Đăng nhập

MY SCHOOL - NGUYỄN BÁ TÒNG GĐ

Trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng

" Nửa Chừng Xuân " .... "Nguyễn Bá Tòng "
Lê Trân Đức - Tạp Ghi
Tại sao lại có những ngoặc kép lạ kỳ ở đề bài vậy? Dĩ nhiên chúng ta sẵn sàng tìm giải đáp cho câu hỏi này 
Ta hãy khởi đi từ email của giáo sư Trần Năng Phùng. Tình cờ thầy đã mở Website- danchimviet. com và đọc bài chuyện kể “Một Chuyến Đi V của một nữ sinh nói về trường Nguyễn như sau: “Một lần đi xích lô tình cờ qua trường Trung học Bùi Thị Xuân, tôi ngỡ ngàng liệu có phải đúng là Bùi Thị Xuân, là  Nguyễn Bá Tòng cũ của tôi ngày xưa không, hay còn một Bùi Thị Xuân nào khác?... Giờ tan học, cổng trường phải có đến hàng ngàn xe gắn máy của cha mẹ đang chờ để vào đón con em. Nhìn sâu qua cánh cổng mở, tôi mới nhận ra dẫy lan can sơn vàng [thuở nào]. Đúng là trường của tôi ngày xưa đây rồi. Tôi ngậm ngùi khi đã không còn thấy những ”vòng xe đạp” trên đường Sương Nguyệt Anh vắng vẻ, rồi rẽ vào Bùi Thị Xuân của chúng tôi ngày xưa”.
Không ngậm ngùi sao được khi người nữ sinh ấy đâu có tìm lại được hình ảnh của chính mình hay của nhóm nữ sinh “nhi nhô” Trung học Nguyễn Bá Tòng SG dạo nào, tà áo dài trắng thướt tha, đi tung tăng trên đường Sương Nguyệt Anh vắng vẻ, con lộ nhỏ với hai hàng cây sao lá đổ, kéo dài từ chiếc Công viên Tao Đàn mà có một thời thị dân 
của “Hòn Ngọc Viễn Đông” gọi là Vườn Ông Thượng. 

Áo trắng bay, em thong thả đến trường
Qua con lộ dài vắng vẻ dễ thương
Là cửa rộng đón chân chim ríu rít
Kiều Giang- Nhớ Trường

Nhưng cũng còn ngỡ ngàng hơn nữa vì không hiểu tại sao ngày hôm nay các nam nữ sinh cũng trong ngôi trường đồ xộ xưa kia đã chẳng hề có nếp sống dân dã như là mình ngày đó. Sao mà quên được quang cảnh như thế này!
Tan buổi học hồi chuông reo mê mải
Cảnh đón đưa bao áo trắng tan trường 
Có bao người đứng ngẩn ngơ ở mọi phương
Khẽ liếc thầy và cúi đầu cười nụ.
Kiều Giang- Nhớ Trường

Đa tạ người nữ sinh trên danchimviet.com đã đem về cho những người viễn xứ cái hình ảnh trân quý của “chiếc lan can sơn mầu vàng” của trường Nguyễn thân yêu vào những năm tháng do các linh mục điều hành, hiệu trưởng là cha Đỗ Đình Tiệm và giám học là cha Vũ Viết Hà - cả hai linh mục thật đặc biệt: Cha Tiệm, một vị giáo sư Toán cừ khôi; cha Hà ngoài năng khiếu về sinh ngữ mà cũng trổi vượt về khoa học ngày xưa (trong những năm của thập niên 50) ở thế kỷ XX - giáo sư Vũ Viết Hà đã từng giảng dạy Lý Hoá tại Trung học Hồ Ngọc Cẩn, Trung Linh, Nam Định, Bắc Việt. Xin đọc cuốn ký “Tản Mạn Trung học Hồ Ngọc Cẩn, Ngôi Trường Ba Mươi Năm.” Đó là một ngoặc kép “Nguyễn Bá Tòng.”
Thêm một ngoặc kép “Nguyễn Bá Tòng” nữa, do tác giả Áng Mây Chiều, một giáo sư trường Nguyễn những năm 70 ở Thế kỷ XX, vừa post trên Internet:“Năm 1972, trường được tách thành hai trường - nam tại đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định và nữ tại đường Bùi Thị Xuân, Sài gòn, với 7500 nữ sinh.” Bởi vì không còn nam sinh học tại trường bên Sài Gòn, ban giám thị cũng như Văn phòng nhà trường đều do các nữ tu Mân Côi đảm nhiệm. Thầy Bùi Ngọc…Thiệp đã kể lại: “Nam giới trong trường là các linh mục trong ban giám đốc và các giáo sư giảng dạy trong các lớp” mà tổng số “là hơn sáu ngàn nữ sinh.” Sự phân chia có mục đích làm cho việc điều hành trường được dễ dàng hơn mà vẫn bảo đảm được đường lối giáo dục duy nhất và nhất quán: “Trước năm 1975, điều đáng ghi nhớ là ngoài chương trình học [văn hóa], nhà trường rất chú trọng về đức dục. Mỗi tuần một lần, khi nghe tiếng chuông điện reo lên, sau đó là tiếng loa phát ra trong từng lớp học: ‘Kính thưa quí vị giáo sư, xin quí vị ngưng giảng bài, cho phép các em học sinh bỏ bút xuống, im lặng để nghe bài giáo dục trong tuần...’ Bài giáo dục trong tuần thường là một câu truyện ngắn hay ngụ ngôn với những nhận xét giúp học sinh thành người lịch sự và có trách nhiệm. Đầu mỗi buổi học học sinh đọc lời tâm niệm.” (Trần Năng Phùng).

Bổ sung cho đường lối giáo dục “Học Làm Người” trên đây, nhà trường có thêm nhiều sáng kiến tổ chức ra những cuộc vui chơi tại trường như Ngày Giỗ Tổ hàng năm với nhiều “gian hàng hội chợ” trưng bày những sản phẩm đặc biệt, những món ăn chọn lọc và kèm theo nhiều màn văn nghệ; cũng có những buổi liên hoan nho nhỏ giữa thày và trò vào ngày gần Tết Nguyên Đán hay trước khi nghỉ hè. 
Các hoạt động ngoài trời cũng được trường quan tâm như các buổi du khảo ra khỏi thành phố hoặc tham gia công tác xã hội giúp đỡ nạn nhân bão lụt miền Trung hay xây dựng nhà ở cho nạn nhân chiến cuộc Đô Thành (thành Ôma Ngã Bảy Chợ Lớn, chẳng hạn). Công tác định kỳ không ai có thể quên được cuốn kỷ yếu hình ảnh thực hiện ở cuối mỗi năm học và những nỗ lực xuất bản nhiều sách giáo khoa; đặc biệt giúp ấn hành tập nguyệt san NBT với kỹ thuật Roneo và khổ báo bằng nửa tờ giấy pelure, bìa khi thì mầu xanh khi thì mầu dưa cải, mà thầy Quyên Di và thày Thạch Thủ… chủ trương cùng sự cộng tác của các tay viết học trò “cây nhà lá vườn” trường Nguyễn. Hoạt động tôn giáo chủ yếu “Tổ Chức Thanh Sinh Công NBT” vẫn hội họp hàng tuần do các cha tuyên uý là Vũ Khoa Cử (?) hay Hoàng Đức Thịnh (ngài đã qua đời cuối năm 2008). 

Ngoài ra, các linh mục trong trường thường “dâng lễ misa” buổi sáng tại một nguyện đường riêng trong khu nhà trường. Vì thế sau năm 1975, những nguyện đường đã là giáo xứ riêng, ví dụ tại đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định, Giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm vốn là một nguyện đường, ở bên trường Cấp III Hoàng Hoa Thám thuộc Quận Bình Thạnh (hậu thân của THTT Nguyễn Bá Tòng, Gia Định). Trường thu nhận nhiều học sinh của một trường bị giải thể Trung học Công Lập Hồ Ngọc Cẩn (là Trung học Hồ Ngọc Cẩn Trung Linh BV di vào miền Nam1954). Do chính quyền C.S. áp đặt, cả nội dung lẫn hình thức giáo dục mới chủ trương rất khác biệt với những gì Nguyễn Bá Tòng thực hiện nhiều năm, có thể coi như là đảo ngược hẳn lại. Ngày nay ai cũng phải công nhận sự áp đặt đó đã làm nền giáo dục đất nước này phá sản. Sau tháng 5 năm 1975, dù trường sở có khá hơn vì sự tịch thu những cơ sở tốt và đẹp đẽ ở miền Nam hoặc mới được xây dựng do các cơ quan từ thiện quốc tế tài trợ trong khi giới hữu trách chẳng làm gì đáng kể mà cải tiến để nâng cao chất lượng khiến cho Cơ quan UNESCO quốc tế phải phê phán. “Nguyễn Bá Tòng” ngoặc kép này là của chúng ta - tất cả mọi thành phần thuộc cựu học sinh, các giáo sư, các Ban Giám thị và các Ban Giám đốc trường Nguyễn liên tiếp nhau trong 20 năm của Hậu bán Thế kỷ XX.
Do đó nhiều người rất lấy làm tiếc lý tưởng giáo dục trường Nguyễn Bá Tòng theo đuổi, nay rơi vào trạng thái gẫy đổ lưng chừng vì bị gạt bỏ. Những lúc gọi là “trà lưu tửu hậu” một số anh em từng dậy ở tại Nguyễn Bá Tòng thường than vãn về số phận của trường là “nửa chừng xuân”…, một trạng thái xuất phát từ câu thơ “nửa chừng thoát đã gẫy cánh thiên hương”mô tả sự cắt ngắn đời người bất ngờ của một kỹ nữ Đạm Tiên trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Ngôn từ này được truyền miệng trong giới học đường sau cuộc di cư năm 1954 của người miền Bắc đi vào miền Nam Việt Nam cho mãi về sau. 

Năm 2000 cũng là năm khởi đầu Thế kỷ XXI, người viết trở lại Sài Gòn và vẫn đến dùng bữa trưa giá cả tương đối rẻ tại cửa hàng cơm Việt Nam nằm trên đường Trần Văn Tùng, góc Sương Nguyệt Anh. Sau bữa ăn, như là một học sinh của ngày trường ra đồng thời là thành phần giảng dậy tại Trung học Nguyễn Bá Tòng ngày cuối cùng, người viết thả bộ tìm lối cũ nhìn xem cái “nửa chừng xuân” của trường xưa. Băng qua ngã tư, bộ hành đụng ngay vỉa hè của phố Trần Văn Tùng tức là phố Bùi Chu trước kia nhưng bước chân không còn cảm thấy gì lạ như lời nhà văn Bình Nguyên Lộc ghi trong truyện ngắn Hui Nhị Tì của ông:“Đi trên vỉa hè phố Bùi Chu đến góc đường Bùi Chu - Bùi Thị Xuân bạn bỗng nghe một cảm giác là lạ dưới chân. Vỉa hè đất bằng phẳng bỗng gập ghềnh và làm cho tiếng giầy của bạn vang lên. Nhìn xuống bạn mới nhận ra dấu vết của một mả vôi trám cả bề rộng khá lớn của vỉa hè….…” Đứng lại đây mà nhìn qua phía đối diện sẽ nhận ra ngôi nhà lầu gỗ mà Kiều Giang đã ghi nhận qua trí nhớ:

Lầu cũ thân quen tiếng cười đan kín
Lối đi mòn lát gạch đỏ, giậu thưa
Và còn thương, em nói mấy cho vừa
Dì giám thị luôn bao dung thân ái.


Kiều Giang- Nhớ Trường

Dấn bước “vượt ngang mặt” Trần Văn Tùng rồi ngước nhìn lên, mắt sẽ đụng ngay Bảo Sanh Viện SHIPP (chủ nhân Thuỵ Sĩ) cao 4 tầng, trước kia là nhà in Nguyễn Bá Tòng. Bước rẽ sang bên phải rồi đi dọc theo đường Bùi Thị Xuận rồi dừng chân lại trước chiếc cổng sắt sơn mầu xanh:

     
 

Cổng sắt xanh ngậm nỗi buồn sao xuyến
Thầy Cô đã vắng tiếng đâu rồi.


Kiều Giang- Nhớ Trường

“Người xưa” đã đứng tần ngần khá lâu trước cổng sắt đang đóng chặt mà hãy còn giữ màu màu xanh ở ngày nào. Hình như có tiếng rít lên “két, két…” tiếp theo là âm thanh của một cánh cửa sắt bị đóng sập lại. Âm thanh quen thuộc từng làm rạo rực người học sinh vì đó là dấu hiệu buổi học sắp tàn. Thì ra “cái ảo tưởng ấy đã sống với mình” hàng mấy chục năm rồi, từ hồi Trung học Tư Thục Nguyễn Bá Tòng mở ra niên khoá đầu tiên 1956-1957 tại địa chỉ mang số 63 đường Bùi Thị Xuân. Con số 63 này quả thực có định mệnh “sống dai” trong khi nơi đây đã có biết bao đổi thay. Từ một “nửa chừng xuân” cốt cách của nhà trường- đường lối giáo dục - đã chẳng còn tồn tại, một “nửa chừng xuân” của vỏ bên ngoài trường đã bị chia tam sẻ tứ lung tung: đây là Trụ sở của một cơ sở tôn giáo mang số nhà 1B, nằm kế Bảo Sanh Viện SHIPP và chỗ kia lại là phân nhánh của Đại học Ngoại Ngữ Thành Phố. Ngẫu nhiên phần chính giữa là trường Trung học Cấp III Bùi Thị Xuân, chiếm ngự ngay tòa nhà ba tầng xây năm1956 và là Trung học Tư Thục Đệ Nhị Cấp Nguyễn Bá Tòng. Lạ thay! Vị trí nằm ngay ở giữa khoảng của chiều dài đường Bùi Thị Xuân, từ đường Cống Quỳnh cho tới Đại lộ Cách Mạng Tháng Tám bây giờ. Thật là buồn cười: Nguyễn Bá Tòng đã nằm lưng chừng trênmột con đường tên Xuân - nửa chừng xuân là như vậy. 

Bởi thế chính toà nhà ba tầng liên hê tới đề bài “NỬA CHỪNG XUÂN”… “Nguyễn Bá Tòng”. Phim Nửa Chừng Xuân mà một phân đoạn quay tại Nguyễn Bá Tòng có nghiệp dĩ giống như “cuộc tình giữa cô Mai và ông phán Lộc trong truyện Nửa Chừng Xuân ra đời 1934 của nhà văn Khái Hưng, nhóm Tự Lưc Văn Đoàn. Mãi tới cuối thế kỷ XX, năm 1992 (?), một tạp chí văn nghệ hải ngoại (người viết đã quên tên!) đã nhắc tới cuốn phim ấy nhưng không nói lý do nào không trình làng. Vì vậy phim này được gọi tên “Nửa Chừng Xuân …Nguyễn Bá Tòng.” để minh xác và đồng thời ghi nhận chi tiết: học sinh Nguyễn Văn Thuần đang học lớp Đệ Tam C 2 (buổi chiều) Nguyễn Bá Tòng, đóng vai em Huy trong phân đoạn “Chị em cô Mai và cậu Huy gặp nhau tại trường nội trú”và đã được quay phim vào một sáng Chủ Nhật nọ (Nov., 1956). Xin ghi ra một trích đoạn tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân được dùng đối thoại trong phim:

Cô thiếu nữ liền đánh bạo lại gần người canh cổng rồi nói se sẽ: 
-Thưa thầy, tôi muốn xin phép cho em tôi ra. 
Bác canh cổng gắt: 
-Sao ban nãy tôi hỏi lại báo không có việc gì? Vậy vào nhà ông phó đốc kia kìa. Mau lên! Sắp hết giờ rồi. 

Cô thiếu nữ mừng quýnh, hấp tấp chạy tới chỗ người canh cổng vừa trỏ. Trong phòng khách không còn ai. Cô nhìn ngắm những tranh vẽ treo trên tường. Cô giật mình quay đầu lại, vì vừa nghe tiếng giày ở sau lưng. Một người thư ký hất hàm hỏi: 
- Đến có việc gì? 
Cô cất giọng run run, sẽ đáp lại: 
- Bẩm thầu, tôi đến xin phép cho em Huy. 
- Cậu Huy học lớp nào? 
- Bẩm năm thứ ba. 
- Cô là ai? 
- Bẩm thầy tôi là, Dương thị Mai. 

Thầy thư ký mỉm cười: 
- Không, tôi không cần biết tên tuổi cô, tôi chỉ hỏi cô là bà con gì với cậu Huy mà đến xin phép cho cậu ấy? 
- Bẩm thầy, tôi là chị. 
- Vậy cô vào đây. 

Thầy thư ký đưa Mai vào buồng bên cạnh trỏ ghế bảo ngồi đợi. Ông phó đốc đương viết ở bàn giấy, nghe tiếng thì thao liền ngẩng đẩu lên hỏi thầy thư kí. Mai đứng đăm đăm nhìn hai người nói chuyện nhỏ với nhau bằng tiếng Pháp, trong lòng chỉ ngay ngáy không xin phép được. Bỗng thấy thầy ký gọi Mai lại bảo: 
- Quan phó đốc truyền đáng lẽ Dưong Huy bị đuổi rồi vì chưa trả tiền ăn tháng giêng và tháng hai, tuy đã gửi hai lần giấy đòi, nhưng quan lớn thương Huy là học trò giỏi trong lớp nên còn dung thứ chọ Vậy thế nào từ nay đến cuối tháng cũng phải đem nộp tiền đến trả. 
Mai ấp úng: 
- Bẩm quan lớn thương tình chúng con mồ côi cha mẹ. 
- Nhà nước đã miễn cho học phí còn kêu gì nữa! Vậy cô có đem tiền ăn nộp cho cậu Huy đấy không. 
- Bẩm quan lớn con xin khất đến cuối tháng. 
- Ấy, sai hẹn thì em cô thể nào cũng bị đuổi đấy nhé, hiểu chưa? 
- Xin vâng. 
- Thế bây giờ cô xin phép cho cậu Huy ra chứ? 
- Vâng. 
- Sao người thay mặt cha mẹ cậu Huy không đến? 

Mai lo sợ, run lập cập không nói ra lời. Ông phó đốc trông thấy, lấy làm thương hại, bảo thầy thư ký: 
- Thôi, cho phép người ta. 
Thầy thư ký liền quay lại bảo Mai: 
- Quan lớn cho phép đấy. 

Mai mừng chảy nước mắt, chấp tay vái dài, rồi theo thầy thư ký ra phòng khách. Thầy ra sân báo một anh thợ giấy tìm Dương Huy. 

Mười phút sau, môt cậu trẻ tuổi vào phòng, y phục và tướng mạo từa tựa giống Mai. Nhất là cặp mắt sáng quắc của hai người thực hệt như đúc, khiến ai mới thoạt trông cũng biết ngay hai người thiếu niên ấy là chị em ruột. Gặp chị Huy mừng quýnh vội kêu:
- Chị! 
Mai cũng chạy lại: 
- Em! 
Rồi hai người đứng sững như nghẹn lời, hai cặp mắt nhìn nhau, nhỏ lệ. Huy cười gượng bảo chị. 
- Xa xôi thế mà chị cũng về thăm em được. 
- Chị về... 

Mai chỉ ứa hai đòng nước mắt không nói nên lời. Huy an ủi chị: 
- Chị chả nên buồn, ở trên đời em có chị, chị có em, không đủ vui sao? 
Mai mỉm cười: 
- Không, chị có buồn đâu, chị gặp em, chị mừng quá, chị sung sướng quá. Chị về xin phép cho em ra chơi nhà bác... 
Mai nói luôn như để giấu sự cảm động, giấu sự ưu phiền: 
- Vậy em đi thay quần áo để ra phố với chị. 
- Chị đã... 
Huy không dám nói dứt câu. Nhưng Mai trả lời luôn, như đoán được tư tưởng của em: 
- Đã, chị nộp tiền ăn cho em rồi.

 
 

Lời lẽ đoạn văn trên đây cho thấy phân đoạn có những hình ảnh bi thảm và điệu bộ hai vai Mai và Huy cần phải u sầu rầu rĩ và cũng cần có cả nước mắt nữa. Hôm đoàn phim tới làm việc, quang cảnh trường thật yên tĩnh vì một số các bộ môn thể thao không có thi đấu hay tập dợt hàng tuần mà đi đến mấy trường khác tranh tài. Các đội tuyển Nguyễn Bá Tòng tuy mới thành lập mà cũng đã làm cho đội tuyển các trường khác dè chừng khiến cho giáo sư cố vấn thể dục thể thao Diễm Châu ngày thêm phấn khởi và đẩy cha HT Lãm bỏ thêm công sức lo cho các đội. Trong khi quay phim này, hầu hết các vai phụ diễn xuất suông sẻ nhưng mà cảnh cậu Huy (Thuần) và chị Mai (chị Ba của Thuần) gặp nhau trong văn phòng quan đốc trường, đạo diễn đã đòi diễn đi diễn lại mấy lần. Dẫu vậy, sau lần thứ ba ông thấy vừa ý nhưng vẫn đòi toàn đoàn cùng diễn xuất lại một lần nữa và lần nàyviên phụ tá phải nhỏ vài giọt thuốc đau mắt vào mắt cho hai diễn viên chánh hầu để tả đúng cảnh hai chị em Mai–Huy bịn rịn nhau và nức nở từ biệt như trong bản văn của Khái Hưng.

Chiều hôm sau, Thứ Hai, bọn học sinh Đệ Tam chúng tôi bu quanh Nguyễn Văn Thuần hỏi thăm về buổi quay phim và vài người trong bọn chúng tôi có mặt sáng hôm qua ở sân quay nhái những điệu bộ “cậu Huy em cô Mai” trong văn phòng quan đốc. Thuần có hơi ngượng một chút nhưng vẫn mỉm miệng “cười trừ”và đôi má ửng hồng, hai tay vuốt đi vuốt lại cặp kính cận vừa lấy ra khỏi bộ mặt. Bỗng cảm thấy có bàn tay nào đó vừa chạm vào vai mình, Thuần quay lại mà gỡ bàn tay trên vai và mở miệng chào:
- A! anh Tiệm. Hình như anh nghỉ hai giờ đầu. 
- Mệt quá! Bây giờ khá hơn. Nghe nói sáng hôm qua “cậu Huy” của Nửa Chừng Xuân đã khóc quá trời! Cậu vậy mà cũng ướt quá. Tôi vẫn thấy cậu “khô” lắm. Không ngờ!
- Anh Tiệm ơi! Nội dung phân đoạn đòi mình phải khóc nhưng không làm sao khóc được. “me sừ” đạo diễn bắt diễn xuất đến ba lần và sau cùng phải nhỏ thuốc đau mắt.
- Đúng là giải pháp! Thuần bây giờ là tài tử xi nê! Cậu có biết không? Bọn này đã từng đóng phim ở Trung Linh năm 1953. Cha Kuntz là người Bỉ quay một phim làm kỷ niệm cho Tiểu Chủng Viện của mình. Tuy nhiên, VM đã bắt cóc cha vào cuối Xuân 1953 và đã lấy cuốn phim nhựa để trong phòng ngủ. Do đó tên cuốn phim đã là cuốn “Lưng Chừng… Xuân” đó! 
- Vậy …? Phim Thuần đóng là “Nửa Chừng Xuân”dựa vào tiểu thuyết của Khái Hưng! - Nguyễn Văn Thuần cười theo bạn cùng lớp trong khi chuông hiệu vào lớp reo lên…

Mới đây, nhà phê bình Vương Trùng Dương tại Mỹ đã nêu lên lý tưởng của Khái Hưng bàng bạc ở trong các tác phẩm của nhà văn, kể cả Nửa Chùng Xuân nói ở đây: “ Nhà giáo, nhà báo, nhà văn, nhà cách mạng chân chính …luôn luôn mang tâm hồn nhân bản để xây dựng cái hay cái đẹp, nhân cách con người, giá trị đạo đức trong từng cá nhân, gia đình và xã hội” . Lý tưởng của Khái Hưng nào khác đường lối giáo dục hằng được cống hiến cho các học sinh Trung học Nguyễn Bá Tòng chúng ta. Vào đầu Thế kỳ XXI những tác phẩm của Khái Hưng, của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đã được tái bản trong nước dù nhà cầm quyền không đồng tình nhưng đã tỏ ra dễ dãi vì muốn từ bỏ đường lối bạo tàn ngày trước của những kẽ “đã nhẫn tâm thủ tiêu cây bút đầy lòng nhân bản đang dấn thân cho nghiệp dĩ!” Viết lại một vài chi tiết về một cuốn phim được đặt lại là “Nửa Chừng Xuân …Nguyễn Bá Tòng” hẳn có mục đích giới thiệu cuốn phim Nửa Chừng Xuân dù không được trình chiếu ra thị trường nhưng vẫn là một kỷ niệm thuộc kho tàng của những di sản hiếm quý một thời Trunghọc Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn. Hy vọng đường lối giáo dục trường Nguyễn sẽ được cống hiến trở lại cho các thế hệ mai sau, tương tự những tác phẩm của Khái Hưng và Tự Lực Văn Đoàn được trở lại với dân Việt. Học sinh tên Tiệm nêu ra trong bài này chính là Giám Mục Hoàng Văn Tiệm nay đang làm công tác tôn giáo trong tỉnh Nam Định, vùng đất mà nhà văn Khái Hưng đã bị thủ tiêu và cũng là quê hương các cha đã từng là hiệu trưởng, là giám học, và nhiều giáo sư giảng dậy tại Trung học Nguyễn Bá Tòng. 

Little Sài Gòn, California. Mùa Xuân Kỷ Sửu. 
Lê Trần Đức

 
     
     
 

 
 
 
 
 
 

Lịch Sử trường Nguyễn Bá Tòng

Được thành lập năm 1956, mang tên vị Giám mục tiên khởi của Công Giáo Việt Nam có sự trợ giúp đặc biệt của cơ quan  Caritas Germanica Đức Quốc, cơ quan NCWC, Công Giáo Hoa Kỳ. Trường toạ lạc tại số 73-75 đường Bùi Thị Xuân, quận 1 Sài Gòn. Trường có nhiều cấp lớp từ đệ thất đến đệ nhất đủ các môn A, B, A đặt dưới quyền đìều khiển của 8 vị linh mục cùng với sự giáo dục của 160 vị giáo sư, 30 nhân viên văn phòng ( ghi nhận vào năm 1963). Là một trung học tư thục nhưng trường được đánh gíá cao trong việc giáo dục, uy tín nhất thủ đô.

 
Một ngày về thăm lại KHUNG TRỜI NGUYỄN BÁ-TÒNG GĐ.....bức tường ngăn cách Ngôi trường Xưa
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Lời tâm niệm của học sinh Nguyễn Bá Tòng

Lạy Chúa Xin cho chúng con biết chăm chỉ học hành, rèn luyện tư cách chúng con, trau dồi tâm hồn chúng con bằng những đức tính tốt để chúng con có đủ khả năng giúp ích cho chính bản thân, cho gia đình, và cho Tổ Quốc chúng con. Amen.

 
 
 

 

Quê Hương Gởi Lại

 

Tôn Nữ Tê Tê :)

 
 

 
 
 

Xin cúi đầu tạ ơn các Thầy Cô đã cho chúng em những
vốn liếng kiến thức làm hành trang cho đoạn đưòng đời.
Riêng tặng các bạn lớp 10B4-NBT, niên khóa 75-76.

 

 
 
  Đã từ bao giờ ta ra đi,
Bỏ lại sau lưng có những gì?
Quê mẹ thân yêu và bè bạn,
Để khi nhớ đến lệ hòa chan.

Ta vẫn còn thương lũ chúng mình,
Tay còn ôm sách vở trắng tinh
Học chăm, phá giỏi, thầy cô khiếp.
“Nhất quĩ, nhì ma, đến chúng mình”

Ghi mãi trong ta những bóng hình.
Cô Thầy với cả sự hy sinh.
Đem đời dâng hiến cho lũ trẻ
Để chúng mai sau dựng nước mình.
 
 
 
 
 
  Ta vẫn chưa quên Nguyễn Bá Tòng,
Với hàng phượng vỹ đỏ thắm sân
Với “Mười Bê Bối”, thời vang bóng
Nay có còn không hỡi cố nhân?

Ta vẫn còn thương những con đường,
Với hàng cây đứng tắm nắng sương.
Với khung cảnh đượm tình quê mẹ,
Nơi ta lớn lên trong yêu thương.

Nhưng hỡi bạn ơi có biết không?
Môt sáng tinh sương tôi lên đường.
Theo cha, quê mẹ thôi bỏ lại.
 
 
 
 
 
  Hôm nay dĩ vãng bỗng quay về.
Cho hồn trĩu nặng, bỗng lê thê.
Cho tôi thấy nhớ về quê cũ
Cho đôi lời theo nhạn xuôi nam

Nhạn hỡi, này cho ta nhắn hỏi,
Bạn ta còn cắp sách đến trường?
Thầy cô có còn đi “bán phổi”?
Và lớp học xưa, những con đường?

Nhắn rằng ta chẳng quên ai hết.
Và vẫn ngóng trông buổi trở về.
Cho đời tiếp nối như bài nhạc.
Nhắn bấy nhiêu thôi, nhạn nhớ không?
 
 
 
 
 
  Rồi từ đó ta trông tin nhạn.
Nhưng sao ngươi đi chẳng trở về.
Nên ta mượn lời Thanh Quan để,
Than với trời, đất, nước, gió, mây.

“Nhớ nước, đau lòng tôi biết mấy.
Thương nhà, như xé ruột bao nhiêu.
Nhìn quanh tự hỏi, trời ai đấy,
Sao nỡ dìm ta trong cô liêu”?
 
 
 

 

http://www.pbase.com/phuoc_2003/ky_yeu&page=all

Một thời để nhớ

Phạm Quốc Bảo

Tôi còn nhớ, lần đầu tiên biết đến trường Nguyễn Bá Tòng là lúc tôi tới dạy thế cho một nguời bạn. Tôi đi đôi săng đan, mặc áo popeline trắng quần dài xanh đen, và cưỡi chiếc Vélo Solex chạy thẳng qua cổng chính vào sân truờng. Truớc hàng hàng lớp lớp xe đạp xe gắn máy đậu những dọc dài, tôi còn đang lớ ngớ ngơ ngác, không biết xếp chiếc vélô của mình vào chỗ nào thì nghe ở đâu một giọng nói lớn:

-Này anh kia! Đem để xe vào góc đấy!

Nhìn ngang tôi thấy một ông linh mục mặc áo choàng đen phục phịch từ đâu đó bước ra và  đang đi đến gần (sau này tôi mới biết đó là linh mục Công, tổng giám thị truờng). Mặc dù không có vẻ gì gay gắt lắm  nhưng cái khuôn mặt to tròn, tóc hớt ngắn và ngăm ngăm đen của vị này đủ khiến tôi bất giác phải nể. Tôi đã líu ríu tuân theo ngón tay chỉ bảo của ông, rồi bước vào văn phòng “trình diện”.

Sau một vài thủ tục giới thiệu, linh mục Hà giám học, khổ nguời tầm thuớc trắng trẻo và nho nhã, dẫn tôi lên nhận lớp dạy thế, trên lầu một của dẫy toà nhà song song với cổng chính. Cử chỉ và thái độ hướng dẫn của vị này cho tôi đoán biết rằng ngoài nội dung giới thiệu của lá thư bạn tôi gửi, ông vẫn chưa có gì cụ thể để có thể tin tưởng ngay vào khả năng dạy dỗ của tôi, nhưng tôi cứ điềm nhiên như không.

Quả vậy: Khi ông vào lớp, lớp toàn nữ sinh đều nghiêm chỉnh đứng lên chào. Ông nói vài câu giới thiệu tôi với cả lớp, xong đi ra và nép vào bên ngoài khung cửa lớp lắng nghe,  quan sát. Thái độ cẩn trọng mà kín đáo ấy của ông đã khiến nẩy sinh trong lòng tôi lúc ấy niềm quí trọng về tư cách của một vị tu sĩ  đã chọn ngành giáo dục để phục vụ, mặc dù đấy là lần đầu giao tiếp. Độ mươi mười lăm phút sau, khi nhận thấy lớp yên ắng qua phong thái ổn định giảng dạy của tôi, linh mục Hà mới lặng lẽ rời đi…

Mấy giờ dạy xong, tôi xuống lấy xe, cha Công cười cuời:

-Hồi nãy tôi lại cứ tửơng thầy là học sinh mới vào học chứ! Xin lỗi. Lần sau thầy cứ để xe ở cái khu dành cho giáo sư đằng kia nhá.

Sở dĩ tôi có một  thái độ tự tin trong tư thế giảng bài như vậy là bởi vì ít nhất có hai nguyên nhân: Truớc khi đến dạy tại Nguyễn Bá Tòng, tôi đã đuợc hành nghề ở nhiều truờng tư thục khác rồi. Những trường khác như Phan Sào Nam, Trường Sơn, Hưng Đạo (SàiGòn)… như  Lê Bảo Tịnh, Saint Thomas, Thủ Khoa, Tân Khoa (Gia Định)… thì phải thú thật là hầu hết không có đuợc nhiều ưu điểm như Nguyễn Bá Tòng thời ấy. Nghĩa là những lớp đệ nhị cấp (bây giờ gọi là các lớp 10, 11, 12), nhất là những lớp mà cuối năm học sinh phải trải qua một kỳ thi, thì thường ít thuê đuợc giáo sư có đủ tiêu chuẩn và sĩ số học sinh thuờng quá năm sáu chục, hỗn độn nam lẫn nữ sinh, thiếu hẳn đi yếu tố kỷ luật trật tự tối thiểu. Nhờ cái bầu không khí giao tiếp từ mấy giờ dạy thế cho bạn này nên sau đó, tôi hài lòng khi có dịp trở lại dạy ở Nguyễn Bá Tòng, cùng với những thân hữu đã học chung thời Văn Khoa Sàigòn của tôi hiện cũng đang dạy tại  đây như Nguyễn Văn Đậu, Lê Đình Bảng, Phạm Quân Khanh, ...

Hai nữa, mặc dù chỉ tốt nghiệp Văn Khoa và không qua một khoá sư phạm nào nhưng cá nhân tôi đã gắn bó với nghề dạy học từ trước khá lâu: Năm 54, gia đình tôi chín nguời vào Nam sinh sống với mỗi nguời trần sì vài bộ quần áo tùy thân, nửa năm sau mẹ tôi qua đời. Lúc ấy mới 11 tuổi, nếu không may mắn vào trường công thì tôi chưa chắc gì có đủ cơ hội để đuợc tiếp tục học; bởi sinh hoạt của tôi đều đặn mỗi ngày học một buổi, buổi kia phải trông giữ nuôi dạy ba đứa em nhỏ (đứa nhỏ nhất chưa đầy một tuổi, đứa lớn chưa đủ bốn tuổi), mỗi năm chỉ được nhiều lắm là hai bộ quần áo quần xanh áo trắng thay đổi; ngòai ra tôi còn tìm cách bán báo hay giao sữa tươi cho các nhà trong xóm để kiếm thêm phụ cấp. Mấy năm sau, khi đậu đuợc bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, tôi đã đi dạy kèm (thuở ấy gọi cho sang là précepteur). Tôi còn nhớ mãi: tháng đầu kèm ba bốn đứa trẻ học và được trả tiền công 150 đồng bạc, tôi liền đi may hai bộ áo popeline trắng quần kaki Nam Định nhuộm xanh mà chỉ tốn có chưa đầy trăm bạc!

Một gợi nhớ khác nữa là tôi phải dựa vào mốc điểm khó quên được: cuộc triển lãm có tên là “Việt Nam, Quê Huơng Mến Yêu” (Our Beloved Land, VietNam) hiện diện vào giữa mùa Hè năm 1967 tại the National Museum, Tokyo, Nhật Bản.

Nguyên uỷ là khoảng đầu năm 1966, một phái đoàn của Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia Nhật Bản gồm mười mấy thành viên do Shuji Doi, sinh viên bậc cao học ngành Mỹ Thuật của Waseda University (Tokyo) làm trưởng đoàn, sang thăm. Hai sinh viên đoàn của hai phân khoa Văn và Luật khoa (thuộc viện Đại Học SàiGòn) đuợc cử ra chính thức tiếp đón. Lúc ấy,  tôi làm chủ tịch Sinh Viên Đoàn Văn Khoa. Chi tiết công việc tiếp đón ra sao thì cụ thể khá dài dòng, ở một dịp thuận tiện nào khác trong tương lai tôi sẽ xin trình bày rõ rệt, còn ở đây chỉ xin kể rằng kết quả từ sự phối hợp đón tiếp và hướng dẫn này đã khiến cho một tháng sau, trước hôm bước lên máy bay về Nhật lại, trưởng đoàn Shuji Doi thổ lộ tâm sự là họ đã đuợc sang thăm Bắc Việt Nam gần ba tháng truớc đây rồi mới sang Nam Việt Nam nhưng điểm đặc biệt ở chỗ là nhờ kinh nghiệm cụ thể hai lần thăm viếng liên tiếp này, họ rút ra quyết định thực sự gắn bó với Miền Nam này, họ hứa là họ sẽ sớm trở lại với một kế hoạch cụ thể nhằm biểu lộ thái độ dứt khoát chọn lựa của riêng họ. Mấy tháng sau, Shuji Doi trở qua và cho biết là họ đã vận động thành công một dự án  tổ chức  cuộc triển lãm có nội dung nói lên sinh hoạt  tiêu biểu của một xã hội Việt Nam trong thời chiến tranh, với điều kiện là phải do nhóm sinh viên đại diện cho nền  đại học Nam Việt Nam thực hiện. Trong các buổi họp ngay sau đấy, cá nhân tôi đuợc chọn làm trưởng ban tổ chức bên Việt Nam, Shuji Doi là truởng ban bên phía sinh viên Nhật, và tên gọi của cuộc triển lãm này đuợc chọn như nêu trên.

Do đấy, chúng tôi là

nhóm trực tiếp chịu đứng ra thực hiện thì phải chuẩn bị chu đáo mọi tiết mục cho cuộc triển lãm này từ một năm truớc đó, tức là bắt đầu mùa hè 1966. Trong các tiết mục thu góp tài liệu và tác phẩm, tôi còn nhớ được :

-nhẹ nhàng nhất là mục “Đồ Gốm mỹ nghệ Việt Nam”;

-khó khăn và tốn nhiều công nhất  là môn hội hoa, nhiếp ảnh, rồi đến nhạc và thơ;

-công phu không kém nhưng lại được an ủi là giới thưởng ngoạn Nhật coi trọng nhất chính là mục hội hoạ và điêu khắc thiếu nhi. Tiết mục này chúng tôi đã gặp may mắn hiếm có là nhờ được anh Lê Văn Khoa lúc đó đứng ra tổ chức cho hai cuộc thi có hằng trăm em tham dự và gom những tác phẩm giá trị qua mấy kỳ chọn lọc để gửi sang triển lãm;

-vui tươi và linh động nhất là tiết mục áo dài trắng truyền thống của thiếu nữ Việt Nam do tôi hai ba lần xin phép nhà truờng và điều động mấy toán nữ sinh thuộc các lớp Đệ Nhị A và C (học trò của tôi ở truờng Nguyễn Bá Tòng) đi dạo ngoài phố chính ở trung tâm Sàigòn và trong vuờn Bách Thảo để các chuyên viên nhiếp ảnh (đuợc nhóm thực hiện bên Nhật do Shuji Doi làm truởng ban tuyển chọn và gửi sang) chụp.

Tựu trung lại, theo riêng nhận xét cá nhân một cách sơ lược, tôi phải nói rõ rằng thập niên 1960 là mốc điểm tiến triển nhất  của nền tảng ngành giáo dục nói chung và bậc trung học nói riêng của hai mươi năm xây dựng xã hội Miền Nam Việt Nam, cả về hình thức lẫn nội dung.

Tôi xin kể ra đây vài truờng hợp cụ thể điển hình, để chúng ta tổng quát nhận ra đuợc mức cải tổ cũng như buớc tiến như “đôi hài bẩy dặm” của phương pháp và thái độ giảng dạy bậc trung học ở giai đoạn này:

Trong mấy kỳ thi Tú Tài I & Tú Tài II vào thời điểm cuối 1950 sang đầu 1960 mà cá nhân tôi là một thí sinh đã chứng kiến tận mắt: Vào vấn đáp sinh ngữ Pháp, một giám khảo không lý gì đến số lượng bao nhiêu học sinh mà ông sẽ khảo thi trong tuần lễ ấy, ông tự động ấn định rằng mỗi ngày ông chỉ cho mười nguời thì mỗi sáng ông đọc tên sẵn năm nguời vào buổi sáng và năm nguời nữa vào buổi chiều. Chính mắt tôi chứng kiến chị nữ sinh lên thi vấn đáp truớc phiên tôi ngay giữa trưa,  trời nắng đổ lửa bên ngoài sân hắt vào. Ngồi xa trong dẫy bàn cuối lớp để quan sát rút kinh nghiệm,  tôi thấy chị ấy lên bốc thăm rồi đứng trả lời. Độ gần muời phút sau,  tôi thấy vị giám khảo lớn tuổi nét mặt dãn ra vẻ hài lòng, mặc dù trên trán ông mồ hôi đã rịn đầy. Chị nữ sinh buớc xéo đến cạnh tường của lớp,  bật nút quạt trần. Làn gió ùa xuống làm tung mấy tờ giấy cho điểm trên bàn giáo sư bay rớt xuống sàn nhà. Vị giám khảo liền sạm mặt đi và nói lớn trong giận dữ:

-Muốn coi điểm tôi cho chị hả? Thôi. Hãy về đi, thi kỳ hai!

Trong kỳ thi Tú Tài II  Hè mấy năm chót của thập niên 1960 gì đó, nếu tôi nhớ không lầm, đề Triết cho ban A “Thế nào là Tự Do?”. Tới khi chấm bài, hội đồng giám khảo phải bàn để thống nhất thang điểm, lúc ấy mới phát giác ra rằng nội dung đề thi như thế đó là thuộc lãnh vực Siêu Hình của ban C, còn chiếu theo môn Đạo Đức Học của ban A thì nội dung đề thi phải ra “Tự Do là gì?”. Do đó, thí sinh ban A học xong lớp 12 đi thi năm ấy, gặp đề “ Thế nào là Tự Do?” thì có thể làm bài theo nội dung của môn Công Dân Giáo Dục. Nghĩa là, ban tuyển chọn đã ra đề thi sai từ căn bản. Hầu hết các giám khảo đều còn trẻ tuổi, tốt nghiệp sau năm 1960,  đã đề nghị một thang điểm đặc biệt để nới tay chấm điểm riêng môn triết ban A năm đó. Kết quả, hội đồng thi trung ương cũng hoàn toàn đồng ý với đề nghị này.

Mặt khác, hệ thống giáo dục trung học tư thục đã phát triển một cách lớn mạnh trong thập niên 1960, như chưa bao giờ như vậy, ở Miền Nam Việt Nam, mà trong đó Nguyễn Bá Tòng là một trong những truờng kiểu mẫu trên bình diện toàn quốc thời bấy giờ.

Những ưu điểm phát triển này đạt tới đỉnh cao nhất, cho đến khi phương thức thi tốt nghiệp Trung Học theo “kiểu ABC khoanh” vào mấy niên khoá đầu thập niên 1970.

Ban Điều Hành NBT

 
 

Phạm Trọng Hoá Cựu Giáo Sư THNBT

 
 
Trường Nguyễn Bá Tòng ngày ấy được điều hành từ xa bởi 1 số linh mục cố vấn như Cha Trấn Văn Hiến Minh ( Bùi Chu ) , linh muc Lê Văn Nhân cha sở nhà thờ Huyện Sĩ . Nhưng trực tiếp điều hành cũng thay đời mấy đời Hiệu Trưởng như Cha Nguyễn Quang Lãm , cha Vũ Khánh Tường , cha Đỗ Đình Tiệm . 
Trải qua đến nay mấy chục năm dâu biển đổi dời , Trường xưa giờ đã thay tên đổi chủ .
Các Cha trong Ban Điều Hành cũng người còn người mất , 1 số ra nước ngoài , số còn lại trong nước cũng phải lao động cực nhọc để tồn tại .
Cha Nguyễn Quang Lãm từng là Hiệu Trưởng , rồi làm chủ tờ báo Xây Dựng . Khi tờ báo bị đình bản , Cha về nhà thờ Xây Dựng ở Chí Hoà làm chính xứ , Cha cũng có thời nghiên cứu trồng nấm để sinh huê lợi . Sau này Cha bịnh nặng bị bại xuội tê liệt 2 chân cho đến khi mất , được an táng tại nghĩa trang Đắc Lộ 1 thời gian cho đến khi nghĩa trang này giải toả Cha được thân nhân cải táng đem hài cốt về nhà thờ Xây Dựng .
Linh Mục Bề Trên Trần Văn Hiến Minh sau năm 1975 trở về nhà sống lặng lẽ ẩn dật cho đến khi qua đời , được an táng tại nghĩa trang đồng hương Tân Sa Châu Bình Hưng Hoà .
Linh mục Hiệu Trưởng 1 thởi là Vũ Khánh Tường sau đó qua chủng viện Đắc Lộ . Năm 1975 mất trường mất lưu trú sinh . Đến năm 1977 Cha bị bắt vì vụ án “ Phép lạ Fatima “ . Ngài mất trong tù , sau mới được cải táng đem hài cốt về Tu Hội Đắc Lộ , ngã tư Bảy Hiền .
Linh mục Hiệu Trưởng Đỗ Đình Tiệm sau năm 1975 về giúp đỡ Dòng Mân Côi . Ngài bệnh nặng rồi mất và được an táng tại nghĩa trang Bà Rịa .
Một trong các vị linh mục có trách nhiệm chăm lo các sinh hoạt tôn giáo là Cha Phạm Nghĩa Cử có thời công tác ở nhà thờ Vô Nhiễm , trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định . Cha đã mất vì bệnh tại Láng Cát và an táng tại nghĩa trang Láng Cát Bà Rịa .
Vị linh muc lo về sinh hoạt công giáo khác là cha Hoàng Đức Thịnh sau 1975 ra làm việc ở Giáo xứ Long Hương Bà Rịa . Cha mới qua đời cách nay 2 năm khi đang là cha sở quản hạt Long Hương .
Linh mục Nguyễn Thái Hân chánh văn phòng NBT ngày ấy từ sau năm 1975 tôi không được biết tin tức gì .
Linh mục Đinh Chu Tập chuyên trách về kỷ luật và các sinh hoạt văn nghệ , sau 1975 về giúp xứ Phúc Lộc giáo phận Đà Lạt , sau coi xứ Thanh Xá cách Bảo Lộc 15 km . Đến nay Ngài đã đến tuổi hưu nhưng Toà Giám Mục vẫn chỉ đạo tiếp tục giúp giáo xứ Thanh Xá .
Linh mục Giám Học Vũ Viết Hà sau biến cố 75 về giúp xứ Tân Phú ( Tân Bình ) . Nay Ngài đã nghỉ hưu tại nhà hưu dưỡng các cha Bùi Chu , đền Công Chính , ngã tư Bảy Hiền .
Sau khi mất trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định , cha Vũ Nguyên Thiều về coi giáo xứ Tân Phú . Ngài đã nghỉ hưu và mất hơn một năm nay .
Linh mục Tổng Giám Thị Nguyễn Bá Tòng Sàigon sau này là Giám Đốc kiêm Tổng Giám Thị NBT Gia Định là Cha Phạm Minh Công , sau năm 1975 trường mất , ngài về làm quản hạt tại giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở cạnh trường NBT Gia Định . Hiện Ngài cũng đã nghỉ hưu tại quê hương miền Bắc thuộc tỉnh Nam Định .
Linh mục Nguyễn Đình Tân giám học sau khi rời trường NBT Gia Định , về coi xứ Thanh Đa gần cầu Bình Lợi . Cha Đinh Hoàn Năng về coi xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm nơi Cha Công ở quản hạt ngày trước .
Khi đang viết dở dang bài này , tôi lại bất ngờ và xúc động nghe tin Cha Nguyễn Đức Hân thường gọi là Cha Hán , giám đốc tu hội Đắc Lộ vừa mất lúc 11 giờ trưa ngày hôm nay , chủ nhật mồng 6 tháng 12 năm 2009 . Cha Hán từng là học trò nam được cưng nhất của Thầy Vũ Công Định ở trường Đắc Lộ . Khi qua Mỹ Cha đã đến thăm và ở nhà Thầy Định . Cha lâm bệnh phải cấp cứu trong thời gian ở tại Mỹ , sau này về Việt Nam Ngài cũng yếu nhiều cho đến nay . 
Đó là một số tin tức về các Cha thuộc Ban Điều Hành
NBTSG và NBTGĐ cho đến nay mà tôi được biết tin . 
Có lẽ các Ngài dù ở đâu hay đã qua khỏi thế gian này cũng vẫn mong mỏi một tương lai tốt đẹp , sáng lạn cho quê hương và cho tất cả chúng ta , những thành viên của NBT 

Ghi lại ngày 6 tháng12 năm 2009
Phạm Trọng Hoá