Sáng Tác > Thế Giới Sách

18/10/2011 10:595897 lượt xem

Tìm hiểu về thơ Vi Thùy Linh

Năm 1975 mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam: thời kỳ hòa bình, thống nhất sau 30 năm trường kỳ kháng chiến. Niềm vui ngập tràn, trong cả thực tại lẫn văn chương. Thơ ca, tất nhiên, cũng...

I.  MỞ ĐẦU

1. Khái quát thơ Việt Nam 1975 - 2000

Năm 1975 mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam: thời kỳ hòa bình, thống nhất sau 30 năm trường kỳ kháng chiến. Niềm vui ngập tràn, trong cả thực tại lẫn văn chương. Thơ ca, tất nhiên, cũng không là ngoại lệ. Mười năm đầu thơ Việt Nam tiếp nối cảm hứng sử thi bằng những tác phẩm ngợi ca cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt và niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước…

Chiến tranh càng lùi xa, cuộc sống xã hội càng có nhiều thay đổi, và thơ ca cũng chuyển mình. Từ những xúc cảm về cuộc sống trong kháng chiến, các nhà thơ dần quan tâm đến cuộc sống đời thường, cái tôi cá nhân được thể hiện ngày một rõ nét hơn.

Có thể nói “cái tôi” trữ tình cá nhân, đặc biệt là “cái tôi” trong tình yêu  là một nét mới trong nội dung thơ giai đoạn 1975-2000. Nếu như ở giai đoạn trước “cái tôi” cá nhân thường phải nhường chỗ cho “cái ta” tập thể thì trong giai đoạn này, “cái tôi” trở nên mạnh mẽ, say mê và luôn khát khao khẳng định mình, là “cái tôi” dâng hiến đến tận cùng cho tình yêu như thấy trong thơ của Hoàng Hưng, Lê Đạt, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh…

Nhìn chung thơ ca giai đoạn 1975 - 2000 rất phong phú, đa dạng. Nó vừa tiếp thu truyền thống thơ cách mạng - kháng chiến vừa có những tìm tòi, sáng tạo độc đáo đủ để hình thành nên một diện mạo tươi mới hơn.

2. Vi Thùy Linh và tập thơ KhAt

    Tác giả Vi Thùy Linh

Tuy thuộc vào thế hệ cầm bút trẻ nhưng Vi Thùy Linh đã nhanh chóng trở thành một “hiện tượng” trong nền thi ca Việt Nam đương đại

Vi Thùy Linh sinh ngày 4 tháng 4 năm 1980 tại Hà Nội. Vào tuổi 15 (1995) chị bắt đầu có thơ đăng trên báo Tiền Phong. Đến nay Vi Thùy Linh xuất bản mấy tập thơ:

-         KhAt (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1999).

-         Linh (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2000).

-         Đồng tử (Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2005).

-    Vili in love, 2008.

Ngoài ra, tác phẩm của Vi Thùy Linh còn được in chung trong các tập Thơ trẻ chọn lọc 1994-1998, Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000...

Lớn lên vào buổi những thi điệu đã quá già mà người đến với thơ ca bằng tấm lòng tươi trẻ hãy còn thưa vắng, có lẽ vì thế Vi Thùy Linh không vin dựa vào truyền thống, không sống, không viết “theo kiểu bầy đàn”. Chị không thể làm thay đổi cái bản thể đích thực của mình, để trở thành một người rụt rè trước những cái đã thành “phong tục”.  Vi Thùy Linh “dám mới”, thậm chí sốt sắng cải tạo tinh thần của thi ca. Dường như chị không viết cái gì khác mình. Chị sống bằng chính con người thật của mình trên trang giấy.

 

Nhà thơ Vi Thùy Linh

Vi Thùy Linh thích sống một cuộc đời “động”, một cuộc đời nhiều thử thách và bí mật. Chị nhìn thấy ý nghĩa cuộc đời này chỉ được tạo sinh trong những cuộc đi dài, không ngừng nghỉ, cho nên chị đã dấn thân, thậm chí cả liều lĩnh để khám phá và chinh phục những đỉnh cao, mà nếu chỉ có nhiệt huyết thôi thì không thể nào với tới được.

Vi Thùy Linh thích sự “cô đơn”. Chị vẽ ra trên khung giấy hình ảnh một nhà thơ độc mã trên con đường sáng tạo; thế nhưng chị cũng thường xuyên ca tụng sự hoà hợp của tâm hồn, của thể xác - theo cách mà nỗi cô đơn sẽ trở thành thù địch với nó.

           Người đọc thấy ở Vi Thùy Linh có cái “động” của một người thuộc thế hệ 8X, mới mẻ và hiện đại; có cái buồn, cô đơn tạo nên phong thái của một nhà thơ; và cũng có cái nồng nàn, “dữ dội và dịu êm”, đầy nữ tính… Chính những nét tính cách hòa trộn ấy đã tạo nên một ViLi độc đáo, một ViLi không lẫn vào đâu được, một ViLi nghệ sĩ ngôn từ viết nên tập thơ KhAt.

Tập thơ KhAt

KhAt là tập thơ đầu tiên của Vi Thùy Linh xuất bản vào tháng 1 năm 1999.

Tập thơ gây một tiếng vang lớn, đem lại tên tuổi cho Vi Thùy Linh với nhiều ý kiến khen chê khác nhau.

Nhà thơ Nhật Chiến nhận xét về tập thơ: “Với Khát vọng sống, khát vọng yêu và khát vọng sáng tạo luôn tràn đầy trong tâm thế, cây bút trẻ này vượt lên bằng cá tính thơ của mình, để cùng những nhà thơ trẻ hôm nay báo hiệu một ngày mới đang đến với nền thi ca đương đại Việt Nam”.  Còn Trần Đăng Khoa với xúc cảm “liên tài” đã khẳng quyết: “Phải nói Vi Thùy linh là một người dũng cảm và tự tin. Thơ chị có nội lực, chị vịn vào nội lực ấy đứng dậy trên hai chân của mình và sáng tác bằng nước mắt. Đọc chị, ta luôn có cảm giác rợn ngợp như đang đứng trước một ngọn núi lửa vừa mới tuôn trào với một sức mạnh không thể ngăn cản nổi”.

      Tuy nhiên, trong bài viết Văn chương trẻ - Rất cần chiều sâu và tầm nhìn văn hóa, Trần Trọng Bình lại có cái nhìn khác về KhAt: “Có thể thấy, trong thơ Vi Thùy Linh tuy sự chân thành, thậm chí “cuồng nhiệt” thì có thừa nhưng lại thiếu và đánh mất sự đằm thắm, những dịu dàng, những tinh tế của con người (đặc biệt là người phụ nữ Á Đông) trong lúc thụ hưởng những phút giây ngọt ngào nhất của yêu đương, của ái ân. Ngoài ra sự “thiếu chiều sâu văn hóa” trong thơ Vi Thùy Linh còn thể hiện trong cách ứng xử trong tình yêu. Trong tình yêu hay trong cuộc sống nói chung con người phải biết dung hòa giữa “cho” và “nhận”, trong sự “đòi hỏi hưởng thụ” và đức hy sinh. Có vẻ như thơ Vi Thùy Linh khi đề cập đến vấn đề này là thiên về “nhận” hơn là “cho”, thiên về đòi hỏi một chiều hơn là sẵn sàng hy sinh…Vì vậy mà người đọc khó đồng cảm, khó nhớ, khó thuộc…”.

Một tác phẩm văn học vô vị, vô hồn thường không lay động độc giả, không làm họ để tâm, nghĩ ngợi về nó. Nhưng phần đông công chúng đã không “làm lơ” với KhAt của Vi Thùy Linh. Đó dấu hiệu thành công của tập thơ nói riêng và những thể nghiệm “cái tôi” mới mẻ nói chung của văn chương đương đại Việt Nam.

II.  NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TẬP THƠ

1. NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ NỘI DUNG

Cái tôi cá nhân với nhiều sắc thái:

Cái tôi phá chấp

    Trong KhAt, Vi Thùy Linh rất biết cách “tự tỏa sáng để trở nên lộng lẫy”. Chị nói về thơ của mình, nói về tính cách của bản thân không ít hơn những lời phê bình về tác phẩm của chị.

Khẳng định cái tôi, Vi Thùy Linh muốn khẳng định giá trị của bản thân. Một cái tôi cá nhân đặc thù, không giống ai, không thể nhầm lẫn với bất cứ người nào:

                          Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở

                          Là cơn gió của đại ngàn Cha…

                          Khi bị gọi nhầm tên.

                          Tôi không nói gì.

                          Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp

                          - Tôi bỏ đi

                                                                                (Tôi)

                Đó cũng là cái tôi tự do, tự lập không chấp nhận sự gò bó, áp đặt:                          

                                 Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi

                           “Hãy để tự con đi!”

                           Độc mã

                           Quyết làm những gì mình muốn

                                                                                           (Tôi)

Cái tôi trong thơ Vi Thùy Linh là cái tôi dồi dào cảm hứng lãng mạn, cái tôi cuồng nhiệt yêu đương và luôn đòi hỏi được đáp đền xứng đáng. Phía nào cũng phải hết mình, bên nào cũng phải tận lực:

 Em mãi mãi muốn anh xiết chặt

 Đừng đánh thức em như trong truyện cổ

 Em không thể mở mắt bởi tiếng khô khốc từ những hàm răng va nhau                                   

                                                                            qua cái hôn quá vội

                                                                (Anh và thời gian)

Cái tôi này mạnh mẽ, thẳng thắn bộc lộ xúc cảm, niềm đam mê trước người yêu để tâm hồn và thể xác họ sát lại gần nhau hơn. Đó là tình yêu xuất phát từ cái tôi chân thành, không hề tính toán nên “tôi” chẳng có gì để phải xấu hổ hay ngại nói lên cảm giác của mình:

             Anh là suy nghĩ của em mỗi ngày thức dậy

             Anh là niềm vui và nỗi buồn, là những gì trong em đang có

             Anh là đỉnh cao khát vọng dâng hiến

                                                                          là hơi thở của em…

                                                                                                       (Sóng)

Vi Thùy Linh quan niệm: “Viết thơ làm văn phải có “cảm xúc và tư chất”, vì nhờ chúng mà mỗi người có cái giọng riêng”. Nhân vật “tôi” rất nhạy cảm và ý thức giá trị nghề nghiệp như một phần làm nên giá trị của bản thân:

                            - Tôi không bán chữ.

                            Tôi làm thơ

                            - Cô sống bằng gì?

                            - Viết báo.

                            - Tôi chẳng viết nổi một dòng thơ

                             Quên đi

                             Đếm tiền sướng hơn chứ!

                             - Tôi làm thơ để giải tỏa những mong đợi

                             Con người tôi nếu trừ thơ, không còn là tôi nữa

(Nhà thơ và những đối thoại)

 Lời “trần tình” trong thơ hoàn toàn nhất quán với những phát biểu của tác giả trước báo chí: “Nghề nghiệp giúp tôi sống ổn… tôi tự lực để tạo dựng tên tuổi trong thơ và thơ ca cũng giúp tôi tự lực trong cuộc sống” (…). Tôi không bao giờ nghĩ đến việc mình làm tiền với thơ. Chỉ nghĩ đến việc đó thôi, tôi đã cảm thấy phản bội với mình với thơ… mục đích của tôi không phải biến thành ngôi sao, không phải để nổi tiếng, không phải để làm tiền”.

 Cái tôi cá nhân trong thơ Vi Thùy Linh còn muốn thâu tóm cả thế gian vào mình. Cho nên ở khía cạnh nào đó, có thể nói thơ của chị là tiếng nói “nữ quyền”,là khát vọng “bắn nát sự cam phận” vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của nữ giới.

Cho nên độc giả thấy người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh thường vượt lên trên mọi rào cản để chiếm lĩnh vùng yêu, thay đổi thế giới. Và cái tôi lúc này như một sự hóa thân, hòa quyện cùng vũ trụ để “tình yêu sinh ra con người”:

             Tôi thích cách sống cô Hồ

             Đêm đêm tôi vẫn thường trò chuyện

             Bằng thơ…

             Hỡi Hồ Xuân Hương, bây giờ ngày càng nhiều những người cô đơn

                                              (Nửa đêm trò chuyện với cô Hồ)

   Vi Thùy Linh thích sống một cuộc đời “động”. Trong thơ Vi Thùy Linh cái tôi cá nhân được khẳng định một cách tự tin. Một cái tôi đầy cá tính, phá cách và phá chấp như chính người đã sáng tạo nên nó.

Cái tôi cô đơn

Buồn và cô đơn là hai trạng thái tinh thần phổ biến trong Thơ mới (1932 - 1941) nhưng lại hiếm gặp trong thơ ca giai đoạn 1945 - 1975. Đến cuối thế kỷ XX, nỗi buồn và sự cô đơn của cái tôi cá nhân lại phục sinh trong thơ những cây bút trẻ, đặc biệt là trong tập KhAt của Vi Thùy Linh.

                 Đầu tiên là cái cảm thấy lạc lõng, bơ vơ vì không tìm “tri âm” trong cuộc sống:  

                 Khi bị gọi nhầm tên

Tôi không nói gì

Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ gặp

-Tôi bỏ đi

Khi cha tôi bảo, sự dữ dội của tôi khiến Người lo sợ

Tôi âm thầm khóc.

                  (Tôi)

Vì sao

Em không tin có ngọn phồn linh và lời thiêng “Vừng ơi”

Em không thể nào lý giải!

Thơ là nỗi buồn trường cửu

                              (Những câu thơ mang vị mặn)

Đó còn là nỗi buồn và nỗi cô đơn trong hành trình tìm sự hoàn mỹ, dẫu biết “hoàn mỹ” không bao giờ có thật:

Trong giấc mơ

Tim mãi kiếm tìm

Một vầng trăng không bao giờ khuyết

Một mùa trăng lênh đênh…

...

Hình như

Có nỗi buồn nằm nghiêng

Nơi bóng tối òa vỡ

                  (Không đề I)

Em chớp mi vào một cánh hoa tàn

Như chạm vào giới hạn

Giới hạn của sự trường tồn và vô vàn biến đổi

Giới hạn của ước mơ thực tại

Giới hạn của em với em…

                                         (Tiếc nuối)

Có khi chúng đến từ thế giới hiện đại: vật chất thì đủ đầy, còn tinh thần thì nghèo nàn, tẻ nhạt; lòng người lãnh đạm, thờ ơ:

Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn

Thậm chí ít có thời gian để cười và càng ít khóc

                                                                  (Đôi mắt lửa Puskin)

Khi đã thấy nhiều sự đối lập, nghịch lý trên mặt đất này

Tôi không còn ngạc nhiên như hồi còn bé

Nhưng cảm thấy buồn khi nhiều người coi đó là tất yếu

                                                                  (Tảng băng trôi)

Trong bài Nhà thơ và những đối thoại, đối với họa sĩ, thơ được đặt lên giá sách, thơ bị coi như một vật trang trí, một cái vỏ bề ngoài. Thơ không làm ra tiền, thơ trở thành thứ không có giá trị.

Nỗi buồn còn đến từ cảm cảm giác bất lực trong việc níu giữ bước đi tàn nhẫn của thời gian, bất lực nhìn những khoảnh khắc đẹp nhất của cuộc đời bình thản trôi qua:

Ta lo âu một ngày

Bàn tay nhăn nheo những sợi tóc bạc ngã gục

Những sợi tóc không thể mọc thêm không bao giờ đen được nữa

Màu trắng run lên

(Lặng lẽ)

Sợ nhịp đồng hồ

Người đàn bà rùng mình mỗi khi đêm nhào đến

                              (Lặng lẽ)

Thanh xuân sắp lìa xa

Những chiếc lá xác xơ gân như long mày quả phụ

Người đàn bà cầm tóc soi lên nắng

thấy-màu-lá-khô

                                       (Thơ lá)

Những gam màu chết lặng

Tất cả bất lực

      trước thời gian…

                  (Anh ơi! Mùa Đông)

Cái tôi cô đơn, buồn bã, lo âu từng xuất hiện trong Thơ mới (1932 - 1945) nhưng trong thơ Vi Thùy Linh vẫn mang một nội dung thẩm mỹ mới vì nó bộc lộ chân thật những suy nghĩ rất riêng của nhà thơ về cuộc sống, về con người, về thơ hôm nay.

Cái tôi đa đoan

Trong Gặp nhau cuối năm, Nguyễn Khải thố lộ: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”. Có thể nói, hiện thực “ngổn ngang và bề bộn” đó tác động rất lớn đến người nghệ sĩ. Ảnh hưởng của nó không chỉ thể hiện trong văn xuôi mà còn cả trong thơ. Qua tập thơ KhAt của Vi Thùy Linh, ta thấy một cái tôi đang ngơ ngác, quẩn quanh giữa những nghịch lý:

Con người là nỗi đau!

Phá vỡ thuyết tương đối nhưng lại tin sự tương ứng

Đập nát đơn điệu, khuôn khổ của cũ kỹ, nhàm chán và cam chịu

Em tự làm mất đối xứng - bằng em

(Không thanh thản)

Trong cuộc sống thời bình ẩn chứa nhiều bất ổn. Những giá trị xoay vần và đổi chỗ cho nhau: Đen và trắng, hy vọng và tuyệt vọng, tin tưởng và hoài nghi, lý tính và cảm tính, hạnh phúc và khổ đau, thành công và thất bại…

Con người sống trong bóng tối của hoài nghi. Cái tôi Vi Thùy Linh thể hiện trong KhAt là cái tôi đang mê mải đi tìm chân lý giữa một hiện thực ngổn ngang và bề bộn. Cái tôi “bập bênh”:

Bập bênh khóc-cười, bập bềnh số phận

Bập bênh cô đơn

Lẽ nào lại cân lên niềm vui và đau khổ

Cuộc đời làm sao đông đếm nổi

Bập bênh!?

Những buồn bã, cô đơn, sống hết mình cho tình yêu, tự khẳng định bản thân mình thật ra chỉ là phương cách để tâm hồn đứng yên trong bão tố. Cái tôi trong KhAt là một cái tôi đối kháng với những nghịch lý của cuộc đời, vin vào những giá trị thực như: tình yêu, tình thân, tình người… để đẩy lùi những giá trị ảo như tiền bạc, danh vọng, hợp đồng, bằng cấp… Ta thấy điều này thể hiện qua các bài: Cứ đi đi, Giamilya!, Nửa đêm trò chuyện với cô Hồ, Tôi lắng nghe Van Gogh, Đôi mắt lửa Puskin, Gửi Exênhin, Tảng băng trôi

Mượn những chi tiết trong tiểu thuyết của Ts Aimatov hoặc trong cuộc đời các nghệ sĩ nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Van Gogh, Puskin, Êxênhin, Hêmingway… để khắc họa cuộc sống hôm nay với những rối ren, lọc lừa, bội phản, nghi kỵ, chiến tranh, chết chóc:

Hỡi Hồ Xuân Hương, bây giờ ngày càng nhiều những người cô đơn

Những người đàn bà đắp nguyên cả chăn mà vẫn lạnh

Sự ghen tuông, phản bội ghê gớm hơn thời Hồ Xuân Hương sống

Có những người coi cặp bồ là mốt

Bọn trẻ biết yêu quá sớm

Ly hôn trở thành chuyện bình thường

 (Nửa đêm trò chuyện với cô Hồ)

Những tác phẩm để đời bị sao chép, bị lấy trộm và bán đấu giá

Không hết bức Chân dung tự họa người đàn ông một tai giá bao nhiêu?

Khi mà bây giờ hầu như mọi thứ có thể mua

Từ trinh tiết đến tình cảm hợp đồng và bằng cấp!

(Tôi lắng nghe Van Gogh)

Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn

Thậm chí ít có thời gian để cười và càng ít khóc

...

 (Đôi mắt lửa Puskin)

Khi đã thấy nhiều sự đối lập, nghịch lý trên mặt đất này

…             

và cừu Dolly ra đời không cần có cha

(Tảng băng trôi)

 Tình yêu lứa đôi với nhiều cung bậc

Tình yêu là một đề tài không mới. Trước Vi Thùy Linh, nhiều nhà thơ đã viết về tình yêu và để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc. Yêu đương là chuyện của muôn đời, chuyện của muôn người. Nhưng đọc KhAt ta vẫn thấy tình yêu rất mới. Trên 2/3 nội dung của KhAt là dành cho tình yêu. Nó trở thành tâm điểm của tập thơ.

Tình yêu tận hiến và tận hưởng

Thơ là tiếng nói của tâm hồn. Thơ viết về tình yêu càng mang đậm xúc cảm hồn nhiên, trong trẻo, tinh khiết của trái tim. Đọc thơ Vi Thùy Linh ta thấy một tình yêu không vụ lợi, một tình yêu không theo kiểu trào lưu, một tình yêu không sắc màu “thị trường”.

Đó là tiếng lòng của một cô gái đang yêu mãnh liệt, khát khao dâng hiến đến tận cùng:

Anh yêu của em

Em yêu anh cuồng điên

Yêu đến tan cả em

Ào tung kí ức

(Người dệt tầm gai)

Em đã gửi anh những bài thơ của em

Ở đó, người đàn ông được tôn vinh trong hạnh phúc

Ở đó, người đàn bà luôn hiến dâng và chờ đợi

 (Điều anh không biết)

      Những gì em có

đều thuộc về anh

(Một mình tháng tư)

Mỗi người là một thế giới nhỏ

Em dâng anh thế giới của mình

(Không thanh thản)

Anh là suy nghĩ của em khi mỗi ngày thức dậy

Anh là niềm vui và nỗi buồn, là những gì trong em đang có

Anh là đỉnh cao khát vọng dâng hiến

                                          là hơi thở của em…

(Sóng)

Em yêu anh như yêu hơi thở

Vắng anh, em thở vào bàn tay, hơi thở có khói của nước mắt và

                                                      áp chặt bàn tay lên ngực

Ngay cả trong góc khuất tâm hồn em cũng có anh

(Anh)

Không như nàng Tô Thị chờ chồng, ôm hy vọng và nhẫn nhục chịu đựng, tình yêu đích thực phải có hai mặt trao và nhận, tận hiến và tận hưởng. Nhân vật trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh yêu nồng nàn bao nhiêu thì cũng đòi hỏi được đáp đền lại bấy nhiêu:

Em mãi mãi muốn anh xiết chặt

Đừng đánh thức em như trong truyện cổ

Em không thể mở mắt bởi tiếng khô khốc từ những hàm răng

                                          va nhau qua cái hôn quá vội

(Anh và thời gian)

Sao anh không bế em ra khỏi cô đơn, ra khỏi những ngày dằng dặc nhớ

Sao anh không làm khô nước mắt em bằng môi anh

(Nói với anh)

Anh ở đâu

Mắt anh ngủ nơi nào

Có yêu nhau có thương nhau thì vượt đêm mà về

Có nhớ nhau có khát khao nhau hãy cuộn tung thác nguồn

(Gọi nguồn)

Anh ơi!

Hãy ghì chặt em hãy hôn em, vượt qua khắc nghiệt

 (Ở lại)

Em muốn nghe anh, nhưng không phải đôi môi ghé vào ống nói

Hãy hôn em, chẳng cần lời!

(Khi em tựa cửa)

Tất cả nhân vật trữ tình trong KhAt đều là phụ nữ đang yêu hoặc đã yêu một cách cuồng nhiệt. Họ được tôn vinh, được vỗ về, được yêu thương. Họ luôn ý thức vượt thoát “tổ kén” của quá khứ, “tổ kén” kìm hãm những khát vọng riêng tư của người phụ nữ, cái “tổ kén” chối bỏ quyền đòi hạnh phúc, chối bỏ vị trí bình đẳng của họ đối với nam giới trong hành trình tìm kiếm và chiếm lĩnh tình yêu:

Em muốn nổ khối chữ trong mình

Thành lời: Em yêu anh

(Em-bí mật?)

Hình ảnh người đàn bà “dệt tầm gai” - đổi hạnh phúc bằng niềm đau, đổi nụ cười bằng nước mắt. Rồi câu hỏi thản nhiên mà đau xót: “Dệt tầm gai đến bao giờ?” (Người dệt tầm gai). Hay hình ảnh người đàn bà tựa cửa “Khi em tựa cửa/ Là khi em cần anh”, “Em làm những việc quá sức mình, nhưng lại rất vụng về: không biết khâu những gì đang khuyết/ Em chỉ biết tựa cửa xâu những sợi tóc rụng qua lỗ kim” (Khi em tựa cửa).

Đối lập với vẻ ngoài bình thản là một nội tâm sôi sục. Người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh sống rất thật với những cảm xúc của bản thân. Họ luôn chủ động trên con đường tìm kiếm hạnh phúc.

Giá như đôi mắt em lá khoai để nỗi nhớ buồn không ở lại

Để em tìm đường anh về

Và trái tim em làm tổ giữa đời anh

Quỳ trong đêm, em cởi mình…

(Nói với anh)

Người phụ nữ trong bài Liên tưởng rất hiện đại nhưng cũng rất nữ tính trong khát vọng yêu đương:

Đàn ông là lửa, đàn bà là bùi nhùi

Quỷ đi đến và thổi bùng lên

Em như bùi nhùi rơm

Ngày ngày đợi chờ

Ủ mình mùa mùa

Lửa anh nơi đâu?

Nếu anh không đến với em

Em sẽ đi tìm nơi trú ngụ của quỷ.

Tình yêu song hành tính dục

Tình yêu trong KhAt của Vi Thùy Linh là sự tổng hòa của hai yếu tố gắn kết với nhau về tinh thần và hòa hợp nhau về thể xác.

Yêu nhau là nghĩ đến nhau và muốn thuộc về nhau. Đây là một nhu cầu rất “đời” và rất “người”. Đó là những điều thầm kín mà trước đây người ta cố lờ đi, đặc biệt lại là tiếng lòng của người phụ nữ. Nên có thể xem đây là một đổi mới đáng ghi nhận của Vi Thùy Linh.

Tuy nhiên tính dục trong thơ Vi Thùy Linh không dung dị là một biểu hiện của tình yêu trọn vẹn. Nó còn được coi là phương thức hóa giải sự cô đơn luôn chực chờ trong tâm trạng của nhân vật trữ tình:

Có ai biết. em đã dịu dàng và nồng cháy bên anh

Có ai biết. đêm nay, em mong anh đi qua dù chỉ vô tình

                  quệt vào em như que diêm chạm lửa!

 (Người đêm khuyết)

Em muốn ngủ bên anh như rễ cây trong đất…

… Đất của em ơi!

Hàng triệu tú cầu cùng đêm trườn qua những ngón mềm khi

                              chúng mình gắn nhau bằng hơi thở

Những ngón mềm trườn trên thân thể

 (Một mình tháng tư)

Tính dục thể hiện những khát khao bản năng rất thầm kín của người phụ nữ.

Em cố thoát khỏi tạp âm tiếng người ho, tiếng ợ khan của cô gái đang

thì nghén, tiếng trở mình của người đàn bà mang thai đến tháng

Nhưng không thoát khỏi em

Bởi vì trong đêm

Em bùng lên nỗi nhớ, khát khao và những điều thầm kín nhất

Bởi vì trong đêm, em là em toàn vẹn nhất

(Tiếng đêm)

Tình yêu là tôn giáo đại chúng

Trong tập thơ KhAt xuất hiện khá nhiều những từ ngữ của Thiên Chúa giao như: “số phận”, “định mệnh”, “thánh giá”, “cõi thiêng”, “Chúa đóng đinh”, “tín đồ”, “đức tin”, “thập tự”, “con chiên”, “Cha đạo”, “nhà thờ”, “nguyện cầu”, “thánh đường”, “thánh ca”, “kinh”, “Giáng sinh”… Điều đặc biệt là những từ ngữ này lại gắn liền với chủ đề tình yêu. Vi Thùy Linh không phải nói về tôn giáo mà mượn tôn giáo để nói về tình yêu:

Em cần anh

như con chiên cần Cha đạo

 (Thánh ca)

Tình yêu có đức tính của loài người, tình yêu có sự nguyện cầu, tình yêu có lòng thầm kính, tình yêu có sự thiêng liêng cần được bảo vệ, tình yêu có sự gắn kết, tình yêu có sự mãnh liệt thậm chí là mù quáng. Tình yêu là tôn giáo đại chúng nhất. Tình yêu quy luật riêng, có “bi kịch” riêng do mỗi người tự tạo ra. Không có gì là tầm thường! Không có gì là cao cả! Tình yêu vượt mọi ranh giới, ra khỏi mọi phán xét của con người:

Chúng mình hôn nhau giữa nhà thờ màu xám

Khi mũ, áo của Cha rơi xuống

Em ôm chặt anh, không phải bằng sức lực, con chiên…

Chúng mình bước nhẹ trong tiếng chuông đêm, trong âm hưởng thánh ca,

                                                                                          trong tiếng thơ

Bỏ nhà thờ và kinh và những lời cầu nguyện

                                                                              (Thánh ca)

Anh duy nhất!

Em dang tay đón anh

như thập tự lửa

(Tiếng đêm)

Em về bên anh

Dang cánh tay trần như Chúa đóng đinh

(Trắng)

2. NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ NGHỆ THUẬT

Có ý kiến rằng xét trên góc độ chất liệu, Vi Thùy Linh không đem đến cho ta một cái mới nào. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại: Vi Thùy Linh góp phần không nhỏ vào sự đổi mới thơ ca những năm 1990. Vậy thực hư điều này thế nào?

 Nhan đề KhAt

Ngay tựa đề KhAt đã có sự đặc biệt. Chữ “A” nổi bật hẳn lên, được viết hoa so với các chữ thường bên cạnh. KhAt là khát vọng bùng nổ, vượt qua mọi xúc cảm, là sự cựa quậy, phá vỡ mọi quy tắc. KhAt là khát khao đổi mới táo bạo về nghệ thuật. Người ta chỉ khát khao cháy bỏng khi thấm thía phần đời mòn cũ, vô vị đã qua:

Họ đi qua

Một nửa hành trình cuộc đời

Vết thời gian in dấu

Mãnh liệt sống

Một nửa hy sinh

                  Một nửa khát khao

Khát khao không bật tiếng

Khát khao cháy

Cũng từ đấy

Họ mạnh hơn

      (Một nửa thế giới)

Từ KhAt đã thâu tóm cảm xúc - ý tưởng của cả tập thơ và biểu hiện sống động qua tựa đề của từng bài cụ thể.  Nói là đối thoại với bản thân, với tình yêu, với cuộc sống;  Tôi là sự khẳng định mình đến quyết liệt; Mùa ai là cảm thức thời gian và không gian đong đầy trong hình ảnh người yêu; Những câu thơ mang vị mặn là ý thức sáng tạo thi ca phải mang hơi thở cuộc sống…

 Thể thơ

Như phần lớn các tập thơ trong giai đoạn 1975-2000, KhAt của Vi Thùy Linh chủ yếu được làm theo thể thơ tự do không vần và có một số ít bài thơ 5 chữ.

Thơ không vần là một thể thơ có nhiều câu thơ dài ngắn khác nhau, không đăng đối nhau về số lượng chữ trong câu thơ và đặc biệt là không có sự hiệp vần. Tuy có dòng thơ chỉ một chữ, nhưng thường là dòng câu thơ nhiều chữ đan xen, liền kề, kết hợp với nhau một cách tự nhiên tạo nên nét độc đáo:

Anh đi rồi

Trời mờ sáng cũng như khi xẩm tối

Bàn tay như cánh buồm

Người đàn bà của đêm lao khỏi vùng tịch lặng

Đi tìm một mặt trời mọc lửa

Trong đêm…

                  (Điều anh không biết)

Đôi lúc người đọc cảm thấy bực mình vì sự xô bồ, lộn xộn, không ngay hàng thẳng lối về câu chữ của thể thơ không vần. Kỳ thực những dòng, những chữ xộc xệch ấy lại diễn tả rất đạt những biến động trong tâm hồn tác giả. Nếu Inrasara trong Hành hương em tìm đến thơ không vần để thể hiện cái tâm động luôn hướng về nguồn cội Chăm của mình thì phải chăng với KhAt, Vi Thùy Linh bộc lộ trong thơ không vần sự dữ dội, mãnh liệt và tuôn trào cảm xúc của một trái tim không chịu ngủ yên:

Có cô gái đến tìm anh

Khi vui

Khi đau khổ

Khóc

Cười

Như đàn bà

Như đứa trẻ

Trong thân hình mảnh khảnh

Là cô đơn

Khát sống và yếu đuối

                  (Em - bí mật)

Nói gì thì nói, thơ không vần đã tạo nên sự khác biệt và lạ mắt cho KhAt- cho Vi Thùy Linh. Nó góp phần thể hiện dòng cảm xúc tuôn chảy tự nhiên của người viết như là nét chủ đạo của tập thơ.

Thể thơ 5 chữ cũng xuất hiện trong vài bài. Song chúng không có sự kết hợp vần điệu như thơ ngũ ngôn truyền thống. Người ta thích nó bởi những tương giao về hình ảnh và nội dung trong thơ:

Em ngắt vài cọng gió

Thả lên dấu thời gian

“Vừng ơi” – em niệm chú

Ước mơ về xênh xang…

                              (Giao cảm)

Hay:

Đừng trách em nữa anh!

Em thấy mình lạnh toát

Đêm, ngày vỡ trên môi

Sao mãi mình chưa gặp?

                  (Anh còn cho em)

Ngô Quân Miện đã miêu tả thơ tự do hôm nay: “Đó là loại thơ có cấu trúc không đều đặn, nghĩa là về cơ bản (chứ không phải hoàn toàn) không theo luật vần, không theo luật bằng trắc, không có số âm tiết đều nhau trong câu. Còn nhịp thơ, những chỗ ngắt hơi, những tiết tấu cũng không theo những quy định có sẵn. Nhưng tất cả những cái không đều đặn ấy đều tùy theo cái hơi thở nóng hổi, cái sức mạnh của cảm xúc, của ý, của trí, của sức mạnh bên trong của thơ quyết định chỗ này có vần, chỗ kia không, chỗ này câu dài, chỗ kia câu ngắn, chỗ này nhịp khoan, chỗ kia nhịp gấp, chỗ này bằng, chỗ kia trắc… để cho tất cả những cái xô lệch, những cái vênh, những cái nhấp nhô có dụng ý ấy tập trung vào thành một cấu trúc nhất quán, một nhạc điệu tâm hồn riêng tùy theo tâm trạng của nhà thơ”.

Thơ văn xuôi như thế cũng có mặt trong KhAt. Phải chăng cảm quan văn xuôi và cảm quan thơ có sự biến đổi trước cuộc sống hôm nay?

Có phải ác mộng không một ngày mặt trời rơi xuống thành sông.

 anh cùng em bơi trong vị mặn

Có phải huyền hoặc không một ngày từ đôi mắt hóa đá của nàng

Tô Thị nàng Vọng Phu òa chảy bao giọt hồi sinh và tình yêu nối gần tất cả

 Không phải bao giờ khóc cũng là đau khổ…

                                                                                                      (Ở lại)

 Ngôn ngữ, giọng điệu

Nguyễn Trọng Tạo cho rằng: Vi Thùy Linh đi vào thơ hiện đại bằng “con ngựa chữ nghĩa dậy thì”. Do vậy ngôn ngữ đời thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tập thơ. Thế giới thân quen nhà thơ là tôi, là anh, là người yêu, là những vật dụng nhỏ bé gần gũi với mình. Lối so sánh của Vi Thùy Linh cũng rất độc đáo:

Em như con chim sũng cánh

Xanh xao lướt thướt

Mỗi bước đi, những giọt cô đơn rỏ xuống

Lã chã đường tìm…

Em như bùi nhùi rơm

Ngày ngày đợi chờ

Ủ mình mùa mùa

                  (Liên tưởng)

Cái “bùi nhùi rơm” bình thường và dân dã đến vậy cũng đang khát được cháy sau một thời gian đợi chờ!

Âm thanh ban đêm gợi ra những gì thực tế đến mức trần trụi:

Đêm tấu lên

tiếng chó sủa

mèo gào

mọt nghiến rỗng những góc tối

tiếng rên rĩ khoái lạc

tiếng ú ớ của những người mê ngủ

cả tiếng gì không rõ sưng tấy ở nơi cổ họng…

Âm thanh ấy kích thích tâm tưởng độc giả. Phải chăng sự thật cuộc sống bắt nguồn từ những âm thanh trong đêm này? Con người - động vật, thức - ngủ, sung sướng - đau đớn… cũng tạo nên âm thanh của cuộc sống này.

Các động từ và tính từ quyến rũ tạo nên “mùi của Linh”. Trước đây người ta thường dùng tính từ để nói tình yêu, tình dục. Đến Vi Thùy Linh, các động từ đã thay nhiệm vụ đó:

Những hàm răng va vào nhau

                              như tiếng sói

                                          rơi vào hang đá

Em mãi mãi muốn anh xiết chặt

Quỳ trong đêm em cởi mình

Có phải tình yêu của người phụ nữ là khát khao gắn với hành động, dữ dội gắn với tận hưởng, chiếm đoạt?

Phần lớn các bài thơ trong KhAt được viết theo giọng kể. Mỗi bài thơ là một câu chuyện mà nhân vật xưng “tôi” tự kể về mình: Tôi là câu chuyên về một cái tôi cá nhân đơn nhất; Em là lời thầm thì về nỗi hoang vắng của người con gái mới bắt đầu yêu; Người dệt tầm gai là tậm trạng chờ đợi đến mỏi mòn; Những người sinh tháng Tư nói về mối tình tựa như đôi đũa lệch:

Một người đàn ông hơn bố tôi ba tuổi, kể rằng:

- Tôi yêu một cô gái

sinh tháng Tư năm 80

ngày mùng 4…

Tôi giật mình!

Ngỡ ngờ, tôi hỏi:

- Thật không?

- Cô ấy gọi tôi là anh, lúc chỉ có tôi

Chúng tôi yêu nhau khi nàng 16 tuổi

Tôi reo lên

- Hãy cưới đi, chú ơi!

Giọng kể ở đây tỏ ra đắc dụng trong việc bộc bạch nỗi lòng của nhận vật trữ tình và nhân vật trong thơ. Nó làm chất dẫn để đưa xúc cảm của nhà thơ đi vào lòng độc giả. Từ đó người đọc cảm nhận được những đòi hỏi táo bạo nhưng cũng đầy nữ tính của nhân vật “tôi’ mà cũng chính là một phần thế giới tinh thần nổi loạn của cây bút trẻ Vi Thùy Linh.

Ngôn ngữ và giọng điệu trong KhAt không mang vẻ đẹp của sự trau chuốt, ngọt ngào mà là vẻ đẹp của thứ ngôn ngữ và giọng điệu rất đời, vừa suồng sã, chân thành vừa đầy cá tính. Ngôn ngữ của một cô gái lúc nào cũng chực lên tiếng để bảo vệ cái tôi của mình.

III. KẾT LUẬN

Trong Song thoại với cái mới, Inrasara nhận xét phong cách Vi Thùy Linh: “Say mê yêu, tự do biểu lộ và mạnh dạn viết. Mạnh bạo, quyết liệt và sẵn sàng dung tục nếu cần”. Ông cũng khẳng định: “Vi Thùy Linh có được hơi thở khá lạ..., nỗ lực làm mới mang tính cá thể”. Điều này chứng tỏ thơ Vi Thùy Linh đã có những đổi mới đáng kể về cả mặt nội dung lẫn nghệ thuật mà KhAt là một minh chứng.

Có thể nói thơ Vi Thùy Linh, dù còn những ý kiến khác nhau nhưng ít nhiều đã có đóng góp cho thơ Việt Nam trên con đường đổi mới và hội nhập. Chỉ riêng với KhAt, Vi Thùy Linh đã trở thành một hiện tượng thơ đáng quan tâm trong văn học Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000.

TAGS:

Tin mới nhất

Tin mới nhất