Mối quan hệ giữa dân số, lao động và việc làm

Đảng và Nhà nước ta từng khẳng định “Con người là vốn quý nhất”. Chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta.Nói đến phát triển con người là nói đến dân số, lao...

Đảng và Nhà nước ta từng khẳng định “Con người là vốn quý nhất”. Chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta.Nói đến phát triển con người là nói đến dân số, lao động của quốc gia, có nghĩa là nói đến vai trò của con người trong sự phát triển. Vai trò đó thể hiện hai mặt: 

Thứ nhất, con người với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và kho tàng văn hóa; 

Thứ hai, con người với tư cách là người lao động tạo ra tất cả các sản phẩm đó với sức lực và óc sáng tạo vô tận. 

Vai trò hai mặt của con người được tập hợp trong dân số, nguồn lao động và việc làm có mối quan hệ biện chứng qua lại và là một nhân tố quyết định đến sự phát triển của một quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn đề dân số, lao động, việc làm vào vị trí hàng đầu, là yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội.

Dân số là nguồn lực quan trọng tác động đến mọi mặt của đất nước, sự bùng nổ dân số đang là một thách thức lớn trong sự phát triển của xã hội. Không chỉ riêng đối với nước ta mà cả thế giới đều nhận định rằng vấn đề dân số đang là mối quan tâm hàng đầu trong sự phát triển. Giải quyết vấn đề dân số đang được quan tâm hàng đầu. Con người có thể làm nên sự phát triển của xã hội nhưng rồi con người cũng lại là nguyên nhân chính của sự nghèo đói, thiếu việc làm, thất nghiệp.

- Dân số tác động trực tiếp đến nguồn lao động và giải quyết việc làm của nước ta. Nước ta dân số đông, tăng nhanh, tạo nên lực lượng lao động dồi dào. Trong khi nền kinh tế  còn chậm phát triển nên việc làm là một vấn đề lớn của nước ta hiện nay

- Lao động nước ta chủ yếu hoạt động trong khu vực nông- lâm- ngư nghiệp, năng suất thấp, thu nhập thấp, trình độ dân trí chưa cao nên mức gia tăng dân số ở nông thôn còn cao làm cho tốc độ gia tăng dân số của cả nước còn cao.

Dân số và việc làm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Dân số sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng và chất lượng nguồn lao động

Về số lượng: Nếu dân số đông cơ cấu dân số trẻ thì số dân trong độ tuổi lao động lớn. nguồn lao động dồi dào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế từ đó tạo ra công ăn việc làm cho người lao động và thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, nếu dân số quá đông sẽ tăng sức ép với sự phát triển kinh tế và vấn đề việc làm tỷ lệ thât nghiệp sẽ tăng lên vì nguồn lao động vượt quá nhu cầu của nền kinh tế. Ngược lại, nếu dân số ít sẽ dẫn đến thiếu nguồn lao động trong tương lai và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, khi đó tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc lam sẽ giảm nhưng lại đặt ra thách thức về trình độ của người lao động để có thể đưa kinh tế phảt triển.

Về chất lượng nguồn lao động: Dân số đông tuy tạo ra nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng nguồn lao động lại không cao chủ yếu là chưa qua đào tạo. Hơn nữa, dân số đông cũng gây khó khăn về mặt quản lý và đào tạo lao động từ đó gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Ngược lại, nếu dân số ít việc quản lý và đào tạo lao động sẽ dễ dàng hơn, chất lượng lao động sẽ được nâng cao để có thể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế.

Có thể nói, quá trình biến động dân số sẽ ảnh hưởng rất lớn đế sự phát triển của nguồn lao động cả về số lượng, chất lượng và đi kèm theo nó là vấn đề việc làm. Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa dân số, nguồn lao động và việc làm cần được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau. Tái sản xuất dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội nhưng nếu dân số tăng quá nhanh sẽ gây ra khó khăn cho việc bảo đảm việc làm, nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước. Hậu quả của sự mất cân đối đó là khó có thể bảo đảm và nâng cao mức sống cho dân cư, thậm chí nạn đói, rét diễn ra nhiều nơi; không giải quyết được việc làm, làm cho tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp trầm trọng. Nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động thì chất lượng cuộc sống của người dân sẽ được nâng lên, cơ cấu kinh tế sẽ được chuyển dịch, tạo công ăn việc làm, phân bố phân công lao động hợp lý, ổn định môi trường việc làm cho người dân, ổn định thu nhập, đời sống, kinh tế, xã hội phát triển. Vì thế, Nhà nước cần phải quan tâm, tạo nhiều thời cơ, thách thức để giải quyết, điều hòa mối quan hệ giữa dân số, lao động và việc làm của đất nước nhằm hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 Giải pháp để giải quyết mối quan hệ đó ở Việt Nam hiện nay?

Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia đều thống nhất quan điểm cần phải điều tiết có ý thức vào sự tăng trưởng dân số đồng thời với việc thúc đẩy sự phát triển. Chỉ riêng có chính sách dân số - KHHGĐ hoặc chỉ riêng sự phát triển đều không đủ. Chính sách dân số - KHHGĐ và chính sách phát triển hỗ trợ cho nhau, tác động lẫn nhau, chứ không tách biệt hoặc thay thế nhau.

Để phát huy vai trò của dân số và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định nhất của sự phát triển, Nhà nước coi trọng việc hoạch định và thực thi các chính sách điều tiết vĩ mô:

 (1)- Chính sách dân số-KHHGĐ hướng vào cả 3 nội dung : qui mô và tốc độ tăng trưởng dân số;  cơ cấu dân số;  sự phân bố dân số.

(2)- Chính sách phát huy nguồn nhân lực gồm: phân bố lại nguồn nhân lực; đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; phát triển thị trường sức lao động.

(3)- Chương trình và chính sách sử dụng nguồn nhân lực trẻ, giải quyết việc làm cho lao động xã hội và thanh niên.

Đi vào cơ chế kinh tế thị trường phải đẩy mạnh thực hiện thống nhất quản lý lao động xã hội trên 3 mặt : phân bổ, bồi dưỡng và sử dụng sức lao động đáp ứng yêu cầu các mục tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu  của nền kinh tế  thị trường cụ thể như sau:

Thứ nhất, về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình.

Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.

Dân số là tiền đề hình thành nguồn lao động và là căn cứ xác định các mục tiêu kinh tế - xã hội, cũng như việc tính toán các nhu cầu  đời sống xã hội, ăn ở, đi lại, chữa bệnh, học hành.

Muốn bảo đảm việc làm và ổn định đời sống của nhân dân cần phải giảm nhịp độ tăng dân số bằng cách hạ tỷ xuất sinh đẻ

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể với công tác DS-KHHGĐ

Xây dựng, củng cố, tăng cường hoạt động của hệ thống tổ chức chuyên trách công tác DS-KHHGĐ từ TW đến địa phương

Giáo dục truyền thông về DS-KHHGĐ phải được quan tâm hàng đầu và mở rộng theo hướng quy mô xã hội hóa ngày càng cao nhằm huy động các ban, ngành, đoàn thể và mọi thành phần trong xã hội tích cực tham gia.

Xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình bao gồm các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế từ TW đến cơ sở

Xây dựng chính sách và đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ

Thực hiện tốt công tác dân số để giảm mức sinh, ổn định quy mô dân số là giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.

Thứ hai, Về Lao động:

Đầu tư phát triển kinh tế xã hội, xây dựng hạ tầng  cơ sở, cải tạo môi trường, tạo mặt bằng và hành lang  pháp lý cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế được bình đẳng để phát triển. Cân đối phân bố lao động xã hội vào các ngành kinh tế quốc dân.

Tổ chức sắp xếp điều chỉnh sản xuất kinh doanh theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng hoá ngành nghề và thâm canh tăng vụ để kết hợp tốt lao động với đối tượng lao động, giải phóng mọi năng lực sản xuất của quốc gia, tăng thêm việc cho lao động có thời gian nhàn rỗi, đồng thời bổ sung lao động cho các ngành kinh tế - xã hội có yêu cầu.

Thứ ba, Về Giải quyết việc làm: Giải quyết việc làm gắn với nhiệm vụ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế, gắn lao động với đất đai, tài nguyên; kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ là chính với mở rộng điều tiết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và theo yêu cầu thị trường lao động.

Giải quyết tốt 3 yếu tố trên Nhà nước còn cần phải tăng cường nâng cao công tác đào tạo chuyên môn, hướng nghiệp, dạy nghề và thực hiện các chính sách, chương trình xã hội.

Tiến hành quy hoạch, xây dựng đề án về đào tạo cán bộ, tập trung vào đào tạo chuyên sâu, đào tạo nâng cao, đào tạo lại và đào tạo sau đại học để có đội ngũ trí thức đầu ngành trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Mặt khác tăng cường vận động và trích từ ngân sách để lập quỹ hỗ trợ tài năng trẻ. Có chính sách đầu tư, hỗ trợ, bồi dưỡng đúng mức cho năng khiếu, tài năng trẻ phát triển, coi đó là khâu đột phá đón đầu cho thế hệ tương lai.

Dân số - Lao động - Việc làm là vấn đề quan trọng trong các chính sách xã hội nhiệm vụ bao trùm nhất của công tác quản lý  Nhà nước trên lĩnh vực này phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân để xây dựng chủ trương chính sách, hoạch định chương trình phát triển, làm cho nhân dân thấy được lợi ích của mình gắn liền với lợi ích của đất nước, tự giác thực hiện theo pháp luật và quản lý của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 

Mối quan hệ giữa dân số, lao động và việc làm

Mối quan hệ giữa dân số, lao động và việc làm

Comments