trang Blog

LongvuTham gia: 05/12/2008
  • WTO TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
    Giải Trí
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    WTO TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

    WTO
    TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

    LS NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

    Như vậy là sau 11 năm với trên 4000 cuộc họp, cuộc gặp gở và đàm phán, Việt Nam đã tiến sát ngưỡng cửa Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO). Và trong tháng 03/2006 vừa rồi, VN đã kết thúc việc đàm phán với Honduras, Domonica là hai trong bốn nước đối tác còn lại cuối cùng (gồm Mexico, Honduras, Domonica, Hoa Kỳ) và cũng đã tiến hành đàm phán gần dứt điểm với Mexico (chỉ còn vướng mắc duy nhất một điểm nhỏ) và với Hoa Kỳ (chỉ còn hai điểm vướng mắc cuối cùng). Có lẽ trong tháng 05/2006, các buổi đàm phán kết thúc cuối cùng sẽ được thực hiện thành công tốt đẹp. Dư luận chung của cả hai phiá, VN và Hoa kỳ, đều tích cực ủng hộ VN gia nhập tổ chức WTO. Ngoài việc, tại Hội nghị quan chức cấp cao APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương) với 21 nước thành viên, họp 11 ngày tại Hà Nội, đã nhất trí kêu gọi sớm kết thúc đàm phán gia nhập WTO đối với VN, thì 21 tập đoàn doanh nghiệp Mỹ trong chuyến thăm và khảo sát đầu tư tại Tp.HCM và Hà Nội cũng đã lên tiếng ủng hộ VN sớm gia nhập Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này (vì WTO qui tụ đến thời điểm hiện nay có đến 150 nước thành viên và 29 nước quan sát viên trên tổng số nước thành viên thuộc tổ chức LHQ là 191 nước, chiếm giữ 85% thương mại toàn cầu và đạt tới 90% thương mại dịch vụ toàn thế giới). Chính Đại sứ Hoa Kỳ tại VN, trong bài trả lời báo chí gần đây, cũng đã ủng hộ VN tham gia WTO, đồng thời cũng đánh giá triễn vọng gia nhập WTO của VN là chắc chắn và rất cận kề. Dư luận chung là VN sẽ trở thành thành viên WTO trước khi Hội Nghị APEC diễn ra tại Hà Nội và trước thời điểm Tổng thống Bush (Hoa Kỳ) đến dự Hội Nghị này và viếng thăm VN. Khi gia nhập, VN sẽ là thành viên thứ 151.

    Đây là vấn đề có tính thời sự. Vì vậy, chúng ta thử tìm hiểu tổ chức, vai trò và quá trình hoạt động của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) như thế nào?

    I. VIỆC THÀNH LẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI:

    Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation), gọi tắt là WTO, vốn có tiền thân là GATT (Hiệp định chung về thương mại). Chính tại vòng đàm phán của GATT tại Uruguay vào tháng 04/1994 các nước tham gia đã nhất trí thông qua “Hiệp định thành lập WTO”, chọn đặt trụ sở tại Geneva (Thụy Sĩ). Bản Hiệp định này có nội dung chung bao gồm: 1 lời nói đầu, 16 chương và 6 phụ lục. Hiện nay, WTO có tất cả là 150 thành viên, nước Hoàng Gia Campuchia (còn gọi là Combodia) là thành viên thứ 148 (là một trong 32 nước thành viên thuộc loại chậm phát triển của WTO).

    WTO là tổ chức thương mại thế giới đầu tiên mạnh dạn đưa ra các luật lệ và qui tắc mậu dịch điều chỉnh quan hệ giữa các nước trên qui mô rộng rãi toàn cầu, kể cả các qui định về giám sát và giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các nước.

    II. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ MỤC TIÊU, CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG:

    1. Cơ cấu tổ chức: Hệ thống tổ chức của WTO bao gồm:

    • Hội nghị các Bộ trưởng (theo chương IV Hiệp Định): là cơ quan quyền lực cao nhất của WTO, bao gồm các nước thành viên, ít nhất mỗi hai năm họp một lần, có thẩm quyền quyết định các nội dung, các vấn đề liên quan đến hoạt động của WTO:

     
    • Ủy Ban thương mại và phát triển.
    • Ủy Ban ngân sách và tài chính .
    • Ủy Ban giám sát cán cân thanh toán.
    • Ba Ủy ban này được Hội nghị Bộ trưởng ủy quyền giải quyết các hoạt động có tính chuyên môn trên các lĩnh vực liên quan trong thời gian giữa hai kỳ họp của Hội nghị Bộ trưởng.
       

    • Bên cạnh còn có các ban hoạt động có tính chuyên trách như: Ban mậu dịch hàng hóa; Ban mậu dịch dịch vụ; Ban quyền sở hữu trí tuệ, mà các thành viên tham gia là đại diện các nước thành viên WTO.
       

    • Ban Thư ký WTO: là cơ quan thường trực của WTO do một Tổng Giám đốc trực tiếp điều hành. Tổng Giám đốc này do Hội Nghị Bộ trưởng bầu ra và chính Hội nghị qui định về nội dung hoạt động, quyền hạn và nhiệm vụ, cũng như các điều kiện và thời gian hoạt động. Vị Tổng giám đốc này có thẩm quyền bổ nhiệm các viên chức trong Ban Thư ký và trực tiếp giao trách nhiệm cho viên chức, cũng như việc tạo điều kiện cụ thể thực hiện công việc của Ban Thư ký.

    1. Mục tiêu và chức năng hoạt động của WTO:

    • Mục tiêu: WTO tập trung vào 4 nhóm mục tiêu lớn gồm:

     
    • Tự do hóa thương mại cả về hàng hóa và dịch vụ thông qua các cuộc đàm phán, loại bỏ thuế quan cùng các hạn chế về số lượng hàng hóa, các trở ngại phi thuế quan khác.
       

    • Không phân biệt đối xữ thông qua chế độ tối huệ quốc (MFN) và chế độ đối xữ quốc gia (NT); vận dụng mềm dẽo các điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế theo các thoả thuận riêng và các ngoại lệ.
       
    • Xây dựng và phát triển môi trường thuận lợi cho mở rộng thương mại quốc tế với đảm bảo thông suốt, chắc chắn và dự báo được các diễn biến có thể xãy ra.
       

    • Tăng cường khả năng trao đổi, tham khảo ý kiến giữa các nước thành viên trong giải quyết các tranh chấp thương mại để hạn chế thiệt hại, đảm bảo thể chế hóa qui chế chung và sự tôn trọng các điều ước đã ký.
    • Chức năng và phạm vi hoạt động của WTO:
      WTO là một pháp nhân được các nước thành viên công nhận, có bộ máy điều hành độc lập, thường trực và ngân sách hoạt động . WTO có các chức năng như:

     
    • Xây dựng và củng cố hệ thống pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại.
       

    • Rà soát các chính sách thương mại của các nước thành viên.
       
    • Quản lý, theo dõi việc thực thi Hiệp định đã ký kết.
       
    • Là diễn đàn đàm phán, tổ chức và phục vụ cho các cuộc đàm phán của các thành viên, cũng như các nước trong quá trình đàm phán gia nhập.
       

    • Giải quyết các tranh chấp về thương mại, dịch vụ, sở hữu trí tuệ giữa các nước thành viên.
       
    • Hợp tác, phối hợp liên kết với các tổ chức thương mại, tài chính khác của quốc tế như ngân hàng thế giới (WB),
       
    • Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), v.v… để nâng cao hiệu quả hoạt động WTO.
       
    • Quản lý Ban thư ký WTO theo chế độ hoạt động thường trực tại Geneva

    III. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA WTO CÓ TÍNH KẾ THỪA CỦA GAT (General agreement on Trade):

    1.  Các nguyên tắc hoạt động của WTO:
      Được tổng hợp từ 29 văn bản pháp luật riêng biệt và 25 tuyên bố bổ sung khác, thành 5 nguyên tắc cơ bản định hướng hoạt động cho WTO gồm:

      a) Nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xữ (non discrimination): được thực hiện dưới 2 hình thức:

     
    • Hình thức tối huệ quốc(MFN): Được diễn dịch là mỗi nước thành viên sẽ dành sự ưu đãi của mình đối với sản phẩm của các nước thành viên khác, không có nước nào dành lợi thế thương mại đặc biệt cho bất cứ một nước nào khác hay phân biệt đối xữ chống lại nước đó (trên cơ sở bình đẳng và phân chia lợi ích mậu dịch ở mọi lĩnh vực). Riêng các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế thấp kém có thể hưởng lợi ích từ điều kiện thương mại thuận lợi nhất ở bất cứ nơi nào mỗi khi các điều kiện thương mại được đưa ra đàm phán.
      Ngày nay, qui chế “tối huệ quốc” được hiểu như là sự bình thường hóa quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn.
       

    • Hình thức đối xữ quốc gia (National treatment): Đối xữ quốc gia(NT) được hiểu là: “khi hàng hóa thâm nhập vào một thị trường, sẽ phải được đối xữ không kém ưu đãi về thuế, điều kiện vệ sinh, v.v… so với hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước đó”. Sự đối xử quốc gia thường chỉ là kết quả của cuộc đàm phán, thương lượng giữa các nước thành viên với nhau.

    • b) Nguyên tắc tạo điều kiện hoạt động thương mại ngày càng thuận lợi và tự do hơn thông qua đàm phán. Tức là mỗi nước phải thiết lập được lộ trình cắt giảm thuế và các biện pháp phi thuế quan thông qua các vòng đàm phán song phương và đa phương để tạo thuận lợi cho việc thực hiện tiến trình tự do hóa thương mại. Các nước thành viên phải có nghĩa vụ tạo môi trường lành mạnh , công khai , bình đẳng giữa các sản phẩm sản xuất trong nước mình và sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu.

      c)
      Nguyên tắc xây dựng môi trường kinh doanh có thể dự đoán trước: Được thể hiện qua việc các nước thành viên không được thay đổi các chính sách , pháp luật về kinh tế một cách tuỳ tiện, đặc biệt là hàng rào thương mại, gây trở ngại cho các nhà doanh nghiệp và nhà nhập khẩu khi thực hiện các kế hoạch, các chính sách thương mại của mình.

      d) Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh công bằng: Các nước thành viên phải cam kết giảm dần đi đến cắt bỏ các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng (như trợ giá, tài trợ xuất khẩu), phải chống bán phá giá, từ bỏ các biện pháp ưu đãi, đặc quyền đặc lợi trong hoạt động thương mại, kể cả ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước.

      e) Nguyên tắc chấp nhận dành một số ưu đãi thương mại cho các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển: như ưu đãi về thuế nhập khẩu hàng hóa của các nước đang phát triển (hay chậm phát triển) vào thị trường nội địa của các nước công nghiệp phát triển (theo qui định “Hệ thống ưu đãi thuế quan tổng quát” – Genenalized Systems of preference). Các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển được ưu đãi không phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của WTO như các nước công nghiệp phát triển, được kéo dài lộ trình thời gian điều chỉnh, sửa đổi các chính sách thương mại, kinh tế để phù hợp dần với các qui định của WTO.

    1. Các nội dung hoạt động chủ yếu của WTO kế thừa GAT (General agreement on Trade):
      a) Mậu dịch về hàng hóa ( theo GAT - General agreement on Trade):

     
    • Không phân biệt đối xử về thuế nội địa, về chính sách giá cả, các loại chi phí, phân phối hàng hóa, vận chuyển, v.v… (áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc đối với hàng nhập có nguồn gốc từ các nước khác và nguyên tắc đối xử quốc gia đối với hàng hóa nhập khẩu so với hàng sản xuất trong nước).
       

    • Chỉ có thuế quan nhập khẩu mới là biện pháp bảo hộ thị trường trong nước duy nhất được sử dụng vì đây là biện pháp bảo hộ có tính minh bạch, rỏ ràng, công khai ít làm sai lệch thương mại nhất . Cần loại bỏ các hàng rào mậu dịch phi thuế quan như: giấy phép nhập khẩu hạn ngạch (quota) và các hạn chế thương mại khác.
       

    • Các nước thành viên WTO cam kết phải cắt giảm thuế quan và không tăng thuế nhập khẩu hầu tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa các nước.
       

    • Cần loại bỏ các biện pháp hạn chế số lượng hàng hóa nhập khẩu. Song nếu thật cần thiết, có thể áp dụng các biện pháp này (vì vấn đề an ninh quốc gia, truyền thống văn hóa, môi trường, sức khỏe cộng đồng, v.v…), nhưng chính phủ liên quan phải công bố tin tức đầy đủ, công khai, minh bạch cho thương nhân biết cách thức cấp giấy phép và căn cứ xét cấp (kể cả các biện pháp phi thuế quan hay việc thay đổi thủ tục hiện hành).
       

    • Không phân biệt thành phần kinh tế đối với tổ chức hay cá nhân của nước sở tại cũng như tổ chức, cá nhân của các nước thành viên WTO về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của nước sở tại.
      Phải hạn chế việc trợ cấp tràn lan của chính phủ và phải chống bán phá giá khiến làm sai lệch nguyên tắc thương mại bình đẳng.
       

    • Việc trị giá tính thuế quan và giá giao dịch phải dựa vào thực tế thị trường chứ hoàn toàn không do các cơ quan quản lý nhà nước áp đặt tính giá.
      Các doanh nghiệp nhà nước ở các nước thành viên WTO phải đảm bảo hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường cạnh tranh bình đẳng.
       

    • Cho phép các nước thành viên được sử dụng một số biện pháp tạm thời để bảo vệ thị trường nội địa như: các biện pháp chống bán phá giá, thuế đối kháng, tự vệ khẩn cấp (vì biện pháp thuế chống phá giá để tạo nguồn tài chính bù đắp thiệt hại do việc bán phá giá gây nên; còn biện pháp trợ cấp và thuế đối kháng nhằm bảo vệ các ngành sản xuất còn non trẻ, còn yếu và để giảm bớt nửa thiệt hại do việc trợ cấp tạo ra.; còn biện pháp tự vệ khẩn cấp có tính tạm thời để đối phó, kể cả biện pháp hạn chế số lượng hàng hóa nhập khẩu, nhưng nước thành viên đưa ra biện pháp phải thông báo cụ thể các biện pháp này chỉ áp dụng đối với các sản phẩm nội địa đang bị ảnh hưởng; các biện pháp này không được lợi dụng để áp dụng đối với trường hợp sản xuất nội địa đang gặp khó khăn do năng lực cạnh tranh yếu kém vì trình độ quản lý công nghệ lạc hậu, giá thành cao, tay nghề kém, năng suất thấp, v.v…)
       

    • Áp dụng Hiệp Định dệt may ATC (Agreement on Textiles and Clothing) thay cho Hiệp định đa sợi MFA (Multifiber Agreement) tiến tới xóa bỏ hạn ngạch (ví dụ: VN trong năm 2006, khi trở thành thành viên WTO thi hàng dệt may của VN xuất khẩu sang các nước thành viên khác sẽ không còn bị hạn chế hạn ngạch – quota – nữa).

    • b) Áp dụng mậu dịch dịch vụ theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS (General Agreement on Trade in Services): nhằm mở cửa thị trường thương mại dịch vụ hầu tạo ra được đa dạng nhiều loại dịch vụ với giá rẻ, chất lượng cao gồm 12 ngành và 155 phân ngành (ngoại trừ các dịch vụ công do nhà nước cung cấp) gồm:

     
    • Cung cấp các dịch vụ xuyên quốc gia, xuyên biên giới (như điện thoại quốc tế).
       
    • thụ các loại dịch vụ ở nước ngoài (như hoạt động du lịch).
       
    • Cung cấp các dịch vụ có tính thương mại tài chính, tín dụng (như ngân hàng).
       
    • Cung cấp các dịch vụ thông qua các thể nhân (như các loại thời trang, tư vấn các loại).
    • c) Áp dụng Hiệp định về các khía cạnh liên hệ thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPS (Agreement on Trade related aspects of intellectual property rights): áp dụng trong phạm vi các hoạt động như: bản quyền và các quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hóa; chỉ dẫn địa lý; kiểu dáng công nghiệp; sáng chế (patent); thiết kế bố trí mạch tích hợp; bí mật thông tin thương mại; hạn chế các hoạt động cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ.
      Có một số trường hợp được miễn trừ nghĩa vụ phải tuân theo Hiệp định TRIPS của WTO, khi phải áp dụng các thoả thuận khác như: công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật; công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất băng ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình; công ước Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp.
       

    • d) Áp dụng Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại TRIMS (Agreement on trade related invesment measures): nhằm tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho đầu tư quốc tế, bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:

     
    • Cho phép nhà đầu tư nước ngoài được hưởng nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) trong các hoạt động đầu tư trong các nước thành viên WTO.
       
    • Phải loại bỏ các biện pháp thương mại gây cản trở cho các hoạt động đầu tư như: biện pháp bắt buộc về “tỉ lệ nội địa hóa” linh kiện lắp ráp và biện pháp “cân bằng thương mại” mà doanh nghiệp phải tự cân đối về khối lượng và trị giá xuất nhập khẩu, về hối đoái.

    IV. CÁC QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN WTO:

    1. Các quyền lợi của các thành viên WTO:

     
    • Được hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN) của các nước: Các bên tham gia phải đối xử đối với các hàng hóa xuất khẩu của các nước thành viên theo nguyên tắc không phân biệt đối xử.
       

    • Được bảo đảm và ổn định cho việc xâm nhập các thị trường của các nước thành viên vì hàng xuất khẩu được hưởng thuế suất giới hạn.
       

    • Được đảm bảo bằng bộ máy điều hành của WTO và nguyên tắc các nước thành viên cùng tích cực trao đổi, đàm phán về vấn đề thương mại để giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các thành viên và tìm giải pháp vượt qua các khó khăn.
       

    • Sử dụng tích cực vai trò của WTO như là diễn đàn cho các cuộc thương thuyết đa phương hay song phương trong các vấn đề thương mại.

    • Được WTO giúp đở về kỷ thuật , thông tin và đào tạo.

    1. Các nghĩa vụ của các nước thành viên WTO:

     
    • Phải tuân thủ các nguyên tắc đã thỏa thuận chung và không còn được tự do lựa chọn chính sách thương mại riêng biệt.
       

    • Phải dành cho các nước thành viên khác chế độ tối huệ quốc (MFN) bằng biện pháp cắt giảm đáng kể thuế nhập khẩu, chỉ bảo vệ nền công nghiệp nội địa bằng các biện pháp thương mại khác như hạn ngạch, trợ cấp, ưu đãi riêng , v.v…
       

    • Phải tuân thủ thể chế điều hòa các tranh chấp thương mại trong Hiệp định về qui chế của WTO, không được kế hoạch hóa lưu thông hàng hóa giữa hai bên để dành lại ưu thế cho riêng một nước nào đó.
       

    • Phải cung cấp thường xuyên , đầy đủ các thông tin về cơ cấu quản l;ý kinh tế quốc gia, chính sách ngoại thương và cả hệ thống thuế quan.

    Qua nội dung tư liệu về Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nói trên, có thể nói ngay từ bây giờ, khi VN đang đứng trưóc và cận kề cửa ngỏ vào WTO, các doanh nghiệp VN thuộc mọi thành phần kinh tế phải sớm chủ động về mặt hàng, về xây dựng thương hiệu và bắt tay vào cuộc cạnh tranh thương mại cả ở thị trường nội địa và ở thị trường các nước một cách lành mạnh, minh bạch chứ không nên còn ỷ lại các chính sách bảo trợ ưu đãi, chiếu cố của nhà nước nữa, vì tất cả các hình thức ưu đãi, hổ trợ đó sẽ sớm được chấm dứt khi VN trở thành thành viên của WTO nay mai./.

     
    WTO TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI