trang Blog

CÔNG THOẠITham gia: 18/11/2011
  • Báo cáo thực tập tổng hợp : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHCSXH
    Thư Giãn
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Báo cáo thực tập tổng hợp : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHCSXH

    PHẦN I

    GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHCSXH

    1.1. Sự ra đời của NHCSXH

    Mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng; tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng; tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên đất nước.v.v.. Hàng triệu hộ nghèo hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa không được hưởng những thành quả của sự phát triển. Họ đang bơ vơ, lạc lõng trước sự hội nhập toàn cầu và ánh sáng của thế giới văn minh. Những yếu kém trên là nguyên nhân mất ổn định về xã hội- chính trị, là nỗi đau của một xã hội đang phấn đấuvì lý tưởng dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng- dân chủ- văn minh.

    Để đáp ứng yêu cầu trên, Ngân hàng Chính sách xã hội, viết tắt là NHCSXH (có tên tiếng Anh là: Viet Nam Bank For Social Policies) được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lạiNgân hàng phục vụ người nghèo.NHCSXH chính thức đi vào hoạt động từ tháng 1 năm 2003.Việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

    Ngân hàng Chính sách xã hội là một pháp nhân, có con dấu, có tài sản và hệ thống giao dịch từ Trung ưong đến địa phương, với vốn điều lệ ban đầu là 5000 tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội là 99 năm. NHCSXH là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.             Bộ máy quản trị của Ngân hàng Chính sách xã hội bao gồm: Hội đồng quản trị tại Trung ương, 64 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện. 

    Bộ máy điều hành của NHCSXH được thành lập ở cả 3 cấp đang tập trung chỉ đạo triển khai việc huy động vốn và cho vay vốn người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Tính đến nay, hệ thống NHCSXH bao gồm Hội sở chính ở Trung ương, Sở giao dịch, 64 chi nhánh cấp tỉnh, thành phố và 608 phòng giao dịch cấp huyện và 8.500 điểm giao dịch xã, phường. Hiện nay NHCSXH đang triển khai nhiều giải pháp, phát huy kết quả bước đầu, khắc phục một số tồn tại, vướng mắc, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thật sự trở thành lực lượng kinh tế hữư hiệu trên mặt trận xoá đói giảm nghèo, ổn định tình hình chính trị -xã hội của đất nước.

    Nằm trong hệ thống của NHCSXH Việt Nam, phòng giao dịch NHCSXH huyện Phù Mỹ thuộc chi nhánh NHCSXH tỉnh Bình Định cũng đã chính thức đi vào hoạt động năm 2003. Gần 8 năm hoạt động, phòng giao dịch đã có sự phát triển về qui mô và tổ chức.

    Về qui mô: Lúc đầu phòng giao dịch NHCSXH huyện phải thuê nhà dân để làm trụ sở. Nhưng qua triển khai, thực hiện chỉ thị 05, 09 của thủ tướng Chính phủ, được sự quan tâm hỗ trợ của NHCSXH Trung ương, chi nhánh NHCSXH tỉnh Bình Định, ủy ban nhân dân các cấp từ tỉnh đến huyện, NHCSXH Huyện đã được hỗ trợ kinh phí xây dựng trụ sở làm việc hoàn thành và đưa vào hoạt động năm 2008, được trang bị đầy đủ những trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động của ngân hàng.

    Về tổ chức: Là một tổ chức tín dụng đặc thù hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, do đó mô hình tổ chức của NHCSXH cũng có những đặc điểm riêng so với các tổ chức tín dụng khác. Mô hình quản lý và hoạt động của NHCSXH đã và đang thực hiện trong thời gian qua đó là bộ máy quản lý, điều hành gồm 04 bộ phận hợp thành: hội đồng quản trị ở Trung ương, ban đại diện hội đồng quản trị - NHCSXH tỉnh, huyện; bộ phận cán bộ  ngân hàng chuyên trách làm nhiệm vụ tác nghiệp; các tổ chức chính trị - xã hội làm dịch vụ uỷ thác cho vay; các tổ tiết kiện và vay vốn, ( do cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập, làm nhiệm vụ bình xét công khai, dân chủ để lựa chọn người có đủ điều kiện vay vốn. Đây là mô hình hoàn toàn mới, đặc thù của NHCSXH nhằm thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, xã hội hoá hoạt động tín dụng ưu đãi). Đối với Huyện Phù Mỹ, chủ tịch ủy ban nhân dân Huyện kí Quyết định thành lập Ban đại diện hội đồng quản trị NHCSXH Huyện và phân công một đông chí Phó chủ tịch ủy ban nhân dân huyện làm trưởng ban, các thành viên là lãnh đạo các Phòng, tổ chức hội đoàn thể liên quan để kịp thời lãnh đạo, giám sát mọi hoạt động của NHCSXH Huyện. Ban đại diện hội đồng quản trị -NHCSXH trong thời gian qua có thành viên thuyên chuyển công tác nên phải thay đổi nhân sự, và được kiện toàn lại theo Quyết định số 87/QĐ-UB ngày 09/01/2006 của ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, tổng số gồm 10 thành viên. Trong những năm qua , ban đại diện hội đồng quản trị -NHCSXH huyện phát huy vai trò tham mưu với ủy ban nhân dân  huyện để triển khai thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghị quyết của  hội đồng quản trị -NHCSXH Việt Nam và giải quyết những vấn đề có liên quan đến hoạt động của NHCSXH.

    Trong quá trình triển khai mạng lưới tổ chức, Phòng giao dịch NHCSXH huyện luôn nhận được sự quan tâm theo dõi, chỉ đạo, tạo điều kiện của lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương các cấp nên đã nhanh chóng hình thành mạng lưới tổ chức gồm 19 điểm giao dịch, trực báo tại xã, thị trấn. Phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội, Hội đoàn thể nhận uỷ thác xây dựng được 334 tổ tiết kiệm và vay vốn.

    Mô hình tổ chức trên đã tạo điều kiện cho NHCSXH huyện tổ chức triển khai và thực thi nhiệm vụ tín dụng ưu đãi được Chính phủ giao nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định an sinh xã hội.

    1.2. Chức năng, nhiệm vụ

    Cũng là một ngân hàng nhưng lại là một ngân hàng đặc thù của Chính phủ nên chức năng, nhiệm vụ của NHCSXH có điểm giống và khác so với các ngân hàng thương mại khác. Cụ thể là NHCSXH có các chức năng sau:

    - Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo.

    - Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay Ngân hàng Nhà nước.

    - Tiếp nhận, quản lý, sử dụng và bảo toàn nguồn vốn của chính Phủ dành cho chương trình tín dụng xoá đói giảm nghèo và các chương trình khác.

    - Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và nước ngoài.

    - Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước.

    - NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước.

    - NHCSXH được thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ:

    • Cung ứng các phương tiện thanh toán.
    • Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước.
    • Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt.
    • Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

    - Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội.

             - Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác

    1.3. Mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế tài chính của NHCSXH

              1.3.1. Mô hình tổ chức bộ máy

              NHCSXH là ngân hàng đặc thù của Chính Phủ, có mô hình tổ chức bộ máy theo chiều dọc. Do đó để tìm hiểu về mô hình tổ chức của Phòng giao dịch NHCSXH Huyện Phù Mỹ, ta cũng cần hiểu rõ về mô hình tổ chức bộ máy của NHCSXH Việt Nam nói chung và của Phòng giao dịch NHCSXH Huyện Phù Mỹ nói riêng.

    *Đối với NHCSXH Việt Nam

    Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ thì hệ thống tổ chức của NHCSXH Việt Nam gồm:

              Một là bộ máy quản trị NHCSXH có:

              -Hội đồng quản trị

               Hội đồng quản trị NHCSXH gồm các thành viên kiêm nhiệm và chuyên trách thuộc các cơ quan của Chính phủ và một số tổ chức chính trị xã hội. Hội đồng quản trị có 12 thành viên, trong đó có 9 thành viên kiêm nhiệm và 3 thành viên chuyên trách. 9 thành viên kiêm nhiệm gồm Thống đốc ngân hàng nhà nước là chủ tịch hội đồng quản trị, 8 thành viên còn lại là thứ trưởng hoặc cấp tương đương thứ trưởng của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh &Xã hội, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ủy ban dân tộc, Phó chủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, phó chủ tịch hội Nông dân Việt Nam, văn phòng chính phủ; 3 thành viên chuyên trách gồm: 1 uỷ viên giữ chức phó chủ tịch, 1 ủy viên giữ chức tổng giám đốc, 1 ủy viên giữ chức ban kiểm soát.

              Tại các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có ban đại diện hội đồng quản trị NHCSXH do chủ tịch hoặc phó chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp làm trưởng ban. Tùy tình hình thực tế từng địa phương do chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định cơ cấu thành phần nhân sự và quyết định thành lập ban đại diện hội đồng quản trị .

              Giúp việc cho hội đồng quản trị có ban chuyên gia tư vấn và ban kiểm soát.Ban chuyên gia tư vấn gồm chuyên viên của các ngành là thành viên  hội đồng quản trị do các ngành cử và một số chuyên gia do chủ tịch hội đồng quản trị ra quyết định chấp thuận.Ban kiểm soát có ít nhất 5 thnàh viên, trong đó có ít nhất 3 thành viên chuyên trách, 2 thành viên kiêm nhiệm của Bộ Tài chính và ngân hàng nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm.

              Điều hành hoạt động của NHCSXH là Tổng Giám đốc, giúp việc Tổng Giám đốc có một số Phó Tổng Giám đốc và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc trong quản lý và điều hành công việc của NHCSXH.

              -Ban đại diệnhội đồng quản trị các cấp

              Tại các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có ban đại diện hội đồng quản trị NHCSXH do chủ tịch hoặc phó chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp làm trưởng ban. Tùy tình hình thực tế từng địa phương do chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định cơ cấu thành phần nhân sự và quyết định thành lập ban đại diện hội đồng quản trị .

              Hiện nay, có 64 Ban đại diện  hội đồng quản trị cấp tỉnh, hơn 600 Ban đại diện hội đồng quản trị cấp huyện với gần 7000 thành viên Ban đại diện các cấp.

              Hai là bộ máy điều hành tác nghiệp có:

              -Tại Trung ương

              Hội sở chính là cơ quan cao nhất trong bộ máy điều hành tác nghiệp của hệ thống NHCSXH. Tổng giám đốc là người đứng đầu trong bộm máy điều hành này.

              Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm đièu hành toàn bộ hoạt động của hệ thống NHCSXH, gíp việc cho Tổng giám đốc có các Phó Tổng giám đốc và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ tại Hối sở chính.

              Bộ máy giúp việc gồm các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ, các Trung tâm, Sở giao dịch có chức năng tham mưu, giúp Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công việc chuyên môn của NHCSXH.

              -Tại cấp tỉnh

              Tại cấp tỉnh có chi nhánh NHCSXH các tỉnh, thành phố là đơn vị trực thuộc Hội sở chính, đại diện pháp nhân theo uỷ quyền của Tổng giám đốc trong việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động của NHCSXH trên địa bàn.

              Điều hành chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố là Giám đốc chi nhánh, giúp việc Giám đốc là các Phó giám đốc và các trưởng phòng, ban chức năng tại tỉnh.

              -Tại cấp huyện

              Tại cấp huyện có Phòng giao dịch NHCSXH là đơn vị trực thuộc chi nhánh tỉnh, thành phố đặt tại các Quận, huyện, thị xã, thành phố trong đia bàn hành chính nội tỉnh, trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ của NHCSXH trên địa bàn.

              Điều hành Phòng giao dịch Quận, huyện là Giám đốc, giúp việc Giám đốc gồm các Phó giám đốc và các Tổ trưởng nghiệp vụ.

       *Đối với NHCSXH huyện Phù Mỹ:

    Hiện nay, phòng giao dịch NHCSXH huyện Phù Mỹ có tổng số 9 cán bộ biên chế và 1 cán bộ ngoài biên chế (Lái xe kiêm bảo vệ). Mô hình tổ chức bộ máy của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Phù Mỹ được thể hiện thông qua sơ đồ sau:

    -Ban Giám đốc gồm:

    +  Giám đốc:Võ Văn An, chịu trách nhiệm chung và trực tiếp phụ trách:

    ·        Công tác tổ chức cán bộ

    ·        Công tác thi đua khen thưởng

    ·        Công tác kiểm tra - kiểm toán nội bộ

    ·        Công tác kế toán - Ngân quỹ, Trưởng ban quản lý kho

    ·        Quyết định chương trình, kế hoạch và biện pháp của phòng

    ·        Trực tiếp báo cáo theo yêu cầu của UBND huyện và trưởng ban đại diện HĐQT-NHCSXH huyện, NHCSXH cấp trên; đại diện NHCSXH huyện trong quan hệ với các cơ quan trên địa bàn về các việc có liên quan đến hoạt động của NHCSXH huyện. (Phối hợp với các tổ chức Chính trị-Xã hội nhận uỷ thác trong hoạt động cho  vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách).

    ·        Phê duyệt chương trình cho vay dự án phát triển ngành Lâm nghiệp.

    ·          Công tác kế hoạch-nghiệp vụ; phê duyệt 8 chương trình tín dụng hiện có (trừ chương trình cho vay dự án phát triển ngành Lâm nghiệp)

    ·        Công tác giao dịch xã;

    ·          Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Phó Giám đốc phụ trách

    Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy của NHCSXH Huyện Phù Mỹ

             Chú thích:              Quan hệ chỉ đạo trực tiếp          

                                    Quan hệ phối hợp

                                 (Nguồn: Ngân hàng chính sách huyện Phù Mỹ)

    - Tổ Kế hoạch - Nghiệp vụ

    + ÔngTrương Minh Thảo: Tổ trưỏng tổ kế hoạch-nghiệp vụ, quản lý tất cả các chương trình tín dụng và làm tất cả các báo cáo tín dụng, chịu trách nhiệm chung, trực tiếp nhận hồ sơ và cho vay các chương trình tín dụng ở 3 xã Mỹ Tài, Mỹ Đức và Mỹ Lợi

    + ÔngNguyễn Thanh Tuấn: Cán bộ tín dụng, trực tiếp nhận hồ sơ và cho vay tất cả các chương trình tín dụng ở xã Mỹ Hoà, Mỹ Trinh, Mỹ Phong, Mỹ An, Mỹ Thành, Mỹ Cát, Mỹ Châu và Thị trấn Phù Mỹ

    + Ông Trần Minh Thành: Cán bộ tín dụng, trực tiếp nhận hồ sơ và cho vay tất cả các chương trình tín dụng ở xã Mỹ Hiệp, Mỹ Chánh, Mỹ Quang,Mỹ Tháng, Mỹ Lộc, Mỹ Thọ, Mỹ Chánh Tây và Thi trấn Bình Dương.

    - Tổ Kế Toán- Ngân quỹ

    + ÔngNguyễn Hoàng Thông: Tổ trưởng tổ kế toán-Ngân quỹ, chịu trách nhiệm chung, kiểm tra, kiểm soát, đóng, lưu giữ chứng từ; in, sắp xếp sổ kế toán chi tiết, cập nhật chương trình vào máy tính trung tâm, kiểm tra khoá sổ, cập nhật cuối ngày, thuế thu nhập cá nhân, kế toán chi tiêu nội bộ và các báo cáo phát sinh.

    + BàTrần Thị Duy Hạnh: Kế toán viên, thực hiện các công việc liên quan đến kế toán cho vay; thu nợ; tiền gửi tiết kiệm tất cả các chương trình thuộc 9 xã: Mỹ Quang, Mỹ Đức, Mỹ Lộc, Mỹ Thắng, Mỹ Lợi, Mỹ Thọ, Mỹ Cát, Mỹ Chánh, Mỹ Thành; kế toán vật liệu; kế toán tiền lương; kế toán tài sản; kế toán tiền gửi; báo cáo tiền lương; báo cáo phí ủy thác cho vay thông thường, HSSV; nhập xuất dữ liệu đi giao dịch xã.

    + Ông Nguyễn Văn Chinh: Kế toán viên, thực hiện các công việc liên quan đến kế toán cho vay; thu nợ; tiền gửi tiết kiệm tất cả các chương trình thuộc 10 xã, thị trấn: Mỹ Tài, Mỹ Hiệp, Mỹ Phong, Mỹ Châu, Mỹ Trinh, Mỹ Chánh Tây, Mỹ An, Mỹ Hoà, Thị trấn Bình Dương và Thị trấn Phù Mỹ; theo dõi ngoại bảng; báo cáo trả phí ủy thác cho vay dự án 120; phân bổ lãi vốn địa phương; nhập, xuất dữ liệu đi giao dịch xã

    + BàNguyễn Bích Phương: Thủ quỹ, làm nhiệm vụ kho quỹ

    - Ông Nguyễn Ngọc Thạnh:Bảo vệ

    1.3.2. Cơ chế tài chính của NHCSXH

    NHCSXH là một tổ chức tín dụng Nhà nước hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo không vì lợi nhuận, là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn và đảm bảo bù đắp các chi phí rủi ro hoạt động tín dụng theo các điều khoản qui định.

    Để có thể thực hiện cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách theo lãi suất ưu đãi, NHCSXH được áp dụng cơ chế tài chính riêng, khác với các ngân hàng thương mại khác như: NHCSXH không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỉ lệ dự trữ bắt buộc tại ngân hàng nhà nước băng 0%, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân hàng nhà nước. Theo những qui định trên đây, NHCSXH được hưởng một số chế độ ưu đãi, trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay, nhưng thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và tự chịu trách nhiệm về tài chính.

              1.4. Các hoạt động chính của NHCSXH

                   Căn cứ vào quyết định số 131/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ sau:

              - Một là, huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kì hạn, không kì hạn, tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo.

              - Hai là, cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

    Theo Quyết định của Chính Phủ, hiện nay Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện 20 chương trình tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Do đặc điểm của địa phương, hiện tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện Phù Mỹ chỉ áp dụng cho vay 9 chương trình tín dụng sau:

    ·        Chương trình cho vay hộ nghèo

    ·        Chương trình cho vay hộ nghèo về nhà ở

    ·        Chương trình cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn

    ·        Chương trình cho vay giải quyết việc làm

    ·        Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

    ·        Chương trình cho vay xuất khẩu lao động

    ·        Chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn

    ·        Chương trình cho vay dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3)

    ·        Chương trình cho vay Thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn

              - Ba là, thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.

              - Bốn là, tiếp nhận, quản lý, sử dụng và bảo tồn nguồn vốn của Chính phủ dành cho chương trình tín dụng xoá đói giảm nghèo và các chương trình khác.

              - Năm là, tiếp nhận nguồn vốn tài trợ uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để cho vay theo các chương trình dự án.

    PHẦN II

    KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    VÀ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA NHCSXH HUYỆN PHÙ MỸ

    2.1. Tình hình huy động vốn tại NHCSXH Huyện Phù Mỹ

     Trong quá trình hoạt động, được sự quan tâm của Chính phủ, các cấp chính quyền, các bộ ngành, đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ của hệ thống các ngân hàng thương mại, nguồn vốn của NHCSXH không ngừng tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đã tạo lập được nguồn vốn lớn đáp ứng nhu cầu vay vốn của tầng lớp dân nghèo ở nông thôn.

    Diễn biến cụ thể nguồn vốn qua các năm như sau:

    Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn của NHCSXH huyện Phù Mỹ qua các năm 2006 - 2010                                 

                                                                                     (Đvt: triệu đồng)

    STT

    Chỉ tiêu

    Năm 2006

    Năm 2007

    Năm 2008

    Năm 2009

    Năm 2010

    1

    Nguồn vốn Trung ương

    29.180

      40.343

    101.022

    131.921

    180.263

    2

    Vốn địa phương cấp

        1.907

          988

           235

          351

            395

    3

    Vốn khác

       

        1.926

         7.843

         1.287

    4

    Tổng nguồn vốn

      31.087

      41.331

    102.533

    133.568

    181.936

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Phòng giao dịch NHCSXH Huyện Phù Mỹ)

                        Tính đến ngày 31/12/2006, tổng nguồn vốn của NHCSXH Huyện Phù Mỹ có được là 31.087 triệu đồng. Nguồn vốn này tăng trưởng đều đặn qua các năm: 2007 là 41.331 triệu đồng, tăng 10.244 triệu đồng, tốc độ tăng là 32,95% so với năm 2006;năm 2009 là 140.115 triệu đồng, tăng 37.562 triệu đồng, tốc độ tăng là 36,63% so với năm 2008; năm 2010 là 181.936 triệu đồng, tăng 29,85% so với năm 2009.

                         Trong cơ cấu vốn hoạt động của  NHCSXH Huyện thì nguồn vốn của Trung ương chiếm tỉ trọng lớn, cụ thể: năm 2006 là  93,86%; năm 2007 là 97,61%; năm 2008 là 98,51%; năm 2009 là 91,15%; năm 2010 là 99,08%. Trong năm 2009, nguồn vốn từ Trung ương chuyển về tuy có tăng so với năm 2008 là 30.899 triệu đồng nhưng tốc độ tăng giảm còn 30,59%. Nguyên nhân của vấn đề này là vì từ cuối năm 2008 đến năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính cũng như nền kinh tế Việt Nam nói chung. Mặt khác, cũng trong hai năm này, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng lạm phát, để kiềm chế tình trạng này, Nhà nước đã áp dụng biện pháp thắt chặt tiền tệ. Do đó mà nguồn vốn từ Trung ương chuyển về trong năm 2009 cho các NHCSXH để thực hiện chương trình tín dụng đối với người nghèo là không nhiều.                               

    Trong tổng nguồn vốn của Trung ương, phần lớn vốn được lấy từ ngân sách nhà nước, ngoài ra Trung ương có thể huy động từ ngân hàng nhà nước,ngân hàng thương mại. Nguồn vốn vay từ ngân hàng nhà nước là nguồn vốn mang tính ưu đãi của ngân hàng nhà nước cho NHCSXH nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NHCSXH có điều kiện mở rộng hoạt động và phát triển. Hiện nay luật ngân hàng nhà nước và luật các tổ chức tín dụng đã ra đời và có hiệu lực, ngân hàng nhà nước không thể  cho NHCSXH vay những khoản vốn như trước, trong những trường hợp thật cần thiết NHCSXH muốn vay cũng phải chịu lãi suất theo lãi suất tái chiết khấu và thời hạn ngắn. Vì thế, nguồn vốn này không có khả năng phát triển trong trương lai.

    Hoạt động tín dụng của NHCSXH phát triển nhanh chóng, vốn điều lệ và vốn vay của ngân hàng nhà nước trước mắt không đáp ứng được nhu cầu vay vốn của hộ nghèo. NHCSXH đã trình và được Chính phủ đồng ý cấp bù chênh lệch lãi suất để NHCSXH thực hiện việc đi vay vốn các ngân hàng thương mại. Do lợi thế cùng trong hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại quan tâm tới sự phát triển chung của ngành và sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, khi điều kiện cho phép đã tạo thuận lợi cho NHCSXH trong việc vay, trả cả về số lượng, lãi suất và thời hạn. Nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại là nguồn vốn quan trọng nhất, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của NHCSXH. Tuy vậy, nguồn vốn này không ổn định vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng huy động của các ngân hàng thương mại, việc cấp bù chênh lệch lãi suất từ ngân sách nhà nước và thời hạn cho vay của các ngân hàng.

    Ngoài ra còn có nguồn vốn do địa phương cấp, điều đó thể hiện sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác xóa đói giảm nghèo và hoạt động của NHCSXH. Cụ thể: năm 2006 nguồn vốn này chiếm tỉ trọng là 6,13%; năm 2007 là 2,4%; năm 2008 nguồn vốn này chiếm tỷ trọng là 0,23%, năm 2009 là 0,25%, năm 2010 là 0,22%.

      Có thể thấy nguồn vốn do địa phương cấp giảm giần qua các năm, điều đó cho thấy ngân sách địa phương ngày càng có nhiều khoản để chi.

     Nguồn vốn khác bao gồm: Nguồn vốn huy động trong cộng đồng người nghèo, tiền gửi thanh toán...Nguồn vốn huy động trong cộng đồng người nghèo còn rất nhỏ bé, bởi bản thân  người nghèo không có dư tiền để gửi tiết kiệm, lao động dường như chỉ đủ sống qua ngày nhưng với phương thức huy động này thì NHCSXH muốn tập cho người nghèo có ý thức tiết kiệm và để dành tiền trả nợ, tránh phần nào sự rủi ro.

    Cơ cấu trên thể hiện nguồn vốn NHCSXH được hình thành như một quỹ tập trung, có nguồn gốc chủ yếu từ ngân sách nhà nước, qui mô phát triển nguồn vốn còn hạn hẹp. Trong thực tiễn hoạt động NHCSXH mới thực hiện cơ chế huy động vốn thị trường, nhưng do mạng lưới hoạt động còn hạn hẹp nên việc huy động vốn còn rất nhiều hạn chế.. Các chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian sinh ra để huy động vốn tạm thời nhàn rỗi để thiết lập quỹ cho vay mới có tính bền vững, đương nhiên lãi suất cho vay phải đảm bảo đủ bù dắp chi phí. Tuy nhiên đối với NHCSXH, những năm đầu hoạt động cần có sự tài trợ của Nhà nước thông qua chính sách bù lỗ và tổ chức đầu tư theo chương trình chỉ định của Nhà nước là cần thiết.

              2.2. Tình hình hoạt động cho vay tại NHCSXH Huyện Phù Mỹ

               Qua gần 9 năm hoạt động, công tác tín dụng của NHCSXH đã có rất nhiều cố gắng bám sát chủ trương, mục tiêu phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước, xây dựng cơ chế chính sách, ban hành các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ của Trung ương sát với thực tiễn cơ sở nhằm thực hiện cho vay đúng đối tượng, tiền đến tay người nghèo, đạt được hiệu quả trong công tác đầu tư.

              Phương thức cấp vốn cho người nghèo với phương châm trực tiếp đến tận tay người nghèo thông qua tổ nhóm cũng là một đặc thù của NHCSXH nhằm tăng cường trách nhiệm trong những người vay vốn, thực hiện việc công khai và xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo, tăng cường sự kiểm tra giám sát của cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể thông qua việc thành lập các tổ vay vốn, tổ tín chấp đứng ra để vay vốn cho người nghèo.

              Cho vay hộ nghèo là một nghiệp vụ hoàn toàn mới, đây khó khăn và phức tạp vì hộ vay không phải thế chấp tài sản nhưng lại phải thực hiện theo những qui chế riêng chặt chẽ. Việc cho vay không chỉ đơn thuần là điều tra xem xét mà đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, có sự bình xét công khai từ tổ nhóm. Như vậy công tác cho vay muốn thực hiện được tốt thì ngay từ đầu phải thành lập được các tổ nhóm tại cơ sở, đặc biệt là việc chọn, bầu tổ trưởng phải là người có năng lực, có trách nhiệm, tâm huyết với người nghèo và có uy tín với nhân dân, đồng thời phải tạo được tinh thần trách nhiệm, tương trợ giúp đỡ nhau trong tổ nhóm.

              Thông qua những vấn đề nêu trên, ta thấy rõ ràng nghiệp vụ cho vay đối với người nghèo khác hẳn với nghiệp vụ cho vay thông thường. Đối tượng phục vụ là người nghèo, mục tiêu là xóa đói giảm nghèo. Chính vì vậy hộ nghèo được hưởng nhiều ưu đãi trong khi cho vay hơn là các đối tượng khác như: ưu đãi về lãi suất, về thời hạn, về thủ tục, về mức vốn tự có tham gia, về tín chấp…

              Nhờ có sự chỉ đạo và quan tâm của Đảng, Chính phủ, của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể như: hội Phụ nữ, hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, đoàn Thanh niên…từ Tỉnh tới Huyện và các cơ sở đã giúp cho việc giải ngân vốn tín dụng đến hộ nghèo nhanh chóng, thuận lợi và thu được kết quả tốt thể hiện trên các mặt như sau:

    2.2.1 Kết quả hoạt động tín dụng tại NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    Trong những năm qua, hoạt động NHCSXH huyện Phù Mỹ đã triển khai tổ chức thực hiện khối lượng công việc cực kì to lớn và khó khăn, hoàn thành thắng lợi mục tiêu quốc gia về tín dụng hỗ trợ người nghèo, góp phần đáng kể vào việc thực hiện chương trình mục tiêu của Đảng, Nhà nước về xóa đói giảm nghèo.

    Tổng dư nợcho vay đến 31/12/2010 đạt 185.627 triệu đồng, tăng 45.512 triệu đồng so với 31/12/2009, tốc độ tăng là 32,48%.Trong năm đã cho  7.899 lượt hộ vay vốn và thu nợ 33.303 triệu đồng.

    Cụ thể từng chương trình cho vay như sau:

    - Cho vay hộ nghèo: 65.709 triệu đồng, tăng 10.723 triệu đồng so với đầu năm, với 3883 hộ còn dư nợ. Nợ quá hạn là 75 triệu đồng, nợ khoanh 357 triệu đồng. Trong năm đã cho vay được 1.079 hộ nghèo với số tiền là 29.918 triệu đồng, mức cho vay bình quân hơn 14 triệu đồng/hộ, thu nợ 22.065 triệu đồng.

    - Cho vay giải quyết việc làm: 8.053 triệu đồng, tăng 1.921triệu đồng so với đầu năm, với 623 khách hàng còn dư nợ, trong năm đã thu hút được hơn 280 lao động. Trong năm đã cho vay với doanh số 2.116 triệu đồng, còn 208 dự án vay vốn và thu nợ 2.989 triệu đồng.

    Bảng 2.2: Diễn biến dư nợ cho vay theo các chương trình của NHCSXH Huyện giai đoạn 2008-2010

    Chương

    Trình

    Đơn vị tính

    Năm 2008

    Năm 2009

    Năm 2010

    Dư nợ

    Dư nợ

    Chênh lệch

    Tốc độ tăng trưởng (%)

    Dư nợ

    Chênh lệch

    Tốc độ tăng trưởng

    (%)

    I.Tổng dư nợ các chương trình

    Triệu đồng

    60.484

    140.115

    +79.631

    +131,65

    185.627

    +45.512

    +32,48

    1.Cho vay

    Hộ nghèo

    Triệu đồng

    59.96

    54.986

    -4.992

    -83,2

    65.709

    +10.723

    +19,5

    2.Cho vay

    Giải quyết việc làm

    Triệu đồng

    6.118

    6.132

    +0.014

    +0,229

    8.053

    +1.921

    +31.32

    3.Cho vay

    Học sinh sinh viên

    Triệu đồng

    5.649

    46.927

    +41.278

    +730,71

    73.443

    +25.516

    +56,5

    4.Cho vay

    hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn

    Triệu đồng

    3.600

    14.676

    +11.076

    +30,76

    15.403

    +4.327

    +29,48

    5.Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường

    Triệu đồng

    2.500

    8.751

    +6.251

    +250,04

    11.074

    +2.503

    +28,60

    6.Cho vay

    Xuất khẩu lao động

    Triệu đồng

    251

    35

    -216

    -86,05

         

    7.Cho vay dự án WB3

    Triệu đồng

    3.479

    5.511

    +2.032

    +58,41

    8.023

    +2.512

    +45,58

    8.Cho vay hộ nghèo về nhà ở

    Triệu đồng

     

    40

       

    1.000

    +960

    +24

    II.Số hộ thoát nghèo từng năm

    Hộ

    1.418

    1.456

    -38

    -2,68

    1.201

    -256

    -17,58

    III.Số lao động được thu hút từng năm

    Lao động

    3.950

    5.834

    +1.884

    +47,7

    5.962

    +128

    +2,19

    IV.Dư nợ bình quân 1 khách hàng

    Triệu đồng

    7,64

    13,2

    +5,56

    +72,77

    17,74

    +4,54

    +34,4

                             (Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHCSXH Huyện Phù Mỹ)

    - Cho vay xuất khẩu lao động:35 triệu đồng, giảm 216 triệu đồng so với đầu năm. Do ảnh hưởng suy giảm kinh tế toàn cầu, nhiều lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài không có việc làm phải về nước trước thời hạn, nên dư nợ nguồn vốn này giảm thấp so với đầu năm, hiện có 3 hộ còn dư nợ.

    - Cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn:15.403 triệu đồng, tăng 4.327 triệu đồng so với đầu năm, với 696 hộ còn dư nợ. Trong năm đã cho vay với doanh số 10.368 triệu đồng, có 371 lượt hộ vay vốn và thu nợ 5.593 triệu đồng.

    - Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường: 11.074 triệu đồng, tăng 2.053 triệu đồng so với đầu năm, có 2.768 khách hàng quan hệ với ngân hàng, trong năm đã xây dựng được 862 công trình vệ sinh, với doanh số cho vay đạt 3.348 triệu đồng, thu nợ 2.198 triệu đồng.

    - Cho vay học sinh sinh viên: 73.443 triệu đồng, tăng 25.516 triệu đồng so với đầu năm, với 3.833 hộ gia đình còn dư nợ. Trong năm đã cho với doanh số 21.728 triệu đồng, có 5.118 lượt hộ vay vốn và thu nợ 226 triệu đồng.

    - Cho vay dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3): 8.023 triệu đồng, tăng 2.512 triệu đồng so với đầu năm, với 578 hộ gia đình còn dư nợ. Trong năm đã cho vay với doanh số 2.631 triệu đồng, có 214 lượt hộ vay vốn và thu nợ 119 triệu đồng.

    - Cho vay hộ nghèo về nhà ở: 1.000 triệu đồng,tăng 960 triệu đồng so với đầu năm, với 5 hộ được hỗ trợ vay vốn của chương trình.

    Banăm qua, tổng số hộ được vay vốn lần lượt là:năm 2008 có 7.920 lượt hộ vay vốn với số tiền là 35.312 triệu đồng, bình quân mỗi hộ được vay 4,46 triệu đồng; năm 2008 có 7.815 lượt hộ vay vốn với số tiền là 63.964 triệu đồng, bình quân mỗi khách hàng được vay 8,15 triệu đồng, tăng 3,51 triệu đồng so với năm trước; năm 2010 có 10.658 hộ vay vốn với số tiền là 102.584 triệu đồng, bình quân mỗi hộ được vay 9,63 triệu đồng, tăng 1,48 triệu đồng so với năm trước. Nhìn chung số lượt hộ vay tăng, giảm không đáng kể nhưng số tiền bình quân mỗi hộ được vay và số dư nợ bình quân mỗi khách hàng tăng dần qua các năm. Mức đầu tư cho một hộ ngày càng tăng lên, điều đó chứng tỏ việc cho vay ngày càng đáp ứng nhu cầu thực tế của các hộ nghèo và khẳng định bước đi đúng đắn của NHCSXH Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng dư nợ qua các năm như sau: năm 2009 tăng 70,57%, năm 2010 tăng 35,81%.

    Thông qua việc vay vốn của NHCSXH, năm 2008 đã có 1.418 hộ thoát nghèo, như vậy bình quân cứ 5,58 hộ vay vốn có 1 hộ thoát nghèo; năm 2009 có 1.456 hộ thoát nghèo, bình quân cứ 5,37 hộ vay vốn có 1 hộ thoát nghèo, năm 2010 có 1.201 hộ vay vốn, bình quân cứ 6,58 hộ vay vốn có 1 hộ thoát nghèo. Qua đây, ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và tình trạng lạm phát trong nước đến chất lượng tín dụng trong năm 2010.

    2.2.2. Cơ cấu vốn cho vay theo vùng tại NHCSXH Huyện Phù Mỹ

     Phát huy lợi thế mạng lưới rộng khắp, đội ngủ cán bộ có trình độ chuyên môn, NHCSXH huyện là tổ chức duy nhất trong thời gian qua thực hiện tốt việc phân phối vốn và cho vay đều khắp tới các xã trên địa bàn.

    Nhìn vào cơ cấu vốn cho vay ta thấy số vốn đầu tư được phân bổ hầu như đều ở các xã theo mức độ tỉ lệ hộ nghèo đói ở từng nơi. Tổng mức  cho vay ở tất cả các vùng không ngừng tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể năm 2009 tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân đạt 73,38% so với năm 2008 và năm 2010 tốc độ này là 37,37% so với năm 2009 nhằm đáp ứng nhu cầu vay ngày càng cao của nhiều người dân nghèo, tạo điều kiện để những người dân nghèo được thụ hưởng chính sách ưu đãi, có điều kiện phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống vươn lên hòa nhập cộng đồng, góp phần thực hiện chính sách đoàn kết của Đảng.

    Nguồn vốn tập trung đầu tư cho các hộ nghèo vùng sâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn như: xã Mỹ Đức, Mỹ Thọ, Mỹ Thắng, Mỹ Lợi, Mỹ Châu. Điển hình trong năm 2009: Tại xã Mỹ Lợi, dư nợ cho vay tăng 3.861 triệu đồng tương đương với tốc độ tăng trưởng là 151,77%; còn tại xã Mỹ Thọ, dư nợ cho vay tăng 4.048 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng trưởng là 103,64% so với năm 2008. Điều đó minh chứng cho sự ưu ái trong chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người dân nghèo, thể hiện đúng bản chất của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

              Tại Huyện Phù Mỹ có 2 thị trấn là thị trấn Phù Mỹ và thị trấn Bình Dương, tuy nhiên dư nợ cho vay tại thị trấn Phù Mỹ luôn cao hơn rất nhiều so với thị trấn Bình Dương, bình quân cao hơn 4.206 triệu đồng. Tại sao lại có sự chênh lệch này trong khi mức sống của người dân ở 2 thị trấn là tương đương nhau? Nguyên nhân là vì trong năm 2008, tại thị trấn Phù Mỹ có xây dựng một nhà máy nước sạch từ nguồn kinh phí tài trợ của nước Úc, nhà máy này chuyên lắp đặt hệ thống và cung cấp nước sạch cho sinh hoạt hằng ngày đến người dân. Nhận thức được vai trò của nước sạch đối với sức khoẻ con người nên người dân nơi đây đã đồng loạt vay tiền từ chương trình cho vay NS&VSMTNN của NHCSXH Huyện để lắp đặt hệ thống và sử dụng nước sạch. Thiết nghĩ trong vài năm tới nguồn vốn dùng để giải ngân cho chương trình NS&VSMTNN của Huyện cần nhiều hơn vì nhu cầu này là cần thiết đối với nhiều người dân không chỉ ở thị trấn Phù Mỹ mà còn ở các xã và thị trấn khác.

    Bảng 2.3: Diễn biến dư nợ cho vay tại các xã, thị trấn giai đoạn năm

    Stt

    Xã, thị trấn

    Năm 2008

    Năm 2009

    Năm 2010

    Dư nợ

    Dư nợ

    Chênh lệch

    Tốc độ tăng trưởng (%)

    Dư nợ

    Chênh lệch

    Tốc độ tăng trưởng (%)

    1

    Mỹ Cát

    3.405

    5.072

    +1.667

    +48,96

    2.919

    +1.232

    +24,29

    2

    Mỹ Quang

    2.551

    4.283

    +1.732

    +67.89

    3.079

    +1.365

    +31,81

    3

    Mỹ Tài

    4.194

    5.936

    +1.742

    +41,54

    7.424

    +1.653

    +27,84

    4

    Mỹ Hiệp

    5.451

    7.935

    +2.484

    +45.57

    2.307

    +2.966

    +37,37

    5

    Mỹ Lộc

    3.123

    5.718

    +2.595

    +83,09

    1.489

    +1.270

    +22,21

    6

    Mỹ Châu

    3.697

    5.444

    +1.747

    +47,25

    3.898

    +2.496

    +45.85

    7

    Mỹ Chánh

    2.600

    5.825

    +2.685

    +103,2

    1.642

    +1.272

    +24,06

    8

    Mỹ Phong

    2.856

    5.281

    +2.425

    +84,91

    4.866

    +2.152

    +40,75

    9

    Mỹ Lợi

    2.544

    6.405

    +3.861

    +151,7

    4.623

    +3.667

    +57,25

    10

    Mỹ Thọ

    3.906

    7.954

    +4.048

    +103,6

    3.834

    +1.033

    +12,98

    11

    Mỹ An

    3.183

    5.207

    +2.204

    +63,59

    3.248

    +1.622

    +31,15

    12

    Mỹ Thành

    2.414

    3.646

    +1.232

    +51,04

    2.579

    +2.942

    +80,69

    13

    Mỹ Đức

    2.888

    5.110

    +2.222

    +76,94

    4.068

    +3.753

    +73,44

    14

    Mỹ Hòa

    2.601

    4.739

    +2.138

    +82,2

    3.358

    +2.001

    +42,22

    15

    Mỹ Thắng

    3.203

    5.339

    +2.136

    +66,68

    6.778

    +1.684

    +31,54

    16

    TT Phù Mỹ

    4.517

    7.061

    +2.544

    +56,32

    1.987

    +1.228

    +17,39

    17

    TT Bình Dương

    1.431

    2.333

    +902

    +63,03

    1.055

    +1.152

    +49,37

    18

    Mỹ Chánh Tây

    3.340

    5.365

    +2.205

    +60,63

    4.777

    +792

    +14,76

    2008 - 2010

    2.2.3 Cơ cấu vốn cho vay theo ngành nghề tại NHCHXH Huyện Phù Mỹ

     Tín dụng cho hộ nghèo đã góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phát triển ngành nghề tạo thêm việc làm mới, tận dụng lao động nông nhàn, góp phần thực hiện phân công lại lao động trong nông thôn.

    (Nguồn báo cáo kết quả cho vay của NHCSXH Huyện Phù Mỹ)

    Nguồn:Báo cáo kết quả cho vay của NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    Nguồn:Báo cáo kết quả cho vay của NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    Tuy mới thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian chưa dài nhưng NHCSXH đã phát triển nhiều mặt từ tổ chức điều hành đến công tác huy động nguồn vốn, mở rộng nghiệp vụ cho vay. Nguồn vốn đầu tư của ngân hàng được tập trung cho phát triển kinh tế nông nghiệp giảm dần, cho dịch vụ tăng dần, phù hợp với xu hướng thay đổi cơ cấu ngành của nền kinh tế. Cụ thể năm 2007, tỉ lệ nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp là 90%; đến năm 2008 là 86%, giảm 4%; đến năm 2009 con số nay chỉ còn 80%, giảm 10% so với năm 2007 và 6% so với năm 2008. Ngược lại, tỉ lệ vốn đầu tư cho dịch vụ năm 2007 chỉ là 4% nhưng sang năm 2008 đã tăng thêm 3% nữa tức là 7% và đến năm 2009 con số này là 11%. Còn tỉ lệ vốndầu tư cholĩnh vực đánh bắt nuôi trồng thủy sản có tăng nhưng không đáng kể.

     Số đông hộ nghèo được vay vốn đã thực sự tạo ra sức sản xuất mới trong nông nghiệp cả về năng suất, sản lượng, chất lượng hàng hóa. Nhiều nơi dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn và giúp đỡ của chính quyền hộ nghèo đã tham gia vào trồng cây ăn quả, cây công nghiệp như mía, điều…cải tạo hàng vạn hecta vườn, chăn nuôi đại gai súc và nuôi các loại con có giá trị kinh tế cao như bò, tôm, cá…Điều đó đã tạo thêm việc làm cho nhiều con em hộ nghèo có thu nhập ổn định. Nhiều hộ sử dụng vốn đem lại hiệu quả cao, mau chóng thoát khỏi cảnh nghèo đói.

    2.2.4 Công tác xã hội hoá trong hoạt động cho vay tại NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    Thực hiện xã hội hoá công tác cho vay vốn hộ nghèo thông qua việc xây dựng tổ nhóm, kết hợp chặt chẽ giữa sự chỉ đạo của chính quyền kiểm tra, giám sát của các tổ chức hội đoàn thể chính trị-xã hội, thực hiện dân chủ công khai trong công tác cho vay của ngân hàng đã đem lại kết quả to lớn.

    Trong những năm qua, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và phát triển các xã đặc biệt khó khăn, Đảng và Chính phủ đã có nhiều biện pháp chỉ đạo đồng bộ nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cả về trí lực và vật lực rộng khắp ở các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội và từng các nhân trong và ngoài nước. Đồng thời, có kế hoạch triển khai tuyên truyền sâu rộng nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, làm cho chương trình  xóa đói giảm nghèo không phải là trách nhiệm riêng của một ngành, một cấp nào mà là của toàn xã hội. Có thể nói, đó chính là thực hiện việc xã hội hoá công tác xóa đói giảm nghèo.

    Bảng 2.4: Diễn biến dư nợ cho vay qua các tổ chức chính trị -xã hội  giai đoạn 2008-2010

    (Đvt: triệu đồng)

    Tình hình ủy thác CV qua các hội đoàn thể

    Năm 2008

    Năm 2009

    Năm 2010

    Dư nợ

    Dư nợ

    Tăng so với năm 2008

    Dư nợ

    Tăng so với năm 2009

    Tổng số

    54.115

    102.484

    +48.369

    139.380

    +36.896

    1.Hội

    Phụ nữ

    24.774

      47.004

    +22.230

    61.775

    +14.771

    2.Hội

    Nông dân

    14.885

      28.526

    +13.641

    36.891

    +  8.365

    3.Hội Cựu chiến binh

    12.404

      20.974

    +8.570

    32.029

    +11.055

    4.Đoàn

    thanh niên

    2.052

        5.980

    +3.928

       8.685

    + 2.705

    Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    Quán triệt tư tưởng trên, NHCSXH trong quá trình hoạt động gần 9 năm đã đẩy mạnh việc xã hội hoá công tác cho vay hộ nghèo, thể hiện rõ trong qui trình nghiệp vụ cho vay không phải thế chấp tài sản nhưng phải dựa trên cơ sở thiết lập các tổ vay vốn. Tổ vay vốn được thành lập gồm những hộ nghèo có cùng hoàn cảnh, sống gần nhau, cùng thôn xóm, có từ 5 đến 50 thành viên tự nguyện tham gia. Tổ có qui ước cộng đồng trách nhiệm về vay vốn, trả nợ ngân hàng, việc bình xét đối tượng vay vốn được thực hiện công khai, dân chủ trong nhân dân thông qua tổ nhóm, xét duyệt của ban giảm nghèo và ủy ban nhân dân xã, phường, sự quan tâm của ban đại diện hội đồng quản trị -NHCSXH huyện, giám sát của các hội đoàn thể. 

    NHCSXH đã nhận được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ và phối hợp chặt chẽ của nhiều tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong việc xây dựng các tổ vay vốn. Điển hình là hội Liên hiệp phụ nữ, hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, đoàn Thanh niên các cấp đã cùng với NHCSXH tổ chức xây dựng các tổ vay vốn của phụ nữ nghèo, tổ nông dân...Có thể nói hội Liên hiệp phụ nữ đã làm rất tốt vai trò của mình trong việc vận động các thành viên trong hội mạnh dạn vay vốn làm ăn, vươn lên thoát cảnh nghèo đói. Cụ thể dư nợ cho vay thông qua hội Liên hiệp phụ nữ qua các năm luôn cao nhất, bình quân cao gấp 1,6 lần so với hội Nông dân, gấp 2 lần so với hội Cựu chiến binh và gấp 9 lần so với đoàn Thanh niên, năm 2009 dư nợ tăng 22.230 triệu đồng với tốc độ tăng là 89,73% so với năm 2008; năm 2010 dư nợ tăng 14.771 triệu đồng với tốc độ tăng là 31,42% so với năm 2009. Điều đó cho thấy Phụ nữ ngày  nay rất năng động, có vị trí quan trọng trong xã hội và góp phần to lớn vào sự nghiệp xóa đói giảm của quốc gia. Đối lập với hội Liên hiệp phụ nữ là đoàn Thanh niên, được mệnh danh là thế hệ trẻ nhưng đoàn Thanh niên lại không phát huy được sức mạnh và vai trò của mình, đây là vấn đề cần được xem xét lại. Trong những năm qua, dư nợ cho vay thông qua đoàn Thanh niên luôn ở mức thấp nhất. Ta có thể thấy rõ điều này thông qua biểu đồ sau:

     

    Nguồn: Báocáocủa NHCSXH

    Đến 31/12/2010 toàn huyện có 334 tổ tiết kiệm và vay vốn với 10.658 hộ tham gia. Thông qua hoạt động của tổ vay vốn đã góp phần cùng ngân hàng đưa vốn vay trực tiếp đến tay người nghèo đúng đối tượng,thu nợ thu lãi đúng thời hạn, giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh và đời sống, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng

    Mô hình thành lập tổ tiết kiệm và vay vốn có vị trí rất quan trọng, được xem như cánh tay kéo dài của NHCSXH trong việc chuyển tải vốn trực tiếp đến tay hộ nghèo. Tuy nhiên thời kì đầu do khả năng tài chính còn hạn hẹp nên phần lớn các tổ vay vốn chưa được đào tạo nên hoạt động chỉ mang tính hình thức, chỉ nhóm họp khi vay vốn, tính cộng đồng trách nhiệm sử dụng vốn còn nhiều hạn chế.

    Trong những năm qua, công tác đào tạo tổ vay vốn đã được quan tâm đúng mức, kết quả đào tạo đã được đánh giá cao, tạo nhận thức sâu rộng về chính sách tín dụng hộ nghèo đối với các hộ dân, tăng thêm sự hiểu biết giữa ngân hàng với hộ nghèo, nâng cao trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, phát hiện những vướng mắc trong chính sách và cơ chế điều hành, hạn chế tiêu cực có thể xảy ra.

    Như vậy có thể nói rằng hoạt động tín dụng theo các dự án, tổ nhóm đã hỗ trợ tích cực cho ngân hàng trong việc cấp phát và thu hồi vốn, tiết kiệm được chi phí và bước đầu đã đem lại những kết quả đáng khích lệ thể hiện: Vốn đầu tư được bảo toàn và quay vòng vốn nhanh, giúp cho các hộ nông dân nghèo tăng thêm thu nhập, phát huy tinh thần tương thân, tương ái lẫn nhau, tự chủ vương lên thoát cảnh nghèo đói, xây dựng cho người nông dân nghèo có ý thức kỷ luật tín dụng, nâng cao tinh thần tự nguyện, tự giác và sòng phẳng trong quan hệ tín dụng mà không cần phải thế chấp.

    2.2.5. Những đổi mới trong công tác cho vay tại NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    Là một ngân hàng mới thành lập và đi vào hoạt động chưa lâu nhưng ngay thời gian đầu hội đồng quản trị và  Ban điều hành tác nghiệp NHCSXH đã có nhiều cố gắng trong xây dựng chính sách và cơ chế nghiệp vụ sao cho phù hợp với thực tiễn. Phương châm là dành sự thuận lợi nhất cho người nghèo để họ có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn ưa đãi, mặt khác lại phải đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn vốn tránh thất thoát và đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động không được lỗ theo yêu cầu của Chính phủ. Qua gần 9 năm hoạt động NHCSXH Huyện Phù Mỹ đã thực hiện được yêu cầu này, nguồn vốn, dư nợ tăng nhanh đáp ứng được nhu cầu vốn của các hộ nghèo, các xã trên địa bàn.

    Trong những năm qua, NHCSXH đã không ngừng thực hiện việc đổi mới các chính sách, cơ chế nghiệp vụ cho phù hợp với thực tế phát triển từng thời kì.

    - Lãi suất cho vay: Trong những năm qua, lãi suất cho vay hộ nghèo liên tục thay đổi theo chiều hướng giảm dần

    Bảng 2.5: Lãi suất cho vay hộ nghèo từ  năm 2001 đến nay

    Lãi suất cho vay hộ nghèo

    Từ 1/6/2001-31/12/2005

    Từ 1/1/2006-30/6/2007

    Từ 1/7/2007-nay

    Các xã vùng III, xã ĐBKK

    0,45%

    0,6%

    0,65%

    Các xã còn lại

    0,5%

    0,65%

    0,65%

    Nguồn: Báo cáo lãi suất cho vay của ngân hàng chính sách huyện Phù Mỹ từ năm 2001 - 2010

    - Mức cho vay:Mức cho vay tối đa đối với một hộ nghèo được điều chỉnh tăng dần cho phù hợp với qui mô tăng trưởng nguồn vốn của NHCSXH  và khả năng sử dụng vốn vay của hộ nghèo. Thời kì đầu, do nguồn vốn còn hạn chế và để có nhiều hộ nghèo được vay vốn, tập làm quen với việc sử dụng vốn vay nên qui định mức cho vay tối đa đối với mỗi hộ nghèo không quá 2,5 triệu đồng. Từ tháng 1/1998, Hội đồng quản trị đã quyết định điều chỉnh mức cho vay tối đa lên 3 triêu đồng. Ngày 21/2/1999 qua kiểm tra nắm bắt tình hình thực tiễn và theo kiến nghị của các địa phương, , Hội đồng quản trị  quyết định nâng mức cho vay tối đa lên 5 triệu đồng đối với các hộ vay vốn để chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp, sửa chữa chuồng trại…nhưng dư nợ của loại cho vay này bằng 15% tổng dư nợ trên địa bàn của ngân hàng tỉnh, thành phố. Quyết định thực hiện hộ vay bổ sung đối với các hộ trước đây vay còn ít nay có nhu cầu vay thêm đến 3 triệu. Từ tháng 11/2001 riêng hộ vay vốn để chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, mua sắm công cụ, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, kinh doanh ngành nghề được vay 7 triệu đồng/hộ. Tuy nhiên, dư nợ loại này không quá 15% tổng dư nợ trên địa bàn tỉnh, thành phố. Đến năm 2007 mức cho vay đối với loại này đã được nâng lên là 30 triệu đồng/hộ (bao gồm cả nhu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu thiết yếu về nhà ở, nước sạch, điện thắp sáng, chi phí học tập cho con em học trường phổ thông)

    - Thời hạn cho vay: Cho vay trung hạn tối đa đối với hộ nghèo ban đầu  qui định là 36 tháng, không phân biệt vay ngắn hạn, trung hạn. Đến nay áp dụng thời hạn cho vay tối đa đối với loại này theo qui định chung của Thống đốc ngân hàng nhà nước: cho vay ngắn hạn tối đa 12 tháng, cho vay trung hạn tối đa 60 tháng, cho vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Ngoài ra NHCSXH còn áp dụng các hình thức cho vay lưu vụ, gia hạn nợ, cho vay lại cho đến khi hộ nghèo thoát khỏi ngưỡng nghèo, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả.

    Nhờ điều chỉnh kịp thời và áp dụng hợp lý các chính sách trong quá trình hoạt động nên NHCSXH phát triển nhanh về mọi mặt từ tổ chức điều hành đến việc huy động vốn và tăng trưởng nhanh về mức đầu tư tín dụng hành năm, tạo uy tín lớn trên thị trường tài chính tín dụng trong nước và quốc tế. Đồng vốn tín dụng của NHCSXH đã thực sự giúp cho một bộ phận không nhỏ người nghèo có công ăn, việc làm, tăng thu nhập. Nhìn chung hộ nghèo biết sử dụng vốn tín dụng đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, từng bước vươn lên làm chủ cuộc sống, vượt lên thoát khỏi nghèo đói.

    - Về phương thức cho vay:NHCSXH được phép cho vay theo hai phương thức:

    + Cho vay trực tiếp

    + Cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị-xã hội

    2.3 Kết quả hoạt động tài chính

     NHCSXH là một tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, song đơn vị phải phấn đấu khai thác tối đa nguồn thu lãi cho vay để đảm bảo cân đối các khoản chi cần thiết cho hoạt động theo qui chế quản lý tài chính được Chính phủ, ngành qui định. Kết quả hoạt động tài chính 3 năm như sau:

    Thực hiện chủ trương của Chính phủ vàHội đồng quản trị về khoán tài chính đến từng đơn vị cơ sở, đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động, tạo tính chủ động cho các đơn vị nhận khoán, nên việc thu lãi để trang trải chi phí hoạt động của chương trình tín dụng chính sách nhằm giảm thiểu cấp bù từ ngân sách Nhà nước, đã dược NHCSXH và các hội đoàn thể chú trọng thường xuyên. NHCSXH, Hội đoàn thể, tổ tiết kiệm và vay vốn có sự phối hợp tốt trong công tác đôn đốc thu lãi trên nguyên tắc thu đúng, thu đủ, chi đủ theo chế độ qui định. Các khoản hoa hồng, chi phí dịch vụ ủy thác được chi trả đầy đủ và kịp thời, công khai, minh bạch, rõ ràng. Các khoản chi phí khác luôn phục vụ cho hoạt động, với tinh thần triệt để tiết kiệm, đúng chế độ qui định, tỉ lệ thu lãi năm sau luôn cao hơn năm trước, chênh lệch thu chi luôn tăng qua các năm, cụ thể: năm 2009 tăng 1.694 triệu đồng, tốc độ tăng là 208,6%; năm 2010 tăng 903 triệu đồng với tôc độ tăng là 59,96%. Công tác tài chính trong hoạt động của NHCSXH đã khẳng định chủ trương cho vay ủy thác từng phần qua tổ chức hội đoàn thể là hiệu quả, tiết kiệm được một khoản tiền rất lớn so với phương thức ủy thác toàn phần qua tổ chức tín dụng, giảm dần gánh nặng cấp bù từ ngân sách nhà nước. Cụ thể: Tính trên cùng số dư nợ có thu được lãi, với phương thức ủy thác toàn phần qua tổ chức tín dụng, NHCSXH phải trả mức phí ủy thác là 0,32%, trong khi cho vay ủy thác từng phần qua các tổ chức hội đoàn thể là 0,145% ( bao gồm phí ủy thác hội đoàn thể được hưởng là 0,06% và hoa hồng tổ tiết kiệm và vay vốn được hưởng là 0,085%). Như vậy, NHCSXH đã tiết kiệm khoản chênh lệch phí ủy thác là 0,175%.

    Bảng 2.6: Kết quả hoạt động tài chính qua các năm 2008 -  2010

                                                     (Đvt: Triệu đồng)

    STT

    Nội dung

    Kết quả tài chính

    Năm 2008

    Năm 2009

    Năm 2010

    1

    Tổng thu

    3.485

    5.673

    6.748

    -

    Thu từ hoạt động tín dụng

    3.217

    5.665

    6.718

    -

    Thu

    khác

    268

    8

    30

    2.

    Tổng

    chi

    2.673

    3.167

    3.339

    -

    Phí ủy thác trả cho các cấp hội

    322

    492

    640,2

    +

    Hội liên hiệp phụ nữ

    154

    237

    301

    +

    Hội

     Nông dân

    78

    129

    158,6

    +

    Hội Cựu chiến binh

    65

    107

    141,2

    +

    Đoàn

    Thanh niên

    25

    19

    39,4

    -

    Hoa hồng chi cho ban quản lý tổ TK&VV

    658

    686

    1.066

    -

    Phụ cấp cho cán bộ xã

    8

    8,9

    10

    -

    Chi lương cho CBCNV

    1.685

    1.980,1

    1.622,8

    3

    Thu nhập > chi phí

    812

    2.506

    3.409

              Nguồn: Báo cáo tài chính NHCS huyện Phù Mỹ năm 2008 - 2010

    Ngoài ra, các tổ chức hội đoàn thể có thêm một khoản kinh phí từ hoạt động ủy thác với NHCSXH để hỗ trợ cho hoạt động của mình.

    Công tác kế toán thanh toán, chuyển tiền điện tử được thực hiện cập nhật và đảm bảo thông suốt, đáp ứng kịp thời cho hoạt động điều hanh của đơn vị.

    PHẦN III

    NHẬN XÉT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH HUYỆN PHÙ MỸ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

     3.1. Những kết quả đạt được

              Với những chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ giao được tổ chức thực hiện trên địa bàn đã từng bước đi vào cuộc sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đã phát huy hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế , xã hội mà còn góp phần đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn.

    3.1.1. Hiệu quả về kinh tế

              *Hiệu quả trong hoạt động huy động vốn

              - Nguồn vốn huy động của NHCSXH Huyện Phù Mỹ không ngừng tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng cao của nhiều hộ nghèo. Nếu như trong năm 2008 chỉ có 7.920 lượt hộ vay vốn thì đến năm 2010 con số nay lên đến 10.658 lượt hộ tham gia.

              - Công tác huy động vốn trong cộng đồng người nghèo từng bước được cải thiện. Tuy số tiền gửi của mỗi người không nhiều, chỉ từ 10.000 đến 100.000 đồng nhưng có nhiều người gửi, thực hiện việc "góp gió thành bão". Việc huy động này khuyến khích người dân nghèo cố gắng làm kinh tế, có ý thức tiết kiệm

    - Có được kết quả trên là vìtừ ngày phòng giao dịch NHCSXH Huyện Phù Mỹ thành lập cho đến nay luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện của lãnh đạo Đảng, chính quyền, sự ủng hộ tích cực của các cơ quan, hội đoàn thể các cấp trên địa bàn, là động lực thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của đơn vị. Ngoài ra ban lãnh đạo NHCSXH Huyện đã thường xuyên chú trọng công tác đào tạo, giáo dục chiính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống đối với cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có phong cách gần dân và có trách nhiệm đối với công việc. Đó cũng là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của đơn vị.

              *Hiệu quả trong hoạt động cho vay vốn

              - Góp phần nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn, đạt 2.000.000 đồng/1 nhân khẩu/năm, tăng 17,2%.

    - Thông qua nguồn vốn quỹ quốc gia về việc làm, trong năm 2010 đã cho vay 280 dự án với số tiền 2.116 triệu đồng. Chương trình cho vay học sinh sinh viên đã tạo điều kiện cho hơn 4000 học sinh sinh viên được vay vốn để học tập. Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường đã phát huy hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn, với 862 công trình vệ sinh được xây dựng trong năm, 371 hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn cũng đều được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng.

    - Hoạt động tín dụng của NHCSXH đã thực hiện xã hội hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới, gắn bó với chính quyền. Các đoàn thể tập hợp được hộ viên ngày càng nhiều, lồng ghép được các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và hướng dẫn tạo điều kiện cho hộ nghèo biết sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi…theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đã tạo cho hộ nghèo có cơ hội phát triển kinh tế vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, điển hình như chị Võ Thị Hạnh thôn Hòa Tân xã Mỹ Đức, chị Lê thị Hương ở An Mỹ xã Mỹ Cát. Trước đây gia đình các chị là những hộ nghèo đặc biệt thiếu vốn làm ăn, bế tắc trong thu nhập, song từ khi được vay vốn ưu đãi của NHCSXH kết hợp với tiếp thu các kiến thức khoa học và kinh nghiệm làm ăn của các chị em khác về chăn nuôi bò sinh sản, bò vỗ béo đã đem lại lợi nhuận cho gia đình từ 8 đến 10 triệu đồng/năm. Đến nay, các chị đã vươn lên thoát nghèo, tu sửa nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện sinh hoạt trong gia đình, trang trải cho con ăn học đến nơi đến chốn.

    - Những kết quả to lớn ấy đạt được là nhờ vào những giải pháp điều hành của ban giám đốc chi nhánh NHCSXH tỉnh Bình Định, ban đại diện hội đòng quản trị-NHCSXH huyện, ban giám đốc NHCSXH Huyện và nhất là thực hiện xã hội hoá hoạt động NHCSXH Huyện thông qua phương thức cho vay uỷ thác từng phần qua các tổ chức hội đoàn thể. Xây dựng hệ thống điểm giao dịch đến tận khắp các xã, thị trấn, đưa hoạt động của NHCSXH đến "gần nhà" người nghèo và các đối tượng chính sách. Đây là mô hình và là đặc thù riêng chỉ có ở NHCSXH, đã tạo nên động lực, điều kiện tiên quyết đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đi vào cuộc sống.

    *Hiệu quả trong hoạt động tài chính

    - Hoạt động tài chính của NHCSXH Huyện Phù Mỹ luôn đảm bảo thu lớn hơn chi, mức chênh lệch thu chi không ngừng tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, góp phần nâng cao thu nhập của cán bộ công nhân viên, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước.

    - Từ hiệu quả đạt được trong hoạt động tài chính, NHCSXH Huyện Phù Mỹ cũng đã đóng góp to lớn vào việc cải thiện đời sống của những người nghèo và gia đình chính sách tại địa phương. Cụ thể NHCSXH Huyện đã tiến hành góp tiền xây nhà tình nghĩa cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng.

    - Sở dĩ đạt được kết quả như trên là vì ban lãnh đạo NHCSXH Huyện luôn chú trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết nội bộ bền vững trong toàn đơn vị, tạo nên sự đồng thuận cao trong điều hành. Ngoài ra NHCSXH Huyện cũng có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn, tinh thần làm việc tích cực và hiệu quả.

    3.1.2. Hiệu quả về mặt xã hội

    Việc ra đời NHCSXH Huyện Phù Mỹ là một chủ trương sáng suốt của Đảng, phù hợp với lòng dân. Do đó đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp. Kết quả gần 9 năm hoạt động đã gầy được lòng tin và ấn tượng tốt đẹp trong nhân dân, đặc biệt là nông dân nghèo phấn khởi và ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước

    Nguồn vốn tín dụng đã phát huy hiệu quả, góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 10,28% năm 2009 xuống còn 8,35% năm 2010, giảm 1,93% so với năm trước. Vốn tín dụng đã đến hộ nghèo đạt 108% (trong đó bao gồm số hộ đã thoát nghèo năm 2010 nhưng vẫn còn dư nợ tại ngân hàng), hộ chính sách đạt 48,9% đã tạo điều kiện cho cuộc sống của người dân nghèo và các đối tượng chính sách ngày càng được cải thiện, góp phần ổn định tình hình an ninh - xã hội trên địa bàn

    Thực hiện kênh tín dụng hộ nghèo đã thể hiện tính nhân văn, nhân ái, lương tâm và trách nhiệm của cộng đồng đối với hộ nghèo, góp phần  củng cố khối liên minh công nông và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN Việt Nam.

    NHCSXH Huyện đã thực hiện tốt dịch vụ tín dụng đối với hộ nghèo,  góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, một chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta hiện nay, nâng cao uy tín và vị thế của NHCSXH.

    Với phương châm hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, việc cho vay thực hiện theo nguyên tắc công khai, dân chủ, tổ chức giao dịch tại các điểm giao dịch xã…Hoạt động của NHCSXH trong những năm qua đã được sự đồng tình, hưởng ứng rất cao của nhân dân. Qua đó đã xuất hiện những cá nhân, hội đoàn thể xã, tổ tiết kiệm và vay vốn thực hiện tốt công tác ủy thác như: Hội phụ nữ xã Mỹ Đức, Mỹ Cát; Hội nông dân xã Mỹ Châu, Mỹ Lộc; Hội cựu chiến binh xã Mỹ Thọ. Đồng thời cũng góp phần nâng cao vai trò kiểm tra kiểm soát thông qua sự điều hành của ban đại diện hội đồng quản trị  các cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần tự nguyện, tự giác của các tổ TK&VV thông qua việc bình xét công khai, dân chủ. Điều này bộc lộ rõ tính nhân dân sâu sắc tronghoạt động tín dụng của NHCSXH

    3.1.3.. Hiệu quả về góp phần an ninh- xã hội

    Do đặc thù của NHCSXH là sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước huy động đẻ cho vay thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, do đó hoạt động của NHCSXH luôn có sự tham gia lãnh đạo của chính quyền các cấp và sự phối hợp đòng bộ của các tổ chức chính trị xã hội . Trong đó lãnh đạo các ngành quản lý nhà nước tham gia Ban đại diện HĐQT huyện gồm 9 cơ quan, với 10 thành viên, 4 hội đoàn thể tham gia làm nhiệm vụ ủy thác từ huyện đến xã, với hơn 60 thành viên tham gia, và mạng lưới tổ tiết kiệm và vay vốn lên đến 334 tổ để phục vụ kịp thời nhu cầu tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

    Xây dựng mô hình hoạt động gần dân, thông qua 19 điểm giap dịch xã, chất lượng hoạt động của NHCSXH huyện ngày càng được nâng cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo và các đối tượng chinh ssachs khác trên địa bàn.Với mạng lưới hoạt động rộng khắp, đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn và tâm huyết với công việc, luôn sẵn sàng phục vụ nhân dân nên hoạt động của NHCSXH huyện trong những năm qua luôn được các cấp ủy, chính quyền dịa phương ghi nhận và đánh giá cao, xem NHCSXH như là một công cụ tích cực thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện thuận lợi để đơn vị nâng cao năng lực hoạt động

    Tóm lại: từ thực tiễn cho thấy chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo có hiệu quả thiết thực, góp phần ổn định và phát trển nền kinh tế xã hội, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước với chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo.

    3.2. Một số tồn tại và nguyên nhân

    * Những tồn tại trong công tác huy động vốn

    Một là, hiện tại việc huy động vốn trên thị trường có nhiều tổ chức như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính tín dụng hoạt động theo luật các doanh nghiệp thực hiện với rất nhiều hình thức huy động phong phú như: tiền gửi tiế kiệm có kì hạn, không kì hạn, trái phiếu, cổ phiếu...với các mức lãi suất hấp dẫn khác nhau tuỳ theo tình hình thị trường cung cầu vốn. NHCSXH muốn  huy động được nguồn vốn trên thịt trường cũng phải tuân theo mặt bằng lãi suất chung của thị trường hiện tại từng thời kì. Với nguồn vốn huy động từ thị trường thì hoạt động của NHCSXH sẽ rất khó khăn nếu không có sự hỗ trợ từ phía NCNN (vì NHCS thực hiện việc cho vay theo lãi suất ưu đãi)

    Hai là, việc huy động vốn trong cộng đồng người nghèo và các hình thức động viên sự đóng góp của các cá nhân, các doanh nghiệp trên tinh thần nhân ái vì người nghèo rất hạn chế vì:

    Trong nền kinh tế thị trường, động cơ làm giàu không ngừng hối thúc mỗi cá nhân và từng doanh nghiệp. Vì thế, sự đóng góp cho người nghèo với tinh thần tương ái không vì lợi nhuận chỉ mang tính tượng trưng, là tấm huân chương làm đẹp thêm bộ trang phục mà thôi, không thể kêu gọi lòng nhân ái lâu dài của họ.

    Bản thân người nghèo, hộ nghèo không có những khoản thu nhập dôi dư, tiền gửi tiết kiệm đối với họ là điều quá xa lạ, bởi vì bản thân họ kiếm được đồng tiền, tạo ra nguồn thu nhập mới tăng thêm là cả một quá trình vật lộn, bươn chải cả về thể chất lẫn tinh thần. Hơn nữu nếu họ tạo ra được một chút thu nhập dôi dư thì còn quá nhiều nhu cầu bức thiết đòi hỏi họ phải chi phí, chính vì thế sự đóng góp của họ mang tính bắt buộc để có đủ điều kiện vay vốn là rất nhỏ nhoi. Trong suốt thờigian qua, mặc dù có những cơ chế bắt buộc nhưng nguồn vốn này vẫn rất nhỏ bé.

    Ba là,về mặt tổ chức: Do mới thành lập nên chưa có được sự tín nhiệm từ phía khách hàng như các ngân hàng thương mại khác thực hiện nghiệp vụ huy động vốn từ lâu, có uy tín với khách hàng nên người gửi tiền tín nhiệm. Mặt khác các thành viên hội đồng quản trị và ban đại diện hội đồng quản trị  các cấp, tổ chuyên gia tư vấn quan chức trong bộ máy quản lý Nhà nước và làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên rất ít thời gian và điều kiện để thực thi nhiệm vụ. Các cuộc họp của hội đồng quản trị  thường không qúa bán, nghị quyết  hội đồng quản trị  và những vấn đề kiến nghị tham mưu cho Đảng, Nhà nước ở tầm vĩ mô để hoạch định chính sách quản lý, giám sát ban hành qui chế, cơ chế hoạt động cho NHCSXH còn nhiều hạn chế. Bên cạnh sự hoạt động có hiệu quả của ban đại diện  hội đồng quản trị  các cấp,  một số nơi thiếu sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của ban đại diện hội đồng quản trị . Công tác chỉ đạo phối hợp với các ban ngành, đoàn thể chưa thường xuyên, còn nhiều bất cập, việc lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội với nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn nhiều vấn đề khó khăn, bức xúc. Bởi vì việc chỉ đạo phải thực hiện các chương trình, mục tiêu theo định hướng riêng của từng ngành, từng cấp nên điều kiện nâng cao hiệu quả các chương trình đến nay còn nhiều tồn tại, gây lãng phí tài sản, vốn và hiệu quả đầu tư thấp.

    Bốn là,về chính sách huy động vốn: NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng phải tự bù đắp chi phí, thực hiện bảo toàn và phát triển nguồn vôn. Trên thực tế, hoạt động của NHCS trong thời gian qua, xét về bản chất là vốn tín dụng nhưng đây là vốn tín dụng theo ưu đãi nên nguồn vốn tăng trởng phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Do vậy tính chủ động trong hoạt động của NHCSXH còn hạn chế.

    Theo phương thức tạo vốn trong thời gian qua, nguồn vốn chủ yếu huy động  thông qua các ngân hàng thương mại, toàn bộ là vốn ngắn hạn (thời hạn đến 12 tháng). Khối lượng vốn huy động phụ thuộc vào mức cấp bù chênh lẹch lãi suất từ ngân hàng nhà nước hàng năm. Trong cơ cấu nguồn vốn trung hạn chiếm 35% trong khi sử dụng vốn cho vay trung hạn dư nợ chiếm 77,7%. Đây là vấn đề khó khăn nhất trong quản lý và điều hành vốn tín dụng cho vay hộ nghèo, ảnh hưởng đến việc hoàn trả vốn cho các ngân hàng thương mại. Rất khó có thể phát triển qui mô đầu tư nếu không cải thiện được cơ chế tạo lập nguồn vốn theo hướng ổn định nguồn vốn trung và dài hạn.

    * Những tồn tại trong hoạt động cho vay

    Một là,về đối tượng vay vốn: Nguyên tắc đặt ra là NHCSXH cho hộ nghèo vay vốn theo chuẩn mực phân loại hộ đói nghèo do Bộ Lao động thương binh và xã hội công bố từng thời kì, song phải là hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất. Nhưng trong thực tế việc xác định đối tượng hộ nghèo vay vốn còn nhiều bất cập. Theo cơ chế phải là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất nhưng việc lập danh sách hộ nghèo vay vốn ở địa phương do cộng đồng dân cư thực hiện đựoc ban xóa đói giảm nghèo xã bình nghị nên phụ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng dịa phương bởi vậy mang tính tương đối và có sự khác nhau về chuẩn mực đói nghèo giữa các địa phương. Ở nhiều địa phương, việc xét chọn từ ủy ban nhân dân xã chỉ là việc lập danh sách hộ nghèo không có đủ điều kiện và năng lực tổ chức sản xuất, hộ nghèo thuộc diện cứu trợ xã hội hoặc ngững hộ không phải là hộ nghèo.

    Hai là,việc thực hiện các công đoạn nhận ủy thác của các tổ chức chính trị xã hội cấp cơ sở ở một số nơi chưa đầy đủ, nhất là công tác kiểm tra sau khi cho vay, công tác xử lý nợ đến hạn, nợ quá hạn, đôn đốc người vay trả nợ, trả lãi…

    Ba là,hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo là hoạt động có tính rủi ro cao. Ngoài những nguyên nhân như thiên tai bão lụt, dịch bệnh cây trồng vật nuôi…thường xảy ra trên diện rộng, thiệt hại lớn còn có những nguyên nhân khác từ bản thân hộ nghèo như thiếu kiến thức làm ăn, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được…ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư.

    Bốn là, về phương thức cho vay: Phương thức cho vay đối với hộ nghèo khá đơn giản tuy nhiên vẫn còn bị hạn chế về số lượng vốn và phải đủ số thành viên để thành lập tổ nhóm mới được vay. Khi người này cần vốn thì không đủ người để thành lập nhóm, khi đã đủ người thành lập nhóm rồi thì họ lại không cần vốn nữa. Chính vì vậy đã tạo nên sự “khập khiễng” trong khi cho vay, vốn không đáp ứng được kịp thời cho nông dân nghèo đúng thời điểm. Hoặc qui định trả nợ xong lần trước mới cho vay lần sau là quá cứng, bởi vì lượng vốn được vay ban đầu là quá nhỏ chưa đáp ứng đủ nhu cầu, người nghèodang sử dụng vào chăm sóc cây trồng hoặc vật nuôi nên không trả được nợ. Nếu phải trả nợ để vay thêm nhiều hơn theo yêu cầu thì buộc ọ phải đi vay ngoài với lãi suất cao hoặc bán sản phẩm với giá thấp sẽ bị thua thiệt nhiều.

    Năm là,về mức phân loại hộ nghèo:Nếu như theo đúng tiêu chuẩn phân định hộ nghèo thì chính những người nghèo nay lại không mấy khi được vay vốn. Ngay cả tiêu chí mới nhất theo văn bản số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 1/1/2000 của Bộ Lao động thương binh & xã hội qui định cũng là quá thấp. Tiêu chí mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu đảm bảo duy trì cuộc sống hàng ngày, còn rất nhiều nhu cầu khác như đi lại, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần…chưa được tính đến (thực chất đó chỉ là những hộ đói). Trong thực tế những hộ nghèo có thể vay vốn và có đủ điều kiện vay vốn lại rất lớn và thậm chí không nằm trong danh sách hộ nghèo theo phân định.  Hiện nay, NHCSXH chỉ căn cứ vào danh sách mà ban xóa đói giảm nghèo của xã, huyện lập ra còn bị ràng buộc bởi nhiều vấn đề như chỉ tiêu thi đua xã văn hóa, tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, khả năng ngân sách của từng địa phương dành cho công tác xóa đói giảm nghèo…chứ không căn cứ và tiêu thức phân định hộ nghèo đã qui định và xác định một cách khách quan. Đây là vấn đề cần xem xét lại.

    * Những tồn tại trong hoạt động tài chính

    Một là, Mức thu lãi từ hoạt động tín dụng chưa cao do hiệu quả của nguồn vốn vay còn hạn chế. Với trình độ có hạn, nhiều khi những người nông dân vay vốn rồi nhưng chưa biết sử dụng vào mục đích gì để cho có hiệu quả, nếu có thì chỉ là chăn nuôi nhỏ, nhưng điều kiện thực tế của gí đình lại rất tốt nếu như biết qui hoạch lại. Bên cạnh đó ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm chỉ đạo công tác cho vay xóa đói giảm nghèo  nên khi triển khai thành lập tổ nhóm vay vốn còn gặp nhiều khó khăn, việc phối hợp chỉ đạo còn nhiều hạn chế. Từ đó làm cho hiệu quả cho vay giảm xuống. Công tác tuyên truyền vận động, tổ chức tập huấn đào tạo cho đội ngũ tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn chưa làm tốt dẫn đến tình trạng hiểu nhằm vốn cho vay của NHCSXH như một khoản trợ cấp xã hội, nên nhiều hộ sử dụng sai mục đích, chi tiêu cho các nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thiếu ý thức trả nợ gốc và lãi.

              Hai là, chưa có nguồn thu để bù đắp những rủi ro tín dụng. Cho vay người nghèo với đặc điểm về đối tượng là những hộ nghèo thiếu kiến thức, ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện địa lý tự nhiên khó khăn nên tính rủi ro trong cho vay cao. Nợ quá hạn đang có xu hướng ngày càng gia tăng, đây là một vấn đề cần phải nghiên cứu và quan tâm trong quản trị điều hành. Vấn đề cần nói đến là khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải có vốn để bù đắp. Nhưng do thực hiện việc cho vay ưu đãi, chênh lệch thu chi nhỏ. Chính vì vậy, khi đã có rủi ro xảy ra sẽ làm giảm nguồn vốn của ngân hàng xuống (nếu không được ngân sách bù đắp).

    3.2. Định hướng chuyên đề thực tập

              Từ những hoạt động của  NHCSXH với những tồn tại nêu trên, vấn đề làm sao có thể nâng cao hiệu quả  tín dụng cho vay hộ nghèo ngày càng đạt hiệu quả cao đáp ứng với phương châm Chính phủ đặt ra dã trở thành vấn đề cấp bách tại NHCSXH huyện Phù Mỹ.Trong quátr×nh cho vay hé nghÌo thêi gian qua cho thÊy næi lªn vÊn ®Ò lµ hiÖu qu¶ vèn tÝn dông cßn thÊp lµm ¶nh h­ëng ®Õn chÊt l­îng tÝn dông phôc vô ng­êi nghÌo. V× vËy, lµm thÕ nµo ®Ó ng­êi nghÌo nhËn ®­îc vµ sö dông cã hiÖu qu¶ vèn vay ; chÊt l­îng tÝn dông ®­îc n©ng cao nh»m b¶o ®¶m cho sù ph¸t triÓn bÒn v÷ng cña nguån vèn tÝn dông, ®ång thêi ng­êi nghÌo tho¸t khái c¶nh nghÌo ®ãi lµ mét vÊn ®Ò ®­îc c¶ x· héi quan t©m. Chuyªn ®Ò víi ®Ò tµi "Gi¶i ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ tÝn dông ®èi víi ng­êi nghÌo t¹i ng©n hµng chÝnh s¸ch x· héi". Nh»m nghiªn cøu ®Ò xuÊt mét sè gi¶i ph¸p gi¶i quyÕt vÊn ®Ò trong ho¹t ®éng cho vay ng­êi nghÌo.

    Chuyên đề gồm 3 chương:

    Chương 1:Vai trß cña tÝn dông ®èi víi ng­êi nghÌo vµ sù cÇn thiÕt ph¶i n©ng cao hiÖu qu¶ tÝn dông trong ho¹t ®éng cho vay cña Ng©n hµng ChÝnh s¸ch x· héi.

    Chương 2:Thực trạng hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Phù Mỹ (2006-2010).

    Chương 3:Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Phù Mỹ.

                                                     KẾT LUẬN

              Xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, chương trình xóa đói giảm nghèo đóng vai trò quan trọng và là một đòi hỏi bức xúc trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.

              Xác định được tính chất công việc và nhiệm vụ của mình, thời gian qua NHCSXH Huyện Phù Mỹ luôn cố gắng phát huy mọi nguồn lực để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, đặc biệt là trong công tác cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Thành công của NHCSXH Huyện có được còn nhờ vào sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ của các tổ chức chính trị xã hội, sự đồng tình ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của ban lãnh đạo, ban đại diện NHCSXH Huyện.

              Vai trò và tầm quan trọng của hoạt động cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách đối với mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo đã được xác định. Vì vậy trong thời gian tới, hoạt động của NHCSXH Huyện chắc chắn sẽ được mở rộng và cần nâng cao chất lượng hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng cao của nhiều hộ nghèo và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

              Tóm lại từ thực tiễn cho thấy, chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách có hiệu quả thiết thực, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Báo cáo tổng kết hoạt động từ năm 2006-2010 của NHCSXH Huyện Phù Mỹ

    2. Giáo trình cẩm nang Tín dụng

              3. Tạp chí Ngân hàng các số năm 2007, 2008, 2009 và 2010

    4. Giáo trình Quản trị tài chính của TS. Hà Thanh Việt biên soạn.

              5. Tài liệu trên các trang web:

     www.vbsp.org.vn của NHCSXH Việt Nam

     www.scb.com.vn

     www.habubank.com.vn

     www.bidv.com.vn

     www.seabank.com.vn

     www.techcombank.com.vn

     www.vietcombank.com.vn

    PHỤ LỤC

    Phụ lục 1: Mạng lưới hoạt động của NHCSXH Việt Nam

    Phụ lục 2: Một số hình ảnh về các thành viên của Hội đồng quản trị và ban Giám đốc của NHCSXH Việt Nam

    Phụ lục 1: MẠNG LƯỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH VIỆT NAM

     

    STT

    Chi nhánh

    Địa chỉ

    Điện thoại

    Fax

     

    1. MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU PHÍA BẮC

    1

    Bắc Giang

    Số 05 Nguyễn Thị Lưu - TP. Bắc Giang

    0240.3823.598

    0240.3823.598

     

    2

    Bắc Kạn

    Phường Đức Xuân - TX. Bắc Kạn

    0281.3873.493

    0281.3873.693

     

    3

    Bắc Ninh

    Số 16 Nguyễn Du - TP. Bắc Ninh

    0241.3822.526

    0241.3824.105

     

    4

    Cao Bằng

    Đường Gia Cung - TX. Cao Bằng

    026.3851.651

    026.3854.610

     

    5

    Điện Biên

    Phường Mường Thanh - TP. Điện Biên Phủ

    0230.3831.566

    0230.3825.762

     

    6

    Hà Giang

    Phường Nguyễn Trãi - TX. Hà Giang

    0219.3860.450

    0219.3687.237

     

    7

    Hòa Bình

    Số 01 Cù Chính Lan - TP. Hòa Bình

    0218.3896.903

    0218.3851.642

     

    8

    Lai Châu

    Phường Quyết Thắng - TX. Lai Châu

    0231.3877.226

    0231.3976.995

     

    9

    Lạng Sơn

    Đường Ba Sơn - TP. Lạng Sơn

    025.3812.163

    025.3812.164

     

    10

    Lào Cai

    Số 09 Nguyễn Công Trứ - TP. Lào Cai

    020.3822.762

    020.3821.746

     

    11

    Phú Thọ

    Số 1688 Đại lộ Hùng Vương - TP. Việt Trì

    0210.3813.344

    0210.3856.565

     

    12

    Quảng Ninh

    Số 172 Lê Thánh Tông - TP. Hạ Long

    033.3518.996

    033.3824.817

     

    13

    Sơn La

    Số 11 Đường Tô Hiệu - TP. Sơn La

    022.3850.520

    022.3858.934

     

    14

    Thái Nguyên

    Số 1 Đội Cấn - TP. Thái Nguyên

    0280.3655.240

    0280.3757.245

     

    15

    Tuyên Quang

    Phố Vũ Mùi - TX. Tuyên Quang

    027.027.3817.66

    027.3810.703

     

    16

    Vĩnh Phúc

    Phường Đống Đa - TP. Vĩnh Yên

    0211.3843.872

    0211.3843.875

     

    17

    Yên Bái

    Số 15 Đường Điện Biên Phủ - TP. Yên Bái

    029.3852.111

    029.3852.111

     

    2. ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    18

    Hà Nam

    Số 104 Nguyễn Viết Xuân - TP. Phủ Lý

    0351.3840.282

    0351.3850.306

     

    19

    TP. Hà Nội

    Số 10 Quang Trung - Quận Hà Đông

    04.33522.050

    04.33820.842

     

    20

    Hải Dương

    Số 81 Bạch Đằng - TP. Hải Dương

    0320.3240.095

    0320.3845.344

     

    21

    TP. Hải Phòng

    Số 96 Lê Lợi - Quận Ngô Quyền

    031.3628.189

    031.3764.717

     

    22

    Hưng Yên

    Số 45 Trưng Trắc - TP. Hưng Yên

    0321.3866.546

    0321.3866.548

     

    23

    NamĐịnh

    Số 56 Hà Huy Tập - TP. Nam Định

    0350.3845.172

    0350.3868.812

     

    24

    Ninh Bình

    Số 10 Đường Đông Thành - TP. Ninh Bình

    030.3883.294

    030.3873.689

     

    25

    Thái Bình

    Số 140 Lê Lợi - TP. Thái Bình

    036.3837.616

    036.3846.940

     

    26

    Sở Giao dịch

    Tòa nhà CC5 Bán đảo Linh Đàm - Quận Hoàng Mai - TP. Hà Nội

    04.36417.240

    04.36417.246

     

    3. KHU BỐN CŨ

    27

    Hà Tĩnh

    Đường 70m - TP. Hà Tĩnh

    039.3853.936

    039.3856.139

     

    28

    Nghệ An

    Số 125 Lê Hồng Phong - TP. Vinh

    038.3597.432

    038.3830.772

     

    29

    Quảng Bình

    Số 58 Quang Trung - TP. Đồng Hới

    052.3829.564

    052.3829.564

     

    30

    Quảng Trị

    Số 183 Hùng Vương - TP. Đông Hà

    053.3550.816

    053.3550.816

     

    31

    Thanh Hóa

    Số 123 Dương Đình Nghệ - TP. Thanh Hóa

    037.3710.791

    037.3752.940

     

    32

    Thừa Thiên - Huế

    Số 49 Nguyễn Huệ - TP. Huế

    054.3829.629

    054.3827.940

     

    4. DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG

    33

    Bình Định

    Số 469 Trần Hưng Đạo - TP. Quy Nhơn

    056.3821.617

    056.3827.770

     

    34

    Bình Thuận

    Số 320 Trần Hưng Đạo - TP. Phan Thiết

    062.3721.658

    062.3721.658

     

    35

    TP. Đà Nẵng

    Số 600 Trần Cao Vân - TP. Đà Nẵng

    0511.3786.555

    0511.3786.557

     

    36

    Khánh Hòa

    Số 195 Hoàng Văn Thụ - TP. Nha Trang

    058.3818.798

    058.3826.140

     

    37

    Ninh Thuận

    Số 264 Thống Nhất - TP. Phan Rang Tháp Chàm

    068.3836.272

    068.3825.255

     

    38

    Phú Yên

    Số 34 Lê Lợi - TP. Tuy Hòa

    057.3824.347

    057.3824.347

     

    39

    Quảng Nam

    Số 17 Hùng Vương - TP. Tam Kỳ

    0510.3812.382

    0510.3812.382

     

    40

    Quảng Ngãi

    Số 504 Quang Trung - TP. Quảng Ngãi

    055.3819.911

    055.3818.502

     

    5. TÂY NGUYÊN

    41

    Đắk Lắc

    Số 81 và 83 Quang Trung - TP. Buôn Ma Thuột

    0500.3843.004

    0500.3850.098

     

    42

    Đắk Nông

    Đường Hùng Vương - TX. Gia Nghĩa

    0501.3545.364

    0501.3544.673

     

    43

    Gia Lai

    Số 6 Hoàng Hoa Thám - TP. Pleiku

    059.3821.590

    059.3827.604

     

    44

    Kon Tum

    Số 198B Bà Triệu - TX. Kon Tum

    060.3913.497

    060.3869.286

     

    45

    Lâm Đồng

    Số 41 Hùng Vương - TP. Đà Lạt

    063.3811.423

    063.3811.434

     

    6. ĐÔNG NAM BỘ

    46

    Bà Rịa - Vũng Tàu

    Số 05 Trường Chinh - TP. Bà Rịa

    064.3716.340

    064.3825.183

     

    47

    Bình Dương

    Số 99 Đoàn Trần Nghiệp - TX. Thủ Dầu Một

    0650.3826.798

    0650.3859.573

     

    48

    Bình Phước

    Đường Hùng Vương - TX. Đồng Xoài

    0651.3886.063

    0651.3881.099

     

    49

    Đồng Nai

    Khu phố 3 - Quốc Lộ I - TP. Biên Hoà

    061.3823.079

    061.3823.070

     

    50

    TP. Hồ Chí Minh

    Số 271 Nguyễn Tri Phương - Phường 5 - Quận 10

    08.39572.193

    08.39572.194

     

    51

    Tây Ninh

    Số 298 Đường CMT8 - TX. Tây Ninh

    066.3812.569

    066.3814.949

     

    7. ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    52

    An Giang

    Số 09 Đường Nguyễn Trãi - TP. Long Xuyên

    076.3943.277

    076.3943.277

     

    53

    Bạc Liêu

    Số 48 Lý Thường Kiệt - TX. Bạc Liêu

    0781.3953.265

    0781.3953.262

     

    54

    Bến Tre

    Số 176 A4 Đoàn Hoàng Minh - TP. Bến Tre

    075.3816.259

    075.3826.203

     

    55

    Cà Mau

    Số 34 Lý Bôn - TP. Cà Mau

    0780.3836.049

    0780.3822.561

     

    56

    TP. Cần Thơ

    Số 156 Trần Hưng Đạo - Quận Ninh Kiều

    0710.3828.951

    0710.3828.950

     

    57

    Đồng Tháp

    Số 13 Nguyễn Huệ - TP. Cao Lãnh

    067.3859.909

    067.3852.985

     

    58

    Hậu Giang

    Đường Tây Sông Hậu - TX. Vị Thanh

    0711.3870.582

    0711.3870.261

     

    59

    Kiên Giang

    Số 12 Hàm Nghi - TP. Rạch Giá

    077.3879.345

    077.3879.678

     

    60

    Long An

    Số 16 Đường 5A - TP. Tân An

    072.3838.607

    072.3822.015

     

    61

    Sóc Trăng

    Số 114 Đồng Khởi - TP. Sóc Trăng

    079.3612.263

    079.3612.263

     

    62

    Tiền Giang

    Số 91 Trưng Trắc - TP. Mỹ Tho

    073.3887.763

    073.3882.690

     

    63

    Trà Vinh

    Số 21 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - TP. Trà Vinh

    074.3862.566

    074.3862.496

     

    64

    Vĩnh Long

    Số 1B Hoàng Thái Hiếu - TP. Vĩnh Long

    070.3833.934

    070.3833.085

     

    Phụ lục 2: HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NHCSXH VIỆT NAM

    Ông Nguyễn Văn Giàu

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

    Chủ tịch Hội đồng quản trị

    Ông Trần Xuân Hà

    Thứ trưởng Bộ Tài chính
    Ủy viên

    Ông Nguyễn Đồng Tiến

    Phó Thống đốc NHNN Việt Nam
    Ủy viên

    Ông Nguyễn Bích Đạt

    Thứ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư
    Ủy viên

    Ông Nguyễn Trọng Đàm

    Thứ trưởng Bộ LĐTB & XH
    Ủy viên

    Ông Bùi Bá Bổng

    Thứ trưởng Bộ NN & PTNT
    Ủy viên

    Ông Hà Hùng

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc
    Ủy viên

    Bà Bùi Thị Minh Hoài

    Phó Chủ tịch Thường trực Hội ND Việt Nam
    Ủy viên

    Bà H'Ngăm Niê KĐăm

    Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam
    Ủy viên

    Bà Hà Thị Hạnh

    Tổng giám đốc NHCSXH
    Ủy viên

    Ông Võ Đức Tiến

    Trưởng ban Kiểm soát NHCSXH
    Uỷ viên

    BAN TỔNG GIÁM ĐỐC NHCSXH VIỆT NAM

    Bà Hà Thị Hạnh

    Tổng giám đốc

    Ông Dương Quyết Thắng

    Phó Tổng giám đốc

    Ông Nguyễn Văn Lý

    Phó Tổng giám đốc

    Ông Võ Minh Hiệp

    Phó Tổng giám đốc

    Báo cáo thực tập tổng hợp : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHCSXH