Sáng Tác > Văn

16/08/2011 14:245061 lượt xem

Nguyễn Minh Châu và tiểu thuyết Dấu chân người lính.

Nguyễn Minh Châu và tiểu thuyết Dấu chân người lính.

Cuốn tiểu thuyết được tác giả khởi thảo năm 1969, và ngay sau khi trích đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội-1970 đã “ có tiếng vang và được nhiều người khen”. Tác phẩm đã được đánh giá cao “ đánh dấu bước tiến mới của Nguyễn Minh Châu trong tiểu thuyết.

Nguyễn Minh Châu là nhà văn -chiến sĩ trưởng thành trong giai đoạn lịch sử đầy máu lửa của dân tộc, khi mà cả đất nước đều mang tâm thế  “ dồn vào một con đường: ấy là con đường ra mặt trận, ấy là con đường cứu nước”. (Nam Cao). Những tác phẩm của ông sáng tác lấy đề tài từ hiện thực chiến đấu lần lượt ra đời khẳng định vị trí của mình trong việc đóng góp vào nền văn học chống Mỹ của đất nước. Hàng loạt tác phẩm ấy gồm: Cửa sông, Dấu chân người lính, Những vùng trời khác nhau, Lửa từ những ngôi nhà…Những sáng tác của ông trong thời kì chiến tranh ông quan tâm và cổ vũ những phẩm chất yêu nước, anh hùng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Với tư cách của một người lính đã nếm trải tất cả những gì thuộc về chiến tranh, cùng với độ nhảy cảm của một nhà văn, Nguyễn Minh Châu đã dựng lại không khí hào hùng của một giai đoạn chiến tranh đầy máu lửa của lịch sử, điều đó người đọc đã cảm nhận được qua Dấu chân người lính, với những trận đánh, những chiến dịch ở Khe Sanh, ở quả đồi Không Tên, ở Tà Cơn…

Cuốn tiểu thuyết được tác giả khởi thảo năm 1969, và ngay sau khi trích đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội-1970 đã “ ó tiếng vang và được nhiều người khen”. Tác phẩm đã được đánh giá cao “đánh dấu bước tiến mới của Nguyễn Minh Châu trong tiểu thuyết. Ở đây, cảm xúc của anh đã có thể theo kịp suy nghĩ để tạo nên một số hình tượng hấp dẫn về tư tưởng nghệ thuật”. Tác phẩm bao gồm 17 chương, chia ra thành 3 phần: phần 1 là Hành quân, phần 2 là Chiến dịch bao vây, phần 3 là Đất giải phóng.

 

Nguyễn Minh Châu - từ “dấu chân người lính” đến lão Khúng ở quê

Chủ đề của Dấu chân người lính là lịch sử dân tộc. Nội dung chủ yếu nói về cuộc hành quân, vây đánh giặc ở núi rừng Quảng Trị. Đề tài chiến tranh chi phối hầu hết tất cả mọi hoạt động của các nhân vật ở các vùng miền, dân tộc, lứa tuổi, giới tính, thành phần xã hội, gia đình chính ủy Kinh là một ví dụ điển hình, mỗi người đều mang trên vai mình một nhiệm vụ riêng của dân tộc. Các nhân vật khác ở các làng quê ở các làng quê khác nhau đều có mặt trong cuộc hành quân vĩ đại này của cả dân tộc. Có thể xem đây là bộ tiểu thuyết lịch sử về chiến tranh cách mạng.

Dấu chân người lính xoay quanh cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân ta tại mặt trận Khe Sanh. Tại đó trong những ngày đầu chiến dịch, Khuê là một chiến sĩ cần vụ thông minh, khéo léo, nhạy bén. Cậu ta là cấp dưới của chính ủy Kinh, một cán bộ đầy lý tưởng, hoạt bát luôn quan tâm đến cấp dưới. Những ngày làm việc chung chính ủy Kinh đã gieo trong lòng Khuê sự kính phục, yêu mến, đồng thời Khuê cũng chính là người hiểu thủ trưởng của mình nhất. Nhẫn là trung đoàn trưởng trung đoàn 5, là một con người thanh lịch nhưng nghiêm khắc, anh là cấp trên của Lượng, đại đội trưởng đại đội trinh sát. Cả bốn nhân vật trên cùng làm việc với nhau, mỗi người mỗi tính nhưng có cùng một điểm chung đó là những con người tràn trề nhiệt huyết Cách mạng, tin tưởng mãnh liệt vào sự nghiệp kháng chiến của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đó là “cuộc kháng chiến anh hùng và đầy vinh quang của toàn thể dân tộc như một thỏi đá nam châm đã hút lấy tất cả mọi người, mọi gia đình”. Trên từng dấu chân của mỗi chiến sĩ là biết bao những câu chuyện cảm động về tình anh em, tình đồng chí, tình cha con và cả tình yêu đôi lứa. Không thể biết rằng trên đường đi chiến đấu Lữ lại được gặp cha mình, chính ủy Kinh. Một con người tưởng chừng như điềm tĩnh trước mọi vấn đề như chính ủy Kinh gặp lại con cũng không khỏi bồi hồi, xúc động. Ông yêu con trai mình hơn ai hết và tin tưởng vào Lữ với tư thế của một người cha và một người đồng đội. Lữ là một chàng thanh niên bản tính nghệ sĩ nhưng đứng trước sự sự nghiệp kháng chiến vĩ đại ấy đã đốt hết sách vở, cầm súng ra chiến trường. Con người ấy ra đi ban đầu còn bỡ ngỡ nhưng qua nhiều lần gặp gỡ, chứng kiến những người bạn cùng trang lứa với mình hăng ái chiến đấu, dũng cảm hy sinh đã dần dần trưởng thành. Tâm hồn anh vẫn mãi là tâm hồn của một người nghệ sĩ yêu chuộng những cái đẹp nhỏ bé, thích làm thơ ca, hay đọc tiểu thuyết nhưng ý thức được hoàn cảnh dân tộc lúc này đang cần những người con dũng cảm, hành động mạnh mẽ, lý tưởng vững vàng. “Sắt thép đang xáo trộn và chực hủy bỏ con người. Vậy con người muốn tồn tại phải cứng rắn hơn sắt thép.” và Lữ đã gác cái con người trí thức lại để trở thành một người lính như thế.

Là một người lính trinh sát, Lượng phải đi nhiều nơi tìm hiểu tình hình của địch. Trong những lần làm nhiệm vụ ấy, anh đã nảy sinh tình yêu với Xiêm, một phụ nữ Vân Kiều có chồng theo ngụy. Tình yêu của ai người nảy nở thầm kín, mong manh, so với cuộc kháng chiến của dân tộc lại trở nên nhỏ bé hơn bao giờ. Vì cuộc kháng chiến còn trường kỳ, và những trăn trở về bổn phận của một người bộ đội, tình yêu ấy chỉ dừng lại trong tâm tưởng của Lượng. Cách mạng đã cảm hóa được những người như Kiếm, chồng Xiêm, tình thương tù đó cũng đang dần trở lại nơi người phụ nữ này.   

Lữ đã hy sinh trong một lần địch tấn công đồi 475, trước khi chết anh vẫn giữ trong tay chiếc đài truyền tin như một chiến sĩ thông tin vô tuyến chân chính. Chàng trai ấy hy sinh mang theo mình một tình yêu đang ấp ủ với Hiền. Một giọt nước mắt lăn trên má người cha nhưng đằng sau đó là một nỗi đau đớn kinh khủng của chính ủy Kinh với đứa con trai của mình. Phía trước vẫn còn là những ngày dài chiến đấu, ông vẫn phải là một thủ trưởng kiên cường, là điểm tựa vững chắc cho những người lính khác. Ở cuối tác phẩm là sự thắng lợi của trung đoàn 5 khi bọn địch đã thất bại tại thung lũng Khe Sanh và những người lính đang chuẩn bị bước vào những trận đánh mới.

1.      DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH- ĐẶC TRƯNG THI PHÁP TIỂU THUYẾT:

1.1.            Kết cấu và thời gian nghệ thuật:

Kết cấu là cách thức tổ chức, sắp xếp các yếu tố ( sự kiện, chi tiết,..) của tác phẩm. Khi tìm hiểu kết cấu của một tác phẩm, một thể loại của một thời kỳ văn học hoặc kết cấu của các tác phẩm trong một giai đoạn cụ thể tức là ta đi tìm hiểu hệ thống và cách sắp xếp các sự kiện, chi tiết thuộc tác phẩm đó, trong các tác phẩm cùng thể loại ở thời kỳ đó hoặc trong các tác phẩm cùng giai đoạn.

Tìm hiểu văn học giai đoạn 1965 – 1975, đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết, ta có thể thấy hoàn cảnh lịch sử, chính trị, xã hội đã tác động rất lớn đến việc hình thành các yếu tố cấu thành một tác phẩm. Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu cũng không nằm ngoài đặc điểm đó. Nghiên cứu tác phẩm này dựa trên góc độ thể loại, cụ thể hơn là ở phần kết cấu, ta có thể thấy rõ vấn đề này. Nổi bật trong đặc điểm của kết cấu tiểu thuyết giai đoạn này chính là loại hình kết cấu lịch sử - sự kiện.

Loại hình kết cấu này có vai trò vô cùng quan trọng trong văn học nói chung và tiểu thuyết giai đoạn này nói riêng. Sự hệ thống, tổ chức các nhân vật không thể thực hiện và đạt hiệu quả cao nếu không có một sự kiện tương ứng để làm nổi bật ý đồ nghệ thuật của tác giả. Loại hình kết cấu lịch sử - sự kiện trong tiểu thuyết giai đoạn 65 – 75 không chỉ chi phối cách thức tổ chức hệ thống nhân vật mà còn chi phối cách thức tổ chức hệ thống sự kiện trong thời gian nghệ thuật của tác phẩm. Sở dĩ có sự gắn bó đó là do loại hình kết cấu này bao giờ cũng gắn với những xung đột có tính gay gắt, quyết liệt. Những xung đột ấy chỉ có thể  tái hiện trong kiểu thời gian nghệ thuật nhất định theo ý đồ tác giả và theo Nguyễn Đức Hạnh thì đó là kiểu “thời gian lịch sử - sự kiện kỳ vĩ ”. Đây là kiểu thời gian biên niên, thuận chiều và gắn với các sự kiện lịch sử trong chính giai đoạn mà tác phẩm hình thành. Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này viết về đề tài chiến tranh cách mạng thường dồn nén thời gian bằng độ căng đầy những kịch tính với vô vàn những biến cố. Đó có thể là bước ngoặt mang tính vĩ đại, quyết định số phận của từng cá nhân hay thậm chí là cả một dân tộc. Thời gian tiểu thuyết thời kỳ này mang bước chuyển mình của nhân vật: từ một con người bình thường có thể trở thanh một anh hùng, một anh hùng của cả dân tộc, cả dất nước.

            Trong  Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu cũng đã sử dụng loại hình kết cấu và kiểu thời gian này. Xin phân chia loại hình kết cấu và kiểu thời gian trong tác phẩm này giống như Nguyễn Đức Hạnh trong “Tiểu thuyết Việt Nam 1965 – 1975 nhìn từ góc độ thể loại”: kiểu sự kiện kỳ vĩ mang tính cộng đồng xuất hiện trong thời gian lịch sử; kiểu sự kiện mang tính thử thách xuất hiện trong thời gian bước ngoặt lịch sử

 

Dấu chân người lính

1.      Kiểu sự kiện kỳ vĩ mang tính cộng đồng xuất hiện trong thời gian lịch sử:

Đó có thể là những sự kiện liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc . Trong Dấu chân người lính thì đó là chiến dịch Khe Sanh, đó là những tháng ngày gian khổ mà cả đoàn quân chuẩn bị cho những ngày chiến dịch, đó là khoảng thời gian của gian khổ, của hy sinh, mất mát nhưng đầy oai hùng của những con người như Kinh, Lượng, Nhẫn, hay Lữ,…Khoảng thời gian trong tác phẩm đi cùng với từng khoảng thời gian của cuộc cách mạng dân tộc, chất chứa những sự kiện trọng đại của dân tộc, chuyển động nhanh cùng nhịp vận động của cả dân tộc cho một chiến dịch lớn, quyết định sự sống còn. Khoảng thời gian trong tác phẩm còn là sự mở ra hai chiều: thời gian đồng hiện: Hiện tại, quá khứ đều được đặt chung một điểm nhìn. Điểm nhìn này khiến chúng ta có cảm giác mọi việc cứ như đang diễn ra, tất cả đều là hiện tại. Có khi đang nói về nhân vật này với sự việc này thì tác giả lại nói ngay sang một sự việc khác với những nhân vật khác và có thể câu chuyện đã xảy ra từ rất lâu. Như đoạn đầu tác phẩm, khi đang nói tới việc Khuê được điều tới làm cần vụ cho chính ủy Kinh thì ngay lập tức Nguyễn Minh Châu đã nói về chuyến công tác của Kinh và Lượng ở đường 9. Điều này không làm tác phẩm bị ngắt quãng mà còn giúp ta nắm bắt rõ hơn nhân vật, sự kiện đang diễn ra. Đó là sự liền mạch của quá khứ và hiện tại. Con người trong tác phẩm không bỏ quên quá khứ mà nhìn vào quá khứ để cảm nhận sức mạnh của cả một thế hệ đã qua đi, sức mạnh của truyền thống. Chính vì thế, thời gian hiện tại trong tác phẩm không chỉ đơn giản như đơn nghĩa của từ “ thời gian hiện tại ” mà đó còn là sự tiếp nối quá khứ, hơn thế nữa, với cách miêu tả thời gian đồng hiện thì tương lai không phải là điều gì xa xôi mà tương lai chính là hiện tại tất yếu của ngày mai. Có thể nói rằng thời gian trong tác phẩm là sự tiếp nối. Quá khứ là điểm tựa cho mỗi con người trong hiện tại và bản thân hiện tại là điểm tựa cho tương lai không xa. Với cách thể hiện thời gian đồng hiện, tác phẩm cho ta một cảm giác mọi chiến sĩ dù đã nằm xuống thì vẫn như đang đứng đây, chung chiến tuyến với những người đồng đội, những đứa con của họ, họ vẫn đang tiếp tục chiến đấu cùng cả dân tộc. Lữ có chết đi thì tượng đài mà anh tạc vẫn mãi ở đó, trong trái tim những đồng đội của anh. Và cả trong lòng những người đọc ngày hôm nay.

“ Hành động hy sinh của Lữ - Nhẫn nhận định - đã khiến cho cuộc tấn công cuối cùng của địch lên điểm cao 475 bị đập tan, và do đó khiến cho trung đoàn 5 vẫn có thể đứng vững vàng trên các chốt cho đến ngày hôm nay.”

“Người chiến sĩ điện thanh ấy trước khi hy sinh còn ngẩng cao đầu lên một lần cuối cùng: Trên nền trời cao, rất cao và xanh, lá cờ đỏ mỗi lúc một thắm tươi đang bay, lá cờ mỗi lúc càng tiến dần đến trước mặt. Rồi anh nhắm mắt hẳn. Những món tóc rất xanh rối bù dính bết máu phủ kín cả vầng trán lấm tấm mồ hôi đã trắng nhạt. Dường như từ trong ngực anh, chiếc đài vẫn đang nói sang sảng.”

            Với kiểu sự kiện kỳ vĩ mang tính cộng đồng trong khoảng thời gian lịch sử - sự kiện, đời sống con người cá nhân ở mọi phương diện vừa gắn chặt với sự kiện, vừa vận động, biến đổi, cùng đi lên với nhịp của thời đại, của cuộc chiến vĩ đại của cả dân tộc. Chính ủy Kinh khi hay tin con trai mình – Lữ đã hy sinh thì nhiệm vụ người lính, người chỉ huy đã không cho phép ông ủy mị , đau đớn trước mặt những con người mà ông đang lãnh đạo, những con người đang ngày ngày đối mặt với bom đạn, đối mặt với cái chết gần kề. Sự hy sinh của Lữ đó không chỉ là nỗi đau của một người cha mất con mà còn là nỗi đau của một người chiến sĩ mất đi đồng đội của mình: “ Nỗi đau của Kinh ngấm ngầm và dai dẳng, ngày này sang ngày khác. Tất cả những gì phía sau cái vẻ thản nhiên hơi trầm mặc trên nét mặt chính ủy, bộ đội trong trung đoàn không một ai có thể nhìn thấy.”

Với kiểu kết cấu lịch sử -  sự kiện gắn với thời gian nghệ thuật: đồng hiện, Nguyễn Minh Châu đã cho ta một bức tranh về những tháng ngày gian khó của cả dân tộc. Thời gian đồng hiện làm cho chuỗi các sự kiện gắn kết cùng nhau, tất cả các chiến sĩ có mặt trên chiến trường ngáy ấy đều là anh em, đều gắn bó với nhau. Điều này giúp chúng ta có thể cảm nhận được sức mạnh của sự đoàn kết, của sự đồng lòng hiệp sức để có thể đi tới một tương lai tốt đẹp hơn.

 

2. Kiểu sự kiện mang tính chất thử thách xuất hiện trong thời gian bước ngoặt lịch sử:đây có thể là những khoảng thời gian mà lịch sử chuyển mình, vận động dữ dội. Với cách kết cấu này thì nhân vật được bộc lộ tất cả trong một điểm gút của thời gian. Có thể gọi điểm gút này là bước ngoặt trong quá trình phát triển của đời người, của cuộc cách mạng. Vẫn lấy dẫn chứng ở tình huống Lữ hy sinh. Ta có thể thấy rằng, tính cách nhân vật này được bộc lộ ngay từ thuở bé qua những lời kể của người cha – đồng chí chính ủy Kinh, thì ngay tại giây phút anh quyết định gọi bắn thì đó là một khoảnh thời gian gút, gút lại cho tất cả những nét tính cách mà ta đã thấy, mà anh đã thể hiện từ trước đến giờ:

“Anh vừa quyết định một việc vô cùng hệ trọng đối với anh, và quyết định hết sức nhẹ nhõm: Anh gọi bắn! Anh gọi rất hấp tấp, không kịp dùng ký hiệu mật mã - "Chúng bay hãy cầu chúa đi!". Trong lòng anh chợt rung rinh một nỗi mừng rỡ(…).. Anh đang gọi sửa bắn thì nắp hầm tung giật lên. Hai quả lựu đạn dưới chân anh nổ cùng một lúc. Lữ ngã gục ngay xuống. Máu từ trên mái tóc rủ lòa xòa ám đầy khói chảy xối xuống hai hố mắt và hai bên vai áo quân phục. Dòng máu chảy luồn trong ống tay áo, rỏ xuống mặt chiếc đài vô tuyến điện thành vũng. Đạn pháo nổ như tiếng sét đầu mùa hạ. Đó là trận tập kích pháo cuối cùng và dữ dội nhất trong ngày.”

Sự hy sinh của anh không phải là sự kết thúc của một đời người mà là sự bắt đầu của những chiến công, của những anh hùng. Cũng chính trong cái giây phút anh quyết định cuộc đời mình ấy, ta cũng đã thấy được tính cách dữ dội quyết liệt của anh.

 Cách xây dựng kết cấu trong những khoảng thời gian mang tính bước ngoặt như thế này cũng giúp Nguyễn Minh Châu dễ dàng xây dựng được hình ảnh của ta và địch. Với địch thì chính những lúc đó, chúng đã bộc lộ bản chất của sự đê hèn, tàn bạo.

“ Hắn gọi bọn lính chung quanh đền thất thanh và không nghe một đứa nào đáp lại cả (…) Khi hắn tỉnh dậy đã thấy chung quanh đầy cẳng chân và bàn chân đi giày vải, như những lớp sóng trào qua người…”

            Kiểu kết cấu kết hợp cùng những khoảng thời gian bước ngoặt này đã giúp tác giả xây dựng lên một hệ thống tính cách nhân vật một cách hoàn thiện. Đôi lúc sự hoàn thiện đó là sự hy sinh của các chiến sĩ nhưng không vì thế mà nó giảm đi tính chất bi hùng của nhân vật và tác phẩm mà trái lại, chính như thế đã giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về nhân vật cũng như về cuộc chiến tranh.

            Kết cấu lịch sử - sự kiện  trong tác phẩm Dấu chân người lính là một kết cấu hợp lý, phù hợp để chuyển tải tất cả ý đồ nghệ thuật mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến người đọc. Gắn với sự kiện trong lịch sử: chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, tác phẩm đã tái hiện lại chân dung của những con người anh hùng của dân tộc. Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm đã hoàn thành xuất sắc vai trò của nó: đưa người đọc đến với chân trời của lòng yêu nước, của sự dũng cảm, của tình thần đoàn kết. Thời gian trong tác phẩm là một dòng chảy, tiếp nối quá khứ để hiện tại tiến đến tương lai.

1.2.            Không gian nghệ thuật:

Như đã nói, tiểu thuyết Dấu chân người lính dựng lại một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, để dung chứa những sự kiện lớn lao ấy, tác giả đã tạo nên một không gian chiến trường hoành tráng và giới thiệu khá đầy đủ những tri thức về chiến tranh: các loại binh chủng, tổ chức quân đội, kinh nghiệm chiến trường, tinh thần chiến đấu của hai phe, các loại vũ khí, khung cảnh chiến trường. Đó là không gian rộng: toàn bộ chiến trường Khe Sanh vùng đất Quảng Trị. Bên trong đó là khoảng không gian hẹp: Làng Vân Kiều nơi nhà cụ Phang, gian nhà bếp nơi Xiêm ngồi, những con suối nơi bộ đội, dân quân tự vệ, dân quân y tế tắm giặt, khu vực ngụy chiếm đóng nơi thằng Kiếm ở, căn hầm 475 nơi Lữ công tác. Các vùng không gian này có khi được miêu tả một cách khốc liệt dưới tiếng bom đạn, có khi lại hết sức lãng mạn với tiếng chim hót, tiếng nói chuyện rôm rả của con người. Cả hai không gian này đều chứa đựng trong đó là sự vận động của con người, cảnh vật…vừa động lại vừa tĩnh. Cái tĩnh là sự chuẩn bị cho một cái động, cái dữ dội sắp xuất hiện sau đó “khung cảnh tập đoàn cứ điểm thật là yên tĩnh, sự yên tĩnh trước mắt đang gây một ấn tượng mãnh liệt…là những ngày yên tĩnh nhất trong đời mình để chuẩn bị cho một giai đoạn biến động khác”, không lâu sau đó là “tiếng sung mở màn chiến dịch đã nổ với tất cả tinh chất gay gắt. Cả hai bên đều dự trữ lực lượng mạnh”. Trong tác phẩm, quá trình động-tĩnh, tĩnh -động tạo thành nhịp vận động của khả không gian chiến dịch. Sau cái động “dòng thác người như một dòng suối thép đang ào ào cuốn tới” không gian lại trở về tĩnh “mới đấy mà sáng nay đã yên tĩnh thế này ư?”

            Điểm đặc trưng trong thi pháp tiểu thuyết chính là sức chứa rộng lớn của nó nhằm tái hiện lại quy mô của cuộc chiến một cách đa diện, đầy đủ và diễn biến của từng sự kiện một cách chi tiết. Ngoài ra, tác giả còn dựng lên được không gian tâm tưởng trong tác phẩm: đó là vùng ký ức của từng nhân vật khi nhớ lại những kỷ niệm để lại dấu ấn trong tâm hồn mình.

Với nhân vật Lượng: là những lần ngồi với Xiêm nơi gian bếp, nơi đó tràn ngập tình yêu và sự ấm áp tỏa ra từ một người phụ nữ dịu dàng khiến anh dâng lên một niềm xúc động mạnh mẽ. Đó vừa là tình yêu, vừa bao hàm một sự biết ơn đối với người đã từng chăm sóc mình lúc bị thương. Trong không gian ấy, Lượng không còn là một người lính cứng nhắc nữa mà là một người đàn ông biết rung động những cảm xúc tinh tế nhất.

Hay là Lữ: Là lần đi cắm trại với Hiền, tại đó anh đã mua cho Hiền một lần mười que kem, khi đó Lữ đa biết xúc động trước cô bé nhỏ nhắn, mỏng manh với giọng hát hay đặc biệt như thế.

Hoặc với Nết: Những bức thư tỏ tình của bộ đội từ chiến trường, những lần trở về nhà với mấy đứa em khi còn là một cô dân quân liên lạc, thời gian được chăm sóc Lượng, đây là trách nhiệm của một người con gái đối với gia đình và tình yêu đang manh nha dành cho Lượng.

Với nhân vật Kiếm: Ký ức về Xiêm hết mực dịu dàng, là của riêng hắn trộn lẫn với ký ức về ả vợ Tây lăng loàn, về những lần ăn chơi trác táng làm cho hắn hoang mang, hoài nghi chính con đường mình đã đi theo, niềm tin về một “đất nước tự do” bị đánh đổ nhanh chóng. Từ đó dẫn đến hành động đào ngũ như một sự trốn chạy thực tế quá đau thương mà bọn ngụy quân đã trá hình dưới lớp vỏ của sự giàu có, sang trọng.

Nếu không gian chiến trận bao trùm vùng núi rừng Quảng Trị với những đợt hành quân, những cao điểm, những trận đánh thì bằng không gian tâm tưởng, Nguyễn Minh Châu đã cho người đọc khám phá tâm lý của từng nhân vật. Tuy lấy đề tài là chiến tranh nhưng các nhân vật không thuần túy chỉ hành động mà đời sống tâm hồn của họ cũng được khắc họa một cách rõ nét, qua đó người đọc cảm nhận rõ ràng hơn tâm thế của những người lính khi đằng sau họ là cả gia đình và tình yêu riêng tư. Tất cả là phần không thể thiếu của cuộc đời họ, và họ chấp nhận hy sinh mình cho cuộc chiến để bảo vệ những giá trị quý báu ấy.

 

1.3.            Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu của văn học. Thông qua ngôn ngữ nhà văn có thể chuyển tải được nội dung của tác phẩm đến với người đọc. Tuy nhiên việc sử dụng ngôn ngữ để tạo nên một tác phẩm có giá trị cũng như thể hiện được phong cách riêng của mình đòi hỏi nhà văn phải có một quá trình học tập, nghiên cứu và sáng tạo. Với tiểu thuyết Dấu chân người lính–tác phẩm đánh dấu sự phát triển trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu, chúng tôi mong muốn có thể đem lại một góc nhìn về vị trí cũng như vai trò của ngôn ngữ trong tiểu thuyết này nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam nói chung.

Không phải là sự cầu kì, bay bướm của ngôn từ; ngôn ngữ trong tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu      mà cụ thể ở đây là ngôn ngữ người trần thuật mang trong nó sự giản dị, chân thật; vẽ nên bức tranh với những không gian của thiên nhiên mang màu sắc trữ tình: đó là làn sương mù Tà Cơn hay ánh trăng rừng kỳ ảo, của cuộc sống con người dù đó là những điều tưởng chừng như rất đỗi dung dị nhưng đem lại sự gần gũi, thân thương trong cảm xúc của người đọc: đó là mùi khói rạ thơm phức bay trên cánh đồng tháng mười hay hình ảnh bếp lửa trong trạm giao liên đêm mưa.

Nhưng chủ đạo hơn cả vẫn là ngôn ngữ mang màu sắc của quân đội. Đó có thể là những từ ngữ chỉ phương tiện, vũ khí trong chiến tranh như: trực thăng, máy bay B52, lựu đạn, bom, nụ xòe… hay những từ ngữ chỉ chức vụ, tên đơn vị: chính ủy, trung đội trưởng, trung đoàn, đại đội… Với những kinh nghiệm chiến trường, những tài liệu ghi chép được cộng với ngôn ngữ “thẳng”, “thật” không màu mè, kiểu cách; Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho người đọc những thước phim với những hình ảnh sống động, chân thật ghi lại những cuộc chiến đấu giữa quân ta và địch; những cuộc hành quân nhộn nhịp, hối hả; hay những cuộc họp bàn kế hoạch tác chiến, giáo dục tư tưởng, củng cố tinh thần chiến sĩ Cách mạng. Nó giúp ta có thể hình dung được phần nào về không khí ác liệt của cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, dù không trực tiếp chứng kiến cũng như cảm nhận được những khó khăn vất vả, những hy sinh, mất mát mà đến nay dư âm của nó để lại vẫn không thể phai nhòa. Quân đội là một lĩnh vực đặc biệt, nó không giống với bất kỳ lĩnh vực nào khác, nhưng lại mang trong mình ý nghĩa xã hội cao cả; do đó mà ngôn ngữ của nó cũng gắn liền với những gì đặc trưng, đặc thù của quân đội nhưng vẫn chứa đựng sự “giản dị”, “quần chúng” và “thực tế”.

Bên cạnh đó, những đoạn trữ tình ngoại đề cũng góp phần thể hiện được tình cảm, tư tưởng, quan điểm của nhà văn đối với nhân vật cũng như quan điểm nhân sinh của mình được thể hiện thông qua ngôn ngữ của người trần thuật. Thí dụ như đoạn mở đầu của chương 3, nhà văn đã thể hiện những suy nghĩ, nhận xét của mình về cuộc đời, tình cảm của người lính. Nó được ví von như: sự âm thầm của những dòng chảy dưới cỏ, những cũng có  khi thật mãnh liệt. Hay là đoạn mở đầu của chương 7, nhà văn dùng ngọn lửa nói lên tính chất, ý nghĩa về cuộc chiến tranh giữa ta và địch: “…tiếng pháo của ta và tiếng bom của địch nổ long trời, trùm lên nhau, như muốn cùng một lúc xé toang cái màn sương che phủ mặt đất để gieo xuống đó ngọn lửa thiêng liêng của người hay ngọn lửa tội ác của loài quỷ.”.

Trong tiểu thuyết, bên cạnh ngôn ngữ người trần thuật còn có ngôn ngữ nhân vật. Ở tác phẩm này, ngôn ngữ của nhân vật được thể hiện qua những đoạn đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm hay nhật ký, thư từ. Trong những đoạn đối thoại, Nguyễn Minh Châu đã sử dụng ngôn ngữ hết sức linh hoạt. Ta có thể thấy ngôn ngữ đối thoại trong cuộc họp được sử dụng những từ ngữ mang tính chuyên môn, đặc trưng của quân đội như: tập đoàn cứ điểm, đánh dứt điểm, đồng chí, bộ đội…; nhưng ta cũng có thể thấy ngôn ngữ đối thoại trong cuộc nói chuyện bình thường giữa cấp trên và cấp dưới vẫn có sự thân thiết, tình cảm như trong câu đối thoại sau đây: “Kinh đã như reo lên: Ông Khuê hả? Chào anh bạn thân! Dạo này nom ông gầy mà đen quá!”. Nó thể hiện tình yêu thương lính sâu sắc của đồng chí chính ủy Kinh mà nói như Khuê là “thương lính như kiểu một người đàn bà”. Có thể nói, đơn vị như là ngôi nhà thứ hai của người lính. Họ sống với nhau như một gia đình, như bố với con, như anh em một nhà, thương yêu đoàn kết đùm bọc lẫn nhau. Bên cạnh đó, nhà văn cũng sử dụng ngôn ngữ địa phương như: o, mô, bọ mạ,… trong những  đoạn đối thoại để làm tăng thêm tính địa phương nhằm khắc họa nét riêng cho mỗi nhân vật. Tuy nhiên ở một vài đoạn, ta vẫn có thể bắt gặp những đoạn đối thoại khá lỏng lẽo, rời rạc gây nên sự khó hiểu cho người đọc. Thí dụ như đoạn đối thoại sau:

“- Chào cậu Khuê, cậu ở trung đoàn này ư?

-         Tớ có một đứa em gái mắt sắc như dao đang công tác trong khu rừng này, cậu nào bên ấy khao tớ một điều thuốc lào tớ gả ngay cho bây giờ?

-         …

-         Mẹ ơi, bao giờ hết giặc con về mẹ vui?

-         Cha ôi, nước mình thật lắm tung!

-         Ta đi đây lòng ta như bay!(thơ Tố Hữu)”

Ngoài những đoạn đối thoại ít nhiều khắc họa nên chân dung, tính cách nhân vật, những câu độc thoại như: “Cái thằng này ghê ghớm thật!... Hắn tiến bộ nhanh lắm. Nom hắn vẫn như một thằng bé con vậy mà việc gì khó khăn đến tay hắn cũng làm được như không” của Lượng khi nhận xét về Khuê sau một thời gian gặp lại; hay như câu độc thoại: “Sao mà tác phong của hắn giống ông Nhẫn vậy.” của Khuê khi nhìn thấy Hồi nêu lên những ý kiến phán đoán.

Ở những đoạn độc thoại nội tâm, ta dễ dàng nhìn thấy được những suy nghĩ, tình cảm của nhân vật. Thí dụ như đoạn Lữ tự lý luận về bản chất anh hùng, kiên cường của người lính được thể hiện dưới lớp ngôn ngữ thấm đẫm tinh thần Cách mạng. Hay như đoạn Lữ suy nghĩ về tình yêu đối với Hiền, về tương lai hạnh phúc của hai người khi đất nước hòa bình, thống nhất. Tình yêu của người lính lúc ngày phải đặt sau nghĩa vụ đối với đất nước, dân tộc. Ngôn ngữ trong đoạn độc thoại nội tâm này không những thấm đượm tinh thần Cách mạng mà còn xen lẫn vào trong nó một chút ước mơ, một chút lãng mạn, mơ mộng của lứa tuổi thanh niên: “Rồi khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, anh dự định sẽ chủ động đến tìm gặp Hiền… Lúc bấy giờ cô chỉ còn biết ngước lên nhìn anh và hỏi thầm: Tại sao anh lại yêu em?... Anh sẽ đưa Hiền đến chào bố anh và giới thiệu với bố đó là người bạn gái của anh.”. Tuy nhiên nhà văn còn có những hạn chế trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Xiêm. Trong đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật Xiêm ở chương 5; cách nghĩ, cách nói được thể hiện qua ngôn ngữ vẫn chưa mang được màu sắc địa phương rõ nét. Tình yêu của Xiêm đối với Lượng mà như nhà văn cũng có nói: “như một lời cầu khẩn, một tiếng kêu gọi giải phóng”. Ta không biết đó có phải là tiếng nói gọi  tình yêu của một cô gái dân tộc hay không, hay chỉ là tiếng gọi giải phóng con người dước xiềng xích nô lệ bọn Mỹ ngụy của một người phụ nữ.

Ngôn ngữ trong thư từ, nhật ký cũng góp phần khắc họa tính cách nhân vật. Thí dụ ngôn ngữ trong thư gửi chồng của nhân vật Dậm cũng đã phần nào thể hiện tính cách của nhân vật – một người phụ nữ tần tảo, chịu thương chịu khó, yêu thương chồng con. Hay như ngôn ngữ trong nhật ký của Lữ cũng phần nào thể hiện được tài năng văn chương của nhân vật mà nhà văn muốn khắc họa.

Nhưng để tạo nên sự truyền cảm, rung động đến người đọc; không khí ngôn ngữ trong tiểu thuyết cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Không khí ngôn ngữ ở đây gắn liền với những bài thơ, khúc hát. Ta có thể thấy trong đoạn nhân vật Kinh đọc thơ mà như nhà văn miêu tả “như một lời hịch” khiến cho “tiếng vỗ tay như sấm nổi lên từ khu vực tiểu đoàn 1 của trung đoàn 5 đang ngồi lan đi khắp cánh rừng biên giới ngổn ngang những người” đã tạo nên một không khí hùng dũng, oai nghiêm. Hay như không khí được nhà văn xây dựng trong đoạn bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi được phát ra từ đài phát thanh sau khi đồng đội tìm thấy Lữ hy sinh. Tiếng hát được nhà văn miêu tả như “một hoài khúc, tiếng hát thật yêu đời và trang trọng”. Nó thể hiện được khát vọng hạnh phúc của tuổi trẻ đồng thời còn là lời ca ngợi về sự hy sinh anh dũng của người lính cho độc lập, tự do của đất nước.

·        Điềm đặc biệt của ngôn ngữ trong tiểu thuyết này là việc nhà văn đã sử dụng những từ, cụm từ được đặt trong dấu ngoặc kép. Nó xuất hiện không chỉ trong những đoạn trần thuật mà còn cả trong những đoạn đối thoại, độc thoại của nhân vật. Có thể thấy việc nhà văn đặt những từ, cụm từ trong dấu ngoặc kép nhằm để tạo nên nét đặc trưng, đặc sắc cho ngôn ngữ. Thí dụ như: “... mình đoán không khéo chúng nó đã “làm thịt” cậu rồi” hay như câu “Nhưng vấn đề là ở chỗ tổ chức số người ấy “làm ăn” ra sao?”. Với sự phong phú của tiếng Việt, một số từ ngữ nhà văn sử dụng đã thể hiện sự biến hóa trong ngôn ngữ. Thí dụ như cùng một từ chỉ địch nhưng nhà nhà văn cũng có thể nói là “mấy thằng mẽo” hay “chiến lợi phẩm". Bên cạnh đó cách sử dụng này còn nhằm mục đích thể hiện ý nghĩa mỉa mai, châm biếm như trong câu sau: “Công việc của hắn là một công việc nghiêm trang và đáng “kiêu hãnh”: May cờ Mỹ và cờ hiệu cho lữ đoàn.”.  Tóm lại việc dùng những từ, cụm từ trong dấu ngoặc kép thể hiện nhiều mục đích, ý nghĩa; trong giới hạn bài tiểu luận chúng tôi không đủ điều kiện để khảo sát hết tất cả cũng như đi sâu vào tìm hiểu những dụng ý, ý nghĩa của nhà văn. Do vậy, xin lấy những ý kiến trên xem như là cái nhìn sơ lược về đặc điểm nghệ thuật ngôn ngữ được nhà văn sử dụng nói trên.

1.4.            Nhân vật:

Nhân vật là một phần “ đỏ da thắm thịt”, tạo nên chân dung của một tác phẩm văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Nhân vật là linh hồn, có sức hấp dẫn đối với người đọc thông qua các chi tiết mà nhà văn xây dựng cho “những đứa con tinh thần” của mình. Đối với nhà văn Nguyễn Minh Châu, một người có cuộc đời hoạt động văn nghệ gắn liền với  cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc thì nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của ông hầu hết là người lính, những người chiến sĩ cách mạng dũng cảm, can trường mang một vẻ đẹp vô cùng giản dị. Dấu chân người lính là cuốn tiểu thuyết đánh dấu tài năng của Nguyễn Minh Châu. Có khoảng 20 nhân vật lớn nhỏ trong tác phẩm, đây là con số khá lớn so với các tiểu thuyết cùng thời. Dù có nhiều nhân vật nhưng nhân vật nào cũng được nhà văn khắc họa một cách rõ nét từ tính cách đến diễn biến tâm lý của từng nhân vật. Nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật là nói đến việc nhà văn phải làm gì, phải viết như thế nào để làm nổi bật được tính cách cũng như diễn biến tâm lý của nhân vật thông qua hành động và lời nói của nhân vật trong từng tình huống truyện cụ thể.

Ngoại hình của của các nhân vật trong truyện được miêu tả một cách tỉ mỉ thông qua cách miêu tả của người kể chuyện. Hình ảnh Khuê hiện ra trước mắt người đọc “tiểu đội trưởng nhỏ nhắn có mái tóc cum cúp, đôi mắt hẹp và đen ấy” hay  lời khen của những người bạn đồng cấp “ Thằng cha Khuê ấy thậh tinh đời, con mắt ti hí và đen láy của nó là con mắt chết gái”. Thông qua việc miêu tả ngoại hình của Khuê, nhà văn muốn giúp người đọc có cách nhìn ban đầu về anh thanh niên này, người thanh niên mà sau này đã lập được nhiều thành tích trong qua trình chiến đấu khi tuổi đời còn rất trẻ. Lượng, một anh thanh niên  khoảng chừng ba mươi tuổi “ khổ người cao lớn, dánh đi cứng nhắc, tiếng nói và cái nhìn đầy nghiêm nghị”, ngoại hình của Lượng không chỉ được miêu tả thông qua lời kể cùa người trần thuật mà con được hiện lên qua cách nhìn, cách nghĩ của những người xung quanh như chính ủy Kinh, Khuê, Nết hay Xiêm… Từ ngoại hình cho đến xuất thân của từng nhân vật trong tác phẩm đều được nhà văn ghi lại một cách cẩn thận “Nhẫn xuất thân là một học sinh trung học. Đời bộ đội của Nhẫn, từ một binh nhì Vệ quốc đoàn lên đến trung đoàn trưởng, phần lớn thời gian lặn lội ở đơn vị chiến đấu”. Không chỉ có những nhân vật trực tiếp tham gia vào cuộc chiến mà những nhận vật chỉ xuất hiện qua lời kể của Kinh, qua những dòng thư, dòng nhật ký của Lữ cũng được nhà văn dành cho sự gia công, đầu tư. Nghim hiện ra trong những dòng nhật ký của cậu thanh niên trẻ Lữ, hình ảnh Nghim như đọng lại trong lòng người đọc bởi giọng văn giản dị của Nguyễn Minh Châu “ Nghim khá đẹp trai. Nước da mai mái, mắt đen và ánh mắt linh lợi. Anh mới hai mươi”.Việc xây dựng ngoại hình của nhân vật thông qua điểm nhìn của người trần thuật cũng như các nhân vật khác như một lời giới thiệu của tác giả về nhân vật đó, giúp người đọc phần nào hình dung được một phần tính cách của nhân vật trong tác phẩm. Đặc điểm nổi bất chính là Nguyễn Minh Châu đã xây dựng cho cuốn tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh này một hệ thống nhân vật khá nhiều nhưng rất cụ thể và sinh động. Nhân vật trong tác phẩm ngoại trừ Kinh, bác Đảo, cụ Phang thì tất cả đều là những thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết và lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước trong mỗi người như ngọn lửa cháy rực, sáng chói giữa những cánh rừng bạt ngàn nơi núi đồi hiểm trở ở Khe Sanh. Chính nơi chiến trường ác liệt bởi bom đạn của giặc Mỹ, người đọc sẽ nhìn thấy những con người yêu nước như Lượng, Khuê, Lữ hay Cận… đang ngày đêm quên mình vì nhiệm vụ, họ sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh… Đó chính là điểm chung của những con người từ những miền quê khác nhau, tính cách khác nhau nhưng lại cùng một mục đính. Tính cách của từng nhân vật được miêu tả thông qua lời kể của người trần thuật, điều này làm mất đi sự khách quan nhưng đồng thời cũng thể hiện tình cảm và cách nhìn người của Nguyễn Minh Châu. Chính ủy Kinh được mọi người kính trọng không chỉ vì ông đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, là một người có tài lãnh đạo mà vì ông còn là một người gần gũi với các chiến sĩ cấp dưới, chính “thói quen nghiên cứu tâm lý và những diễn biến nhiều vẻ của chiến sĩ” làm cho ông thích gần gũi họ, ông xem Khuê, Lượng và các chiến sĩ khác như con trai mình vậy, ông lo lắng cho từng người như máu thịt của ông. Khi nghe Khuê kể chuyện đau thương ờ nhà, Khuê nhận thấy “con mắt bị thương của Kinh phản chiếu ánh hỏa pháo bên ngoài, nom long lánh như có một màng nước, đang nhìn đăm đăm vào một chỗ”.

Không chỉ một chiều miêu tả ngoại hình để người đọc hiểu được nhân vật, mà tác giả còn giới thiệu họ thông qua thủ pháp so sánh, cách nhân vật được đặt trong các mối tương quan để soi chiếu và tự đánh giá, và các mối quan hệ này luôn biến hóa, trong những quan hệ mới bật ra những vấn đề mới. Ví dụ như: quan hệ công tác giữa chính ủy Kinh và thủ trưởng quân sự là Nhẫn, hay quan hệ cha con giữa ông và Lữ…

Ngoài ra, nhân vật còn thể hiện mình qua chính ngôn ngữ của họ, các anh hùng ấy cũng biết văng tục: "Tiên sư cái thằng Mỹ này", "Trông thấy cái... mẹ mày", "Chuyện ấy kệ thây mẹ nó ..." ... Bên cạnh cách xưng hô trang trọng như: đồng chí, thủ trưởng, anh, chị, gọi tên riêng... các nhân vật cũng dùng cách xưng hô thân mật: mày, tao, thằng, hắn, nó... Ngay cả cách xưng hô của tác giả cũng suồng sã: "Rõ ràng cu cậu đang cố hết sức làm ra vẻ mặt tự nhiên, bình thản".

Trong những tình huống khác nhau, nhân vật của Nguyễn Minh Châu đều bọc lộ được tính cách của mình qua hành động cũng như lời nói. Lữ là chiến sĩ điện thanh trẻ tuổi, một người sôi nổi và hoạt bát nhưng lại mang trong lòng một tình yêu thầm kín, nhút nhát với Hiền, một cô gái hát rất hay trong đoàn văn công. Lữ yêu thơ và hay viết nhật ký, anh lãng mạn không kém gì nhà thơ nhưng khi chiến đấu thì vô cùng gan dạ và dũng cảm. Lữ hy sinh trong một trận  bom của địch khi quyết tâm bảo vệ “ cái đài” như một thứ quý giá còn hơn sinh mạnh của anh. “ Lữ dang hai cánh tay ôm chặt lấy cái đài như sợ chúng có thể ùa vào cướp lấy ngay trên tay anh. Anh ôm nó trong ngực, lúc này anh quý nó hơn là tính mạng”. Không chỉ có Lữ mà hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết đều thể hiện được tính cách của mình. Những tính cách của những con người khác nhau dần dần được bộc lộ trong hành động, lời nói và quá trình chiến đấu. Chính sự bộc lộ dần trong tính cách của nhân vật làm cuốn tiểu thuyết trở nên hấp dẫn, nó thu hút người đọc tham gia vào trận chiến cùng với các nhân vật của mình, thông qua đó để khám phá nhân vật. Từ những con người bình thường, những đồng chí cán bộ cao cấp như Kinh hay Nhẫn đều bọc lộ hết khả năng và tính cách của mình thông qua quá trình chiến đấu gian khổ. Chiến tranh tuy ác liệt nhưng nó không thiêu hủy được con người, những con người đầy niền tin và hy vọng, những con người đầy lạc quan trước cuộc sống. Một thành công nữa của Nguyễn Minh Châu là ông đã miêu tả thành công diễn biến tâm lý của từng nhân vật từ một chính ủy Kinh đến một tên lính bỏ nước theo Ngụy như Kiếm. Nhân vật của Nguyễn Minh Châu luôn có sự vận động về mặt suy nghĩ, họ luôn luôn trăn trở trước cuộc sống của bản thân cũng như cuộc kháng chiến của đất nước. Con người cũng có lúc vui buồn, người chiến sĩ trên mặt trận cũng thế, một người đang ưu tư suy nghĩ nhưng khi vào trận chiến, họ bắt đầu một tâm lý khác hẳn, có thể phấn chấn cũng có thể lo lắng tùy theo tình hình. Đoạn tác giả miêu tả tâm trạng của Lượng khi say sưa nghĩ về Xiêm, người con gái đã có chồng mà anh đang yêu và làm cho anh “yêu đời và muốn hoạt động” nhưng ngay lập tức, Lưọng quay trở lại với cuộc sống hiện tại, với nhiệm vụ và trọng trách của bản thân và nghĩ “ nhưng sao lại thế nhỉ?”,“ Lượng sắp khoác ba lô đi chuẩn bị chiến trường, trong hàng loạt các công việc của một người đại đội trưởng, trinh sát sắp bước vào chiến đấu”. Sự chuyển biến tấm lý một cách nhanh chóng, Lượng bỏ qua những dòng suy nghĩ về tình yêu và hạnh phúc của bản thân, anh đặt mình vào nhiệm vụ để quên đi những nhung nhớ mà anh cho là tầm thường và không cần thiết trong lúc này. Nhưng cũng có lúc trái tim Lượng lại rung lên vì Xiêm, anh tự nhận mình yêu chị tha thiết nhưng lại không muốn thổ lộ cùng chị. Như thế đấy, nhà văn đã vô cùng tinh tế khi miêu tà tâm lý của Lượng,  giữa một con người bình thường và một con người trong chiến đấu, hai con người song song đang tồn tại trong Lượng và tình yêu là một phần không thể thiếu trong mỗi con người dù trong chiến đấu gian khổ. Đoạn văn nói về tâm trạng của Nết khi cùng Sinh chăm sóc cho Lượng khi anh đang bị thương nặng. Bom nổ dữ dội “ Nết không còn kịp nghĩ đến ý tứ và ngượng ngùng gì hết”cô ôm lấy Lượng để che cho đất đá khỏi đè lên người anh. Nhanh nhẩu và quyết đoán như thế nhưng khi nghe huyết áp không còn nữa, Nết bất ngờ kêu thất thanh và khóc òa lên, chính những giây phút như thế này Nết mới thấy mình vẫn là một cô gái yếu đuối, vẫn thấy sợ hãi trước cái chết của đồng đội trong tay mình. Nhưng trạng thái đó kéo dài ko lâu, cô cố trấn tĩnh mình và tiêm đúng vào mạch máu của Lượng trong bóng tối và khói của bom đạn. Có thể thấy, ngay trong giờ phút nguy hiểm ấy, hình ảnh Nết hiện ra như một cô quân y bình tĩnh, khéo léo những cũng yếu đuối như bao nhiêu người con gái khác. Nhà văn đã nắm bắt được tâm lý của nhân vật và miêu tả một cách rất sống động..

Nghê thuật xây dựng nhân vật của tác giả đi từ việc miêu tả ngoại hình đến hành động và diễn biến tâm lý của nhân vật để làm nỗi tính cách của họ. Dù là nhân vật nào, với tính cách ra sao thi họ vẫn là những con người đầy nhiệt huyết và lòng dũng cảm… Đó chính là hình ảnh lý tưởng về người lính trong một giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc.

2.      KẾT LUẬN:

Nếu đặt Dấu chân người lính trong nhận định của Giáo sư Phan Cự Đệ về “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: "Tác phẩm đã kết hợp tất cả những sắc màu thẩm mỹ: cái đẹp, cái cao cả, cái thấp hèn, cái bi, cái hài... Nó dung nạp cả "chất văn xuôi" lẫn "chất thơ" thì tác phẩm đã đánh dấu sự thành công của Nguyễn Minh Châu. Văn học giai đoạn này nói chung và tác phẩm nói riêng không đủ điều kiện để đi sâu vào khai thác hết tất cả các vỉa ngầm của cuộc sống cũng như đời sống nội tâm của nhân vật, nhưng trong những trang viết đầy sức sống mãnh liệt của Dấu chân người lính, ta vẫn thấy đâu đó bên cạnh nhưng vinh quang, những chiến thắng oanh liệt thì vẫn còn đầy những đau khổ của những cá nhân, của cộng đồng. Nó được xem như là tất yếu và là một nhánh rẽ có sức ám ảnh lớn đối với người đọc. Nguyễn Minh Châu đã làm tròn nhiệm vụ của một nhà văn tâm huyết với đời, với nghề viết văn của mình.

      Tin mới nhất

      Tin mới nhất