Bạn vui lòng Đăng nhập nếu đã có tài khoản tại Yume.vn
Hoặc Đăng ký tài khoản miễn phí.
Cây đời
Lú có tên nhưng cả làng Ná không ai biết. Ngày nó ra đời, trời mưa tầm tả suốt mấy hôm liền, chỉ một mình mẹ vượt cạn. Lú chẳng biết mặt bố là ai, chắc nó chui từ dưới đất lên nên người ta gọi luôn là Lú. Lú đã chín tuổi mà thân hình cứ quắt queo như đứa bé lên sáu.
Trưa. Nắng cháy da, cháy thịt. Gió Lào vi vút thổi qua rừng cọ nghe xao xác. Lú đánh trần, xỏ cái quần đùi rách tươm, tay cầm cái bị, chạy lon ton vô xóm Ná. Lú đứng trước cổng nhà mụ Liên, gọi to:
- Dì Liên ơi. Dì Liên! Mẹ con nói, cho mẹ con vay một loong gạo, mai mẹ con đi bán rau về trả cho dì!
Ở trong nhà tiếng mụ Liên toang toác vọng ra:
- Về nói con mẹ mi, trả tạ thóc trước đi đã nhé! Ngày mai mà không trả, tao kêu bầy thợ sang đốt nhà đó. Tau không dọa mô! Cút đi. Thằng ranh!
Bầy chó gần chục con bị tháo xích lao ra như ma đuổi. Lú quăng bị, cong đít chạy một mạch không dám quay đầu trở lại.
Lú lại sang nhà lão Bảy. Nhà lão Bảy để cổng toang hoác. Bên trong túp lều, lão đang ngồi đốt lá sim nhóm lửa. Nghe tiếng động, lão Bảy ngoảnh ra sân, tay dụi mắt nheo nheo.
- Thằng Lú à? Mi ăn cơm chưa mà đi nhởi (chơi) rứa?
Lú khản giọng, nói rè rè.
- Lão Bảy ơi! Nhà lão có gạo nữa không, cho mẹ con vay một loong, mai mẹ con trả?
- Khổ thân mi rồi! Tau đang luộc khoai đó tề. Mần chi có gạo nữa mà nấu. Có ăn thì vô đây tau cho một miếng.
Đã quá trưa mà Lú vẫn chưa vay được gạo. Bụng đói quắt queo. Mặt Lú nhăn như khỉ rồi lả người, xiêu xiêu, quay ra bến sông, nơi có túp lều. Trưa hôm đó, mẹ con Lú ăn độc món lá khoai.
*
Nhà mẹ con Lú dựng trên bãi cát, sát con sông Thúi. Gọi là sông Thúi vì dân làng Ná không có thói quen làm nhà cầu mà tất cả xổ toẹt ra sông. Mùa nước cạn, con sông nằm teo tóp giữa đôi bờ loang lở. Mặt nước lúc nào cũng bầy nhầy, đen ngòm, đặc sính lại.
Lên bảy tuổi Lú mới được đi học. Trong giấy khai sinh, Lú vẫn mang họ của mẹ. Mẹ Lú là dân ngụ cư ở nơi khác về. Mẹ Lú đi làm thuê, ai thuê gì làm nấy. Mấy tháng trở lại đây, đêm nào mụ ta cũng ho khù khụ, da tái nhợt như người sắp chết.
Lên năm tuổi Lú đã đi làm cùng mẹ. Mẹ con Lú thường đi làm về lúc chiều muộn. Có điều Lú không hiểu được, lần nào sắp đến cổng nhà dì Liên, mẹ Lú lại giật tay Lú ngoặt đi hướng khác. Không phải vì tạ thóc mẹ Lú nợ. Trước đây cũng thế, lần nào cũng thế.
Chiều hôm đó, Lú đi móc cua ngoài đồng. Lú thấy một người đàn ông to béo, tay cầm sợi dây thừng, mồm phè phè thuốc lá, đi về hướng nhà Lú. Đó là lão Thủ chồng dì Liên. Mẹ Lú đang hái rau ngoài vườn. Thấy mẹ Lú, lão Thủ không nói câu gì, mặt hằm hằm, một tay dựt tóc, một tay bóp cổ mẹ Lú kéo vào trong nhà. Lão Thủ đạp mẹ Lú một cái nằm quắt quéo dưới đất. Lão nhét cái dẻ lau nồi vào miệng mẹ Lú. Lão Thủ đay nghiến:
- Đèo mẹ mi! Mi định đưa thằng con sang ăn vạ nhà tau đấy à. Tau đập chết cả hai mẹ con bây giừ.
Vừa nói lão Thủ vừa đấm thùi thụi vào mặt, vào ngực mẹ Lú. Lúc này Lú chạy về. Thấy mẹ bị đánh, Lú gào lên, nhảy thẳng vào rồi đấm liên tục vào lưng lão Thủ:
- Thả mẹ tui ra. Ai cho ông đánh mẹ tui.
Lão Thủ quay sang tát Lú một cái. Lú văng ra, đập đầu vào tường. Lú lại bật dậy, chồm lên che chở cho mẹ. Mẹ Lú đờ đẫn, cả người mềm nhũn, bê bết máu, thở ra “hấc hấc…”.
Cả một tuần sau đó, mẹ Lú nằm liệt giường. Khuôn mặt mẹ Lú xanh xao, gầy sọp, tiều tụy không còn sự sống. Đêm nào mẹ Lú cũng ho thổ ra máu. Giặt cái khăn mặt đỏ lòm, Lú xốn xang mặt mũi.
Chiều đó, mẹ Lú ngồi dậy được trên giường. Mẹ Lú ra vườn hái một nhúm lá khoai, nấu canh. Mẹ Lú chia canh ra hai cái bát.
Hai mẹ con Lú ngồi im một lúc, trên tay vẫn cầm bát canh lá khoai nóng hổi. Lú quay sang mẹ:
- Mẹ đừng bỏ Lú đi nhé. Sau này Lú sẽ kiếm được nhiều tiền, Lú sẽ đưa mẹ đi khám.
Mẹ nhìn Lú, lưng tròng nước mắt, rồi dục Lú ăn canh cho nóng. Lú húp một miếng canh lá khoai, mẹ Lú lâng trào nước mắt. Lú húp thêm một miếng nữa, hai hàng nước mắt chảy dài trên mặt mẹ Lú. Chờ Lú ăn xong. Mẹ Lú quay sang nói:
- Lú ơi! Nếu mẹ chết, thì Lú phải hứa với mẹ là ngoan ngoãn và trở thành một người tốt, Lú nhé!
- Lú không thích mẹ chết mô.
- Lú ơi! Mẹ thương Lú lắm. Nhưng mẹ không ở lại được bao lâu nữa.
Lú òa lên khóc, chạy đến rúc vào lòng mẹ. Mẹ ôm Lú, hai bàn tay mẹ cứ vỗ về.
- Lú ơi! Mẹ muốn cho Lú biết điều ni nữa. Lú phải nghe mẹ nói. Lú à! Lão Thủ chính là bố của con đấy. Sau khi mẹ chết, Lú hãy đến đó ở.
Lú hét to:
- Không đời nào. Lão Thủ đánh mẹ.
- Ngoan nào Lú! Lú phải nghe lời mẹ chứ. Đến đó rồi Lú sẽ có cơm ăn tử tế.
Mẹ nói câu nào Lú cũng òa lên khóc nức nở. Hai tay Lú ôm chặt lấy mẹ.
Đêm hôm ấy, Lú không nghe tiếng ho của mẹ. Sáng tỉnh dậy, Lú thấy mẹ nằm bất động trên giường. Hai giọt nước mắt trong veo vẫn đọng trên đôi mắt khép hờ của mẹ. Lú ôm mẹ, rồi òa lên khóc. Lú chạy ra bãi cát trước sân, miệng gọi: "Mẹ ơi! Mẹ ơi!".
Lú khóc tru tréo vang cả bến sông Thúi.
Đám tang mẹ Lú chỉ lèo tèo vài ba người. Mẹ Lú được lão Bảy cho chiếc chiếu thay áo quan. Mộ mẹ Lú được chôn trên đỉnh đồi Sến.
Đêm sau mẹ mất, Lú trở về nhà một mình. Nhìn vào chiếc giường trống không, vắng tiếng ho khù khụ của mẹ, Lú lưng tròng nước mắt. Lú ngồi bệt giữa nhà. Một tiếng sấm gầm lên. Cơn mưa giông ập tới. Lú nằm co ro một mình trên giường thiếu hơi ấm của mẹ. Trong cơn mơ mê sảng, Lú gọi: “Mẹ! Mẹ ơi…” không biết bao nhiêu lần.
*
Ít lâu sau, Lú đi ở cho nhà lão Thủ, người mà bảo là bố của Lú. Nhà lão Thủ là một xưởng gỗ, ngày nào cũng rè rè tiếng cưa, tiếng lóc cóc của dùi, búa. Hằng ngày, Lú dậy từ lúc năm giờ sáng. Đầu tiên Lú lấy thùng đi xách nước về đổ đầy hai cái chum, sau đó quét dọn toàn bộ nhà cửa. Nhà có nhiều mụn cưa, mụ Liên bắt Lú đóng đầy bì, đem vào bếp đun thay củi. Có hôm mưa, mụn cưa không bén lửa, để khói bay um trong bếp. Mụ Liên ho sặc sụa bước vào, cầm thanh củi đánh “bẹt” vào cái lưng gầy giơ xương của Lú. Cả trưa đó mụ Liên không cho Lú ăn cơm. Đói quá, đến lúc rửa bát, Lú khơi khơi, vét từng hạt cơm thừa trong bát rồi cho vào miệng ăn.
Sáng hôm ấy, Lú vừa gánh nước về, thấy đám thợ tập trung hết trước cửa. Phía bên trong lão Thủ và mụ Liên đang ngồi gác chân lên bàn, mặt hằm hừ. Mụ Liên hét to:
- Bắt thằng Lú vô đây cho tau!
Một thằng thợ xẻ giơ tay bóp cổ, lôi xềnh xệch Lú vào nhà. Mụ Liên quát.
- Thằng Lú ! mi có lấy tờ hai chục nghìn tau để trên bàn thờ không?
- Con không lấy ạ.
- Còn cãi à! Không ai vô đây nữa cả. Khai thật đi, thằng ranh!
Lú chưa hiểu chuyện gì, mụ Liên đã sai bầy thợ lấy dây thừng treo ngược Lú trước sân. Mụ Liên lấy roi hèo đập chó quất mấy cái vào người Lú. Lú đau đớn không chịu nổi, khóc thảm thương.
- Dì ơi! Không phải con. Con không lấy mô.
Mụ Liên sôi tiết:
- Mi còn cãi. Cho mi đến ở để ăn cắp đồ nhà tau à!
Vừa nói mụ vừa quất túi bụi vào người Lú.
Chưa thỏa, mụ Liên sai thằng thợ xẻ lấy kìm sắt, kẹp vào từng miếng thịt nhăn nheo trên người Lú. Lú la làng. Máu trên mặt Lú ròng ròng rỉ xuống đất. Lú đau quá, không kêu được nữa, miệng cứ “hức, hức”. Bị thằng thợ xẻ hắt cả chậu nước gạo vào mặt, Lú lờ đờ tỉnh dậy, miệng ú, ớ:
- Mẹ ơi ! Cứu con với…
Mụ Liên quay sang đưa kìm sắt cho thằng thợ xẻ:
- Mi bẻ cái răng cửa của hắn cho tau.
Phựt! Một cái răng dính máu tươi đỏ lòm bật ra, cái miệng loe loét máu. Lú đau đớn, vật vã kêu than trời đất. Hai con mắt Lú cứ trợn ngược, long sòng sọc, rồi lên cơn co giật. Toàn thân Lú ướt sũng, nước tiểu vương vãi dưới đất. Hai thằng con mụ Liên không dám lại gần, chỉ nem nép đứng trong cửa nhìn ra.
Sau lần ấy, Lú ốm một trận thập tử nhất sinh, không ai biết. Một thời gian sau, người dân làng Ná không thấy mặt Lú nữa. Lú bỏ làng đi biệt tăm, biệt tích, không một dấu vết. Người ta đồn thổi: “Thằng Lú chết trôi ở con sông xóm bên rồi”, “Nó chưa chết mô, nó bị bán qua biên giới rồi tề”... Năm năm, rồi mười năm trôi qua, không ai biết thằng Lú là ai nữa.
*
Làng Ná bây giờ khác hẳn ngày xưa. Con sông Thúi bị san phẳng, mọc lên đó một khu nhà hàng, Massage, Karaoke. Cái xưởng gỗ bé tẹo năm xưa biến thành nhà hàng đặc sản thú rừng do mẹ con mụ Liên quản lý. Nhà nước đã cấm săn bắn thú rừng từ lâu, thế nhưng nhà mụ Liên hôm nào cũng đông nghẹt khách.
Hôm ấy có khách quý. Đám người mặc comle vừa bước chân vào, lão Thủ và mụ Liên đon đả:
- Ôi! Vinh hạnh cho nhà em quá! Lại được đón các bác thế này. Các bác ăn gì để em vào làm ạ.
Một lão phệ, cười híp mắt, lên tiếng:
- Hôm trước gấu rồi, hôm nay khỉ đi. Mà phải tươi. Mịa, lần trước, bây làm khỉ chết rồi à, ăn nghe thúi ing!
- Chết! Có lỗi quá, để em bảo chúng nó làm tươi cho các bác.
Lão Thủ sai bầy thợ chạy xuống hầm bắt ba con khỉ đột màu đen. Thằng đồ tể cởi trần, tu một hớp rượu trắng súc súc trong miệng, hít hơi, rồi thổi “phù” vào đầu một con khỉ. Hắn lia con dao phay, nghe “Phựt!”. Đầu con khỉ lòi một mảng óc trắng tinh, những thớ dây thần kinh li ti, đỏ tươi rung lên bần bật. Con khỉ biết mình sắp chết, mắt nó chao đảo, hai cánh tay chắp lại, lạy lạy mấy cái. Lão Thủ vét phần óc khỉ cho vào cái bát nhỏ. Lão phệ lấy thìa xắn một miếng, đưa lên mũi ngửi: “Vẫn còn thơm này”. Lão ngữa cổ, bỏ vào miệng, nuốt cái ực, tay vơ vội ly rượu mật đổ thẳng vào mồm, “khà” một cái rồi xuýt xoa. Cứ thế, lần lượt ba con khỉ, trong phút chốc đã được hóa kiếp bởi các vị khách quý.
Ăn uống no say, lão Thủ nháy mắt vợ. Mụ Liên hiểu ý, rút ra trong túi tập phong bì. Lão Thủ vừa dúi sang lão phệ, vừa nói:
- Sắp tới em làm một chuyến hàng, chủ yếu mấy đụt gỗ, với ít thú rừng. Gọi là có tí chút. Mong các bác hiểu cho tấm lòng em.
Cả tuần sau đó, vợ chồng lão Thủ đích thân lên tận rừng ở biên giới để chuyển hàng về. Một giờ sáng. Hai chiếc xe reo chất đầy gỗ pơ mu ì ạch trượt xuống ngọn đồi Sến. Một chiếc khác bám đuôi, bên trong chứa toàn ba ba, khỉ, trăn, sao la, da hổ... Lão Thủ và mụ Liên ngồi trên chiếc xe Zép dẫn đoàn. Sau hai ngày lặn lội đường rừng từ Lào trở về, qua trạm kiểm lâm cuối cùng êm thấm lão Thủ cười đắc thắng: “Khà khà!”. Bất chợt một ánh đèn pha rọi thẳng vào đoàn xe.
Lão Thủ vỗ vai vợ bình tĩnh, thong thả bước xuống. Thấy một thanh niên mặc quân phục bộ đội biên phòng, lão tiến lại gần:
- Có chi mô ông anh! Mấy khúc gỗ làm công trình thôi. Có giấy chứng nhận của huyện đây. Cứ xem đi.
Người lính biên phòng xem giấy nhưng vẫn ra hiệu:
- Các đồng chí, tiến hành kiểm tra.
Người lính quay sang lão Thủ:
- Xe ông bà bị nghi vấn về một đường dây buôn lậu gỗ và thú rừng quý hiếm. Đề nghị đưa xe về đồn.
Lão Thủ mặt mày tái sầm lại, luống ca luống cuống. Hai tay lão bíu chặt lấy tay anh lính, rồi trở giọng:
- Khoan đã anh. Làm chi vội rứa. Thôi! Đã đến nước này rồi, em xin chơi bài ngửa. Bọn anh giữ lại một xe. Em xin gửi thêm cho anh hai trăm triệu. Coi như các anh vừa được việc, bọn em cũng có hàng. Thế là đẹp quá rồi. Bằng các anh làm cả đời.
Anh lính biên phòng đáp trả:
- Bao nhiêu năm qua các ông ăn ở tàn ác, bất nhân, bất nghĩa. Từng đó chưa đủ hay sao hả ông Thủ?
- Ơ… Sao anh biết?
Trong cái ánh sáng lờ mờ của bình minh miền sơn cước, rất yếu ớt, mỏng manh nhưng cũng đủ kịp để lão Thủ nhận ra khuôn mặt của người quen, rất quen là khác.
- Trời ơi! Mày… Lú! Mày chết rồi cơ mà?
Phút choáng váng vì gặp lại đứa con hoang của mình làm lão Thủ bước thụt về sau mấy bước, rồi đổ người xuống đất. Mụ Liên ngồi trên xe chứng kiến sự việc, vừa bước chân ra khỏi xe, mụ đã tru tréo:
- Ơi Lú ơi là Lú ơi! Con đi đâu bao nhiêu năm qua, làm dì đi tìm mà không thấy. Lú ơi! Con thương cho hoàn cảnh mà tha cho dì chuyến này. Con ơi! Hu hu!
Tha cho chúng mày ư? Có thể lắm chứ, dù sao thì Lú cũng mang trong mình giọt máu của lão Thủ, người cha tàn ác đã giết chết mẹ Lú không thương tiếc. Giữa núi rừng bao la, hình ảnh người mẹ thân yêu cứ hiện về, làm Lú thổn thức. Trái tim Lú như muốn thét gào lên vì thương mẹ, vì nguyện ước năm nào của mẹ đã thành hiện thực.
Hơn mười năm về trước khi Lú bỏ trốn khỏi nhà lão Thủ, rồi bị thất lạc giữa rừng xanh. Mấy ngày trời, Lú chỉ ăn lá rừng, uống nước suối. Đến lúc lả người, không đi được nữa, Lú nằm quắt quéo dưới gốc cây thì được một đoàn lính biên phòng đi tuần tra phát hiện. Từ ngày đó Lú lớn lên trong vòng tay cưu mang của những anh lính biên phòng tốt bụng. Lú được ăn học nên người. Từ một nhân viên gác rừng, Lú đã thành anh lính biên phòng. Chỉ cách đây vài hôm, Lú được điều về công tác tại đồn biên phòng trước đây đã cưu mang Lú.
Từ trên cao Lú cảm thấy một làn gió lạnh ngắt thổi xuống làm buốt xương sống. Nhưng ánh mặt trời cũng vừa chiếu rọi những tia nắng ấm áp đầu tiên để vạn vật sinh sôi nảy nở theo đúng quy luật muôn đời của tạo hóa.
Phạm Kiên
Mùa đông Thái Nguyên
(Truyện đã đăng Báo QĐNDCT)
Liên hệ
Xem các bài viết khác