Sáng Tác > Văn

15/06/2011 16:2515014 lượt xem

Thơ Duyên- bài thơ nổi tiếng của" Ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu

Thơ Duyên- bài thơ nổi tiếng của" Ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu

Lúc tôi trở thành một thiếu nữ, biết rung động, biết mộng mơ thì tôi tìm đến thơ Xuân Diệu, tôi biết đến ông từ những năm cấp 2, do đọc được những bài thơ của ông trong tủ sách gia đình, mãi đến năm cấp 3 tôi mới hiểu thêm về ông hơn.

       Lúc tôi trở thành một thiếu nữ, biết rung động, biết mộng mơ thì tôi tìm đến thơ Xuân Diệu, tôi biết đến ông từ những năm cấp 2, do đọc được những bài thơ của ông trong tủ sách gia đình, mãi đến năm cấp 3 tôi mới hiểu thêm về ông hơn, tôi có nhớ trong chương trình lớp 11, cô dạy văn có nói với chúng tôi rằng: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới. Ông mang ngọn gió rạo rực, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương đến cho thi ca. Thơ Xuân Diệu là vườn mơn trớn, ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị”. Qua những bài thơ trong chương trình học tôi càng rõ hơn về sự nghiệp thơ văn cũng như tình yêu trong thơ ông.

          Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu (sinh ngày 2/2/1916 mất ngày 18/12/1985) còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi xã Tùng Gỉan, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.  Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) sau đó ra Hà Nội làm nghề viết văn.

         Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày NayTiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam và ông cũng là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936-1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Và thật sự là như thế, khi tham khảo một số tài liệu tôi đã được biết thêm một số thông tin. Đó là nói về Thơ Tình - Từ  thời Tiền chiến (1930 - 1945) cho đến tận hôm nay, dư luận độc gỉa cho rằng không nhà thơ Việt Nam nào có thể vượt qua Thi sĩ Xuân Diệu.Và dường như qua những bài thơ tình nổi tiếng của ông mà những cái mệnh danh như “vua” Thơ tình, “Chúa” Thơ yêu đi theo ông đến suốt cuộc đời. Hầu như thơ của ông dành tất cả cho tình yêu đôi lứa. Lần giở các trang tác phẩm của Xuân Diệu rồi làm một bản thống kê những bài thơ tình trong hơn 50 năm ông cầm bút- người đọc chọn được rất nhiều bài thơ tình xuất sắc, có thể nói không ngoa: Đó là những thi phẩm viết về tình yêu ‘’Hay nhất thế kỉ’’ của thế kỉ 20.


                             

                                         “Ông hoàng thơ tình” – Xuân Diệu (1916- 1985)

       Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một tôn chỉ: sống để yêu và phụng sự cho Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc hăm hở làm thơ tình! Vì Xuân Diệu sống hết mình cho tình yêu cộng với tài thơ thiên phú, lại gặp buổi "gió Âu mưa Mĩ", những khát vọng yêu đương của trai gái được tháo cũi sổ lồng, cho nên trong thơ tình của Xuân Diệu, như tôi nghĩ nó giống như trái pháo, khi có mồi lửa vào nó sẽ nổ vậy, ta thấy có dòng nhựa sống tràn trề mãnh liệt của cả thế hệ đang vươn dậy. Cái "nhân bản yêu đương" trong thơ tình Xuân Diệu thật là nồng cháy và bền bỉ cho đến tận lúc nhà thơ của chúng ta nhắm mắt xuôi tay! Nửa thể kỉ thơ tình Xuân Diệu là một quá trình khám phá không ngừng vào cái thế giới kì diệu của tình yêu. Phát hiện đắt nhất của Xuân Diệu chính là sự khẳng định rằng: cây tình yêu giữa cuộc đời thực, sẽ mãi mãi xanh tươi, còn những thứ "tình" được nặn ra từ lí trí khô cứng sẽ mau tàn lụi! Thơ Xuân Diệu là đỉnh cao của phong trào Thơ mới. Sự xuất hiện của ông trên thi đàn đã góp phần quyết định cho sự toàn thắng của phong trào Thơ mới.Tôi có tham khảo một số tài liệu và đã biết thêm về Xuân Diệu qua những những lời nhận xét của các nhà phê bình văn học nhận xét về ông như sau: Năm 1941, khi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân đã nhận xét "Thơ Xuân Diệu là nguồn sống rào rạt chưa từng có ở chốn non nước lặng lẽ này". Tiếp sau đó, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cho rằng: "Thơ Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhất trong các nhà Thơ mới", là người mang đến cho thơ nhiều cái mới nhất". Nguyễn Đăng Mạnh thì cho rằng "Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình giữa con người và con người, một phát hiện về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế này đã ban phát cho nhân loại". Lê Đình Kỵ trong chuyên luận Thơ mới những bước thăng trầm đã khẳng định: "Xuân Diệu xuất hiện trong phong trào Thơ mới với tất cả lòng say mê yêu đời". Đúng vậy, với những rung động tinh vi trong tình cảm, trước cuộc đời, và trước thiên nhiên tạo vật, thêm vào đó lại mang trong tâm hồn một phần hương xưa của đất nước, cho nên thơ của ông được thế hệ đương thời và các thế hệ nối tiếp hoan nghênh, yêu mến. Xuân Diệu đã mượn thơ tình để nói về cuộc sống, về đời người. Bất cứ bài thơ tình nào của Xuân Diệu cũng mang theo nó âm hưởng, cộng hưởng của cuộc đời. Đọc xong một bài thơ tình của Xuân Diệu, tôi thấy yêu người yêu của tôi nhiều hơn, yêu tình yêu, yêu cuộc đời hơn nữa. Thơ tình của Xuân Diệu ngẫm cho kỹ là bài ca sự sống. Xuân Diệu từng chủ trương "thơ của người", đào sâu vào tâm tư, tình cảm con người chứ không phải đi tìm cái nào đó quá đỗi xa lạ. Trong chương trình phổ thông tôi học, dường như cũng rất ngạc nhiên bởi sự xuất hiện của những bài thơ tình Xuân Diệu, ngạc nhiên bởi vì những bài học trước chỉ toàn là yêu nước thương dân là phần nhiều, sự xuất hiện đột ngột của văn thơ trung đại chuyển sang Thơ mới mà mở đầu là những bài thơ tình của Xuân Diệu thì gây ấn tượng mới mẻ, nhất là ở lứa tuổi “biết yêu” của chúng tôi. Thơ của ông nếu so với thời đó thì quả thật nó hơi khác, cái tình yêu trong thơ ông nó tự nhiên, nó mạnh bạo, nó cuồng nhiệt, khác hẳn với những bài thơ tình trước kia tôi được học như Mời trầu, Đánh đu… của bà Hồ Xuân Hương hay Thương vợ của Tú Xương, tôi cảm nhận trong thơ Xuân Diệu có cái gì đó rất táo bạo, nó cho người đọc một ấn tượng rất sâu sắc, đó là sự bày tỏ, không giấu diếm. Hơn nữa, trong thời điểm Âu hóa trong văn chương đó, Xuân Diệu đã lấy được một cái mới từ thơ Âu cho vào thơ Việt, nó tạo nên một bước đột phá trong thơ Việt, nhất là thơ 1932-1945, hay nói đúng hơn, ông là người có công đóng góp vào phong trào Thơ mới rất lớn. Những bài thơ tình của Xuân Diệu mà theo tôi, nó rất hay và đặc sắc là ba bài “Thơ duyên”,”Yêu”,”Nguyệt cầm”. Phải nói rằng đó là ba bài tôi thích nhất trong tập thơ tình của Xuân Diệu. Sau đây tôi xin phân tích bài thơ “Thơ duyên”  để chứng minh được cái hay trong thơ của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu, cũng như cái mới trong thơ ông.

                               

            Trong bài Thơ duyên, cảm hứng của tác giả có thể bắt đầu từ tình yêu, nhưng nó chỉ là điểm nhìn để từ đó phát hiện ra bao mối tơ duyên hoà hợp, phát hiện ra thế giới của hoà điệu và giao cảm - sự hoà điệu của thiên nhiên và sự giao cảm của con người.
Mạch cảm xúc đi từ sự bén duyên nhau giữa tạo vật với tạo vật khiến con người cũng xích lại bên nhau, ở đây cảnh tác động, lây lan cảm xúc sang người. Khác hẳn với các trường hợp khác nghĩa là cảm xúc con người lây lan sang cảnh. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Khi phân tích thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu, phải thấy thiên nhiên ấy bao giờ cũng đầy sức sống, luôn rạo rực và không tồn tại biệt lập mà luôn tìm đến với nhau để giao cảm, hay chính xác là để giao hoà tình ý, để làm nên một cái gì đó gần gũi, dù ở đâu và lúc nào thiên nhiên ấy cũng nồng nàn say đắm. Đây chính là cái tôi bản ngã của Xuân Diệu. Bởi ông khi vui hay buồn cũng đều nồng nàn da diết. Đặc biệt đối với thiên nhiên ông càng nồng nàn say đắm hơn bao giờ hết. Tôi đã nhận thấy cái hay và cũng rất mới ở đây. Mở đầu bài thơ là một khung cảnh buổi chiều thu thật đẹp và thơ mộng.

     Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,

     Cây me ríu rít cặp chim chuyền.

     Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

     Thu đến-nơi nơi động tiếng huyền.

     Bốn câu thơ là thế giới của sự cặp đôi. Chiều mộng thì hoà thơ trên nhánh duyên, cặp chim chuyền thì ríu rít trên cây me, bầu trời thì như dồn toàn ánh sáng để đổ ngọc qua muôn lá. Mùa thu đến âm thanh rộn rã đón chào khiến nơi nơi động tiếng huyền. Bức tranh chiều thu trong khổ thơ đầu được ông cảm nhận không ở từng chi tiết, hình ảnh riêng rẽ, cụ thể mà trong sự tương giao, hoà điệu, sóng đôi nhịp nhàng, khiến cho những đường biên giữa thực và ảo bị xoá nhoà. Vì thế, chiều đã trở thành chiều mộng và nhánh là nhánh duyên, chim không lẻ loi, đơn chiếc mà có cặp, có đôi ríu rít chuyền cành, và cả sắc trời xanh cùng chen giao, hoà điệu với sắc xanh muôn lá, tạo nên một hoà sắc xanh trong sáng, tràn đầy sức sống. Hình ảnh thơ “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá” chỉ có thể được thụ cảm qua cái nhìn tâm hồn, cái nhìn ví von, cái nhìn sự sống đầy tràn với cảm xúc chếnh choáng ngây ngất của một hồn thơ sôi nổi mãnh liệt hướng về sự sống, tuổi trẻ và tình yêu. “Xanh ngọc”, tự dưng làm tôi nhớ tới “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” (Hàn Mặc Tử). Phải chăng cái tình yêu thiên nhiên, yêu con người làm cho họ có được cái nhìn lãng mạn vậy sao?. Cái xanh tinh túy và đầy thanh thoát, dưới ánh mắt nhìn thiên nhiên đầy triều mến của Xuân Diệu. Tiếng huyền cũng vậy, ấy không chỉ là thanh âm dìu dặt, ngân nga của tiếng chim ríu rít, mà nó còn là âm vang của giai điệu lâng lâng niềm cảm xúc xao xuyến trong tâm hồn thi sĩ trẻ khát khao giao cảm, yêu đời, yêu cuộc sống. Qua thính giác, thị giác Xuân Diệu đã cảm nhận được sức sống tràn trề của cảnh vật xung quanh. Ông vẫn tiếp tục miêu tả thiên nhiên trong sự cặp đôi, nhưng ở đây bản ngã Xuân Diệu trở nên rõ nét hơn:

Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu,

Lả lả cành hoang nắng trở chiều.

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,

Lần đầu rung động nỗi thương yêu.

Toàn bộ cái thần của hai câu thơ đầu tập trung ở những cặp từ láy: Con đường nho nhỏ thì đi với gió xiêu xiêu như say, như chuếng choáng. Cành cây thì lả mình vào trong nắng như tâm trạng ngây ngất của người say trong cõi mộng. Có lẽ nào "con đường nhỏ nhỏ" ở đây là con đường tình! - "lả lả cành hoang" là sự lơi lả tình tứ. Con đường như dụi đầu vào gió, cành hoang ngả mình vào nắng. Tác giả lạc bước vào vương quốc của tình yêu nên nhận ra một biến đổi kỳ diệu vừa diễn ra trong trời đất. Tiêu biểu cho sự bày tỏ tình yêu – sự sống bằng cảm quan hết sức tinh nhạy và vi tế của hồn thơ Xuân Diệu là hai câu thơ : “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu , Lả lả cành hoang nắng trở chiều”... Thực ra thơ Xuân Diệu không chỉ độc đáo trong cái nhìn thị giác, thính giác khác thường, mà còn là khả năng khêu gợi. Vận dụng những hiện tượng tự nhiên, ở đây là “gió” vốn không có hình có khối mà thường chỉ gắn với cường độ tốc độ (gió nhanh, gió mạnh..), nhưng khi viết gió "xiêu xiêu" thì thấy gió hiện ra có hình có dáng có sự sống yếu đuối mong manh. Cũng như vậy, nắng thường chỉ hiện ra với màu sắc hoặc nhiệt độ, nắng gắt, nắng nóng… nhưng ở đây Xuân Diệu viết "nắng trở chiều" thì lại gợi cho người đọc một cảm nhận về thân phận và thời gian của nắng. Cảnh vật trong “Thơ duyên” đẹp thế, đấy là tình yêu của thiên nhiên qua con mắt thơ mộng của Xuân Diệu, và nó dùng để làm nền cho tình yêu của con người bắt đầu xuất hiện. Tôi có nhớ trong bài “Vì sao” Xuân Diệu có lần thốt lên  “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu ?” Thế nhưng “ông hoàng thơ tình” ấy vẫn nỗ lực cắt nghĩa nó. Và “Thơ duyên”, từ trong chiều sâu hình tượng và cấu tứ, nó toát lên cảm hứng cắt nghĩa tình yêu theo quan niệm triết mĩ của Xuân Diệu. Cảm hứng cắt nghĩa tình yêu được biểu hiện ngay ở từ “duyên” trong nhan đề và câu thơ mở đầu. Từ “duyên” ở đây không giới hạn trong ý nghĩa quan hệ tương giao, hoà hợp của tình yêu đôi lứa mà đồng nghĩa với sự giao duyên kì diệu của vạn vật, của thiên nhiên với con người và của lòng người với nhau. Mối tương giao hòa điệu ấy cũng là hình tượng thơ, của văn bản bài thơ.

 Cảnh thơ chỉ gợi tả vài đường nét mềm mại, thanh nhẹ, yên tĩnh nhưng qua cái nhìn thụ cảm thấm đẫm tính người, ta thấy sự vật hiện lên như có cái gì xôn xao từ trong lòng, như có tình, có duyên, cảm thông, tình tứ với nhau, khiến tâm hồn nhạy cảm của thi nhân xao xuyến, vấn vương bao tình ý, rung động thương yêu nhẹ nhàng, tinh túy, nhưng rất thầm lặng của buổi đầu đời “Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn, Lần đầu rung động nỗi thương yêu.” Nó là giai điệu lâng lâng niềm cảm xúc xao xuyến trong tâm hồn thi sĩ trẻ khát khao giao cảm, yêu đời, yêu sống.Trong niềm rung động ấy ,với một năng lực giao cảm kỳ diệu ,những con người xa lạ dường như có sự gắn kết tương giao:

Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững thững chẳng theo gần.

Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần.

       Trong vũ trụ tương giao, hòa điệu theo quy luật tìm đôi, những tâm hồn đơn chiếc cũng khát khao có đôi, có cặp, và tự nhiên tìm đến với nhau, dù chỉ trong ước ao thầm kín, để sẻ chia, đồng điệu mà chẳng cần đến băng nhân mai mối. Và hai con người cùng nhịp nhàng, sóng đôi như một cặp vần giữa bài thơ dịu của đất trời vào thu kia, tuy vẻ bề ngoài vẫn còn một khoảng cách, tưởng như chưa có tình ý gì (vô tâm, điềm nhiên, chẳng theo gần) nhưng sự thực, giữa anh và em đã nảy sinh một mối tương giao thầm kín, một sự giao hoà, gắn kết mơ hồ mà có thật. Như vậy cái đẹp ở đây không phải ở từng chi tiết, từng hình ảnh riêng rẽ mà chủ yếu ở sự hoà hợp, tương ứng, tương giao của chúng. ... Dừng lại ở sự gợi cảm vô hình của lòng ta và ý bạn “Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn, Lần đầu rung động nỗi thương yêu” Em thì điềm nhiên ,anh thì lững đững ,nhưng mối gợi cảm ấy chính là nỗi rung động của duyên gặp gỡ ,là sự hoà điệu trong tâm hồn  ví như cặp vần trong bài thơ.

 Trong bài “Thơ duyên” có mấy câu thơ khá đặc sắc mà nhờ nó nhiều người biết đến thi phẩm này.

Mây biếc về đâu bay gấp gấp,

Con cò trên ruộng cánh phân vân.

Chim nghe trời lạnh giang thêm cánh,

Mây lạnh chiều thưa sương xuống dần.

Phải chăng cái tình yêu trong ông đang trỗi dậy, ta thấy những vật xung quanh như đang cùng tâm trạng với ông, có cái gì đó vội vã, gấp rút trong đám mây, cái gì đó phân vân trong cánh cò, ông đã mượn cánh cò trong ca dao để đưa vào thơ, nó tạo nên nét gần gũi, làm người đọc thêm yêu mến thơ ông hơn. Hơn nữa sự xuất hiện của “chim” và “mây” cũng nghe trời lạnh, thiên nhiên cũng có xúc giác, nó cũng cảm thấy cô đơn, cũng biết trống vắng khi chỉ có một mình nói gì là con người. Cảm nhận cái dịu dàng của buổi chiều thu, nhà thơ cũng nhận ra sự giao cảm của lòng người. Cái ngơ ngẩn của buổi chiều cũng là cái ngơ ngẩn của cõi lòng khi bắt gặp sự rung động đồng điệu:

Ai hay tuy lặng bước thu êm,

Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm.

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,

Lòng anh thôi đã cưới lòng em.

     Thiên nhiên đã trở thành chất xúc tác cho hai người và chỉ có Xuân Diệu mới dám táo bạo nói ra như thế. Không cần mai mối, không cần “băng nhân”, nhưng tâm hồn của ông đã mở lời, rất táo bạo. Ấy là duyên trời tác hợp cho đôi lứa tương ngộ, tương phùng, là duyên tình chớm nở đầu đời giữa anh và em.

      Tình yêu ấy tưởng như không duyên cớ nhưng sự thực đó là sản phẩm diệu kì của cơ trời tác hợp theo lẽ tương giao, hòa hợp tự nhiên mà nhiều khi, tự lúc nào không hay biết, nó chiếm hồn ta, khiến ta không cưỡng nổi. Đó phải chăng là cảm hứng cắt nghĩa tình yêu tiềm ẩn trong chiều sâu hình tượng và cấu tứ của bài “Thơ duyên”. Với Xuân Diệu, tình yêu cũng đồng nghĩa với sự sống, sức sống và cũng là cách sống để cuộc sống con người hữu hạn có thể thắng được dòng thời gian vô hạn đang trôi chảy kia. Triết lí tình yêu, sự sống ấy đã bắt rễ sâu trong hồn thơ yêu đời, yêu cuộc sống, luôn khát khao giao cảm với thiên nhiên, với con người và được định hình sớm trong tư tưởng triết mĩ. Xuân Diệu – một cái tôitrữ tình luôn có ý thức về bản ngã, luôn ý thức rất rõ về thời gian trôi chảy mà đời người hữu hạn trong vũ trụ vô tận, hằng thường kia. Và “Thơ duyên” là một bài thơ tiêu biểu cho sự bày tỏ triết lí tình yêu – sự sống ấy của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu.

   Gần 15 năm ra đi, nhưng Xuân Diệu vẫn để lại trong lòng người đọc những bài thơ tình bất tử, ông đã góp phần rất lớn vào nền văn học nước nhà, là một trong những nhà thơ tiên phong, đưa phong trào Thơ mới lên đỉnh cao. Ắt hẳn những câu thơ như “Yêu là chết ở trong lòng một ít, Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu. ” Hay “Hôm nay trời nhẹ lên cao, Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” khi đã đi vào lòng người đọc thì nó khó mà quên được, tôi cũng là một “nạn nhân” nên tôi hiểu rõ điều này. “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu đã tích cực cung cấp những vật liệu mới để xây cao “nền nhà” thi ca Việt Nam. Không bằng lòng diễn tả những cảm giác, cảm xúc của mình bằng những từ quen dùng, Xuân Diệu đã tích cực lục tìm, sáng tạo những từ mới, những cách đặt câu, gieo vần mới. Sự đóng góp độc đáo của Xuân Diệu vào văn học không phải chỉ ở những đề tài, mà cái đặc sắc hơn nữa chính là bút pháp, thi tứ và cảm hứng. Cô giáo dạy văn lớp 11 đã cho chúng tôi học một câu mà có lẽ bây giờ khi sử dụng tôi nghĩ là chính xác hoàn toàn: “Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là khu vườn đủ mọi hương sắc, là bản nhạc đủ mọi âm thanh, từ tình yêu ngây thơ, e ấp đến đằm thắm dịu ngọt, từ nồng nàn say đắm đến si mê, điên dại.”. Bài “Thơ duyên” ở trên là một trong những minh chứng cho cung bậc tình yêu của vị thi sĩ tài ba này.

Nếu trong giai đoạn văn học 1930-1945, Thơ mới mà Thế Lữ đề xướng thật sự chỉ trở thành thơ mới từ lúc Xuân Diệu góp mặt vào “làng thơ” này. Xuân Diệu là nhà thơ lớn trong văn học hiện đại, nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi yêu thơ tình Xuân Diệu không phải bởi vì nó phù hợp với lứa tuổi đang yêu của tôi, mà thêm vào đó là những cái nét riêng rất hay và rất táo bạo mang tên Xuân Diệu. Tôi mượn lời nhận xét của Nguyễn Đăng Mạnh: "Xuân Diệu không quan niệm tình yêu chỉ là sự giao cảm xác thịt mà còn là sự giao cảm của những linh hồn mà đấy mới là cái khát vọng cao nhất, cái đích cao nhất trong tình yêu". Đấy cũng là lý do vì sao mà bây giờ, sau này và mãi mãi, độc giả vẫn luôn yêu thơ ông, và cái tên “ông hoàng thơ tình” dành cho ông quả là rất đúng. Đối với tôi thơ tình của ông vẫn là nhất, nó hay, hay lắm, chẳng biết phải dùng từ gì để diễn tả, nhưng chỉ biết rằng thơ tình Xuân Diệu ai đã yêu rồi thì khó mà quên, mà dứt bỏ được.

Nguồn từ blog.yume.vn

    Tin mới nhất

    Tin mới nhất