• Đăng Nhập
 

12/06/2012 10:17  |  12 lượt xem

Trước khi Hà Nội có nhà máy bia thì đàn ông Hà Nội uống rượu Mơ, trước nữa uống rượu sen do dân làng Thụy Chương, một làng nằm bên Hồ Tây nấu. Đầu thế kỷ XVIII, người Thăng Long - Hà Nội đã uống vang nho, tất nhiên chỉ là các gia đình giàu có. Rượu do người Bồ Đào Nha đưa từ Ma Cao sang.

Năm 1890, Nhà máy bia Hommel bắt đầu xây dựng trên núi Voi đường Hoàng Hoa Thám (nay là Công ty bia Hà Nội), sau hai năm thì hoàn thành. Nhà máy có hơn ba chục công nhân và công suất ban đầu là 150 lít/ngày, bia được đóng chai đậy bằng nút li e để đảm bảo chất lượng. Bia chủ yếu phục vụ công chức và đám binh lính, sỹ quan Pháp đóng ở Hà Nội. Vì thế cứ chiều muộn, đám con nít quanh vùng đi lượm nút chai quanh quầy gom lại rồi bán cho nhà máy. Đến năm 1911, nhà máy mở rộng, trang bị thêm nhiều máy móc mới và thuê thêm công nhân. Có thêm hai hầm chứa bia thành phẩm chiều dài ba chục mét, một tòa nhà cao đặt máy xay, chỗ ủ malt, ba bể ủ bia đang chế. Nhà máy có khoảng gần sáu chục công nhân, đa số là người làng Đại Yên, Liễu Giai, Vạn Phúc, Thụy Khuê, họ thay nhau làm ba ca một ngày. Khác với các nhà máy của chủ Pháp, Hommel không có cai là Hoa kiều và cũng không có công nhân Hoa kiều. Sở dĩ chủ Pháp thường sử dụng Hoa kiều làm cai vì người Hoa khéo nịnh chủ và bắt nạt được thợ, vốn là những người không có học. Phụ nữ thì làm công việc rửa chai theo kiểu thủ công, còn đàn ông làm thợ mộc đóng thùng gỗ đựng bia chai. 

Thập niên năm 20, từ bến tầu điện (bến xe buýt Đinh Tiên Hoàng hiện nay) đến nhà Khai Trí Tiến Đức (hiện tại là 16 Lê Thái Tổ) có rất nhiều quán giải khát ven hồ. Người ta chăng dây thừng quanh các gốc cây, kê ít bàn nhỏ và ghế bán nước chanh chai, hoa quả, bánh gai, bánh quế, bánh xu xê, bánh cốm. Sau này có quán bán thêm bia chai Hommel. Sau đó nó được dân tẩm quất rong bắt chước thay cho tiếng rao. Hà Nội còn một nhà máy bia nữa là Zitech (nhãn hiệu đầu con gấu) ở phố Quán Thánh, khánh thành vào năm 1928 có công suất nhỏ hơn Hommel.

Đến năm 1935, các nhà máy bia ở Đông Dương hợp doanh lại thành Công ty Bia - Đá Đông Dương (Brasserie et glacière de I’Indochine - BGI). Lúc này, Hommel đã phát triển với khoảng ba trăm công nhân. Tới năm 1940, công suất khoảng năm triệu lít/năm. Năm 1954, thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva rút khỏi miền Bắc, chủ nhà máy đã cho tháo dỡ máy móc, thiết bị, đem theo hết các tài liệu kỹ thuật quan trọng khiến nhà máy ngưng hoạt động. Đầu năm 1957, theo chính sách phục hồi kinh tế, Nhà máy Hommel được khôi phục. Nhờ cố gắng của kỹ sư và công nhân cộng với sự giúp đỡ của hai chuyên gia Tiệp Khắc, ngày 15-8-1958, bia chai đầu tiên mang nhãn hiệu Trúc Bạch đã xuất xưởng. Để phục vụ người lao động Thủ đô, nhà máy đã cho ra bia hơi, loại bia chưa thanh trùng chỉ cần đóng vào “bom” - tên gọi của dân gian chỉ thùng bia, tiêu thụ trong ngày. Tầm chín-mười giờ sáng, dân uống bia gồm cán bộ trốn việc, xã viên các hợp tác xã, người lao động tự do, công nhân làm ca chiều đã chờ sẵn ở các cửa hàng và khi nghe tiếng nổ phành phành của chiếc xe máy T200 (vì xe sơn mầu xanh nên còn có tên tục là Nhặng xanh, loại xe có thùng đằng sau) là tất cả đứng dậy lao vào xếp hàng. Khi xăng dầu khan hiếm, ngành ăn uống mới thay bằng xích lô. Dân đạp xích lô bị coi là tầng lớp dưới đáy xã hội nhưng xích lô chở bia lại xếp thứ nhất. Họ được các cửa hàng ưu ái bán cho hàng can, vì thế các em phe bia luôn tìm cách ve vãn. Đình đám nhất trong làng chở bia thời bao cấp là cụ Phạm Quang Giáng và ông Đường. Gần 100 tuổi,cụ Giáng vẫn chở năm “bom” bia tênh tênh, còn ông Đường từ anh đạp xích lô nay thành chủ nhà máy bia và sản xuất malt, nguyên liệu thiết yếu cho ngành công nghiệp này

Việc bán hàng ở các quầy bia thì ở đâu cũng giống nhau. Thường thì sau khi “giải quyết” hết các xuất “ưu tiên” cho ông này, bà nọ, nhân viên mới khủng khỉnh bán vé. Giọng vô cùng cửa quyền “Lộn xộn và mất trật tự là tôi không bán đâu nhé!”. Ban đầu vé là đồng xèng hình vuông hoặc hình chữ nhật bằng tôn mỏng, đánh số. Sau chuyển sang vé in trên giấy như vé tầu điện. Vì người uống lúc nào cũng đông trong khi lượng bia có hạn nên để tránh chen ngang, các cửa hàng làm rào sắt hai bên y như chỗ xếp hàng mua vé tầu hỏa hay ô tô. Và cũng như mua thực phẩm, gạo, dầu,... ai có thẻ thương binh là được ưu tiên, tuy nhiên vì hiếm tiền lẻ nên ai có tiền lẻ được lên mua trước, vì thế mới có câu "Tiền lẻ hơn thẻ thương binh". Mua bia phải tranh giành và hò hét như đánh nhau thế nên có người ra vế đối "Mua cốc bia gào hụt hơi", khá nhiều người đối lại nhưng chỉnh nhất có lẽ là câu "Bán vại đá rao khản cổ" .




Các quán bia ở Cổ Tân (khu vực Công an phường Tràng Tiền và Quận đội Hoàn Kiếm hiện nay), Nguyễn Biểu, Cầu Giấy, Thủy Tạ, Mơ, Vọng, Hàng Bài,... bao giờ cũng đông khách. Thập niên 70, mua bia bắt buộc phải mua kèm lạc rang ngọt (không phải lạc rang húng lìu), nộm đu đủ. Nhưng đã từng có bia kèm “sư tử”, chuyện là tháng 10-1974, bách hóa Quán Thánh bán đầu sư tử cho trẻ em vui chơi Trung thu nhưng bán không hết đã kết hợp với bia Nguyễn Biểu tiêu thụ nốt chỗ “sư tử” ế. Mua bốn cốc kèm một đầu sư tử loại nhỏ, sáu cốc kèm đầu sư tử loại lớn. Thời đó chẳng ai nghĩ đó là độc quyền chỉ mong cửa hàng bán càng nhiều càng tốt nên dù ép thế nào cũng được, miễn là có bia uống. Hôm đó quán bia giống như cơ sở sản xuất đồ chơi, chật ních đầu “sư tử”. Bên ngoài quán này, dãy số chẵn phố Nguyễn Biểu có bà cụ bán vó bò. Tương của cụ ngon đến mức mà hết vó bò có người nì nèo mua tương không để nhắm với bia.

Bên ngoài cửa hàng bia ở Cổ Tân cũng có người bán ốc bươu luộc, đậu rán chấm mắm tôm, nộm, mực nướng, bánh đa như các cửa hàng khác. Nhưng khác là ở đây có thơ về các bà bán hàng:

Nộm Thừa, đậu Thiếu, ốc Phân
Vắng ba bà ấy, Cổ Tân rất buồn


Nộm Thừa là bà bán nộm tên Thừa, đĩa nộm của bà này bao giờ cũng thừa tương ớt nhưng lại ít đu đủ. Đậu Thiếu là bà bán đậu rán chấm mắn tôm tên Thiếu, vì rán ít mỡ nên đậu của bà này bao giờ cũng xém đen như đậu nướng, còn ốc Phân là bà Phân bán ốc, vì bà luộc quá khéo khiến khi lễ ốc bao giờ cũng kéo theo cả ... Ba bà hút thuốc lá như ống khói, chửi khách như hát nhưng sẵn sàng cho chịu, bao giờ có thì trả. Khi cửa hàng hết bia thì cũng là lúc các bà, các cô phe lôi bia ra bán. Mà chẳng riêng bán cho phe, khối người có chức quyền cũng mua cửa hậu cả vài can. Chỉ có người lao động phải kiên nhẫn xếp hàng. Can bia được bọc bằng quần áo cũ để giữ lạnh nhưng uống nhạt thoẹt do bị pha nước lã. Giá năm hào một cốc, loại cốc chỉ có 330ml nhưng dân nghiện phải chấp nhận vì đang uống dở miệng. Khoảng tháng 8-1975, ngành ăn uống quyết định đổi cốc 500 ml sang cốc 330ml với lý do bia có hạn, chuyển sang cốc nhỏ để ai cũng được uống.

Không phải ai cũng có tiền uống bia và vì thế không ít người nghĩ ra trò phe vé. Những người này đến các cửa hàng từ khi "chợ chưa họp", kiên nhẫn xếp hàng. Sau khi mua theo định suất, họ nhanh chóng quay lại xếp hàng mua vé lần hai. Rồi họ bán lại vé cho những người đến muộn với giá cao hơn, và thế là có một hay hai cốc uống không mất tiền. Hiếm bia và không phải ai cũng sẵn tiền nhưng Hà Nội lại sẵn người nghiện bia, một ngày không có vài cốc, họ cảm thấy như sống thừa. Uống nhiều thì đếm không xuể nhưng có một người rất nổi tiếng trong những năm 1970, đó là ông Thông, làm bảo vệ ở Nhà máy xay Lương Yên. Mỗi lần uống chỉ mười một cốc và dù khó khăn thế nào ông cũng xoay đủ từng ấy. Hai tay, mỗi tay năm cốc, miệng cắn một cốc và từ chỗ lấy bia ra đến bàn thì cốc trên miệng vừa hết mà bọt không hề dính vào ria. 

Giữa những năm 1980, biên giới Việt - Trung mở cửa thông thương, bia chai Trung Quốc nhãn hiệu Liquan tràn vào Việt Nam đã giảm bớt tình trạng khan bia và cũng làm cho các cửa hàng bia quốc doanh bớt kiêu căng. Rồi thực hiện đổi mới, bia nấu thủ công của tư nhân xuất hiện khiến số lượng các quán bia quốc doanh hẹp dần. Một số quán tư nhân đã trộn bia Liquan lẫn vào bia hơi Hà Nội bán cho khách. Khách sành biết, nhưng đành chấp nhận.




Khi bia hơi có vẻ bão hòa thì xuất hiện bia tươi và một cú lừa ngọan mục sau này dân uống bia mới biết. Chuyện là năm 1996, người ta đồn đại cửa hàng bán bia tươi đen ở phố Ngô Thì Nhậm được nhập từ Đức. Thấy lạ, khách đến nườm nượp. Chiều ngang cửa hàng chỉ khoảng ba mét lúc nào cũng chật cứng dù người ta bán tới 100.000 đồng/lít (thời điểm này vàng khoảng 400.000 đồng/chỉ). Hàng ngày xe ô tô chở bia chạy lên hướng sân bay Nội Bài sau đó cho xe quay đầu chạy về xưởng bia thủ công nằm ngay cạnh Hà Nội, lấy bia rồi chạy về. Chuyện chỉ bại lộ khi nhân viên sân bay cho hay làm gì có bia tươi Đức nhập về Việt Nam qua Nội Bài.

Cuối thập niên 90, các lò bia tư nhân xuất hiện tràn lan. Người ta gọi bia nấu thủ công là bia “cỏ”. Và bia “cỏ” có ở hang cùng ngõ hẻm trong thành phố với giá rẻ nên lôi kéo dân lao động. Chẳng cần ngon, miễn là có tý men ngủ cho dễ, để mai đi làm. Uống bia bây giờ cũng khác trước vốn tốn ít mồi thì nay ú hụ đồ nhắm trên bàn. Duy nhất quán bia hơi uống kiểu nhấp nháp như thời bao cấp là quán ở phố Nguyễn Cảnh Chân. Ngày trước, khách mang bia ra ngoài vỉa hè lập tức bị nhân viên yêu cầu vào bên trong, còn bây giờ, đúng như câu hát của nhạc sỹ Trần Tiến "rủ nhau ra phố bia hơi vỉa hè". Trước Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, quán bia "bao cấp" cuối cùng đã bị dỡ bỏ. Gọi là bao cấp vì quán vẫn bán theo bình nhựa và bia còn giữ được vị bia Hà Nội xưa trong khi không thể tìm được mùi vị ấy ở bất cứ nơi nào trên đất Hà Nội.




Bình luận  

Viết bình luận

Mời Kết Bạn

Gởi lời mời kết bạn đến

Gửi