trang Blog

  • tại sao chúng ta lại chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
    Kinh Tế
    CameraNikon D3
    ISO3200
    Aperturef/8
    Exposure1/50th
    Focal Length200mm

    tại sao chúng ta lại chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ

    Định hướng XHCH trong nền kinh tế thị trường   

    Dựa trên thành quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn những năm qua, Văn kiện Ðại hội X đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm "định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường", qua đó bác bỏ quan điểm phủ nhận định hướng XHCN trong kinh tế thị trường.
    Nhận thức về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta đã trải qua một quá trình lâu dài và không đơn giản. Trong quá trình đó Ðảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, xuất phát từ thực tiễn đất nước, có nhiều tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức lý luận, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Ðại hội X của Ðảng trên cơ sở tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới đã có một bước tiến mới quan trọng trong nhận thức về con đường đi lên CNXH của nước ta. Văn kiện Ðại hội X đã khẳng định "Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn"(1). Nhận thức đó được thể hiện tập trung trong Báo cáo chính trị và các Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX trình Ðại hội.
    Kiên định con đường đã chọn
    Trong hơn 76 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào Ðảng ta vẫn luôn kiên định con đường XHCN, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Ðường lối đó không chỉ phù hợp trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ trước đây, mà còn là đường lối chỉ đạo trong giai đoạn cách mạng XHCN, trong công cuộc đổi mới hiện nay. Ngay cả trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX, khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Ðông Âu bị sụp đổ, Ðảng ta vẫn luôn kiên định con đường XHCN. Từ thực tiễn cách mạng thế giới và trong nước, Ðảng và nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng, chỉ có con đường độc lập dân tộc và CNXH, Tổ quốc ta mới được độc lập, tự do, nhân dân ta mới trở thành người làm chủ, tự quyết định con đường phát triển của mình. Ðúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm"(2).
    Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua đã cho thấy rằng con đường kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là con đường tất yếu khách quan, hợp quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Sự lựa chọn con đường XHCN là sự lựa chọn của Ðảng, Bác Hồ, và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân, của lịch sử. Sự ra đời của Ðảng ta năm 1930; thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay là những mốc son chói lọi trên con đường đó, của sự lựa chọn lịch sử dân tộc.
    Trong những năm đổi mới nhờ kiên định con đường XHCN, chúng ta vừa giữ vững thành quả cách mạng và mục tiêu cách mạng, vừa kiên quyết đổi mới, dám từ bỏ những phương pháp và mô hình sai lầm, sáng tạo phương pháp mới, cách làm mới, mô hình mới để xây dựng CNXH có hiệu quả hơn. Chúng ta vừa giữ vững ổn định chính trị - xã hội, vừa phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tương đối cao; vừa giữ vững nền độc lập dân tộc vừa chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
    Như vậy, sự kiên định con đường XHCN đòi hỏi phải dám đổi mới và biết đổi mới; đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, cả về nhận thức và hoạt động thực tiễn.
    Ở đây có mối quan hệ biện chứng giữa kiên định và đổi mới: muốn kiên định con đường XHCN, phải đổi mới được nhận thức và đưa được nhận thức đó vào thực tiễn, tạo ra được những thành quả của CNXH trong cuộc sống; trái lại, có kiên định con đường XHCN thì mới đổi mới đúng hướng, mới bảo đảm độc lập dân tộc và CNXH cho đất nước. Chính trong quá trình đổi mới, trên cơ sở kiên định con đường XHCN, Ðảng ta từng bước hình thành những nhận thức mới về CNXH ngày càng phù hợp hơn, từng bước khắc phục những quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu trĩ, duy ý chí về CNXH. Những nhận thức mới đó về CNXH được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh năm 1991 và đã được bổ sung, phát triển về sau này, nhất là qua tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới. Tất nhiên sự vận động, phát triển của thực tiễn và nhận thức đòi hỏi Ðảng ta phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển hơn nữa nhận thức đó.
    Ðiểm xuất phát và mục tiêu
    Nước ta đi lên CNXH xuất phát từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, từ một xã hội tiền tư bản, có những yếu tố giai đoạn đầu tư bản chủ nghĩa (TBCN) với nền sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ TBCN. Ðặc điểm xuất phát này quy định cả nội dung, hình thức, bước đi và thời gian của con đường đi lên CNXH ở nước ta. Khi nói về đặc điểm xây dựng CNXH ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Ðặc điểm to nhất... là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH, không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN" (3). Khái niệm "tiến thẳng" ở đây không có nghĩa là "quá độ trực tiếp" lên CNXH mà chỉ có nghĩa là "không phải kinh qua chế độ TBCN" hay "bỏ qua chế độ TBCN". Mà "bỏ qua chế độ TBCN" tức là bỏ qua việc xác lập vai trò thống trị của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng TBCN nhưng phải biết kế thừa và phát huy những nhân tố tích cực được tạo ra trong lòng CNTB để xây dựng CNXH.
    Do điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội nên chúng ta phải thực hiện kiểu "quá độ gián tiếp" từ xã hội tiền tư bản, lên CNXH với nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ, đan xen để thực hiện bước chuyển tiếp lên CNXH. Ðây cũng là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường. Nếu nhân dân Trung Quốc đang xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc mà giai đoạn đầu dài khoảng 100 năm, thì chúng ta mới hoàn thành giai đoạn tạo tiền đề cho công nghiệp hóa và đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Sau đó còn bao nhiêu giai đoạn nữa, là những giai đoạn gì và độ dài của thời kỳ quá độ là bao nhiêu năm thì cho đến nay chúng ta vẫn chưa xác định rõ được. Ðể xác định được chắc chắn chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận.
    Mục tiêu, lý tưởng của Ðảng ta là xây dựng thành công CNXH và CNCS, đó cũng là mục tiêu của con đường XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, CNXH là gì? bản chất, đặc trưng của nó ra sao thì hiện nay câu trả lời không phải giản đơn và đã hoàn toàn thống nhất. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH, có thời kỳ chúng ta đã mắc phải sai lầm chủ quan duy ý chí và giáo điều trong việc áp dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và mô hình CNXH Xô-viết. Trong những năm đổi mới, Ðảng ta đã có sự nhận thức đúng hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh điển mác-xít, đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên một loạt các vấn đề, vận dụng phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam.
    Từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, chúng ta đã nhận thức lại ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về mục tiêu, bản chất, đặc trưng của CNXH. Cương lĩnh năm 1991 đã khái quát sáu đặc trưng của CNXH. Ðến Ðại hội X, Báo cáo chính trị đã bổ sung một số điểm mới trong mô hình CNXH ở nước ta: "Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh" (4). Ðây chính là đặc trưng tổng quát nhất của mô hình xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Cụ thể hóa đặc trưng tổng quát đó, Văn kiện Ðại hội X đã nêu lên những đặc trưng cụ thể, trong đó có những đặc trưng mới chẳng hạn như "Có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản" (5).Tiếp tục đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng XHCN

    Cương lĩnh năm 1991 đã nêu lên 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Qua thực tiễn 20 năm đổi mới, Ðảng ta đã có sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa những phương hướng đó. Văn kiện Ðại hội X khẳng định: "Ðể đi lên CNXH, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" (6).
    Văn kiện Ðại hội X đã cụ thể hóa những phương hướng trên đây thành các nội dung sau:
    - Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ðây là một đột phá lý luận rất sáng tạo của Ðảng ta. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
    Dựa trên thành quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn những năm qua, Văn kiện Ðại hội X đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm "định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường", qua đó bác bỏ quan điểm phủ nhận định hướng XHCN trong kinh tế thị trường.
    Nắm vững định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là:
    + Thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng...
    + Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
    + Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
    + Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Ðảng.
    Ðể tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Văn kiện Ðại hội X đã nhấn mạnh phải nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh.
    - Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Từ một nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, nhất thiết phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Muốn phát triển lực lượng sản xuất không có cách nào khác là phải tiến hành công nghiệp hóa và kết hợp ngay từ đầu công nghiệp hóa với hiện đại hóa, đồng thời gắn với phát triển kinh tế tri thức. Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN, trong đó đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
    - Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để làm nền tảng tinh thần của xã hội. Văn kiện Ðại hội X khẳng định: "Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội". Ðể văn hóa thật sự làm nền tảng tinh thần của xã hội, phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ - những lĩnh vực được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    - Phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu và bản chất của chế độ ta. Ðể thực hiện mục tiêu đó, vấn đề trung tâm là phải xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng nhà nước, thông qua nhà nước dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Văn kiện Ðại hội X đã nhấn mạnh vấn đề "xây dựng một xã hội dân chủ"; xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền; tiếp tục đổi mới hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.
    - Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong điều kiện mới phải nhận thức sâu sắc mối quan hệ này cũng như quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh - đối ngoại, giữa thế trận quốc phòng với thế trận an ninh; nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn khái niệm "an ninh quốc gia" và khái niệm "bảo vệ Tổ quốc", từ đó đề ra các chủ trương, chính sách phù hợp.
    - Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Ðại hội X đã nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
    - Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Văn kiện Ðại hội X đã nêu bật đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác...
    - Ðổi mới, chỉnh đốn Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng. Văn kiện Ðại hội X coi đây là "nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Ðảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta". Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn phải được coi là quy luật tồn tại và phát triển của Ðảng. Trên ý nghĩa đó, Văn kiện Ðại hội X đã nhấn mạnh 5 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Ðảng hiện nay là:
    + Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Ðảng.
    + Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
    + Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Ðảng; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Ðảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
    + Ðổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ.
    + Ðổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng.
    Tóm lại, dựa trên tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới, Văn kiện Ðại hội X của Ðảng đã góp phần làm sáng tỏ con đường đi lên CNXH ở nước ta. Con đường đó phản ánh tính phổ biến và tính đặc thù của CNXH Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã rõ vẫn còn nhiều điều cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tìm câu trả lời cho những vấn đề do cuộc sống đặt ra, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. QUÁ ĐỘ LÊN CNXH VÀ CƠ CẤU KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM . Thời kỳ qúa độ lên CNXH ở Việt Nam:

    1. Quan điểm của chủ nghĩa Mac- LêNin về thời kỳ quá độ lên CNXH:

    1.1. Quan điểm của C. Mác:

    Trong lý luận về hình thái kinh tế xã hội của C. Mác cho thấy sự biến đổi của các xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.

    Vận dụng lý luận đó vào phân tích xã hội tư bản( XHTB) để tìm ra quy luật vận động của nó - C. Mác và Ăngghen đều cho rằng: Phương thức sản xuất TBCN có tính chất lịch sử và xã hội tư bản tất yếu bị thay thế bằng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

    - C.Mác và Ăngghen đã chỉ rõ: Sự tiến bộ lịch sử của chế độ tư bản, vai trò cực kỳ to lớn của nó trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hóa lao động. Đồng thời cũng chỉ ra những giới hạn tạm thời về mặt lịch sử của chế độ đó: " Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ TBCN của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ tung ra. Giờ tận số của chế độ TBCN đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt".

    - Đồng thời C. Mac và Ăngghen cũng dự báo trên những nét lớn về những đặc trưng cơ bản của xã hội mới đó là:

    + Có lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao.

    + Chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu.

    + Sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội.

    + Nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã hội.

    + Sự phân phối sảnphẩm bình đẳng.

    + Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay bị xóa bỏ...

    Nhưng để xây dựng xã hội mới với những đặc trưng trên cần phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp ( giai đoạn đầu) và giai đoạn cao ( giai đoạn sau). Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản.
    Vận dụng học thuyết của C.Mác vào công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô trước đây, Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH với nội dung như sau:

    1.2. Luận điểm của Lênin:

    a. Thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào đi lên CNXH đều phải trải qua, kể cả các nước có nền kinh tế rất phát triển.

    Như vậy Lênin đã khẳng định rằng thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan không chỉ các nước có nền kinh tế lạc hậu mà kể cả các nước có nền kinh tế phát triển (tức được hiểu rằng những nước đã kinh qua chế độ TBCN) và Lênin coi đó là một việc phải làm mà bất cứ quốc gia nào cũng phải trải qua.

    - Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách sâu sắc triệt để toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội mới - xã hội XHCN. Nó diễn ra từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hôi mới và kết thúc khi xây dựng thành công những cơ sở của CNXH về các mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế, kiến trúc thượng tầng.

    - Tính tất yếu của thời kỳ quá độ được qui định bởi đặc điểm ra đời, phát triển cách mạng vô sản và những đặc trưng kinh tế xã hội của CNXH.

    b. Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ qúa độ là: sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng vị trí, cơ cấu và tính chất của các giai cấp trong xa hội đã thay đổi một cách sâu sắc.

    - Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần về khách quan và lâu dài có lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế.

    - Thời kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh" ai thắng ai" giữa CNXH và CNTB quyết liệt quanh co, khúc khuỷu phức tạp.

    c. Khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN:

    - Dự bấo của C. Mác:

    - Phân tích tính chất và đặc điểm của CNTB trong thời kỳ tự do cạnh tranh Mác và Ăngghen đã rút ra kết luận: cách mạng cộng sản chủ nghĩa không thể xảy ra ở riêng một nước TBCN mà sẽ đồng loạt xảy ra trong tất cả các nước tư bản văn minh. Những dự báo trên là xuất phát từ điều kiện của CNTB đang ở thời kỳ tự do cạnh tranh, thời kỳ mà CNTB tương đối ổn định, các mâu thuẫn giữa các nước tư bản chưa đến mức gay gắt quyết liệt.

    - Luận điểm của Lênin:

    - Phát triển học thuyết của C. Mác trong thời kỳ mới, thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Lênin đã xây dựng lý luận về chủ nghĩa đế quốc và đã phát hiện ra quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của CNTB và người đã rút ra kết luận quan trọng về khả năng thắng lợi của CNXH trước tiên ở một số nước hoặc ở một nước riêng lẻ, chứ không thể thắng lợi cùng một lúc ở tất cả các nước.

    - Khi CNXH thắng lợi ở một nước thì nhân loại bắt đầu bước vào một thòi đại mới - thời đại qua độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Trong điều kiện đo các nước lạc hậu có thể qúa độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, nhưng phải các điều kiện bên trong và bên ngoài.

    + Điều kiện bên trong: Có ĐCS lãnh đạo và giành chính quyền và sử dụng chính quyền nhà nước công, nông, trí thức liên minh làm điều kiện tiên quyết để xây dựng CNXH.

    + Điều kiện bên ngoài: Có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản của các nước tiên tiến đã giành thắng lợi trong cách mạng vô sản. (CMVS)

    Tuy các nướclạc hậu có khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN nhưng không phải là quá độ trực tiếp mà phải qua con đường gián tiếp với một loạt những bước quá độ thích hợp thông qua chính sách "kinh tế mới"

    Chính sách kinh tế mới có ý nghĩa to lớn về cả lý luận và thực tiễn. ở nước ta khi bước vào thời kỳ đổi mới những quan điểm kinh tế của Đảng ta đã thể hiện sự nhận thức và vận dụng chính sách kinh tế mới của Lênin phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của thời kỳ quá độ ở nước ta.

    2. Tính tất yếu và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam:

    a. Tính tất yếu:

    Vận dụng lý luận của Lênin vào hoàn cảnh của Việt Nam Đảng ta đã xác định: thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia xây dựng CNXH dù điểm xuất phát ở trình độ cao hay thấp - vì vậy thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử, bởi vì:

    - Một là: Phát triển theo con đường XHCN là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử: Loài người đã phát triển qua 5 hình thái kinh tế xã hội, sự biến đổi đó là một quá trình lịch sử tự nhiên, đều tuân theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    - Hai là: Phát triển theo con đường CNXH không chỉ phù hợp với xu thế của thời đại mà còn phù hợp với đặc điểm cách mạng Việt Nam

    + Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta đã xác định, cách mạng Việt Nam sẽ trải qua hai gia đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, và cách mạng XHCN, như vậy cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân gắn liền với cách mạng XHCN. Như vậy theo lý luận cách mạng không ngừng của Lênin thì cuộc cách mạng XHCN là cuộc cách mạng hợp lôgic, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, làm cho cách mạng dân tộc dân chủ được thực hiện triệt để.

    b. Đặc điểm:

    Nếu như thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu với mọi quốc gia đi lên CNXH. Nhưng nó lại có đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia. Dặc điểm đó xác định nội dung, phương hướng, bước đi, biện pháp của thời kỳ quá độ ở mỗi nước.

    - Đối với VIệt Nam: Cả hai giai đoạn 1954 khi miền Bắc quá độ lên CNXH và từ sau năm 1975 cá nước quá dộ lên CNXH thì đặc điểm là:

    + Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN từ một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp.

    + Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh hậu quả để lại còn nặng nề.

    + Những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều.

    + Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội và nền độc lập của nhân dân ta

    ( Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH- Văn kiện Đại hội Đảng VII- 1991).

    Như vậy, Đặc điểm đặc trưng bao trùm nhất của thời kỳ quá độ ở nước ta là bỏ qua chế độ TBCN. Nhưng bỏ qua chế độ TBCN không phải là phủ định sạch trơn , đêm đói lập CNXH với CNTB, bỏ qua cả những cái "không thể bỏ qua" như đã từng xảy ra ở các nước XHCN trước đây. Quan điểm của Đại hội I X Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: " Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN; Tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dứơi chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và cộng nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại"

    Do vậy bỏ qua chế độ TBCN thưc chất là phát triển theo con đường " rút ngắn" quá trình đi lên CNXH. Nhưng rút ngắn khoong phải là đốt cháy giai đoạn, duy ý chí coi thường quy luật. Trái lại, phải tôn trọng quy luật khách quan và biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, tận dụng thời cơ và khả năng thuận lợi để tìm ra con đường, hình thức, bước đi thích hợp; Phải biết kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được ở CNTB không chỉ về LLSX, mà cả về QHSX, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng ( KTTT) .

    Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường rút ngắn để xây dựng đất nước văn minh, hiện đại. Để thực hiện được con đường đó, trong điều kiện kinh tế lạc hậu, nhưng nước ta vẫn có khả năng và tiền đề để quá dộ lên CNXH, đó là khả năng khách quan và những tiền đề chủ quan ( xem giáo trình T193-194).

    3. Nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

    Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diên xã hội cũ thành xã hội mới. Về kinh tế, những nhiệm vụ cơ bản là:

    a. Phát triển LLSX, coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH

    - Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH theo Lênin, là nền sản xuất đaị cơ khí ở trình độ hiện đại được áp dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân , kể cả trong nông nghiệp.

    - Ngày nay, cơ sỏ vật chất của CNXH phải thể hiện được những thành tựu tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, bởi vì chỉ khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ coa mới tạo được năng suất lao động cao trong toàn bộ nề kinh tế quốc dân...

    - Trong điều kiện của Việt Nam, qúa độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN khi đất nước ta chưa có tiền đề về cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH do CNTB tạo ra. Do đó phát triển lực lượng sản xuất nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH- HĐH) nói riêng trở thành nhiệm vụ trung tâm của suốt thời kỳ quá độ. Nó có tính chất quyết định đối với thắng lợi của CNXH ở Việt Nam.

    - Đồng thời một nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác của phát triển lực lượng sản xuất thực hiện CNH- HĐH là phát triển nguồn lực con người - lực lượng sản xuất cơ bản của đất nước, yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế… Vì vậy phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam. Chính vì vậy, quan điểm của Đảng ta đã thể hiện rõ: coi phát triển giáo dục và đào tao, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của CNH- HĐH, là "quốc sách hàng đầu" trong chiến lược phát triển đất nước.

    b. Xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN

    - Xây dựng quan sản xuất mới XHCN là một việc làm lâu dài, thận trọng không thể nôn nóng, vội vàng, duy ý chí được. Vì vậy xây dựng quan hệ snả xuất mới đinh hướng XHCN ở nước ta phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    + Một là: Quan hệ sản xuất mới được xây dựng phải dựa trên kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất. "Bất kỳ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới".

    + Hai là: Quan hệ sản xuất biểu hiện trên ba mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm, do đó quan hệ sản xuất mới phải được xây dựng một cách đồng bộ trên cả ba mặt đó.

    + Ba là: Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá tính đúng đắn của quan hệ sản xuất mới theo đinh hướng XHCN là ở hiệu quả của nó: thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.
    Đồng thời trong thời kỳ quá độ nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Do đó, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN đồng thời phải tôn trọng và sử dụng lâu dài và hợp lý cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.

    c. Mở rộng và nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế.

    - Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế và sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trở thành tất yếu đối với các quốc gia. Nền kinh tế nước ta không thể khép kín mà tích cực mở rộng và ngày càng nâng cao hiệu qủa quan hệ kinh tế quốc tế.

    + Toàn cầu hóa kinh tế và cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tạo ra những thách thức và nguy cơ cần đề phòng khắc phục; mặt khác, tạo ra cho nước ta những cơ hội thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước theo con đường "rút ngắn". Đó là thu hút được các nguồn vốn từ bên ngoài, tiếp thu được những công nghệ hiện đại, kinh nghiệp quản lý tiên tiến...

    Vì vậy để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế quóc tế phải nâng cao sức cạnh tranh quốc tế, khai thác thị ttrường thế giới, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với các tổ chức và quốc gia trong khu vực và thế giới.

    Tuy nhiên, phải xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa mở rộng kinh tế quóc tế với độc lập tự chủ, bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với tiếp thi tinh hóa văn hóa nhân loại.

    II. Sở hữu về tư liệu sản xuất và thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

    1. Sở hữu tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

    - Sở hữu là một phạm trù kinh tế biểu hiện các quan hệ giã người với người đối với việc chiếm hữu của cải vật chất, trước hết là đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu. Sở hữu tư liệu sản xuất quy định mục đích của sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh, phương thức quản lý, phân phối sản phẩm và cơ chế điều tiết chúng. Mỗi phương thức sản xuất có một hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đặc trưng

    - Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam có 3 loại hình sở huu cơ bản:

    + Sở hữu toàn dân.
    + Sở hữu tập thể.
    + Sở hữu tư nhân.

    Mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức sở hữu ở nhiều mức độ chín muồi khác nhau. Các hình thức sở hữu TLSX tồn tại khách quan, lâu dài, đan xen nhau, từ đó mà hình thành nhiều thành phần kinh tê, nhiều tổ chức liên doanh, liên kết. Trong các hình htức sở hữu nói trên thì sở hữu công hữu những TLSX chủ yếu là nền tảng, là đặc trưng của CNXH.

    2. Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

    a. Tính tất yếu khách quan và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần:

    - Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặt chx với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế. Chúng cùng tồn tại và phát triển như một tổng thể, giữa chúng có quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau

    Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần làđặc trưng trong thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan. Bới vì:

    + Một số thành phần kinh tế của phương thức sản xuất cũ như: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân... để lại chúng đang còn có tác dụng đối với sự phát triển LLSX.

    + Một số thành phần kinh tế mới hình thành trong quá trình cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới như: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước. Các thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khác quan, có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế, trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.

    Sự tồn tại nền nhiều thành phần kinh tế là một hiện tượng khách quan cho nên chúng đều có tác dụng tích cực đói với sự phát triển của LLSX. Những thành phần kinh tế đặc trưng cho PTSX cũ chỉ mất đi khi không còn tác dụng đối với sự phát triển LLSX.

    Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá lên CNXH, suy cho dến cùng là do quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX quy định. Thời kỳ quá độ ở nước ta do trình độ LLSX còn thấp, lại phân bố không đều giữa các ngành, vùng, nên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế.

    - Vai trò của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần:

    Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần không chỉ là tất yếu khách quan, mà còn là động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển LLSX xã hội. Bởi vì:

    - Một là: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, tức là tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với trình độ khác nhau của LLSX. Vì vì vậy nó có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    - Hai là: Nền kinh tế nhiều thành phần làm phong phú và đa dạng các chủ thể kinh tế, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, toạ tiền đề để đẩy mạnh cạnh tranh, khắc phục tình trnạg độc quyền. Điều đó góp phần vào việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân…

    - Ba là: Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước. Đó là những " cầu nối", " trạm trung gian" cần thiết để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên CNXH bỏ qua chế dộ TBCN.

    - Bốn là: Phát triên mạnh cá thành phần kinh tế à cùng với nó là các hình thức sản xuất kinh doanh là một nội dung co bản của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta.

    - Năm là: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đáp ứng được nhiều lợi ích kinh tế cảu các giai cấp tầng lớp xã hội, có tác dụng khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng của đất nước: như sức lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý… Đồng thời cho phép khai thác kinh nghiệm tổ chức quản lý và khoa học, công nghệ mới trên thế giới

    b. Cơ cấu các thành phân kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH:

    - Trên cơ sở nguyên lý ba thành phần kinh tế chủ yếu mà Lênin đã chỉ ra trong thời kỳ quá độ: kinh tế XHCN, kinh tế cuả những người sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân tùy hoàn cảnh cụ thể mà xác định cơ cấu thành phần cho phù hợp.

    - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã xác định có 5 thành phần:

    + Kinh tế Nhà nước
    + Kinh tế tập thể
    + Kinh tế tư nhân ( cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân)
    + Kinh tế tư bản Nhà nước
    + Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    Nội dung, vai trò của các thành phần kinh tế như sau

    * Kinh tế Nhà nước

    Kinh tế Nhà nước dựa trên chế độ ở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất. Kinh tế Nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nước...

    Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò được thể hiện:

    Một là: Các doanh nghiệp Nhà nước giữ những vị trí then chốt ở những ngành, những lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng. Đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ,nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật.

    Hai là: Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế, đồng thời nó hỗ trợ va lôi cuốn các thành phân kinh tế khác cùng phát triển theo đinh hướng XHCN.

    Ba là: Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

    * Kinh tế tập thể:

    Kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên hình thức sở hữu tập thể và sở hữu của các thành viên. Hợp tác xã được hình thành trên cơ sở đóng góp cổ phần và tham gia lao động trực tiếp của xã viên. Phân phối theo kết quả lao động,theo vốn góp, mức độ tham gia dịch vụ. Tổ chức và họat động của HTX theo nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Nhà nước giúp đỡ HTX đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng thị trường...

    * Kinh tế tư nhân: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

    Thành phần kinh tế tư nhân bao gồm:

    - Kinh tế cá thể tiểu chủ:
    - Kinh tế tư bản tư nhân:

    Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta thành phần này còn có vai trò đáng kể để phát triển lực lượng sản xuất. Vì vậy nhà nước khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm. Đồng thời tạo môi trường pháp lý thuận lợi để nó hoạt động có hiệu quả.

    * Kinh tế tư bản nhà nước:

    Kinh tế tư bản nhà nước dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước dưới hình thức hợp tác liên doanh. Thành phần kinh tê này có vai trò đáng kể trong giải quyết việc làm và tăng trưởng kinh tế. Sự tồn tại thành phần kinh tế này là rất cần thiết, cần phát triển mạnh mẽ nó trong thời kỳ quá độ ở nước ta.

    * Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    c. Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế và định hướng XHCN của nền kinh tế nhiều thành phần.

    - Mối quan hệ: Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập mà đan xen vào nhau, tác động qua lại với nhau, mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và biểu hiện lợi ích của một giai cấp, tầng lớp xã hôi nhất định. Vì vậy, các thành phần kinh tế vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau:

    + Tính thống nhất:

    Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận của nền kinh tế nằm trong hệ thống phân công xã hội có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Các thành phần kinh tế đều hoạt động trong một môi trường thống nhất (các chính sách, pháp luật và sự quản lý vĩ mô của nhà nước...) đều là nội lực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    Sự thống nhất không phải tự nhiên mà có mà phải trải qua hợp tác và đấu tranh, đấu tranh để hợp tác tốt hơn.

    + Mâu thuẫn: Các thành phần kinh tế mang bản chất kinh tế và quan hệ kinh tế khác nhau biểu hiện lợi ích kinh tế khác nhau, xu hướng vận động khác nhau. Hơn nữa trong bản thân mỗi thành phần kinh tế cũng lại có những mâu thuẫn (do sự vi phạm hợp đồng, lợi ích cục bộ, vi phạm bản quyền...) Những mâu thuẫn của nền kinh tế nhiều thành phần chỉ được giải quyết dần dần trong quá trình xã hội hhóa sản xuất theo định hướng XHCN.

    - Định hướng XHCN nền kinh tế nhiều thành phần:

    Để định hướng XHCN nền kinh tế nhiều thành phần cần phải:

    + Làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và nó cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế.

    + Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khai thác tối đa các nguôn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

    + Thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; thừa nhận thuê mướn lao động nhưng không để nó trở thành quan hệ thống trị.

    + Tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nước; phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, không để chênh lệch quá lớn về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư; kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội trong từng bước phát triển.

    tại sao chúng ta lại chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ