Sáng Tác > Thế Giới Sách

02/02/2012 11:171430 lượt xem

Phiên chợ Giát và cảm quan Carnaval về không gian và thời gian

Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu những năm sau 1975 đã có nhiều chuyển biến quan trọng về đề tài, nhân vật, đặc biệt là về hình thức nghệ thuật.

          Con người đa diện được tác giả thể hiện bằng một năng lực miêu tả và lí giải đầy tính sáng tạo. Những vấn đề của đời sống hiện đại đã buộc người ta phải thoát khỏi “trạng thái sử thi” để trở về với cái đời tư bản ngã. Nguyễn Minh Châu thực hiện điều đó không chỉ với cái nhìn của một người trong cuộc mà còn với tư cách như một “chủ nhân” của những biến cố dữ dội, tự nhận thức và tự xác định ý nghĩa cho hành động mình. Từ Mảnh trăng cuối rừng đến Cỏ lau rồi Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Phiên Chợ Giát… thực sự không đơn thuần chỉ là sự chuyển biến của chủ đề, đề tài mà còn là cả quan niệm về ý thức nghệ thuật. Lý thuyết về những giấc mơ, những ẩn ức được đưa vào tác phẩm của nhà văn tạo nên những tâm trạng đầy biến động phức tạp, với rất nhiều ngẫu nhiên, đột biến. Không gian và thời gian sử thi được thay thế bằng không gian và thời gian cá thể đời tư. Tác phẩm Phiên Chợ Giát đã thực hiện những thay đổi đó trên cả hai phương diện: Nhận thức đời sống và tư duy nghệ thuật.

          Cảm nhận cuộc sống và con người như những nhân vật “trên đường đi”, những khách thể chưa hoàn thành, những ý định chưa bao giờ hoàn tất, là tư duy nghệ thuật từ Phiên Chợ Giát. Người nông dân ở Nguyễn Minh Châu đã khác hẳn với người nông dân của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Đào Vũ, Nguyễn Văn Bổng… trước. Lão Khúng của tác giả là một cá thể vừa sù sì, vừa nhân bản lại vừa phi nhân bản - nghĩa là chứa đựng một tính cách hết sức đa dạng, chẳng giống ai cả. Nhân vật của Nguyễn Minh Châu trên hành trình đi tìm chân lí cho cuộc sống đã có hẳn một trường không gian và thời gian cho riêng mình. Nhà văn tổ chức tác phẩm bằng một cái nhìn biến đổi và chính điều đó đã mang đến cho tác phẩm một “kích thước” mới.

          Thực ra mà nói, không gian và thời gian trong tác phẩm này có hai lớp: Lớp thứ nhất là thời gian, không gian truyện - tức là thời gian và không gian tuyến tính, mở đầu bằng “lão Khúng thức giấc…” và kết thúc là “… Đứng lặng thinh bên chiếc xe chất đầy củi mà lão đã thay nó một mình kéo về được đến đây, lão Khúng chẳng biết nói gì với con vật, lại càng không thể trách móc, lão chỉ đưa mắt nhìn người bạn đời làm ăn thân thiết bằng cái nhìn cũng đầy sầu não và phiền muộn”; thứ hai là thời gian và không gian tâm lí, nó tiến triển theo những biến động của tâm tư, những khoảng nghĩ, những miền ý thức, những giấc mơ và ẩn ức… Môi trường ấy trong Phiên Chợ Giát phức tạp hơn nhiều. Tác phẩm là cấu trúc của những giấc mơ, có giấc mơ mộng mị và những giấc mơ tỉnh. Nhân vật vừa ý thức nhưng lại như đang sống trong cõi vô thức vậy. Chính điều đó đã tạo cho tác phẩm một kích thước khác thường để có thể ôm chứa được một hiện thực nội tâm rộng lớn.

           Nói về sự tiềm ẩn của tư duy, Henri Bergson chú ý đến “cái đà sống”: Ý thức là sự kéo dài tự thân của chúng ta, “là sự trào dâng trong đời sống nội tâm, và nếu xét theo cấp độ của vũ trụ, thì nó là sự xung động của sự sống, làm sống động thế giới” (1). Nhận thức ấy đã phần nào phù hợp với Phiên Chợ Giát. Sự diễn biến tự nhiên của cảm xúc và tư duy với những suy nghĩ phát khởi từ mọi hướng, cả nội quan và khách quan, là bản thể của lão Khúng. Nhân vật dường như bị động vì mục đích ngoài ý thức (bán bò để có tiền vào Đắc Lắc giúp con) lại bỗng trở nên chủ động khi đánh con bò vào rừng. Có thể nói, nhân vật trong tác phẩm được tác giả quan niệm như một chủ thể tự nó, hay nói cách khác là một “khách thể chủ động”. Xuất hiện chủ yếu ở vai trò người quan sát và kể lại, nhà văn đã tạo được một khoảng cách cần thiết để nhân vật bộc lộ tâm tư với ý nghĩa như một nhận thức tự thân.

           Trên thực tế, không gian nghệ thuật trong tác phẩm là một không gian đa chiều được định hình chủ yếu bằng trực giác của nhân vật. Cảnh vật lúc đầu trải ra trong đêm tối, tâm tư cũng lắng vào sự mênh mông của đất trời. Hiện thực được xen kẽ liên tiếp bởi các mảng không gian khác xuất hiện từ những hồi tưởng và chợt nhớ đầy dấu ấn cá thể. Không gian ấy cứ mở ra theo hướng nhân vật tiến về đời sống xã hội (phố Cầu Giát). Nhưng khi chạm đến được nó thì nhân vật vội vàng rụt lại, ẩn vào trong “cái tôi bản ngã” bởi chợt cảm thấy sợ hãi và cô đơn. Những giới hạn của không gian liên tục bị phá vỡ bởi chính sự vận động nội tại của chủ thể đã tạo ra sự biến động đa chiều của tâm tư. Qua toàn bộ những biểu hiện cụ thể của nó, ta có thể thấy quan niệm nghệ thuật về con người đã thấm vào trong từng cấu trúc của thành tố tác phẩm.

           Bắt đầu từ ngôi nhà của lão Khúng, ngôi nhà của một cá thể cố hữu với “tấm phản quen thuộc giữa nhà”, gian bò sau nhà bếp, hồi nhà, ngọn đu đủ đằng sau nhà, cái sân… Ngôi nhà hướng ra phía biển ấy có gì đó thân thuộc, gần gũi nhưng lại cô độc trong một không gian vắng lặng giữa khu công nghiệp đang trong giai đoạn thi công. Không gian được mở rộng theo trường nhìn của nhân vật, hay nói chính xác là của một tư duy gần với tự nhiên. Cái cổng với cây vối có ý nghĩa tượng trưng như một điểm ngăn cách mờ ảo giữa tiềm thức và ý thức, tự nhiên và xã hội, cái ta và cái cá thể.

           Trong không gian ấy là lão Khúng với những giấc mơ kì lạ. Lão mơ thấy mình với hình dáng kì dị, quái gở, đang giơ cái búa tạ đánh xuống đầu con khoang đen, con vật mà lão vô cùng yêu quý; tiếp sau đó lão đột ngột tỉnh giấc rồi lại chìm ngay vào giấc mơ thứ hai với cái xe hơi bay trên không và hình ảnh ông chủ tịch Bời béo tốt. Ở đây, không gian dường như bị ngưng đọng trong giấc mơ để nhân vật chỉ còn sống trong không gian tiềm thức của riêng mình.

          Câu chuyện cũng mở ra với không gian con đường nhưng chính con đường lại gợi ra một ý tưởng về tự nhiên nhiều hơn là xã hội. Đó là con đường đầy đá và bụi của những người lao động như lão đi nhiều mà thành. Hình ảnh ấy mở rộng trường hoạt động của cá thể. Lão Khúng đặt chân lên con đường là như bước vào cuộc giao tiếp với cuộc sống xung quanh, nhưng con đường vắng lặng thành ra lão vẫn tồn tại như một cá thể thủ cựu, lạc loài. Những dấu vết của hiện thực lần lượt hiện lên xen kẽ những hồi ức về gia đình, về cảnh lao động tập thể đối với lão chẳng khác nào một kỉ niệm xa lạ và buồn bực. Trên con đường ấy tuy có một lối rẽ về với tự nhiên, với rừng thẳm nhưng nó chỉ gợi tới cho ta một ước vọng hoang sơ và an bình nằm rất sâu trong tâm thức của lão. 

           Biên độ của không gian được mở rộng theo hành trình của lão Khúng. Cái không gian của phố chợ Cầu Giát ồn ào, nhộn nhạp đến khó chịu đối với lão có gì đó nhơm nhớp và đầy chết chóc. Phố chợ hiện lên dưới mắt lão (lão như một con bò đang đi đến chỗ chết) chẳng khác nào một cảnh huỷ diệt. Lão trốn chạy nó trong trạng thái vật hoá. Chính không gian ấy đã cho ta thấy bản chất nông dân thuần tuý trong con người lão. Càng tiếp xúc với đời sống xã hội lão càng cảm thấy mình xa lạ, lạc loài.

          Có thể nói, lão Khúng trong không gian ấy đã có một số phận riêng, với những tâm sự riêng mà chỉ mình lão mới thấu hiểu được. Sự vô hạn của không gian và thời gian đã được Nguyễn Minh Châu lí giải chủ yếu bằng những đột phá vào thế giới nội tâm của nhân vật. Độ lớn của tác phẩm không nằm ở dung lượng của lời văn mà thực sự nằm ở chiều sâu phản ánh của bản thân nó.

          Nhưng phải nói rằng, không gian và thời gian trong tác phẩm không chỉ phát triển theo quy luật tuyến tính mà chủ yếu nó vận động theo diễn biến tâm lí của nhân vật. Henri Bergson có lí khi cho rằng: “Thời gian là cái vật lí, có thể nhận thức bằng lí tính”, còn “thời biến” là “cái tâm lí”, và theo ông, đây mới là đời sống đích thực như nó vốn có và “chỉ có thể cảm nhận được mà thôi” (1). Quả vậy, trong Phiên Chợ Giát, toàn bộ hiện thực đã được bộc lộ theo những chặng đường tư tưởng của cá nhân, của tâm lí cá thể. Tác phẩm độc đáo ở những “nẻo rẽ” của tâm trạng, nó mở ra những không gian nhiều kích cỡ và thời gian biến động. Đó là cuộc hành trình của tâm lí với liên tục những hồi cố được chắp nối rời rạc với thực tại. Khi lão ôm con gái lão (bé Nghiên) vào lòng và nhận ra “trên cơ thể của nó có cái mùi cỏ ống vừa cắt, cả mùi đất rừng hoang dã rất xa xưa đã ngủ kĩ trong kí ức của lão nhiều năm về trước, khi lão còn là một chàng trai trẻ…”, bây giờ “con người đã đông hơn con vật, sắt thép đã đông hơn cây cối, vậy mà lão lúc nào cũng nơm nớp…” Từ việc bán con bò mà lão nghĩ đến thằng Dũng (con trai lão) đã hi sinh và nỗi đau to lớn ẩn rất sâu trong lòng. Thời gian tâm lí là cái hiện ra đầy đủ nhất, phức tạp nhất trong toàn bộ cấu trúc thời gian của tác phẩm. Sự vận động của nó đã tái hiện một môi trường khác đầy biến động bên cạnh những bước đi có tính quá trình của đời sống. Ta nhận thấy rằng, xuyên suốt tác phẩm, hiện thực như bị ngưng đọng để nhân vật chỉ sống trong những miền tiềm thức và vô thức mang đầy dấu ấn cá thể. Ý thức của lão Khúng dường như bị lạc vào một vũ trụ không có điểm tựa, nó trôi đi trong những miền trực giác dường như vô hạn. Và phải chăng, diễn tả tâm tư của lão Khúng, Nguyễn Minh Châu đã thấy được “độ nở” của thế giới vốn bị chìm khuất trước bao nhiêu tính toán của con người thực tại.

           Sự tĩnh lặng về đêm là thời điểm dường như vắng hẳn sự giao tiếp xã hội. Chỉ ở vào cái thời khắc đó thì lão Khúng mới bộc lộ hết bản thể của mình. Sau những giấc mơ lạ kì, lão dắt con bò đi bán với bao nhiêu suy tư. Nỗi lòng của lão lúc này có lẽ chỉ có mụ Huệ - vợ lão, mới hiểu được: “Hai vợ chồng lão Khúng đứng nhìn con bò rồi nhìn nhau một lúc trong đêm vắng. Cả hai vẫn lặng im”. Sự chia tay của hai vợ chồng với con vật thân yêu đã gắn bó bao năm với họ, không cần nói bằng lời.

          Thời gian tâm lí được thực hiện bằng những chuyển động của tâm tư trong những tình huống đặc biệt. Ở thời điểm khi vừa ra khỏi cổng nhà thì đứa con nhỏ chín tuổi của lão Khúng chạy đến đưa tiễn con bò. Lão ôm đứa con gái vào lòng và đột nhiên kí ức dội về từ cảm nhận hương vị núi rừng trong mái tóc con gái. Hiện thực mờ đi để chỉ còn lại là những rung cảm từ quá vãng trong lòng lão. Đặt nhân vật ở thời điểm chia tay, lão vừa là người trong cuộc - “người cha” với con gái và “người chủ” - với con khoang đen, vừa như một khách thể đứng ngoài quan hệ con gái lão với con bò. Vì thế, nhân vật đã có được những rung động sâu sắc từ quá khứ phiêu bạt của đời mình. Những ẩn ức ấy dội về âm thầm và mãnh liệt, lặng lẽ mà xao xuyến. Nhận thức về cuộc sống của lão cũng trở nên nhạy bén hơn. Ta thấy rằng, những rung động của một tâm hồn vừa thuần phác vừa chai sạn đã thúc đẩy những suy tư, những tính toán, những lo sợ, hoảng hốt qua từng thời điểm của nhân vật. Những quãng đời khác nhau, mỗi quãng lại là những mối lo âu, băn khoăn thường trực cứ hiện lên vừa ồn ào, vừa sâu sắc trong suy tư hỗn độn của lão. Tất cả được nhà văn thể hiện như một dòng chảy tâm linh lặng lẽ mà sôi nổi vô cùng.

           Như thế, kí ức cá nhân đã sống dậy từ những gợi nhớ đôi khi rất ngẫu nhiên của thực tại đã phân tách thời gian và không gian ra thành hai dạng thức môi trường hoàn toàn phân lập và mỗi dạng đều nhằm thể hiện một cách sinh động nhất cái phong phú của chỉnh thể nghệ thuật. Những nẻo khuất của tâm trạng được thực hiện bằng những dòng kí ức luôn luân chuyển. Nguyễn Minh Châu đã thực hiện điều đó bằng một giọng văn trầm tĩnh và tự nhiên.

           Ở nhiều đoạn trong tác phẩm, quá khứ được đặt trong sự so sánh với hiện tại làm cho tâm trạng của lão Khúng càng trở nên sinh động hơn. Nhưng sự so sánh ấy chẳng đem lại một định hướng cụ thể nào cho nhân vật mà hình như càng làm cho tâm trạng trở nên rối rắm hơn. Chính chúng lại đem đến cho lão những nỗi bất an ngày càng lớn. Đến khi bước vào một không gian rộng lớn hơn với con đường, rừng cây, “những trạt đồi nằm nhấp nhô hai bên” và “bầu trời” với những “vạt sao xanh ngời ngời”; trời sáng ra thì lão Khúng lại như thu mình lại, một phần vì lạnh, một phần cũng vì muốn cất giấu bản thể. Chỉ còn lão với con bò cô độc trên con đường ấy. Nó thực sự là một phần của lão. Điều đó làm nảy sinh những đối thoại có tính chất độc thoại. Hoàn cảnh đã kích thích hành động giải toả tâm linh ở lão Khúng. Bối cảnh trước đây như một kẻ vô tình đứng bên ngoài sự vận động của tâm linh thì giờ xuất hiện như một kích thích, một gợi mở cho ý thức cá nhân. Những “ngả rẽ” tâm tư lại hiện ra liên miên, trùng điệp.

           Từ suy nghĩ về việc bán bò, lão Khúng có lí do để triền miên trong ý thức của mình. Thời gian và không gian chợt lùi về quá vãng hai năm cùng với nỗi đau bất ngờ dội về từ thẳm sâu trong lòng lão… Cái ngày đau thương ấy (khi lão nghe tin về cái chết của đứa con trai) sống dậy trong lão đến từng chi tiết. Cảm thức về thời gian tâm lí đã được nhà văn thực hiện như một phương tiện làm sống động những rung động tinh vi trong lòng nhân vật: “Trong một thoáng chốc, lão đâm sợ cả chính mình, như một con chiên sợ đánh mất một đức tin lão đã đánh mất đứa con, lại đánh mất luôn cả những ảo ảnh về nó”. Vậy là trong lão đã tồn tại một nỗi đau vô bờ mà từ trước tới nay lão không hề bộc lộ, không hề giãi bày, không hề chia sẻ với bất kì ai. Lão coi đó là nỗi đau của riêng lão. Bởi thế, trong tâm thức của lão Khúng, cảnh lão đẩy chiếc xe bò chở đầy đá lên lưng chừng dốc thì nghe tin sét đánh (con lão chết); cảnh lão làm cái bàn thờ cho con, cảnh lão mang cái ba lô rách lên uỷ ban rồi lại quay trở về trong nỗi đau âm thầm vò xé… hiện lên rõ ràng như vừa mới trải qua. Những ngả rẽ đau đớn ấy của tâm tư lão Khúng đã giúp ta thấy được phần nào bản chất thực sự của nhân vật. Đó là một người cha thương con nhưng cũng biết ghìm mình trước nỗi đau thương và gìn giữ nó như một bí mật, như một phần của sự sống nội tâm thẳm sâu không bao giờ đòi hỏi sự giãi bày. Sự hi sinh ấy của lão Khúng là sự hi sinh thầm kín của người nông dân mà Nguyễn Minh Châu đã dụng tâm diễn tả bằng tất cả năng lực cảm nhập của lòng mình.

           Và chốc lát, con đường mà lão đang đi trong hiện tại chợt như con đường xuống địa ngục, đến chỗ chết. Tác giả để cho nhân vật bừng tỉnh ở thời điểm quá khứ dội về đang ở chỗ đau đớn nhất. Những “chợt rùng mình”, “chợt nhìn thấy”, “tự nhiên lão lo quýnh lên”, “tự nhiên lão Khúng thấy ngượng nghịu”, “bất giác… bỗng lão không kìm được, tự nhiên bật cười…” đã khắc hoạ khá rõ ràng những chuyển động đột ngột của tâm tư, chúng chẳng khác nào những thước phim chạy nhanh trên màn ảnh, làm tái hiện một tư duy phức tạp và biến động. Nhưng chính đó lại là tâm trạng thực của lão Khúng. Chỉ có như thế, tâm lí nhân vật mới hiện ra một cách đầy đủ nhất, đa dạng nhất. Đặc biệt, ở một vài đoạn văn chúng ta thấy xuất hiện tính uy mua (giễu nhại mang dụng ý nghệ thuật có tính cách tượng trưng…) xuất hiện để càng về cuối nó hiện lên càng rõ.

            Tiếp theo, từ một điểm nối rời rạc là “ngôi sao vừa tắt” ở cuối chân trời, những suy tư lại trở về ngổn ngang trong lòng nhân vật. Một hiện thực khác được mở ra. Đến đây, lão Khúng đã thực sự như một kẻ lang thang giữa quá khứ và hiện tại. Lão là kẻ sống ở cả hai cực của thời gian. Điều đó giúp ta có thể lí giải tại sao lão lại chán cảnh vắng vẻ nhưng lại sợ chốn đông đúc, nhộn nhịp. Không gian tâm lí giờ đây là cảnh làm ăn tập thể đang hiện về. Lão nhìn nó bằng ánh mắt dường như vô tình. Ở đoạn này, câu chuyện lại hé mở một chủ đề khác nữa là vấn đề người nông dân trước phong trào tập thể hoá xã hội chủ nghĩa. Hình ảnh ông chủ tịch huyện tên Bời hiện lên rõ ràng nhất trong tâm trí lão. Đến đây, người đọc có thể nhận ra tại sao trong giấc mơ đầu tác phẩm, hình ảnh chiếc ô tô bay và ông chủ tịch béo tốt lại hiện về như một ám ảnh. Có thể nói: Hiện thực cuộc sống gay gắt của lão Khúng đã tạo ra giấc mơ cho chính lão. Tuy nhiên, kết thúc tác phẩm, con người hai mặt vẫn hiện tồn như nó đã vốn có trong cuộc đời này vậy.

            Phải đến khi lão quyết định giải thoát cho con khoang đen và trở về khi màn đêm đã nhợt trắng, không gian và thời gian tâm lí mới ra đi để nhường chỗ cho thực tại. Phải chăng ánh sáng đã đưa lại sự tỉnh thức cho lão, hay cho cái tâm tư hai mặt của lão. Đến đây, nhân vật mới sống đời sống của thực tại, chuyên tâm vào thực tại, dù phải đến khi kéo xe vào cái khu nhà trọ của học sinh xa nhà ở phố Cầu Giát, lão mới thoát khỏi trạng thái tỉnh - mộng; nhưng chính lúc đó lão lại gặp lại chính mình trong sự thất vọng tột cùng. Lão Khúng chẳng thể giải thoát cho mình cũng như con khoang đen tự tìm về bên lão để chịu sự nô lệ suốt đời.

            Sự vận động tư tưởng của tác phẩm thực sự đã nhận được sự hỗ trợ tối đa của toàn bộ cấu trúc của chỉnh thể, từ ngôn từ, kết cấu đến chủ đề, nhân vật… Tác phẩm là sự phân giã của hệ thống điểm nhìn tối ưu để đi vào sự đa cực. Không gian và thời gian nghệ thuật luôn luôn biến động theo đời sống nội tâm của nhân vật, vì thế mà chúng trở nên phi tuyến tính, không giới hạn. Cường độ và trường độ hoạt động của tâm trạng nhân vật đến đâu thì không gian và thời gian mở ra đến đấy. Bằng một kết cấu đa dạng với nhiều khoảng nghĩ, tác phẩm thực sự đã mở ra một cái nhìn “tiểu thuyết” cho thể loại truyện ngắn. Tuy nhiên, để có được những đánh giá khái quát hơn nữa, thiết nghĩ công việc nghiên cứu không phải chỉ làm một lần mà xong./.

                                     Ths. Nguyễn Xuân Huy - Đại học Hùng Vương

 

     TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Phương Lựu: Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX - NXB VH - HN - 2001.

(2) M. Bakhtin: Những vấn đề thi pháp Đoxtoiepxki (Trần Đình Sử dịch) – NXB GD - HN - 1998.

(3) Trần Đình Sử: Dẫn luận thi pháp học – NXB GD.

(4) M.B. Khrapchenko: Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học (nhiều người dịch, Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu) – NXB ĐHQG HN – 2002.

(5) Trần Đình Sử Lí thuyết cacnavan hoá của M.Bakhtin và tư duy tiểu thuyết hiện đại – tạp chí Sông Hương (www.tapchisonghuong.com.vn – ngày 09/09/2008).

(6) Hiếu Hà (Đại học Nhân dân Trung Quốc) Nghiên cứu Bakhtin ở Trung Quốc - (http://www.vienvanhoc.org.vn).

(7) Phạm Vĩnh Cư Francois Rabelais và bí nhiệm  của tiếng cười (http://tintuc.xalo.vn).

(8) Nguyễn Mạnh Hà Tư duy tiểu thuyết: Khái niệm của hệ hình (http://vannghedanang.org.vn).

    Tin mới nhất

    Tin mới nhất