Sáng Tác > Văn

09/12/2011 10:2214049 lượt xem

Chữ người tử tù

Chữ người tử tù

Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn nổi bật của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông là người suốt đời đi tìm cái đẹp đích thực.

                                         

                                                                                                GV:Đỗ Đức Anh

Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn nổi bật của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông là người suốt đời đi tìm cái đẹp đích thực. Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi là “Vang bóng một thời”. Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu vẻ đẹp ấy qua một tác phẩm đặc sắc của tập Vang bóng một thời: truyện ngắn Chữ người tử tù

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả Nguyễn Tuân – Lãng tử phương Đông - nhà thơ bị đóng đinh trên cây thập giá của văn xuôi

a. Cuộc đời

- Nguyễn Tuân (1910-1987), sinh tại Hà Nội, theo chủ nghĩa xê dịch, nhà báo-nhà văn thành công từ trước CMT8. Ông tham gia CM và giữ chức vụ quan trọng.

- Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho vào thời buổi Hán học đã lụi tàn, chịu ảnh hưởng từ người cha là một nhà nho tài hoa bất đắc chí -ông tú Nguyễn An Lan.

- Nguyễn Tuân sinh ngày 10/7/1910, mất đột ngột vào ngày 28/7/1987. Tháng 7 sinh ra một đấng tài hoa, một nhà văn lỗi lạc, nhưng tháng 7 cũng tàn nhẫn đưa đấng tài hoa ấy thành người thiên cổ, để rồi đến hôm nay nền văn học VN chưa thấy xuất hiện lại một thiên tài nào như vậy nữa.

- Năm 1996, được trao giải thưởng HCM – danh  hiệu cao quý giành hco những nghệ sĩ chân chính có tài có tâm. Chúng ta coi đó là sự ghi danh, sự tri ân của cuộc đời đối với một cuộc đời cao quý.

- Là người tôn thờ cái đẹp, coi cái đẹp như một tôn giáo.

- Là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam.

- Là một trong những cây đại thụ của rừng đầu nguồn văn chương Việt Nam thế kỉ 20.

- là người biết “đẻ ra” những nhân vật có khả năng vượt qua cái mỏng manh của trang giấy để trà trộn vào đám người đang sống.

- Là nhà thơ bị đóng đinh trên cây thập giá của văn xuôi.

- Là người đã yêu thì yêu mê đắm, đã ghét thì tới mức căm thù, đã uống rượu thì phải uống cả cấn “dĩ tận vi độ”, đã đi thì phải đi tới đầu sông ngọn nguồn, tới những nơi tột cùng của tổ quốc, đã tìm hiểu bàn bạc thì phải tìm cho đến ngọn ngành gốc rễ. Ông là ca sĩ của những vẻ đẹp tinh khôi tuyệt đỉnh của tạo hóa, của sắc ngọc trai đáy biển, của bầu trời trên đỉnh núi Mèo, của bông tuyết đầu mùa, của hoa lan “vương giả”, của bông thủy tiên nở đúng đêm giao thừa…

“Nói đến Nguyễn Tuân là nói một giá trị hồn nhiên, là khơi sáng lại dòng sông thời gian chìm khuất, là nhắc nhở đến một vùng trời xôn xao của thanh âm ngôn ngữ. Nguyễn Tuân đứng sững trước mặt chúng ta với vóc dáng kiêu kỳ, với từng ngón tài hoa, với đôi cánh chập chờn bay lượn trên đỉnh cao nghệ thuật. Hành trình vào tác phẩm Nguyễn Tuân như hành trình đi vào một cung điện tráng lệ đầy màu sắc diễm ảo. Từng nguồn ánh sáng lung linh chiếu rọi vào mỗi dòng, mỗi chữ, thứ ánh sáng lạ kỳ làm mê hoặc cả gỗ đá vô tri làm nhũn từng ý nghĩ bứt đi tự niềm cô đơn nhất. Nghệ thuật khi đã vươn tới đỉnh cao có thể toả ra xung quanh những tia lửa làm cháy cả rừng cây, làm khô dòng suối, nếu rừng cây dòng suối chỉ mang trong bản chất những ước lệ tầm thường, nhàm chán” (Tạ Ty)

b. Sự nghiệp

- Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, sở trường thể loại tùy bút.

- Là cây bút văn xuôi lãng mạn thời kì cuối cùng.

- Trước CMT8: có ba đề tài chính

+ Chủ nghĩa xê dịch: ca ngợi cuộc sống giang hồ

+ Vẻ đẹp vang bóng: đi sâu vào những phong tục cổ truyền của dân tộc

+ Đời sống trụy lạc

- Sau CMT8:

+ Nhân dân lao động

+ Người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang

+ Cảnh đẹp quê hương đất nước

- Tác phẩm chính: Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua (trước 1945), Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (sau 1945)…

c. Phong cách nghệ thuật

Nguyễn Tuân là một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo.

Thứ nhất, văn Nguyễn Tuân thể hiện một sự tài hoa, uyên bác trong sự vận dụng những am hiểu từ các lĩnh vực khác nhau. Nguyễn Tuân luôn nhìn sự vật ở phương diện nghệ thuật và nhìn con người ở phương diện nghệ sĩ. Nhân vật dù là loại người nào cũng đều có vẻ đẹp - phẩm cách của người nghệ sĩ; chứa đựng cái “ngông” của tác giả từ những bậc tao nhân mặc khách, những trang anh hùng nghĩa liệt trong Vang bóng một thời đến những người lao động như người lái đò...

Thứ hai, văn phong Nguyễn Tuân vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại. Trước CMT8, văn phong Nguyễn Tuân có sự đối lập giữa xưa nay rõ nét nhưng sau CMT8, ông không còn đối lập xưa nay mà đã có tìm thấy sự gắn bó, hòa hợp giữa hai yếu tố này.

Thứ ba, ngôn ngữ của Nguyễn Tuân sáng tạo, độc đáo, câu văn đầy giá trị tạo hình, đã góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc. Thứ tư, phong cách tự do, phóng túng, ý thức sâu sắc về cá tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể loại tùy bút như một điều tất yêu và đạt được nhiều thành tựu trong thể loại này, thúc đầy thể tùy bút của nền văn học nước nhà đạt đến trình độ nghệ thuật cao.

d. Những đóng góp cho nền văn học dân tộc

- Nâng thể tùy bút, bút kí đạt tới trình độ nghệ thuật cao.

- làm phong phú thêm ngôn ngữ vă học dân tộc.

- Đem đến cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam một phong cách tài hoa độc đáo.

2. Tập truyện ngắn “Vang bòng một thời” (1940)

- Số lượng: 11 truyện ngắn

- Nội dung: Viết về một thời đã xa, nay chỉ còn vang bóng – thời nhà Nguyễn suy tàn, thực dân Pháp đô hộ, những nho sĩ cuối mùa trở thành lớp người lạc lõng. Trong hoàn cảnh Tây Tàu lẫn lộn nhố nhăng, những con người tài hoa bất đắc chí ấy muốn giữ lại vẻ đẹp truyền thống xưa qua những thú vui tao nhã: thưởng hoa, uống rượu, ngắm trăng, nhấm nháp chén trà buổi sớm với tất cả những nghi lễ thiêng liêng. Họ, cũng cố giữ thiên lương cho trong sạch.

=> Tập truyện là sự hoài niệm về những nét đẹp văn hoá cổ truyền đã mất đi.

=> Trên trang viết Nguyễn Tuân, những "vẻ đẹp xưa" chợt sống dậy trong niềm xót xa tiếc nuối khôn nguôi. Cho nên tập truyện cũng là một ước mơ trong sạch, một “tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”.

3. Truyện ngắn “Chữ người tử tù”

a. Xuất xứ:

- Truyện lúc đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng” (in năm 1939 trên tạp chí Tao Đàn).

- Về sau, khi được tuyển in trong tập “Vang bóng một thời”, tác giả đổi thành “Chữ Người tử tù”.

b. Chủ đề: Truyện chưa đầy 2500 chữ nhưng hàm chứa một dung lượng lớn. Chỉ có ba nhân vật và ba cảnh: Quản ngục và viên thơ lại đọc công văn và nói về tử tù Huấn Cao; Huấn Cao bị giải đến và sự biệt đãi của ngục quan đối với tử tù; cảnh Huấn Cao cho chữ trong nhà ngục. “Chữ người tử tù” là bài ca bi tráng về sự bất diệt của thiên lương, của cái đẹp đích thực, của tài năng nhân cách cao cả của con người

c. Thú chơi chữ của người xưa

- Chữ Hán, viết bằng bút lông, có tính chất tạo hình và mang đậm dấu ấn người viết.

- Là một hành vi sáng tạo nghệ thuật.

- Đối tượng: tao nhân mặc khách.

Chữ Hán là thứ chữ khối vuông, viết bằng bút lông nên có nét đậm, nét nhạt, nét mềm mại, nét mạnh dạn... Các nét này hòa hợp với nhau bay lượn tung hoành trên một bức giấy, bức lụa như một bức họa tài tình, sinh động, thể hiện chân thực tâm hồn, tính cách người viết. Xưa nay, nhưng tao nhân mặc khách thường treo các bức chữ ấy ở nơi trang trọng nhất trong nhà như những họa phẩm quý giá để chiêm ngưỡng, thưởng thức.

d. Về Cao Bá Quát – người được coi là nguyên mẫu để nhà văn xây dựng nhân vật Huấn Cao

- Là nhà thơ tài hoa, phóng khoáng thế kỉ XIX (Văn như Siêu, Quát)

- Đã từng lám Hành tẩu ở bộ Lễ rồi bị giáng chức.

- Từng làm Giáo thụ phủ Quốc Oai (Sơn Tây).

- Tham gia khởi nghĩa nông dân Sơn Tây chống lại triều đình nhà Nguyễn (1854), rồi sau đó bị giết, bị triều đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc.

=> Một nhà nho yêu nước, con người vì nghĩa lớn dám đứng về phía nhân dân.

- Là người có nhân cách cứng cỏi, cả cuộc đời chỉ cúi đầu vái lạy hoa mai (Nhất sinh đê thủ bái hoa mai).

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1. Tình huống truyện: Cuộc tương ngộ của những tấm lòng trong thiên hạ

Tình huống truyện là "cái tình thế xảy ra truyện", là "một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc", là cái "khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người" (Nguyễn Minh Châu).

Tình huống truyện còn được hiểu là mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống, qua đó, nhân vật bộc lộ tâm trạng, tính cách, hay thân phận của nó góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng của tác phẩm.

a. Chữ người tử tù được dựng trên một tình huống giàu kịch tính

Tình huống độc đáo: Cuộc gặp chạm trán éo le của nhân vật Huấn Cao và quản ngục

- Trên bình diện xã hội: họ hoàn toàn đối lập nhau.

+ Một người là tên "đại nghịch", cầm đầu cuộc nổi loạn nay bị bắt giam, đang chờ ngày ra pháp trường để thụ hình.

+ Còn một người là quản ngục, kẻ đại diện cho cái trật tự xã hội đương thời.

- Nhưng họ đều có tâm hồn nghệ sĩ.

- Trên bình diện nghệ thuật: họ là tri âm, tri kỉ với nhau.

+ một người có thư pháp tuyệt vời

+ Người kia lại suốt đời ngưỡng mộ cái tài hoa ấy

=> Tạo dựng tình thế như vậy, đồng thời cho họ gặp nhau giữa chốn ngục tù, tối tăm nhơ bẩn, tạo nên một cuộc tương ngộ kì lạ và đáng nhớ.

b. Tình huống oái oăm dẫn đến xung đột trong việc lựa chọn của nhân vật Quản Ngục:

- Quản Ngục Hoặc làm tròn phận sự công việc thì phải chà đạp lên một tấc lòng tri kỉ => Lựa chọn theo cách thứ nhất này, chiến thắng sẽ thuộc về sự tầm thường

- Hoặc muốn trọn lòng tri kỉ thì phải vượt lên phép tắc triều đình => Lụa chọn theo cách này, chiến thắng sẽ thuộc về cái đẹp.

Quản ngục có thủy chung với tấc lòng tri kỉ hay không? Có dám coi thường bổng lộc và sự an toàn tính mạng của mình hay không? Có thể thoát khỏi cái nhà tù vô hình vẫn giam cầm nhân cách cả mình không? Có dám sống đẹp không? Với tính huống như thế có thể đặt thêm cho câu chuyện một phụ đề: Số phận của cái đẹp.

=> Tình huống truyện độc đáo thể hiện ở mối quan hệ éo le, đầy trớ trêu giữa những tâm hồn tri kỉ. Hai nhân vật được đặt trong một tình thế đối địch: tử tù và quản ngục. Chính tình huống độc đáo này đã giúp làm nổi bật trọn vẹn vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao, đồng thời cũng làm sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục qua lựa chọn của mình. Từ đó mà chủ đề của tác phẩm cũng được thể hiện sâu sắc.

Nói thêm: Trong tiểu thuyết hiện thực của Đốtxtôiépxki (Nhà văn Nga, Thần tượng của Nguyễn Tuân), đôi lúc cũng có những tình huống đối lập kì lạ giữa lí tưởng và hiện thực, giữa tính cách và hoàn cảnh. Một cô gái điếm, một kẻ sát nhân tụ tập trong một căn phòng hẹp, với ngọn nến bập bùng, trước pho sách vĩnh hằng của Kinh Thánh (Tội ác và trừng phạt).

2. Nhân vật Huấn Cao – sự kết hợp lí tưởng giữa nghệ sĩ và hào kiệt

- Trước cách mạng, NT – người nghệ sĩ có tâm hồn yêu cái đẹp, đã đem cái tôi tài hoa, khinh bạc, kênh kiệu của mình chống lại cái xã hội “ối a ba phèng”, cái xã hội ô trọc của những kẻ giàu lên một cách hỗn láo, cái xã hội ăn hiếp người của bọn con buôn, chỉ điểm, mật thám. Lạc lõng giữa cái xã hội sống bằng tàn nhẫn, lừa lọc ấy là một đám nghệ sĩ tài hoa, tài tử, những kẻ giang hồ phiêu lãng, chỉ đem cái tình cái tài ra mà đối đãi với nhau. Viên Quản ngục còn chút thiên lương và Huấn Cao thuộc loại người hiếm hoi này.

- Trong Chữ người tử tù, ngòi bút Nguyễn Tuân đã tập trung khắc hoạ vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao. Vẻ đẹp của Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, một vẻ đẹp được lí tưởng hoá, được thể hiện một cách khác thường chừng như không thể xảy ra được. Huấn Cao hiện lên một cách rực rỡ, chói sáng nhờ được tô đậm bằng những tương phản gay gắt.

- Con người được lí tưởng hóa này cũng như những kẻ tài hoa, những giang hồ lãng tử khác trong “Vang bóng một thời” là hình bóng của Nguyễn Tuân, là ước mơ của Nguyễn Tuân, dù là có thể có nhiều ý kiến cho rằng nhân vật ấy bắt nguồn từ một nguyên mẫu ngoài cuôc đời là Cao Bá Quát.

a. Huấn Cao – nho sĩ tài hoa lỡ vận

Tài văn: Tài viết thư pháp -  tài năng của một người nghệ sĩ chân chính.

Tài võ: Có tài vượt ngục bẻ khóa, ra vào chốn lao tù như không

v  Tài năng được miêu tả gián tiếp:

- Tài hoa của HC được giới thiệu ngay từ đầu truyện qua lời của các nhân vật khác. Nguyễn Tuân đã chú ý giới thiệu cái tài hoa của HC trước khi giới thiệu nhân vật. Nhân vật chính chưa xuất hiện, đã được giới thiệu là người “văn võ đều tài cả”. Hơn thế,  tài viết chữ đẹp hiện lên từ những lời đồn đại ngưỡng mộ của người đời “Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp?”, tài hoa của HC đã tạo nên danh tiếng trong lòng thế gian, như một huyền thoại.

-  Tài năng ấy còn được nhấn mạnh hơn nữa khi Nguyễn Tuân miêu tả sự khao khát, nhẫn nại đãi ngộ kẻ tử tù cả tháng trời chấp sự khinh bạc xua đuổi của kẻ dưới quyền, và thậm chí bất chấp cả hiểm nguy bị cách chức để có được chữ của viên quản ngục, “Chữ Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm “, “Có được chữ ông Huấn mà treo là có được một vật báu trên đời “, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”.

v  Tài năng được miêu tả trực tiếp:

- Và đặc biệt, sự nâng niu, trân trọng của những người trong phòng giam trước những con chữ vuông vức thơm phức mùi mực đã thay cho những lời ca tụng về nét tài hoa của một Huấn Cao nhà nho nghệ sĩ chân chính. Trong cảnh tượng ấy, tài hoa của Huấn Cao đã được ngòi bút Nguyễn Tuân trực tiếp miêu tả “nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của cả đời con người” (quả đúng là: nét chữ nết người). Chữ Huấn Cao quý vì nó chứa đựng những hoài bão tung hoành, chứa đựng sự tinh hoa, tinh huyết của cả đời người. Nét chữ ấy không chỉ được khen ngợi, được ngưỡng mộ mà còn được tôn thờ, nó không chỉ đẹp mà còn quý, gần như là một điều gì đó rất thiêng liêng.

=> Miêu tả cái tài hoa tuyệt đích của HC cũng chính là cách để Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm liên tài của mình. Cái tài là thứ quý hiếm đáng được tôn thờ và ngưỡng mộ; phải là cái phát lộ đến tuyệt đích; phải có giá trị thanh lọc tâm hồn con người.

b. Huấn Cao – anh hùng thất thế, sa cơ đang phải chờ lĩnh án chém mà vẫn khí phách hiên ngang

- Nhân vật Huấn Cao còn được khắc họa đậm nét ở từ góc độ của một anh hùng nghĩa khí. Con người ấy đã đứng về phía nhân dân “ thủ xướng” cuộc dựng cờ mà chống lại triều đình. Chí lớn không thành, bị bắt giam nơi tử ngục chờ ngày lãnh án chém mà vẫn thản nhiên coi thường, vẫn là một anh hùng hiên ngang, ung dung (coi cái chết nhẹ tựa lông hồng). Cho nên cái câu “hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” thực chẳng đúng với ông HC chút nào.

- Khí phách khác người của HC cũng được giới thiệu ngay từ đầu truyện, là người có nghĩa khí chọc trời khuấy nước, lại có tài bẻ khóa vượt ngục=> dũng khí phá bỏ gông xiềng của HC cũng lan truyền vang dội xa như huyền thoại khiến  những con người đang nắm giữ gông xiềng cũng phải nể sợ.

Thái độ:

- Trước hết ở thái độ đối với cường quyền: ông đã dám đứng lên để chống lại triều đình phong kiến bởi không chịu khuất phục trước cường quyền và bạo lực, như vậy tức là dám chống lại một nền móng xã hội có sức mạnh của cả ngàn năm, nó đi ngược lại với luân lí lễ giáo mà Nho giáo áp đặt cho những nho sĩ trí thức như Huấn Cao, và khi làm như vậy cũng là đặt bản thân, dòng tộc vào vòng hiểm nguy. Bấy nhiêu cũng đã đủ nói lên tính cách khí khái vị nghĩa của Huấn Cao.

- Đối với ngục quan, HC vẫn tỏ ra đường hoàng, ngang tàng, thậm chí là xua đuổi, mắng nhiếc.

+ Thản nhiên nhận rượu thịt mà chẳng hề sợ hãi hay lo nghĩ gì, coi đó như “việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”.

+ Khi viên quản ngục hỏi ông có cần thêm gì nữa không với thiện ý chân thành, HC đã trả lời như thể tát nước vào mặt y: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”.

+ Khi tưởng viên quản ngục cũng như bao kẻ nơi trại giam khác “sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc”, nghĩa là cũng độc ác, thô bỉ, ngu xuẩn, cặn bã, “ông cố ý làm ra khinh bạc đến điều”.

=> Đến cả lúc lỡ bước sa cơ, ông vẫn giữ cho mình được cái tính đường hoàng, tự tại thậm chí có phần ngạo nghễ, kiêu bạc.

Hành động:

- Khí phách hiên ngang của HC thể hiện rõ ràng nhất chính ở hành động.

+ Đó là việc dỗ gông một cách lạnh lùng trước mặt tên lính áp giải, giữ nghiêm cái oai phong lẫm liệt của một người lãnh đạo, chứ không hề có sự sợ hãi, buông xuôi của một tử tù đang chờ án chém.

+ Khí phách đó còn thể hiện qua lời mắng nhiếc, xua đuổi đối với viên quan coi ngục, dẫu HC biết rằng ông ta chính là người nắm quyền sinh sát nơi đề lao này. Đó là hành động nhằm giữ gìn khí tiết, không vì biệt đãi mà chịu lụy vào người.

+ Đối với những người xin chữ, HC nhất quyết không vì mưu cầu lợi ham lộc mà bán cái tài của mình, “tính ông vốn khoảnh”.

 + Trong cảnh cho chữ con người ngang tàn ấy cổ đeo gông, chân vướng xiềng vẫn say xưa sáng tạo, không thèm nghĩ đến cái chết đang kề cổ.

=> Tư thế hiên ngang lồng lộng giữa cái nền xám xịt của ngục tù.

=> Là kẻ phản nghịch nguy hiểm, cứng đầu trong mắt của triều đình, nhưng trong mắt của người đọc, HC vẫn là con người nghĩa khí đáng trọng.

Nơi HC hội tụ cái khí phách hiên ngang, cái uy nghi của một bậc anh hùng lẫm liệt “bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”

c. Huấn Cao – Con người có thiên lương rực rỡ

Huấn Cao – người sáng tạo cái đẹp – hiểu được giá trị của cái đẹp

- Bản thân HC là người sáng tạo cái đẹp nên ông ý thức được  giá trị của cái đẹp

+ Là người viết chữ đẹp nhưng ông rất ít cho chữ (ngoài 3 người bạn thân)

+ Chỉ cho chữ những người biết thưởng thức và biết yêu quý cái đẹp, tôn trọng cái tài: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”.

+ Chỉ đến khi cảm được tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” và hiểu ra cái sở nguyện cao quý của quản ngục, HC mới nhận lời cho chữ.

=> Đã là người không run sợ trước quyền thế, HC còn là người không bao giờ bị cám dỗ bởi vàng ngọc hay giàu sang phú quý. Là người trọng nghĩa, khinh lợi. Biết tự trọng và không ham quyền hám lợi.

=> Một tâm hồn thanh cao, trong sạch.

Huấn Cao - một con người biết trọng tấm lòng của con người

- HC là người nghĩa khí khảng khái, nhưng ông còn là một con người biết trọng tấm lòng của con người. Đã từng hiểu nhầm thành ý của viên quản ngục mà đuổi mắng ông ta ngay khi đang được biệt đãi, nhưng HC lại tỏ ra hết sức vị tha, rộng lượng khi thấu hiểu ước ao cao đẹp của viên quản ngục. Đó thực sự là biểu hiện của một con người có phẩm tiết cao quý, mà theo chữ Nguyễn Tuân dùng, đó là một tấm lòng thiên lương cao đẹp. Tấm lòng thiên lương của Huấn Cao thể hiện rõ nhất qua sự thay đổi thái độ của ông đối với viên quản ngục.

+ Lúc đầu, Huấn Cao tỏ ra khinh bạc, lạnh lùng đối với viên quản ngục.

+ Nhưng khi đã hiểu rõ tấm tình của viên quản ngục, Huấn Cao chẳng những vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt lên lời nói đầy xúc động, ân hận chân thành “thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Hóa ra con người tưởng như có trái tim bằng thép ấy cũng có lúc mềm lòng. Theo Huấn Cao, sống là phải xứng đáng với mọi tấm lòng trong thiên hạ, phụ mất một tấm lòng đã là một tội lỗi lớn. Đó là một tấm lòng vị tha, vị nghĩa, một tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, mến mộ tri âm. Chính tấm lòng ấy đã nối kết hai con người ở trong hai vị thế đối đầu nhau và cũng chính tấm lòng ấy đã khiến cho nhân vật Huấn Cao toàn vẹn hơn, hoàn hảo hơn. Ông không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa mà còn là hiện thân của phẩm tiết, của khí chất kẻ sĩ.

d. Huấn Cao – người thay Nguyễn Tuân phát biểu quan niệm sống

- Qua hình tượng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân muốn bày tỏ những quan niệm của mình về cái đẹp: Trong truyện, Huấn Cao được xây dựng không chỉ là người có tài mà còn có tâm, có "thiên lương" (bản tính tốt lành). Huấn Cao không chỉ có thái độ hiên ngang, bất khuất, coi thường cái chết và tiền bạc mà còn có tấm lòng yêu quý cái thiện, mềm lòng trước tấm lòng "biệt nhỡn liên tài" của viên quản ngục (sẵn lòng cho chữ khi hiểu rõ thiện căn và sở thích cao quý của ông ta) và thậm chí còn biết sợ cái việc chút nữa "phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Có thể nói đó là hai mặt thống nhất của một nhân cách lớn => Như thế, trong quan điểm của Nguyễn Tuân, cái tài phải đi đôi với cái tâm. Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau. Đó là một quan điểm thẩm mĩ tiến bộ của tác giả.

- Qua việc yêu mến và ca ngợi HC, tiếc nuối những người như HC, nhà văn kín đáo thể hiện tình cảm yêu mến những giá trị văn hoá truyền thống, thể hiện tinh thần dân tộc và lòng yêu nước kín đáo của mình.

Tiểu kết: Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất, lí tưởng nhất của đời văn Nguyễn Tuân, là sự kết tinh của một ngòi bút tài hoa lãng mạn, là sự kết hợp lí tưởng tuyệt vời với một đấng anh hùng hào kiệt và một bậc tài hoa nghệ sĩ. Nhân vật này là nét son đỏ chói lọi trên cái nền vàng úa, ảm đạm của “Vang bóng một thời”. HC là nhân vật có khả năng vượt qua cái mong manh của trang giấy để in sâu vào tâm trí người đọc.

2. Nhân vật viên quản ngục – Người tù chung thân của nhà tù giam cầm nhân cách - một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ

- Viên quản ngục thực chất không phải là hung thần với đôi tay vấy máu mà ông cũng là một nhà nho biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền.

- Vài nét chấm phá về ngoại hình: “Ngừơi ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu, những đừơng nhăn nheo của bộ mặt tư lự” ,viên quản ngục với vẻ ngoài dễ nhìn đã trải qua một đêm thao thức khi có lệnh sắp nhận sáu tên tử tù trong đó có HC - người đứng đầu bọn phản nghịch nhưng lại viết chữ rất đẹp.

- Điểu đáng chú ý là tâm hồn ông ít nhiều xao động khi nghe tin HC sẽ được giải đến trại giam tỉnh Sơn, chứng tỏ phần nào cái tính cách khá dịu dàng khác hẳn với bao kẻ tàn nhẫn trong chốn đề lao.

- Đấy cũng là con người luôn trăn trở, cựa quậy trong cái gông cùm vô hình và thắt ngặt của phận sự, của công việc hằng ngày. Chỉ bằng hình ảnh ẩn dụ của những con song, nhà văn đã thể hiện được sự cô đơn, tù túng như bị giam cầm trong cõi lòng. Cái nhà tù đó, đã trói chặt những ước mơ, những hoài bão một đời con người.

a. Con người yêu cái đẹp

PV: Khi biết HC sắp sửa vào nhà giam của mình, viên quản ngục đã có suy nghĩ (mong muốn) gì?

- Là một người làm nghề coi ngục, là công cụ trấn áp của bộ máy thống trị đương thời, nhưng viên quản ngục lại có thú chơi thanh cao, tao nhã -thú chơi chữ. Ngay từ khi còn trẻ, tức là khi mới "biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền", ông đã có cái sở nguyện "một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết". Cái sở nguyện thanh cao muốn có được chữ của Huấn Cao để treo bất chấp nguy hiểm, cùng thái độ thành kính đón nhận chữ từ tay Huấn Cao cho thấy, viên quản ngục là một người có tấm lòng "biệt nhỡn liên tài", là người biết trân trọng những giá trị văn hoá.

- Khi tiếp nhận HC, một tên nổi loạn khét tiếng dưới mắt triều đình phong kiến, những tưởng viên ngục quan sẽ hùng hổ dùng trăm phương ngàn kế để hành hạ, tra tấn HC, ấy thế nhưng con người từng trải ấy chỉ xuất hiện trong đầu mình cái ý nghĩ rất thi vị, đó là xin được chữ HC, ông mơ màng ao ước cái cảnh có đôi câu đối trong nhà, điều ấy quý lắm, đẹp lắm.

PV: Với ao ước cháy bỏng ấy, viên quản ngục đã có những thái độ, hành động gì trong những ngày HC ở trong nhà giam của ông? [thảo luận 3p]

- Trước hết, đó là một tâm trạng trăn trở, băn khoăn về cái nghề mình đã chọn-canh ngục, canh giữ những kẻ tội đồ, cũng như cả những kẻ tài hoa. Một người yêu mến cái đẹp như viên quản ngục bỗng cảm thấy mình cô đơn, lạc lõng giữa chốn đề lao nhơ bẩn, vốn không phải chỗ dành cho người biết thưởng thức cái đẹp dung thân. Vẻ mặt  “bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ” như nói lên tất cả tâm trạng dằn vặt, dày vò của ông trước cái hoàn cảnh trớ trêu, thử thách tấm lòng của ông. Chính vì thế, mà tâm trạng thứ hai của viên quan coi ngục đó là sự giằng xé giữa việc đảm bảo bổn phận gác ngục và mong muốn đạt được cái sở nguyện thanh cao: xin được chữ HC. Và ông đã chọn hi sinh vì cái đẹp, dẫu ông biết làm như vậy nếu tai mắt đến quan trên, ắt hẳn cái chức của ông không còn, mà có khi lại còn bị ghép tội đồng lõa với tử tù, hình phát ắt là không nhẹ. Nhưng cái sở nguyện yêu chữ đã trở thành niềm thiết tha cả đời người. Cái đẹp đã trở nên linh thiêng trong tâm hồn viên quản ngục. Chính ở đây, vẻ đẹp của nhân vật đã thực sự tỏa sáng cùng niềm say mê cái đẹp chân chính của nghệ thuật.

b. Con người có tâm hồn “thiên lương”, biết trọng người tài

- Viên quản ngục là người biết trân trọng giá trị con người. Điều đó thể hiện rõ qua hành động "biệt đãi" của ông đối với Huấn Cao – một kẻ tử tù đại nghịch.


PV: Nhân vật quản ngục là một con người yêu cái đẹp, có cái thú vui chơi chữ thanh tao, sở nguyện cao quý. Thế nhưng con đường xin chữ của ông có dễ dàng không? Thái độ và hành động của ông như thế nào? [thảo luận 3p]

- Con đường xin chữ khó khăn trăm bề: Con đường đạt được sở nguyện của viên quản ngục xem ra không phải dễ dàng, bởi HC là một người khí khái, dễ nào vì tra tấn, nhục hình mà lại cho chữ bao giờ. Hơn nữa, đã sắp đến ngày hành hình, con người tài hoa dưới tay ông kia sắp phải từ giã cõi đời, cái sở nguyện thiết tha có khi không kịp thực hiện được. Mà xung quanh chốn lao tù, lại biết bao tai mắt kẻ khác, ngộ nhỡ có gì thì tính mạng của ông cũng khó bảo toàn.

- Cách xin chữ: viên coi ngục không dùng bạo lực mà dùng chính tấm lòng của mình để thuyết phục HC, ngay cả khi bị đuổi cũng không thay đổi tấm chân tình.

- Hành động, tư thế, thái độ trong đêm cho chữ cũng nói lên tất cả nhân cách của viên quản ngục:

+ Đó là thái độ khép nép, dáng đứng khúm núm dõi theo từng nét bút tung hoành một đời hoài bão của Huấn Cao => lại là những cử chỉ đẹp

=> Viên quản ngục lặng thầm cúi mình trước một nhân cách cao quý, trước cái đẹp đích thực của nghệ thuật.

+ Và lời nói cuối truyện, “kẻ mê muội xin bái lĩnh” => lại là câu nói cảm động nhất thiên truyện.

=> Thể hiện một thái độ dứt khoát từ bỏ sự mê muội để đến với đốn ngộ, bừng sáng.

Tiểu kết: Viên quản ngục không phải là nhân vật lí tưởng, nhưng là sáng tạo độc đáo của NT: một con người xuất thân chốn tăm tối nhưng lại có một thiên lương bừng sáng. Diễn biến nội tâm, hành động và cách ứng xử của viên quản ngục cho thấy đây cũng là một nhân cách đẹp, một "tấm lòng trong thiên hạ" tri âm, tri kỉ với Huấn Cao. Đó là "một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ".
Có thể nói, viên quản ngục là một người biết giữ "thiên lương", biết trân trọng giá trị văn hoá và tài năng, là người có tâm hồn nghệ sĩ, không có tài nhưng yêu tài, không sáng tạo được cái đẹp nhưng biết yêu và trân trọng thật lòng cái đẹp. => QN là “đóa hoa sen thơm dịu dàng giữa bùn lầy”.

3. Nhân vật Thơ lại - kẻ giúp việc giấy tờ cho ngục quan

- Một con người sắc sảo và có tâm điền tốt:

+ Mới đọc công văn và nghe ngục quan nói về Huấn Cao, y đã biểu lộ lòng khâm phục: “thế ra y văn võ đều có tài cả, chà chà!”.

+ Sau đó lại bày tỏ lòng thương tiếc: “… phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy thương tiếc”.

+ Sau nhiều lần thăm dò, thử thách, ngục quan đánh giá viên thơ lại: “Có lẽ lão bát này cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết yêu mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình”.

+ Suốt nửa tháng, tử tù ở trong buồng tối vẫn được viên thư lại gầy gò “dâng rượu và đồ nhắm”.

+ Y đã trở thành kẻ tâm phúc của ngục quan. Sau khi nghe tâm sự của ngục quan “muốn xin chữ tử tù”, viên thư lại sốt sắng nói: “Dạ bẩm, ngài cứ yên tâm, đã có tôi” rồi y chạy ngay xuống trại giam đấm cửa thùm thùm gặp Huấn Cao. Nhờ y mà ngục quan xin được chữ tử tù.

+ Trong cảnh cho chữ, viên thơ lại run run bưng chậu mực. Đúng y là một người biết yêu mến khí phách, biết tiếc biết trọng người có tài.

- Nhân vật thơ lại chỉ là một nét vẽ phụ nhưng rất thần tình, góp phần làm rõ chủ đề của thiên truyện.

4. Cảnh cho chữ - Cảnh tượng xưa nay chưa từng có

Khi quyền lực và đồng tiền, vật chất không san phẳng được khoảng cách giữa hai nhân vật HC và QN thì cái đẹp tỏ ra là một thế lực có sức kết nối mạnh mẽ, nên vực thẳm ngăn cách giữa họ bỗng dưng biến mất.

Nguyên văn cảnh cho những dòng chữ cuối cùng:  “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián.

Trong một không khí khói toả như cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lân hồ. Khói bốc tỏa cay mắt.

Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại khúm núm cắt những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”.

Người tử tù ấy – ngôi sao vĩ đại sắp từ biệt vũ trụ ấy đang hoàn tác di vật cuối cùng trước khi bước vào cõi bất tử để hóa Thánh.

Việc HC cho chữ không phải là thanh toán nợ nần với QN, cũng không phải hành động của người sắp bị tử hình đem những tài sản cuối cùng cho người ở lại; cũng không phải cơ hội cuối cùng để phô diễn tài hoa, càng không phải là hành động dâng nạp vật báu cho người coi giữ mình. Đây trước hết là việc làm của một tấm lòng để đền đáp một tấm lòng trong thiên hạ, là tấc lòng của người tri âm dành cho người tri kỉ. Cái tâm đang điều khiển cái tài, cái tài đang phụng sự cái tâm. Cái tài cái tâm hòa vào nhau để cùng tạo nên cái đẹp.

a. Thời gian đặc biệt:

- Đó là thơi khắc của đêm khuya, khi lính canh đã đi ngủ hết. Cái thời khắc khắc nghiệt ấy không phải là thời điểm thích hợp của thú chơi chữ, người ta phải chơi lúc mặt trời sáng tỏ minh bạch, khi hơi ấm và vẻ đẹp đang rạng ngời trên thế gian, chứ không phải trong bóng tối, giữa lúc đêm khuya mờ ám như vậy.

- Và thời gian lại càng đặc biệt hơn nữa khi đây là đêm cuối cùng của HC, cái tài hoa, khí phách của ông còn tồn tại trên đời có lẽ chỉ trong đêm nay nữa mà thôi. Lần cho chữ này là lần thứ tư, và sẽ là lần cuối cùng. Do vậy, đây là một thời điểm đặc biệt và rất có ý nghĩa.

b. Khôn gian đặc biệt:

- Điều thứ hai khiến cho cảnh cho chữ trở nên đặc biệt, đó chính là không gian mà nó diễn ra.

- Chơi chữ là thú vui tao nhã, cao quý, nó thường diễn ra trong chốn thư phòng thanh sạch.

- Vậy mà những nét chữ cuối cùng của cả đời người HC lại được viết ra trong cảnh nhơ bẩn của một phòng giam tối tăm đầy phân chuột, phân gián, chật hẹp và ẩm ướt, hoàn toàn không phải là điều kiện để ươm mầm và thưởng thức cái đẹp.Nguyễn Tuân chọn nơi đây để cho cái đẹp chào đời quả là khó tin.

c. Ánh sáng và bóng tối

- “Cảnh xưa nay chưa từng có” ấy còn có sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối - một thủ pháp quen thuộc của văn học lãng mạn trước 1945.

- Ở đây là sự đối lập giữa bóng đem bao trùm nhà giam với ngọn đuốc tẩm dầu đang ngùn ngụt cháy, soi rõ mặt người và soi sáng nét bút tung hoành của ông HC. Đó còn là thứ ánh sáng lung linh phản chiếu của tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ như tâm điểm của cả bức tranh cho chữ diệu kì. Nhà giam và bóng tối, tượng trưng cho cái ác, cái xấu đang hoaành hành, đang muốn bóp chết cái đẹp của chân chính.

- Thế nhưng trong phân cảnh này, với tình yêu và niềm tin của tác giả gửi gắm vào nhân vật, dường như bóng tối đã không chiến thắng, và sẽ không thể chiến thắng những tia sáng nhỏ bé nhưng mạnh mẽ, tượng trưng cho niềm tin và hi vọng của con người vào cái đẹp, cái thiên lương chân chính. Cái đẹp, cái thiện đã chiến thắng cái xấu, cái bạo tàn một cách thuyết phục.

d. Cuộc gặp gỡ đặc biệt của những con người phi thường nhưng lại phải ngụp lặn dưới đáy xã hội và sự thay bậc đổi ngôi

- Và tâm điểm của cảnh tượng xưa nay chưa từng có ấy là cuộc gặp gỡ kì lạ và đặc biệt của hai con người hoàn toàn trái ngược nhau trong tư tưởng chính trị, địa vị xã hội, nhưng lại đồng điệu trong tình yêu đối với cái đẹp chân chính.“Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…” => Cái đẹp đang được khai sinh.

+ Tư thế của người cho chữ - người tù: lại chẳng hề có một chút gì khúm núm, sợ sệt của một người sắp bị hành hình, mà chỉ thấy một phong thái ung dung, đĩnh đạc, thậm chí có phần hiên ngang khi tung hoành những nét chữ chứa đựng đầy hoài bão, đầy tinh huyết của một đời người. Nơi HC toát lên vẻ đẹp rạng ngời của người nghệ sĩ khi hoàn tất tác phẩm tâm đắc nhất cuộc đời mình. Ông bình thản tận hưởng mùi thơm của mực và giấy, ông thật sự đắm mình trong thú chơi chữ, đó thực sự là cái cốt cách của người nghệ sĩ tài hoa chân chính.

+ Tư thế của người nhận chữ - ngục quan:Đối lập với tư thế của HC chính là một viên quản ngục, một thầy thư lại khúm núm sợ sệt dõi theo từng nét bút.

=> Sự thay bậc đổi ngôi: Và đến khi HC cất tiếng khuyên bảo viên quản ngục, đã có một sự đảo lộn vị thế xã hội diễn ra một cách ngoạn mục giữa người tù và viên quan coi ngục (tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan; còn ngục quan lại là người cúi lạy chịu ơn), thế nhưng sâu xa hơn, đó lại lại sự hòa hợp đến vô cùng của người sáng tạo nghệ thuật và người thưởng thức, giữa những con người biết yêu quý và trân trọng cái đẹp.Huấn Cao là sự kết hợp hoàn mĩ giữa tài và tâm. Còn nhân vật viên quản ngục là một chứng minh của nhà văn về sức mạnh cảm hóa của cái đẹp. Người sáng tạo ra cái đẹp là người tài và người biết thưởng thức cái đẹp cũng là người có thiên lương.

=> Kẻ xin chữ, người cho chữ cùng nhau phá vỡ cái nghịch lí của đời thường để tìm đến sự thuận lí mang chất văn hóa nhân bản. Lúc này, ranh giới giữa tội đồ và cai tù đã bị xóa bỏ. Chỉ còn những người bạn, những tri kỉ đang quy tụ, quây quần chung quanh cái đẹp của tình người và nghệ thuật. Cuộc cho chữ này thực chất chính là cuộc nổi loạn của cái đẹp để chứng tỏ quyền năng kì diệu của nó.

e. Di huấn của người tử tù

- Sau khi hoàn tác, trong không khí thuần khiết khi cái đẹp lên ngôi và tỏa sáng, HC để lại lời di huấn “Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi… Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững”.

=> Đây là những lời di huấn thiêng liêng về nhân cách về lẽ sống, về đạo lí làm người trong cái thời vàng thau lẫn lộn.

=> Cái đẹp có thể nảy mầm từ chốn ngục tù nhưng không thể “lớn lên” ở nơi ấy. Nó cần một nơi chốn thanh tao để phát triển. Và hơn thế con người với cái sở nguyện cao quý cũng không thể sống mãi trong cảnh tăm tối ấy được.

=> Trong mội trường cái ác, cái đẹp khó có thể tồn tại vững bền. Chữ nghĩa và thiên lương không thể chung sống với lũ người quay quắt nơi chốn ngục tù đen tối. Lời nói của HC đầy ngụ ý, đầy sức gợi. Ở nơi ngục tù này có bao giờ thưởng thức được mùi mực. "thoi mực thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá". Hãy biết tìm trong mực, trong chữ hương vị của thiên lương. Vì cái gốc của chữ nghĩa chính là thiên lương đó thôi, hãy trả cái đẹp về vương quốc mà nó ngự trị.

=> Chơi chữ đâu còn là thú vui, đó là chuyện của cách sống, chuyện của truyền thống văn hóa.

=> Truyện khép lại bằng hình ảnh cuối cùng “ngục quan vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắ rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”, dù dừng lại, chia tay nhân vật, người đọc không rõ rồi viên Quản ngục ấy có thay chốn ở không, nhưng những dư vị của câu chữ và logic của câu chuyện khiến chúng ta tin cái đẹp có thể cảm hóa được con người.

Nói thêm: Có những cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên hèn hạ, có những cái vái lạy làm cho con người ta trở nên đê tiện. Nhưng cũng có những cái cúi đầu làm con người ta bỗng trở nên cao cả hơn, lớn lao hơn, lẫm liệt hơn, sang trọng hơn. Đấy là cái cúi đầu trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Cái cúi đầu vái lạy của thầy quản trước HC cũng như cái cúi đầu đáng trọng của Cao Bá Quát trước hoa mai vậy (Nhất sinh đê thủ bái hoa mai).

f. Ý nghĩa cảnh cho chữ:

+ Nghệ thuật đích thực nối kết tâm hồn

+ Cái đẹp không lụi tàn mà mãi mãi được lưu giữ.

+ Đây là cảnh cho chữ, cảnh chuyển giao cái đẹp của nghệ thuật, nhưng cũng là cảnh trao tặng cái đẹp của nhân cách, của phẩm chất con người (Kẻ mê muội xin bái lĩnh)

=> cái thiện, cái đẹp có thể cảm hóa con người. Cái đẹp cứu rỗi thế giới (Dotxtoiepxki)

=> Qua cảnh cho chữ  Nguyễn Tuân thể hiện niềm tin vững chắc vào con người. Nhà văn khẳng định: thiên lương là bản tính tự nhiên của con người, dù trong hoàn cảnh nào, con người vẫn hướng tới CHÂN THIỆN MĨ. Đây chính là chiều sâu giá trị nhân văn của tác phẩm.

g. Ngôn ngữ và nghệ thuật trong cảnh cho chữ

- Cảm hứng mãnh liệt trước một "cảnh tượng xưa nay chưa từng có" đã khiến Nguyễn Tuân thoả sức thể hiện khả năng sử dụng vốn ngôn từ phong phú, sắc sảo của ông.

- Những lớp ngôn từ vừa trang trọng cổ kính, vừa sống động như có hồn, có nhịp điệu riêng, giàu sức truyền cảm.

- Bút pháp dựng người, dựng cảnh của nhà văn đạt đến mức điêu luyện.

- Những nét vẽ của nhà văn trong đoạn này rất giàu sức tạo hình.

- Thủ pháp tương phản được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả đã làm nổi bật hơn bao giờ hết vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, rực rỡ hào quang bất tử của hình tượng nhân vật Huấn Cao.

- Hai câu văn: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, và: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” - đẹp như những bức châm trong các thư họa nghìn xưa lưu lại trong các viện bảo tàng mĩ thuật.

III. TỔNG KẾT: ghi nhớ SGK

Một giọng văn lạnh nhưng tình người ấm nóng, Nguyễn Tuân gửi gắm nhiều thông điệp sâu xa trong giọng văn ấy, khiến người đọc không thể hững hờ.

-          Huấn Cao con người lí tưởng, người của thần thánh thiên đình cố rũ hết bụi trần ở chốn ngục tù để hóa thánh, để nhập vào các vì sao trên không trung thăm thẳm

-          Quản ngục, người của hạ giới, gần với đời thường

Nguồn từ yume.vn

Tin mới nhất

Tin mới nhất