Không gian kí vãng trong văn xuôi Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám

Không gian kí vãng trong văn xuôi Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám

Từ những vấn đề lí luận đã tìm hiểu, mình khảo sát, tìm hiểu qua hiện tượng văn học Nguyễn Tuân.

 

 

Với cá tính nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Tuân mang đến cho người đọc một không gian tươi đẹp mà chỉ có trong quá khứ, nhà văn giống như người thợ phục chế ảnh đã tái hiện lại những người những việc không cùng thời với mình. Thạch Lam nhận định: “Ông yêu mến và than tiếc những cái đã qua, và cố sức làm sống lại một thời xưa cũ, một thời gần chúng ta quá, nhưng mà đối với chúng ta như đã xa lạ vì không ai gợi đến vẻ đẹp và những cao quý riêng” [8.tr.229]. Phan Cự Đệ thì cho rằng: “…Nguyễn Tuân làm cái việc của một người đi khơi lại đống tro tàn của dĩ vãng, tìm lại những vẻ đẹp của ngày qua đã một thời vang bóng” [8.tr.233]. Trương Chính viết: “Vốn là người tài hoa, ông tìm sự tài hoa trong quá khứ. Tất cả những chuyện cũ, người cũ ở đây, ông kể lại bằng giọng thán phục và luyến tiếc những cái gì cố hữu của người Việt Nam ta nay mất đi”[8.tr.238].

Mỗi truyện được vẽ lên bởi những ngôn từ rất thanh sơ và êm dịu như một nốt nhạc trầm buồn, một tiếng thở dài đầy tiếc nuối. Nhân vật thường thấy là những con người già nua ở vào tuổi xế chiều hay đã cáo quan về ở ẩn. Một ông già Sáu mê thưởng trà đến mức tiêu tan sản nghiệp phải đi ăn mày nhưng vẫn chưa thôi được thú uống trà (Những chiếc ấm đất). Không biết Nguyễn Tuân có mê trà không nhưng nhân vật trong tác phẩm của ông thì đích thực là những con người có thể làm tiêu tan cái sản nghiệp vì một thú tao nhã. Những chiếc ấm đất kể về câu chuyện một ông già “nghiện” trà Tàu, ông cụ Sáu đã từng nói với một người khách: “Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy, ông khách ạ” [25.tr.90]. Và chén trà đã trở thành niềm vui, như là một sự tận hưởng niềm vui ở cõi đời này vậy: “Chả nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi” [25.tr.90]. Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả cái thú uống trà một cách bình thường, những nhân vật mà Nguyễn Tuân đã tái hiện bên khay trà quả là những con người am hiểu về trà. Họ uống trà như thưởng thức cái hương vị của cuộc đời, họ nhâm nhi từng hớp trà như cảm nhận một niềm vui đặc biệt trong cõi đời này. Vì thế, uống trà là một nghệ thuật, đó không chỉ là thú vui của người Việt Nam mà hầu hết các nước phương Đông đều có cái thú ấy. Đặc biệt là ở Nhật Bản, thú uống trà đã được nâng lên tầm cao tôn giáo với cái tên trà đạo. Nói về lịch sử ra đời trà đạo: Vào đầu thời trung cổ, các giáo sĩ thờ đạo Lão ở miền Nam nước Tàu đã đem trà vào nước Nhật. Cái thú duy nhất của các giáo sĩ lúc đó chính là uống trà, nên đi đến đâu họ cũng mang theo. Theo họ thì uống trà là một cách ngồi tư lự hay cùng nhau đàm đạo. Cho đến thể kỉ thứ X trở đi, người Nhật mới xem “sự uống trà” như một thú tao nhã, một nghi lễ rất đáng quý, “phải hành lễ ấy ở một nhà riêng thật tôn nghiêm gọi là trà thất”. Bàn về vấn đề này, Vũ Ngọc Phan đã trích dẫn ý kiến của Okakura Kakuzo - một nhà văn của nước Nhật - đã cảm nhận về trà đạo như sau: “Trong thứ nước thơm ngát rót trong cái chén ngà ấy, người uống có thể nếm được cái đậm đà thú vị của Khổng Tử, cái chan chát của Lão Tử và cái hương mát rượi của Thích Già Mầu Ni” [8.tr.41]. Như vậy, uống trà là một cách để con người cảm nhận về cuộc đời, gạt đi những lo toan của cuộc đời, không gian bên bàn trà mang vẻ an nhàn và phẳng lặng.

Sống trong buổi giao thời, khi mà các giá trị văn hóa đang bị xâm hại và mai một, Nguyễn Tuân muốn quay lại quá khứ, tìm về những thú chơi tao nhã của những tao nhân mặc khách và ông ca ngợi một cách say sưa vẻ đẹp văn hóa của một thời. Văn Tâm đã nhận xét về tập truyện Vang bóng một thời: ngoại trừ hai truyện là Bữa rượu máu Khoa thi cuối cùng thì “mười truyện còn lại, có thể coi như mười nén tâm hương nguyện cầu cho cái Đẹp cổ truyền Việt Nam, đó là: uống đẹp (Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm) nhắm đẹp (Hương cuội); chơi đẹp (Thả thơ, Đánh thơ, Đèn đêm thu tức Một cảnh thu muộn); ứng xử đẹp (Ngôi mả cũ); hoa tay đẹp (Trên đỉnh non tản); tài nghệ đẹp (Những người bất đắc chí) và nhân cách đẹp (Chữ người tử tù) [8.tr.249].

Không gian quá khứ gắn với những vẻ đẹp văn hóa đã qua, nhà văn là người đi góp nhặt những hình ảnh, từng vẻ đẹp bằng cách thể hiện những hoài niệm, những kí ức. Nhà văn đưa bạn đọc trở về với không gian của những đêm vui giàu ý nghĩa văn hóa, như một đêm thả thơ, một đêm uống rượu, một đêm chơi lồng đèn kéo quân… Con người đắm say trong những ngày lễ hội: “Tết mồng ba ông Cử Hai đã trốn khỏi phòng trọ từ hôm trước để đi ăn hàn thực và đi hội đạp thanh với các bạn sính làm thơ tức cảnh. Tết Đoan Ngũ, ông lên núi hái thuốc, những mong được như hai người Lưu, Nguyễn ngày xưa gặp tiên. Tết trung thu ông lên chùa Thầy ngắm trăng. Chợ Giời họp trên đỉnh núi Sài Sơn. Gần tết Nguyên Đán, nếu chưa về nhà, thì ông ẩn ở trong một mái đình vắng nào để gọt cho một lắp thuỷ tiên” [25.tr.159 - 160].

Nhà văn không chỉ dựng lên không gian bằng cách tiếp cận đề tài hay thời gian hóa không gian, mà thông qua ngôn ngữ trong tác phẩm cũng mang đậm dấu ấn của không gian kí vãng. Ngôn ngữ trong tác phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa của thời xưa cũ với cách nói, cách xưng hô ứng xử cùng và cách gọi tên nhân vật mang đậm cảm hứng hoài cổ. Viết về những việc, những người  của một thời, nhà văn không thể dùng ngôn ngữ của thời đại mình mà diễn tả những cái đã qua mà nhà văn bằng vốn từ phong phú cùng với những am hiểu về văn hóa để tạo dựng lên bức tranh quá khứ một cách toàn diện. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan mang nặng những cảm xúc, suy tư của tâm trạng hoài cổ nên trong thơ Bà sử dụng rất nhiều những từ ngữ Hán - Việt tạo không khí trang nhã, cổ kính. Chẳng hạn như trong bài Thăng Long hoài cổ, nữ sĩ đã dùng những từ Hán - Việt, như: tạo hóa, hí trường, thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường.

Cách mà Nguyễn Tuân gọi tên những con người của một thời vang bóng cũng mang hơi hướng truyền thống. Nếu các nhà văn cùng thời với Nguyễn Tuân gọi tên nhân vật rất thơ mộng, rất đẹp và rất thời thượng, họ là những thanh niên tân nhân vật mà ta thường thấy trong các sáng tác của nhóm Tự lực Văn đoàn với những tên: Ngọc, Lan trong Hồn bướm mơ tiên; Lộc, Mai trong Nửa chừng xuân… hay như trong Số đỏ - sáng tác hiện thực - của Vũ Trọng Phụng: Tuyết (ngây thơ), Phán (mọc sừng), cậu Tú Tân, cô Hoàng Hôn, Văn Minh, Xuân (tóc đỏ), ông TYPN… Nguyễn Tuân đã gọi nhân vật của mình bằng những cái tên mà một thời vẫn quen gọi, như: ông Phủ, ông Nghè, ông Thượng, ông Ấm, cụ Kép, ông Cử Hai, ông Đầu Xứ Anh, ông Đầu Xứ Em...vv. Những cái tên đó phần nhiều gắn với lối gọi của những con người theo nghiệp khoa cử, của những kẻ sĩ trong chế độ xưa, nhưng “họ không phải là lớp quan lại hám danh lợi, ô trọc mà là một hạng người biết sống thanh cao, ưa nhàn hạ và đặc biệt biết hưởng thụ, nhấp nháp một cách khá trịnh trọng cuộc đời” [8.tr.233].

Hà Bình Trị đã nhận ra “Nguyễn Tuân có thể lột tả được đúng cái thần thái cái thời đã qua, “phục chế” chính xác, sinh động cử chỉ của những người chỉ còn trong màn sương truyền thuyết mờ ảo” [8.tr.257]. Không gian kí vãng, không gian của một thời mà nay chỉ còn vang bóng, được tái hiện thông qua việc sử dụng một cách “đắc địa” hệ thống từ cổ và một số ngữ âm cổ và hệ thống từ Hán – Việt một cách chọn lọc và chính xác, những từ này “ít khi xuất hiện ngay trong một số cuốn Từ điển tiếng Việt” (Hà Bình Trị). Do điều kiện của đề tài còn hạn hẹp về mặt thời gian nên người viết không thể khảo sát toàn bộ tập truyện Vang bóng một thời để chỉ ra lớp ngôn ngữ cổ, hệ thống từ Hán - Việt được nhà văn dùng trong tác phẩm. Qua việc tiến hành khảo cứu truyện ngắn Chữ người tử tù, chúng tôi nhận thấy một số từ ngữ cổ, những từ Hán - Việt được sử dụng trong tác phẩm như: (Xem phụ lục, Bảng 2).

Nếu thời gian dưới đôi mắt nhìn của Kafka như dòng sông băng lạnh lùng chảy ngang qua cuộc đời, lấy đi bao mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu thì Nguyễn Tuân, ông lại có quan niệm chắc chắn về thời gian: “thời gian đã làm nên những giới hạn cho mỗi đời người, song, những ai sống hết lòng với cái thời của mình người đó đã coi như tìm được cách để đến với vĩnh viễn” [8.tr.169]. Theo Henri Benac, biết quá khứ có lợi, vì: “lịch sử mang lại cho mỗi quốc gia sự gắn kết dân tộc trong khi phát triển tình cảm cộng đồng, và mọi cá nhân đều thuộc về cùng một cộng đồng dân tộc” [1.tr.624] hơn nữa biết về quá khứ chính là “thực hiện một cuộc chu du trong thời gian, nó rèn luyện cho con người như khi họ thực hiện những chuyến bay vào không gian: người ta tìm thấy ở đấy ý nghĩa của tính tương đối, của lòng bao dung, của sự tôn trọng những người khác”. Và “sự lùi về thời gian tạo thuận lợi cho sự phát triể đầu óc phê bình và phát triển tính khách quan” [1.tr.625]. Từ những ý nghĩa nêu trên, ta thấy được tấm lòng của nhà văn Nguyễn Tuân khi xây dựng lên không gian nghệ thuật mang tính kí vãng, không gian của một thời xưa nay chỉ còn là vang bóng, đó là tấm lòng của một con người biết trân trọng, nâng niu những giá trị văn hóa cổ truyền, là tấm lòng của một con người có tinh thần yêu nước sâu sắc.

                                                                                                                      Minh Đức

>>>> Xem bài hoàn chỉnh tại đây

 

Nguồn từ blog.yume.vn

    Tin mới nhất

    Tin mới nhất

    • 250x250_huggies