trang Blog

MyTham gia: 19/03/2011
  • tìm hiểu về quan điểm "dạy và học lấy học sinh làm trung tâm"
    Xã Hội
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    tìm hiểu về quan điểm "dạy và học lấy học sinh làm trung tâm"

    I.                  ĐẶT VẤN ĐỀ

    Dạy học được định nghĩa là quá trình tương tác qua lại giữa giáo viên và học sinh, khi đó học sinh dưới sự hướng dẫn của thầy có thể tìm ra, khám phá ra những tri thức mới mà bản thân chưa biết, hình thành những thói quen tư duy độc lập, sáng tạo; đồng thời phát triển toàn diện các kĩ năng sống và những phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội...Giảng dạy lấy người học là trung tâm” có nghĩa là trong quá trình đào tạo, người học giữ vị trí then chốt, quyết định chất lượng đào tạo.

    II. NỘI DUNG CỦA VẤN ĐỀ

    1.     Thế nào là dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”

    a)     Định nghĩa

    Về tên gọi, “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” được các nhà nghiên cứu, các nhà PPGD gọi bằng nhiều tên khác nhau. Một số người cho rằng đó là một đường hướng, một số khác cho rằng đó là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục, một số khác nữa cho rằng nó là một phương pháp.

    Thực chất của quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, đó là hệ phương pháp dạy - học tích cực lấy người học làm trung tâm còn gọi là hệ PP dạy - tự học, được xem như là một hệ thống PPDH có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục trong thời kỳ đổi mới hiện nay.

    Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đặt người học vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học - với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người - vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi HS được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội.

    b)    So sánh với phương pháp dạy học “lấy người dạy làm trung tâm”

    Dạy học lấy người dạy làm trung tâmlà hình thức dạy học phổ biến trong nền giáo dục thời phong kiến ở nhiều nơi, trong đó có nước ta. Hoạt động dạy học này gợi chúng ta nhớ đến hình ảnh thầy đồ ngồi trên sạp gỗ hoặc cầm roi bước tới bước lui, còn học trò thì ngồi im trên những manh chiếu trải trước sân hoặc trong căn phòng vách lá, lắng tai nghe và đọc theo những điều thầy dạy, đôi khi cần phải chuyển thân lắc đầu theo nhịp điệu âm thanh gắn với từng bài học.

    Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở thời kì chưa hình thành tổ chức nhà trường, một giáo viên thường dạy cho một nhóm nhỏ học sinh, có thể chênh lệch nhau khá nhiều về lứa tuổi và trình độ. Chẳng hạn thày đồ Nho ở nước ta thời kì phong kiến dạy trong cùng một lớp từ đứa trẻ mới bắt đầu học Tam tự kinh đến môn sinh đi thi tú tài cử nhân, trong kiểu dạy học này, ông thày bắt buộc phải coi trọng trình độ, năng lực, tính cách của mỗi học trò và cũng có điều kiện để thực hiện cách dạy thích hợp với mỗi HS, vai trò chủ động tích cực của người học được đề cao, tuy nhiên năng suất dạy học quá thấp.

         Trong hoạt động dạy học này, chương trình học tập được thiết kế chủ yếu theo logic nội dung khoa học của các môn học, chú trọng trước hết đến hệ thống kiến thức lí thuyết, sự phát triển tuần tự của các khái niệm, định luật, học thuyết khoa học. Người thầy chủ yếu diễn giảng những điều có sẵn trong sách vở cho học trò nghe. Người thầy nói những điều mình đã học đã biết và học trò chỉ việc nghe, ghi chép lại và học thuộc lòng. Việc trao đổi qua lại giữa thầy trò hầu như không tồn tại, học trò chỉ hỏi thêm những điều chưa hiểu ngoài giờ lên lớp và nhiều khi, những trường hợp phát biểu trái ý kiến thầy của học trò bị xem là vô phép, thiếu lễ độ.

    Các loại sách vở được nhắc đến ở đây chủ yếu là những sách vở Nho gia dạy đạo lý thánh hiền hay những trật tự khuôn phép để sống ở đời, cũng có khi là sách văn chương thơ phú. Có thể đây là một hình thức dạy học được xem là tích cực trong thời phong kiến, bằng chứng là nhiều người hấp thụ nền giáo dục đó cũng có thể trở thành những người tài trong xã hội xưa. Nhưng từ khi xuất hiện tổ chức nhà trường với những lớp học có nhiều HS cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì GV khó có điều kiện chăm lo cho từng HS, giảng dạy cặn kẽ cho từng em. Từ đó hình thành kiểu dạy học “thông báo - đồng loạt”. GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và SGK, cố gắng làm cho mọi HS trong lớp hiểu và nhớ những lời thày giảng. Cũng từ đó hình thành kiểu học thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ. Tình trạng này ngày nay càng phổ biến, đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy học, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với sản phẩm của giáo dục nhà trường. Hình thức dạy học này hoàn toàn không phù hợp với khuynh hướng giáo dục hiện đại, khi mà những kĩ năng sống thiết yếu của một con người xã hội trở thành “đơn đặt hàng” cho ngành giáo dục.

    Gần đây, nhu cầu đẩy mạnh phát triển giáo dục theo hướng hiện đại, đẩy lùi hình thức dạy học cũ làm thui chột khả năng tư duy của con người đã thúc đẩy sự ra đời của hình thức dạy học lấy người học làm trung tâm. Đây là hình thức dạy học được áp dụng từ lâu ở nhiều nước tiên tiến có nền giáo dục hiện đại, phái triển. Trong đó chủ yếu hướng vào việc chuẩn bị cho học sinh sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng, tôn trọng nhu cầu,lợi ích, tiềm năng người học. Về nội dung: người ta cho rằng hệ thống kiến thức lí thuyết chưa đủ để đáp ứng mục tiêu chuẩn bị cho cuộc sống. Cần chú trọng các kĩ năng thực hành vận dụng các kiến thức lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn. Dạy học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động. Khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải đối từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội. Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng các nhân người học biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng ;“từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”.

              Trong phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người ta coi trọng việc tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập hoặc theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích bảng số liệu…) thông qua đó HS vừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được rèn luyện vè phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu. GV quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể HS để xây dựng bài học. Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh. Những dự kiến của GV phải được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của HS và cách tổ chức các hoạt động đó, cùng với khả năng diễn biến các hoạt động của HS để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, thực hiện giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi em.

              Học sinh tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước vào một phần mới của chương trình. GV phải hướng dẫn cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của HS trước những vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tình huống thực tế. Việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật sẽ tạo điều kiện tăng nhịp độ kiểm tra, giúp HS có thể thường xuyên tự kiểm tra, làm giảm nhẹ lao động chấm bài của GV.

              Hình thức dạy học này chỉ thật sự phát huy tác dụng trong những điều kiện giáo dục nhất định như: ý thức tự giác học tập của học sinh cao, cơ sở vật chất phục vụ dạy học đầy đủ và phù hợp, giáo viên có năng lực khơi gợi tạo tình huống, môi trường giáo dục xã hội thuận lợi, nguồn tài liệu tham khảo hay sách giáo khoa phong phú, số lượng học sinh trong một lớp phải vừa đủ, không quá nhiều cũng không quá ít...

              Hình thức dạy học này cần thiết phải kéo theo một loạt các hoạt động giáo dục khác tương ứng: kiểm tra, đánh giá, thi cử cũng như nội dung và cách thức thi.

    Trong quá trình phát triển, kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm ngày càng được chú ý so với kiểu dạy học lấy giáo viên làm trung tâm. GS.Lê Khánh Bằng đã đưa ra so sánh sau:

    Giáo viên làm trung tâm

    Học sinh làm trung tâm

    I. Nội dung

    I. Nội dung

    1. Sự kiện, thông tin có sẵn

    1. Các khái niệm, vấn đề

    II. Phương pháp

    II. Phương pháp

    2. Ghi nhớ

    2. Sự tìm tòi

    3. Tập trung vào bài giảng

    3. Khám phá và giải quyết vấn đề

    4. Người nghe thụ động

    4. Người học chủ động tham gia

    5. Giáo viên chiếm ưu thế, có quyền lực

    5. Giáo viên là người điều khiển, thúc đẩy, tìm tòi

    III. Môi trường

    III. Môi trường

    6. Không khí lớp học hình thức, máy móc

    6. Tự chủ, thân mật, không hình thức

    7. Sắp xếp chỗ ngồi cố định, giáo viên chiếm vị trí trung tâm

    7. Chỗ ngồi linh hoạt

    8. Dùng kĩ thuật dạy học ở mức tối thiểu

    8. Sử dụng thường xuyên các kĩ thuật dạy học

    IV. Kết quả

    IV. Kết quả

    9. Tri thức có sẵn

    9. Tri thức tự tìm

    10. Trình độ phát triển nhận thức thấp, có hệ thống. Chủ yếu là ghi nhớ

    10. Phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm và hành vi

    11. Phụ thuộc vào tài liệu

    11. Tự tin

    12. Chấp nhận các giá trị truyền thống

    12. Biết tự xác định các giá trị

    2.     Cơ sở của vấn đề:

    Trong lí luận dạy học có những quan niệm khác nhau về vai trò của GV và vai trò của HS nhưng tựu chung lại có hai hướng: hoặc tập trung vào vai trò hoạt động của GV (lấy GV làm trung tâm) hoặc tập trung vào vai trò hoạt động của HS (lấy HS làm trung tâm).

    Xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học đại học là đổi mới theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm. Quan điểm này có cơ sở lý luận từ việc nhận thức quá trình dạy học (QTDH) luôn luôn vận động và phát triển không ngừng chịu sự chi phối của nhiều quy luật, trong đó quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học, giữa thầy và trò trong QTDH là quy luật cơ bản. Thầy và trò - Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức. Thầy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của trò. Trò thì hoạt động tích cực chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn. Bàn về phương pháp dạy học (PPDH) chúng ta phải bàn đến PP dạy của thầy và PP học của trò. Sự phù hợp của PPDH sẽ cho ta hiệu quả thực sự của việc dạy học. Hệ thống các PPDH tích cực lấy người học làm trung tâm là kết quả của sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, thực nghiệm ở nhà trường Việt Nam từ nhiều năm. Đó là sự tổng hợp, tích hợp nhiều PP gần gũi nhau như : PP tích cực, PP hợp tác, PP học bắng hành động, PP tình huống, PP nêu và giải quyết vấn đề..., và một phần nào đó có sự kết hợp với các PPDH truyền thống được cải tiến, vận dụng theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học

    3. Vai trò của người thầy giáo trong lối dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”

    Vai trò người thầy trong quá trình dạy học theo quan điểm lấy người học là trung tâm không thể bị mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn, người thầy vẫn là “linh hồn” của giờ học sinh động và sáng tạo. Giáo vien phải có trình độ chuyên môn sâu, có trình độ sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm cái mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, trợ giúp, hướng dẫn, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động độc lập của HS, đánh thức năng lực tiềm năng trong mỗi em, chuẩn bị tốt cho các em tham gia phát triển cộng đồng. Định hướng cách dạy học như trên không mâu thuẫn với quan niệm truyền thống về vị trí chủ đạo, vai trò quyết định của GV đối với chất lượng, hiệu quả dạy học. Bởi vì, để có thể làm người hướng dẫn, cung cấp thông tin, trọng tài, cố vấn… người thầy phải hiểu biết sâu sắc những kiến thức cơ bản của môn học mình đảm nhiệm, đồng thời phải tự bổ sung vốn kiến thức của mình thường xuyên và có định hướng rõ ràng qua tài liệu, sách báo… Người thầy phải nắm vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học để có thể tìm ra hoặc ứng dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng của mình nhất.

    Thực hiện chương trình dạy học theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm thì hoạt động của thầy và trò tương ứng như sau:

    ·        Người học khai phá tri thức, tự nghiên cứu - Thầy chỉ hướng dẫn và cung cấp thông tin.

    ·        Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình - Thầy là trọng tài.

    ·       Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh - Thầy làm cố vấn.

    II.               HIỆN TRẠNG DẠY HỌC Ở NƯỚC TA

              Lối học của nền giáo dục Việt Nam từ xưa đến nay là thuyết minh hàng loạt các kiến thức qua sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng… với một hình ảnh quen thuộc là “ông thầy đồ với quyển sách và cây roi trong tay” hệ quả là người học phải cố nhớ, lắng nghe và ghi chép toàn bộ kiến thức từ người dạy. Và từ thế hệ này sang thế hệ khác chúng ta sẽ đào tạo ra những con người thụ động, giáo điều, nguyên tắc theo sách vở mà khả năng độc lập, tư duy và sáng tạo kém.

              Theo kết quả phân tích của tác giả Lê Ngọc Oánh về phương pháp giảng dạy truyền thống của Việt Nam và các phương pháp giảng dạy tiên tiến

    Phương pháp giảng dạy

    Phương tiện GD và học tập

    Phương pháp giảng dạy

    Phương pháp học tập

    Tâm lý vận dụng

    Phương pháp đánh giá

    Kết quả giáo dục

    Phương pháp giảng dạy truyền thống của VN

    Sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng

    Thuyết trình

    Lắng nghe, ghi chép, học thuộc lòng, lập lại

    Trí nhớ

    Kỳ thi (gợi lại trí nhớ)

    Hàn lâm, theo sách vở

    Các phương pháp giảng dạy tiên tiến

    Thư viện, phòng LAB, xưởng thực hành

    Đặt vấn đề, nêu tình huống, phân công tìm hiểu, thảo luận

    Tìm tòi, quan sát, so sánh, nghiên cứu tình huống, thảo luận, báo cáo

    Óc tò mò, nhận xét, phân tích, đối chiếu, phê bình, tổng hợp, sáng tạo

    Công trình đóng góp suốt khoá học

    Sưu tầm, nghiên, cứu, phát minh, sáng tạo

    Ở nước ta, mầm mống tư tưởng dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã có từ lâu. Chúng ta có thể thấy được điều này qua các câu ngạn ngữ “Học thầy không tày học bạn”, “Không thầy đố mày làm nên”, “Học một biết mười” …

                Vấn đề phát huy tích cực chủ động của HS nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 1960. Khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Giáo sư Lê Khánh Bằng đã đề cập đến vấn đề “lấy học sinh làm trung tâm trên hai phương diện vĩ mô và vi mô, ở đây người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của người học, đến những đặc điểm tâm sinh lí và các cấu trúc tư duy của từng người” (Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tr.14).

              Tuy nhiên, thuật ngữ “dạy học lấy người học làm trung tâm” (dạy học tập trung vào người học) chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây. Vấn đề lấy người học làm trung tâm là vấn đề còn mới đối với người dạy do trước đây quan niệm chủ yếu là người dạy truyền đạt kiến thức cho người học, quá trình học thường là tiếp nhận thụ động. Vì vậy, mặc dù đã thấy vấn đề trên là cần thiết trong giai đoạn hiện nay và sau này, người dạy chưa được trang bị đủ cơ sở lí luận về “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Việc “lấy học sinh làm trung tâm” mới chỉ được thực hiện ở mức để cho học sinh phát biểu ý kiến, cho học sinh thảo luận theo nhóm … Dạy học cũng như mọi quá trình tự nhiên, trải qua thời kì hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài của mình.

              Hiện nay, trong ngành giáo dục nước ta vấn đề phát huy tích cực chủ động sáng tạo của người học được mọi người nhất trí nhưng vấn đề HSTT chưa phải là đã được mọi người chấp nhận và được quan niệm một cách thống nhất. Có người phản đối vì cho rằng cách dịch thuật ngữ này sang tiếng Việt không thành công, có thể gây ra sự hiểu lầm. Có người không chấp nhận vị trí trung tâm của người học trong hoạt động dạy học vì e rằng sẽ hạ thấp vai trò của giáo viên, tạo ra sự “đổi ngôi” trong nhà trường. Cũng có người cho rằng lấy hcoj sinh làm trung tâm là một lí thuyết giáo dục đã lỗi thời, thậm chí đã bị bác bỏ tại chính nơi sản sinh ra nó…

              Trên thực tế, trong giai đoạn phát triển ban đầu, tư tưởng HSTT cũng đã từng có những lệch lạc bị phê phán như quá đề cao hứng thú cá nhân HS, coi đó là động lực quan trọng nhất của quá trình học tập, hoặc quan niệm quá khích rằng nhà trường phải dạy những gì HS cần chứ không phải dạy những gì nhà trường có.

              Phương pháp dạy - học lấy trẻ em làm trung tâm là phương pháp học tập tích cực, khác với phương pháp dạy học truyền thống trước đây là giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe và ghi nhớ thụ động. Giáo viên được tập huấn cách thiết kế và giảng dạy theo phương pháp dạy - học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, áp dụng các kỹ năng tổ chức làm việc nhóm, kỹ năng đặt câu hỏi, phương pháp đóng vai, tự làm đồ dùng dạy học bằng nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, sử dụng trò chơi trong học tập, tối ưu hóa không gian lớp học.

    III.           MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ TRIỂN KHAI VÀ ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ QUAN ĐIỂM DẠY HỌC “LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM”

    Dạy học lấy học sinh làm trung tâm có nội hàm rộng hơn phương pháp dạy học tích cực. Quan điểm này cần được quán triệt trong tất cả các khâu của quá trình dạy học: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá

    Khi vận dụng HSTT chớ nên máy móc và hình thức. GV phải biết lựa chọn mức độ thích hợp với từng ngành học, bậc học, môn học, phù hợp với phương tiện thiết bị dạy học và điều kiện học tập của HS.

    - Việc dạy học phải xuất phát từ đầu vào (người học), tức là từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học. Ở đây, cần thấy học sinh là học sinh như nó đang tồn tại, với những ưu điểm và nhược điểm, những điều chưa biết và đã biết. Phải tiến hành việc học tập trên cơ sở hiểu biết năng lực đã có của học sinh.

    - Cần đòi hỏi học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, không tiếp thu một cách thụ động. Học sinh cần tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động.

    - Thực hiện phân hóa, chú ý đến tư duy của từng học sinh, không gò bó theo cách suy nghĩ đã định trước của giáo viên.

    - Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập của mình tiến tới tự đào tạo và giải quyết các vấn đề lí luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo.

    - Mềm hóa quá trình đào tạo. Đây là biện pháp chung và cơ bản để phát huy cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên. Bản chất của học chế là sự mềm dẻo từ mục tiêu, nội dung, phương thức đến quy trình học tập. Có thể cho phép sinh viên không phải lên lớp nghe giảng ở một số môn, cho phép sinh viên học vượt, học chậm lại … Phương thức và quy trình đào tạo cũng không nhất thiết phải giống nhau. Mục đích của việc tổ chức quá trình đào tạo mềm dẻo là nhằm kích thích tinh thần tích cực, chủ động của sinh viên thông qua việc sinh viên tự xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tập, cũng như việc lựa chọn phương thức học tập thích hợp cho bản thân trong phạm vi cho phép. Học chế mềm dẻo đòi hỏi phải cải tiến việc quản lí và kiểm tra kết quả học tập, đòi hỏi việc xây dựng các quy chế mới về giáo vụ;

    - Thực hiện cá biệt hóa, phân hóa và sàng lọc qua các giai đoạn và các năm học;

    - Nhà trường, khoa, bộ môn công bố mục tiêu, nội dung, kế hoạch, các giai đoạn và quy trình đào tạo cho sinh viên biết ngay từ đầu khóa học, năm học, môn học để họ có thể chủ động thiết kế quá trình học tập của mình;

    - Giảm tỉ lệ diễn giảng tùy theo bộ môn, chú ý sử dụng kết hợp các kiểu dạy thông báo, nêu vấn đề, nghiên cứu, chương trình hóa;

    - Tăng cường và nâng cao hiệu suất quá trình tự học của người học;

    - Tăng cường giúp đỡ riêng bằng cách cho học sinh đăng kí lần lượt gặp gỡ, trao đổi những vấn đề về học tập và nghiên cứu khoa học;

    - Soạn thảo các tài liệu hướng dẫn học tập chung và cho từng bộ môn, in và bán tài liệu cho học viên;

    - Phát huy vai trò của các đoàn thể học sinh, các nhóm nhà khoa học trẻ, câu lạc bộ khoa học để tạo không khí hăng say học tập, nghiên cứu trong sinh viên;

    - Tăng cường các loại bài tập sáng tạo, bài tập tình huống để học sinh suy nghĩ tìm ra các phương án giải quyết tối ưu;

    - Kiểm tra, thi cử khách quan, khuyến khích người học  có những ý kiến sáng tạo, tránh gò ép theo quan điểm duy nhất của giáo viên. - Định mục tiêu đào tạo cụ thể đạt các yêu cầu: thích đáng, thực hiện được;

    - Chú trọng đến yêu cầu về năng lực thực hành nghề nghiệp khi xây dựng đầu ra của bộ môn;

    - Thay đổi cách tuyển chọn học sinh (đầu vào) sao cho phù hợp với yêu cầu đầu ra của từng chuyên ngành. Vì vậy, khi xét đầu vào phải xét đủ các mặt về thể lực, tâm lí, trình độ văn hóa, năng khiếu … sao cho phù hợp với yêu cầu của đầu ra;

    - Hướng các bộ môn cơ bản, chuyên ngành vào mục tiêu đào tạo;

    - Chú ý rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp từ thấp đến cao theo những qui luật và qui trình nhất định;

    - Thực hiện việc đánh giá sinh viên chủ yếu dựa trên kĩ năng vận dụng và sự thành thạo trong nghề nghiệp mà không phải chỉ dựa trên một số các tri thức học sinh đã nắm được;

    - Yêu cầu mỗi sinh viên có đủ tài liệu và vở ghi, vở bài tập, vở thực hành, sổ nghiệp vụ, hồ sơ nghiệp vụ ….

    IV.           KẾT LUẬN

              Quan điểm dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” là một xu hướng tất yếu có lí do lịch sử. Đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học – với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người – vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện, thiết bị hiện đại để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội. Đó chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Đây là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi sự hoạt động mạnh mẽ, có sự phối hợp đồng bộ của tất cả các cấp, ban, ngành và đội ngũ giáo viên. Giải quyết tốt vấn đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục, thúc đẩy quá trình học tập của học sinh dẫn tới giải quyết tốt vấn đề đầu ra, đáp ứng được nhu cầu cần thiết của xã hội.

    -hết-

    ( bài viết sử dụng nhiều nguồn tài liệu trên thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội và trên internet)