, tức là những vị Thần Nông nghiệp. Câu chuyện nàng Man Nương, cô gái Kẻ Mèn (nay thuộc xã Hà Mãn, Thuận Thành) mộ đạo Phật, nằm ngủ quên giữa cửa; sư Khâu Đà La vô tình bước qua mà thụ thai, được giải thích là sự mầu nhiệm của “Thiên Nhân hợp khí”! Thực chất đó là cuộc hôn phối giữa đạo Phật với tín ngưỡng bản địa. Kết quả sau đấy đã sinh ra bé gái, tiền thân của Phật Tứ Pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu-Luy Lâu rồi lan tỏa ra nhiều nơi khác.
Người xưa cũng làm cuộc “đánh tráo khái niệm” tài tình, cho bé gái sinh trùng khớp vào ngày Phật đản. Thành ra mồng Tám tháng Tư không chỉ là ngày sinh Phật Thích Ca (ấn Độ) mà còn là ngày sinh của Phật Tứ Pháp (Việt Nam). Khách thập phương hành hương về chùa Dâu lễ Phật, chả còn lý do gì để mà lưỡng lự, phân vân!
Song ý nghĩa quan trọng nhất của Hội Dâu là cầu cho mưa thuận gió hòa, ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp.
Ngày xưa nông dân ta canh tác một năm hai vụ, chiêm và mùa. Sản xuất bấy giờ hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết. Mà thiên nhiên thì khắc nghiệt, mưa nắng, úng hạn thất thường nên vụ chiêm rất bấp bênh, chỉ còn trông chờ vào vụ mùa. Tháng Tư là tháng bắt đầu cày bừa gieo cấy lúa mùa: Tháng Tư cày ruộng mưa sa đầy đồng (Ca dao).
Hội Dâu tiến hành vào đầu tháng Tư chính là lễ hội của cư dân nông nghiệp. Các nghi thức trong Hội Dâu xét cho cùng đều là những hoạt động diễn xướng tín ngưỡng cầu Thần Nước của nông dân.
Ban ngày rước Tứ Pháp về chùa Dâu “công đồng” là hội tụ các yếu tố Mây+Sấm+Chớp=Mưa.
Ban đêm rước Tứ Pháp đi “tuần nhiễu” một vòng khép kín từ đông sang tây là mô tả chu kỳ quả đất xoay tròn, tạo ra năm tháng, bốn mùa.
“Múa gậy” không chỉ để dẹp đám mà còn tái diễn sự tích cây gậy thần kỳ. Giếng cổ trong chùa là dấu vết Man Nương cắm gậy xuống đất làm ra nước cứu sống sinh linh.
Đặc biệt cuộc thi “Cướp nước” được đón đợi nhiều nhất, là cuộc thi chạy giữa bà Sấm (Pháp Lôi) với bà Mưa (Pháp Vũ). Người ta bói xem ai về đích trước để dự báo mùa màng. Nếu là bà Mưa thì năm ấy được mùa. Nếu là bà Sấm thì năm ấy ruộng đồng lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn trắc trở.
Ta hiểu vì sao các vị vua triều Lý ngày xưa thường rước Phật Pháp Vân về Kinh đô Thăng Long làm lễ “cầu đảo”. Vì sao đời này qua đời khác, trong dân gian vẫn nhắc mãi câu ca: Tháng Tư ngày Tám thì về Hội Dâu.

22. Một nét tâm linh miền Quan họ
Có người đã nói: Du xuân vùng Kinh Bắc mà không đến hội làng Diềm (làng Viêm Xá, xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh) là chưa biết đến miền Quan họ. Quả thực, nếu xét về mặt tín ngưỡng, lễ hội Đền Vua Bà Thủy tổ Quan họ được tổ chức vào ngày 6, 7 tháng Hai âm lịch hàng năm tự bao đời nay vẫn giữ nguyên giá trị. Đến với hội Diềm, du khách có thể dễ dàng cảm nhận những đặc trưng trong sinh hoạt văn hoá Quan họ dù chỉ diễn ra trong phạm vi một đơn vị hành chính nhỏ hẹp.
Người ta đến với hội Diềm không một chút ồn ào. Trên con đường bê tông sạch đẹp dẫn vào quê hương Thuỷ tổ Quan họ, các bà, các chị xúng xính trong chiếc áo mớ ba mớ bảy, đầu đội lễ lên Đền. Gặp cảnh ấy, chúng tôi cứ ngỡ mình được trở lại ngày xưa. Một cảm giác thanh bình đến kỳ lạ bỗng ùa về, xốn xang và đầy thích thú. Tiếng trống hội kéo tôi trở lại không gian làng Diềm hiện tại. Ngày mùng 6 mới là chính hội nhưng từ chiều mùng 5, cửa đình đã được mở để làm lễ nhập tịch. Trước lễ khai mạc, 2 tiết mục văn thể của chi Hội Người cao tuổi thôn và Hội Người Cao tuổi thành phố Bắc Ninh đã mang đến cho quý khách gần xa những thú vị bất ngờ. Sau lễ rước trang trọng và màn trống theo nghi lễ truyền thống chính thức khai hội, các liền chị, liền anh làng Quan họ gốc diễn lại tích “Bà Chúa phát lệnh mở hội xuân”. Đây là dịp để những du khách lần đầu tiên đến với hội Diềm được hiểu rõ hơn về nguồn gốc lễ hội Đền Vua Bà - người có công khai sinh và truyền dạy cho người dân nơi đây những làn điệu vấn vít lòng người. Chị Hai Sứ trong vai Bà Chúa hào hứng kể lại cho chúng tôi cảm xúc khi được chọn diễn từ 3 năm nay. Với chị, được thừa hưởng giọng ca ngọt ngào “vang - rền - nền - nảy” và cùng đắm mình trong lối sinh hoạt đặc trưng, thể hiện sự thủy chung, son sắt đã là một may mắn. Cũng trong tích truyện, câu ca Khách đến chơi nhà thêm một lần nữa thể hiện thịnh tình của người Quan họ. Nghi lễ “Rước kiệu Vua Bà đi vãn cảnh xuân” càng tô đậm tín ngưỡng mang đậm chất dân gian, một biểu hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của người dân nơi đây.
Canh hát truyền thống của Quan họ làng Diềm đã mở từ tối mồng 5 tại Đền Vua Bà, song không vì thế mà kém phần đặc sắc trong suốt ngày mồng 6. Lễ hội năm nay không tách bạch 2 phần: Lễ và Hội mà diễn ra song hành. Văn hoá Quan họ với những nét sinh hoạt đặc trưng vẫn gắn bó với người dân làng Diềm và được họ trân trọng, giữ gìn. Các điểm hát Quan họ (bao gồm cả Quan họ cổ không nhạc đệm và ca nhạc Quan họ) được mở rộng. Nếu thích nghe Quan họ, bạn có thể nghe bên Đền Cùng - Giếng Ngọc hay thuyền rồng, nếu bạn là người thích sự sâu lắng, cổ xưa hãy tìm đến những canh hát trong Đình Diềm và Đền Vua Bà, “nhà chứa” của cụ Dành cũng là điểm đến quen thuộc đối với du khách đặc biệt yêu thích Quan họ.

Bữa cơm Quan họ tại Nhà văn hoá thôn khiến chúng tôi có dịp làm quen với nhiều người, cũng là cơ hội để biết họ cảm nhận điều gì ở làng Diềm nổi tiếng. Sau khi hai liền chị nâng chén xuân ca câu “Tay tiên chuốc chén rượu đào”, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Lê Danh Khiêm với vốn kiến thức đáng nể về văn hoá Quan họ đã phân tích “Câu này mỗi nơi hát một khác, có nơi hát sai lời nên làm mất đi ý nghĩa vốn có của nó. Đây là sáng tác của người làng Diềm nên muốn nghe đúng lời, đúng điệu, chỉ có thể đến nơi này”. Ông Nguyễn Tuấn Lợi vốn là cán bộ của Bộ Xây dựng năm nay đã ngoài 70 song vẫn rất minh mẫn. Lần đầu tiên về với làng Diềm cùng với 7 người nữa, toàn là dân văn chương, ông Lợi khoe mỗi người một mục đích. Đội kia là sinh viên khoa Viết văn Nguyễn Du (trường Đại học Văn hoá Hà Nội) do nhà văn Nguyễn Đình Chí, con trai nhà văn Nguyễn Đình Thi dẫn đầu về điền dã, khơi nguồn cảm hứng, còn ông vốn là dân Xây dựng, muốn tìm hiểu về kiến trúc đình Diềm. Ông bảo, có đến một trung đội sinh viên trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội cũng về đây chơi hội, tìm hiểu về một loại hình văn nghệ dân gian độc đáo.
Lễ cầu đảo mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, vật nuôi sinh sôi nảy nở vốn là tín ngưỡng phồn thực của người dân làng Diềm, song nghi lễ này đã thiếu vắng từ nhiều năm. Hội Đền Vua Bà năm nay, lần đầu tiên Lễ cầu đảo, đặc sắc với hội cướp cầu có sự tham gia của khoảng 300 người là một tín hiệu vui về sự trở lại của một nét đẹp truyền thống đã mang thêm nhiều hiểu biết cho khách thập phương.
Trong làn mưa xuân phơi phới, câu hát Giã bạn càng thêm lưu luyến. Tình người Quan họ bao nhiêu đời nay vẫn thế, chẳng hẹn vẫn quấn quýt trong mùa hội sau./.

23. Mùa xuân này trẩy hội Lim
Thứ Ba, 19/02/2008 - 10:56 AM
Ngoài những hoạt động truyền thống như những năm trước, Hội Lim Mậu Tý 2008 sẽ có một số nét mới, thêm phong phú, sinh động song vẫn đậm đà bản sắc. Từ trước Tết gần 1 tháng Ban chỉ đạo Lễ hội Lim huyện Tiên Du đã xây dựng kế hoạch quản lý tổ chức Lễ hội vùng Lim năm 2008 sao cho phù hợp với thuần phong mỹ tục và điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương. Đến ngày 15 - 2 (mồng 9 tháng Giêng), Ban chỉ đạo đã họp 4 phiên có sự tham gia của Sở VHTT, Trung tâm VHTT tỉnh để thống nhất kế hoạch.
Lễ hội vùng Lim năm 2008 được tổ chức trong 2 ngày 18, 19 - 2 (tức ngày 12, 13 tháng Giêng) tại 3 xã thuộc tổng Nội Duệ xưa: Nội Duệ, thị trấn Lim và Liên Bão với nhiều hoạt động phần lễ và hội, đặc biệt là các sinh hoạt văn hoá quan họ - trọng tâm của phần hội. Tại trung tâm lễ hội (đồi Lim) sẽ dựng các bức trướng ở khu vực Lăng Tướng quân Nguyễn Đình Diễn phục vụ cho việc tế lễ. Phía trước chùa Hồng Ân, Ban tổ chức dựng sân khấu lớn và 4 lán trại để phục vụ các hoạt động sinh hoạt văn hoá quan họ. Trung tâm VHTT huyện phối hợp với Trung tâm VHTT tỉnh tuyển chọn từ các làng quan họ tiêu biểu trong huyện và mời một số làng quan họ ở các đơn vị bạn như Yên Phong, Bắc Ninh… tham gia hát quan họ tại các lán trại và trên sân khấu. Năm nay có thêm 1 lán dành riêng cho hoạt động giao lưu thơ phú và thư pháp. Đến với hội Lim, du khách sẽ không chỉ được thưởng thức những làn điệu quan họ ngọt ngào, tình tứ, mà những người yêu thơ, say thư pháp có thể chọn cho mình một góc riêng sâu lắng. Tiếp đến là khu vực dành cho các trò chơi dân gian như: tổ tôm điếm, đu tiên, chọi gà, bịt mắt bắt dê, vật, đập niêu… Đặc biệt, Hội Lim năm nay sẽ tổ chức giải kéo co thu hút nhiều lứa tuổi trong vùng tham dự, đây sẽ là giải truyền thống, góp thêm phong vị cho lễ hội vốn giàu bản sắc dân tộc, nức tiếng gần xa. Ngoài các hoạt động nêu trên, du khách có thể thích thú với Hội thi cờ người ở đình Lũng Giang (thị trấn Lim) hay thi dệt cửi ở Nội Duệ. Không chỉ nghe hát quan họ trên sân khấu, trong các lán, du khách say quan họ có thể cảm nhận, thưởng thức quan họ ở nhà các nghệ nhân một số làng quan họ gốc, ở cửa đình, cửa chùa hay dưới thuyền tại các thôn vùng Lim.
Về phần lễ, từ ngày 10-15 tháng Giêng (âm lịch), tất cả các làng trong vùng đều mở cửa đình, đền, chùa phục vụ tế lễ, dâng hương. Sáng ngày chính hội (13 tháng Giêng) sẽ diễn ra lễ rước hàng tổng từ Đình Cả (Nội Duệ) về đồi Lim. Màn tế lễ dâng hương tại khu vực Lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn chính là chương trình khai hội. Năm nay sẽ có thêm một đoàn rước từ Lũng Giang về đình Lim.
Đến với Hội Lim, du khách gần xa có thể dễ dàng hình dung một cách cụ thể hơn về lễ hội vùng Lim bởi địa phương đã chuẩn bị các cụm panô, sơ đồ, băng khẩu hiệu vượt đường… khắp các ngả đường dẫn vào trung tâm hội. Góp thêm nét mới cho Hội Lim năm nay, sát ngày hội, cổng chào vào trung tâm lễ hội được khẩn trương hoàn thiện, được biết để xây dựng cổng chào này, tỉnh và huyện đầu tư kinh phí, dự toán hơn 500 triệu đồng. Để bảo đảm không gian truyền thống của lễ hội, theo ông Phạm Đăng Thuyên, Trưởng phòng VHTTTT, Phó Ban chỉ đạo lễ hội huyện, trên các con đường dẫn về trung tâm lễ hội chỉ cho phép các hoạt động dịch vụ bán đồ lưu niệm, sách báo, băng đĩa… Các dịch vụ ăn uống sẽ được bố trí ở khu vực đường vòng quanh đồi Lim và các hoạt động vui chơi, giải trí khác ở phía sau đồi Lim; nghiêm cấm các dịch vụ điện tử, các trò chơi dùng loa có công suất lớn hoạt động gần trung tâm lễ hội. Khu vực trông giữ xe cũng được bố trí xa trung tâm để tránh ùn tắc… Công tác an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm… được các đơn vị chức năng chú trọng. Tất cả sẵn sàng cho Hội Lim 2008 vui tươi, lành mạnh và đậm đà bản sắc dân tộc.

24. Hội rước pháo làng Đồng Kỵ - Nét đặc sắc lễ hội vùng Kinh BắcThứ Năm, 14/02/2008 - 2:12 PM
Tuy chỉ là một lễ hội ở quy mô nhỏ, hội rước pháo làng Đồng Kỵ (xã Đồng Quang, Từ Sơn) vẫn nổi tiếng khắp cả nước bởi duy trì được nét truyền thống đặc sắc. Đều đặn tổ chức vào ngày 4 tháng Giêng hàng năm với nhiều nghi lễ truyền thống, hội rước pháo làng Đồng Kỵ đã rộn ràng khai mùa lễ hội vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc năm Mậu Tý, thu hút hàng vạn khách thập phương về trảy hội.
Hội rước pháo làng Đồng Kỵ là hoạt động tiêu biểu nhất mà người dân làng nghề giàu có nhất vùng Bắc Ninh còn lưu giữ được đến ngày nay, là nghi thức truyền thống được nhiều người dân mong đợi nhất trong suốt 3 ngày hội (mùng 4, 5, 6 tháng Giêng Âm lịch). Hội thi làm pháo và đốt pháo trước đây là tưởng nhớ, tái hiện lại âm vang ngày Thánh Thiên Cương - vị tướng sau này được dân tôn thờ làm thành hoàng làng ra lệnh xuất quân đánh giặc. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị của lễ hội truyền thống, hội làng Đồng Kỵ nhiều năm trở lại đây không còn kéo dài hàng tuần mà tập trung nhất vào mùng 4 tháng Giêng Âm lịch. Ông Chử Văn Chi, Trưởng Ban Quản lý cụm di tích đình - chùa làng Đồng Kỵ, Phó ban tổ chức lễ hội cho biết “Hội làng được nhân dân chuẩn bị từ 20 tháng Chạp nhưng để tổ chức được lễ rước hoành tráng và đầy đủ nghi thức, làng phải huy động đến hơn 400 người phục vụ, trong đó có tới khoảng 300 trai tịnh dưới 50 tuổi phù giá. Từ sớm ngày mùng 3 tháng Giêng, lễ rước thỉnh Đức Thánh Thiên Cương từ Ninh Từ lên Đền Trung đã được thực hiện trang trọng.
Mọi công việc cho Lễ rước pháo được chuẩn bị từ sớm ngày mùng 4 nhưng phải đến đúng 9 giờ sáng, hai quả pháo lớn cùng có đường kính 60cm, 1 quả dài 6m, 1 quả dài 5,8m tượng trưng cho pháo Nhất, pháo Nhì được các thanh niên trai tráng trong làng rước từ nhà ông đám trưởng (Trưởng Ban Khánh tiết) ra đình cùng với đoàn tế hàng trăm người trong sự chứng kiến và háo hức của hàng nghìn khách thập phương. So với những năm trước, hai quả pháo rước năm nay không lớn hơn song có hình thức mới do được trang trí từ trước đó cả tháng, vẫn là cốt pháo từ mọi năm được gò bằng tôn, bên ngoài dán giấy màu nhiều sắc. Đám rước đông mà người xem cũng chật cứng hai bên đường trong khi không gian làng nghề ngày càng thu hẹp nên quãng đường từ nhà ông đám trưởng ra đến đình làng cũng mất đến hơn 2 giờ đồng hồ. Những người lần đầu tiên đi hội Đồng Kỵ không khỏi ngạc nhiên khi thấy, mỗi chặng đường đám thanh niên lại hò reo rộn rã.
Lễ rước pháo là nét đặc sắc nhất hội làng Đồng Kỵ, lại được tổ chức ngay ngày đầu năm mới khi mọi người chưa phải đi làm nên càng đông đúc. Có thể dễ dàng thấy rằng hội làng Đồng Kỵ thu hút một lượng đông đảo các tay máy ảnh. Cùng tác nghiệp trong không khí lễ hội đầu xuân, đồng nghiệp của chúng tôi, anh Tùng Dương, phóng viên ảnh của tạp chí Tiếp thị & Gia đình, người đã 3 năm liền gắn bó với lễ hội mở đầu vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc khoe “Anh em chúng tôi xuất phát từ hơn 5 giờ sáng, còn gì thích bằng vừa du xuân vừa tác nghiệp. Trong số 20 xe ô tô cùng đi có đến 40 tay máy của website photo.vn. Tất cả đều mong chớp được những bức ảnh đẹp nhất”. Với màu sắc và nét văn hoá riêng có, đây cũng là một trong những lễ hội vùng Bắc Ninh thu hút đông đảo du khách nước ngoài. Tưng bừng nhất là tục rước pháo nhưng các hoạt động văn hoá thể thao xung quanh khu vực diễn ra hội làng cũng không kém phần sôi nổi. Đến Đồng Kỵ những ngày vào hội có thể nghe hát Quan họ trên thuyền cả ngày mùng 4 và các buổi sáng mùng 5, 6. Đây cũng là dịp để đội Tuồng làng thoả sức biểu diễn phục vụ bà con. Các vở Tuồng được diễn ngay trong sân đình, tối nào sân khấu làng cũng đỏ đèn, có khi buổi chiều tiếng trống Tuồng lại vang vang giục giã mọi người đến xem. Đặc biệt, cả Quan họ và các tích Tuồng cổ đều do người làng thể hiện. Giải Vật cổ truyền thu hút hàng chục đô vật từ 7 tỉnh về tranh tài; các môn Cầu lông, bóng chuyền, Cờ tướng, Chọi gà… thể hiện nét văn hoá lành mạnh trong lễ hội làng Đồng Kỵ.
Tuy nhiên, trong suốt dịp Tết Nguyên đán và ngày khai hội, nhiều tiếng pháo nổ nơi đây cũng làm đông đảo khách thập phương giật mình và ngạc nhiên bởi sau gần 15 năm từ khi Chỉ thị 406/ Ttg về cấm đốt pháo trong toàn quốc có hiệu lực, tiếng pháo nổ tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn đã được kiềm chế nay lại xuất hiện trở lại làm xáo trộn ít nhiều đời sống người dân. Hơn nữa, tại khu vực di tích đình Đồng Kỵ khu vực bán hàng ăn uống lộn xộn, nhiều xe máy vào tận sân đình gây mất mỹ quan nơi đông hội. Nếu khắc phục được tình trạng này, chắc chắn hội làng Đồng Kỵ sẽ để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp hơn nữa trong lòng khách du xuân.

25. Đền Mộ Đạo và lễ hội vùng ven sông Đuống

Đền Mộ Đạo và lễ hội vùng ven sông Đuống
Thứ Sáu, 25/01/2008 - 10:57 AM
Nằm ven sông Đuống thuộc phía nam huyện Quế Võ là một vệt các làng cổ, trong đó có Mộ Đạo tên nôm làng “Đậu”. ở đây có ngôi đền cổ được gọi là đền Đậu, là nơi chính đền của 3 tổng 9 làng xã xưa, tương truyền thờ danh tướng có công đánh giặc vào thời Hùng Vương. Cũng từ lâu đời, hội của 9 làng vùng ven sông Đuống này đã trở thành hội vùng nổi tiếng.
Những làng thuộc về hội đền Đậu, xưa thuộc 3 tổng (Mộ Đạo, Đại Toán, Quảng Lãm) và nay thuộc 3 xã (Mộ Đạo, Chi Lăng, Yên Giả) gồm các làng sau: Mộ Đạo, Đức Tái, Đô Đàn, Tập Ninh, Trúc Ổ, Mai Ổ, Trạc Nhiệt, La Miệt, Yên Giả. Trong 9 làng cùng thờ thánh trên thì đền Mộ Đạo là nơi chính đền (anh Cả), 8 làng còn lại được gọi là hàng từ và phân thành 3 “tích”: Tích nhất gồm 3 làng (Mộ Đạo, Trạc Nhiệt, Mai Ổ), tích nhì (Tập Ninh, Đức Tái, Đô Đàn), tích ba (Trúc Ổ, La Miệt, Yên Giả). Những làng trên còn bảo lưu được thần phả sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối ghi chép phản ánh về người được thờ. Căn cứ vào thần tích, sắc phong thì thần được thờ của 9 làng trên là “Bình Thiên hiển đức đại vương” là một danh tướng có công đánh giặc vào thời Hùng Vương 18, thần thường linh ứng phù giúp các triều vua đánh giặc và nhân dân người khang vật thịnh, nên các triều vua đều gia phong mỹ tự và có sắc lệnh cho 9 làng xã nơi đây phải thờ phụng.
Theo tục lệ, cứ 3 năm một lần vào các năm (Tý, Mão, Dậu), 9 làng trên lại mở hội chung tại đền Đậu và lễ hội ở đây từng nổi tiếng được sách “Bắc Ninh dư địa chí” của Đỗ Trọng Vĩ ghi lại như sau: “Nguyên xã này thờ Bình Thiên Vương là người Châu Hoan, thuở nhỏ ngụ ở Mộ Đạo, lớn lên làm phó tướng của Hùng Vương. Dân thờ làm thần. Cứ 3 năm mở hội một lần. Ngày hội, các xã La Miệt, An Giả, Trúc Ổ, Trạc Nhiệt, Mai Ổ, Đức Tái, Tập Ninh, Đô Đàn đến dự hội, có các trò đấu vật, đánh cờ, hát xướng”.
Hội của các làng thuộc về đền Đậu được mở vào ngày 16 đến ngày 20 tháng 3 (âm lịch). Để chuẩn bị cho lễ hội, từ trong chức sắc của 9 làng phải tổ chức họp bàn với nhau. Làng Mộ Đạo có chính đền, thuộc tích nhất, phải chuẩn bị những lễ vật để tế thần tại đền Đậu như: Lễ Tam sinh (lợn, dê, ngỗng trắng), lợn tượng (lợn tạ) và các loại rượu, bánh trái, hoa quả đặc sản của địa phương (rượu Hoàng tửu, bánh đường, chè kho, chè lam, kẹo lạc…). Những làng còn lại, mỗi làng phải lo một lợn tượng để tế thần. Sáng ngày 16 tháng 3, tất cả 9 làng đều phải rước kiệu thần từ đình làng mình đến tập trung tại đền Đậu để tế lễ và mở hội. Đoàn rước kiệu của các làng, vai cờ kiệu là “giai trần” (trai tráng cởi trần, đóng khố), đầy đủ cờ kiệu, tàn lọng, siêu đao, bát bửu, trống chiêng và còn phải có đội “quân cờ”. Đội quân cờ có tướng cờ và quân cờ, mặc trang phục màu đỏ, tướng cờ có lọng che và đội quân cờ này là tượng trưng cho nghĩa binh của thần khi đánh giặc. Khi các đoàn rước của các làng tập trung đông đủ tại đền Đậu, theo thứ tự kiệu của các làng được rước vào đền trong, đền ngoài các quan viên tế của các làng cùng tế. Trong khi tế lễ có hát ca trù để thờ thần. Làng Mộ Đạo là một trong cái nôi của hát ca trù, các nghệ nhân không những tham gia hát thờ, mà còn tham gia hát hội. Lễ hội đền Đậu kéo dài đến ngày 20, sau khi tế “rã đám” thì kiệu thần của làng nào lại được rước về làng ấy.
Trong những ngày lễ hội đền Đậu, sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi, giải trí như: Tuồng, chèo, ca trù, đu cây, thi vật, thi dệt vải, nhảy phỗng, bắt vịt, bắt trạch… thu hút hàng ngàn người đến lễ hội. Lễ hội đền Đậu còn để lại trong dân gian một bài ca dao mô tả toàn cảnh sinh động về lễ hội này như sau:
Tháng ba là tháng quý xuân
Chín xã rước hội xa gần đến xem
Đúng ngày 16 rước lên
Cờ xanh, cờ đỏ, trống chiêng bừng bừng
Quân quân, tướng tướng vui thay
Cờ xanh, cờ đỏ rước ngay lên đền
Mộ Đạo xã cả rước lên
Đô Đàn rước xuống, bốn bên rước vào.
Trong đền đèn sáng như sao
Quan viên làm lễ rước vào đền trong
Đền ngoài kèn thổi trống rong
Chín xã đứng tế một dòng ở sân…”
Như vậy, đền Mộ Đạo và lễ hội của 9 làng xã vùng ven sông Đuống thuộc huyện Quế Võ là một dịp sinh hoạt văn hóa dân gian lớn và đặc sắc. Những ngày lễ hội không những kết tinh và tỏa sáng hàng ngàn năm lịch sử văn hiến của các làng xã nơi đây, mà còn hướng nhân dân vào các hoạt động giáo dục truyền thống tốt đẹp và các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ vui tươi lành mạnh, mang đậm bản sắc dân tộc. Lễ hội đền Đậu đã trở thành một nét văn hiến tiêu biểu của xứ Kinh Bắc – Bắc Ninh.

26. Tháng tám giỗ cha...

Tháng tám giỗ cha...
Thứ Tư, 03/10/2007 - 9:55 AM
Hai mươi tháng Tám (âm lịch) là ngày giỗ đức Quốc công Tiết chế Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, người đã trở thành biểu tượng cho dũng khí nước Việt, biểu tượng cho một thời "vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức..." khiến cho giặc Bắc ba phen bạt vía.
Những tên tướng giặc hung hãn nhất, hỗn xược nhất cũng chỉ dám gọi Ngài bằng chức tước chứ không dám phạm húy, người đã hiển thánh trong lòng dân tộc. Con số một nghìn hai trăm đền miếu thờ Ngài trên cả nước đã nói lên điều đó.
Ngay từ đầu tháng Tám (âm lịch), tại những nơi như Kiếp Bạc, đệ nhất sinh từ; A Sào, đệ nhị sinh từ và Bảo Lộc, thái ấp cũ của Ngài, người tứ xứ đã tấp nập đổ về. "Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ". Cha, tức đức Hưng Ðạo Ðại Vương, còn Mẹ là Mẫu Liễu Hạnh, một vị tiên đã hai lần thác sinh xuống cõi trần, lần thứ nhất ở Vân Cát (Vụ Bản, Nam Ðịnh) còn lần thứ hai ở Tây Hồ (Hà Nội). Mối "lương duyên" nào đã khiến cho hai con người, một tục một tiên, cách nhau hơn hai thế kỷ (Hưng Ðạo Ðại Vương sinh đầu thế kỷ XIII còn Mẫu Liễu, theo truyền kỳ, sinh thác xuống trần vào thế kỷ XV) trở thành Cha, thành Mẹ của dân gian? Câu hỏi ấy, các nhà nghiên cứu đã tốn rất nhiều giấy mực, và sẽ còn tốn nhiều giấy mực hơn nữa mới có thể trả lời xác đáng. Chỉ biết rằng Cha và Mẹ luôn hiện hữu trong tâm thức dân gian Việt ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là mỗi khi con người gặp hoạn nạn hay gặp nghịch cảnh. Tại "cố trạch từ" (đền làm trên nền nhà cũ của Hưng Ðạo Ðại Vương) ở Lộc Vượng, chúng tôi gặp một người đàn bà bế cháu bé chừng một tuổi, xinh như một tiên đồng từ trong đền bước ra, chắc bà vừa xong một khóa lễ. Vẻ mặt vô cùng mãn nguyện, bà giơ cháu bé ra khoe với bất kỳ ai nhìn cháu - Cháu nội tôi đấy. Hôm cháu sinh, mẹ nó "bị Phạm Nhan làm". Cô y sĩ ở trạm y tế mặt tái mét, vừa tiêm cấp cứu vừa rối rít giục người nhà chuẩn bị cáng, đưa lên bệnh viện. Tôi cũng ba hồn bảy vía lên mây. Tôi chạy ra đền kêu đức thánh Trần phù hộ, cứu con cứu cháu tôi. Thế mà con tôi qua được, không phải đi viện nữa. Các ông các bà bảo đức Ngài có linh không?
Bệnh Phạm Nhan, hay Phạm Nhan làm, là cách gọi trong dân gian đối với chứng băng huyết của phụ nữ. Truyền rằng Phạm Nhan (sử ghi tên thật là Nguyễn Bá Linh) là một tên phù thủy người phương bắc, có tài hô phong hoán vũ, chặt đầu này lại mọc ra đầu khác... Phạm Nhan làm tướng trong đạo quân Nguyên sang xâm lược nước ta, và đã gây rất nhiều tội ác. Trong một trận chiến đấu quân ta bắt sống được hắn. Viên tướng chỉ huy truyền đem hắn ra chém đầu, nhưng gươm giáo, lửa nước đều không giết được hắn, sau đành cử người đến kêu cầu ở đền Phù Ðổng. Thần ứng vào con đồng, lên miệng phán rằng chỉ có một người giết được hắn, đó là Hưng Ðạo Ðại Vương. Tên tướng giặc - phù thủy lập tức được áp giải đến đại bản doanh của Quốc công Tiết chế. Vừa nhìn thấy Hưng Ðạo Ðại Vương, Phạm Nhan biết giờ chết của hắn đã điểm, hắn kêu to: "Tôi chết, Vương cho tôi ăn gì ?", Vương nổi giận quát "cho mày ăn máu... bà đẻ". Dứt lời, ông tuốt kiếm chém hắn bay đầu.
Trước uy dũng của Vương, không cái đầu nào khác của thằng phù thủy có thể mọc ra được nữa. Từ đấy hồn Phạm Nhan vật vờ khắp nơi, luôn tìm những nhà có đàn bà đẻ rúc vào
Ðền A Sào thờ Hưng Ðạo Ðại Vương trước đây còn thờ một thanh gươm, tương truyền đó là thanh gươm mà Vương đã dùng để chém Phạm Nhan. Sau khi lấy công chúa Thuận Thiên triều Lý, Trần Liễu, thân sinh của Vương được tiến tước Phụng Kiền Vương, được phong đất ở Hương A Cảo, sau mở mang thêm, đặt thành A Sào. Làng A Sào cũ nằm trên khu đất nay là làng Bắc Dũng thuộc xã An Ðồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Bốn thế kỷ trước làng bị tàn phá bởi một trận lụt khủng khiếp, những người sống sót đã dời làng đến đất mới (nay thuộc xã An Thái huyện Quỳnh Phụ), dựng lại cả đền thờ Hưng Ðạo Ðại Vương nhưng vẫn giữ tên làng cũ. Ðầu thế kỷ XX đền thờ Hưng Ðạo Ðại Vương bị giặc Pháp phá hủy, dân làng lại dựng một đền mới trên nền "Mễ Sương thắng tích" (nền kho gạo cũ của nhà Trần). Vương sinh tại A Sào nhưng không sống nhiều ở đó...
Tại A Sào, cho đến nay người ta vẫn không ngớt bàn tán về một sự kiện kỳ lạ xảy ra bốn năm về trước. Ngày 6-3 âm lịch (ngày giỗ Mẫu Liễu) năm Nhâm Ngọ (2002), tại Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Ðịnh) nơi có đền thờ và phần mộ của Mẫu, người ta làm một ông rồng dài 25 mét, to bằng vành xe đạp, khung tre, toàn thân lợp vải vàng, đầu và đuôi bằng xốp trắng vẽ hoa văn. Rồng được gắn vào mình gần 100 quả bóng bay bơm khí hy-đrô rồi được thả lên trời. Trước khi thả, người ta đề vào thân hàng chữ "ai gặp Rồng, xin gọi về Phủ Giầy theo số máy 0350.820... ". Rồng bay vút lên trời cao mù mịt không ai nhìn thấy gì nữa.
Hai ngày sau, phía đền thờ Cha ở A Sào đất Thái Bình, người ta nhìn thấy con rồng đó bay dọc theo sông Hóa. Qua bến Tượng (nơi thờ con voi của Hưng Ðạo Vương bị sa lầy chết trên sông) thì Rồng hạ dần độ cao, bay quẩn về phía nền đền A Sào cũ (đã bị quân Pháp phá) rồi quẩn lại, bay tiếp về đền A Sào mới trên nền Mễ Sương thắng tích và hạ hẳn, cách đền chừng 50 mét.
Các cụ Trần Văn Rường (Trưởng ban quản lý đền), Ðỗ Trọng Tý (thủ từ đền) và Ðỗ Quang Ðen là những người chạy đến chỗ Rồng hạ đầu tiên, và gọi điện về Phủ Giầy. Sự kiện "rồng thăng đất Mẹ, rồng hạ đất Cha" được coi là sự linh ứng kỳ diệu giữa Cha và Mẹ. Rất tiếc việc bảo vệ ông Rồng không tốt nên sau đó bị phá mất, nhà sử học Kỳ Hà hiện còn giữ được mấy bức ảnh một phần ông Rồng kỳ lạ đó...
Nước có giặc, được giao trọng trách thì lên ngựa coi quân, lập nên võ công lừng lẫy. Nước thanh bình lại trả ấn về với điền viên, suy ngẫm lẽ tồn vong để tìm kế sách cho "sơn hà vạn thuở điện kim âu", trồng thuốc thành rừng để cứu giúp dân nghèo. Thế nên "... Sau khi (Hưng Ðạo Ðại Vương) mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn bệnh dịch, nhiều người cầu đảo ông. Mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn..." (Ðại Việt sử ký toàn thư).

27. Hội vật Mão Điền

Hội vật Mão Điền
Thứ Sáu, 04/05/2007 - 9:03 AM
Làng Chằm tên chữ là Mão Điền mở hội vào ngày 4 tháng Hai âm lịch. Nét tiêu biểu của hội làng Chằm là môn đấu vật, vì nó gắn với sự tích ba vị Thành Hoàng của làng.
Vào cuối thời Lê sơ, nhà Mạc cường thịnh nắm hết binh quyền, ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi. ở Mão Điền có ba anh em họ Chu chiêu tập binh mã ứng chiếu cần vương phò Lê diệt Mạc. Trai tráng theo về rất đông. Ba tướng họ Chu dựng ngôi đình ở nơi đất cao phía Tây Bắc làng làm nơi luyện tập quân sĩ. Khi nhà Mạc tận diệt được nhà Lê, ba tướng họ Chu cũng tuẫn tiết theo vua. Về sau dân làng Chằm tôn lập làm Thành Hoàng. Ngôi đình huyện quân được tu sửa lại làm nghè, gần đó dân làng dựng nên ngôi đình đấu vật, đặt tên là đình Vật. Hằng năm hội làng đều tổ chức đấu vật và coi đó là một phần nghi lễ tế thánh.
Lệ làng, sau khi rước kiệu và tế ở nghè thì rước sang đình vật khai hội. Hội vật kéo dài 3 ngày. Đô vật các nơi về tranh giải rất đông. Người cầm chịch hội vật, người thúc trống nghe nói học được các ngón nghề truyền lại từ thời ba tướng họ Chu luyện quân nên hội vật rất rôm rả mà rất nghiêm luật. Đô nào có tài có sức giữ giải qua ba ngày mà không có ai phá được thì sẽ giành giải nhất. Giải là đôi mâm thau, mấy vuông lụa điều, mấy quan tiền và được ghi tên vào sổ bạ. Đó là vinh dự lớn lao cho cá nhân và cả sới vật quê của người đó. Dân làng thì cho rằng năm nào có đông đô vật đến đọ sức thi tài thì năm ấy đồng ruộng được mùa, người vật an khang. Lò vật các nơi đều ra sức tập luyện chờ đến dự hội vật Mão Điền. Nhiều người trở thành vô địch quốc gia sau này. Rồi các đô vật từ Hải Phòng, Hà Tây nghe tiếng cũng về dự.
Di tích đình vật nay chỉ còn lại là một bia đá khối vuông, cao 0,68m; rộng 0,50m, chữ viết hai mặt. Mặt chính ghi chép thể lệ hội vật nhưng chữ mòn, chỉ đọc được dòng đầu “Thuận An phủ, Siêu Loại huyện, Mão Điền xã, quan viên văn chức đô lão cập toàn xã thượng hạ đẳng vi tạo giao điệt tràng”. Mặt khác khắc bài minh ca ngợi cảnh vật, con người Mão Điền do 9 tác giả là người làng soạn. Ngoài ra nhiều người cao tuổi còn nhớ đôi câu đối tiêu biểu của đình vật do tài chơi chữ của người viết như sau:

Nhị xã, hội thông chiêu văn chiêu vật
Ức niên hưởng tự tại miếu tại đình.
Tạm dịch:
Hai xã mở hội chung, đón văn đón vật
Muôn năm được thờ cúng, tại miếu tại đình.
(Hai chữ cuối ghép lại thành chữ Đình Vật tiếng nôm).
Từ ngày không còn đình vật, hội vật được dời sang khu đất bên cạnh, nhưng cứ bị mai một dần do không còn nghi thức tôn vinh đề danh và nhiều yếu tố khác. Tiếng trống hội vật chỉ còn vang vọng trong tâm thức những người cao tuổi.

28. Thiêng liêng hồn Việt, tình quê

Thiêng liêng hồn Việt, tình quê
Thứ Tư, 02/05/2007 - 2:14 PM
Đình Bảng thuộc hương Cổ Pháp xưa, quê của Thái Tổ Lý Công Uẩn-Người khởi lập triều Lý, khai sáng Thăng Long năm 1010 “Vì muôn ức đời con cháu...”. Nơi đây có Đền Đô thờ tám vị vua nhà Lý từ xưa đã nổi tiếng không riêng của Bắc Ninh, của Việt Nam mà của cả Đông Dương. Thủy đình Đền Đô từng là hình ảnh in trên giấy Năm đồng tiền vàng Đông Dương.
Đền Đô tọa lạc trên đất “Liên hoa bát diệp” địa linh, nhân kiệt, xuất nhập hanh thông (đất thiêng, người giỏi, ra vào may mắn). Nơi này nằm bên bờ sông Tiêu Tương, phong thủy tốt, cảnh trí hữu tình. Mùa xuân năm 1010, Lý Thái Tổ từ Hoa Lư về thăm quê Cổ Pháp, người gặp mặt thần dân ở đây, tặng tiền lụa cho các bô lão rồi hỏi về kế sách dựng nước. Đức vua anh minh, được ý kiến của thần dân mà chọn được “Nơi địa lợi, thích trung của trời đất” để rồi ban “Thiên đô chiếu” mà dời đô ra Thăng Long.
Năm 1019, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng Thái Miếu để thờ Tổ phụ nhà Lý ở nơi đất lịch sử này. Năm 1028, Lý Thái Tổ băng hà. Triều đình và thần dân thờ người ở Thái Miếu cũng gọi là Cổ Pháp Điện. Về sau, Cổ Pháp Điện được mở rộng thờ tám vị vua nhà Lý. Đó là: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông đã trị vì đất nước 214 năm. Từ đó nhân dân gọi là Đền Lý Bát Đế, cũng gọi nôm thành kính là Đền Đô. Riêng Lý Chiêu Hoàng, vua thứ chín của nhà Lý làm vua lúc còn nhỏ, sau lại nhường ngôi cho Trần Cảnh, nhân dân thờ bà ở Đền Rồng (phía tây hương Cổ Pháp).
Triều Lý trị vì đất nước 216 năm (1009-1225) với chín đời vua. Quốc hiệu Đại Việt, Kinh đô Thăng Long. Đó là một vương triều thuần từ, cường thịnh.
Nhớ ơn các vị vua nhà Lý, từ xưa nhân dân tổ chức lễ hội Đền Đô vào rằm tháng Ba âm lịch, kỷ niệm ngày Lý Thái Tổ đăng quang (rằm tháng Ba năm Canh Tuất-1010). Lễ thiêng liêng, Hội tưng bừng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bốn lần về thăm Đình Bảng. Lần đầu, 13-9-1945 (8 tháng 8 năm ất Dậu, giỗ Lý Thánh Tông), Bác Hồ cùng nhân dân dâng hương Lý Bát Đế. Ngày 17-12-1955, về Đình Bảng lần thứ tư, Bác Hồ nói với nhân dân: “Chúng ta phải bảo tồn những di sản văn hóa của dân tộc. Khi có điều kiện sẽ xây dựng lại Đền Đô”.
Trên đường đổi mới, từ năm 1989, nhân dân Đình Bảng với sự quan tâm đầu tư của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cùng tấm lòng công đức của đồng bào trong và ngoài nước, các hậu duệ nhà Lý và cả bạn quốc tế đã khởi công xây dựng lại Đền Đô. Lễ hội Đền Đô mở lại như xưa, đẹp hồn Việt, tình người, tình quê.
Xuân Đinh Hợi-2007, Đền Đô đã khang trang, xứng đáng là nơi tôn nghiêm, nhân dân cả nước tới phụng thờ tám vị vua nhà Lý.
Ngày 8 Tết, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm và làm việc tại Bắc Ninh đã về Đền Đô dâng hương và trồng cây lưu niệm. Chủ tịch đã xúc động ghi vào Sổ vàng lưu niệm Đền Đô: “Đầu xuân Đinh Hợi, tôi rất xúc động về thăm Đền Đô, cùng nhân dân Đình Bảng thành kính dâng hương tưởng niệm các vị Vua Lý-những bậc tiền nhân đã làm rạng danh đất nước, để lại cho con cháu muôn đời sau những trang sử ngời sáng tinh thần độc lập, tự cường của dân tộc Việt Nam ta. Biết ơn các bậc tiền nhân, con cháu ngày nay nguyện phấn đấu làm cho non sông Việt Nam của chúng ta ngày càng rạng rỡ, sánh vai các cường quốc năm châu”.
Không riêng trong các ngày Lễ hội Đền Đô (từ 14 đến 16 tháng 3) mà ngày thường nhân dân đã trẩy hội Đền Đô để chiêm ngưỡng các hạng mục công trình vừa xây dựng lại, bằng chứng về sức sống Việt Nam, nhân lòng nhân ái, tinh thần hứng khởi hướng tới 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.

29. Lễ hội đình Từ Phong

Lễ hội đình Từ Phong
Thứ Sáu, 12/01/2007 - 8:53 AM
Thôn Từ Phong thuộc xã Cách Bi, huyện Quế Võ có ngôi đình làng cổ kính và lễ hội truyền thống hàng năm.
Hội đình Từ Phong được mở vào mồng 9 tháng 3 (âm lịch). Trước kia, để lo việc đình đám từ trong năm làng đã cử 4 giáp (Đông, Nam, Đoài, Bắc) được nhận ruộng công để cấy lúa trồng màu, nuôi lợn tế, xôi gà, hoa quả. Lễ vật chính để tế Thành hoàng làng là một “lợn tạ” tế sống. Để lo phần tế lễ hương khói Thần tại đình làng 4 giáp lại cử ra 4 ông Quan đám.
Vào ngày đình đám, ngay từ ngày mồng 8, làng đã mở cửa đình làng làm lễ “mộc dục” lau ngai bài vị của Thánh. Sáng mồng 9, làng tổ chức rước kiệu Thánh từ nghè “Ba chạ” về đình làng để tế lễ và mở hội. Theo Thần tích sắc phong, Thánh được 3 làng (Đông Du, Từ Phong, Mai Cương) thờ là một vị khoa bảng có công với nước với dân. Đám rước Thánh có đầy đủ cờ, kiệu, tàn lọng, bát bửu, siêu đao, trống chiêng, bát âm. Sau khi kiệu Thánh được rước vào trong đình yên vị, làng tổ chức tế lễ Thánh bằng lợn của các giáp. Ngày 13, diễn ra tục rước Thánh sang thôn Hiền Lương (xã Phù Lương) để giao lưu “chạ” anh em. Hai thôn Từ Phong và Hiền Lương sát nhau đồng điền và để sinh tồn cũng giống như nhiều làng cổ khác hai thôn đã “kết chạ” anh em với nhau. Khi đã kết chạ thì hai làng coi nhau như anh em ruột thịt, cùng nhau bảo vệ đồng điền mùa màng, nguồn nước, giặc dã và mỗi khi đình đám hội hè thường rước kiệu Thánh sang nhau giao lưu văn hóa. Đây là một nét đẹp trong văn hóa làng xã. Đám rước được tổ chức quy mô, long trọng. Khi đám rước làng Từ Phong đến, quan viên thôn Hiền Lương đầu làng đón và đưa kiệu Thánh vào đình làng mình. Tại đình sẽ diễn ra phần tế lễ Thánh của quan viên tế 2 làng và phần hội giao lưu ca hát, ẩm thực. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò vui dân gian như: tuồng, chèo, đu cây, bắt vịt..., đặc biệt có múa rối nước ở đình Từ Phong vốn có nghề làm rối truyền thống và những ngày hội là dịp để các nghệ nhân trình diễn tài năng của mình trước cộng đồng làng xã và quý khách thập phương. Những tục trò dân gian trên đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân địa phương vào các hoạt động văn hóa văn nghệ vui tươi lành mạnh.

Từ Phong với ngôi đình cổ kính và lễ hội truyền thống hàng năm mang tính thuần phong mỹ tục, không những đã tạo nên những nét văn hóa độc đáo của địa phương, mà còn góp phần làm nên văn hiến của quê hương Bắc Ninh.

30. Hội nhồi với tục rước Bà Đống

Hội nhồi với tục rước Bà Đống
Thứ Ba, 22/08/2006 - 3:06 PM
Làng Hòa Đình xưa tên chữ là Lồi Đình, tên nôm làng Nhồi, nay thuộc xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Từ lâu, làng Nhồi đã là trung tâm giao lưu kinh tế-văn hóa và nổi tiếng “Hội Nhồi” vào mồng 7 tháng Giêng (âm lịch) với tục rước “Bà Đống”.
Làng Nhồi có quần thể di tích đình, đền, chùa cổ kính nằm ở phía Tây làng, ngay sát quốc lộ 1A. Tương truyền, xưa kia Thành hoàng làng Nhồi là “Bà Đống”, ngự tại một gò đất ngoài đồng (Đống Cả) thuộc làng Đống Cao. Mỗi khi vào hội làng, dân làng tổ chức rước Thành hoàng về đình và chùa. Lễ rước được tiến hành như sau:
Tối ngày mồng 6, đám con gái làng Nhồi gồm 12 cô chưa chồng, xinh đẹp, nết na tụ tập “ngủ bọn” tại một nhà. Đến quá nửa đêm, khi chuông chùa làng thỉnh, các cô gái lập tức cùng ông Tiên Chỉ rước kiệu Bà Đống đến gò Đống Cả làng Đống Cao, rước Thành Hoàng làng về. Sau khi ông Tiên Chỉ đốt hương khấn vái xin rước Bà Đống, các cô gái ngả kiệu kính cẩn rước Bà Đống về làng. Kiệu rước làm bằng tre tươi, trang trí bằng lá cây tươi và các loại hoa thơm. Đòn khiêng kiệu dán giấy ngũ sắc. Đi đầu đám rước là hai cô gái khiêng một trống cái, một cô đi bên vừa đi vừa đánh nhịp ba. Theo sau trống là hai cô gái khiêng chiêng đánh phối với nhịp trống. Kế đến là các cô gái rước kiệu Thành hoàng.
Khi chiêng trống nổi lên thì đám trai làng Đống Cao cũng 12 người chạy ra giằng kiệu. Bên đó đã chuẩn bị sẵn một số đòn lao nhỏ, nhẹ, dán giấy ngũ sắc. Trong khi hai bên giằng co ra vẻ quyết liệt, thì đám trai làng Đống Cao dùng đòn lao dí vào rốn các cô gái làng Nhồi. Cuộc “giao tranh” chỉ kết thúc khi đám con gái làng Nhồi ra khỏi địa phận làng Đống Cao. Đám rước Bà Đống về đến làng Nhồi cũng là lúc trời tảng sáng, người ta rước Bà Đống vào trong đình và sang chùa. Bên trong đình, chùa quan Đám làm lễ thờ Thành hoàng làng. Bên ngoài các “bọn” Quan họ cất tiếng hát ca ngợi công đức của Thần, Phật. Khách thập phương kéo đến dự hội rất đông. Để đón khách, các bọn Quan họ của làng ra tận cổng đón bằng những câu ca Quan họ ngọt ngào, niềm nở. Bên khách tay bưng cơi trầu vào lễ Phật cũng đáp lại chủ bằng những câu ca Quan họ mượt mà, tinh tế. Các bọn Quan họ chủ và khách cùng nhau vào đình, chùa lễ Thần, Phật, rồi quay ra hát Quan họ đối đáp giao lưu. Các Liền anh, Liền chị vừa hát vừa têm trầu, mời nước, hỏi thăm nhau... cứ như thế cuộc vui kéo dài suốt ngày hội.
Tín ngưỡng thờ Bà Đống của hội làng Nhồi có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ nữ thần nông nghiệp của người Việt cổ trồng lúa nước vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung, của xứ Kinh Bắc nói riêng và làng Nhồi là một điển hình. Thần nữ nông nghiệp được người Việt cổ tôn thờ chính là các lực lượng tự nhiên gắn với nông nghiệp: đất, đá, gò, đống, cây cối, mây, mưa, sấm, chớp. Những yếu tố tự nhiên này được thần thánh hóa và bảo lưu đến ngày nay trong văn hóa lễ hội, trong đó có lễ hội làng Nhồi.

31. Tiên Du: Lễ hội chém lợn
Cứ vào mồng 6 tết âm lịch, hàng ngàn người từ các vùng lân cận lại đến thôn Ném Thượng, xã Khắc Niệm tham dự một lễ hội liên quan đến tín ngưỡng phồn thực: lễ hội chém lợn tế thánh.
Tục truyền rằng: có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hằng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất hoang vu này. Theo tín ngưỡng dân gian của vùng quê Kinh Bắc, máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu...
Khi lễ rước trở lại sân đình, hai thủ đao được dân làng chọn từ những gia đình hạnh phúc, con cháu đề huề, nuôi lợn mát tay, khỏe mạnh và phải đúng 50 tuổi - ra tay chém hai cụ ỉ tế thánh. Người dân mang tiền, dây cột gia súc, nông cụ... ra thấm máu lợn cầu may. Thịt lợn tế thánh được chia cho mọi người với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc.

32. Hội làng Phù Ðổng

Hội làng Phù Ðổng
Mồng bảy hội Khám Mồng tám hội Dâu Mồng chín đâu đâu Thì về Hội Gióng.Hằng năm vào ngày mồng tám tháng Tư, tại đình làng Gióng, tên chữ là làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh có mở hội kỷ niệm đức Phù Ðổng Thiên Vương, tục gọi là Ðức Thánh Gióng, rất linh đình và trang trọng.Hội đền Phù Ðổng Thiên Vương tục gọi là hội Gióng rất vui với cuộc rước lịch sử, diễn lại trận đánh giặc Ân của đức Thánh Gióng.
Sự tích
Ðời Hùng Vương thứ VI, có đám giặc gọi là giặc Ân hùng mạnh, không ai đánh nổi. Vua bèn sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Ðổng, có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Ðứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Ðổng, về sau phong làm Phù Ðổng Thiên Vương".
Sửa soạn ngày hội
Hội đền Phù Ðổng Thiên Vương là một hội rất lớn do bốn xã thuộc tổng Phù Ðổng cùng tổ chức với sự tham gia của làng hội Xá, nên việc sửa soạn ngày hội cũng rất cẩn trọng, nhất là sửa soạn cho cuộc diễn lại thần tích đức Thánh Gióng phá giặc Ân.
Trong bốn xã này có hai xã Phù Ðồng và Phù Dực được luân phiên cử chủ tọa đám hội. Hai xã Ðổng Xuyên và Ðổng Viên chỉ đóng vai phụ tá trong đám hội và chỉ được đóng vai quân lính do thám. Mỗi xã được chia làm nhiều giáp, mỗi giáp tựa như một ấp hiện nay.
Hàng giáp phải cử lấy những người giữ các vai quan trọng trong cuộc diễn lại trận diệt giặc Ân. Những người này là các ông Hiệu, hiệu Cờ trông nom cờ lệnh, hiệu Chiêng điều khiển khiêng, hiệu Trống điều khiển trống. Còn một ông Hiệu Trung Quân để phối hợp điều hòa sự tiến quân và hai ông Hiệu Tiểu Cổ để đi tiên phong thám thính quân giặc.
Tất cả các ông Hiệu đều phải kén trong đám thanh niên từ 12 đến 26 tuổi. Có thể là những chàng trai đã lập gia đình rồi nhưng phải chay tịnh trong suốt thời gian sửa soạn cho đến ngày hội. Quân được chọn trong dân đinh bốn xã từ 18 đến 36 tuổi họp thành 10 cơ, mỗi cơ gồm một cơ trưởng và 15 cơ binh. Kẻ địch là quân tướng nhà Ân được tượng trưng bằng 28 thiếu nữ tuổi từ 10 đến 13 do hàng tổng cử ra để đóng vai 28 viên tướng giặc Ân, ăn mặc sặc sỡ, đeo đồ trang sức lộng lẫy.
Cờ lệnh bằng lụa màu lòng đỏ trứng gà, rộng ba tấc rưỡi và dài bảy vuông. Cờ do giáp chủ tọa may, đây chính là cờ đức Thánh Gióng dùng trong ngày diễn trận. Mỗi năm thay cờ lệnh một lần. Cờ năm trước, ông Hiệu cờ năm sau dùng để luyện tập trước ngày diễn trận.
Ðể phân biệt với những lá cờ khác, trên cờ sẽ có chữ "Lệnh" do một tay văn tự viết lên. Giáp chủ tọa trong mấy ngày đầu tháng tư sẽ lựa một ngày tốt, mời một bậc đại khoa nếu có, bằng không cũng phải mời một tay văn học tới viết chữ "Lệnh" này với sự chứng kiến của tất cả các ông Giáp trưởng bốn xã trong hàng tổng.
Những nghi lễ trước ngày mồng chín tháng Tư
Cuộc diện trận đã được sửa soạn từ ngày mồng sáu tháng Tư. Ngay từ ba giờ chiều hôm mồng sáu, dân làng đã cử hành một đám rước tới giếng trước đền Mẫu, tức là Ðền Hạ, để lấy nước lau rửa tự khí dùng trong việc
diễn trận. Nước đựng vào hai chỏe sứ. Hai mươi bốn quân sĩ của Phù Ðổng Thiên Vương sắp hàng hai theo bậc Giếng từ trên bờ tới mặt nước để lấy nước. Người cơ binh đứng ở bậc Giếng cuối cùng, sát mặt nước, múc nước vào một chiếc gáo đồng rồi chuyển cho người đứng cùng hàng với mình ở trước mặt. Người này nhận gáo nước rồi lại chuyển cho người đứng trước mặt mình bên bậc trên, đứng kế bên người vừa chuyển cho mình...
Cứ lần lượt như vậy, gáo nước được chuyển theo đường chữ "CHI" cho tới miệng Giếng đến tay người đứng bên chóe sứ. Ngườ i này đổ nước vào choé, lọc qua một miếng vải điều theo hiệu lệnh Cơ trưởng. Cơ trưởng mặc áo thụng xanh, đánh Kiểng để ra lệnh cho người cơ binh đổ nước vào choé. Tự khí được rửa bằng nước đã lọc đựng trong choé sứ ở ngay sân đình.
Ngày mồng bảy vào cuối giờ Tỵ, cờ lệnh được rước từ đền Mẫu đến đền Thượng và buổi chiều vào lúc giờ Mùi, hàng tổng đi kiểm soát lộ trình từ đền đến bãi trận. Có điều gì khiếm khuyết lập tức phải sửa chữa và bổ khuyết ngay.
Cuộc diễn trận chính thức
Vào giờ Tỵ ngày mồng Chín có lễ tế cờ tại đền, có cả mổ trâu giết bò. Mọi người đều sẵn sàng để xuất trận. Mặt trận sơ sài, dưới chân Ðê có một hồ sen, địch quân chiếm đóng nơi hồ. Quân Phù Ðổng Thiên Vương tiến chiếm bờ hồ bên này, có một khoảng đất trống với nhiều mô nhỏ. Có ba chiếc chiếu đã trải giữa những mô đấy này. Giữa mỗi chiếc chiếu có một chiếc bát úp trên một tờ giấy: Chiếu tượng trưng cho cánh đồng, Bát tượng trưng cho đồi núi, Tờ giấy cho mây.
Cờ lệnh đã trương lên, ông Hiệu cờ tiếp lấy rồi tiến lên ba bước. Rồi ông đứng ở giữa chiếc chiếu, hai chân chụm vào nhau. Ông nhảy lên hai lần, sau đó ông quỳ gối bên phải xuống chiếu, bàn chân trái dẫm ra đằng trước như hình chữ "Lệnh", hai tay ông phất cờ lệnh, xoay mình ba lần. Dân chúng dự cuộc lúc đó mỗi lần ông xoay mình lại đếm theo. ông đứng lùi khỏi chiếc chiếu. Lập tức mọi người nhảy xô tới cướp lấy xé chiếc chiếu. Họ tin những mảnh chiếu mang may mắn cho họ, và những người hiếm con được mảnh chiếu có thể thấy được tin mừng.
Khi chiếc chiếu thứ ba được dân chúng xâu xé chia nhau hết quân giặc cũng tan, các tướng giặc cũng rút lui hỗn loạn. Kiệu của các cô thiếu nữ được rước về làng Phù Ðổng. Một tiệc khao quân lớn diễ n ra ngay trước cửa đền. Trận tái chiến diễn ra ở bãi Sòi Bia thuộc làng Phù Ðổng. ở đây cũng lại có ba chiếc chiếu như ở Ðồng Ðàm. Ngày mùng mười tháng Tư, hàng tổng duyệt lại đạo binh thắng trận. Các khí giới được kiểm soát. Hàng tổng lạilàm lễ trước đền. Quân sĩ lại được khao thưởng. Thế là "thiên hạ Thái Bình". Sau ngày diễn trận, hàng tổng lại tổ chức rước nước để rửa lại khí giới, đồ thờ đã dùng trong việc chiến trận. Và có nhiều trò vui cho khách trẩy hội thưởng thức: đánh vật, hát chèo và có cô đầu hát thờ.
Ðến dự hội, người xem được chứng kiến nghi thức về một hệ thống lễ với các động tác thuần tục, uy nghi mang tính nghệ thuật và biểu tượng cao. Ðến hội, người ta có dịp cảm nhận được mối quan hệ hai chiều giữ a làng và nước, giữa cá nhân và cộng đồng, quá khứ và hiện tại như hòa nhập với nhau vừa thiêng liêng, vừa huyền ảo. Truyền thống yêu làng-yêu nước được giữ gìn như một tài sản văn hóa.

33. Hội chen
Làng Ngà, một tên nôm của làng Nga Hoàng, Quế Võ, trấn Kinh Bắc xưa, nay thuộc Bắc Ninh, không biết từ bao giờ, cứ mùng 6 tháng giêng làm lễ rước thần, thế nào cũng có Hội Chen.
Đám rước bắt đầu từ miếu thờ nữ thần Linh Sơn Mỵ Nương (riêng cái tên Mỵ Nương làm ta liên tưởng đến thời Hùng Vương, có nhiều nhân vật mang tên này và làm ta có cớ để nghĩ Hội Chen này ra đời đã lâu. Giữa lúc nghiêm trang nhất, quan chủ tế, bồi tế, ông già bà cả cầu thần khấn niệm đầy thành kính, thì không hiểu từ một góc khuất nào bỗng nổi lên ồn ào. Thì ra việc CHEN bắt đầu. Đó là lúc đàn ông, con trai, thanh niên, cả ông già đổ xô đến chỗ phụ nữ, con gái, cả các bà già, thiếu nữ đứng, mà chen vai thích cánh. Họ xô đẩy nhau, giằng co nhau, lẫn lộn vào nhau, bật nhau ra một góc giếng hay bờ tường, gốc cây hay lối rẽ... Nhưng tất cả chỉ có tiếng cười như một thứ nhạc nền hiện đại mà không hề có tiếng la ó tục tằn. Cứ như là đã có sự sắp đặt, hẹn hò từ trước, d ưới bàn tay một đạo diễn vô hình, và nếu có thì người đạo diễn ấy chính là con tim, là tình yêu, là sự kết đoàn, là hoà hợp, vui vẻ, là tâm linh để cầu cho mưa thuận gió hoà, âm dương kết hợp, làng xóm tươi vui... Cuộc chen xảy ra như một cơn giông vội vã, biết đâu, chỗ nào, ai kia, bàn tay chẳng chạm sát, hương má hồng ửng đỏ chẳng kề bên tấm vai vạm vỡ người con trai mơ ước... Giây lát, cuộc chen bỗng im phắc, người người chắp tay cầu khấn thần linh: "Lạy thánh mớ bái, xin phù hộ cho xóm làng già mạnh khoẻ, trẻ bình yên..."
Cuộc rước lại tiến hành trong trống rong cờ mở, đi quanh làng trong ánh xuân tươi rói, bất chấp năm nắng hay năm mưa. Nhưng rồi đột nhiên cuộc chen lại tái diễn, lúc này ngược lại, gái chen trai chứ không phải trai chen gái, bà già chen ông già, nữ tú chen nam thanh, chị trung niên ch e n anh lực điền... trong tiếng cười hả hê, vui thích.
Lúc sau, đám rước tiếp tục như không hề xảy ra chuyện gì cho đến khi đám rước dừng chân kết thúc. Nhưng không đâu, lúc này cuộc chen lần thứ ba lại nổ ra như sấm sét. Đó là lúc phái nữ của cả làng đi tìm khách đàn ông đến dự hội mà chen... Khách trốn vào nhà cũng bị lôi ra, trèo lên cây cũng bị lôi xuống, rách khăn toạc áo cũng mặc, cứ chen ra sân ra đường, ra đình ra miếu... ra nơi nào tuỳ ý. Đáng chú ý là các cô gái vào nhà ai đang có khách, đều lễ phép thưa gửi với chủ nhà trước đã, rồi mới kéo khách ra để chen; chen trong cái thế chủ động mà lễ phép, chen trong niềm hân hoan của người chen và người được chen... Sôi động xóm làng, không ai, không gì ngăn được.
Mấy ngày sau đó, đám tế lễ vẫn được tiến hành như thường lệ tại đền thờ Nam Thầ n g ọi là Đống Vành. Và lần này các cuộc chen lại tái diễn, lúc gái chen nam, rồi nam chen nữ, rồi nữ làng chen khách thập phương là nam giới... cho đến đêm rằm, cuộc tế lễ và rước thần kết thúc tại miếu nữ thần... thì còn thêm tục tắt đèn, giống như đêm rã đám làng La trong câu ca dao: Bơi Đăm rước Giá Hội Thày - Vui thì vui vậy chẳng tầy rã La...
Tắt đèn bao lâu, tàn một tuần nhang chăng, những gì rì rầm, sống động trong bóng tối đầy khí dương hoà xuân mới, chúng ta sinh sau, chỉ tưởng tượng chứ không kịp dự... nhưng có cụ kể lại rằng những đêm tắt đèn ấy, nhỡ ra có ai nên vợ nên chồng sớm thì làng cũng không ngả vạ, mà còn giảm một nửa số tiền nộp treo cho làng, như ngầm nói đó là do thánh thần phù hộ xe duyên... Tương truyền thần Nữ và thần Nam của làng muốn tục lệ ấy được diễn ra, có thế l à ng mới làm ăn yên ổn.
Hơn nửa thế kỷ nay, tục CHEN gần như đã mất. Nay cũng chưa ai nghĩ đến chuyện phục hồi, bởi phong tục và nếp sống đã khác xưa nhiều lắm. Phục hồi một phong tục không dễ chút nào. Nhắc lại một nét xưa để ta thấy thêm một điều dân tộc ta cũng trữ tình, dí dỏm, yêu đời, lãng mạn lắm đấy chứ. Và có lẽ nó cũng là tàn dư của những tục lệ thờ phồn thực, thờ Linga, múa tùng hoặc, tế nõn nường... cầu mong sinh sôi để duy trì và phát huy nòi giống

34. Lịch một lễ hội tiêu biểu xứ Bắc (Bắc Ninh)

Lịch một lễ hội tiêu biểu xứ Bắc (Bắc Ninh)
Đất Kinh Bắc là đất của lễ hội, của truyền thống. Hầu hết các tháng trong năm ớ Bắc Ninh đều có lễ hội. Sau đây là lịch các lễ hội nổi tiếng ở Bắc Ninh;
Tháng giêng:
·Ngày mùng 4:
·Hội r*ớc pháo, thi pháo, tế bánh dầy, diễn trò ôm cột, Dô Ông Đám, múa hoa làng Đồng Kỵ ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn.
·Hội xem hoa mẫu đơn, diễn trò "Từ Thức gặp tiên" ở chùa Phật Tích (Phật Tích-Tiên Du).
·Hội thi kéo co giữa nam và nữ làng Hữu Chấp ở xã Phong Khê, huyện Yên Phong.
·Hội r*ớc lợn ỷ và duổi cuốc làng Trà Xuyên ở xã Khúc Xuyên, huyện Yên Phong.
·Hội hát Quan họ làng ó (Hội ó) ở xã Võ C*ờng, thị xã Bắc Ninh. Tối họp chợ âm phủ và bán gà đen.
·Hội làng Vó (tức Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện L*ơng Tài có tục đáng cá làm gỏi để tế thần Đông Hải Đại V*ơng.
·Từ ngày mùng 4-5: Hội đuổi cuốc ở làng Xuân Đài (Vạn Linh-Gia Bình).
·Ngày mùng 5:
·Hội Nguyện Cầu (Tam Giang-Yên Phong) có tục ném pháo vào cai đám.
·Hội thi thổi xôi Ném Th*ợng ở xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du.
·Ngày mùng 6:
·Hội hát quan họ các làng Ném (Khắc Niệm) ở xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du và làng Khả Lễ ở xã Võ C*ờng, thị xã Bắc Ninh.
·Hội r*ớc chạ Khả Lễ-Bái Uyên ở xã Liên Báo, huyện Tiên Du.
Từ ngày mùng 6-7: Hội thi mã Đông Hồ ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành.
·Ngày mùng 7: Hội hát Quan họ làng Đống Cao ở xã Phong Khê, huyện Yên Phong.
·Từ ngày mùng 5-7: Hội "Bách nghệ" làng Nh* Nguyệt ở xã Tam Giang-huyện Yên Phong. Biểu diễn các nghề của tứ dân "Sĩ, nông, công, th*ơng".
·Từ ngày 6-15: Hội chen làng Nga Hoàng (Yên Giả-Quế Võ) có diễn trò trai gái, già trẻ chen nhau.
·Từ mùng 8-10:
·Hội Phú Mẫn ở thị trấn Chờ-huyện Yên Phong.
·Hội hát Quan họ làng Bò Sơn (Võ C*ờng-thị xã Bắc Ninh) có diễn trò đập nồi niêu.
·Ngày mùng 9:
·Hội làng Tam Sơn ở xã Tam Sơn, huyện Tam Sơn.
·Hội thi nấu cơm làng T* Thế ở xã Trí Quảng, huyện Thuận Thành.
·Hội làng Trần ở xã Hạp Lĩnh, huyện Tiên Du.
·Từ ngày 11-12: Hội thi đọc mục lục làng Phù Khê ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn.
·Ngày 13: Hội Lim ở thị trấn Lim, huyện Tiên Du.
·Từ ngày 10-15:
·Hội làng Vân Đoàn (Đức Long-Quế Võ) có tục r*ớc lợn đen (ông ỷ).
·Hội làng Đình Cả-Lộ Bao (Nội Duệ-Tiên Du) có tục "c*ớp chiếu", "tế trâu thui".
·Từ ngày 13-15: Hội làng Thau (Kim Thao) ở xã Lâm Thao, huyện L*ơng Tài. Nổi tiếng về thi đấu vật.
·Từ ngày 14-15: Hội đền Bà Chúa Kho, làng Cô Mễ ở xã Vũ Ninh, thị xã Bắc Ninh.
·Từ ngày 18-21: Hội chùa Tổ ở xã Thái Bảo, huyện Gia Bình.
Tháng 2:
·Ngày mùng 6: Hội đình Keo ở Phù Chẩn, huyện Từ Sơn.
·Từ ngày mùng 6-12 : Hội trình nghề ở Ph*ơng La Đông, Ph*ơng La Đoài (Tam Giang-Yên Phong).
Ngày mùng 7:
·Hội đền Đức Vua Bà (Thuỷ tổ Quan họ) làng Viêm Xá (Diềm) ở xã Hoà Long, huyện Yên Phong.
·Hội "Thập Đình" làng Bảo Tháp ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình.
·Hội Viềng (Vĩnh Kiều) ở xã Đông Nguyên, huyện Từ Sơn.
·Hội làng D*ơng Lôi (Đình Sấm) ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn để kỷ niệm ngày mất của bà Phạm Thị thân mẫu Lý Công Uẩn.
·Hội làng Tam Tảo ở Phú Lâm, huyện Tiên Du.
·Từ ngày mùng 7-15: Hội tranh cây mộc tất làng Long Khám ở xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du).
·Ngày mùng 8:
·Hội làng Nguyễn Thụ ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn.
·Hội làng Yên Lã ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn.
·Hội chùa Tiêu ở xã T*ơng Giang, huyện Từ Sơn.
·Từ ngày mùng 8-10: Hội làng Cẩm Giang ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn.
·Ngày 14: Hội chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ.
·Từ ngày 14-15: Hội chùa làng Nghiêm Xá ở xã Việt Hùng, huyện Quế Võ.
·Từ ngày 12-16: Hội đình Đình Bảng (Đình Bảng-Từ Sơn) có đón chạ Cẩm Giang và thi đấu vật.
·Ngày 26: Hội làng Tiến Sĩ Kim Bôi ở xã Kim Chân, huyện Quế Võ.
·Ngày 28: Hội chiến thắng Nh* Nguyệt ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong.
Tháng 3:
·Ngày mùng 8:
·Hội làng Trang Liệt ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn.
·Hội làng Phù L*u ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn.
·Ngày mùng 10:
·Hội đền Than ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình.
·Hội làng Tiểu Than (Vạn Linh-Gia Bình) có diễn trò đua thuyền, bơi chải.
·Hội " Thất thôn giao kiệt" làng Phú Mẫn ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong.
·Hội làng Đông Phù (Phú Lâm-Tiên Du) có trò rồng rắn đuổi bệt.
·Từ ngày 15- 17: Hội đền Lý Bát Đế ở xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn.
·Từ ngày 18-20: Hội Đậu (Mộ Đạo-Quế Võ) có thi thả diều, bơi chải.
·Ngày 24: Hội chùa Bút Tháp ở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành.
Tháng 4:
·Ngày mùng 7: Hội Khám (Hội chùa Linh ứng), làng Ngọc Khám ở xã Gia Đông, huyện Thuận Thành.
·Ngày mùng 8: Hội Dâu (Chùa Dâu) ở xã Thanh Kh*ơng, huyện Thuận Thành.
·Ngày mùng 9: Hội làng Vó (Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện L*ơng Tài.
·Ngày mùng 10:
·Hội làng B*ởi (Đại Bái) ở xã Đại Bái, huyện Gia Bình.
·Hội đền Thánh Tổ (Bồ Tát) ở Đại Phúc, thị xã Bắc Ninh.
·Ngày 15: Hội đền Xà ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong.
·Ngày 20: Hội đền Vân Mẫu ở xã Vân D*ơng, huyện Quế Võ.
Tháng 8:
·Ngày mùng 5: Hội làng Đông Xá ở xã Đông Phong, huyện Yên Phong.
·Ngày mùng 7: Hội r*ớc n*ớc làng Thị Cầu ở ph*ờng Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh.
·Ngày 15: - Hội r*ớc n*ớc đền Phả Lại ở xã đức Phong, huyện Quế Võ.
·Từ ngày 15-16: Hội đền Chi Long ở xã Long Châu, huyện Yên Phong.
Tháng 9
·Từ ngày mùng 8-9: Hội chùa Dạm ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ.
·Từ ngày mùng 10- 18: Hội thi nói khoác làng Đông Yên ở xã Đông Phong, huyện Yên phong.
Tháng 10:
·Ngày 15: - Hội thi giã bánh dầy làng Đạo Chân ở xã Kim Chân, huyện Quế Võ.
Giới thiệu một số điển tích về những lễ hội chính
1.Hội pháo Đình Cời-làng Đồng Kỵ xã Đông Quang-Từ Sơn. Cời là tên nôm của làng Đồng Kỵ, thờ Thiên C*ơng Đế, ng*ời có công dẹp giặc Xích Quỷ thời vua Hùng thứ VI. Hội có thi pháo đại (cực to), có tế lễ và r*ớc pháo. Hội còn có thi đánh vật và bánh dầy.
2. Hội Vó (xã Quảng Phú-L*ơng Tài), Vó là tên nôm của Quảng Bố, một làng có nghề thủ công đúc đồng khá lâu đời. Tục truyền tổ s* nghề đúc đồng ở đây là Nguyễn Công Nghệ. Ngoài tế lễ, hội còn tổ chức thêm nhiều trò vui nh*: múa s* tử, bơi bắt vịt, chọi gà... (vào ban ngày) và hát tuồng, chèo... (vào ban đêm).
3. Hội kết nghĩa Du xuân của 4 làng Yên Phụ-Yên Dân-Yên Vĩ-Yên Tiên thuộc huyện Yên Phong. Hội này có liên quan đến việc 4 làng kết nghĩa giúp nhau trong sản xuất và chống giặc. Th*ờng ngày hội có tổ chức nghi lễ kết nghĩa, có các trò vui nh* kéo co, đấu vật, cờ ng*ời, hát chèo....
4. Hội Lim (Nội Duệ-Tiên Sơn) thờ ông Hiếu Trung Hầu, ng*ời sáng lập tục hát Quan họ. Các liền anh, liền chị quanh vùng kéo đến làm quen với nhau qua những câu hát quan họ. Ngoài hát Quan họ là tiêu điểm chính của lẽ hội, còn có các nghi lễ r*ớc xách, thi cỗ chay, thi dệt cửi, đu tiên, đấu vật... Tuy hội Lim chính diễn ra tại Nội Duệ-Tiên Du, nh*ng nhiều làng tại của huyện Tiên Du cũng có các hội riêng của làng mình nh*: hội Chắp, hội ó, hội Muốn, hội Dạm, hội B*ởi, hội Ném, hội Sẻ, hội Đông Cao, hội Bàng, hội Nhồi, hội Khám, Hội Chọi, hội Đọ, hội Và, hội Nguyễn, hội Nác, hội Hộ Vệ, hộ i Chè.
5. Hội chùa Tổ (làng Vạn Tỵ-Thái Bảo-Gia L*ơng): còn có tên là chùa Đại Bi. Đây là quê h*ơng của Huyền Quang (tức Lý Đạo Thành), một trong ba vị đã lập ra Thiền phái Trúc Lâm đời Trần Nhân Tông. Lễ thức là r*ớc oản dâng h*ơng cúng Phật. Trong hội có tổ có thi oản, thi vật, bơi chải và dân x*ớng dân gian.
6. Hội Thập Đình (đây là hội do 10 làng: Bảo Tháp, Yên Việt, Đông Cao, Thị Thôn, H*ơng Vinh, Thị Xá, Chi Nhị, Huề Đông, Địch Trung... thuộc ba xã Đông Cứu, Song Giang và Đại Lai, huyện Gia Bình). Nguồn gốc của hội 10 làng này là thờ hai vị t*ớng thời Hai Bà Tr*ng. Các thôn r*ớc bài vị chính, rồi từng thôn mở hội. Hội này th*ờng tổ chức các trận đánh giặc giả, nhằm khôi phục lại khí thế đánh giặc của nghĩa quân thời Hai Bà Tr*ng.
7. Hội Đình Bảng (Từ Sơn), đ*ợc tổ chức với các nghi lễ nh* r*ớc xách, tế và nhiều trò chơi vui nh*: chọi gà, hát quan họ trên thuyền, vật.
8. Hội chùa Dâu thờ bà Man N*ơng-ng*ời phụ nữ có công chống hạn. Trong ngày hội có tổ chức các nghi lễ nh* r*ớc xách và các trò chơi dân gian.

9. Hội Tứ Pháp Chùa Thứa đ*ợc tổ chức để thờ bốn bà: Mây, M*a, Sấm, Chớp. Hội tổ chức thực hiện nghi thức cầu m*a cùng các trò chơi dân gian.
10. Hội Đằng Kim thờ Thánh Tam Giang, kỷ niệm Tr*ơng Hống, Tr*ơng Hát-thần linh phù hộ cho t*ớng quân Lý Th*ờng Kiệt đánh đuổi quân xâm l*ợc Tống.
11. Hội Đền Than, còn gọi là hội đền Lớ-tên tục của làng Đại Than. Đền Than thờ t*ớng quân Cao Lỗ, ng*ời có công giúp vua An D*ơng V*ơng xây thành Cổ Loa. Trong lễ hội có tổ chức các trò độc đáo nh*: múa mộc, múa rồng và đánh hổ.

35. Hội đầu pháo KỳLừa - Tỉnh Lạng Sơn

Hội đầu pháo Kỳ Lừa ở thị xã Lạng Sơn có từ thế kỷ 17, gắn với một truyền thuyết lịch sử thể hiện lòng nghĩa hiệp của viên tướng thời Hậu Lê là Thần Công Tài. Lễ hội bắt đầu từ ngày 22 tháng giêng âm lịch bằng việc rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ và kết thúc vào ngày 27 sau khi đã diễn ra hội cướp đầu pháo cùng nhiều trò chơi dân gian khác.
Hằng năm, vào dịp đầu xuân - bắt đầu từ ngày 22 đến 27 tháng giêng (âm lịch) tại thị xã Lạng Sơn lại diễn ra lễ hội Đầu pháo Kỳ Lừa với quy mô, hình thức và nội dung phong phú như múa sư tử, chơi cờ người, đặc biệt là trò chơi cướp đầu pháo và rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ và quay lại. Sở dĩ nội dung rước kiệu được coi là nội dung chính; quan trọng và hấp dẫn nhất, vì theo truyền thuyết sự việc trên có mối quan hệ mật thiết với nhau giữa đền Kỳ Cùng và đền Tả Phủ.
Theo lịch sử ghi lại đền Tả Phủ được xây dựng từ năm Chính Hòa thứ 4 (1683) để thờ viên tướng thời Hậu Lê là Thân Công Tài - chức Tả đô đốc Hán quận công, vì thế nhân dân địa phương ngày xưa quen gọi là đền Tả Phủ. Ông Thân Công Tài là người có học, có tài được Trịnh Tạc trọng dụng bổ nhiệm lên Lạng Sơn làm phó tướng nhận chức Đô đốc giúp việc cho Vi Đức Thắng, trấn giữ nơi biên thùy. Trước kia, khu Kỳ Lừa khi ông chưa khai phá mở chợ thường hay bị lũ lụt ngập úng, khi dựng chợ ông cho mua sắm lễ đưa xuống đền Kỳ Cùng để cúng thần Giao Long (thần sông nước). Từ đó, chợ Kỳ Lừa không bị ngập úng nữa, nhân dân địa phương yên tâm họp chợ và họ cho rằng ông Thân Công Tài được thần sông phù hộ để lo việc đời, nên sau khi ông mất, nhân dân lập miếu thờ ông; hằng năm tổ chức lễ hội, rước thần Giao Long lên đền Tả Phủ, nhằm mục đích cầu mong thần Giao Long luôn phù hộ cho ông Thân Công Tài và nhân dân địa phương luôn gặp những điều may mắn, có được cuộc sống yên vui tốt lành.
Đền Kỳ Cùng xây dựng từ bao giờ cho đến nay chưa có tài liệu nào xác định chứng minh chính xác, theo hồi ức của nhân dân thì đền có từ rất lâu và đã qua nhiều lần sửa chữa. Đền Kỳ Cùng hiện nay thờ Tuần Tranh. Tương truyền, ông Tuần Tranh là một vị quan dưới thời nhà Trần, được cử lên Lạng Sơn đánh giặc, trấn ải biên thùy. Do chủ quan, nên binh sĩ của ông hay bị ốm đau, lúc lâm trận với giặc thường hay bị thương vong, thiệt hại. Sợ quay về triều đình sẽ bị phạt nặng, bước đường cùng ông nhảy xuống sông tự vẫn và con sông này được gọi là sông "Kỳ Cùng". Khi ông Thân Công Tài lên Lạng Sơn nhậm chức, được biết chuyện ông đã viết sớ về tâu với Vua để minh oan cho ông Tuần Tranh. Trong tiềm thức của mình, nhân dân địa phương cảm phục lòng nghĩa hiệp của ông Thân Công Tài nên đã mở hội hằng năm và rước ông Tuần Tranh (đền Kỳ Cùng) lên tạ nghĩa với ông Thân Công Tài (đền Tả Phủ). Vì vậy mới có nội dung rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ.

Hội Đầu pháo Kỳ Lừa bắt đầu từ sáng ngày 22 tháng giêng (âm lịch). Cùng với đoàn người trang phục lộng lẫy, đủ các loại cờ, võng lọng, một tốp thanh niên trai tráng y phục chỉnh tề gọi là "Đồng nam" để khiêng kiệu; một tốp thiếu niên vận đồng phục gọi là "Đồng tử" khiêng đỉnh được đội sư tử múa vây quanh, đi qua các khu dãy phố Kỳ Lừa rồi thẳng xuống đền Kỳ Cùng đón rước ông Tuần Tranh (hay Thần sông) lên kiệu. Đúng giờ ngọ bắt đầu làm lễ. Lễ xong, đoàn người rước kiệu đến đền Tả Phủ hạ kiệu làm lễ tạ ơn.
Bước sang ngày 23, 24 tháng giêng, lễ hội đầu pháo bắt đầu. Đầu pháo có gắn đầu kim loại, cuốn vải cẩn thận, chuẩn bị xong rước ra sau đền làm lễ cúng thần, xong đầu pháo được đem ra đốt. Khi pháo nổ, vòng kim loại hất lên không trung rơi xuống, mọi người tranh nhau cướp. Những ai tranh được đầu pháo thì đem đến trình với thần đền và Ban Tổ chức lễ hội lấy phần thưởng, phần thưởng ở đây thường là bức tranh vẽ khung cảnh hữu tình và có các chữ Phúc - Lộc - Thọ (hình đầu pháo). Người ta đem vật này về thờ tại gia đình và tin rằng trong năm sẽ làm ăn may mắn bình yên. Trong thời gian hội có các đầu pháo theo thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 10 (không có số 7 vì kiêng). Cùng với phần thưởng được trao, những người thắng cuộc thường mang đầu pháo về cầu may, mỗi đầu pháo chỉ được thờ một năm. Đến mùa hội sang năm những gia đình có đầu pháo đem ra đền làm lễ tạ rồi trao lại đầu pháo cho đền.
27 tháng giêng là ngày kết thúc hội. Cũng vào giờ ngọ, mọi người tập trung ở đền Tả Phủ làm lễ tạm biệt ông Tuần Tranh. Sau tuần lễ, kiệu bắt đầu được rước trở lại đền Kỳ Cùng với nghi thức ban đầu.
Hòa với trò chơi cướp đầu pháo, lễ rước kiệu, ở đây còn có nhiều hình thức vui chơi như thi đấu cờ người, múa sư tử, hát giao duyên (hát sli, hát lượn)... tạo nên không khí nhộn nhịp vui tươi cho cả một vùng thị xã trong những ngày xuân

36. Hội đền Du Yến ở xã Chí Tiên, Phú Thọ

Những năm gần đây, đền Du Yến, xã Chí Tiên huyện Thanh Ba được trùng tu, tôn tạo mang lại một tầm vóc mới cho hành trình về với cội nguồn Đền Hùng - Du Yến - Mẫu Âu Cơ. Nơi đây là đền thờ Hạnh Nương công chúa nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Vào những năm đầu sau công nguyên ở vùng Thao Giang huyện Thanh Ba ở làng Bổng Châu có gia đình họ Nguyễn, một gia đình nông dân khá giả có uy tín rất chịu khó làm ăn, sống hiền từ phúc hậu. Nhờ lộc phúc của gia đình, ông bà sinh hạ được người con gái đặt tên là Hạnh Nương. Ngay từ nhỏ bà đã được chăm sóc chu đáo, lớn lên được cha mẹ cho học văn chương, võ nghệ. Bà là người con gái thông minh học một biết mười, nhan sắc tuyệt vời, tính tình hiền dịu nết na. Khi trưởng thành, trai tài nhiều người trong làng ướm hỏi bà đều từ chối không muốn vương bụi trần để giữ mình trong sạch. Xa gần nức tiếng, gọi là tiên nữ giáng trần. Năm Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, nghe tin ở Bổng Châu có nữ anh tài, Hai Bà cho mời về gặp. Bà đã chọn 92 người ở Bổng Châu về hội quân với Hai Bà. Thấy Hạnh Nương thông minh nhanh nhẹn, văn võ song toàn nên đã phong cho bà là trưởng lĩnh tiền quân (tương đương với Tư lệnh mặt trận ngày nay).
Sau khi đánh tan quân Tô Định, nữ tướng Hạnh Nương về thăm quê mở yến tiệc khao quân, ban thưởng cho dân làng, mở hội trên một gò đất bên sông hình con hổ trắng đang uống nước. Nơi đây về sau nhân dân lập đền thờ lấy tên là Du Yến (nghĩa là nơi du chơi và yến tiệc), ngày khao quân đúng vào ngày rằm tháng giêng. Cũng từ đó cứ dịp vào rằng tháng giêng là dân làng mở hội cầu tế để nhớ ơn công đức của bà cầu cho mưa thuận gió hòa, cho nhà nhà được mọi điều tốt lành.
Năm 1993 đền được Nhà nước công nhận là Khu di tích lịch sử cấp quốc gia. Từ năm 2003 đền được trùng tu tôn tạo bao gồm hơn 12 hạng mục với số vốn đầu tư hơn 6 tỷ đồng.
Hàng năm vào dịp ngày rằm tháng giêng hội đền Du Yến được mở với các phần lễ và hội rất long trọng. Những đồ thờ dâng Mẫu chủ yếu là các loại bánh chay và hoa quả... được chia thành 6 giáp, mỗi giáp 2 mâm, được 2 thanh niên khiêng vào đặt lên ban thờ để các cụ cầu tế. Trong lúc cầu tế có xen lẫn những điệu múa tiên, múa sinh tiền. Tương truyền rằng vào ngày Mẫu ra đời ngoài bãi dâu Thao Giang có tiên sa giáng trần múa hát như ngày hội nên ngày tế Mẫu bắt buộc phải có đội múa tiên bao gồm 4 cô gái dưới 16 tuổi, chưa có chồng múa những điệu múa bay bổng đẹp như tiên phục vụ tế lễ. Sau đó đến phần rước kiệu, đi đầu là đội cờ, tiếp đến là phường bát âm, sau đến đội bát biểu, múa sư tử, tiếp đến là múa tiên rồi đến kiệu. Phần tế lễ hội đền Du Yến kéo dài hết ngày rằm. Tuy vậy khách hành hương từ khắp mọi nơi về viếng đền quanh năm nhưng đông nhất vẫn là dịp từ Tết Nguyên đán đến hết tháng ba

37. Lên Tây Bắc dựlễhội trùm chăn

Nếu có dịp lên Tây Bắc, mời du khách ghé thăm huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham dự lễ hội đặc sắc của người Hà Nhì đen; đó là lễ hội cúng thần gió, thần đất, gọi là K'Hô Igià Igià.
Lễ hội này được người Hà Nhì đen tổ chức ở 2 địa điểm:
Địa điểm thứ nhất: lễ hội được tổ chức ở nhà và gia chủ sẽ phải chuẩn bị đồ cúng, bao gồm: 5 cái bánh dày, 1 bát thịt trâu luộc, 1 bát nước gừng pha nước và 4 cái bát con úp xuống đất trước bàn thờ (theo phong tục ở đây, các món đồ cúng sẽ do gia chủ - người vợ chế biến; nếu người vợ đi vắng phải do con gái cả làm và dù con gái cả đã đi lấy chồng rồi cũng vẫn phải về giúp đỡ gia đình lúc này); sau khi đồ cúng được chuẩn bị xong, gia chủ sẽ cúng đầu tiên, tiếp đó là tới các con - lần lượt từ con trai út cho đến con trai cả vào lễ.
Kết thúc lễ tạ, chủ nhà lấy bát nước gừng chia cho mỗi người trong gia đình uống một ngụm, ăn một ít thịt trâu luộc để hưởng lộc; bánh dày và gừng rượu được dành cho ông Táo, đặt ở bếp.
Địa điểm thứ 2: lễ hội được tổ chức ở rừng cấm - nằm tại trung tâm bản mà ngày thường không ai được vào. Trong khu rừng này có nhiều cây gỗ quí lâu năm được mọi người cùng gìn giữ, có một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ quý, mái lợp gianh, rộng hơn chục m² do dân bản dựng để cho người già và con trẻ ngồi khi tham dự lễ hội.
Theo tục lệ, lễ hội được tổ chức trong 3 ngày, người ta chọn ngày thìn là ngày khai hội và cúng vào ban đêm (vì làm như thế, các thần gió, thần đất sẽ được nghỉ ngơi yên tĩnh). Thầy cúng không nhất thiết phải là người chuyên nghiệp, chỉ cần là người 50 tuổi trở lên và không gặp điều rủi nào trong năm là được. Sau khi cúng, mọi người đều được mời ăn các lễ vật cúng và phải ăn cho hết, không được mang về.
Ngày hôm sau không khí lễ hội tưng bừng hơn: trai, gái trong bản rủ nhau vào rừng, mỗi người lấy sáu cành củi nhỏ về nộp cho lễ hội. Đến ngày thứ ba, tất cả dân bản tập trung lại để già làng - người cao tuổi nhất, cắt da trâu chia cho từng gia đình. Nếu số da trâu chia đủ cho mỗi gia đình hai chiếc thì năm đó làm ăn sẽ không thuận, còn số da trâu đã chia hết mà còn lẻ một, tức là năm đó dân bản được mùa.
Tại điểm trung tâm của lễ hội, già làng đánh đàn hoóttờơ, bà già nhảy múa còn thanh niên nam nữ hát đối nhau. Cùng với những điệu múa, trong ngày hội còn có một số trò chơi: trò đu dây, đu quay và hát giao duyên... đây là dịp để trai gái trong bản gặp gỡ và tìm hiểu nhau.
Trong những trò chơi đó, hát giao duyên của người Hà Nhì đen có những nét đặc sắc và hấp dẫn riêng, thường dành cho những đôi mới quen nhau, chưa dám ngồi gần: mỗi người một ống nứa dài khoảng 20cm với một đầu bịt kín bằng da rắn hoặc màng cây tre đực, có luồn một sợi dây móc rừng dài chừng 10m; khi đó, sẽ có một người nói còn người kia áp ống vào tai để nghe và ngược lại; nếu đã thuận ý nhau; trước tiên, người con trai thổi hơi ba lần vào ống và sau đó người con gái thổi lại ba lần, tức là đồng ý đi chơi với nhau; hai người sẽ đưa nhau vào rừng và cùng khoác chung chiếc chăn để hát hò, thổ lộ tâm tình.
Trong thời gian ba ngày diễn ra lễ hội, các thanh niên nam nữ được vui chơi, tâm tình thoả nguyện. Đã có nhiều đôi nên vợ nên chồng nhưng cũng có những cặp chỉ dừng lại ở mức quý mến nhau.

38. Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày ở Bắc Hà Lễ hội rước Đất, rước Nước của người

Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày - Bắc Hà diễn ra vào ngày rằm tháng giêng hàng năm để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ cạn, giúp dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm. Từ sáng sớm, dân làng đã cử một đoàn người gồm: thầy cúng, đội trống, chiêng, khèn và các cô, các chị (là những người chăm chỉ làm ăn, có cuộc sống gia đình yên bình khoẻ mạnh)… đi lên ngọn núi Pản Phố - nơi có nguồn nước trong nhất bản - rước hồn Đất, hồn Nước về dự hội.
Đi đầu đoàn rước là thầy cúng. Thầy là người giữ vai trò làm sứ giả để giao tiếp với các vị thần linh. Trong tay thầy cầm cây nêu - biểu tượng của sự sinh sôi, nảy nở - rước đến địa điểm diễn ra lễ hội.Tiếp theo là kiệu rước Nước và các mâm lễ. Nước được đựng trong hai ống bương to, tượng trưng cho ống bố, ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước Đất - hồn mẹ Đất được lấy từ trên đỉnh núi cao thiêng liêng. Sau đó là đến các mâm lễ để dâng các vị thần linh. Lễ vật gồm một mâm quả còn, bên trong các quả còn đựng các loại hạt giống do các cô, các chị kỳ công làm ra, các mâm xôi ngũ sắc, gà luộc, hoa quả… đều là những sản vật tinh tuý của mùa màng – thành quả sản xuất của dân bản trong năm. Đội chiêng trống đi hai bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy giao linh với các vị thần.
Địa điểm tổ chức lễ hội là cánh đồng rộng của bản. Khi các đoàn rước tới nơi, ba hồi kèn trống nổi lên vang động đất trời, thấu đến chín tầng cao xanh như báo cho Trời - Đất biết: Ngày hôm nay dân làng mở hội. Thầy cúng thực hiện nghi lễ cầu khấn.
Tiếp đó, thầy cúng phun nước làm phép để xua các điều xấu, xua quỷ dữ không cho về quấy phá dân bản. Rồi thầy tung lộc (ngô, lúa) của thần linh cho dân bản, những người dự hội ai cũng cố gắng nhận cho được vài hạt thóc, hạt ngô đem về nhà làm khước may mắn để nhà mình vụ sau ngô sai hạt, lúa sai bông.

Sau phần lễ nghi trên, mọi người bước vào phần hội với những màn xoè điệu nghệ của các cô gái, chàng trai. Khi các màn xoè kết thúc là các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, chọi gà, chọi trâu (bằng bắp bi chuối và măng), ném còn… bắt đầu Dù là ngày hội của người Tày nhưng các dân tộc khác trong vùng cũng đến dự rất đông vui.

39. Lễhội “Nào Cống"

Từ thập kỷ 50 về trước, Tả Van có một ngôi miếu thờ 3 gian. Ngôi miếu dựng ở ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu trở thành địa điểm tổ chức lễ “Nào Cống” của cả vùng thung lũng Mường Hoa.
Hàng năm vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người Mông, người Dao, người Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già, trẻ. Lễ “Nào Cống” có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống.
Ngôi miếu thờ được người Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng Mường Hoa. Một gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người Mong gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”. Một gian bên phải thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là trâu đen, lợn đen và gà vịt do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương, bát đĩa dâng cúng.
Trước đây, người chủ lễ phải mời thầy mo người Tày của Mường Bo (4). Từ thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo của người Giáy ở Tả Van. Thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ, khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa lên đọc quy ước chung của cả Mường... Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề:
- Vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu nơi khác đến trộm cắp.
- Vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người Mông, người Dao, người Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng...
- Vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài khoảng thời gian trên, cấm mọi người thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng.
- Vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp gia đình có tang... đồng thời phê phán quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”.
Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến.
Kết thúc phần phổ biến quy ước, mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, chỉ có các chức dịch (lý trưởng, phó lý, thầy mo) được ngồi ăn. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự, người khác sẽ dành phần thức ăn mang về.

40. Độc đáo - hội đả ngư (Hà Tây

Lễ hội đả ngư (đánh cá), lễ hội truyền thống của vùng non Tản, được tổ chức vào ngày 15/9 hàng năm, bắt nguồn từ một truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích.
Chuyện kể rằng, có một hôm, Thánh Tản giả dạng thành một lão nông đi dạo trên sông Tích, đến đoạn giữa Cầu Vang và Má Mang thấy một ông già ngồi kéo vó. Lúc trời đứng bóng, ông già mở cơm nắm muối vừng rồi mời Ngài cùng ăn. Cảm kích trước tấm lòng của ông, Ngài hỏi thăm và muốn giúp ông việc kéo cá. Ông già than phiền vì từ sáng đến giờ chả được con nào. Ngài vui vẻ xin ông kéo thử một mẻ. Thật kỳ lạ, khi cầm vó kéo lên ông già thấy bao nhiêu là cá, cá lớn, cá nhỏ thi nhau quẫy đành đạch làm ông hoa cả mắt. Ông sung sướng vội vàng bắt cá vào giỏ. Hai người vừa bắt vừa đếm được 99 con. Thấy đáy vó còn duy nhất một con cá trê đang mang bụng chửa, ông già đã nghe lời Ngài thả nó về sông để làm phúc. Rồi vì mải vui vì được nhiều cá, khi ngoảnh lại ông già đã không thấy vị khách qua đường đâu. Nhớ lại phong độ đạo mạo và việc làm dị thường của người khách lạ, ông biết rằng mình vừa được gặp Thánh nhân nên vội về làng loan báo tin vui. Từ đấy hàng năm, dân trong vùng lại mở hội đánh cá trên trên sông Tích, chọn 99 con cá làm lễ vật dâng lên Thánh Tản để cảm tạ ân đức của Ngài. Lại nói chuyện con cá trê, sau khi được phóng sinh đã sinh nở đầy đàn. Nhớ ơn cứu mạng, khi sắp chết, cá trê nọ đã cố bơi về gần đền Và, ngoảnh đầu bái lạy. Nơi này về sau gọi là xóm Trê.
Ngoài mục đích dựng lại tích Thánh Tản kéo vó, lễ hội đả ngư còn mang tính khuyến ngư và giữ gìn môi trường sinh thái vùng sông Tích. Lệ vùng này quy định, mùa đánh cá trên sông Tích được diễn ra trong 3 tháng, nhất thiết chỉ được bắt đầu từ ngày mở hội, trước đó, ai lén lút phạm luật sẽ bị thánh giáng họa. Mỗi khi vào hội, dân hai bờ sông Tích đổ ra kín cả một khúc sông, dưới nước trai đinh nhộn nhịp bơi lội úp xúc, trên bờ dân làng thôi thúc trống chiêng cổ vũ. Dù bắt được ít hay nhiều cá, ai cũng có lộc. Số cá được chọn để dâng lên Đức Thánh Tản là 99 con. Theo quan niệm dân gian đây là con số thiêng như là có 99 núi Voi quay đầu về đền Hùng, 99 núi voi quay về Chùa Hương... Con số 99 ở hội đả ngư còn nhắc chuyện con cá trê mang bụng trứng được phóng sinh năm xưa. Nghĩa cử ấy hợp với việc bảo tồn nguồn thủy sản ngày nay.
Hội đả ngư là nét đẹp văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng xứ Đoài. Chính bởi điều này nên trong dịp Đường Lâm đón Bằng công nhận Di tích quốc gia làng Việt cổ, dân làng đã dựng lại trò đả ngư xưa. Hội đả ngư được tổ chức trên một đoạn sông Tích với sự tham gia của 50 tráng đinh (tượng trưng cho 50 người con theo mẹ lên núi), vật dụng cho mỗi người là một chiếc giỏ, một chiếc dập sào và một chiếc vợt. Khai hội, vị trưởng lão mặc trang phục truyền thống tay cầm trống khẩu hướng về núi Tản cầu Thánh phù hộ dân khang, vật thịnh. Kết thúc phần lễ, một ngư đồng sẽ đánh mõ cá và tất cả tráng đinh nhảy xuống sông dập úp cá trong tiếng cổ vũ, reo hò của mọi người. Người nào bắt được cá, đem đến dâng cho vị trưởng lão để cho vào một chiếc giỏ cho đến khi đủ 99 con. Lễ dâng cá thờ được diễn ra ngay tại bờ sông Tích. Vị trưởng lão hành lễ, tráng đinh và nam nữ múa mừng công.

41. Lễ hội "Xến Xó Phốn" của người Thái vùng Tây Bắc

Lễ hội cầu mưa (hay còn gọi là lễ hội Xến Xó Phốn) vùng Tây Bắc được ra đời và hình thành cùng kho tàng văn hóa phi vật thể của người Thái. Qua bao đời chắt lọc, gạn đục khơi trong để có được tinh hoa, những giá trị về phong tục tập quán, tín ngưỡng. Lễ hội cầu mưa ngày nay mang đủ bản sắc văn hóa của người Thái Tây Bắc.
Lễ hội gồm 2 phần lễ và hội, phần lễ để cúng thần linh cai quản mưa nắng không mang yếu tố dị đoan mà chỉ mượn yếu tố tâm linh để dạy bảo con người, phần hội tạo nên những tiếng cười thoải mái nhằm giáo dục nhân cách, phẩm hạnh để con người vươn tới cái đẹp, của đạo đức truyền thống mà người Thái đã có.
Người Thái ở vùng Tây Bắc quan niệm rằng thần linh cai quản mưa gió thương những đứa trẻ sinh ra không có cha để làm nhà cho nên đã không làm mưa khiến cho trời hạn hán, vì vậy trời không mưa là lỗi của những người phụ nữ chửa hoang. Vì vậy dân bản phải làm lễ cầu mưa, cúng lễ các vị chủ nước, chủ sông suối (thuồng luồng, tiếng Thái gọi là Tô Ngược) để mời các thần linh về nghe nguyện vọng của con người đồng thời trách phạt những người phụ nữ đó đã không biết giữ mình. Những lời cầu xin, trách móc được truyền tụng và đúc kết thành các bài cúng và các trò chơi trong lễ hội cầu mưa.
Người đóng vai trò chính trong lễ hội là bà Mè mải. Mở đầu lễ cầu mưa, đoàn người đi đến các nhà xin lễ vật.
- Đến nhà thứ nhất, mè mải nói
Ở nhà đấy bà thím ơi
Chúng tôi đến xin cơm đấy nhé
Rau chua xiểm cũng xin
Canh khoai nhạt cũng xin
- Chủ nhà thứ nhất trả lời
Ngày cúng chủ nước sông tôi có chút lễ bằng rau, bằng cỏ để cùng xin cầu mưa
Mè mải đáp lời
Cảm ơn chủ nhà nhé
Lời cảm ơn vừa dứt chủ nhà té nước gạo lên người hoặc dùng hạt bông tung vào đoàn người giả làm mưa.
Đoàn người luôn miệng hô to
Có mưa rào, mưa ra gạo ra lúa
Sau đó đoàn người tiếp tục đến nhà thứ 2, thứ 3… và lặp lại bài cúng trên. Đến khi đã có đủ lễ vật, đoàn người rước Tô Ngược đến địa điểm cúng lễ và bà mè mải bắt đầu cúng bài cúng cầu mưa với nội dung mời chủ nước chủ sông về ăn lễ vật và lắng nghe nguyện vọng của dân bản cầu xin trời làm mưa cho đến khi sấm sét nổi lên và trời mưa xuống thì chuyển sang phần hội.
Ở phần hội, cả bản làng cùng chơi ném còn, uống rượu cần và hát các bài hát về tình yêu đôi lứa…
Cùng với Lễ hội cầu an bản Mường, Lễ hội cầu mưa của người dân tộc Thái miền Tây Bắc là một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng người dân tộc ở nơi đây. Lễ hội thường được tổ chức vào đầu mùa mưa (khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11 âm lịch hàng năm (gần tết Nguyên Đán) được biểu hiện qua tiếng sấm, tức là lời phán quyết của vua trời, qua hình tượng thủy thần, thuồng luồng...Lễ hội có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần, tâm linh của cả bản mường, đến mùa màng, sức khỏe và sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, nên được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ, thu hút sự tham gia của đông đảo bà con dân tộc ở bản, mường.

42. Người Lô Lô với lễ cầu mưa

Từ Lũng Cú tới Xín Cái- Mèo Vạc (Hà Giang) là các bản làng của gần 1.200 đồng bào Lô Lô. Nơi hành lễ là khu sân rộng giữa bản. Đồ tế lễ trong hội cầu mưa phải có rượu ngô, chó, gà, một thanh kiếm (có thể bằng sắt hoặc gỗ), một bát nước, bốn chén rượu, bốn ống hương bằng tre tượng trưng cho bốn phương trời và vật không thể thiếu trong tất cả các cuộc tế lễ của đồng bào Lô Lô- đó là trống đồng. Trống của người Lô Lô có hai loại, trống đực và trống cái, trống đồng như báu vật linh thiêng của cha ông để lại.
Đồ tế bày trong một cái mẹt, trên giá đỡ, thầy mo bắt đầu hành lễ. Tay phải ông cầm kiếm nâng lên, hạ xuống theo nhịp khấn, tay trái ông đánh trống đồng, miệng lầm rầm cầu khấn thần Kết Dơ (hai vị đứng đầu, cai quản trời đất). Cầu thần phù hộ cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà, làng bản no ấm.
Cúng xong, dân bản quây quần uống rượu, múa hát xung quanh bàn lễ. Những làn điệu dân ca Tế Phua, Tế La, Hồ La Tế, Ta Sì Phua chan chứa tình yêu quê hương, hạnh phúc lứa đôi. Ngày hội cầu mưa, người già gặp nhau nói chuyện nhà, chuyện trồng cây, cấy lúa, chăn nuôi, chọn rể, cưới dâu. Với đám thanh niên, đây là dịp tìm người yêu qua câu hát giao duyên, bằng tiếng sáo cờ lé, sáo đôi. Các cô gái Lô Lô rực rỡ trong bộ váy áo mới, thêu hoa văn rực rỡ. Áo cổ vuông, tay áo được ghép bằng nhiều mảnh vải màu khác nhau, váy dài có thêu xanh, đỏ, vàng… trên nền vài chàm xanh. Dây lưng thêu hoa có tua rua sặc sỡ. Kết hợp với bộ trang phục truyền thống là những vòng cổ, vòng tay bằng bạc lóng lánh.
Lễ hội cầu mưa của đồng bào Lô Lô mang tính tín ngưỡng phồn thực khá phổ biến ở các cư dân nông nghiệp. Vào dịp tổ chức lễ hội, hầu như mọi sinh hoạt của người Lô Lô đều hướng vào việc cầu mưa. Họ tâm nguyện, cầu khấn, ước ao những hạt mưa rơi xuống tưới tắm cho cánh đồng Mèo Vạc ngày càng xanh tốt, cho dân bản được mùa, đời đời no ấm.

43. Tet nguoi hmong

Dân tộc H’mong gồm nhiều nhóm: H’mong Đơ (H’mong Trắng), H’mong Lềnh (H’mong Hoa), H’mong Sí (H’mong Đỏ), H’mong Đú (H’mong Đen), H’mong Súa (H’mong Mán). Hiện số dân của họ khoảng 558.000 người, cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.
Người H’mong có một hệ lịch riêng, theo nhận định của các nhà nghiên cứu, có lẽ họ tiếp thu cách tính lịch của dân tộc Di (Trung Quốc). Theo đó, Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch của Âm Dương hợp lịch mà ngày nay chúng ta sử dụng. Tuy nhiên, ngày nay đa số các vùng người H’mong đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ, chẳng hạn người H’mong ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ.

Ngày 25, 26 tháng Chạp, người H’mong bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Khi đó, họ phong tất cả các công cụ sản xuất lại, ví dụ như các lò rèn phải làm lễ đóng lò, cối xay ngô tháo ra, dán một tờ giấy bản lên rồi làm lễ với gà, bánh ngô, rượu.

44. Tet nguoi thai

Người Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1 triệu người, chủ yếu sống ở Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An.
Xoè Thái
Đối với người Thái nhiều vùng, thường 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm, sau đó là nghỉ ngơi chơi Tết. Sáng ngày 27 hoặc 28, ông trưởng bản chủ trì tổng vệ sinh cho cả bản. Tối 29 bắt đầu gói bánh chưng. Người Thái thường gói hai loại bánh chưng màu đen và màu trắng. Để làm bánh màu đen, họ đốt rơm lên, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sẩy sạch muội tro mà vẫn giữ lại màu đen. Nhiều nơi không cho nhân bánh. Người ta quan niệm hương vị của Tết ở trong bánh chưng chủ yếu thể hiện ở hương vị của lá dong, và đó cũng là cái chủ yếu để dâng lên tổ tiên (ma nhà).

45. Tet nguoi muong

Dân tộc Mường hiện còn khoảng gần một triệu người, cư trú chủ yếu ở Hoà Bình, Hà Tây, Vĩnh Phú, Sơn La, Thanh Hoá; trong đó nhiều nhất là ở Thanh Hoá (trên 22 vạn người). Họ sống hiền hoà trong các thung lũng được khép kín bởi những triền núi đá vôi bao quanh. Mường Bi (Hoà Bình) là một trong những Mường cổ nhất.
Về trình tự và phong tục, có lẽ Tết của người Mường là gần với Tết của người Kinh nhất. Có một phong tục đặc sắc mà họ còn lưu giữ được là hát sắc bùa. Đây là một thể loại hát chúc tụng năm mới. Ngày mùng 1, mùng 2, trẻ con Mường dắt nhau đi hàng đàn, đánh cồng rộn ràng, miệng hát sắc bùa. Đi qua nhà nào thì nhà ấy mở cửa cho trẻ ít tiền hoặc bánh.

46. Ngày hội xòe thái – tây bắc

Ngoài mùa lễ hội hoa Ban, người Thái cũng như bao dân tộc khác cũng có ngày tết riêng của mình. Dân tộc Thái ăn tết từ mồng 1 đến 15 tháng giêng âm lịch hàng năm. Trong vòng 15 ngày tết, họ tổ chức rất nhiều lễ hội để vui chơi, sinh hoạt mang tính cộng đồng, trong đó có lễ hội xòe chiêng ở thị xã Tam Đường – Lai Châu, được tổ chức vào ngày 11 tháng giêng âm lịch.
Tại lễ hội các cuộc thi mang tính truyền thống dân tộc được diễn ra trong tiếng trống, tiếng chiêng roan rã khắp bản : thi nấu cơm lam, thi cá nướng, thi làm bánh gù, thi bật bông kéo sợi, thi kéo co, thi ném còn. Bánh gù là một đặc sản của dân tộc Thái, gạo nếp hương hoạt to đều được chọn đem ngâm. Lên rừng tìm cây Mắc Phột – mộ loại cây thơm, đem đốt lấy tro, giã nhỏ trộn với gạo nếp làm cho hạt gạo đen nhánh. Nhân bánh được làm bằng thịt lợn ướp hạt tiêu và đậu đen. Bánh được gói bằng lá dong rừng, có khổ 15 – 25cm, đem luộc 3 tiếng sau là chín. Mùi gạo nếp hương đầu mùa, mùi cá suối nướng lan tỏa khắp lễ hội. Các cô gái tay thoăn thoắt trên các khung kéo sợi, dệt ra những tấm thổ cẩm lộng lẫy sắc màu. Các chàng trai thì cường tráng vặn mình chơi kéo co.
Khi trăng đã lên trên đỉnh dãy núi Hoàng Liên, một đống lửa to được đốt lên đủ để soi rạng mặt người. Tiếng chiêng, tiếng trống thúc giục mời gọi người Thái, người Việt và các dân tộc khác cũng như du khách ghé thăm bản mau chân vào hội. Mở đâu , đội gái xòe các bản biểu diễn 36 điệu múa xòe cổ của dân tộc Thái như xòe hoa, xòe vòng, xòe nón, xòe quạt, xòe khăn … Và từng tốp người cùng nắm tay nhau vòng quanh đống lửa để cùng nhau nhảy điệu xòe. Khi đã say trong từng nhịp điệu, các bàn tay tìm bàn tay nới rộng mãi vòng xòe. Nụ cười trao nụ cười, ánh mắt trao ánh mắt, bàn chân khoan nhặt như nghiêng cả dãy Hoàng Liên Sơn. Hội xòe kéo dài đến 2 – 3 giờ sáng, các chàng trai cô gái lại kéo nhau ra bờ suối tâm tình, kết duyên lành đầu xuân

47. Hội hoa ban trên vùng tây bắc

Người Thái sinh sống chủ yếu ở Lai châu, Điện Biên, Sơn La và một số ở Yên Bái, Hòa Bình, với gần một triệu người gồm cả Thái Trắng và Thái Đen. Mùa xuân được ví von là mùa của tình yêu, của lễ hội, người Thái có nhiều lễ hội, nhưng có lẽ hội hoa Ban mùa xuân là ngày hội của hạnh phúc, của sự sống và niềm tin tuổi trẻ.
Hàng năm cứ vào dịp thánh hai âm lịch, thời tiết bắt đầu nắng ấm sau những cơn mưa xuân, hoa Ban bắt đầu nở trắng cả núi rừng Tây Bắc, hứa hẹn một mùa màng bội thu trên các nương rẫy và trên các khu vườn. Lúc này hội hoa Ban được mở ra cũng chính là thời kỳ lúa chiêm gặp mưa xuân, xanh mơn mởn trên các cánh đồng lúa nước. Cây Ban giống như cây Sim rừng, nới nào đất núi đất sỏi là nơi đó có cây Ban mọc và nở nhiều hoa trắng đẹp. Con trai, con gái vùng Sơn La hẹn gặp nhau vào hội chơi núi hái hoa. Hoa Ban tô điểm thêm cho vẻ đẹp mùa xuân. Theo phong tục của người Thái Trắng trước đây thì hội hoa Ban chính là lễ hội lớn nhất của người Thái. Mùa xuân là mùa hoa Ban nở, biểu tượng cho tình yêu và tuổi trẻ.
Truyền thuyết của người Thái về loài hoa đặc trưng của núi rừng Tây Bắc này, kể rằng : “Thuở ấy có một chàng trai tên là Khum, đem lòng yêu một cô gái tên Ban. Khum vừa giỏi làm nương lại có tài săn bắt. Ban là một cô gái khéo tay dệt vải lại có giọng hátt hay làm đắm say biết bao chàng trai. Thế nhưng cha nàng Ban vì ham giàu nên đã gả cô cho con của gia đình nhà tạo Mường, vốn là một thanh niên lười nhác lại có tật gù lưng. Mặc cho con gái hết lời van xin, người cha vẫn không từ bỏ ý định. Ông đã bàn bạc với nhà tạo mường để chuẩn bị lễ cưới cho hai người. Trong bước đường cùng, nàng ban đã chạy sang bản và nhà của chàng Khum để cầu cưú. Nhưng chẳng may khi đến nhà Khum thì được tin chàng phải theo cha đi mua trâu ở bản xa. Nàng bèn lấy chiếc khăn phiêu của mình, buộc vào nơi cầu thanh nhà chàng rồi bươn chải đi tìm chàng. Nàng đi hết từ ngọn núi này cho đến cánh rừng khác, kêu gọi tên chàng đến khan cả giọng, nhưng chàng ở xa nào có nghe thấy. Cuối cùng nàng kiệt sức, ngã gục xuống và mất đi sau khi vượt qua một dãy núi cao. Nơi nàng nằm xuống mọc lên một cây mang búp trắng như búp tay người con gái. Chẳng bao lâu thì loài hoa ấy mọc lan ra khắp cả núi rừng Tây Bắc. Và hàng năm cứ mỗi độ xuân về hoa lại nở trắng tươi như bông. Người ta đặt tên loài hoa đó là hoa Ban.
Về phần chàng Khum, sau khi về đến nhà, thấy chiếc khăn phiêu của người yêu vắt nơi cầu thang, biết rằng có chuyện chẳng lành, bèn đi tìm nàng. Dò hỏi bà con bên bản người yêu thì biết rằng nàng đã rời bỏ nhà ra đi, nhưng không biết là đi đến nơi đâu? Thế là chàng lên đường tìm người yêu, hết từ bản này sang bản khác mà vẫn không tìm thấy bóng dáng ngừơi yêu. Cuối cùng chàng cũng kiệt sức, ngã xuống. Sau khi chết chàng hóa thành con chim, sống lẻ loi đơn độc trong rừng. Và cứ đến mùa Ban nở thì chim lại hót vang như tiếng gọi người yêu tha thiết từ năm nào.”
Mỗi năm, cứ sang xuân trên khắp các bản làng của người Thái, hoa Ban nở trắng trên các sườn núi thì nam nữ thanh niên trong các bản mường lại rủ nhau đi hội chơi núi, hái hoa mừng xuân. Đây cũng là dịp thanh niên nam nữ vui chơi, ca hát, đánh đàn tính, thổi kèn, múa xòe, trao và đón nhận tình yêu. Từ sáng tinh mơ của ngày hội, trên khắp cá bản mường, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên giục giã, âm vang lan truyền cả núi rừng. Các bếp nhà sàn bập bùng lửa đỏ. Người ta đổ xô luộc gà làm cỗ, nấu xôi, thái măng, mổ lợn. Những vò rượu cần thơm ngon lớn, nhỏ dần được mang ra đãi khách. Đó là những công việc thuộc về phần lớn là những người trung niên và các người già. Sau khi ăn uống no say, những chàng trai, cô gái thì áo quần, khăn váy chỉnh tề, gọi nhau í ới và cùng đổ ra đường dẫn đến những cánh rừng có nhiều hoa Ban nở. Họ chọn những cành hoa đẹp nhất, vừa hé nụ và đều nhất để tặng người yêu và biếu bố mẹ. Theo quan niệm của người Thái, hoa Ban không chỉ tượng trưng cho tình yêu mà nó còn là biểu tượng cho lòng hiếu thuận, biết ơn cha mẹ, ông bà. Trong những măm cỗ đầu năm, người Thái cũng hay cài những cánh hoa Ban đẹp trên bàn thờ, như để bày tỏ lòng biết ơn đối với những bậc sinh thành đã qua đời. Còn nếu là nam thanh nữ tú thì họ kể cho nhau nghe về chuyện tình rất thương tâm về chàng Khum và nàng Ban, và sau đó là những bản tình ca nối tiếp nhau.
Cũng trong ngày hội này, trên dòng Nậm Na, thường diễn ra các cuộc hát giao duyên giữa nam và nữ trên những chiếc thuyền đuôi én. Các cô gái thì duyên dáng cầm ô ngồi ở mũi thuyền bên cạnh những cành hoa Ban trắng tươi thắm vừa mới hái, cất lên tiếng haut những bài dân ca mượt mà, giãi bày cảm xúc và tâm trạng riêng tư. Còn các chàng trai thì ngồi ở đuôi thuyền vừa lái thuyền vừa đánh đàn tán gẫu, thổi sáo. Tiếng đàn tiếng hát cứ quyện vào nhau, trôi theo dòng nước lững lờ đi vào giấc mộng. Nếu thuyền tấp vào bên nào, thì chàng trai cô gái sẽ lên bờ, hòa nhập vào dòng người mà đi vào rừng Ban, cùng ca hát, nhảy múa đón năm mới tốt lành. Những cánh hoa Ban đẹp nhất được chọn riêng, xếp cạnh nhau trên bãi. Thế rồi tiếng khèn và nhip trống cất lên như mời gọi tất cả cùng nắm tay nhau bước vào điệu xòe, cứ mỗi lúc một rộng thêm khi có nhiều người nhập cuộc. Tiếp những điệu xòe vòng, các cô gái với vải lụa đỏ thắm trên vai với điệu xòe khăn, rồi tiếp đến là điệu xòe quạt, xòe nón … cuốn hút mọi người. Cuối phần hội mọi người kéo nhau về nhà trưởng bản để cùng nhau thi uống rượu cần truyền thống.
Người Thái Trắng ở Mai Châu – Hòa Bình lại có thủ tục mở hội xên bản, xên mường vào dịp hoa Ban nở nên còn gọi là hội hoa Ban. Hội tổ chức định kỳ hàng năm, nhưng hội có quy mô to hay nhỏ là tùy thuộc vào thời tiết có liên quan đến sự được hay mất của mùa màng năm đó. Vào khoảng tháng giêng, người Thái cũng rất chú trọng đến tiếng sấm đầu năm . Vì theo quan niệm của đồng bào thì tiếng sấm là dấu hiệu linh thiêng, là “lời phán quyết của vua trời”, có ảnh hưởng đến cuộc sống của bản mường, của mùa màng năm đó. Hội xên bản, xên mường hay chính là hội hoa Ban là hội cầu mùa, cầu phúc của người Thái. Họ gửi gắm những ước mơ lớn lao về cuộc sống thanh bình, ấm no hạnh phúc, đồng thời cũng là dịp vui chơi, là thời điểm để các đôi nam nữ gần gũi, tìm hiểu nhau qua tiếng hát, tiếng đàn, điệu múa ngày xuân.

48. Lễhội gầu tào của người h’mông

“Gầu Tào” là một lễhội chính và đặc biệt quan trọng của người H’Mông trên vùngnúi cao Bắc Bộ. Lễmởra nhằm một trong hai mục đích là cầu phúc và cầu mệnh.Một gia chủnào đó không có con, thưa con hoặc sinh con một bề, sẽlàm lễnhờ thầy cúng bói xincho mởhội Gầu Tào, nhằm cầu mong có con – đó là hội cầu phúc.Một gia chủkhác bịốm đau, bệnh tật, con cái yếu ớt, thậm chí có con bịchết,mùa màng, cũng nhờthầy cúng bói xin mởhội Gầu Tào – đó là hội cầumệnh.
Ngay từcuối tháng chạp, khi được thầycúng bói xin mởhội, giađình mởhội cầu phúc phải xin anh trai, chịdâu (những người có cảcon trai vàcon gái) chặt cây mai cao to, không cụt ngọn, ngọn dài có lá vềđểdựng nêu.Riêng gia chủcầu mệnh, mong mọi người trong gia đình đều được khỏe mạnh, xua hết bệnh tật ốm đau, làm ăn tiến tới thì phải cửhai thanh niên khỏe mạnh trongdòng họchặt cây mai vềdựng nêu. Lễdựng nêu được tổchức từngày 27 đến 29tết. Địa điểm trồng cây nêu cũng là địa điểm mởhội, đó là một quảđồi gần đườngđi, tương đối bằng phẳng, đánh bật gốc cây, dọn sạch các bụi câu lụp xụp. Câynêu được chôn ngay trên đỉnh đồi. Nếu lễhội được chia làm 3 năm (tổchức suốt 3năm) thì mỗi năm chỉdựng một cây niêu bằng cây mai. Nhưng nếu lệhội chỉtổ chức gộp một lần thì phải chôn dựng 3 cây niêu theo hình tam giác cân ởgiữađỉnh đồi. Trên gần ngọn nêu treo 3 miếng vải lanh màu đen, trắng, đỏkhác nhau.Có nơi chỉtreo vải đỏvà đen hoặc chỉvải đỏ. Phía dưới sợi vải treo lung lẳngmột bầu rượu ngon và một dây tiền giấy bằng giấy bản.Khi dựng xong cây nêu, giachủcòn làm lễcúng ởngay chân cột nêu, mời tổtiên các thần phù hộcho có con,mọi thành viên đều khỏe mạnh và làm ăn, làm mặt được suôn sẻ. Khi cây nêu đượcdựng lên, các làng gần làng xa biết rằng năm nay sẽmởhội Gầu Tào. Mọi người nônức chuẩn bịhội. Thời gian mởhội thường là từngày mồng 1 đến 15 tháng giêng.Nếu hội tổchức 3 năm liền thì mỗi năm tổchức 3 ngày liền, hội làm gộp một nămsẽtổchức 9 ngày.
Sáng sớm ngày khai hội, mọi người tụtập đến bãi đấtmởhội. Khắp bãi đã dựng thêm nhiều lều lợp lá cây cho người già ăn uống, chúctụng. Bãi bằng nhất được dọn ra cho trẻem đánh quay. Những cây ống hát đượcchăn lên khắp các triền đồi. Nơi bắn nỏ, bắn cung, sân múa khèn, đường đua ngựacũng được qui định và bài trí đơn giản. Mỗi sân bãi đều đã cắt cửngười quán xử (chủsự). Gia chủlà người có quyền tối cao, thống lĩnh toàn hội. Bên cạnh giachủsẽcó hai đến ba trung niên hay ông già thạo đường ăn nói thay mặt gia chủ giải quyết mọi sự. Nếu gia chủlà người ít nói năng, chậm chạp thì có thểnhờvàủy quyền cho 1 người nào đó thay mặt mình. Ngoài ra còn có xửquan (quản lý)chăm lo việc ăn uống; có quan củi đốt, có quan trông nom xay giã dần sàng cùngvới xửquan. Khi làm những thủtục lễbái trong lễhội thì hầu hết đều dùng từ hoa mỹ, thanh cao, những câu ví mỹmiều, những câu tục ngữkhoa trương. Ngày nayrất ít người biết những câu, bài đó đểsửdụng trong hội. Đối với khách ngoàihọ, đường xa đến thì người đem ống gạo, người thì thồngô, mang hủrượu, ai mangđến đều phải làm lễcầu chúc cho mọi người yên vui, tiếp nữa là cầu chúc cho mùamàng bội thu, lợn gà đầy chuồng, đầy sân. Chủnhà nói lời cảm tạvà ghi ơn longhiếu thảo, hào phóng của khách. Còn người già người trẻ, ai thích chơi trò gìthì đến sân ấy. Đám hội nào cũng đông vui, nườm nượp.
Xửquan cùng giađình gia chủcùng các bậc triết nhân thánh hiền, thầy mo chữsau những cuộc đónkhách trọng thể, họcông bốmởhội bằng một lễnhẹnhàng, rồi đến khai mạc từngđám chơi như: Đám bắn thi cung nỏ, ai thắngsẽđược ban tổchức thưởng 1 bầurượu ngon; Đám chọi quay thu hút hầu hết các em nhỏvà cảnhững người tuổi thanhniên – đây là trò hấp dẫn được nhiều người nhất; các trò đu quay, nhảy ngựa,đánh cầu … cũng rất được ưa thích; Đám múa khèn lại được coi là môn tài tửcaosang nhất, người này vừa biểu diễn xong cùng với những tài nghệnhảy múa củamình thì lại tiếp tục mời mọc người khác vào biểu diễn, cứthếkhông đểchotiếng khèn bịđứt quãng, kết htúc thì người ấy được đón chào bằng những chénrượu với sự trọng vọng khâm phục đặc biệt, đối đáp, trao duyên, hát vui hội hèthường có mặt những thanh niên nam nữđang độsắc xuân là không thểthiếu đượctrong ngày hội. Có nhiều tốp nam nữngồi sau những tảng đá hoặc đứng cách nhaumột khoảng đủxa đểhát đối đáp với nhau. Phương tiện đểhát đối đáp là nhữngchiếc ống pơ, có màng bịt bằng lá mo cây mai, được nối với nhau bằng sợi lanh sethành chỉnhỏ, rồi chuốt óng bằng sáp ong. Hát đối đáp nam nữlà một trong nhữnghình thức vui chơi đặc sắc, trữtình. Thông qua lời hát, các đôi nam nữcó thể thêm hiểu nhau hoặc mượn lời ca tiếng hát đểnói lên lòng mình với người bấy lâumà mình thương nhớ. Mong chờngày hội này mà nhiều cô gái, chàng trai đã chuẩnbịtrước những bộcánh áo đẹp nhất, gói thêm xôi và mèn mén, vượt đường xa đếnhội Gầu Tào chỉđểhát đối đáp, giao duyên. Những người chơi nhịthổi sáo bịt vàsáo lưỡi đồng, gẩy đàn môi thì tùy thích nhập đám hay chơi riêng một mình. Bêncạnh đó, còn rất nhiều trò chơi dân gian diễn ra rất náo nhiệt trong hội, kéodài đến chiều.
Đêm đến, khách xa, người cao tuổi được mời vềnhà giachủ. Tại bãi hội, những đống lửa được đốt lên, mọi người tiếp tục cuộc vui. Ngàyđầu tiên, sau khi làm lễkhai hội, nếu nhà thầy mo ởgần thì mọi người kéo vàonhà thầy làm lễnhảy lửa. Đám nhảy đồng thời cũng sẽtiếp diễn cho đến hết hội.Những năm không có hội, mọi người vẫn kéo đến nhà thầy mo cùng nhảy đồng (nhảytập thểtừng tốp thanh niên nam nữ). Hình thức động tác nhảy rất đơn giản trongtiếng chiêng rộn rã do thầy Mo đánh lên. Chiêng đánh phía sau lưng tốp nhảy.Thông thường lúc đang nhảy có thểvồbắt một người cùng nhảy cho vui. Nhảy đồngmang tính chất của sa man giáo, thực chất nó mang ý nghĩa cầu mong sức khỏe,sinh sản, cầu mong mùa màng tốt tươi, cầu mong đất trời thuận hòa,cầu mong thầnlinh ma quái không gây ra những điều oan trace. Nhảy đồng tựa nhưđược thôimiên, hồn lìa khỏi xác, khiến người ta được bay bổng vào cõi mơ.
Hết thờihạn hội, gia chủlàm lễkết thúc, cây nêu được hạxuống. Thầy Mo đốt quẻgiấy,hốt than cho vào gáo nước, vừa đi vừa khấn vái, thầy lại hấp một ngụm nước phunra xung quanh. Gia chủcầm bầu rượu hạtừtrên cây nêu đi theo sau thầy Mo, cũnghẩy rượu ra khắp nơi. Mảnh vải đỏthì mang vềtreo trong nhà cầu mong hồng phúcđời đời. Trường hợp nếu làhội cầu phúc thì ông chủhội chọn một đôi trai gáiđứng tuổi đông con và họhàng rước nêu vềgia chủ, gác ởđằng sau nhà hoặc làmgiát giường mong sớm có con. Nếu mởhội cầu mệnh thì rước cây nêu đến gác ởchỗ vách đá khô ráo. Hội Gầu Tào của người H’Môngso với các lễhội dân tộc khác cónhững nét độc đáo riêng. Bởi tại lễhội, tất cảtrang phục, ngôn ngữ, nhạc cụ,khoản đãi ăn uống đếu thuần túy H’Mông, không thểlẫn vào đâu được. Có thểxemđây là giá trịnhân bản của văn hóa truyền thống của dân tộc H’Mông, thểhiệnkhát vọng hòa bình,ấm no, hạnh phúc. Nếu có dịp lên thăm Tây Bắc, du khách hãyđến với cuộc hơi xuân độc đáo này của người H’Mông, đểthấy được đất nước mìnhnơi nào cũng có những vẻđẹp thật đáng yêu rất riêng.

49. Lễ hội roóng poọc của người giáy

Trong năm người Giáy có khá nhiều ngày hội, nhưng quan trọng và tổ chức lớn nhất là lễ hội Roóng Poọc của họ. Theo tiếng Giáy thì “Roóng” nghĩa là xuống, còn “Poọc” nghĩa là đồng ruộng, nhưng theo người dân tộc thì “Pọoc” ở đây mang nghĩa là “hội” nhiều hơn, vì ý chỉ có đông người tham gia. Do đó , đây là một lễ hội được tổ chức ở cánh đồng. Trong số những huyện của Lào Cai thì người Giáy tập trung sinh sống nhiều nhất ở Bát Xát và sau đó là các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, thị xã Cam Đường, Sapa rồi đến Than Uyên. Họ cư trú thành luổng (làng), bán (bản) và mướng (mường). Mỗi luống, bán và mướng đều có thờ một vị thần riêng. Họ thường cư trú ở ven sông, ven suối, thung lũng, đồng bằng, ít khi nào ở trên núi cao. Nghề chính của họ là trồng lúa nước, cho nên lịch của các ngày tết đều theo sự phát triển của cây lúa. Hầu như trong suốt 12 tháng của họ đều có ngày tết nhưng để vui chơi đúng nghĩa như hội thì chỉ có tháng giêng, đó là hội “roóng poọc”.
Hội được tổ chức trên cánh đồng trước làng. Cánh đồng đó gần như được quản lý để tổ chức ngày vui cho cả làng. Chủ của cánh đồng đó không được để nước chảy vào hoặc có những hành động nào làm cản trở đến việc tổ chức lễ hội. Hội được tổ chức vào ngày chính tháng giêng (tháng tết), còn nếu vào ngày thìn đầu tháng hay cuối tháng là còn tùy vào kinh tế , xã hội và cả thời tiết. Trước ngày đó thì chủ làng sẽ thông báo cho các gia đình trong làng để họ có sự đóng góp. Trước đây có người đứng đầu làng được gọi là “srú” hoặc “pinh” và có một người làm “rán đău” (người trong nhà của nhà quan), có nhiệm vụ liên lạc ở xã rồi đi báo cho từng nhà và thu những thứ dân đóng góp.
Từ sáng sớm các chức sắc trong làng đến nhà chủ làng để chuẩn bị các đồ cúng thần, câu treo vòng mặt trời (Vòng mặt trời được làm từ tre vót nhọn rồi uốn cong lại thành vòng tròn, rồi sau đó dán giấy xanh, đỏ, vàng xung quanh và mặt trời thì bằng giấy đỏ, mặt trăng bằng giấy màu vàng vào giữa vòng. Sau nữa là cắt con âm dương dán lên mặt trăng. Vòng mặt trời còn có ba tua bằng giấy xanh, đỏ, tím, vàng … Cây treo vòng mặt trời được gọi là “tóng cón” (cột tròn) bằng cây mai dài 10 – 12 sải tay, để cả ngọn, cây đó uốn cong lại để buộc vòng mặt trời. Tất cả lễ vật chuẩn bị đều được đưa ra vào bảy giờ sáng. Đầu tiên người ta đặt bàn thờ cúng thần, trên bàn gồm có : một bát gạo to đặt trên một tấm vải mộc trắng tự dệt lấy; cắm năm nén hương, ba nén sau hai nén trước; Trước bát hương có 5 chén to úp miệng xuống và 5 chén con đặt lên trên 5 chén to đó để rót nước trà hoặc rượu cúng; Hai bên có hai đĩa trứng luộc nhuộm phẩm đỏ, mỗi bên hai quả; Có đĩa đồ trang sức bằng vàng bạc; có đĩa cá rán, hai củ măng vầu, xôi đỏ 7 bát con, 7 đôi đũa, bỏng ngọt 5 bát; một bát nước lã, trong bát ấy có 5 hào bạc trắng để làm phù phép; sáu quả còn của những cô gái chưa chồng, mỗi bên hai quả.
Đằng sau bàn cúng thần đặt một ghế băng, trên đó đặt một chiếc khăn chiên gấp gọn. Hai đầu ghế đặt một gánh cỏ non độ một bàn tay nhỏ, đầu kia đặt một gánh củi cũng độ một bàn tay nhỏ. Sau khi đặt bàn cúng thì người ta thắp hương và tiến hành lễ chôn cột còn. Cột còn được chôn chặt theo hướng của vòng mặt trời quay về đông. Tiếp theo thầy cúng bắt đầu khấn vái để mời thần thánh đến chứng giám. Tiếp theo xin âm dương bằng một đoạn cành đào dài độ một ngón tay trỏ, chặt vắt hai đầu, chẻ đôi, khi xin nếu một mảnh sấp một mảnh ngửa là thần đã đến, còn không thì xin cho đến khi nào được thì thôi. Sau khi mời thần đến rồi thì lấy bát nước trắng trên bàn cúng như đã được thần phú phép vào và đem lợn, gà, vịt ra giết mổ. Sau khi luộc chín chúng thì bày mâm cỗ lên cúng thần. Những chén nước trà cúng ban đầu được thay bằng rượu trắng. Ngoài mâm cỗ chung ra thì nhà nào có điều kiện thì có một mâm cỗ nhỏ riêng, tất cả đều để hướng quay về nơi thờ thần làng, vị thần này được thờ trước hoặc bên sườn của láng chứ không bao giờ thờ sau làng. Thần làng người Giáy thờ gọi là “srảy pướng” – quan làng, là vị thần không xác định. Trong ngày hội này còn có đội kèn “pí lè”, có một trống to làm hiệu thông báo và nhiều trò chơi dân gian khác nữa.
Khi cúng tế trong ngày hội roóng poọc thì thầy cúng phải mặc áo dài cài khuy nách như áo của người Trung Quốc. Người thầy cúng thắp 3 nén nhang, vái 3 lần rồi cắm vào nén nhang rồi bắt đầu đọc bài tế. Sau đó lại gieo quẻ xin âm dương và cúng, nội dung chủ yếu là ước mong cuộc sống sung túc, ấm no hạnh phúc, bảo vệ xóm làng bình yên, lúa cây tốt tươi, trâu bò lợn gà đầy chuồng, cá đầy sông suối, người dân làng không bệnh tật, ốm đau … Xong rồi thầy cúng đốt vàng mã, tất cả các quả còn trong ngày hôm đó được thầy cúng đem vái trước bàn thờ. Thủ tục làm xong thì mời các vị cao tuổi, nam một bên, nữ một bên . Lấy các quả còn đã ra mắt thần ném tượng trưng ba lần. Sau đó thanh niên lấy còn đó để ném thủng vòng mặt trăng và mặt trời được treo trên ngọn cột. Sau khi ném thủng vòng người ta lấy quả còn đó và người ném thủng đứng trước bàn thờ thần vái 3 vái, sau đó thầy cúng sẽ rót 4 chén rượu đỏ mời đôi nam nữ, mỗi người hai chén và thưởng cho mỗi người hai hào bạc trắng. Nếu ném hoài mà không thủng vòng mặt trời và mặt trăng thì phải dùng súng bắn thủng, chứ không cả name sẽ không yên ổn.
Tiếp theo là hội với nhiều trò chơi, kéo co : dây kéo bằng mây, gốc của dây hướng về phía Đông, ngọn hướng về phía Tây. Trước tiên là những người già kéo tượng trưng, phía gốc dây là nam, còn ngọn là nữ. Kéo tượng trung ba lần, sau đó là thanh niên kéo. Kéo phải không để đứt dây, năm nào đứt dây thì năm đó không yên ổn. Sau một hồi kéo, phía đằng ngọn giả vờ thua, phía gốc dây thắng và một người kéo sợi dây mây đó về nhà chủ làng. Kéo xong dây, thầy cúng thắp 3 nén hương và mang 3 tờ giấy vàng đến gốc cột khấn, cắm hương rồi chặt hạ cột xuống. Ngày hội kết thúc và người ta chuẩn bị hai con trâu khỏe với cày để cày tượng trưng cho một mùa vụ mới bắt đầu. Tiếp đó thì mâm cúng của nhà nào nhà ấy mang về, thức ăn sẽ được chia đều cho các mâm, mâm nào không ăn hết, họ lại tự chia đều cho nhau đem về nhà. Trước lúc ăn chủ làng thông báo cho mọi nhà những việc nhớ phải cần làm : cắm chặt cây xanh ở rừng nào, rừng nào được lấy củi, thời gian thu hoạch, chăn thả gia súc …Ai làm trái hoặc không thực hiện sẽ bị phạt. Và như vậy, mỗi năm chỉ có mỗi một hội này quan trọng nên ai cũng tự ý thức lấy việc thực hiện của mình một cách nghiêm túc, người bị phạt không kể thân quen đều bị xử phạt theo quy định.
Hội “Roóng Poọc” của người Giáy là một ngày hội xuân. Theo suy nghĩ củ họ là hội này để kết thúc một tháng vui chơi và bắt đầu vào một mùa vụ mới trong lao động. Đây còn là ngày lễ cúng thần cai quản làng để thần phù hộ cho mọi việc, mọi người trong làng đều bình an, may mắn. Do đó năm nào mà vì lý do gì không tổ chức được thì cứ như năm đó gặp nhiều khó khăn trong lao động và cả sức khỏe con người và có thiên tai nào xảy ra thì họ lại cho rằng không có “roóng boọc”. Người Giáy quan niệm trời là cao nhất, trời sinh ra tất cả lành, dữ, xấu, tốt. Tiên cũng ở trên trời nhưng tiên chủ yếu làm ra điều tốt lành. Thần là ở trần gian, thần là người trực tiếp làm ra những điều lành, dữ, xấu, tốt. Do đó lễ hỗi “Roóng Pọoc” cũng là cúng cả trời, cả tiên và cả thần. Ngày nay nhiều du khách đến với những bản làng của người Giáy vào đúng ngày lễ hội này họ đều cảm thấy rất thích thú khi được cùng tham gia phần hội với đồng bào dân tộc Giáy này đây.

50. Lễhội xuân ba bể

Mùa xuân ởrừng núi đông bắc cũng là mùa cảu các lễhội và cứmỗi độxuân vềtạiHồBa Bểthuộc vườn quốc Gia Ba Bểmột hồnước trong xanh tuyệt đẹp thuộc tỉnhBắc Kạn. Đây là tựnhiên lớn nhất Việt Nam dài khoảng 8km với diện tích 7.610hanằm cách thủđô hà nội 241km và nằm ởđộcao 145km so với mực nước biển. Xungquanh hồlà núi đá vôi, rừng rậm với rất nhiều chim thú tạo nên một khung cảnhthiên nhiên hoang sơhuyền ảo. Gọi là HồBa Bểvì ba hồnước nối liền nhau theothếchân vạc là: PÉ LẦM, PÉ LÙ, PÉ LÈNG ( PÉ thổngữcó ngiã là Hồ). Hôg ba bể có nước thông với nước sông Năng, chi lưu của sông Gâm.
Kèm với khungcảnh tuyệt đẹp là những nét văn hóa nay màu sắc của các dân tộc bản địa ởnơiđây. Vào mùa xuân mọi người đều háo hức tụtập xung quang hồ đểcùng vui chơicầu mùa và gặp gỡnhau.
Hội xuân Ba Bểlà hội xuân lớn nhất lâu đời nhấtcủa vùng và cũng mang đậm bản sắc cua các dân tộc trong vùng. Lễhội Xuân Ba Bể thường diễn ra vào tháng Giêng (Tháng 1 âm Lịch) và kéo dài khoảng 2 đến 3ngày.
Trước ngày xảy ra lễhội mọi người đèu hăng hái cùng nhau chuẩn bị. Thanhniên thì lo dựng trại các hàng hoá phục vụlễhội cũng được mang tới rấtnhiều.
Ngày hội đến đông dảo người dân địa phương đến tham gia lễhộicùng gặp gỡvà trao đổi tâm tình. Nhân dân các vùng latinh cận cũng cùng tớitham gia du khách thậm chí cảdu khách nước ngoài cũng cùng chung vui ngày hộixuân. Tờmờsáng từcác bản của người Dao chênh vênh trên sườn núi những thanhniên nam nữvới váy áo truyền thống đủmàu sắc di chuyển trên những sườn núi như những cánh bườm hướng vềHồBa Bể. Những người già và tree m cũng cùng tham gialễhội. Ngày hội mang đến niềm vui tràn ngập trên khuôn mặt mọingười.
Đầu tiên đó là nghi lễđánh trống đểvào hội. Sau hồi tróng khaihội mọi người nhưdắm chìm trong màu sắc của những trang phục truyền thống củanhân dân vùng núi Đông Bắc này kèm theo dó là tiếng Then với không gian đậm đàbản sắc văn hoá dân tộc. Theo truyền thống thì các khu trại đều trưng bày giớithiệu sản phẩm tiêu biểu của địa phươngmình như: trang phục thổcẩm, các vậtdụng trong đời sống sinh hoạt và lao động. Du khách có thểđén các gian hàng để xem các sản phẩm taoh hình của địa phương và củng có thểmua làm quà lưu niệmvathưởng thức các sản vật địa phương như: Măng khô, nấm hương, mật ong, cơmlam…cùng thưởng thức những quảtrứng luộc nhuộm màu xanh đỏ, ăn bánh Khẩu Thi vàcung thưởng thức rượu Ngô được nấu từmen lá cây rừng.
Tại đây còn diễnra nhièu hoạt động, nhiều trò chơi dân gian cổtruyền như: Múa ký lân, ném còngiao duyên, bịt mắt bắt dê, đấu bóng chuyền, đảy gay, bắn nỏ…là những trò chơithểthao dân gian két hợp với những trò tiêu khiển mới. Và trong lễHội Xuân BaBểthì mọi người nếu tham gia đều không thểbỏqua hội đua thuyền truyền thốngvà chọi bò. Đây là nhữngtrò chơi rất kịch tính và đem lại cho người xem nhiềucảm xúc. Những con bò thua cuộc sẽđược mổthịt tại chỗlàm đồcúng tếcho lễ hội. Mỗi chiếc thuyền đua chỉnhỏvà chỉcó một đôi nam nữtrên mỗi thuyền dự thi. Ngoài ra tại mỗi trại ddeuf có tổchức những trò chơi riêng cho mọi ngườicùng tham gia nhu thi vẽtranh, thi nấu ăn nhanh…
Hội xuân là dịp để chúng ta cùng ôn lại truyền thống, giữgìn bản sắc Văn Hoá Dân Tộc đặc sắc tiêubiểu. Đồng thời cùng nhắnhởmọi người cùng chung tay bảo vệmôi trường sạch đẹpcủa chúng ta. Hội Xuân Ba Bểrất hấp dẫn khách du lịch và gieo vào long du kháchniềm vui và hy vọng vềmột năm mới nhiều may mắn và thành công.

51. Lễ hội yên tử

Núi Yên Tử từ lâu đã nổi tiếng và đi vào đời sống của người Việt Nam tại đây gắn liền với phái thiền tông trúc lâm của Việt Nam. Và gắn liền với tên tuổi của một vị vua đã có công rất lớn để xây dựng văn hóa nước việt đó là Trần Nhân Tông người đã sáng lập ra phái thiền trúc lâm của Việt Nam. đây là phái thiền duy nhất sử dụng tiếng việt để đọc kinh. Đây là điểm đến không thể thiếu của khách hành hương.
Lễ hội Yên Tử diễn ra ở vùng núi Yên Tử này. Nó thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Hàng năm được tổ chức từ ngày 10 tháng giêng kéo dài đến heat tháng 03 âm lịch. Mọi người đến đây để được thể hiện long thành của minh và được tách mình ra khỏi thế giới trần tục đây được xem là thánh địa là vùng đất linh thiêng:
Trăm năm tích đức tu hành
Chưa lên yên tử chưa thành quả tu.
Núi yên tử là một quần thể rộng lớn. Có khoảng 11 chùa và hàng trăm am tháp. Những ngôi chùa, những am tháp đều gắn với những câu truyện rất sâu lắng về Trần Nhân Tông và về phái Thiền Trúc Lâm.
Mọi người tử mọi miền của đất nước về đây để bày tỏ long thành của mình đối với nhà phật. Đến đây chúng ta có thể leo dọc theo sườn nuí tuy meat nhưng cứ đến mội điểm dừng chân chúng ta lại được ngắm nhìn những ngôi chùa và tháp nó giống như là những thành quả bù đắp cho sự cố gắng của ta. Những ngôi chùa, tháp với kiến trúc cổ vẫn đứng đó bề thế giữa thiên nhiên u tịch. Có đến vài km đường bậc thang quanh co ấy vậy mà bất cứ ai khi tham gia vào lễ hội cũng đều rất hăm hở. Người đông chật kín cả lối đị. Người trẻ thì dìu người già đi, người lớn dìu con nít. Mọi người xa lạ nhưng bỗng trở nên thân thiện với nhau như đã quen từ trước. Tuy đường dốc như vậy nhưng nhiều người còn gánh theo nhiều đồ cúng lễ để thể hiện long thành của mình. Khi lên tới các ngôi chùa mọi người nghiêng mình cầu khấn, cầu cho gia đình cho bản thân và cho bạn bè. Có nhiều gia đình mang theo cả chiếu và long thực lên và nghỉ ngơi lai thềm chùa. Nhang khói nghi ngút. Người tham gia lễ hội thì bày tỏ tấm long thành của mình còn các thấy tu thì đọc kinh cầu phúc cho mọi người (đọc bằng tiếng Việt không đọc kinh bằng tiếng hán hay tiếng phạn như những nơi khác).
Ơ trên đỉnh núi cuối cùng của con đường là ngôi chùa đồng uy nghi. Đây là một ngôi chùa được làm tất cả bằng đồng vừa mới khánh thành và cũng được công nhận là kỷ lục của Việt Nam. Ai đã từng đến Yên Tử cũng muốn ít nhất một lần được tới chùa đồng để cầu khẩn thắp nhang.
Đến với Yên Tử con người như được đối diện với chính bản thân mình. Mọi tội lỗi, khúc mắc đều có thể được cởi mở tụ nhiên để hoàn thiện bản thên con người hướng bản thân tới cái é«t đẹp hơn. Vì vậy mà rất nhiều các phật tử hàng năm vào mùa lễ hội về đây để hành hương. Đối với Yên Tử chủ yếu ở nay là phần Lễ với cá nghi Lễ Của nhà Phật. Như thờ cúng, đọc kinh, cầu siêu, cầu may….
Cong phần gội thì dường như không nhiều họ chỉ cùng gặp nhau cùng có tinh thần hướng thiện và mong muốn cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Ngoài những Phật tở cũng có rất nhiều rất nhiều du khách đến để chiêm ngưỡng cảnh núi non huyền ảo nơi đây họ đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên, tìm vẻ đẹp trong nghệ thuật của chùa cổ, tượng cổ và lắng nghe tìm hiểu thêm về nhà phật. Bởi vậy vào mùa lễ hội thì Yên Tử lúc nào củng tấp nập người qua lại. Đậy thựa sự không chỉ là điểm đến của khách hành hương mà còn là một danh lam thắng cảnh thu hút khách du lịch. tuy nhiên qua trình đưa vào khải thác cần chú ý nhiều hơn đến giữ gìn cảnh quan và sự tôn nghiêm của nơi đây.
Khách du lich cang đông, người cang đông thì càng phức tạp và khó quản lý.
Nếu làm tốt thì nơi này sẽ giữ được vẻ đẹp của mình còn nếu không can thẫn dễ làm mất đi một cảnh quan thiên nhiên một điểm du lịch hấp dẫn.

52. Lễ hội lồng tồng

Lễ hội lồng tồng là lễ hội của người Tày mang đậm bản sắc văn hóa bản địa.
Lễ hội này thực sự thu hút được dự quan tâm của mọi người. Tuy là lễ hội các người Tày ở Việt Bắc nhưng có đông đảo các dân tộc khác cùng tham gia bởi không khí đầm ấm hòa đồng vui tươi mà lễ hội tạo được.
Hàng năm vào đúng mùa xuân và sau ngày tết nguyên đán ngày mùng 03 tháng giêng người Tày ở vùng núi đông bắc lại nô nức chuẩn bị cho lễ hội lồng tồng. Lễ hội này diễn ra từ các bản Tày này đến bản Tày khác. Những năm gần đây lễ hội thường được tổ chức lớn tại xã Phù Đình trung tâm an toàn khu ATK thủ đô kháng chiến xưa của người Cách Mạng thuộc huyện Định Hóa (Thái Nguyên) nơi có đông đảo đồng bào dâm tộc Tày sinh sống nhất. Nhân dân từ khắp nơi từ các tỉnh lân cận trong vùng thậm chí từ Hà Nội từ miền Trung Nam và cả du khách quốc tế cũng muốn về đây để được hòa mình vào lễ hội và xem những nét đẹp văn hóa của các dân tộc vùng núi đông bắc nói chung và của người Tày nói riêng.
Cũng như những lễ hội khác, lễ hội lông tồng bao gồm hai phần phần lễ và phần hội.
Phần Lễ bắt đầu bằng Lễ cầu mùa, cầu cho mùa màng tươi tốt, bản làng no ấm hạnh phúc. Thần nông phù hộ cho dân làng ăn nên làm ra. Dân tộc Tày sống ở trung du miền núi và sống phụ thuộc nhiều vào nền nông nghiệp lúa nước. Giữa không khí se lạnh mùa sương người Tày đọc tiếng gọi cầu mùa:
“Hua pi mà tềnh chút cai hương
Ấu bân mừ khắp ti hà phương
Cằm so phuâm tém thấu buôn đin
Phúc lồng tằng dân rọi tằng tời”
Có thể dịch ra là:
Đất thánh đầu xuân đốt nén nhang
Khói dâng lễ vận khắp muôn phương
Biệm cầu thần chú thông thiên địa
Phúc xuống toàn dân rọi muôn phương
Sau lễ cầu mùa là lễ Kỳ Yên, người dự hội nô nức kéo nhau ra khu ruộng và một lão nông ra đánh côn trâu cày khai trương những đường cày đầu tiên cho năm mới . Đây là mộtt nét tâm linhtheo tín ngưỡng phồn thực của bà con.(cầu mong sự sinh sôi nảy nở cho năm mới)
Sau phần lễ trang trọng mợi người bước vào phần hội với tâm lý náo nức và vui vẻ. Với rất nhiều rất nhiều các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc như chơi ném còn: trên một cây sào 10m có treo một trung tâm là một vòng trong nhỏ sau đó có đến hàng ngàn quả còn của nam thanh nữ túi được quăng lên không và hướng vào trọng tâm. Và cuối cùng chỉ có hai ngời được chọn làm người thắng cuộc tuy vậy mọi người đều rất hăng hái tham gia, những trái còn ném trúng đồng tâm thi về ban tổ chức nhận thưởng và trở thành vật thiêng liêng lúc đó có nhiều du khách được những người chủ tặng cho những trái còn này.Trái còn ném trúng đồng tâm đượ xem như là báo hiệu sự may mắn và được mùanăm nào cũng vậy cứa khoảng năm đến sáu phút trước giờ khai cuộc là có người ném trúng trọng tâm. Ngoài ra còn có những câu hát dao duyên, bằng tiếng Tày đặc sắc thể hiện tâm trạng của chững người đang yêu nhau và nhớ về nhau.
Nhớ chàng cơm chẳng buồn ăn
Ao chẳng buồn mặc, nằm lăn giữa nhà.
Nhớ cưm chẳng buồn nhai
Đặt đũa thở dài, uống nước cầm hơi.
Nhớ chàng chẳng biết làm sao
Giả cách đi chợ, mua dao về cầm.
Các cô gái chàng trai Tày hát trao duyên cho nhau, họ mặt những bộ trang phục truyền thống sặc sỡ đủ màu sắc như những con bướm khoe sắc trên núi.
Ngày nay lễ hội lồng tồng còn kết hợp những trò chơi dân gian với hiện đại thêm phần đa dạng và phong phú như: múa sư tử, múa lân, cắm trại, chọi gà, kéo co, đi cà kheo đánh đu, nay gay… mọi người khi tham gia đều có cơ hội để chơi những trò chơi cộng đồng hết sức vui nhộn. Đặc sắc nhất có phần thi ẩm thực với hàng chục món ăn hấp dẫn như: sôi đỏ đen, bánh trưng cảu tày….Có nhiều du khách năm nào cũng tham gia lễ hội Lồng Tồng này.
Kết thúc lễ hội mọi người trở về nhà ai nay đều trong tâm trạng hân hoan họ đều học tập và tìm hiểu được điều gì đó trong lễ hội này và mang theo mình một niềm cho vụ mùa tới một năm làm ăn thật thành công
Có thể nói lễ hội Lồng Tồng thực sự đã là một truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng núi Đông Bắc Bắc bộ. Ở đây mọi người xích lại gần nhau hơn. Họ có nhiều dịp để vửa thả sức vui chơi ca hát và giải trí. Họ không còn Quan tâm đến những toan tính nhọc nhằn của cuộc sóng thường ngày nữa. Đây cũng là nơi để thanh niên nam nữ gặp gỡ và tìm hiểu nhau để rồi họ sẽ chọn cho mình người bạn đời phù hợp để chung sống hạnh phúc.


Lễ hội Lồng Tồng thực sự là một điều kiện một cơ sở rất tốt để thúc đẩy phát triển du lịch ở đây.

53. Hội chùa hương

Thờ : Đức Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Thế Am
Mẫu Tứ Phủ, thờ tổ tiên, sùng bái nhiều thần.
Thời gian: Từ 6 tháng giêng đến 15 tháng 3.
Chính hội: Từ 5 dến 10 tháng 2.
Địa điểm: xã Hương Sơn, Huyện Mỹ Đức.
Đặc điểm: Hội dài nhất nước về thời gian, rộng nhất nước về không gian, đến bằng 2 tuyến đường bộ và thủy.Có hội bơi thuyền và leo núi, thắng cảnh Hương Sơn, di sản văn hóa,các đặc sản như gậy leo núi, rau sắng, quả mơ.
Đối với người Việt Nam dù ở đâu, đã như thói quen, mỗi mùa xuân thường hướng về chùa Hương như hướng về miền đất chứa nhiều điều tốt lành bình dị cho mỗi người hành hương đến đó.Vì vậy khách thập phương trong và ngoài nước đã náo nức đến đây với niềm thầm kính của một tín đồ, hoặc niềm khao khác thưởng ngoạn thắng cảnh kì vĩ hiếm hoi.
Hội chùa diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Hương Sơn là xã núi, dân số chừng 1,2 vạn người, chiếm diện tích khoảng 30km2, trải 6km, rộng 5km, nằm ven sông Đáy, bên dãy núi đá vôi Hương Tích.Trên miền núi, những cánh đồng màu mở rộng thông ra 1 châu thổ. Cảnh thiên nhiên thật thơ mộng , ảo huyền.
Không giống nơi nào, chùa Hương là tập hợp nhiều động, nhiều chùa với kiến trúc kết hợp vừa thiên nhiên vừa nhân tạo, gồm nhiều rừng cây, động, đồi, hang, khe suối.
Hành hương tới chùa có thể đi bằng đường bộ và đường thủy
+ Đường thủy: Khách bắt đầu từ Phủ Lý đi Đục Khê. Đây là hành trinh đầy lý thú và nhàn hạ của một thời đã qua. Lên đường từ Hà Nộ buổi trưa bằng ô tô khách, về phương nam, 57km theo quốc lộ 1 tới thị xã Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) vào cuối chiều, vừa kịp chuyến đò dọc trên sông Đáy.
+ Đường bộ: Hà Nội lên xe khách thẳng tới Đục Khê.Xe thuê chuyến ngay tại thủ đô,hoặc vào bến xe ô tô thị xã Hà Đông ( tỉnh Hà Tây ). Hằng năm, khách thập phương hành hương suốt mùa hội có tới cả chục vạn người.
Không giống các danh lam khác, bố cục động chùa trong quần thể thắng cảnh Hương Sơn này gồm 3 cụm hang động, đi theo 3 tuyến đường, lấy bến đục làm nơi xuất phát.
Ngày nay, hội chùa mở sớm hơn. Người ta chọn ngày mùng 6 tháng giêng để khai hội. Đây vốn là ngày tổ chức lễ khai sơn là nghi lễ nông nghiệp của người Việt cổ tạ thần núi , tạ chúa sơn lâm, mong trong năm gặp nhiều mai mắn….Nay lễ này vẫn còn ở vùng người Mường. Với cư dân đồng bằng, lễ khao sơn biến dạng thành lễ hạ cây nêu ( mồng 7 tháng giêng).
Mâm lễ của làng Yến Vĩ dâng sơn thần phải có một mặt lợn cạo sạch để sống, còn làng Phú Yên là con chó thui, nếu không có chó thì thay bằng lợn .Đây là những thứ sơn thần thích ăn. Sau phần nghi thức cúng tế, làng Yến Vĩ cử 1 cụ ông ( vợ chồng ăn ở thuận hòa, con cái đủ mặt trai gái), vào rừng cầm dao chặt đứt một cành cây. Sau lễ khai sơn 2 thôn chính thức đi rừng. Mồng 6 tháng 1 khai hội, khách đến đông đúc.
Mở đầu là lễ dâng hương tưởng nhớ tới vị tướng của vua Hùng, do nhà chức trách địa phương đảm nhiệm.Nhân dân tổ chức múa rồng ở sân đền Trình, bơi thuyền múa rồng trên Suối Yến, ngày cao điểm là ngày khánh đản đức Quan Thế Am, ngày sinh bà chúa Ba ở chùa Hương.
Trẩy hội theo 3 tuyến:
- Tuyến Hương Tích : Đây là hướng chính, bao giờ trước hết khách cũng phải tới Hương Tích, vì mục đích chuyến đi, vì nội dung tôn giáo, vì thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên cùng những tạo tác văn hoá do con người bồi đắp.
Ngồi đò, theo dòng suối Yến một đoạn , khách lên thăm đền Trình dưới chân núi Ngũ Nhạc với ý nghĩa khi vào trình Phật, sau đó đi tiếp và bắt đầu chiêm ngưỡng núi non ở 2 bên bờ suối. Núi Vẹo, núi Phòng Sư, chùa Đống Lúa, Thung Dâu, Núi Phượng, núi Quy, chùa Thanh Sơn, núi Con Gà….Thắp hương lễ Phật xong, khách leo núi tiếo tục hành trình. Lên chùa Tiên , qua chùa Giải Oan , Đền Cửa Vọng( đền Trấn Song) là tới Động Hương Tích ( còn gọi là động Hương Sơn) tức là chùa Trong, nơi cần đến và mở đầu cho cuộc hành trình chính thức.
- Tuyến Tuyết Sơn : Đò cũng xuất phát từ bến Yến, đưa khách đến thăm đền Trình cùa làng Phú Yên, ngắm nhìn núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng…đến bến Tuyết sơn thăm chùa Bảo Đại, rồi leo núi đến Bạch Tuyết Môn, thăm điện Cô và dừng lại ở chùa Tuyết Sơn , còn mang tên là động Ngọc Long.
- Tuyến Long Vân :Đò cũng xuất phát từ bến Yến , đi thăm đền Trình (Phú Yên), rồi rẽ sang 1 nhánh của suối Yến để đến chùa Long Vân tiếp theo là vào động Long Vân.Đi nữa là tới chùa Cây Khế và đặc biệt được tham quan hang Sũng Sàm, một di tích khảo cổ quý, chưa chính thức khai quật, nhưng rải rác đó đây, các nhà khoa học đã tìm thấy di vật của người cổ.
Song sự hấp dẫn của Hương Sơn không chỉ là vẻ bề ngoài, mà là vẻ đẹp giàu triết lý dân gian của các hang động. Hóa công đã khéo tạo ra ở vùng này. Những dãy núi gồ ghề bên cạnh sự mềm mại, long lanh của các dòng suối, sắc xám xanh già dặn , dãi dầu của đá trải ra bên màu xanh non to của cây lá. Quần thể núi non tạo ra những dáng hình kỳ thú. Gặp tiếp một dáng núi tựa 2 con rồng đá tranh hòn ngọc Oc ở cánh đồng Đục Khê. Núi nổi lên trên đồng nước gần đền Trình tạo hình 4 con vật tứ linh.
Ở Hương Sơn chùa thường đi liền với hang động nên còn gọi là Chùa Hang ( chùa trong hang 0; chùa Tuyết Sơn, chùa Cá, chùa Cây Khế, chùa Hinh Bồng.Trong tất cả hang động , nổi bật hơn cả là chùa – động Hương Tích.
Động Hương Tích đã to và rộng, qua hàng triệu năm, những giọt nước từ trên núi đá vôi rơi xuống tạo thành những nhũ đá có hình kỳ lạ. Người xưa gọi động Hương Tích là miệng con rồng. Năm Canh Dần (1770) Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm tuần thú qua đây đã đề thơ ở động chùa Tiên, sau khi lên thăm động Hương Tích đã khắc bút 5 chữ: “ Nam Thiên Đệ Nhất Động”. Điều này chứng tỏ từ hơn 2 thế kỷ trước đây non nước Hương Sơn nổi tiếng. Do đó du khách đến với chùa Hương nhiều mục đích khách nhau nhưng sâu sắc nhất vẫn là đến chùa đồng nghĩa là đến cái đẹp, phản ánh sự khao khát của con người vươn tới giá trị của thẩm mỹ để hoàn thiện bản thân. Yếu tố này tạo nên sắc thái văn hóa du lịch của hội chùa Hương.
Tìm ra động Hương Tích, dựng Thảo Am Thiên Túc là 3 vị hoà thượng kế tiếp nhau thời vua Lê Thánh Tông sau đó. Vào nửa cuối thế kỷ 17, thời Lê Trung Hưng, hoà thượng Trần Đạo Viên Quan Chân Nhân đã chấn hưng cõi Phật Hương Sơn. Cho đến đầu thế kỷ 20 còn khu thắng cảnh hương tích đã như hoàn tất với trên 100 nóc chùa trong đó có những ngôi có kiến trúc quy mô lớn nghệ thuật tinh xảo như Toà Tam Bảo, nhà Tổ ở Thiên Trù.
Vào Động Hương Tích bái lễ trước phật đài trong hương khói lan toả làm trở nên huyền ảo du khách còn được chiêm ngưỡng pho tượng Đức Bồ Tát Quan Thế Am tuyệt mỹ và biết thêm một Phật thoại cảm động: Bà vốn là công chúa Diệu Thiện con vua Diệu Trang Vương nước Hưng Lâm. Bà tu hành 9 năm ở Động Hương Tích, đắc đạo trở thành đức bồ tát quan thế âm, trở về diệt trừ cái ác báo hiếu cha mẹ phổ độ chúng sinh. Đời sau dân chúng quý mến suy tôn là bà chúa ba vì bà là người con thứ ba.
Theo người dân địa phương ở đây vì bà quyết chí tu hành không nghe lời vua cha nên bị vua sai lính giết mãnh hỗ đã cõng bà vào núi Hương Sơn. Ban đầu bà tu ở chùa Hoả Quan rồi bà lên núi để tịnh tâm tu hành ở Động Tuyết Sơn. Ít lâu sau bà lên hướng bắc tu ở động Hương Tích. Có cụ kể rằng mãnh hổ chính là thần linh do Ngọc Hoàng phái xuống để cứu bà. Chỗ bà tới đầu tiên là Hang Thánh Mẫu, còn gọi là Am Phật Tích tương truyền trong hang còn dấu chân bà in trên đá. Am Phật Tích dấu tích nhà phật có tên tứ đó. Bà tìm đến vũng nước trong hang tắm gội để rửa nỗi oan ức nơi trần thế. Và hiện nay nơi đó được gọi là Chùa Giải Oan, có Giếng Giải Oan, phía trước có dòng suối gọi là Suối Giải Oan. Truyền rằng về sau ai oan ức điều gì đến đây lễ Phật uống nước giếng giải oan coi như được giải nỗi uẩn khúc riêng tư.
Ngoài ra ở Hương Tích còn có 5 pho tượng bằng đá trắng đặt trong Động Chùa Tiên theo văn bia ở núi Tiên thì tượng được tạt vào năm Đinh Mùi 1907, thể hiện cảnh sum vầy của gia đình bà Chúa Ba sau bao nhiêu năm phân ly đau khổ. Bà chúa Ba ngồi giữa, phía sau là bố mẹ, phía trước là 2 chị. Chị cả Diệu Thanh cưỡi con sư tử xanh, chị hai Diệu Ân cuỡi con voi trắng. Dựa vào Phật thoại những người thợ Hà Nam tạo nên những tác phẩm nghệ thuật trên.
Vì thế đến với Hương Sơn là cuộc hành hương vào nơi tu hành đắc đạo của bà Chúa Ba cũng là bước vào cõi phật nên cách ứng xử cũng theo đúng tín đồ đạo phật. Người ra vào, lên xuống chùa gặp nhau đều chào hỏi nhau bằng câu “ A di đà phật”. Theo dân chúng ở đây vì đây là nơi đất phật nên không gọi là đi du lịch chùa hương mà gọi là “đi trẩy hội Chùa Hương” hay “đi hành hương trên đất Phật”
Tín ngưỡng thờ mẫu là một trong những tôn giáo sơ khai thờ nữ thần của người Việt, mẹ là nguồn gốc do đó biểu tượng của sự tồn tại và sinh sôi. Cho nên mẹ là đáng kính, ai thành tâm và cầu đến mẹ thì sẽ làm ăn may mắn gia đình hạnh phúc.
Ở chùa Hương, tín ngưỡng thờ Phật là chính, song cũng không phủ nhận tín ngưỡng Tam Phủ Thờ Mẫu. Sự liên kết này dẫn đến hoạt động tôn giáo phức hợp phật và mẫu tồn tại dưới một ngôi nhà, mái chùa. Quan sát phẩm vật dâng cúng cũng đủ hiểu : chỗ này vùng hoa quả cúng phật chỗ kia lại bày xôi thịt thờ thánh mẫu vào động hương tích nơi bà chúa Ba chín năm khổ luyện phật hiện thân trong tín ngưỡng thờ đá, dân quen gọi Bụt Mộc. Ví dụ người buôn bán mong sao có lãi có lời tiền nhiều thì cầu “cây vàng cây bạc” , ai mong sinh con trai thì “ xoa đầu núi cậu”, ai mong sinh con gái thì “xoa đầu núi cô”.
Hiện thực trên đây cho thấy theo văn hoá nhân gian, hội Chùa Hương mang màu sắc cầu may “ của cải, làm ăn, con cái”…Bởi vậy xét đến cùng thì hội chùa Hương đã dung nạp nhiều yếu tố tôn giáo, đáp ứng lòng mong mỏi của cư dân Việt.
Hội Chùa Hương Nơi Hội Tụ Các Văn Hoá Sinh Hoạt Dân Tộc Độc Đáo
1 Ngày hội bơi thuyền
Nét độc đáo ở đây là thú vui ngồi thuyền như lạc vào cõi phật vì cả ba tuyến đường đều sử dụng dòng nước để tạo cảm hứng cho người đi hội. Nói đi Chùa Hương là nghĩ đến con đò, một dạng văn hoá thuyền của cư dân Việt Cổ.
2 Ngày hội leo núi
Rời con thuyền giả từ sông nước chúng ta hoà nhập vào núi non thăm viếng chùa chiền thắp nén hương kính Phật ở chùa ngoài và bắt đầu cuộc hành trình leo núi. Leo núi hương sơn dẫu mệt mà vẫn say bởi có cảnh, có người, có không khí hội nên ai cũng thích thú cuộc chơi sông núi của mình.
3 Ngày Hội Của Các Chiếu Hát, Chèo Đò, Hát Văn
Hát chèo đò được thực hiện ở bất cứ chỗ nào đông vui hơn cả là ở sân chùa, sân nhà tổ các vãi trẻ đứng dậy làm những động tác như chèo đò và hát những đoạn “văn lục bát”. Nội dung liên quan đến tích nhà phật gọi là kể hạnh. Ơ những nơi này có hầu bóng kèm theo múa rối, hát văn . thầy cúng hát có trống chầu, nhạc cụ đệm có đàn đáy, sáo, nhị hồ hoà tấu theo.
ĐI HỘI CHÙA HƯƠNG CHIÊM NGƯỠNG NHỮNG DI SẢN VĂN HOÁ ĐẶC SẮC.
Đáng chú ý là quả chuông đúc thời Tây Sơn, niên hiệu cảnh thịnh năm thứ 2 – 1793 trước treo trong động thiên tích nay treo ở nhà cổ thiên trù, văn khắc trên chuông cho biết công lao của nhà sư hải viên đi phổ khuyến thập phương đúc nên chuông cao 1,2m, đường kính đáy 0,56m. Thân chuông có gờ chia làm 4 múi. 4 góc nổi lên 4 núm chuông, chung quanh núm là hạt tròn trông như hình bông hoa cúc những hạt tròn đó biểu tượng cho những hạt mưa.
Ngoài ra còn có một số cổ vật bằng đá, điển hình là bia đá. Loại bia dẹt, bia trụ( tứ trụ, lục trụ…) bia mai nhai khoảng 600 bia trong đó bia cò niên đại sớm nhất là “ thiên trù tự bi ký” nay là bia lớn được chạm trổ công phu thể hiện cuộc sống dân dã lên mặt bia qua hình tượng cua, voi, trâu, vịt…
Một kiến trúc cổ còn sót lại là toà Viên Công Bảo Tháp ở vườn tháp gần suối điện trong khu vực chùa ngoài. Tháp này được xây dựng từ thế kỷ thứ 17 nơi hoàn hài cốt của nhà sư viên quan có công phục hồi lại Chùa Hương sau nhiều năm hoang vắng. Tháp Viên Công xây bằng gạch tốt, màu đỏ hồng dể lộ thiên. Từ xa nhìn vào tháp như cây bút hồng ngọn vút lện trời. Tháp chia làm 4 tầng, tầng 2 và 3 có mái đón, 4 góc vương cong lên trời 4 đầu đao.
Trước sự ngưỡng mộ động hương sơn của du khách trong và ngoài nước. Năm 1986 tại Chùa Thiên Trù đã hoàn thành lại các góc chuông kiểu dáng mới di chuyển từ gác chuông chùa Ngăm, huyện Ứng Hoà về. Gác chuông là một khối gần như vuông, cao 8,2m dài 9,2m, rộng 7,8m. cấu trúc gồm 4 cột cái ở trong đỡ 3 tầng mái. Từ dưới sân chùa trông lên gác chuông như một bông sen cách điệu nhiều cánh.
Tổng thể thắng cảnh chùa hương còn là biểu hiện của sự hoà hợp tự nguyện của tôn giáo chính thống và tín ngưỡng nhân gian tạo nên mỹ cảnh hồn nhiên và như để hoàn thiện nhu cầu con người trong đời thường cũng như “ bay bổng trong lễ hội”
Trẩy hội Chùa Hương là hành động giải toả, hoà hợp giữa thực và mơ, tiên và tục thực là nền tảng, mơ là ước vọng trên cái nền mùa xuân tươi sáng, mà con người Việt Nam chất phát, nhân ái thuở xưa cảm nhận và trao truyền…

54. Lễ hội đền hùng

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”.
Vậy giỗ tổ ở đây là gì?- là Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội đền Hùng. Đây là dịp để nhân dân cả nước lại hướng về cội nguồn dân tộc, tưởng niệm và ghi nhớ công lao tổ tiên, thể hiện tình cảm sâu đậm. Điều này đã trở thành truyền thống “ uống nước nhớ nguồn”, ghi nhận công lao to lớn của các vua Hùng đã có công dựng nước Văn Lang- nhà nước đầu tiên của người dân gốc Việt.
Sau Cách mạng Tháng Tám, kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, năm nào Nhà nước cũng tổ chức lễ hội Đền Hùng và lễ dâng hương tại Đền Thượng. Hầu hết các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đã đến thăm viếng mộ Tổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đến thăm Đền Hùng. Ngày 19 tháng 9 năm 1954, Bác lần lượt đi thăm khu di tích, viếng mộ Tổ và Đền Giếng, gặp gỡ và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên phong trên đường về tiếp quản thủ đô:
"Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".
Từ nhiều đời nay, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đã luôn hướng tới một điểm tựa của tinh thần văn hoá - đó là lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương, được tổ chức từ ngày mồng 8 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm. Nhưng phần lễ chính được diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3. Điạ điểm tổ chức ngay tại đền Hùng- thôn Cổ tích, xã Hy Cương, Huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), Giỗ Tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức.
Việc tổ chức lễ hội Giỗ Tổ rất chặt chẽ, bao gồm hai phần: lễ và hội.
Phần lễ được duy trì trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng.

Lễ hội được tổ chức rất đông vui, có khoảng 40 làng lân cận cùng tham gia rước kiệu từ đình làng mình tới chầu tại chân đền. Mỗi lễ vật được đặt trên kiệu đều có một ý nghĩa nhất định, có liên quan đến từng sự tích vào thời vua Hùng; chẳng hạn như : Lễ vật của đám rước thường có voi( nan); ngựa ( gỗ)- với ý nghĩa muôn loài quy phục vua Hùng, đồng thời cũng là tượng trưng cho việc Sơn Tinh mang lễ vật đến cầu hôn Mỵ Nương. Đám rước cỗ chay và mâm ngũ quả không được thiếu cùng với lễ vật là bánh chưng, bánh giầy để nhắc lại sự tích Lang Liêu, cũng là nhắc nhở công đức các vua Hùng đã dạy dân trồng lúa. Nhưng không chỉ có đủ lễ vật đã là đạt giải mà còn phải căn cứ vào một vài yếu tố khác như : kiệu phải đẹp, sang ( sơn son, thiếp vàng), quân cờ, quân kiệu phải đủ đồng phục và rước lên núi vẫn giữ được thăng bằng và đồng bộ giữa kiệu, tàn, tán, lọng; không xô nhau hoặc lúc nhanh lúc chậm! Đó là những chuẩn mực để ban giám khảo chấm giải. Kiệu nhất của năm nay thì năm sau sẽ được rước lên đền Thượng. Còn kiệu năm nay được rước là kiệu của làng năm ngoát đạt giải. Điều này tạo nên sự thường xuyên cố gắng của các làng về ý thức với Tổ và tạo nên sự long trọng và tôn nghiêm của ngày giỗ.
Nghi thức dâng hương hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc,... được tổ chức long trọng tại đền Thượng. Từ chiều ngày mồng 9, làng nào được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật. Sáng sớm ngày mồng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở một địa điểm tại thành phố Việt Trì, có xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành tới chân núi Hùng. Các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau kiệu lễ, lần lượt lên đền theo tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước thềm của “Điện Kính Thiên”, đoàn dừng lại, kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Một đồng chí lãnh đạo tỉnh (năm chẵn là nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hoá), thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc căn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được hệ thống báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước có thể theo dõi lễ hội Đồng bào dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho con cháu.
Phần hội diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đền, chùa và dưới chân núi Hùng. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá hơn xưa. Các hình thức văn hoá truyền thống và hiện đại được đan xen nhau. Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn thể,.... Tại khu văn thể, các trò chơi văn hoá dân gian được bảo lưu có chọn lọc như: đu quay, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, kéo lửa nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người).... Có năm còn diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, “Rước chúa gái”, “Rước lúa thần” và trò “Trám” tại khu vực hội. Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, kịch nói, hát quan họ,... Hội ngày nay chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hoá giữa các vùng. các nghệ nhân người Mường mang đến lễ hội thanh âm của tiếng trống đồng một thời dóng trên đỉnh núi Hùng, gọi mặt trời làm mưa, làm nắng thuận hoà, cho mùa màng tốt tươi, muôn dân hạnh phúc. Những làn điệu Xoan - Ghẹo với lời ca tinh tế, mượt mà đã đem tới cho lễ hội đền Hùng một nét đặc trưng, thấm đượm văn hoá vùng Trung du Đất Tổ. Một điểm quan trọng nằm ở giữa trung tâm lễ hội là nhà bảo tàng Hùng Vương, ở đây lưu giữ vô số những cổ vật đích thực của thời đại các Vua Hùng.
Thời đại của chúng ta ngày nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sự cao đẹp của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương. Hàng năm, ý nghĩa tâm linh của cuộc trẩy hội về Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nếp sinh hoạt truyền thống không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần tín ngưỡng của người Việt Nam. Không phân biệt già trẻ, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt tôn giáo.... Tất cả những người con đang sống trên mọi miền Tổ quốc, những người con xa xứ đều bình đẳng về mộ Tổ, thăm đền và dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương.

LỂ HỘI TRÊN THẾ GIỚI

1.                 Ngày LễTình Yêu

Có rất nhiều ý kiến và tranh luận về xung quanh nguồn gốc Valentine. Một số chuyên gia cho rằng nó được khởi nguồn từ thánh Valentine, một người La Mã đã tử vì bỏ đạo thiên chúa. Ông mất ngay 14/2 năm 269 trước công nguyên, đúng vào ngày mà trước đây người ta gọi là ngày may rủi của tình yêu. Truyền thuyết cũng kể rằng thánh Valentine đã đễ lại một bức thư ngắn để tạm biệt con gái của người cai ngục mà trứơc đó đạ trở thành bạn của ông. Bức thư ký tên ông và đề phía dưới “Valentine của em”. Có một số chi tiết khác cũng cho biết rẳng thánh Valentine là thầy tu dưới điện thờ của chúa Claudies.nBạo chúa Claudies sau đó đã tống ông vào ngục vì ông đã dám thách thức ông ta. Năm 496, TCN, Giáo hoàng Glasius đã quyết định lấy ngày 14 tháng 2 để tưởng nhớ tới thánh Valentine. Dần dần, ngày 14 tháng 2 đã trở thành ngày trao đổi thông điệp của các bức thư tình yêu và thánh Valentine đã trở thành vị thánh bảo trợ của các đôi tình nhân. Người ta kỷ niệm ngày này bằng cách gửi cho nhau nhiều hoa và kẹo. Thông thường người ta cũng tổ chức một buổi gặp gỡ bạn bè hoặc một buổi khiêu vũ. Ở Mỹ cô Esthay Phaulp được coi là người đã gủi tấm thiệp Valentine đầu tiên và các bưu thiếp mang tính chất thương mại đã được giới thiệu từ năm 1800 và hiện nay ngày lễ này đã được thương mại hóa rất nhiều. Thành phố Love bang Colorado là nơi kinh doang các dịch vụ bưu điện cho ngày 14 tháng 2. Sự cuốn hút của ngày Valentine khi người ta gửi những bưu thiếp và những bài thơ tình như những trẻ con trao đổi những chiếc thiệp Valentine ở trường học.

Lịch sử
Ngày Valentine được bắt đầu từ thời kỳ đế chế La mã. Dưới thời Lamã cổ đại được xem như là ngày tưởng nhớ Juno. Juno là nữ hoàng của các nam thần và nữ thần La mã. Người La mã cũng coi bà là người cai quản phụ nữ và hôn nhân. Ngày tiếp theo của ngày 14 tháng 2 tức là ngày 15 tháng 2 của lễ hội Lupercalia. Cuộc sống của những chàng trai và cô gái bị ngăn cấm và hà khắc. Tuy vậy họ vẫn đến với nhau thông qua phong tục rút thăm tên nhau. Vào ngày hôm trước của lễ hội Lupecalia, tên của những cô gái được viết lên trên một mãnh giấy nhỏ và cho vào các bình đựng. Mổi một chàng trai sẽ bất kỳ rút chai và sau đó bất ngờ chàng trở thành bạn trai của cô gái mà anh ta chọn trong suốt thời gain lễ hội. Đôi khi, việc kết đôi của đôi bạn trẻ sẽ kéo dài trong một năm ròng, sau đó họ yêu nhau và sẽ cưới.
Dưới sự trị vì của hoàng đế Claudius đệ nhị, đế chế La Mã tham gia nhiều cuộc chinh phạt đẫm máu và không được người dân ủng hộ.
Claudies gặp phải khó khăn khi động viên các chàng trai trẻ gai nhập vào đội chiến binh của ông ta. Ckaudiuc cho rằng nguyên nhân do đàn ông Lamã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của mình. Bởi vậy, Cklaudius cấm tất cả cuộc kết hôn vả đám cưới ở thành La Mã. Thánh Valentine là một người tốt bụng dưới thời Claudies đệ nhị. Ông đã cùng thánh Marius đã giúp đỡ những người cơ đốc giáo đã phải chịu cảnh đọa đày và cho những cặp vợ chồng bí mật cưới nhau. Hành động nhân ái này mà thánh đã bị bắt giam và bị kéo lê trước mặt thái thú thà La mã. Hắn đã xử đánh Valentine bằng gậy đến chết và sau đó bị chặt đầu. Valentine phải chịu cuộc hành hình vào ngày 14 tháng 2 vào năm 270 trước công nguyên

Thần ái tình - biểu tượng truyền thống của ngày tình yêu.
Con trai của nữ thần Vệ nữ, nữ thần của tình yêu và sắc đẹp. Thần ái tình có thể khiến cho người ta yêu nhau bằng cách bắn thủng trái tim của họ với một trong những mũi tên kỳ diệu của mình.
Thần ái tình không thể thiếu được trong các ngày tình yêu và ngày lễ tình nhân. Thần ái tình được biết đến dưới một đứa trẻ tinh quái và có cánh. Người sẽ dùng một mũi tên tình ái bắn thủng trái tim ”nạn nhân” của mình buộc họ phải yêu nhau đắm đuối. Thần ái tình dưới thời Hy Lạp cổ đại có tên là êrốt, con trai của Aphrodite, nữ thần của sắc đẹp và tình yêu. Người La mã gọi thần ái tình là cupi. Thần ái tình chính là con trai của thẩn vệ nữ. Có một câu chuyện kể về thần ái tình với nàng tâm linh, một thiếu nữa ngưởi trần mắt thịt. Thần vệ nữ, ghen tức bởi vẻ đẹp của tâm linh bèn sai thần tình ái trừng phạt người thiếu nữ này. Nhưng thay vì làm theo lời mẹ, thần ái tình lại yêu tâm linh một cách đắm đuối. Thần đã coi tâm linh như là vợ của mình nhưng vì do tâm linh là người trần mắt thịt nên không được nhìn mặt chồng. Tâm linh sống rất hạnh phúc cho đến một ngày những người chị của nàng đã xúi nhìn mặt thần ái tình. Lập tức thần ái tình trừng phạt tâm linh bằng cách bỏ đi. Tòa lâu đài cùng với những khu vườn xinh đẹp của họ đã biến mất cùng với thần ái tình và tâm linh thấy mình ở giữa một cánh đồng trống trãi. Khi tâm linh lang thang thì nàng đã đi lạc vào đền thờ của thẩn vệ nữ. Bấy lâu mong bước loại bỏ sắc đẹp của tâm linh, thần vệ nữ đã giao một loạt cho công việc cho tâm linh mà càng về sau càng khó khăn và nguy hiểm hơn trước. Đến công việc cuối cùng, nàng đã trao cho tâm linh một cái hộp nhỏ và bảo nàng mang xuống âm phủ. Thần vệ nữ sai nàng xuống xin một chút nhan sắc của Proporin, vợ của diêm vương và cho vào trong hộp. Trong cuộc hành trình trở về mặt đất, nàng được mách nước cách tránh những hiểm nguy của thần chết và cũng đựơc cảnh báo là không được mở chiếc hộp ra. Thay vì tìm thấy sắc đẹp, nàng đã tìm thấy giấc ngủ vĩnh hằng của ái chết. Thần ái tình đã tìm ra nàng nằm tắt thở trên mặt đất. Thần lấy lại giấc ngủ từ xác của tâm linh và cất nó vào trong chiếc hộp. Tâm linh sống lại. Cảm động trước tình cảm của thần ái tình và tâm linh, các vị thần đã phong nàng làm nữ thần và đón nàng lên sống ở trên ngọn núi Olimpic linh thiêng.

2.                 Ngày Quốc Tế Phụ Nữ- Lịch Sử Ngày 8/3
Ngày 8/3, đó là cả một câu chuyện lịch sử dài về cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng và hạnh phúc cho phụ nữ của nhiều nhóm phụ nữ trên toàn thế giới. Chính phụ nữ là những người làm nên ngày 8/3 lịch sử. Để mỗi năm có một ngày tràn ngập hoa thì đã có không ít máu và nước mắt đổ xuống trong quá khứ.
Năm 1975, Liên Hiệp Quốc đã lấy ngày 8/3 hằng năm làm ngày Quốc tế Phụ nữ. Hai năm sau, LHQ đã thông qua nghị quyết các nước thành viên kỷ niệm ngày này như là ngày vì quyền bình đẳng, sự tiến bộ của phụ nữ và hòa bình cho thế giới.
Ngày 8-3, ngày phụ nữ quốc tế được hình thành như thế nào ?
Năm 1910, tại Copenhague ( Đan Mạch ), trong 1 Đại Hội Phụ Nữ Quốc Tế ( của đảng Xã Hội tổ chức ), bà Clara Zetkin, thuộc đảng Xã Hội Đức, đã đưa ra ý kiến phải có 1 ngày phụ nữ quốc tế để đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ trên thế giới.

Trong tháng 3-1911, trên 1 triệu phụ nữ các nước Âu Châu đồng loạt xuống đường biểu tình đòi hỏi quyền lợi phự nữ.
8-3-1913, phụ nữ Nga họp kín kêu gọi đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ.
8-3-1914, phụ nữ nước Đức biểu tình đòi hỏi được quyền đi bầu như nam giới.
8-3-1915, tại Oslo, thủ đô Na Uy, phụ nữ biểu tình đòi hỏi quyền lợi phụ nữ và hòa bình thế giới.
8-3-1917, tại Saint Pétersbourg ( Nga ), các nữ công nhân biểu tình đòi hỏi được phân phối thêm bánh mì, và đòi hỏi chồng con họ phải được trở về nhà mà không tham dự chiến tranh trên những tuyến đầu.
8-3-1921, Lénine ra điều luật công nhận ngày 8-3 là ngày phụ nữ tại Liên Xô.
8-3-1924, Trung Quốc tổ chức và công nhận ngày phụ nữ tại Trung Quốc.
8-3-1946, ngày này được tổ chức tại các nước Đông Âu.
8-3-1947, Léon Blum ca ngợi vị trí phụ nữ trong kháng chiến chống phát xít Đức.
8-3-1977, Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận ngày Phụ Nữ Quốc Tế.
8-3-1982, nước Pháp chính thức công nhận ngày Phụ Nữ Quốc tế

3.                 Lễ hội thần Mặt trời

Đây là lễ hội truyền thống lớn nhất của người Peru diễn ra ngày 24-6 hằng năm. Xuất hiện từ thế kỷ 16, khi Inca còn là một trong những đế chế hùng mạnh nhất Nam Mỹ, Inti Raymi là lễ hội tôn vinh thần Mặt trời - vị thần tối cao của người Inca. Họ cầu nguyện cho mùa màng bội thu, cầu nguyện cho sự ấm no, sung túc. Từ trước cả tuần lễ, khắp các đường phố Cuzco (kinh đô của người Inca xưa) chỗ nào cũng nhộn nhịp, đông vui như hội.

Click this bar to view the full image.

Quipu - những nút thắt bí ẩn vẫn chưa được thế giới giải mã, được coi là “chữ viết” của người Inca xưa. Người Inca không có chữ viết, họ nói tiếng Quechua (ngày nay vẫn được sử dụng phổ biến tại Peru, sau tiếng Tây Ban Nha)

Click this bar to view the full image.

Ướp xác - một tập tục của người Inca (thường dành cho giới quí tộc). Họ tin rằng khi ướp xác, họ sẽ được tái sinh vào một thế giới khác

Click this bar to view the full image.

Inca - đứa con của thần Mặt trời, người đứng đầu, lãnh đạo đế chế

Click this bar to view the full image.

Pháp sư với cây tumi trong tay. Đây là một loại dao thường dùng mổ não (sọ) bệnh nhân để chữa bệnh

Click this bar to view the full image.

Bắp - món ăn truyền thống phổ biến của người Peru - cũng là phẩm vật dâng lên thần Mặt trời

Click this bar to view the full image.

Chàng nông dân với dụng cụ làm nông truyền thống (ngày nay vẫn còn được sử dụng phổ biến)

Click this bar to view the full image.

Aclla - những phụ nữ đồng trinh, suốt đời phụng sự tại các đền đài, lăng mộ

4.                 Lễ Hội Loi Krathong

Lễ Hội Loi KrathongĐược tổ chức vào ngày rằm tháng 12 âm lịch, thường vào tháng 11 dương lịch (năm 2008 vào ngày 7/11) lễ hội gồm có các lễ vật (krathong) nhỏ của người Thái kết bằng lá chuối thả nổi (loi) trên dòng nước, ao, hồ trên toàn Vương quốc Thái Lan để cầu xin nữ thần nước tha thứ tội làm ô nhiễm các dòng nước của người. Theo truyền thống, các lễ vật được tạo thành hình hoa sen có đốt đèn nhang và cúng vài đồng xu. Người Thái tin rằng lễ vật sẽ mang đi những tội lỗi khi những chiếc phao nhỏ bềnh bồng treo dòng nước ngập tràn ánh đèn thật thơ mộng.

Hàng ngàn người tụ tập bên các dòng sông, kênh cầu nguyện trong im lặng và sau đó cẩn thận thả lễ vật krathong của mình theo dòng nước. Các phao nhỏ đựng hoa, nhang và một hay nhiều cây nến được thấp sáng sẽ nhẹ nhàng trôi đi. Mọi người chăm chú nhìn và hy vọng ngọn nến không bị tắt. Người ta cho rằng ánh nến biểu thị cho sự trường thọ, hoàn thành các ước nguyện và giải thoát khỏi tội lổi. Quang cảnh thật cảm động - mọi niềm hy vọng và ước mơ của toàn thành phố được nhẹ nhàng về điểm đến. Lễ Loi Krathong đúng là thời điểm để suy ngẫm sâu sắc về điều bí ẩn của hành trình đi qua cuộc đời và niềm hân hoan từ các truyền thống được chia sẻ.
Bangkok tổ chức Loi Krathong trên toàn thành phố với đoàn diễu hành dài đánh trống, các buổi biểu diễn văn nghệ và âm nhạc truyền thống của Thái, giải trí dân gian, bắn pháo hoa và nhiều trò khác. Tại Công viên Lịch sử Sukhothai, lễ Loi Krathong được tổ chức giữa những tàn tích thật ngoạn mục của cổ thành vinh quang và nét nguy nga mê hoặc của công viên lịch sử này. Các tiết mục gồm thả phao krathong, bắn pháo hoa, trình diễn văn nghệ và âm thanh, ánh sáng.

Click this bar to view the full image.

 

Tại Trung tâm Thủ công & Mỹ nghệ Dân gian của Hoàng gia ở Bangsai, Ayutthaya, Đêm chủ đề lễ Loi Krathong thường được tổ chức ở sân làng Thủ công & Mỹ nghệ Bang Sai. Trước khi khai mạc, du khách có thể thưởng thức các buổi trình diễn nếp sinh hoạt truyền thống, nghệ thuật dân gian và cách làm hàng thủ công mỹ nghệ trong dân gian và chương trình văn nghệ tạp kỷ.
Ỏ thành phố Chiang Mai phía bắc có lễ “Yi Peng Loi Krathong”. Yi Peng theo từng chữ có nghĩa là đêm trăng tròn của tháng 12 âm lịch. Lễ Loi Krathong ở đây có nghi thức khác thường là thả đèn lồng kiểu Lanna bay lên bằng hơi nóng. Tín ngưỡng truyền thống tin rằng khi những chiếc đèn lồng bồng bềnh trên không sẽ mang theo những phiền não của cư dân trong cộng đồng. Tỉnh Tak có truyền thống Loi Krathong độc đáo: từng lễ vật riêng được kết vào nhau và thả cùng lúc để một chuỗi ánh sáng bay lên trên sông Ping, làm gợi nhớ một chuỗi hạt lấp lánh nên có tên là Loi Krathong Sai.

5.                 Lễhội đèn lồng Trung Quốc - "Bữa tiệc nghệthuật"

Ngày 15/1 âm lịch hàng năm, ngày rằm tháng giêng và cũng là ngày Lễ hội đèn lồng ởTrung Quốc được diễn ra . Đây được coi là sựkiện vui nhất và sôinổi nhất dịp đầu năm của người Trung Quốc. Từmấy ngày trước hội, tại nhiều tỉnhthành, người dân đã tưng bừng chuẩn bịcho lễhội.
Tại Thâm Quyến, phíanam tỉnh Quảng đông, Trung quốc, người dân đã chuẩn bịsẵn sàng cho ngày lễsôinổi nhất đầu năm.
Các màn biểu diễn dân gian là không thểthiếu trong dịpnày nhưcuộc trình diễn ởHoa Liên đã diễn ra trongnhiều năm và thu hút khánhiều người tới xem.
Và Lễhội đèn lồng thì tất nhiên là không thểthiếuđèn lồng. Năm nay, hàng nghìn chiếc đèn lồng sẽđược thắp sáng trong Lễhội, tạothành một "bữa tiệc nghệthuật" hoành tráng cho người dân địa phương và dukhách. Và một triển lãm kéo dài 4 ngày với các tiết mục nhưthảđèn lồng trênsông, đèn lồng trên băng và có nhiều hình dáng đèn lồng độc đáo khác cũng đượctrưng bày.
Người Trung Quốc xưa tin rằng đèn lồng xua đuổi ma quỷvà manglại bình yên cũng nhưhạnh phúc cho người dân nên họthắp rất nhiều lồng đèn để chào đón năm mới. Dần dần nghi lễnày phát triển thành một hội chợlớn, là nơitrưng bày các kiểu đèn lồng trang trí và ngày càng được chếtạo công phu hơn

6.                 Lễhội Dano ởHàn Quốc

ễ hội Dano, một lễ hội truyền thống có lịch sử hơn 1.000 năm của vùng Gangneung, tỉnh Gangwon (Hàn Quốc) mới đây được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của LHQ (UNESCO) công nhận là kiệt tác mới của thế giới, là di sản văn hóa phi vật thể được truyền khẩu.Việc lễ hội Dano được công nhận là di sản văn hóa thế giới càng làm tăng sức hấp dẫn của loại hình văn hóa truyền thống của Hàn Quốc.Dano có nghĩa là mùng 5 tháng 5 âm lịch. Lễ hội Dano là một trong ba dịp lễ truyền thống lớn nhất ở Hàn Quốc cùng với Tết Nguyên đán và lễ hội Trung thu Chuseok.
Lễ hội Dano diễn ra vào thời điểm bắt đầu của mùa hè và là ngày cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng bội thu. Lễ hội Dano thường diễn ra ở thành phố Gangneung thuộc tỉnh Gangwon của Hàn Quốc trong thời gian khoảng một tháng từ ngày mùng 5 tháng 4 âm lịch.Các hoạt động của lễ hội hết sức phong phú bao gồm các nghi lễ: tế thần núi, nấu rượu “thần”, tế pháp sư và các loại hình biểu diễn truyền thống khác như múa mặt nạ... Lễ hội dân gian truyền thống này còn gọi là Dongye xuất phát từ sinh hoạt của các bộ lạc xưa nơi đây.Trong lễ hội, hoạt động mà người dân tổ chức tạ ơn vì mùa màng được gọi là “Mucheon”. Đến nay, hình thức lễ hội này có sự pha trộn giữa đạo Khổng, đạo Phật, pháp sư vẫn diễn ra với các hình thức tế lễ đa dạng các trò chơi với các hình thái khác nhau.Theo thời gian và sự ảnh hưởng của công cuộc phát triển kinh tế, Gangneung, một thành phố biển ở miền đông Hàn Quốc đã không còn giữ được đặc quyền tổ chức lễ hội như ngày xưa, làm mất đi nét riêng biệt về văn hóa và truyền thống mà trước đây chỉ nơi này mới có.
Dần dần, lễ hội Dano đã được tổ chức tại nhiều nơi ở Hàn Quốc, tuy nhiên, trong tâm thức của người dân Hàn Quốc, Gangneung vẫn là nơi nổi tiếng nhất về lễ hội Dano và cũng là nơi Dano được tổ chức trên qui mô lớn nhất. Đặc biệt có màn biểu diễn múa mặt nạ Gwanno trong đó người nô lệ nam là người làm công cho chính quyền, đây là một loại hình kịch câm truyền thống duy nhất ở Hàn Quốc mang đậm tính trào phúng và hài.Một trong những yếu tố quan trọng khiến lễ hội Dano trở nên nổi tiếng là biểu diễn trực tiếp trên sân khấu tại các khu chợ đông người. Tại đây, người ta mua và bán các đặc sản trong vùng, các đồ thủ công mỹ nghệ và các đạo cụ truyền thống với tên gọi là “ssireum”, kết hợp với biểu diễn múa và xiếc cùng các ban nhạc “nông dân”.
Lễ hội Dano đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể thứ ba của Hàn Quốc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, sau “Jongmyo Jeryeak”, loại nhạc nghi lễ được biểu diễn trong các cung đình thời các vua Triều đại Joseon và cho các thành viên trong hoàng gia (được công nhận vào những năm 2001 và Pansori, một loại kịch hát do một người trình diễn (được công nhận vào những năm 2003).Lễ hội Dano Gangneung thể hiện nhiều loại hình văn hóa dân gian truyền thống riêng biệt của Gangneung, nơi thể hiện quan điểm và triết lý truyền thống của người dân Hàn Quốc đối với thế giới.Việc lễ hội Dano được công nhận trong danh sách các di sản văn hóa phi vật thể của thế giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ là lần đầu tiên lễ hội này được UNESCO công nhận mà còn thể hiện khía cạnh đa dạng trong đời sống và văn hóa truyền thống của người Hàn Quốc.

7. Các lễ hội của Hàn Quốc

Mỗi triều vua ở xứ sở kim chi đều có những sửa đổi để các lễ hội dân gian mang dấu ấn riêng của triều đại mình. Do nhịp sống tất bật của cuộc sống hiện đại, Hàn Quốc ngày nay đã mất đi rất nhiều những ngày lễ truyền thống.
Trước đây, lễ hội chỉ là thời gian cử hành những lễ nghi tôn giáo. Cho tới thời kỳ các vương quốc liên minh thì lễ tạ ơn Trời đã cho vụ mùa bội thu mới được chính thức tổ chức. Các lễ hội đó là yeonggo (múa trống gọi hồn) của Buyeo, dongmaeng (nghi lễ cúng tổ tiên) của Goguryeo, và mucheon (thiên vũ) của Dongye. Các lễ hội thường được tổ chức vào tháng 10 âm lịch, sau mỗi vụ mùa. Riêng lễ yeonggo được tổ chức vào tháng 12 âm lịch.
Một số ít ngày lễ vẫn được kỷ niệm tưng bừng ngày nay như lễ Seol - ngày đầu tiên của năm lịch âm (thường rơi vào cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2 lịch dương). Đây là dịp để mọi thành viên trong gia đình đoàn tụ. Mọi người đều mặc áo truyền thống hanbok hoặc chọn cho mình những bộ quần áo đẹp nhất. Cả nhà cùng làm lễ cúng tổ tiên. Sau nghi lễ này, những người ít tuổi trong gia đình sẽ cúi lạy những người lớn tuổi trong gia đình.
Một ngày lễ lớn khác trong năm là Daeboreum, ngày trăng tròn đầu tiên trong năm sau năm mới. Vào ngày này, nông dân và ngư dân thường cầu nguyện cho một mùa trồng trọt và một vụ cá bội thu. Các gia đình cầu mong một năm làm ăn phát đạt, tránh được mọi điều rủi ro, xui xẻo bằng cách chuẩn bị các món ăn đặc biệt từ các loại rau xanh có trong mùa.
Vào dịp lễ Dano (Tết Đoan Ngọ), ngày 5/5 âm lịch, nông dân nghỉ công việc đồng áng cả ngày để tham gia lễ hội đánh dấu việc gieo trồng đã hoàn thành. Phụ nữ gội đầu bằng loại nước thơm đặc biệt đun từ lá mống mắt với hy vọng sẽ tránh khỏi mọi điều không may mắn. Dano từng được coi là ngày lễ lớn, nhưng nay chỉ còn được duy trì theo nghi thức truyền thống ở một số ít nơi.
Chuseok (Rằm trung thu) - ngày trăng tròn nhất trong năm rơi vào ngày 15/8 âm lịch - có lẽ là ngày lễ được người Hàn Quốc ngày nay tham gia đông đủ nhất.
Những dòng xe chật kín đường cao tốc và tất cả các cơ quan, cửa hàng đều đóng cửa trong ba ngày. Các thành viên trong gia đình đoàn tụ, bày tỏ lòng thành đối với tổ tiên và đi tảo mộ. Người thành phố thường trở về quê hương để tham dự lễ Chuseok. Những người trở về quê trong dịp lễ này thường phải đặt trước vé tàu hoả hay máy bay vài tháng.
Trong số những ngày lễ còn tồn tại đến ngày nay có lễ Phật Đản, rơi vào ngày 8/4 âm lịch. Vào ngày Phật Đản, một nhóm đông Phật tử diễu hành qua trung tâm Seoul. Các đường phố lớn hôm đó cũng được trang hoàng với những chiếc đèn Phật giáo hình hoa sen.
Có một số ngày lễ dành cho gia đình cũng có ý nghĩa quan trọng đối với người Hàn Quốc và người ta thường cử hành bằng cách tổ chức tiệc tùng và các trò vui chơi. Đó là ngày baegil (kỷ niệm 100 ngày kể từ ngày em bé ra đời), dol (kỷ niệm sinh nhật đầu tiên của bé), hoegap hay hwangap (sinh nhật lần thứ 60) - được coi là lễ kỷ niệm tròn một vòng quay 60 năm trong đời một con người theo quan niệm Hoàng đạo Phương đông. Những ngày đặc biệt này thường được tổ chức náo nhiệt, đặc biệt khi tỷ lệ tử vong sơ sinh cao và tuổi thọ con người còn thấp.
Những dịp như vậy từng được tổ chức như một ngày hội, trong đó có sự góp mặt của cả những người họ hàng xa. Ngày nay chỉ có thành viên trong gia đình tham gia các dịp này. Đối với lễ hoegap, ngày càng có nhiều người đi du lịch nước ngoài thay cho làm lễ kỷ niệm tại nhà.
Các ngày quốc lễ
1/1: Năm mới - Seol: Đây là ngày đầu tiên trong năm theo âm lịch và là ngày nghỉ đối với cả nước. Một ngày trước và một ngày sau ngày này cũng là ngày nghỉ.
1/3: Ngày độc lập: Ngày này đánh dấu các phong trào giành độc lập trên quy mô rộng lớn đòi tự do từ ách thực dân Nhật năm 1919.
5/4: Tết trồng cây: Ngày cả nước trồng cây xanh.
5/5: Tết thiếu nhi: Ngày có nhiều hình thức vui chơi cho trẻ em.
Lễ Phật Đản: Ngày 8/4 âm lịch. Các nghi lễ trang nghiêm được tổ chức tại các đền chùa Phật giáo. Đỉnh cao của các hoạt động lễ hội trong ngày này là lễ rước đèn lồng ở trung tâm Seoul.
6/6: Lễ tưởng niệm. Cả nước viếng hồn các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh bảo vệ đất nước. Lễ tưởng niệm được tổ chức ở Nghĩa trang Quốc gia.
17/7: Ngày lập pháp. Ngày kỷ niệm sự công bố chính thức hiến pháp của Đại Hàn Dân Quốc năm 1948
15/8: Ngày giải phóng. Vào ngày này năm 1945, Hàn Quốc được giải phóng khỏi ách thống trị kéo dài 35 năm của thực dân Nhật. Ngày này cũng đánh dấu sự thiết lập Chính phủ Hàn Quốc năm 1948.
Chuseok: Ngày 15/8 âm lịch. Các gia đình tổ chức các nghi thức kỷ niệm tại nhà hoặc đi thăm mộ gia tiên. Họ cùng ngắm trăng tròn và cầu mong những điều tốt đẹp.
3/10: Ngày Quốc khánh. Ngày thành lập nhà nước do Dangun lập nên, năm 2333 TCN.
25/12: Lễ Giáng Sinh. Cả các tín đồ theo đạo và người không theo đạo Cơ đốc đều kỷ niệm ngày này, giống như ở các nước phưong Tây.

8. Nguồn gốc!!Tết Đoan Ngọ - tết mùng 5 - 5 âm lịch

Ngày "Tết giết sâu bọ", dân gian Việt Nam thường cúng vào sáng sớm. Tuy nhiên, thực chất tiết Đoan Ngọ được tiến hành vào giờ chính Ngọ (giữa trưa) ngày 5/5 âm lịch.
Xuất xứ của ngày này liên quan đến cái chết của Khuất Nguyên, một vị quan của nước Sở (Trung Hoa cổ đại) cách đây hơn 2.000 năm. Khuất Nguyên vì can ngăn Sở Hoài Vương không thành, bị cách chức thành thứ dân, về quê sinh sống. Chị gái ông tên là Tu đi lấy chồng xa, nghe tin liền về thăm em.
Thấy Khuất Nguyên tóc xõa bù, mặt mày nhem nhuốc, hình dung hốc hác, vừa đi vừa ngâm thơ ở bờ sông, chị bèn bảo: "Vua Sở dẫu không nghe lời em nhưng em đã hết lòng rồi, còn lo nghĩ làm gì? May mà nhà còn có ruộng. Sao không dùng sức cày cấy để tự nuôi mình, hưởng hết tuổi trời?".
Khuất Nguyên than: "Việc vua Sở đã đến thế này, ta không nỡ thấy tôn miếu bị diệt vong. Cả đời đục chỉ có mình ta trong".
Rồi một ngày, Khuất Nguyên dậy sớm, ôm một hòn đá tự trẫm mình ở sông Mịch La. Đó chính là ngày 5/5 âm lịch. Ngươi làng nghe tin, đua nhau chở thuyền nhỏ ra cứu nhưng không kịp, bèn làm bánh nếp có góc ném xuống sông để tế. Tục đua thuyền rồng ở vùng Ngô Sở cũng bắt nguồn từ đó. Tương truyền, mảnh ruộng Khuất Nguyên cày cấy về sau gạo trắng như ngọc, gọi là "ruộng gạo ngọc". Tên làng ông ở gọi là làng "Tỷ quy", tức là chị về.
Ngày dương khí cực thịnh
Theo học thuyết âm dương ngũ hành, Ngọ được xếp vào quẻ Ly, thuộc hành Hỏa. Trong một ngày, dương khí cao nhất là giờ Ngọ. Trong một tháng, dương khí cao nhất vào những ngày Ngọ, nhất là ngày Ngọ thượng tuần (đầu tháng). Trong năm, dương khí cao nhất vào tháng Ngọ (tháng 5). Như vậy, dương khí đạt cực điểm vào giờ Ngọ của ngày Ngọ đầu tiên trong tháng Ngọ.
Nhưng tại sao người ta lại chọn ngày 5/5 mà không chọn ngày Ngọ đầu tiên của tháng 5 làm tết giết sâu bọ?
- Thứ nhất là để mọi người dễ nhớ.
- Thứ hai là để tưởng nhớ Khuất Nguyên.
- Thứ ba, theo lịch cổ thì ngày này xuân vận đã hết, hạ vận chuyển sang. Sự chuyển tiết giữa hai mùa dễ gây bệnh thời khí ở con người. Sâu bọ, côn trùng cũng được dịp phát triển, gây bệnh cho người, vật nuôi và cây cối. Bởi vậy vào tiết này, người ta làm lễ dâng hương cầu cho sâu bọ có hại bị tuyệt diệt, người tai qua nạn khỏi, được mùa.
- Thứ tư, 5/5 là ngày cực dương hoặc gần với cực dương, con người cũng như mọi vật cần dự trữ năng lượng để chống lại dương khí quá cao của trời đất. Họ cần ăn một số hoa quả hay thực phẩm giàu năng lượng như trứng luộc, cái rượu, cháo chè kê, bánh đa, uống rượu xương bồ... để khai mở cửu khiếu (9 cái lỗ tự nhiên trên cơ thể), thông dương khí hòa cùng trời đất. Nhiều người còn ăn những hoa quả có vị chua như mận với hàm ý giảm sự mãnh liệt của Can (gan khí), hạn chế những tác động xấu tới tạng Tâm và hệ thống mạch máu.
Nhiều người cho rằng vào tết Đoan Ngọ, cây cối sẽ tích trữ nhiều dược chất để chống lại dương khí khắc nghiệt. Do đó nhiều lương y tổ chức hái thuốc vào trưa 5/5 để mong có hiệu quả cao hơn.
Nguồn gốc tại Việt Nam.
Trong văn hoá Việt thì ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Trong dân gian đã lưu truyền câu ca da:

Tháng Năm ngày tết Đoan Dương.
Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.
Ở vùng đồng bắng Nam Bộ Việt Nam thì ngày mùng 5 tháng 5 còn được gọi là ngày "Vía Bà", thờ Linh Sơn thánh Mẫu trên núi Bà Đen.
Tại Việt Nam còn coi mùng 5 tháng 5 là "Tết giết sâu bọ" vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này có tục "giết sâu bọ" bằng cách sáng sớm chưa ăn uống gì đã được lót dạ bằng hoa quả đương mùa và rượu nếp. Trẻ con được treo cho những túi bùa bằng vụn lúa các màu khâu thành hình trái đào, quả khế, quả quất... buộc chỉ ngũ sắc kết tua (gọi là bùa tua bùa túi), móng tay móng chân được nhuộm đỏ bằng lá móng (trừ ngón tay trỏ và ngón chân kề ngón cái), bôi hồng hoàng (một vị thuốc có màu đỏ pha vàng) vào thóp, vào ngực, vào rốn… để trừ tà ma bệnh tật.
Trong tết này, các gia đình có làm lễ cúng gia tiên, cỗ cúng có cả chay lẫn mặn. Các chàng rể phải sắm quà biếu bố mẹ vợ nhân tết mồng năm, trong đó thường có mấy thứ: ngỗng, dưa hấu, hoặc đậu xanh đường cát. Học trò cũng đến tết thầy, lễ vật tuỳ tâm, đại thể cũng như trên. Ở một số vùng quê, vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) ngày mồng 5 tháng 5, nhiều người còn đi hái lá làm thuốc, vì tin rằng lá hái trong giờ phút này dù chỉ là các lá thông thường như lá chanh, lá bưởi, kinh giới, tía tô, ngải cứu, sen vồng..., đều trở nên công hiệu hơn rất nhiều. Tuy nhiên gần đây, những sắc thái phong tục truyền thống Việt trong lễ này không còn được xem trọng.

9. Các phong tục lạ về Đám cưới ở Trung QuốcTrung Quốc là đất nước có lịch sử vô cùng lâu đời và 1 nền văn hóa vô cùng đặc sắc. Phong tục tập quán ở Trung Quốc rất phong phú, đa dạng, đôi khi cũng rất lạ lùng. Xin giới thiệu một số phong tục lạ liên quan đến đám cưới, hôn nhân ở Trung Quốc
1. Anh em chung vợ
Hôn nhân của dân tộc Tạng rất phức tạp. Nói chung, có 3 chế độ: 1 vợ 1 chồng, 1 chồng nhiều vợ, 1 vợ nhiều chồng. Chế độ 1 chồng nhiều vợ thường xảy ra ở những gia đình giàu có và những chủ nô. Thường là chị em lấy chung 1 chồng. Một vợ nhiều chồng chỉ nhiều anh em lấy chung 1 vợ. Gia đình kiểu này thường là mẫu hệ.Lại có chuyện nhiều bạn bè lấy chung 1 vợ. Có trường hợp 1 người bạn thân đến nhà bạn và nhà bạn thiếu người làm cho nên ở lại nhà bạn và quan hệ luôn với vợ bạn.
2. Cưới cô dâu “cao số”
Ở tỉnh Triết Giang, nếu trước ngày cưới đi xem bói, cô dâu nào không may bị bà thầy phán là có số “phá gia chi nữ” thì cô ấy sẽ không được đi kiệu về nhà chồng như các đám cưới bình thường. Trước khi cưới chừng 2,3 ngày, cô dâu phải làm ra vẻ trốn ra khỏi nhà, ra ở nhờ 1 miếu hay đền. Cô mang theo vài bộ quần áo không lành lặn lắm, 1 cái ô cũ kỹ,1 cái làn cói có bát, đĩa cũ và 1 đôi đũa. Hành trang của cô giống như 1 kẻ đi ăn xin.
Đến ngày cưới, lúc chập choạng tối, bên nhà gái phải trốn tránh, không ai xuất đầu lộ diện. Mọi việc do phía nhà trai cáng đáng. Cô dâu thay quần áo mới, trang điểm, xách theo đồ dùng đẹp đẽ, dưới sự giúp sức của 2 cô gái do nhà trai cử đến. Cô cùng đi bộ với 2 cô bạn gái chừng 20 tuổi rồi mới bước lên kiệu hoa và được rước về nhà trai bằng con đường tắt. Phải 126 ngày cô ở bên nhà chồng, rồi mới được thăm mẹ đẻ. Khi về nhà mình rồi, bên nhà gái mới ăn mừng, con gái mới đi lấy chồng trở về thăm mẹ. Nhà gái làm cỗ linh đình, mời bà con thân thuộc đến dự.
3. Đốt đuốc đón cô dâu
Dân tộc Đồng ở huyện Tĩnh (tỉnh Hồ Nam) đón cô dâu vào giữa đêm. Đi đón cô dâu, phía nhà trai có chừng 30 người. Mỗi người cầm 1 bó đuốc nhựa thông ra khỏi nhà, vượt núi, vượt suối đến nhà cô dâu. Họ vừa đi vừa đánh trống, thổi kèn và chơi nhạc cụ, đầy nhiệt tình vui vẻ giữa mênh mông vắng lặng.Đến nhà cô dâu, bên nhà gái rước dâu, cô dâu quàng khăn lên đầu, cổ đeo kiềng, vai khoác vòng hoa, tay phải cầm chiếc ô bằng giấy có phết dầu trẩu (trừ tà). Cô dâu đi theo nhà trai cùng 2 cô gái phù dâu trong tiếng nhạc rộn ràng. Nếu trên đường về nhà chồng gặp 1 đám cưới khác, cô dâu phải trao đổi thắt lưng với cô dâu ở đám cưới kia để chúc mừng hạnh phúc nhau.
Khi đám rước dâu về tới cổng nhà, người ta đốt pháo mừng. Một vị trưởng lão trên 50 tuổi đứng ra làm mọi nghi thức đón cô dâu vào nhà. Sau khi làm lễ, cô dâu được mời vào phòng trong, ăn với chú rể bữa cơm đêm. Ngày hôm sau, cô dâu được mời 1 bữa thật ngon, gọi là “yến nhiều món” rồi cùng 2 cô phù dâu trở về nhà mẹ đẻ. Từ đó, chú rể thường đi lại làm khách của cô dâu. Đến khi cô dâu có mang, cô mới mang 1 chiếc xe quay sợi về nhà trai định cư.
4. Mùa xuân ném cô dâu
Vùng núi Ô Long bên bờ sông Tân An thuộc Vân Nam có mấy làng chài. Người dân ở đây biết bơi từ trong bụng mẹ. Các gia đình thường lấy vợ cho con trước Tết Nguyên đán chừng 10 ngày để đón năm mới và cô dâu mới. Người dân ở đây có tục “ném cô dâu” trong lễ cưới. Thuyền cưới nhà trai kết hoa xanh đỏ, áp vào thuyền nhà gái, lá xanh và dây hoa rừng trắng. Ném cô dâu là 1 động tác vui vẻ, mạo hiểm và thượng võ. Chỉ cần không thận trọng là cô dâu và người ném có thể lăn xuống nước. Đó là điềm gở cho 2 gia đình và làm cho ngày Tết mất vui.
Khi cô dâu bị ném, 1 chàng trai là anh em hoặc có họ với cô sẽ ôm ngang lưng cô, 1 tay giữ phần mông, dùng sức ném cô dâu sang thuyền nhà trai trong tiếng hô “1,2,3…”. Người đỡ cô dâu ở bên nhà trai có thể là chú rể hoặc là 1 người đứng tuổi.Trong lễ ném cô dâu, thuyền nhà trai cho nổ 3 phát pháo, bên thuyền nhà gái nổ 2 phát pháo. Sau lễ ném cô dâu, mọi người đều trở về làng, đẩy ra cho cô dâu và chú rể 1 chiếc thuyền nhỏ, có đủ thức ăn dùng trong mấy ngày, cô dâu và chú rể bơi thuyền đến 1 nơi khuất nẻo, sống với nhau mấy ngày. Họ phải trở về nhà với bố mẹ vào ngày 23 tháng Chạp để chuẩn bị Tết.
5. Tạ hôn và cưới chịu
Phía Nam Trung Quốc gần Việt Nam, người Mán có phong tục lạ là tạ hôn và cưới chịu. Các cô gái thường có 3,4 người tình. Nhưng một khi cô đã chính thức đính hôn với ai, cô sẽ cắt bỏ quan hệ với người khác. Điều lạ là đêm tân hôn, cô dâu không làm lễ động phòng với chú rể mà đến với người tình cũ để tạ ơn và hưởng đêm xuân với anh ta. Cô gái phải đi tạ ơn mỗi người tình 1 đêm rồi trở về với chồng. Khi trai gái kết hôn, nhà trai phải mang sang nhà gái nhiều của cải và vật phẩm, tổ chức yến tiệc linh đình chiêu đãi cả bộ tộc. Nếu nhà trai không có tiền thì nhà gái cho chịu, rồi sẽ phải trả. Do vậy, có đám cưới đến khi con cái đầy đàn mới trả hết nợ.
6. Lễ cưới vào ban đêm
Các dân tộc người Trung Quốc thường tổ chức làm lễ cưới vào ban ngày, riêng dân tộc Mãn làm đám cưới vào ban đêm. Ngày cưới, nhà gái dùng xe mui đưa cô dâu về nhà chồng, nhà trai dùng chiếc xe trang trí để rước dâu. Hai bên gặp nhau giữa đường, anh ruột hoặc anh họ cô dâu bế cô dâu từ mui xe của nhà gái lên xe hoa của nhà trai. Dù giữa mùa hè nóng nực, cô dâu cũng phải mặc áo kép, chỗ vai và đầu gối còn phải độn ít bông, mang ý nghĩa đầy đặn và trung hậu.
Khi xe cô dâu về đến nhà trai, chú rể đứng đợi ở trước cổng và giương cung đặt tên, nhằm xe cô dâu vờ bắn 3 phát. Sau đó, chú rể dẫn cô dâu đến trước bàn thờ đặt giữa sân, 2 vợ chồng cùng vái trời đất. Tiếp đó, chú rể dùng cán cân hoặc roi ngựa nâng chiếc khăn trùm đầu của cô dâu, đặt trên nóc nhà bạt đã cắm sẵn từ trước, có ý nghĩa là vừa lòng thuận ý. Lúc khều khăn trùm đầu, chú rể dùng tay xoa đầu tóc của cô dâu, tượng trưng cho đôi vợ chồng kết tóc xe tơ. Cô dâu bước qua 1 chậu lửa, lại nhảy qua yên ngựa rồi vào nhà bạt, mặt hướng về nam, làm lễ an tọa.
Làm lễ xong, cô dâu phải đi giày của mẹ chồng, tỏ ý sẽ đi theo bước chân của mẹ chồng.

Tục lệ đó nói lên nguyện vọng tốt đẹp của lớp già mong con dâu mới cưới sẽ noi theo người trước ăn ở thuận hòa với láng giềng, làng trên xóm dưới. Lễ tân hôn có cỗ, cô dâu chú rể uống chén rượu tơ hồng, ăn bánh treo nửa chín nửa sống, có ý nghĩa mong muốn con cháu đầy đàn.
Đêm tân hôn, trên bàn thờ có đôi nến thắp sáng suốt đêm. Gian ngoài của nhà bạt có những người hát các khúc ca chúc mừng. Một số bạn bè hoặc láng giềng vãi những hạt đậu nành, đậu đen vào nhà, chúc vợ chồng mới làm ăn giàu có, dư dật, con đàn cháu lũ. Lễ cưới kéo dài cho đến khuya.
7. Tục ném bùn trong đám cưới
Dân tộc Đồng ở Trung Quốc có tục ném bùn vào nhau đúng ngày cô gái đi lấy chồng được 1 năm. Cô gái cùng 9 cô bạn chơi ném bùn với chồng và các bạn của chồng trên mảnh ruộng đầy bùn. Khi chơi đã mệt, họ nhảy ùm xuống sông, té nước vào nhau. Trong số đó, có đôi nào để ý nhau thì bơi ra xa và anh chàng trong đôi đó sẽ được mời tham gia hội ném bùn năm sau.
8. Kính chó hơn người
Thanh niên Hà Nhì Trung Quốc rất tiết kiệm lời nói khi yêu đương. Họ dùng cách tặng hoa cho nhau để nói về tình yêu. Chàng trai tặng cho cô gái 2 bông hoa, 1 vàng 1 đỏ. Cô gái tặng lại cho chàng trai 1 bông hoa đỏ hoặc vàng. Màu vàng chỉ sự lưỡng lự, màu đỏ là yêu. Cô gái tặng bó hoa mà ở giữa có giò hoa cánh đơn, tức là cô ấy còn đơn chiếc, chưa có bạn trai chính thức. Nếu ở giữa có giò hoa cánh kép tức là cô gái đã có người yêu rồi.Gia đình người Hà Nhì rất kén con dâu. Trong gia đình cô dâu mới được cưới về, mẹ chồng được gọi là chó nhà trời.Truyền thuyết kể rằng xưa kia người Hà Nhì không biết trồng cây, cũng như dệt vải. Cô con út nhà trời đã lấy cắp giống lúa của cha cho người Hà Nhì, dạy mọi người cách dệt vải để may quần áo. Cô út bị gọi về trời, bị biến thành con chó và bị đày xuống trần gian. Từ đó, người Hà Nhì rất kính trọng chó. Ngày Tết của người Hà Nhì thường được tổ chức long trọng. Nhưng bát cơm đầu tiên phải dành cho chó, rồi mọi người mới được vào tiệc.
9. Tình yêu cắn
Mùa thu sau vụ thu hoạch, thanh niên Mèo chưa vợ sẽ mang những gói gạo mới tặng người yêu. Thanh niên các trại tổ chức ở 1 trại nào đó 1 bữa ăn có rượu thịt linh đình. Trong bữa ăn, các đôi đã tìm dược đến nhau. Nến ưng nhau, họ cắn vào bả vai nhau. Cắn cũng là 1 nghệ thuật, làm sao cho vết cắn hằn lên, thậm chí chảy máu. Sau đó, chàng trai buộc vào cổ tay cô gái mấy sợi dây nhỏ màu xanh và màu đen. Cô gái cũng buộc vào cổ tay chàng trai vài sợi màu đỏ. Sau đó, lễ cưới được tổ chức vào 1 ngày lành tháng tốt.
10. Tục thử giường
Vùng Lạc Dương Trung Quốc có tục thử giường trước khi cưới. Trước hôm làm lễ 1 ngày, nhà cửa các phòng phải gọn gàng sạch sẽ, nhất là buồng cô dâu chú rể. Chiếc giường được lưu ý đặc biệt. Giường, đệm, chăn, gối phải dùng mới. Đêm hôm đó, chú rể phải mời 1 người hoặc 2 chú bé đến ngủ cùng ở giường cưới. Tục lệ này được gọi là thử giường lấy phước. Nếu không có em nhỏ thì mời bạn trai đến, nhưng nhất thiết bạn trai đó phải chưa có vợ.Người được mời đến ngủ cùng chú rể trước ngày cưới cảm thấy rất vinh dự. Nếu em nhỏ được mời đến ngủ cùng chú rể mà đang đêm có được ..bãi đái dầm thì thật là điều tốt lành.

10. Ý Nghĩa Ngày nhà giáo Việt Nam?

Ngày nhà giáo Việt Nam (hay ngày lễHiến chương nhà giáo Việt Nam) là một ngàykỷniệm được tổchức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 tại Việt Nam. Đây là ngày lễ hội của ngành giáo dục và là ngày tôn sưtrọng đạo nhằm mục đích tôn vinh nhữngngười hoạt động trong ngành này.
Trong ngày này, các học sinh thường đếntặng hoa và biếu quà cho các thầy cô giáo. Ngành giáo dục cũng thường nhân dịpnày đánh giá lại hoạt động giáo dục và lập phương hướng nâng cao chất lượng giáodục.
Lịch sử
Tháng 7-1946 có một tổchức Quốc tếcác nhàgiáo tiến bộđược thành lập ởParis (thủđô nước Pháp) đã lấy tên là F.I.S.E(Fédertion International Syndicale des Enseignants - Liên hiệp quốc tếcác côngđoàn giáo dục).
Năm 1949 tại hội nghịVacsxava (Varsovie- thủđô Ba Lan)tổchức FISE xâu dựng một bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nộidung chủyếu là đấu tranh chống nền giáo dục tưsản, phong kiến, xây dựng nềngiáo dục tiến bộ" bảo vệnhững quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng củanghềdạy học và nhà giáo, đềcao trách nhiệm và vịtrí của nghềdạy học và nhàgiáo.
Trong những năm kháng hiến chống thực dân Pháp xâm lược, công đoàngiáo dục Việt Nam đã quan hệvới FISE đểtranh thủcác diễn đàn quốc tếtốcáoâm mưu tội ác của bọn đếquốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng nhưđối với giáoviên và học sinh đồng thời giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cáchmạng, tranh thủsựđồng tình ủng hộcủa giáo giới trên toàn thếgiới đối vớicuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.
Sau khi thành lập một thờigian ngắn (thành lập ngày 22-7-1951) Công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạplàm thành viên của FISE và được mời dựhội nghịcủa FISE ởVienne (thủđô nướcáo) mùa xuân nǎm 1953. Đoàn Việt Nam do Thứtrưởng Bộgiáo dục Nguyễn Khánh Toànlàm trưởng đoàn.
Từ26 đến 30-8-1957 tại thủđô Vacxava, hội nghịFISE có57 nước dự. Công đoàn giáo dục Việt Nam có tham gia quyết định lấy ngày 20-11-1958 ngày "Quốc tếhiến chương các nhà giáo" lần đầu tiên được tổchứctrên toàn miền Bắc nước ta. Những năm sau đó còn được tổchức ởcác vùng giảiphóng ởmiền Nam. Hàng năm vào dịp kỷniệm 20-11 cơquan tiểu ban giáo dụcthường xuất bản, phát hành một sốtập san đặc biệt đểcổvũtinh thần đấu tranhcủa giáo giới trong vùng tạm chiếm, động viên tinh thần chụi đựng gian khổcủaanh chịem, giáo viên kháng chiến.
Sau ngày đất nước được thống nhất,giáo giới Việt Nam đoàn kết nhất trí xây dựngnền giáo dục theo đường lối củaĐảng Cộng sản Việt Nam, theo định hướng xã hội chủnghĩa. ý nghĩa của quốc tế hiến chương các nhà giáo đã hoàn thành sứmạng lịch sửvới giáo giới Việt Nam.Song ngày 20-11 đã trởthành truyền thống với mọi nội dung của giáo giới ViệtNam và của nhân dân Việt Nam.
Chính vì thếtheo đềnghịcủa ngành giáodục ngày 28-9-1982 Hội đồng bộtrưởng (nay thuộc chính phủ) đã ban hành quyếtđịnh số167-HĐBT vềngày nhà giáo Việt Nam. Nội dung quyết định có những điềukhoản sau:
Trích dẫn:
Điều 1: Từnay hàng năm sẽlấy ngày20-11 là ngày nhà giáo Việt Nam
Điều 2: Đểngày 20-11 có ý nghĩa thiếtthực hàng nǎm từtháng 10 các cấp chính quyền và toàn thểcần họp đểxem xéttình hình công tác và hoạt động của đội ngũgiáo viên ởđịa phương mình, kiểmđiểm những việc đã làm và đềra những việc cấp tiếp tục làm nhằm động viên độingũgiáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyệnphẩm chất và nǎng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Vềphía giáo viên,cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức vềvinh dựvà tráchnhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từđó mà ra sức phấnđấu làm tốt nhiệm vụcao cảcủa mình.
Điều 3: Việc tổchức ngày 20-11hàng nǎm do Uỷban Nhân dân và Hộiđồng các cấp chủtrì, có sựphối hợp cácngành giáo dục và các đoàn thểnhân dân. Các cấp các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thǎm hỏi giáo viên, tổchức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên,nhân dịp này có thểtổchức khen thưởng các giáo viêncó thành tích.
Việctổchức này nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thểvà thiết thực, tránhhình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹhọc sinh.
Điều4: Trong ngày 20-11 các trường có thểsắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉvà tham gia các sinh hoạt của trường và địa phương.
Tóm lại: Ngày quốc tếhiến chương các nhà giáo là một hoạt động quốc tế của công đoàn giáo dục Việt Nam. Nó hoàn thành nhiệm vụlịch sửcủa nó. Ngày nhàgiáo Việt Nam là ngày của toàn dân do nhà nước ban hành vǎn bản quy phạm phápluật quy định chủtrì tổchức kỷniệm là chính quyền và hội đồng giáo dục cáccấp. Chúng ta cần phải tuyên truyền cho mọi người hiểu đúng ý nghĩa ngànhà giáoViệt Nam và tổchức thực hiện tốt.

11. Tết nguyên tiêu

Tết Nguyên Tiêu hay tết Thượng Nguyên là một tết, lễhội cổtruyền,Việt Nam vào ngày 15 (ngày rằm) tháng giêng Âm lịch.
Tết này phần lớn tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Vào ngàynày, cũng có gia đình Việt Nam tụ tập ởnhà trưởng họhoặc nhà thờ họ.
Theo sách Trung Hoa, lễThượng Nguyên không phải là một ngày lễPhật.Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạngđểthết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ.

Click the image to open in full size.


Tập tục và lễhội
ỞTrungQuốc và Đài Loan hiện nay, Tết Nguyên Tiêu (rằm tháng giêng, đêm rằm đầu tiêncủa năm mới) được coi là ngày lễthiêng liêng nhất đầu năm mới và còn được gọilà "Lễhội đèn hoa" hoặc "Hội hoa đăng", có thểbắt nguồn từtục cúng tếthờiHán VũĐế, với tập tục trưng đèn trên cây nêu trước cửa nhà, đốt đèn, chơi lồngđèn ngũsắc, có thểkéo từ13 đến 17 tháng giêng. Được yêu chuộng là những lồngđèn có hình thù rồng, phượng, mười hai con giáp hoặc những nhân vật cổtrongtruyền thuyết, cổtích. Ngoài ra còn những tập tục khác như: cúng tếcầu an cầuphước, ăn bánh trôi (gọi là "thang viên" - viên tròn trong nước), thi đoán hìnhthù trên lồng đèn, ngâm thơ. Người Đài Loan còn ghi những câu ước nguyện củamình vào đèn lồng và thảbay lên trời. Nhiều người còn coi đây là mùa Valentine phương Đông, tương tựnhưlễThất Tịch. ThơĐường xưa đã viết: Nguyên tiêu chidạhoa lộng nguyệt, mùa trăng tròn lung linh sắc màu hoa đăng rực rỡcũng là dịpNgưu Lang Chức Nữhiện đại gặp gỡse duyên.
ỞPhilippines, có lễhội diễuhành truyền thốngvào ngày rằm tháng giêng, đánh dấu khởi đầu năm mới. ỞViệtNam, những nơi có đông cộng đồng người Hoa sinh sống nhưChợLớn, Hội An cũng cónhiều sinh hoạt đặc biệt.

12. Lễ hội té nước ở Thái Lan, Campuchia

Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố, lấy nước tạt nhau chúc mừng năm mới.
Những ngày tháng 4 này, hàng triệu người dân Thái Lan, Campuchia đang mong chờ Lễ hội té nước đặc sắc trong dịp lễ Tết cổ truyền Songkran (Thái Lan), Chol Chnam Thmay (Campuchia) diễn ra từ 13-15/4 dương lịch. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân 2 nước này sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức nghi dội nước lên người nhau.
Bất kể người lớn, trẻ em, khách du lịch, không phân biệt màu da, ai nấy đều hòa vào màn té nước vui nhộn trong tình thân ái. Lễ hội Songkran còn diễn ra hoạt động té nước cùng người đẹp. Các cô gái tham gia khoác trên mình những trang phục lễ hội chim công, chim phượng và múa các điệu dân gian độc đáo. Vào dịp này, người dân Thái ai nấy đều náo nức, treo đèn trang trí, nhà nhà tưng bừng ánh điện, phố phường đông vui, náo nhiệt.
Không chỉ hòa mình vào lễ Tết cổ truyền của dân bản xứ, du khách đến Thái dịp này còn được chiêm ngưỡng thắng cảnh nổi tiếng như Hoàng Cung, chùa Phật Ngọc với các kiểu kiến trúc độc đáo, vườn thú thiên nhiên nổi tiếng Safari World. Hoặc du ngoạn đảo san hô bằng tàu cao tốc, tự do tắm biển và tham gia các môn thể thao dưới nước tại Pattaya, thưởng thức chương trình ca múa nhạc truyền thống Alangkarn, Tiffany’s do các diễn viên nam đã giải phẫu thành nữ biểu diễn…
Trong thời điểm này, khắp Campuchia cũng tưng bừng lễ đón năm mới – Tết Chol Chnam Thmay kéo dài 3 ngày (13 – 15/4 hàng năm). Không khí náo nhiệt, đèn hoa sáng rực từ các ngôi chùa kéo dài đến các nẻo đường dẫn đến Hoàng Cung. Thủ đô Phnôm Pênh treo đèn kết hoa lộng lẫy. Người dân và du khách đổ ra đường tham gia vào các hoạt động lễ hội đường phố lễ té nước, bôi bột màu…
Tết cổ truyền Campuchia đặc biệt nhất là các điệu múa Apsara quyến rũ, cùng các món ăn truyền thống đậm hương vị Khmer dùng chung với rượu thốt nốt thơm lừng. Đến Campuchiam dịp này, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng kỳ quan Angkor vĩ đại nguy nga, thành cổ Angkor Wat với những ngọn tháp chọc trời... Sau lễ hội té nước buổi sáng, người dân và du khách chìm đắm trong ánh hoàng hôn dịu dàng trên đỉnh đồi Bakheng, và thưởng thức chương trình ca múa nhạc truyền thống của người Khmer… khi đêm về.

13. Lịch sửngày cá tháng tư(1/4)

Nước Pháp được coi là quê hương của ngày Cá tháng Tư. Vào thếkỷthứ16, năm mớibắt đầu từngày 25.3 và kéo dài trong vòng 8 ngày đến 1.4. Năm 1562, Giáo hoàngGreogry đưa ra Công lịch và năm mới bắt đầu từngày 1.1. dến năm 1564, vua HenryIX đưa ra sắc lệnh thông qua lịch Greogry, theo đó năm mới bắt đầu từngày1/1.
Tuy nhiên, do phương tiện liên lạc thời đó còn lạc hậu, người ta truyền tin chủyếu bằng cách chạy bộnên nhiều người nhận được tin đổi lịch chậmmất vài năm. Những người khác tuy biết vẫn không chấp nhận lịch mới và tiếp tụcđón năm mới vào ngày 1/4. Một sốngười đẫtrêu họbằng cách gửi những món quànghịch ngợm, càng làm họlầm tưởng 1.4 là ngày đón năm mới. Nạn nhân của nhữngtrò đùa ấy bịgọi là " đồngốc tháng Tư" (April Fool) và người ta bắt đầu gọingày đó là "Cá tháng Tư". Dần dần, thói quen này được lan sang Anh và Mỹ. Ở Mexico, ngày "Cá tháng Tư" được tổchức vào ngày 28.12. Ban đầu, đây là dịptưởng nhớcác trẻem bịvua Herod giết hại. Vềsau, mọi người mới nghĩra cáctrò tinh quái đểđùa nhau. Cá tháng Tưnay trởthành ngày nói dối ởnhiều nước,cho phép mọi người có thểtrêu đùa nhau vui vẻ.
Cá tháng Tưphổbiến ở Anh và Scotland suốt thếkỷ17. Người Scotland thích gửi những thông tin ngớ ngẩn đến mọi người, giống nhưyêu cầu tìm giúp răng của con gà hoặc sữa chim bồ câu.
Trẻcon ởPháp thường trêu bạn bằng cách dán cá giấy vào lưng nhau rồihô: "Cá tháng Tư!". Người Mỹvào ngày này thường chỉvào giày người khác ‘Chưabuộc dây giày kìa !".
Không giống nhưhầu hết các ngày đặc biệt khác trongnăm, ngày Cá tháng Tưcó lịch sửkhông rõ ràng. Mỗi nền văn hóa khác nhau lại cólịch sửvà thời gian kỷniệm ngày Nói dối khác nhau, nhưng thường vào ngày đầutiên của mùa xuân.
Ví dụ: Scotland có tới 2 ngày Cá tháng Tư. Ngày thứ hai đặc biệt đểtrêu ghẹo phần sau lưng của mỗi người nên được gọi là “Ngày vuốtđuôi”. Đây được coi là ngày phát sinh của trò đùa “Hãyđá tôi mộtphát”.
Mexico là kỷniệm ngày Nói dối vào 28/12. Đó là một thời khắc buồntrong lịch sửđất nước này vì đúng ngày đó, vua Herod ra lệnh thảm sát trẻem vôtội. Vì thế, những trò trêu ghẹo chỉmang tính chất nhẹnhàng.
Những tròđùa của ngày Cá tháng Tưcó thểchỉrất đơn giản (“bạn chưa buộc dây giày kìa”)nhưng cũng có khi gây ra hậu quảnghiêm trọng (nhưvặn đồng hồcủa cậu bạn cùngphòng chậm tới một tiếng). Dù đùa kiểu gì, kẻlừa gạt vẫn hoàn toàn vô tội bằngcách nói với “nạn nhân”: “NgàyCá tháng Tưmà”.

Các phương tiện truyềnthông cũng không đứng ngoài cuộc vui một năm chỉcó một lần này. Trong ngày cả thếgiới nói dối, truyền hình Anh từng chiếu một bộphim ngắn và rất chi tiết về việc những người nông dân Anh thu hoạch vụmùa spaghetti.
Ngày Cá tháng Tưchỉlà một ngày vui. Đó không phải là một lễhội đểcông chức được nghỉlàmvà trẻem không phải đến trường. Chỉlà một ngày vui nho nhỏ, nhưng ai cũng cần“đềcao cảnh giác” kẻo lại trởthành “con cá ngớngẩn”.

14. Lịch sư ngày Halloween

Cứ vào ngày 31/10 hàng năm, hàng nghìn trẻ em Bắc Mỹ và Anh quốc đổ ra đường trong các bộ lễ phục hóa trang, chơi trò lừa nhau, đục khoét bí ngô, đớp táo và gõ cửa các nhà để xin bánh kẹo. Vậy, phong tục độc đáo này bắt nguồn từ đâu?
Từ "Halloween" bắt nguồn từ nhà thờ Thiên chúa giáo, là dấu vết còn lại của lễ hội All Hallow Eve (lễ thánh). Ngày 1/11 là ngày lễ của người Thiên chúa bày tỏ lòng thành trước thánh thần. Nhưng vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, ở xứ Celtic (Ireland) mùa màng kết thúc vào ngày 31/10 và ngày hội Halloween được gọi là ngày lễ Samhain (gieo trồng). Ngày này cũng chính thức bắt đầu một năm mới của người Celtic.
Người Celtic tổ chức kỷ niệm năm mới với lễ hội Samhain. Vào thời gian này vị thần của mùa xuân và mùa hè không còn ngự trị và nhường chỗ cho thần Chết. Lễ hội bắt đầu vào ngày 1/11, khi linh hồn của người chết quay trở lại nhà người thân để xin thức ăn và nước uống. Trong suốt đêm lễ thánh Hallow’s Eve, diễn ra vào đầu mùa đông - thời điểm kết thúc một năm, các xác chết đi lại tự do.
Người xưa kể lại, vào ngày lễ Samhain linh hồn của người chết trong năm trước sẽ tìm đến một thể xác khác để bắt đầu cuộc sống mới trong năm tiếp theo. Tuy nhiên, người sống không muốn linh hồn người chết nhập vào mình, vì thế vào ngày 31/10 dân làng dập tắt lửa trong nhà để làm cho nhà cửa lạnh lẽo và tẻ ngắt. Sau đó họ hoá trang thành ma cà rồng và lặng lẽ đi vòng quanh nhà hàng xóm vẻ hăm doạ để xua đuổi những hồn ma tìm thể xác.
Theo giải thích khác thì người ta cho rằng vào đêm Samhain, người Celtic dập tắt lửa không phải để xua đuổi những linh hồn mà để sau đó họ cùng nhau đi lấy lửa tại nguồn sáng gọi là Druidic, liên tục cháy ở Usinach thuộc miền trung Ireland.
Sau này, người La Mã đã biến những tục lệ trên của người Celtic thành tục lệ của mình. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, họ bỏ tục lệ hiến người sống và thay vào đó là hiến hình nộm. Theo thời gian, do người ta không còn tin vào linh hồn nữa, nên tục lệ hoá trang thành ma quỷ hay phù thuỷ chỉ còn là hình thức.
Cùng với phong trào di cư để tránh nạn thiếu khoai tây của người Ireland sang Mỹ những năm 1840, lễ hội Halloween được du nhập vào Mỹ cùng trò như lật ngược nhà vệ sinh và tháo cổng ra vào.
Tuy nhiên, ngày hội "lừa phỉnh" được cho là bắt nguồn từ một phong tục gọi là tục "cầu hồn" của người Châu Âu ở thế kỷ thứ 9. Ngày 2/11 hàng năm, người Thiên chúa giáo đi từ làng này sang làng khác xin "bánh cầu hồn". Đây là những chiếc bánh hình vuông làm từ bánh mỳ và nho Hy Lạp. Người đi xin nhận được càng nhiều bánh thì họ càng cầu được cho nhiều linh hồn người thân của gia chủ siêu thoát.
Ở Anh trước đây, đêm Halloween từng được gọi là Nutcrack Night hay Snap Apple Night tức là một đêm dành cho gia đình ngồi bên đống lửa hồng để nghe kể chuyện, ăn trái cây. Những người nghèo đi ăn xin (a-souling) thường được cho một thứ bánh gọi là bánh linh-hồn (soulcakes) với điều kiện họ phải cầu nguyện cho người chết.
Ngày nay, nhiều nhà thờ tổ chức tiệc Halloween hoặc tổ chức khắc đèn lồng cho trẻ em. Mọi người cùng nhau đấu tranh vì một thế giới không còn tội lỗi.
Trò Trick for treat: Trong suốt lễ hội Samhain, vị thần Druids cho rằng người chết sẽ tìm đến lừa, gây hoang mang, lo sợ và phá hoại con người. Những hồn ma đi lại ăn xin và đến nhà nào, gia chủ phải cung cấp thức ăn cho chúng. Chính vì thế, trong tuần lễ Halloween, trẻ em phương Tây rất hứng thú với trò "gõ cửa xin ăn" này. Chúng mặc trang phục hóa trang và đeo mặt nạ rồi đi từ nhà này qua nhà khác, gõ cửa để gặp chủ nhà và nói câu "trick-or-treat". Câu này có nghĩa là: "Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi". Để tránh bị phiền toái, chủ nhà đãi chúng kẹo, bánh trái, và cả cho tiền nữa.
Trò "đớp táo": Khi người Celtic bị người La Mã đánh chiếm, nhiều phong tục của người La Mã theo đó cũng du nhập vào đất Celtic, trong đó có lễ hội thờ nữ thần mùa màng Ponoma. Vị thần này thường "ẩn náu" trong giỏ hoa quả. Quả táo là một thứ hoa quả linh thiêng dùng để thờ cúng thần linh, do đó nhiều trò chơi có liên quan đến loại quả này xuất hiện trong lễ hội Samhain.
Lễ hội đèn lồng (đèn bí ngô Jack-O’-Lantern): Lễ hội đèn lồng bắt nguồn từ tập quán của người Ireland. Theo truyền thuyết kể lại, Jack là người nổi tiếng vì nghiện rượu và tư chất thông minh. Anh đã lừa con quỷ Satan trèo lên ngọn cây, sau đó khắc hình một chữ thập lên gốc cây và trói con quỷ trên đó. Jack thoả thuận với con quỷ nếu nó không trêu chọc anh nữa thì anh sẽ thả nó xuống. Do phạm nhiều tội lỗi cho nên khi chết, ông không được lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Do vậy, ông phải đi lang thang nhiều nơi tìm kiếm một chỗ trú chân. Hơi ấm duy nhất sưởi ấm cho ông trong giá lạnh là ngọn nến leo lét trong củ khoai tây thối.
Trẻ em ở Ireland thường chơi trò đục khoét củ khoai tây và bí đao trong lễ hội Halloween. Nhưng khi di cư sang Mỹ, người ta phát hiện quả bí ngô sáng hơn bí đao nên sau này đèn lồng ở Mỹ được trang trí bằng quả bí ngô có cục than hồng bên trong.
Do truyền thống Halloween được coi là bắt nguồn từ những người ngoại đạo, nên ngày này nhiều người theo đạo Thiên chúa giáo không tổ chức lễ kỷ niệm. Một số người ở các giáo phái khác tổ chức kỷ niệm nhưng coi đây là lễ hội mùa màng, lễ hội xá tội hay đêm thánh Halleluja và họ tổ chức lễ tại nhà thờ của giáo phái mình. Lễ hội mang đến cho trẻ em nhiều trò chơi lý thú.
Tối hôm trước của ngày lễ Halloween, tức là 30/10, được gọi là "đêm ma-quỉ", thường các thanh thiếu niên hay phá phách, gây thiệt hại đến tài sản, thậm chí tính mạng của người dân. Bởi thế lực lượng cảnh sát phải tăng cường giữ trật tự trong đêm này, còn các bậc phụ huynh cũng coi chừng con em mình.
Biện pháp an toàn cho trẻ em và người lớn trong đêm Halloween. Đã có rất nhiều tai nạn xảy ra trong Tết Halloween. Chính vì thế, trẻ em đi chơi trò Trick or treat nên:
- Đeo băng phản chiếu ánh sáng lên quần áo để báo hiệu cho xe cộ khỏi đâm vào.
- Mặc đồ hóa trang ngắn gọn và khó bén lửa để tránh vấp ngã và khỏi bị cháy. Để tránh bị lạnh khi đi "lang thang gõ cửa các nhà" nên mặc quần áo thật ấm ở bên trong đồ hóa trang.
- Vẽ mặt thay vì đeo mặt nạ để tránh bị che mất tầm quan sát trên đường. Nếu đeo mặt-nạ trong khi đi thì nên đẩy mặt nạ lên trán để dễ nhìn.
- Chỉ đi vào nhà người ta bằng cửa trước và tránh dùng cửa hậu hay cửa bên để tránh các bất trắc.
- Mang theo tiền và giấy tờ có ghi địa chỉ, số điện thoại, và tên cha mẹ để phòng khi trẻ lạc thì có người giúp đưa về.
- Không nên ăn bất cứ thứ gì người ta cho mà phải đợi đến khi về nhà để cha mẹ xem xét kỹ trước khi ăn. Nếu có muốn ăn kẹo bánh người ta cho trong lúc đi đường, chỉ ăn những kẹo bánh còn nguyên trong gói để tránh ngộ độc.
- Phụ huynh phải biết rõ lộ trình các con định đi chơi trò Trick or treat để theo dõi khi cần.
15. Lịch Sử Ngày Quốc tế lao động 01/05

Chi-ca-go, thành phố trung tâm công nghiệp của nước Mỹ đã đi vào lịch sử bằng những cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân Mỹ hồi cuối thế kỷ XIX.
Cũng như ở bất cứ nơi nào trên thế giới tư bản chủ nghĩa, đời sống của người lao động Mỹ vô cùng khổ cực. Ngày làm việc kéo dài 14, 15 giờ, đến nỗi họ "không bao giờ được thấy mặt vợ con dưới ánh mặt trời". Đồng lương không đủ sống, nhà ở chật chội thiếu vệ sinh, điều kiện lao động rất vất vả.
Đã từ lâu, giai cấp công nhân Mỹ tiến hành đấu tranh đòi rút ngắn thời gian lao động, tăng tiền lương và cải thiện đời sống. Họ bị bọn cầm quyền khủng bố gắt gao nhưng ý chí không hề giảm sút, kinh nghiệm càng thêm dày dạn. Họ tiến dần đến những cuộc đấu tranh có tổ chức trên qui mô lớn.
Theo quyết nghị của Liên đoàn lao động Mỹ khi đó thì ngày 1 tháng 5 năm 1886 được chọn làm ngày đấu tranh của công nhân Chi-ca-go. Mặt dầu bị chánh quyền ngăn chặn, các công đoàn và báo chí công nhân vẫn khẩn trương vận động nhân dân tham gia đấu tranh.
Đúng ngày hôm đó, công nhân Chi-ca-go tiến hành tổng bãi công, xuống đường biểu tình giương cao khẩu hiệu: "Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ học tập trong một ngày". Từ Chi-ca-go, làn sóng bãi công lan nhanh ra toàn quốc, 5000 cuộc bãi công có 34 vạn công nhân tham gia đã diễn ra trong các thành phố lớn của Mỹ. Công nhân ở New York, Ban-ti-mo, Pi-xbơ-nơ... đã giành được thắng lợi, buộc bọn chủ phải nhận yêu sách ngày làm 8 giờ.
Nhưng ở nhiều nơi khác, máu đã đổ trên đường phố. Đặc biệt ở Chicago, cuộc xung đột vũ trang bùng nỗ. Trong suốt mấy ngày, số công nhân ở đây tham gia bãi công càng thêm đông đảo, từ 1,5 vạn lên đến 4 vạn. Bọn chủ điên cuồng chống lại bằng cách sa thải những người bãi công, gọi cảnh sát đến đàn áp.
Chiều ngày 3 tháng 5, chúng bắn bừa bãi vào đám biểu tình là 6 người chết và 50 người bị thương. Chúng lại cho bọn khiêu khích len vào cuộc mít tinh của công nhân, ném 2 quả bom làm chết một số tên cảnh sát. Mượn cớ đó, chúng xả súng vào quần chúng làm hàng trăm người chết và bị thương. Những người lãnh đạo phong trào bị bắt và nhiều người trong số đó bị kết án tử hình.
Lòng căm phẫn của công nhân Mỹ và những người lao động thế giới bùng cháy. Bọn tư bản đã lộ nguyên hình là những tên bóc lột tàn bạo. Chúng không từ bất cứ một thủ đoạn nào để dập tắt phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Nhưng dòng máu hy sinh của công nhân Chi-ca-go càng nhuộm đỏ thắm lá cờ đấu tranh cách mạng do Mác và Ăng-ghen giương cao trong 40 năm qua kể từ ngày ra đời Tuyên ngôn Cộng sản.
Tại đại hội Quốc tế thứ hai năm 1889, dưới sự chỉ đạo của Ăng-ghen, một quyết nghị quan trọng đã được thông qua: đoàn kết giai cấp công nhân quốc tế đấu tranh cho khẩu hiệu "ngày làm 8 giờ" và chọn ngày 1 tháng 5 hằng năm làm ngày đấu tranh của giai cấp công nhân toàn thế giới.
Ngày 1 tháng 5 được mở đầu bằng sự kiện Chi-ca-go đã trở thành ngày biểu dương lực lượng của giai cấp công nhân, ngày đoàn kết quốc tế của những người lao động, ngày hội của nhân dân bị bóc lột. Ngày 1 tháng 5 trở thành ngày Quốc tế Lao động.
Hưởng ứng nghị quyết nói trên, ngày 1 tháng 5 năm 1890, công nhân nhiều nước đã bãi công, đấu tranh chống tư bản. nhiều cuộc biểu tình, mít tinh được tổ chức ở Đức, áo, Hung, Bỉ, Thụy Điển và nhiều nước khác. Khẩu hiệu chiến đấu của Mác và Ăng-ghen: "Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại" được giương cao.
Công nhân Anh đòi ban hành đạo luật quy định ngày làm 8 giờ trong phạm vi cả thế giới. 10 vạn công nhân Pháp biểu tình rầm rộ ở Paris. Những sự kiện đó chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành, đã bước đầu phối hợp đấu tranh trên quy mô rộng lớn.
Nơi đầu tiến hành kỷ niệm ngày 1 tháng 5 một cách công khai và hợp pháp với tư cách của người làm chủ là nước Nga Xô-viết, quê hương của Cách mạng tháng Mười vĩ đại. Từ đó, ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, ngày 1 tháng 5 được coi là ngày hội lớn của quần chúng. Giai cấp công nhân, nông dân tập thể cùng các tầng lớp lao động khác ra sức thi đua xã hội chủ nghĩa để lấy thành tích chào mừng ngày Quốc tế Lao động.
Ở nước ta, những ngày kỷ niệm 1 tháng 5 gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nửa thế kỷ qua. Có thể kể đến một vài sự kiện quan trọng dưới đây:
Ngày 1 tháng 5 năm 1930, ngay sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, lần đầu tiên, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động. Từ các thành phố đông dân như Hà Nội, Huế, Vinh, Sài Gòn, Gia Định đến các vùng nông thôn Thái Bình, Nghệ An, Long Xuyên, Sa Đéc, tùy theo điều kiện mà treo cờ búa liềm, rải truyền đơn, biểu tình, mít tinh.
Đặc biệt là ở Vinh-Bến Thủy, hàng ngàn nông dân kéo về sát cánh cùng giai cấp công nhân biểu tình đòi ngày làm 8 giờ, tăng tiền lương, bỏ sưu, giảm thuế. Cuộc đấu tranh đó mở đầu cho một cao trào cách mạng đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng, đánh dấu một cuộc tổng diễn tập thứ nhất của cách mạng: cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Mùng 1 tháng 5 năm 1938, tận dụng những khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp của thời kỳ Mặt trận dân chủ, Đảng ta tổ chức một cuộc mít tinh lớn, thu hút đến 25 nghìn người tham gia tại khu Đấu xảo Hà Nội (khu vực Nhà hát Nhân dân hiện nay). Đại diện các giai cấp công nhân, nông dân, tiểu thương và các đoàn thể xã hội đứng theo hàng ngũ, hát Quốc tế ca, hô vang khẩu hiệu cách mạng, chống chiến tranh đế quốc.
Những hoạt động sôi nổi trong cả nước kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động đã góp phần thắng lợi vào cuộc tổng diễn tập thứ hai, dẫn tới ngày cách mạng thành công.
Ngày 1-5 đã khắn sâu vào trái tim các chiến sĩ cách mạng bị tù đày. Mặc dầu nhà tù đế quốc rất khắc nghiệt, chế độ khủng bố rất dã man, nhiều đồng chí cộng sản đã tổ chức những buổi kỷ niệm trong buồng giam, đơn sơ mà nghiêm trang, động viên tinh thần đấu tranh cách mạng. Bài "Quốc tế ca" từ lời thơ phỏng dịch của đồng chí Nguyễn ái Quốc đến bài ca hoàn chỉnh đã vang lên từ các ngục tối, toát lên ý chí chiến đấu và tinh thần bất khuất của các chiến sĩ.
Sau khi giành Độc lập, ngày 29 tháng 4 năm 1946, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh quy định công nhân được hưởng lương ngày nghỉ lễ Quốc tế Lao động 1-5. Từ đó, ngày 1 tháng 5 được coi là một trong những ngày lễ chính thức của nhà nước ta.
Ba mươi năm sau ngày Cách mạng tháng Tám, một sự trùng hợp ngẫu nhiêu trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc: ngày 1 tháng 5 năm 1975 toàn miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn Độc lập, Tự do.
Từ đó, đối với chúng ta, niềm vui của ngày 1 tháng 5 được nhân lên gấp bội.

16. Vì sao có ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3?

Theo ý kiến của GS sử học Lê Văn Lan nguồn gốc của ngày giỗ Tổ Hùng Vương như sau: "Tại Kính thiên lĩnh điện (Điện núi thờ Trời) trên núi Hùng, còn gọi là đền Thượng, có hai tấm bia cổ.
Tấm bia thứ nhất có tên là "Hùng miếu điển lệ bia" có ghi: xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm cả nước đến lễ, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày mà tục lễ của dân xã đó, lấy ngày 11/3, kết hợp với thờ thần thổ kỳ, làm lễ riêng, thường hứng bất kỳ, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì kém đi.
Nay cẩn thận tính lại rằng, từ đây về sau, lấy ngày 10/3, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt khiến dân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái".
Tấm bia thứ hai mang tên "Hùng Vương từ khảo" (tức Đền Hùng Vương khảo cứu) do tham chi Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ lập, ghi: "Trước đây, ngày Quốc tế (lễ) lấy vào mùa thu làm định kỳ.
Đến năm Khải Định (dương lịch là 1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ lễ ấn định ngày 10/3 hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ Hùng Vương đời thứ 18, một ngày. Còn ngày giỗ (tức 11/3) thì do dân sở tại làm lễ.

17. Ngày Quốc Khánh

Định nghĩa.
Ngày Quốc là một ngày lễ quan trọng của một quốc gia. Nó đánh dấu một sự kiện lịch sử hoặc văn hóa gắn liền với lịch sử Nhà nứơc hiện tại của quốc gia đó. Tại hầu hết các nước ngày Quốc khánh đánh dấu sự khai sinh của một quốc gia, ngày dành được độc lập , lật đổ chế độ cũ. Và ở quốc gia naò cũng vậy chính phủ thường lấy một ngày đặc biệt làm ngày quốc khánh cho quốc gia mình ví dụ như ở Trung Quốc làngày 9 tháng 10.Ở Mỹ là ngày 4 tháng 7. Ở Pháp là ngày 14 tháng 7.Và ở Việt Nam là ngày 2 tháng 9
2. Nguyên nhân và hoàn cảnh ra đời của ngày Quốc Khánh Việt Nam :2 – 9 – 1945
Ngày 19- 8 – 1945 chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân . Ngay 26 – 8 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách Mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Ngày 2-9-1945 tại Quảng Trường Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ Lâm thời , Chủ Tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới
“ tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng . Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy có quyền được sống , quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ,…
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do , độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tấtcả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do , độc lập ấy.”
Ngay sau khi bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh vừa đọc xong thì đó cũng là thời khắc cả dân tộc Việt Nam được độc lập và Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà ngày nay là CộngHòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chính thức được khai sinh . Và Chính phủ Việt Nam đã quyết định lấy ngaỳ 2-9 là ngày Quốc Khánh của cả dân tộc Việt Nam .[/size]

18. Ngày 30 tháng 4

Sự kiện 30 tháng 4, 1975, thường được gọi là 30 tháng 4 hay ngày giải phóng miền Nam, là sự kiện chấm dứt Chiến tranh Việt Nam khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện các lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày này là kết quả trực tiếp của chiến dịch mùa xuân năm 1975 và là một mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam.
Các Sự Kiện Dẫn Đến 30 Tháng 4
Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hoà suy giảm nghiêm trọng nhất là sau khi Nixon từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm 1974. Tổng thống Gerald Ford không thuyết phục được Quốc hội Hoa Kỳ chi thêm nhiều tiền cho chiến trường Việt Nam. Đến giữa tháng 3 năm 1975, sau hai năm ký hiệp định đình chiến, Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tấn công ở Tây Nguyên. Buôn Ma Thuột thất thủ gây chấn động hệ thống phòng thủ của quân đội Việt Nam Cộng Hoà và là khởi đầu những chiến dịch nối tiếp nhau. Tây Nguyên rồi Huế, Đà Nẵng lần lượt thất thủ.
Trong nửa đầu tháng 4, với Quân đoàn 2 của quân Giải phóng từ phía bắc tiến vào và quân đoàn 3 từ Tây Nguyên đổ xuống, lần lượt các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà rơi vào tay Quân Giải Phóng.
Ngày 9 tháng 4, Quân đoàn 4 quân Giải phóng định đánh chiếm thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh trên hành tiến - tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng của Sài Gòn - nhưng Sư đoàn 18 của Nam Việt Nam đã kháng cự ác liệt có tổ chức để giữ vững được thị xã. Đây là trận đánh dài ngày có tổ chức cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trận Xuân Lộc đã gây thương vong rất lớn cho cả hai bên.
Ngày 17 tháng 4, Thượng viện Mỹ từ chối khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 72 triệu đô la mà chính phủ Mỹ đề nghị. Tuy không ai tin rằng viện trợ Mỹ có thể xoay chuyển tình thế, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger và một số người khác đã hy vọng rằng nó có thể giúp Nam Việt Nam lấy lại được đủ vị thế về quân sự để thuyết phục Bắc Việt đàm phán. Hai ngày sau phán quyết này của Thượng viện, giám đốc CIA William Colby nói với tổng thống Ford: "Nam Việt Nam đang đối mặt với thất bại hoàn toàn và nhanh chóng". Các chuyến bay di tản do CIA tổ chức đã bắt đầu đưa các cộng tác viên người Việt ra khỏi Việt Nam, và Sứ quán Mỹ đã bắt đầu đốt tài liệu mật từ trước đó. Ngày 20 tháng 4 các thủ tục pháp luật được đơn giản hóa cho việc sơ tán người Việt bắt đầu có hiệu lực. Việc sơ tán này được thực hiện tại sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, do tướng Homer Smith chỉ huy. Các máy bay C-130 và C-140 liên tục lên xuống vào ban ngày; công việc giấy tờ được tiếp tục suốt đêm. Tướng Smith đã phải dùng đến toàn bộ trung đội Thủy quân lục chiến số 43 của Mỹ để giữ trật tự tại Tân Sơn Nhất.
Ngày 20 tháng 4 quân phòng thủ bỏ Xuân Lộc rút lui. Ngày Xuân Lộc thất thủ, không còn gì để cứu vãn nữa. Với việc bỏ Xuân Lộc khiến Sài Gòn không còn phòng thủ từ xa nữa, quân Giải phóng áp sát thành phố ở các tuyến ngoại vi. Cùng ngày 20 tháng 4, đại sứ Mỹ Martin đến phủ Tổng thống thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu từ chức, phía Bắc Việt đã liên tục tuyên bố sẽ không đàm phán với tổng thống Thiệu.
Tối ngày 21 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn từ chức dài trước quốc hội, buộc tội Mĩ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng phía MTGP không chấp nhận nói chuyện với ông ta. Thời điểm 21 tháng 4 khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức có ý nghĩa quyết định. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rằng "chìa khóa là ngày 21 tháng 4, khi Thiệu từ chức. Khi đó tôi biết rằng chúng tôi phải tấn công ngay lập tức, cướp lấy thời cơ, tất cả chúng tôi cũng đồng ý như vậy". Đêm hôm đó, tại sở chỉ huy tiền phương tại Lộc Ninh, cách Sài Gòn 75 dặm, tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy các cánh quân tiến về thành phố, ra lệnh bắt đầu cuộc tổng tiến công.
Để đảm bảo áp đảo chắc thắng Quân Giải Phóng đưa thêm cả Quân đoàn 1 (hay còn gọi là Binh đoàn Quyết thắng) bằng tầu biển và hàng không vào chiến trường cho trận cuối cùng có tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng tiến công Sài Gòn tương đương 20 sư đoàn với

5 quân đoàn
17 giờ ngày 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng với 5 quân đoàn ở 5 hướng tấn công: hướng Bắc với Quân đoàn 1, hướng Tây Bắc với Quân đoàn 3, hướng Tây và Tây Nam với Đoàn 32, hướng Đông với Quân đoàn 4 và hướng đông nam với Quân đoàn 2.
Đến cuối ngày 28 tháng 4 tất cả các tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng tại tất cả các hướng, quân Giải phóng có thể đi ngay vào thành phố. Các lực lượng chính trị thứ ba dàn xếp để đưa Đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống trong ngày 28 tháng 4 năm 1975. Ngay khi nhậm chức để tiến hành đàm phán Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ ra đi.
Trong các ngày 28, 29 tháng 4 từ các tàu sân bay ngoài khơi Thuỷ quân lục chiến Mỹ dùng trực thăng di tản người nước ngoài và một số người Việt đã từng cộng tác chặt chẽ với họ. Cuộc di tản đã diễn ra trong lộn xộn vì rất nhiều người muốn ra đi nhưng không thể đáp ứng hết được. Các điểm đỗ của trực thăng trở nên hỗn loạn. Lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ đã phải rất vất vả mới duy trì được trật tự, họ dùng sức mạnh thô bạo gạt phăng các bạn đồng minh cũ đang trong cơn hoạn nạn. Người Mỹ đã phải bỏ lại nhiều người bạn lâu năm của mình. Hình ảnh di tản đã in đậm trong trí óc nhiều người Mỹ và Việt như một kỷ niệm rất buồn. Đại sứ Graham Martin là một trong những người Mỹ cuối cùng ra đi. Trong số 120.000 người Việt và 20.000 người Mỹ được di tản trong đợt này, không có một người nào bị thiệt mạng do hoạt động quân sự của quân Giải phóng Quân Giải Phóng dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để cho người Mỹ di tản hết mới vào. Theo lời tướng Trần Văn Trà, họ đã đợi vì mục đích chính là để giải phóng Sài Gòn chứ không phải để giết người.
Ngày 30 tháng 4
8 giờ sáng 30 tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh và Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa hạ lệnh đơn phương ngừng chiến sẵn sàng đón quân đối phương vào Sài Gòn để bàn giao chính quyền.
9 giờ sáng cùng ngày, đúng 1 tiếng đồng hồ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời nóc tòa Đại Sứ quán, tướng Trần Văn Trà lệnh cho quân Giải Phóng tiến vào Sài Gòn từ năm hướng. Họ đã tiến nhanh mà không gặp kháng cự có tổ chức.
10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, Xe tăng mang số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ và bị kẹt tại đó. Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng, chỉ huy xe 843 - nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào. Xe tăng 390 húc tung cánh cửa chính của dinh.
11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên.
Cùng lúc này, đại úy trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 và biệt động thành Sài Gòn tiến vào dinh Độc Lập bắt Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là ông Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền Sài Gòn. Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội cách mạng.
Khoảng 12 giờ trưa, đại úy Phạm Xuân Thệ đưa tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Borries Gallasch (người Đức, báo Der Spiegel) và Hà Huy Đỉnh. Tại đài phát thanh, tổng thống Dương Văn Minh đã đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Thay mặt các đơn vị Quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập, trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Chiến tranh kết thúc.
Kết qua
Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 có vai trò rất quan trọng và lâu dài trong lịch sử Việt Nam với kết quả:
Chấm dứt Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương, một quá trình chiến tranh hao người tốn của kéo dài 30 năm. Việt Nam bắt đầu bước và một thời kỳ mới.
Kết thúc sự tồn tại của nhà nước Việt Nam Cộng hòa, đưa Việt Nam nằm hoàn toàn dưới sự lãnh đạo của những người Cộng sản. Sự kiện này đã ngã ngũ sự thất bại của phía Quốc gia trong cuộc đấu tranh Quốc gia - Cộng sản tại Việt Nam. Sự kiện này chấm dứt giai đoạn các cường quốc thế giới can thiệp trực tiếp vào Việt Nam.

19. Tết Nguyên Đán

Tết Nguyên Đán (tết cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống việt nam từ hàng ngàn đơì nay là điểm giao thời giũa nam mới và năm mới., giũa một chu kỳ vận hành của đất trời vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên Đán Việt Nam từ buổi” khai thiên lập địa “ đã tiềm tàng những giá trị nhân văn thể hiển mối quan hệ giưã con người với thiên nhiên qua 4 mùa xuân, ha, thu, đông và quan niệm “ ơn trời mưa nắng phải thì “ chân chất của người nông dân cày cấy ở việt nam… Tết còn là dịp dể mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý và tình nghĩa xóm làng…
Ông Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nha. Theo tập tục hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngay 23 tháng chạp để tâu bày mọi viêc dưới trần thế với Ngọc Hoàng . Bởi thế nên trong ngày này mọi gia đình người Việt Nam đều làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa ”Ông Táo “ . Ngày ông Táo về chầu trời được xem như là ngày đầu tiên của tết Nguyên Đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu don dẹp nhà cửa , lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối và cắm hoa ở những nơi trang trọng để chuẩn bị đón Tết .
Cùng với tranh dân gian, câu đối, hoa quả là yếu tố tinh thần thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân .Miền Bắc có hoa đào , miền Nam có hoa mai, hoa đào hoa mai tượng trưng cho phúc lộc đầu xuân của mọi gia đình người Việt. Ngoài cành đào cành mai mấy ngày tết người ta còn trưng thêm cây quất chi chít trái vàng đặt ở phòng khách tương trưng cho sự sung mãn may mắn hạnh phúc…
Tết trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái cây đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nãi chuối xanh quả bưởi quả cam (hoăc quít) , hồng quất. Còn ở miền Nam, dừa xiêm, mảng cầu, đu đu, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao cùa con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng dược gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ…Từ trẻ tới già ai ai cũng biết, sau dây là một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.
Tống cựu nghênh tân: cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cữa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưỡi, cùng làng xóm dọn dep nhà thờ, lau giặt cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghe, ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng. Con cháu trong nhà từ phút giao thừa trở đi không đươc nghịch ngợm , cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy… anh chị. Cha mẹ cũng không quở mắng, tra phạt con em đối với ai cũng tay bắt mặt mừng , vui vẻ niềm nỡ chúc nhau những điều tốt lành .
Hái lộc, xông nhà , chúc Tết , mừng tuổi: Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ, thành đạt hơn năm ngoái. Nhiều nhà tự đi hái lộc ở chốn đình chùa nơi tôn nghiêm về nhà tự xông nhà hay dặn trước người” nhẹ vía” mà mình thích đến xông nhà. Nhiều ngưới không tin tập tục xông nhà nhưng cũng dè dặt chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay lại đổ cho mình” nặng vía”. Chính vì vậy, sáng mồng một lại ít khách.
Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết, con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng và bạn bè thân thiết. Lời chúc Tết thường là lời chúc sức khoẻ , phát tài phát lộc, những người năm cũ găp rủi ro thì động viên nhau “ tai qua nạn khỏi”. Nghĩa là trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Nhưng nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta thường kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.
Phong tục ta ngày Tết việc biếu quà Tết, tỏ ân nghĩa tình cảm , học trò Tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc con rễ tết bố mẹ vợ… Quà biếu, quà tết không đánh giá theo giá thị trường .Nhưng cũng đừng nên gò bó câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: không có quà ngại không đến....
Ơ nước ta, vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát tuần , cửu tuần… tính theo tuổi mụ.Ngày tết ngày xuân cũng là dịp mọi người đang rãnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui .
Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ấn, học trò, sỹ phu khai bút nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sỹ, nông, công, thương”tứ dân bách nghệ” của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội thành công, làm ăn suôn sẻ. Sau ngay mồng một dù có mải vui tết cũng chọn ngày”khai nghề”, ”làm lấy ngày”. Nếu như mồng một tốt thì chiều mồng một bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong chọn giờ hoàng đạo không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tụ làm cho gia đình một sản phẩm, môt dụng cụ nào đó. Người buôn bán, vì ai cũng chon ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

20.            Vào dịp này, trời thường mưa gió, sập sùi, thuở trước, khi còn nghèo nàn, quang cảnh thôn quê rất đỗi yêu thương. Nguyễn Du từng mô tả trong “văn tế thập loại chúng sinh”: “ trời tháng bảy mưa dầm sùi sụt; toát hơi mây lạnh ngắt xương khô; não người thay buổi chiều thu; ngàn lau nhuộm bạc, lá ngô rụng vàng”.
Tiết trời như vậy thật dễ làm cho con người ta thấy được sự mong manh của kiếp người với cõi người, và lễ xá tội vong nhân vào dịp này dường như càng là sự ấn định hợp lý của trời, đất và Đức Phật.
Theo nhà phật, đó là lễ Vu Lan, bắt nguồn từ tích tôn giả Mục Kiền Liên thương mẹ bị đoạ đầy dưới địa ngục, được Đức phật chỉ bảo làm lễ cúng Giàng, chú tâm cầu nguyện thì có thể siêu thoát cho mẹ. Lại có một tích khác của người Trung Hoa kể rằng, ngày lễ trên có liên quan đến câu chuyện “ quỷ miệng phun lửa “ đến tịnh thất của ông A nan đà đoài ăn. Ong nàysợ hãi, đến bạch đức phật và được Ngài dạy đến rằm tháng bảy làm lễ cúng quỷ phun lửa sẽ được thêm phúc đức.
Người dân Việt tiếp nhận tích những câu chuyện này nhưng đã mở rộng ra, biến thành lễ “xá tội vong nhân” không chỉ là dịp để tỏ lòng thành kính với các bậc sinh thành, cũng không cúng riêng “quỷ miệng lửa” mà cúng tất cả các cô hồn nói chung. Người ta cho rằng, những ai khi sống phạm nhiều tội lỗi thì linh hồn sẽ bị xiềng xích đầy ải nơi địa ngục. Tuy nhiên mỗi năm đến dịp rằm tháng bảy, xiềng gông được mở để mọi cô hồn có dịp trở về dương thế gặp lại người thân, nhận tiền vàng, đồ ăn và quần áo. Mỗi năm một lần, mọi linh hồn, bất kể khi sống thế nào, đến ngày đó vẫn đươc “xá tội”, được hưởng sự yêu thương của đồng loại. Nhà nhà mua sắm đồ vàng mã, mấu cháo loãng, rang bỏng ngô chuẩn bị cúng ngoài trời để đãi “ma đói” – những cô hồn vờ vật không có người thân cúng giỗ .
Có thể vì thế mà vào những ngày này, lòng chúng ta phần nào chưa yên vì còn không ít đồng bào, đồng hương chưa được nhận nghĩa cả như vậy. Lễ Vu Lan sau sáu mươi năm nước việt nam mới và 30 năm thống nhất đất nước, với tâm thức hướng về một chữ việt toàn vẹn, đủ nghĩa, chúng ta thắp nén hương chung, một lễ cầu siêu chung cho tất cả những người con Việt Nam đã nằm xuống trong nạn đói năm At Dậu và trong suốt mấy cuộc chiến tranh.
Tiếp tục chăm lo chu đáo hơn cho các gia đình liệt sỹ, thương binh và những người có công, nhưng cũng không quên những nạn nhân khác của chiến tranh. Để vết thương được vĩnh viễn lành sẹo, để tạo ra sự đồng thuận của cả một dân tộc đang vươn lên thoát khỏi tình trạng kém phát triển, để dành lấy vị trí xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

21.       Tết Trung Thu

Theo sử sách tết trung thu đa có cách đây ít nhất 2000 năm . Từ thời cổ xưa các vị vua chúa có tuc lệ tế mặt trời vào màu xuân, tế mặt trăng vào mùa thu.
Theo âm lịch ngày 15 tháng 08 âm lịch hàng năm được lấy làm ngày tết trung thu.
Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp tết trung thu đã có cách đây hơn 1 nghìn năm .
Trong đêm 15 tháng 08 âm lịch hàng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh”đoàn viên” bởi lẽ trong dịp này cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức bánh trung thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà.
Đêm trung thu, các em nhỏ rước đèn múa sư tử. Ngoài bắc gọi là múa sư tử, trong nam gọi là múa lân . Lân còn gọi là kỳ lân, kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh: Long, Lân ,Quy, Phụng.
Lân là con vật thần thoại thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngụ sắc lông trên bụng màu vàng. Tục truyền, lân là con vật hiền lành chỉ có người tốt mới nhìn thấy được. Thoạt nhìn đầu lân giống đầu sư tử . Do vậy, người ta gọi múa lân là múa sư tử .
Ở một vài địa phương, các em nhỏ có tục rước đèn kéo quân trong dịp tết trung thu. Đèn kéo quân hình vuông cao khoảng 80 cm, rộng mỗi bề khoảng 50 cm. Bốn mặt đều phết giấy tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sẵc sỡ. Bên trong có một tán giấy hình tròn . Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân, vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu, hoặc tắt thì các tán mới khong quay nữa. Đèn có 4 mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được.
Trẻ em vốn dĩ rất thích ăn bánh trung thu, múa lân và rước đèn kéo quân. Từ đó, tết trung thu nghiễm nhiên trở thành tết của các em từ hàng ngàn năm nay.

MỤC LỤC

      Tiến trình phát triển lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ

1.                  Lễhội dân gian - Nét đẹp sinh hoạt văn hóa Nam Bộ

2.                  Lễ hội đua ghe ngo Khmer Nam Bộ!!!

3.                  Lễ hội núi Bà Đen_Tây Ninh

4.                  LễgiỗNguyễn Trung Trực

5.                  Lễ Dolta và hội đua bò của người Khơme Nam Bộ

6.                  Lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn, Vĩnh Long

7.                  những lễ hội ở tỉnh Tiền Giang

8.                  những lễ hội ở thành phố Hồ Chí Minh

9.                  Lễ dâng bông của người Khmer Nam Bộ

10.              Lễ hội Gò Tháp - Đồng Tháp

11.              Lễ hội Sen Đolta

12.              Lễ Hội Chùa Bà

13.              Lễ Hội Chôl Chhnăm Thmây

14.              LễOk Om Bôk Và Hội Đua Ghe Ngo

15.              Hội Đua Ghe Ngo

16.              LễHội Tầm Vu

17.              Hội Tứ Kiệt

18.              Lễ Hội Nghinh Ông Ở Vũng Tàu

19.              Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ

LỂ HỘI MIỀN TRUNG

1.      Lễ hội Ariêuping của dân tộc Pa Cô!!!

2.      Lễ hội Cầu Ngư ở Thai Dương Hạ

3.      Hội xuân Gia Lạc

4.      Lễ Yôh Yang

5.      Lễ Đâm Trâu_Gia Lai

6.      Lễhội văn hóa ởThừa Thiên Huế

7.      Lễ bỏ mả của người Gia Rai Mthur

8.      Lễăn cơm mới ởTây Nguyên

9.      Hội đua voi]

10.  Đến Hội An nhớ xem hội bài chòi

11.  Lễhội giỗtổngành thêu ởĐà Lạt

12.  Lễ"Pa Sưm" của người KhơMú

13.  Lễ hội nghinh ông -bình thuận

14.  Lễ hội Dinh Thầy - Thím Bình Thuận

15.  Lễ hội chém trâu tế thần của người Chăm Lạc Tánh

16.  Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ

17.  Lễ mừng tuổi lớn khôn

18.  Lễ bỏmả

19.  Lễăn cơm mới

20.  Hội đua voi

21.  Lễăn trâu của gia đình

22.  Lễ rước hồn lúa của người M'nông

23.  Lễ Hội Tạ Ơn Mùa Của Người Pakô

24.  Lễ ăn trâu

25.  Lễ Cúng Bến Nước Của Đồng Bào Êđê (Đắk Lắk)

26.  LễHội Cúng Đất Làng Của Người Ba Na ƠKon Tum Và Gia Lai

27.  Lễ hội “rước nước” ở làng bồng thượng, thanh hoá

28.  Hội vật cù ở thanh chương

29.  Hội đền công (cuông)

30.  Lễ hội cổ truyền phố cổ hội an

31.  Lễ hội đua thuyền ở quảng ngãi

32.  Lễ hội làng kiên mỹ

33.  Lễ hội katê - di sản văn hóa chăm độc đáo

34.  Lễ hội cầu ngư

LỂ HỘI MIỀN BẮC

1.                 Lễ hội tạ thần mặt trăng

2.                 Hội Phong Chúa Rước Vua

3.                 Hội Gióng - xã Phù Đổng - Gia Lâm - Hà Nội!!!

4.                 Lễrước Thánh Tản Viên vềthăm đất tổ

5.                 Thái Bình-Hội Sáo Đền: Lễ hội thả diều độc đáo

6.                 Lễhội Chùa Keo (Thái Bình)

7.                 Hội Long Vân

8.                 Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà Thẻn

9.                 Lễ Mụ Thố của người Mường (Hoà Bình)

10.                  Lễ hội Trường Yên_Ninh Bình

11.            Lễhội Triều Khúc

12.            Lễ hội chém lợn ở Bắc Ninh

13.            Hội đền Hai Bà Trưng

14.            Lễ hội Phủ Giầy - Nam Định

15.            Hội vật Liễu Đôi

16.            Hội ném Còn - Nét đẹp trong ngày Tết.

17.            Lễ hội Xăng Khan

18.            Hội Lồng tồng (Bắc Cạn)

19.            Lễ hội xuống đồng của người Tày Na Hối ( Lào Cai )

20.            Hội Lim - Bắc Ninh

21.            các lễ hội ở kinh Bắc

22.            Một nét tâm linh miền Quan họ

23.            Mùa xuân này trẩy hội Lim

24.            Hội rước pháo làng Đồng Kỵ - Nét đặc sắc lễ hội vùng Kinh Bắc

25.            Đền Mộ Đạo và lễ hội vùng ven sông Đuống

26.            Tháng tám giỗ cha...

27.            Hội vật Mão Điền

28.            Thiêng liêng hồn Việt, tình quê

29.            Lễ hội đình Từ Phong

30.            Hội nhồi với tục rước Bà Đống

31.            Tiên Du: Lễ hội chém lợn

32.            Hội làng Phù Ðổng

33.            Hội chen

34.            Lịch một lễ hội tiêu biểu xứ Bắc (Bắc Ninh)

35.            Hội đầu pháo KỳLừa - Tỉnh Lạng Sơn

36.            Hội đền Du Yến ở xã Chí Tiên, Phú Thọ

37.            Lên Tây Bắc dựlễhội trùm chăn

38.            Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày ở Bắc Hà Lễ hội rước Đất, rước Nước của người

39.            Lễhội “Nào Cống"

40.            Độc đáo - hội đả ngư (Hà Tây

41.            Lễ hội "Xến Xó Phốn" của người Thái vùng Tây Bắc

42.            Người Lô Lô với lễ cầu mưa

43.            Tet nguoi hmong

44.            Tet nguoi thai

45.            Tet nguoi muong

46.            Ngày hội xòe thái – tây bắc

47.            Hội hoa ban trên vùng tây bắc

48.            Lễhội gầu tào của người h’mông

49.            Lễ hội roóng poọc của người giáy

50.            Lễhội xuân ba bể

51.            Lễ hội yên tử

52.            Lễ hội lồng tồng

53.            Hội chùa hương

54.            Lễ hội đền hùng

LỂ HỘI TRÊN THẾ GIỚI

1.                   Ngày LễTình Yêu

2.                   Ngày Quốc Tế Phụ Nữ

3.                   Lễ hội thần Mặt trời

4.                   Lễ Hội Loi Krathong

5.                   Lễhội đèn lồng Trung Quốc - "Bữa tiệc nghệthuật"

6.                   Lễhội Dano ởHàn Quốc

7.                   Các lễ hội của Hàn Quốc

8.                   Nguồn gốc!!Tết Đoan Ngọ - tết mùng 5 - 5 âm lịch

9.                   Các phong tục lạ về Đám cưới ở Trung Quốc

10.              Ý Nghĩa Ngày nhà giáo Việt Nam?

11.              Tết nguyên tiêu

12.              Lễ hội té nước ở Thái Lan, Campuchia

13.              Lịch sửngày cá tháng tư(1/4)

14.              Lịch sư ngày Halloween

15.              Lịch Sử Ngày Quốc tế lao động 01/05

16.              Vì sao có ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3?

17.              Ngày Quốc Khánh

18.              Ngày 30 tháng 4

19.              Tết Nguyên Đán

20.              Lễ Vu Lan - Xá Tội Vong Nhân

21.              Tết Trung Thu

Bình luận

 Bình luận
0 Bình luận