Sáng Tác > Thế Giới Sách

24/06/2011 09:224494 lượt xem

"Nỗi Buồn Chiến Tranh" - Bảo Ninh

Nỗi buồn chiến tranhcủa Bảo Ninh được xuất bản lần đầu tiên năm 1990 với tiêu đềThân phận của tình yêu do các biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn. Chỉ một năm sau đó, tác phẩm được...

Nỗi buồn chiến tranhcủa Bảo Ninh được xuất bản lần đầu tiên năm 1990 với tiêu đềThân phận của tình yêu do các biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn. Chỉ một năm sau đó, tác phẩm được tái bản với tiêu đề do chính tác giả đặt tên từ trước Nỗi buồn chiến tranh. Cũng trong năm đó, cuốn sách được giải thưởng của Hội nhà văn.

                           

                                               Nỗi buồn chiến tranh - NXB Trẻ

                Từ những ngày đầu xuất hiện, Nỗi buồn chiến tranh đã gây xôn xao dư luận vì tính phức tạp của nó. Gần 15 năm sau khi cuốn tiểu thuyết ra đời, tác phẩm vẫn làm say mê đọc giả bởi cốt truyện quen mà lạ, gần gũi mà như xa vời. Đó là câu chuyện bi thảm về tình yêu trong chiến tranh và những chiêm nghiệm về thời chiến, một thời mà theo dòng ý thức của cuốn tiểu thuyết này đã trở thành quá khứ.Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, ý chí chiến đấu của người lính trên mặt trậnvì vận mệnh đất nước, Bảo Ninh lại miêu tả chiến tranh từ góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá nhânthầm kín mà trước đó chưa nhà văn nào nói được. Do đó, có một thời gian tác phẩm bị cấm xuất bản và bị cấm lưu truyền nhưng vẫn được đông đảo người đọc ưa thích.

                Ngay sau khi nhận giải thưởng ở Việt Nam, Nỗi buồn chiến tranhđược dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh Hảo, xuất bản năm 1994 với tựa đềThe Sorrow of War. Cuốn sách được một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh. Bản dịch này được đọc rộng rãi ở phương Tây, và là một trong số ít sách nói về chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam được xuất bản ở đây.

                Tác phẩm được đưa vào danh sách 50 dịch phẩm xuất sắc nhất nửa thế kỷ qua của Hiệp hội dịch giả Anh, đồng thời được coi là một trong 10 tiểu thuyết hay nhất Đông Nam Á.

                               

                                          Nỗi buồn chiến tranh dịch sang tiếng Anh

Thời gian trần thuật chính là thời gian của truyện kể, là thời gian của trật tự các sự kiện đã được phân bố lại trong truyện do sắp xếp chủ quan của người kể chuyện. Thời gian trần thuật không tuân theo quy luật của thời gian vật lí mà đã được tái tạo lại bởi người kể chuyện. Và theo G.Genette, thời gian trần thuật là thời gian giả (Pseudo time). Thông qua lí thuyết của Genette, chúng ta sẽ tìm hiểu tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và thấy được sự đảo lộn trình tự trần thuật của Bảo Ninh – người kể chuyện. Hay nói cách khác chúng ta sẽ tiếp cận với những phương diện đặc sắc trong việc tổ chức thời gian trần thuật ở tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Đó chính là kiểu trần thuật phi tuyến tính với những đảo lộn thời gian và với kĩ thuật đồng hiện.

Có thể nói trần thuật phi tuyến tính trở thành một trong những đặc điểm cho thấy sự đổi mới tư duy tiểu thuyết khi cảm thức hiện tại, khi khát vọng làm chủ thời gian trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Một trong những hình thức tổ chức lại trình tự trần thuật trong Nỗi buồn chiến tranh là từ hiện tại, quay ngược về quá khứ để kể chuyện. Nhân vật Kiên – một cựu chiến binh trở về sau ngày hòa bình đã kể lại cuộc chiến đã qua, “một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới, như thể đó là cuộc chiến của riêng anh”. Nhân vật Kiên thuật lại những sự kiện đã qua, đã thuộc về quá khứ từ điểm nhìn của chính mình. Và thông qua Kiên, người đọc có thể hình dung sự ám ảnh của chiến tranh, những mất mát mà cuộc chiến mang lại cho Kiên và những đồng đội của anh. Từ đó ta thấy được dòng chảy số phận của từng con người trong chiến tranh “Khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết cả máu, vì áo quần bục nát tả tơi và vì những lở loét cùng người như phong hủi, cả trung đội chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh sát nữa. Mặt mày ai nấy như lên rêu”.Chúng ta thấy rằng Bảo Ninh đã xử lý thời gian rất linh hoạt. Nếu mạch trần thuật sự kiện được đẩy lùi về quá khứ thì mạch biểu hiện cảm xúc cứ trôi dạt, lan tỏa từ quá khứ đến hôm nay. Dường như những chuyện của quá khứ không hề khép lại mà tiếp tục sống cùng với nhân vật Kiên trong dòng trôi của hiện tại.

Có thể nói, ở tiểu thuyết dòng ý thức như Nỗi buồn chiến tranh, sự đồng hiện thời gian được thể hiện rất rõ. Phá vỡ trật tự thời gian thông thường, kết cấu dòng ý thức ở Nỗi buồn chiến tranh là hệ quả của việc tạo ra một thời gian trần thuật chỉ phụ thuộc vào thời gian tâm trạng, vào dòng tâm tư  của nhân vật Kiên. Trong Nỗi buồn chiến tranh có sự đan cài giữa thời gian trần thuật và thời gian câu chuyện xoay quanh những hồi ức, những kỉ niệm và giấc mơ của nhân vật Kiên. Việc tổ chức thời gian đồng hiện theo kĩ thuật điện ảnh của tác giả nhằm soi chiếu cặn kẽ con người hiện đại với nhiều chiều kích. Chính nhờ hình thức đồng hiện này mà Bảo Ninh có thể nối kết những chuyện thuộc về những khoảng thời gian khác nhau và vì thế rút ngắn được thời gian kể.

                       

                                                          Tác giả Bảo Ninh

Trong đồng hiện thời gian, yếu tố giấc mơ trở thành phương thức tự sự hiệu quả để đi vào khám phá thế giới tâm linh con người, để mở rộng biên độ thời gian. Trong Nỗi buồn chiến tranh, giấc mơ xuất hiện rất nhiều nhằm đồng hiện nhiều mảng thời gian khác nhau, đảo trật tự tuyến tính. Kiên thường hay mơ về Phương – người phụ nữ đã đánh thức tình yêu trong Kiên thời tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh chập chờn trong quãng đời chiến trận của anh “những giấc mơ đậm đặc cảm giác, nóng bỏng và ngọt lịm như mật ứa ra trào lên lấp đầy cõi mộng mị. Trong những đêm mưa ấy, từ giữa miền không gian xa xanh sâu thẳm khuất chìm sâu sương mù ký ức, người con gái của thành phố quê hương lại hiện lên và bước tới với anh trong bóng hình tiên nữ mờ ảo. Cả người gai lên, xương thịt chờn rợn, run rẩy, rung động trong nỗi khát khao thèm muốn được hưởng tới độ tột cùng cảm giác xúc tiếp êm ái, choáng ngợp, đáng kinh hãi với cái hình hài yêu dấu, mong manh, mềm mại như cánh hồng ấy”. Giấc mơ của Kiên thường là thời gian hồi ức “trong mơ, trí nhớ khuấy đảo, lật tung tất cả, lần tìm trong đổ nát đam mê niềm đau buốt, vô hạn độ, vô bến bờ của anh đối với nàng từ tận những thuở hồng hoang xa tít mù tắp thời trai trẻ”. Chính trong hồi tưởng mà Kiên đi tìm ý nghĩa thực của đời mình. Dường như ở Kiên luôn có sự cố gắng để sắp xếp những kỉ niệm lộn xộn, nối khớp chúng với những sự kiện lịch sử chung của dân tộc, để có được một kết luận. Dù sống trong thời bình nhưng Kiên “không tài nào nhấc chân ra khỏi miệng hố của chiến tranh, loại người bị ký ức quá kinh khủng đè bẹp và làm cho suy đốn”. Ngay cả mối tình với Phương cũng bị cuộc chiến đó chia đôi “Đời anh chỉ có hai tình yêu thôi. Một mối tình của anh và Phương hồi trước chiến tranh. Và sau chiến tranh là mối tình khác, cũng giữa anh với nàng.” Như vậy, bằng việc sử dụng thời gian đồng hiện, Bảo Ninh đã khẳng định sự bất lực của con đối với lịch sử, con người chỉ là nạn nhân mà thôi.

Với những cách tân trong nghệ thuật trần thuật, Bảo Ninh đã phá vỡ cấu trúc thời gian đơn tuyến vốn vẫn thường gặp trong văn xuôi truyền thống. Thời quá khứ trong truyện kể không còn là quá khứ đơn (tách biệt với hiện tại) mà thường là quá khứ liên quan đến hiện tại và thậm chí cả tương lai. Những câu chuyện quá khứ qua hồi tưởng của Kiên được đặt vào dòng chảy bề bộn của cái hôm nay khiến thời gian như được kéo lùi về hiện tại và không ngừng tiếp diễn. Chính cách trần thuật phi tuyến tính và đồng hiện này đã góp phần xác lập một cấu trúc thời gian trần thuật đặc thù ở tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

                Nỗi buồn chiến tranh phá vỡ kết cấu trần thuật tuân theo không gian, thời gian tự nhiên, tạo nên kết cấu trần thuật theo không gian, thời gian tâm lý. Tiểu thuyết truyền thống khi sắp xếp tình tiết thường tuân theo không gian, thời gian tự nhiên, phù hợp logic, quá khứ, hiện tại vừa có sự phân biệt, lại vừa có sự kế tiếp nhau, là mô hình kết cấu trần thuật tuyến tính. Còn tiểu thuyết dòng ý thức như Nỗi buồn chiến tranh lấy dòng ý thức và hoạt động tâm lí của nhân vật Kiên làm sợi dây kết cấu xuyên suốt tác phẩm, đảo lộn trật tự không gian, thời gian tự nhiên, quá khứ, hiện tại, tương lai.

                Kết cấu trần thuật theo thời gian, không gian tâm lý phản ánh sự thay đổi bản chất của tự sự vượt thoát khỏi những dạng tự sự truyền thống. “Thay vì bám vào cuộc phiêu lưu của nhân vật, nhà văn lại biến tự sự trở thành một cuộc phiêu lưu của cái viết” (Đỗ Đức Hiểu – Thi pháp hiện đại NXB Hội nhà văn 2000). Thông qua dòng tâm tưởng của nhân vật Kiên – nạn nhân của lịch sử, chúng ta thấy được số phận của họ. Chính lịch sử đã để lại những đường cày, những vết thương không bao giờ cứu chữa được. Kiên đã chịu đựng tận đáy những nỗi đau mà lịch sử để lại trên cuộc đời và tâm hồn mình “Âm vang những ngày tháng đã qua như những chuỗi sấm nguồn xa tắp làm tâm hồn anh từng lúc một hoặc sôi sục hoặc nhói đau hoặc ngưng lặng đi”. Chính kết cấu trần thuật này đã đánh dấu  sự thay đổi trong phương thức mô tả và phản ánh lịch sử của Bảo Ninh. Bảo Ninh đã tiếp cận lịch sử qua từng thân phận cá nhân và phản ánh lịch sử từ “tấm gương” ý thức cá nhân. Lịch sử tan vỡ thành mảnh vụn của ý thức cá nhân và Bảo Ninh trở thành người gom nhặt những mảnh vụn ý thức đó từ bóng tối của những thân phận.

                Tiểu thuyết dòng ý thức viết về tâm lí và ý thức nhân vật không giống như tiểu thuyết truyền thống xuất phát từ phương diện tác giả mà để nhân vật tự bộc lộ thông qua độc thoại nội tâm còn tác giả thì lui vào hậu trường.

                Tác phẩm dìu người đọc vào sâu bên trong thế giới tâm hồn của nhân vật Kiên để từ đó khám phá những bí mật mà từ lâu anh muốn che giấu, thậm chí là phủ nhận. Kiên từng hững hờ với mẹ, coi thường cha, thậm chí có lúc nghi ngờ tình yêu với Phương, ghen tuông và thù hận cô, anh cũng có những hoang tưởng nhục dục với thây người chết, đôi khi hèn nhát trong chiến trận. Vì thế anh muốn kể hết trong cuốn sách anh đang viết, đó không chỉ là một “tiểu thuyết đầu tay” mà là một tác phẩm đặc biệt, là “cuộc phiêu lưu cuối cùng trong cả cuộc đời làm lính của anh”. Bảo Ninh đã sử dụng độc thoại nội tâm để nhân vật có thể tự nói lên những dằn vặt ẩn sâu bên trong tâm hồn mình “Nhưng mà tâm hồn tôi thì đã ngưng bước lại ở những tháng ngày ấy chứ không tài nào mà đổi đời nổi như bản thân đời sống của tôi. Một cách trực giác tôi luôn nhận thấy quanh tôi quá khứ vẫn đang lẩn khuất. Đêm đêm giữa chừng giấc ngủ tôi nghe thấy tiếng chân tôi từ những thuở nào đó xa rồi vang trên hè phố lát đá…Ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ của tôi! Suốt đêm nước mắt  tôi ướt đầm gối bởi nhớ nhung, bởi tiếc thương và cay đắng ngậm ngùi”. Quên đi chiến tranh là một việc hết sức khó khăn đối với Kiên. Kiên ý thức được điều này nhưng mọi chuyện không phải lúc nào cũng theo ý muốn của con người “Nói chung, chẳng biết đến bao giờ thì lòng mình mới nguội nổi, trái tim mình mới thoát khỏi gọng bàn tay siết chặt của những kỉ niệm chiến tranh…để lại những vết thương mà tới bây giờ, một năm đã qua hay mười năm hay hai mươi năm nữa, vẫn còn đau, đau mãi”. Việc sử dụng độc thoại nội tâm của Bảo Ninh giúp người đọc thấu hiểu sự phi lý của chiến tranh, chất tàn bạo của lịch sử. Để cho nhân vật tự bộc lộ những suy nghĩ của mình, tự xưng tôi để kể lại những gì đã qua trong cuộc chiến là cách mà Bảo Ninh thuyết phục người đọc. Bởi chúng ta đều hiểu rằng chính Kiên là người đã quan sát lịch sử và trải qua lịch sử. Chính điều này giúp Nỗi buồn chiến tranh thuyết phục hơn. Lời bộc bạch của Kiên là một độc thoại dài, là một dòng tâm sự đau thương của chính nhân vật muốn chia sẻ với thế hệ hôm nay.

      Những rung cảm thẫm mỹ đối với tác phẩm được tạo ra từ ngôn từ. Nỗi buồn chiến tranh cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Với hệ thống ngôn ngữ nhiều cảm giác, Nỗi buồn chiến tranh – câu chuyện của quá khứ được quy tụ qua cảm giác sống động, tươi mới của hiện tại. Đó là một hệ thống ngôn từ với lời kể thiên về miêu tả, đầy các từ láy, từ diễn tả tâm trạng, cảm giác, tả thiên nhiên, với những lời bình phẩm, đánh giá... không giống ngôn từ nặng về hành động, sự kiện của truyện truyền thống. Cách "hiện tại hoá" câu chuyện bằng cảm giác "như là một nét đặc thù khá rõ của phương thức tự sự mới" (Trần Đình Sử).

                Theo thống kê của TS. Bùi Thanh Truyền “trong 280 trang của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, có tới 116 lần Bảo Ninh sử dụng những từ ngữ, hình ảnh rùng rợn, li kì: tiếng thở than buồn thảm của thế giới rừng sâu, vời vợi xa xôi và tuyệt mù hư ảo, đám hành khách từ trong mộ hiện ra, ma cà rồng, ảo giác, kì quái, ma quái, hoang đường…”. Thậm chí chỉ trong một trang xuất hiện hàng loạt các từ ngữ gây ấn tượng và cảm giác mạnh: "thần chết sờ soạng", "vô khối hồn ma quỷ lang thang", "mịt mù lam chướng", "những kì lễ lạt của giới các âm hồn", "cuộc điểm danh của các toán quân đã chết", "chim chóc khóc than như người", "các loại măng đỏ au như những tảng thịt ròng ròng máu", "đom đóm to kinh dị lớn tày cái mũ cối", "cây cối hoà giọng với gió rên lên những bản nhạc ma"... Rải rác toàn truyện, Bảo Ninh luôn sử dụng ngôn ngữ gây nhiều cảm giác này “lềnh bềnh xác người sấp ngửa”, “linh hồn lở loét”, “gờ núi lạnh lẽo”, “bóng đen trườn khỏi võng”, “nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn”…Cảnh tượng mà Bảo Ninh gợi ra thông qua ngôn ngữ không khỏi khiến những con người yếu bóng vía "có thể điên lên hoặc chết rũ vì khiếp sợ". Hệ thống ngôn từ đầy ám ảnh gợi cảm giác này đã góp phần khắc hoạ chân thực hơn diện mạo tàn khốc của chiến tranh, khiến người đọc không khỏi ám ảnh.

Là "yếu tố thứ nhất của văn học" (M. Gorki), ngôn ngữ văn học một thời kì, nói như Trần Đình Sử, "gắn với đặc trưng tư duy hình tượng của thời ấy, là "hoá thạch" của đời sống tâm lí, xã hội một thời, là tấm gương phản chiếu gần xa ý thức thẩm mĩ, luân lí, chính trị thời ấy". Văn học, vì thế, không chỉ có nhiệm vụ ghi chép sự thay đổi của ngôn ngữ, nó còn là chính sự thay đổi đó nữa. Có thể nói, ngôn ngữ trong Nỗi buồn chiến tranh in đậm dấu vết chuyển mình của một giai đoạn văn học đầy sôi động.

Có thể dựa vào biến cố lịch sử để chia cuộc đời nhân vật Kiên làm 3 giai đoạn: trước chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh. Tuy nhiên, thực tế tác phẩm cho thấy cuộc đời đau khổ, đứt đoạn này còn bị tan ra thành những mảnh vỡ phức tạp hơn. Không theo trật tự thời gian, từng mảnh đời nhân vật bị chia cắt ra, bị phân tán vào ký ức lộn xộn, chắp nối và rời rạc của nhân vật chính. Cốt truyện là một bức tranh lắp ghép mà các mảnh vỡ bị đảo lộn lên, bị tung ra, lật nhào toàn bộ thứ tự, vị trí ban đầu của nó. Đến đây, có cảm giác như văn học đã gần với các thủ pháp cắt xén, lắp ghép hình ảnh trong điện ảnh. Nhìn vào chuỗi các sự kiện được thống kê ta có thể thấy được sự kiện thứ 1 và thứ 7 thực ra là một sự kiện liền mạch nhưng đã được cắt chia ra cho các mảnh ký ức 2, 3, 4, 5, 6 xen vào giữa. Hoặc chính bản thân biến cố về chuyến tàu Hà Nội - Vinh ở cuối truyện lại bị phân tán xen kẽ giữa các sự kiện khác, biểu hiện ở sự không liên tục của nó trong trình tự trần thuật 27, 29, 33. Người đọc có thể chắp nối được đây, đó những hình ảnh của quá khứ với hiện tại, thời bình và thời chiến theo dòng kí ức của nhân vật.

Ta còn bắt gặp sự lắp ghép qua những tình tiết trong câu chuyện như: Câu chuyện đang kể đến cô giao liên Hoà thì bỗng dừng lại, xen vào đó là chuyện Kiên viết tiểu thuyết (hoà bình), tiếp đó là việc ghé thăm lại Đồi Mơ, câu chuyện lại xen ngang ký ức về người dượng (trước chiến tranh), mạch lại quay về việc Kiên viết tiểu thuyết (hoà bình) -chuyện những người trong khu dân cư - chuyện về Hạnh -nghĩ về Phương (trước chiến tranh) - chuyện cô gái điếm em đồng đội của Kiên - nghĩ về đồng chí Sinh - xoay quanh câu chuyện ngày Kiên trở về sau chiến tranh - chuyện cô gái câm ở chung cư - nghĩ về Phương và Kiên lúc còn trẻ - nghĩ về sự tác động của Phương đối với Kiên trong chiến tranh… Cứ như thế, từng câu chuyện không có quan hệ nhân quả gì với nhau lại được xếp cạnh nhau tạo sự phức tạp, đứt gãy và chuyển đổi nhanh chóng. Kiểu kết cấu này dựa trên kỹ thuật lắp ghép của nghệ thuật điện ảnh. Về hình thức cấu trúc truyện có vẻ rời rạc, lỏng lẻo, về nội dung được kể không tuân theo quy luật nhân quả, cái ảo và cái thực đan xen. Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép từ những mảnh vụn của hiện thực không tạo ra những tình huống kịch, các yếu tố sự kiện được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc.

Trong  tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh dù không đánh số thứ tự nhưng tác phẩm cũng được chia thành bảy phần dài ngắn khác nhau, tùy thuộc vào cảm xúc của nhân vật mà câu chuyện diễn tiến.Tính phân mảnh thể hiện rõ nhất ở nhân vật chính mà ở đây là nhân vật Kiên.Tác giả đập vỡ các mảng văn trần thuât thành những vụn vỡ rời rạc, xô lệch không theo một trật tự nhân quả nào và tương ứng với mõi mảnh đời sống được biểu hiện. Thay vì duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả của chuỗi sự kiện gắn với hoạt động của nhân vật chính thì tác phẩm tan vỡ thành những mảnh  của cuộc đời nhân vật chính. Những câu chuyện mà Kiên nhớ lại trong tác phẩm được trình bày không trọn ven trong cùng mọt lúc mà phân thành những đoạn khác nhau và xen kẽ vào nhau.Ở đầu tác phẩm Kiên nhớ về cô giao liên Hòa, chuyện được kể ở phần kết thúc là “Hòa gục ngã giũa trảng cỏ và đằng sau bọn Mỹ xô tới, vây xúm lại, trần trùng trục, lông lá một bầy như những con đười ươi, phì phò thở, giằng giật, nặng nề hộc rống lên”. Sau đó câu chuyện dừng lại, người đọc chưa rõ nguyên nhân cũng như bắt đầu của câu chuyện, xen vào đó là những sự kiện và chi tiết khác. Đến gần cuối tác phẩm, toàn bộ câu chuyện vê cô giao liên Hòa mới hoàn chỉnh. Đặc sắc nhất trong sự phân mảnh các câu chuyện là những kí ức về Phương. Phương là người phụ nữ xuất hiện hầu như xuyên suốt cả tiểu thuyết, gắn kết các suy nghĩ của Kiên, là động lực cho Kiên viết và cũng là nguyên nhân làm anh đau khổ.Những câu chuyện về Phương được Kiên nhớ cũng rời rạc, chắp nối và rải đều khắp tác phẩm. Khi là hình ảnh Phương và Kiên trong những ngày ấu thơ, của tuổi mười bảy; khi là hình ảnh của Phương bị làm nhục ở nhà ga Thanh Hóa và khi là Phương – nạn nhân sau chiến tranh sống cuộc đời trụy lạc.Xuyên suốt trong tác phẩm là nỗi nhớ về Phương, da diết và ám ảnh. Câu chuyên Phương và Kiên ở nhà ga Thanh Hóa trong chuyến tàu Hành quân vào Nam được phân ra thành ba mảnh vỡ xuất hiện xen kẽ không đồng thời mà nó đứt gãy cùng với kí ức của Kiên.

Tính phân mảnh còn thể hiện trong mối liên hệ giữa các nhân vật ngày càng trở nên lỏng lẻo trong một thế giới rời rạc. Họ hoàn toàn chưa thông hiểu nhau và đặc biệt là chưa hiểu thấu chính mình.Nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh mang “đầy những vết dập xóa trên thân thể tâm hồn”, tiêu biểu là Kiên. Cả cuộc đời Kiên là những nỗi đau nối tiếp, trước chiến tranh là nỗi mất mát tình thương của mẹ, sự xa cách với cha; trong chiến tranh và hòa bình là nỗi đau nặng nề hơn về sự hủy diệt mất mát của tình người, sự hi sinh của đồng đội và những khoảng trống không thể lấp đầy trong tình yêu với Phương. Kiên sống như môt chứng  nhân của lịch sử, đầy dằn vặt và đau khổ nhưng mọi người hầu như không hiểu được anh, họ cười nhạo Kiên, xem anh như môt kẻ tàn tật về tâm hồn. Những người có thể hiểu Kiên thì cũng trong hoàn cảnh như anh, đó là cô gái câm sống âm thầm lặng lẽ nhưng ngày càng say đắm  mê muội Kiên và để anh chiếm đoạt chị “môt cách cuồng bạo, khốc liệt, giằng xé, thẳng thừng tàn phá, đâm vào chị nỗi đơn độc bí ẩn, sắc như dao, đầy hiểm nghèo của anh”. Hơn thế nữa là Phương, cô bạn gái, người vợ không trọn vẹn của Kiên. Chính Phương cũng là môt nạn nhân của chiến tranh và đã trượt dài trong xã hội hậu chiến, người con gái đã cho Kiên thêm sức mạnh để chiến thắng và bước qua chiến tranh đã sống dưới ánh mắt khinh bỉ của biết bao nhiêu người.Thế nhưng dù yêu Kiên như thế nào thì trong Phương có những suy nghĩ của Kiên cô cũng không thể nào hiểu được, như cha Kiên đã từng nói sắc đẹp của Phương là lạc thời và lạc loài. Chính vì vây thân phận Phương cũng lạc đi trong xã hội và trong cuộc đời Kiên.

Mặc dù không có ý định phân tích Nỗi buồn chiến tranh dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, tuy nhiên, khi tiếp xúc với lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại, ta nhận thấy Nỗi buồn chiến tranh có những biểu hiện gần gũi. Chẳng hạn, đề cập tới đặc trưng phân mảnh của phương pháp sáng tác này, Barry Lewis cho rằng: "Hoặc là cốt truyện bị nghiền nát thành từng viên nhỏ của biến cố và hoàn cảnh, nhân vật bị phân tán thành một bó những khát vọng nhức nhối...", hay một nhà nghiên cứu khác nhận xét "những ghép nối chiều sâu được thể hiện qua các tiểu đoạn đứt khúc, ghép quá khứ với hiện tại, tâm cảnh với ngoại cảnh, lịch sử và phi lịch sử...”. Văn xuôi Việt Nam sau 1986 đang trong quá trình vận động nên chưa thể kết luận rõ ràng về điểm tới của xu hướng phát triển này. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là tự sự đương đại đang nỗ lực vượt thoát khỏi những dạng thức truyền thống.

Nếu như trong văn học giai đoạn 1945-1975, với lối kết cấu sự kiện đơn tuyến, cốt truyện có một vị trí quan trọng tạo thành một cái khung cố định, sắp xếp tổ chức chuỗi sự kiện mạch lạc và chặt chẽ thì cùng với xu hướng kết cấu tâm lý trong văn xuôi sau 1986, cốt truyện bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho những dòng chảy bất định của tâm trạng con người. "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh đã cho ta thấy được điều đó. Cốt truyện vẫn tồn tại song bắt đầu bị biến dạng và phân rã - "thay vì duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả của chuỗi sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính, tự sự tan vỡ thành một chuỗi lắp ghép các phân đoạn, các "mảnh vỡ" của cuộc đời nhân vật chính...","thay vì triển khai tự sự bám vào "cuộc phiêu lưu của nhân vật", nhà văn lại biến tự sự trở thành một "cuộc phiêu lưu của cái viết" nghĩa là sự chắp ghép ngẫu nhiên những mảnh vỡ - những sự kiện phân tán và rời rạc"(Trịnh Bá Đĩnh dịch, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, 2002)

TAGS:

Tin mới nhất

Tin mới nhất