trang Blog

gia_BaamfTham gia: 08/06/2008
  • Quan niệm về nhân cách của tâm lý học Macxit
    Cảm Xúc
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Quan niệm về nhân cách của tâm lý học Macxit

    Đứng trên lập trường, quan điểm của triết học duy vật biện chứng, nền tâm lý học Xôviết đã cống hiến cho nhân loại những thành tựu to lớn, phong phú, đa dạng không ai có thể phủ nhận được. Những nguyên tắc nghiên cứu tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng của họ là:
    - Nguyên tắc phản ánh: Tâm lý con người là phản ánh hiện thực khách quan thông qua não. Nó là hình ảnh phản chiếu hiện thực khách quan thông qua chủ thể mỗi người. Hình ảnh hiện thực khách quan đó thông qua mỗi người được thể hiện khác nhau do chủ quan của người ấy.
    - Nguyên tắc quyết định luận. Đó là tồn tại quyết định ý thức. Tồn tại có trước, ý thức có sau. Vật chất quyết định ý thức. Vì vậy muốn nghiên cứu tâm lý con người phải nghiên cứu tồn tại con người, tức là hoàn cảnh con người sống và hoạt động.
    - Nguyên tắc phát triển. Hiện thực khách quan luôn luôn biến đổi, tâm lý con người cũng luôn luôn biến đổi và phát triển. Vì vậy, nghiên cứu hiện tượng tâm lý nào cũng phải nhìn thấy sự phát triển không ngừng của nó. Trong tâm lý học nhân cách nguyên tắc phát triển lại càng quan trọng. Nhờ nguyên tắc này mà chúng ta đánh giá nhân cách con người không thể ở thể tĩnh mà luôn luôn động, nghĩa là trong sự phát triển và biến đổi của nó.
    - Nguyên tắc thống nhất ý thức với hoạt động, hoạt động và nhân cách, chủ quan và khách quan, giữa xã hội và cá nhân, giữa các sinh vật và các xã hội. Hoạt động là phương thức tồn tại ý thức, nhân cách, cá nhân và xã hội. Nhờ có hoạt động mà ý thức, nhân cách cá nhân, xã hội mới tồn tại và phát triển. Vì vậy giữa chúng có sự thống nhất với nhau trên một phương diện nào đó.
    - Nguyên tắc tiếp cận góc độ nhân cách đối với các hiện tượng tâm lý. Nguyên tắc này yêu cầu khi nghiên cứu một hiện tượng tâm lý nào phải gắn liền với nhân cách của người ấy với tư cách là một cá nhân cụ thể.
    - Nguyên tắc tiếp cận cấu trúc hệ thống trong tâm lý học nhân cách. Nguyên tắc này đòi hỏi nghiên cứu nhân cách phải đặt nó trong một hệ thống cấu trúc nhất định. Có như vậy chúng ta mới giải quyết được những vấn đề bản chất nhân cách.
    2.3.1. Quan điểm của B.G.Ananhiep về nhân cách
    B.G.Ananhiep đã xuất phát từ những khái niệm cá thể, chủ thể, khách thể, hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách. Ông cho rằng nhân cách là cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng bước tiến lịch sử. Nhân cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử. Sự phong phú của mối quan hệ xã hội của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách. Cấu trúc nhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạt động trong mối quan hệ xã hội.
    Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc: Nguyên tắc thứ bậc và nguyên tắc phối hợp. Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc điểm xã hội chung nhất quy định những đặc điểm tâm sinh lý. Nguyên tắc phối hợp là sự tác động qua lại giữa các thành phần độc lập tương đối và thành phần phụ thuộc.
    Theo B.G.Ananhiep, để nghiên cứu con người với tư cách là nhân cách phải nghiên cứu xu hướng, tính cách, hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúc nhân cách, vị thế nhân cách, con đường sống của nhân cách trong xã hội. Điều này đòi hỏi các nhà khoa học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, đạo đức học phải quan tâm nghiên cứu.
    Ananhiep coi con người là tiểu vũ trụ. Điều này rất tương đồng với quan niệm phương Đông về con người. Con người là tinh hoa của vũ trụ, trong con người có đại diện của quy luật vũ trụ. Quan điểm Ananhiep coi việc nghiên cứu nhân cách là tổng hợp các khoa học nghiên cứu về con người là một đóng góp quan trọng trong việc chỉ hướng nghiên cứu nhân cách. Nghiên cứu nhân cách không tách rời việc nghiên cứu con người và các khoa học khác nghiên cứu về con người.
    2.3.2. Quan điểm của A.N.Lêônchiep về nhân cách
    A.N.Lêônchiep (1903 - 1979) là nhà tâm lý học Nga kiệt xuất. Về mặt nhân cách, ông cũng có những quan điểm mới mẻ.
    Leonchiep coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó. Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống. Nhân cách là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn. Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hoá cá thể của con người. Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêng không trùng khớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cá thể. Những quá trình thần kinh của cá nhân sẽ không biến thành những thuộc tính nhân cách, mặc dù quá trình thần kinh sẽ không thiếu được trong quá trình hình thành nhân cách.
    Muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích hoạt động là cơ sở của nhân cách. Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự phát triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhân cách đó với những người khác.
    Quan điểm của A.N.Lêônchiep về động cơ, xúc cảm và nhân cách: Trước hết ông đưa ra cách hiểu sự hình thành nhu cầu của con người theo sơ đồ Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động, luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người cũng được sản xuất ra. Nhu cầu được phân tích về mặt tâm lý sẽ dẫn tới phân tích động cơ. Ông chia ra hai loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích. Động cơ tạo ý gắn liền với nhân cách. Động cơ tạo ý ở cấp cao hơn so với động cơ kích thích, song có khi nó không tham gia vào kích thích, thúc đẩy hoạt động mà khuất đằng sau kích thích.
    Tiền đề của sự hình thành nhân cách là sự phát triển của quá trình hình thành mục đích và phát triển những hành động của chủ thể tương ứng gắn với mục đích. Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tự thay thế nhau, làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này. Nền tảng của nhân cách là sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân với thế giới. Trong mối quan hệ này con người phải hoạt động bao gồm hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn. Điều cuối cùng mà A.N.Lêônchiep bàn đến là vấn đề con người tự ý thức mình là một nhân cách. Đó là quá trình phát triển ý thức bản ngã. Ý thức cá nhân không chỉ là kiến thức, hệ thống ý nghĩ, hoặc các khái niệm thu nhận được mà còn là sự vận động bên trong phân biệt sự hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình.
    Tóm lại, quan điểm chủ yếu về nhân cách của Lêônchiep lấy hoạt động là cơ sở. Vì vậy, phải lấy hoạt động để phân tích, biện giải hiện tượng nhân cách. Khi phân tích nhân cách phải kể đến động cơ, nhu cầu, mục đích và hành động của cá nhân trong hoạt động. Có như vậy mới có thể tách bạch được những cấp độ khác nhau: Cấp độ sinh vật, cấp độ tâm lý với tư cách là chủ thể và cấp độ xã hội, ở đó con người thực hiện những quan hệ xã hội trong nghiên cứu của mình.
    2.3.3. Quan niệm của K.K.Pơlatơnôp về nhân cách
    Pơlatơnôp đưa ra đinh nghĩa nhân cách như sau: “nhân cách là một con người cụ thể như là một chủ thể cải tạo thế giới trên cơ sở nhận thức, thể nghiệm thế giới, trên cơ sở quan hệ với thế giới đó”, ta có thể diễn đạt tư tưởng đó ngắn gọn hơn: “nhân cách là con người mang ý thức”.
    Ý thức không phải là một thực thể thụ động mà là một hình thức phản ánh bậc cao chỉ có ở người. Đứa trẻ mới ra đời chưa có ý thức. Nhân cách sẽ hình thành trong giao tiếp với người khác. Có nhân cách tiến bộ và nhân cách phản động, nhân cách lành mạnh và nhân cách ốm yếu. Ông cho rằng không thể xác định được lúc nào thì con người hình thành nhân cách.
    Theo Pơlatơnôp, cấu trúc tâm lý chức năng cơ động của nhân cách gồm bốn cấu trúc nhỏ được xác định bằng bốn phạm trù sau đây.
    1. Tính cần và đủ để đưa toàn bộ các yếu tố, các nét của nhân cách vào bốn cấu trúc ấy.
    2. Sự thừa nhận nhân cách phân loại các thuộc tính cá nhân và các khái niệm tâm lý về phương diện thực tế.
    3. Tỉ lệ nghịch của độ chênh lệch tính chế ước xã hội và tính chế ước sinh vật của các thuộc tính cá nhân riêng biệt và những cấu trúc nhỏ thống nhất những thuộc tính ấy.
    4. Tính chất chuyên biệt của các loại quan hệ trong sự hình thành mỗi cấu trúc nhỏ.
    Liên quan đến bốn phạm trù trên có bốn cấu trúc nhỏ: Cấu trúc nhỏ thứ nhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…), cấu trúc nhỏ thứ hai là kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen), cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trình tâm lý, cấu trúc nhỏ thứ tư là các thuộc tính sinh học quy đinh nhân cách (khí chất giới tính, lứa tuổi, bệnh lý…).
    Ngoài cấu trúc kể trên, theo Pơlatơnôp, nhân cách con người còn ở thuộc tính khác là tính cách và năng lực. Tính cách cũng như năng lực là tổng hoà các thuộc tính có trong sự tương ứng với hoạt động. Tính cách và năng lực cá nhân tương hỗ với nhau. Trong một mức độ nào đó, năng lực biểu hiện ra và trở thành tính cách.
    Tóm lại quan điểm của K.K. Pơlatơnôp là một đóng góp mới cho việc giải quyết vấn đề nhân cách. Hệ thống chức năng cơ động, bốn tiểu cấu trúc của nhân cách, tính cách và năng lực là các thuộc tính của nhân cách đã làm sáng tỏ thêm vấn đề nhân cách. Tuy nhiên trong khi khẳng định nhân cách là con người có ý thức, ông đã không thấy được sự tham gia của vô thức trong hành vi con người. Lại nữa, xã hội đóng vai trò quyết định như thế nào đối với nhân cách, chúng ta cũng chưa thấy rõ.
    2.3.4. Luận điểm của trường phái Uzơnatze về nhân cách
    Để hiểu con người với tư cách là nhân cách, D. Uzơnatze đã phân chia tính tích cực tâm lý của con người ra ba cấp độ. Con người với tư cách là cá nhân đó là cấp độ đầu tiên, thấp nhất. Cấp độ thứ hai, con người với tư cách là chủ thể. Cấp độ thứ ba phức tạp và cao nhất con người với tư cách là nhân cách.
    Theo quan niệm này, cá nhân, chủ thể, nhân cách là sự thể hiện ở ba mức độ khác nhau của tâm thế con người. Ở mức độ thứ nhất, tâm thế quan hệ nhiều đến nhu cầu sinh vật; ở mức độ thứ hai, tâm thế có quan hệ đến quá trình tư duy để nhận thức hoàn cảnh; ở mức độ thứ ba, tâm thế quan hệ đến ý chí và định hướng giá trị.
    Quan điểm trên đã đóng góp nhiều kiến thức quý cho vấn đề nhân cách. Song những vấn đề về tâm lý và nhân cách nếu chỉ dựa vào tâm thế để phân tích là chưa đủ. Tâm lý và nhân cách con người vô cùng phong phú và phức tạp, liên quan đến nhiều khoa học khác nhau.
    2.3.5. Cách tiếp cận của X.L.Rubinstein
    Trong các công trình nghiên cứu của mình, Rubinstein đi từ các phạm trù tinh thần, ý thức, chủ thể… đến phạm trù nhân cách, coi nhân cách là các trải nghiệm và đi vào vấn đề hình thành và phát triển nhân cách trong hoạt động. Rubinstein đã nhấn mạnh tính chất sđặc thù của riêng từng nhân cách, nói lên xu hướng riêng của người ấy, bao gồm ý hướng, ý muốn của từng người, năng lực của từng người, bản tính của nó. Nội dung này gắn liền với cái gọi là ý thức của chủ thể và các thái độ: thái độ đối với thế giới xung quanh, thái độ đối với người khác và thái độ đối với bản thân. Rubinstêin coi nhân cách là bộ máy điều chỉnh toàn bộ hệ thống thân thể con người nói chung, gắn liền với khái niệm đường đời.
    Rubinstein đi từ một nhận xét triết học cho rằng toàn bộ tâm lý học người được coi là tâm lý học nhân cách, coi tất cả các hiện tượng tâm lý được mô tả trong tâm lý học đại cương đều diễn ra trong nhân cách và đều phụ thuộc vào sự phát triển của nhân cách. Nhân cách ở đây được hiểu là các đặc điểm cá thể riêng từng người. Nhân cách cũng được hiểu là khả năng con người điều khiển các quá trình hay thuộc tính tâm lý của bản thân, hướng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho bản thân. Từ đó muốn hiểu nhân cách là gì phải xem con người mang nhân cách ấy có xu hướng gì, có khả năng đáp ứng mong muốn đó không, vấn đề nghĩa và ý của cuộc đời, của từng công việc. Từ đây, Rubinstein đến rất gần với cách tiếp cận của Uzơnatze về nhân cách, tức là ông thấy trong nhân cách có các thành phần gọi là hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách.
    Như vậy, Rubinstein đã chỉ ra cho chúng ta thấy quá trình hình thành ý thức và thái độ như là hai thành tố tạo nên nhân cách. Ông đã chỉ ra rằng nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách, nghiên cứu “cái tôi” như là chủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có trách nhiệm của bản thân đối với tất cả các sản phẩm vật chất mà mình tạo ra. Rubinstein cũng đã nói đến nhân cách như là bộ mặt của từng người, nói lên lập trường thế giới quan của người ấy.

    Tamlyhoc./.

     
    Quan niệm về nhân cách của tâm lý học Macxit