trang Blog

mctoiyeuTham gia: 08/04/2010
  • Chủ điểm Tháng 12 UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN  Tiết 1 Tháng 12  HỘI VUI HỌC TẬP
    Nhịp Sống Trẻ
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    Chủ điểm Tháng 12 UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN Tiết 1 Tháng 12 HỘI VUI HỌC TẬP

    Khối 6

    Chủ điểm Tháng 12:

      UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

    Tiết 1

    HỘI VUI HỌC TẬP

      

    Chủ điểm tháng 12. UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

    A- HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

    I. Mục tiêu chủ điểm

    Sau khi thực hiện chủ điểm, học sinh đạt được:

    - Hiểu ý nghĩa ngày thành lập quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và ngày hội quốc phòng toàn dân (22.12) cũng như vẻ đẹp truyền thống của “Anh bộ đội cụ Hồ” qua các giai đoạn lịch sử. Hiểu biết những truyền thống cách mạng, sự kiện vẻ vang của quê hương.

    - Biết ơn các thế hệ cha anh đã anh dũng chiến đấu, hi sinh vì quê hương, đất nước.

    - Biết giữ gìn và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp của quê hương. Học tập và rèn luyện theo gương tốt của các thế hệ cha anh.

    II. Nội dung hoạt động:

    Nghe nói chuyện về ngày truyền thống quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    III. Gợi ý tổ chức hoạt động:

    HOẠT ĐỘNG . TÌM HIỂU NGÀY TRUYỀN THỐNG QĐND VIỆT NAM

    I. Qui mô:

    Hoạt động được tổ chức với thời lượng 1 tiết học. Qui mô tổ chức theo lớp

    II. Nội dung:

    - Lịch sử ra đời và ý nghĩa ngày truyền thống quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam 22-12.

    III. Hình thức tổ chức: Thi thuyết trình

    IV. Chuẩn bị:

    1. Giáo viên:

    - Cùng với học sinh xây dựng kịch bản cho cuộc thi.

    - Chuẩn bị các phần thưởng (nếu có).

    - Tư vấn cho học sinh cách xây dựng biểu điểm chấm.

    2. Học sinh

    - Lựa chọn mỗi tổ một cá nhân tham gia thi thuyết trình về ngày truyền thống QĐND Việt Nam.

    - Kê dọn, trang trí lớp học.

    - Ban cán sự lớp cùng với GVCN xây dựng kịch bản cho cuộc thi.

    - Các tiết mục văn nghệ.

    V. Tiến trình tổ chức

    1. Ổn định tổ chức - văn nghệ chào mừng

              Học sinh trình bày 1 tiết mục văn nghệ

    2. Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu:

              MC tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu đến dự.

              MC giới thiệu ban giám khảo và thư ký.

    3. Thi thuyết trình về ý nghĩa và truyền thống của QĐND Việt Nam

              MC điều hành các thí sinh tham gia cuộc thi lên trình bày bài thuyết trình.

              Lưu ý: Các hình thức thuyết trình có thể chia nội dung từ trước để không bị trùng lặp. Mỗi phần thi không quá 5 phút. Có thể minh họa bằng tranh ảnh, diễn kịch, ...

    4. Trao giải và kết thúc chương trình

              - GVCN nhận xét chung về cuộc thi.

              - GVCN trao giải và kết thúc chương trình.

    TƯ LIỆU THAM KHẢO

    VÀI NÉT VỀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

              Quân đội Nhân dân Việt Nam, tiền thân là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, là lực lượng quân đội chính quy của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái.

         Tên gọi "Quân đội Nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Trong báo chí Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là QĐND. Chữ "Nhân dân" cũng có mặt trong nhiều tên gọi các tổ chức của Việt Nam như Công an Nhân dân, Tòa án nhân dân (Việt Nam), Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (Việt Nam)... Một tên khác được nhân dân yêu mến đặt cho là "bộ đội cụ Hồ".

       Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sỹ (3 nữ) do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.

     Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại Chợ Chu (Thái Nguyên).

              Ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.

              Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính qui Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ Trung Bộ. Một số chi đội "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công ở Nam Bộ.

              Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, ...Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự. Trong thời kỳ 1945-1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền...., Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ..

              Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy nặng, súng cối.

        Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.

              Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh, cũng đã thành thạo việc đánh công kiên. Biên chế các trung đoàn này đến nay vẫn còn như vậy rất đặc trưng Việt Nam. Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950-1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong sư 351 như trung đoàn 237 (Cối lớn, trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư 351 còn dược gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh).

        Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân trong lịch sử thế giới của thế kỷ 20. Sau năm 1954, đại bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Việt Minh có khoảng 14 vạn quân chủ lực.

              Ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Thực chất, đây là lực lượng Vệ quốc đoàn còn ở lại Nam Việt Nam, kết hợp bộ phận tăng viện của Quân đội Nhân dân từ miền Bắc và lực lượng chiêu mộ tại chỗ, thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhờ sự viện trợ của các nước Cộng sản, năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam là đạo quân đông thứ 5 trên Thế giới.

              Sau 30 năm chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề. Nhiệm vụ của Quân đội được Trung ương Đảng nêu rõ: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, … bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất”. Đồng thời “tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”.

              Trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, Quân đội ta đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị trên mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng: bước đầu giữ quân số thích hợp; thi hành Luật nghĩa vụ quân sự kết hợp với nghĩa vụ lao động; triển khai quân đội làm hai nhiệm vụ chiến lược sẵn sàng chiến đấu và xây dựng kinh tế; tăng cường bố trí phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu; nâng cao chất lượng cán bộ, chiến sĩ; xây dựng nề nếp chỉ huy chặt chẽ để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu; từng bước tự lực sản xuất được một số loại vũ khí cần thiết. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững chính trị đất nước; ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

    B- HOẠT ĐỘNG ĐOÀN-ĐỘI

    I- Tên hoạt động: Nghe nói chuyện về ngày truyền thống nhân dân Việt nam

    II-Mục tiêu:

    - Hiểu được ý nghĩa thành lập QĐND Việt Nam cũng như vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ qua các giai đoạn lịch sử.

    -        Giáo dục HS lòng biết ơn các thế hệ cha anh đã anh dũng chiến đấu, hi sinh vì quê hương đất nước.

    -        Biết giữ gìn và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp của quê hương học tập và rèn luyện theo gương thế hệ các anh.

    III-Nội dung hoạt động

    -        Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu.

    -        Giới thiệu báo cáo viên nói chuyện (có thể dùng những hình ảnh tư  liệu trình chiếu để thu hút HS )

    -        HS có thể tham gia câu hỏi trong chương trình, trao đổi về kiến thức lịch sử....

    -        Văn nghệ xen kẽ hoặc các tiểu phẩm về chiến dịch lịch sử

    IV-Phương thức hoạt động

    -        Hoạt động giáo dục truyền thống: Tổ chức buổi nghe nói chuyện cấp Liên đội

    -        Văn nghệ xen kẽ

    C- TRÒ CHƠI

    THEO LỆNH TÔI

    I. Mục đích:

        Rèn luyện trí nhớ, ý thức và tác phong kỉ luật và chấp hành theo người chỉ huy.

    II. Chuẩn bị:

              Tập hợp lớp thành 2 – 4 hàng ngang. Khoảng cách giữa các em trong hàng là một sải tay GV đứng cách hàng đầu khoảng 3m. Nếu tổ chức chơi theo vòng tròn thì GV đứng ở tâm vòng tròn,

    III- Cách chơi:

              - Khi GV nói “Theo lênh tôi…hai tay đưa ra trước !” tất cả HS thực hiện theo GV ai không đưa hai tay ra trước là không đúng. Khi GV hô tiếp  “Đưa hai tay đưa dang ngang ” nhưng trước câu đó không có “Theo lênh tôi”, ai đưa dang ngang là không đúng, trò chơ cứ tiếp tục như vậy. Những HS thực hiện không đúng phải chạy hoặc lò cò một vòng quanh các bạn của lớp mình rồi về đứng ở vị trí cũ

    GÁC BAN ĐÊM

    I- Mục đích:

              Rèn luyện sự tập trung chú ý, phản ứng nhanh, và khả năng phán đoán tác phong kỉ luật và chấp hành theo người chỉ huy.

    II. Chuẩn bị:

              - Hai khăn bịt mắt và 1 – 2 còi có dây đeo dài

              - Tập hợp lớp thành một vòng tròn, mặt quay vào tâm, GV chỉ định 1 – 2 HS làm người gác đêm. Những em này đứng trong vòng tròn, bịt mắt và mỗi em đeo 1 còi trước bụng, hai em đứng cố định quay lưng vào nhau cách nhau khoảng 3m làm bộ đội gác doanh trại ban đêm.

    III- Cách chơi:

              - GV chọn 2 – 3 HS giả làm “trinh sát”, khi có lệnh, những em này đi hết sức nhẹ nhàng đến người gác đêm và khéo léo thổi được còi của “người gác” , nếu để người gác đêm phát hiện và bắt được là thua, trò chơi cứ tiếp tục  như vậy, có thể thay thế người gác , hoặc thay thế “trinh sát”

    BÁO ĐỘNG

    I- Mục đích:

              Rèn luyện phản ứng nhanh, tinh thần tập thể

    II- Chuẩn bị:

              Tập hợp lớp thành 2 – 4 hàng dọc hoặc một vòng tròn, mặt quay theo chiều vòng tròn HS, em nọ cách em kia 1m – 1,5m  

    III. Cách chơi:

              - Khi có lệnh, các em đi bình thường hoặc chạy nhẹ nhàng (theo hàng dọc hoặc vòng tròn, khi GV thổi một hồi còi báo động, HS nhanh chóng ẩn nấp bằng cách ngồi, cúi đầu, hoặc nằm chống hai tay không động đậy . GV đến 1,2,3,4,5. Sau khi hô xong số 5 HS nào còn động đậy thì coi như địch đã phát hiện, bị loại khỏi cuộc chơi sau 30 – 60 giây, GV thổi hồi còi thứ hai để kết thúc báo động, trò chơi lại tiếp tục từ đầu.

    D. TỔ CHỨC VĂN NGHỆ

           Tháng 12 là tháng kỉ niệm ngày thành lập Quân đội  nhân dân Việt Nam 22-12. Các hoạt động đều hướng đến chủ đề Uống nước nhớ nguồn với các hình thức phong phú và đa dạng. Chương trình văn nghệ  cần có những bài hát về quân đội, ca ngợi anh bộ đội Việt Nam.

    I. Mục tiêu

     Các hoạt động văn nghệ chào mừng ngày thành lập Quân đội 22-12.

    II. Qui mô

    Qui mô tổ chức theo lớp.

    III. Nội dung

     - Xây dựng chương trình văn nghệ chào mừng ngày thành lập Quân đội 22-12.

     - Tập một số bài hát mới có nội dung viết anh bộ đội cụ Hồ.

    IV. Hình thức tổ chức: Thực hành

    V. Chuẩn bị

    1. Giáo viên

     - Chuẩn bị các dự kiến hoạt động văn nghệ của tháng.

     - Lên chương trình văn nghệ chào mừng ngày 22-12.

     - Chuẩn bị một số bài hát mới theo chủ đề ngày 22-12 cho học sinh tập.

    2. Học sinh

      -Tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến.

      - Tập các bài hát mới về ngày 22-12

     VI. Tiến trình tổ chức

      - Giáo viên ổn định tổ chức lớp, giới thiệu kế hoạch của tháng 12.

      - Nhận xét về hoạt động văn nghệ của lớp, của Câu lạc bộ trong thời gian qua.

      - Cho học sinh tập một số bài hát theo chủ điểm: Màu áo chú bộ đội (Sáng tác: Nguyễn Văn Tý), Chú bộ đội và cơn mưa ( Sáng tác: Tô Đông Hải)…