Bạn vui lòng Đăng nhập nếu đã có tài khoản tại Yume.vn
Hoặc Đăng ký tài khoản miễn phí.
Từ lâu Huế đã nổi tiếng là nơi thăng hoa của nền ẩm thực Việt. Lại càng nổi tiếng hơn không chỉ vì những món ăn ngon, mà là từ những “cái tên”. Những cái tên khiến người nghe bị chú ý đến hấp dẫn. Và quán cơm Âm Phủ” là một ví dụ như thế.
“Cơm chi mà tối mò mò
Ma kêu quỷ khóc mịt mờ âm ty
Nghe đồn cũng thử mà đi
Té ra cũng chẳng khác chi dương trần”.
“Quán cơm Âm phủ tối mò
Tao nhân mặc khách cũng bò tới đây
Cơm chi ngon lạ khác đời
Ăn đâu sướng đó, tuyệt vời trần gian”
Nhiều người khi nghe đến cái tên này đều thấy nhiều thắc mắc, không hiểu vì sao một vùng đất từng là cố đô xưa của các triều đại phong kiến, lại hình thành nên một tên quán lạ lùng đến như vậy. Nhưng không! Chính cái lạ lùng đó đã khiến cho quán xưa qua bao biến động vẫn tồn tại cho đến ngày nay.
Theo lời kể của các vị cao niên, những người từng được sống, từng được biết về nguồn gốc ra đời của tên “cơm âm phủ” này kể lại rằng: ngày trước nhà vua muốn tìm hiểu dân tình nên đã cải trang để vi hành. Một buổi nọ, vua cảm thấy đói bụng nên ghé vào nhà một bà lão góa chồng để xin bữa cơm. Do gia cảnh nghèo khó, chỉ có thể mời khách 1 chén cơm trắng và một ít rau cải bên ngọn đèn dầu leo lét để đãi người khách đặc biệt này. Vua đi đường lâu, bụng lại đang đói nên ăn rất ngon. Sau này hồi cung, vua đã gọi bữa cơm tối đó là “Cơm Âm Phủ”.
Theo nhiều người kể lại, quán cơm này ngày trước ra đời vào khoảng giai đoạn 1914 – 1918 do ông Tống Phước Kỷ lập ra.
Quán lập nên trên một vùng đất hoang vu về phía Đông Nam của kinh thành, chủ yếu là những đồng ruộng mênh mông. Ngày đó, quán rất đơn sơ với những tấm phên tre ghép lại để che mưa nắng, bàn ghế toàn bằng tre thấp bé tẹo, lọt thỏm dưới nền ruộng hai bên vệ đường trông rất tội nghiệp. Lại được thắp sáng bằng những ngọn đèn dầu tù mù leo lét trong cái sâu thẳm của không gian đêm, cùng những cơn gió lùa từ mọi hướng về càng làm cho khung cảnh thêm u ám, tối tăm.
Quán ra đời nhằm phục vụ cho một bộ phận đông đảo những thợ thầy về xây dựng kinh đô và các công trình khác của triều đình, phần lớn trai tráng, dân phu đều tập trung ở đây. Vì thế, đáp ứng cho nhu cầu của những con người này, hàng quán đã mọc lên nhanh chóng, trong đó có quán cơm Âm Phủ.
Ngày đó, do nhiều người đi làm suốt ngày, nhiều người đi buôn bán xa nên thường đi làm về khá muộn. Cũng vì thế, khi những hàng quán khác đã thưa dần, thì quán cơm Âm Phủ bắt đầu làm việc, thường vào khoảng 21h00 và kéo dài cho đến 5h00 sáng khi 3 phát súng hiệu trong kinh thành nổ rang báo giờ mở cửa thành đã đến.
Ngoài số thợ thầy này, quán còn phục vụ cho nhiều tầng lớp khác như những người đờn ca hát xướng lang thang, những bác phu xe, những cô gái điếm, những binh lính (như lính khố đỏ, lính khố xanh, lính tập, lính kèn, binh lính ở sở mật thám, đồn lính Tây…), rồi cả tầng lớp quan lại đi chơi tổ tôm, đi nghe hát xướng về khuya cũng ghé ngang đây lót dạ.
Ngày đó, thức ăn của quán còn đơn sơ. Thường chỉ bán những món ăn dân dã bình thường như cá kho khô, canh cải nấu tôm, dưa giá, tôm chua, thịt ba chỉ thái mỏng… Nhưng dưới bàn tay của người đầu bếp, những nguyên liệu bình dân đã trở thành những món ăn đậm đà hương vị, khiến khách qua đường nếu đã nếm thử 1 lần thì nhất định lần tới phải ghé thăm nữa, còn khách phương xa có dịp đến Huế cũng muốn thưởng thức cho biết thế nào là Cơm Âm Phủ để thỏa nguyện công sức tìm đến.
Đấy là vào mùa khô ráo, chứ bắt đầu những ngày mưa không gian quán lại càng tiêu điều hơn nữa. Mưa Huế thì như trút nước, những tấm phên che lỗ chỗ thủng cộng với những cơn gió lạnh rét căm căm, những ngọn đèn dầu thì leo lét làm cho quán dần mất hút đi trong đêm tối. Khiến khách vừa đói, vừa buồn, vừa sợ.
Quán xưa chỉ thật sự đông khách hơn vào khoảng những năm 1938 – 1939 khi sân vận động Tự Do được khánh thành. Ngày đó, sân vận động có tên gọi khác là sân Bảo Long (hoàng tử của vua Bảo Đại), nhưng dân gian vẫn cứ quen gọi là sân Tự Do hay Sân Đất. Sân vận động này khi đó được xem là lớn, độc đáo nhất xứ Đông Dương với vòng chảo đua xe đặc biệt. Việc khánh thành sân, cùng với việc tổ chức giải bóng đá 1939 đã thu hút rất động du khách về đây theo dõi. Điều này càng tạo điều kiện thuận lợi cho quán cơm Âm Phủ có điều kiện kinh doanh hơn, thu nhập của quán cũng tăng lên đáng kể.
Thời gian cứ thế trôi qua, quán xưa ra đời đã gần tròn thế kỷ. Những dấu tích xưa của quán cơm xiêu vẹo năm nào đã không còn tồn tại nữa, thay vào đó là một không gian khang trang hơn với nội thất đầy đủ, ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu giờ thay bằng những bóng đèn nêông sáng rực. Mặc dù thế, hương vị ẩm thực xưa vẫn còn hiển hiện dưới những đôi tay tài hoa của người đầu bếp. (nghệ thuật nêm nếm, trang trí, trình bày, tính âm dương, triết lý Phật giáo qua 7 sắc màu trên dĩa cơm…)
Đến quán Âm Phủ bây giờ, du khách vẫn dễ dàng thưởng thức những món ăn “một thời làm nên lịch sử” nhưng có phần ngon hơn ngày trước rất nhiều. Nhiều món ăn mới cũng đã bắt đầu xuất hiện trong thực đơn của quán như chả lụa, thịt nướng, nem nướng (nem lụi), thịt gà bóp… khiến cho nhiều thực khách khi đến ăn đều không quên xuýt xoa khen ngợi. Và chính sự ngợi khen đó chính là phần thưởng lớn lao nhất của quán xưa…
P/S: Quán cơm Âm phủ ngày này đã mở nhiều cửa hàng. Ở Sài Gòn có thể đến tại nhà hàng Lá Thơm 778/45 Nguyễn Kiệm; Cần Thơ có quán COM đường 30/4
Liên hệ
Xem các bài viết khác
Nào ta cùng phượt biển trong Hè này nhé!
Đất nước Việt Nam chúng ta có nhiều phong cảnh đẹp. Núi hay biển cũng thật tuyệt vời. Nhưng Hè này sẽ đi đâu, lên núi hay xuống biển cho “sướng” nhất và phù hợp với mọi điều kiện hoàn cảnh?